Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Bồng Em Qua Biển Vô Bờ -Thơ: Sa Chi Lệ - Nhạc: Tuệ Tâm - Trình Bày: Kenny Trương


Thơ: Sa Chi Lệ
Nhạc: Tuệ Tâm
Trình Bày: Kenny Trương

Món nợ Ân Tình

 

Món nợ Ân Tình... sao trả nỗi?
Nợ kiếp này mãi đến kiếp sau
Nợ một đời cơm hẵm cháo rau
Thuở gió bụi thân Cò lặn lội......

Vai gánh nặng mẹ già con trẻ
Gia đình chồng tần tão sớm trưa
"Cấm chợ ngăn sông" nói sao vừa...
Bày con đói nào ai cám cảnh .....!

Cha mẹ già trên vai một gánh
Gánh bày con nheo nhóc đói no
Đường tầm phu biền biệt xa mù...
Thân cô lữ vượt rừng đói lạnh...!

Ta đã nợ Ân Tình nặng nghĩa
Nợ tấm lòng "vạn dậm tầm phu"
Vượt sơn khê rừng núi hoang vu
Tròn tiết nghĩa một đời tiết phụ....!


Ngư Sĩ

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2 芙蓉樓送辛漸其二 - Vương Xương Linh (Thịnh Đường)


(Diễn đàn LTCD tk 21 chúc niên trưởng Mỹ Ngọc sớm hồi phục sức khỏe)

Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự là Thiếu Bá (少伯); bạn bè khen là vua thơ. Năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ (cùng tuổi với Lý Bạch khi đậu tiến sĩ). 7 năm sau ông lại đỗ Khoa bác học hoằng từ, chuyển đi làm Quan Uý ở Di Thuỷ. Nhưng do hành vi lãng mạn, bị biếm ra nơi biên ải làm Quan Uý ở Long Tiêu... Rồi về làm chức Thừa ở quê (Giang Ninh=Nam kinh). Ở đây Ông ngâm thơ không biết mệt mỏi. Không may Ông đắc tội với Thứ Sử bản địa Lư Khâu Hiểu nên bị Lư giết. Về sau Trấn thủ Hà Nam là Trương Cảo, điều quân đội các Lộ đến tập hợp, Lư Khâu Hiểu đến chậm bị xử tử (bị kết tội khi quân), coi như đó là báo thù cho Vương Xương Linh (ai bảo Lư dám giết vua thơ!). Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.


Nguyên tác                Dịch âm

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 2


丹陽城南秋海陰 Đan Dương thành nam thu hải âm,
丹陽城北楚雲深 Đan Dương thành bắc Sở vân thâm.
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng tuý,
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm.

Chú Giải

陰 âm; rất nhiều nghĩa; một nghĩa là râm mát.
秋海 thu hải: biển thu.
楚雲 Sở vân: đám mây Sở.
寂寂 tịch tịch: hiu quạnh, hoang vắng.
寂寂寒江 tịch tịch hàn giang; sông lạnh hoang vắng.
明月心 minh nguyệt tâm: Lòng trong sáng như ánh trăng.

Dịch nghĩa

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2


Phía nam thành Đan Dương mặt biển mùa thu râm,
Phía bắc thành Đan Dương nhiều mây Sở đen.
Tiễn khách trên lầu cao không tiện uống say,
Lòng ta (với bạn) như vầng trăng chiếu trên sông lạnh hoang vắng.

Dịch thơ

Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ 2


Đan Dương phía nam mặt biển râm,
Đan Dương phía bắc lắm mây thâm.
Lầu cao tiễn bạn chẳng say khướt,
Vắng lặng sông băng trăng trắng ngần.


Lời bàn 

Xin đọc bài LTCD thế kỷ 21 số 646, để biết rằng Tân đã đi khỏi đây; nay trở về chớp nhoáng để thăm Vương. Lần này cũng ngồi trên lầu Phù Dung uống rượu nhưng Vương không dám uống say (thi nhân Trung Quốc thường là bợm rượu; không dễ nín uống lúc tiễn biệt bạn; chắc phải có lý do, thử tìm xem sao).

Câu 1:
Nhìn về phía nam Đan Dương thấy mặt biển râm (mặt biển râm thì trên trời phải có nhiều mây đen; biển có nhiều mây đen thì dễ có mưa giông; vì thế nên Vương lo cho bạn mà không dám uống say).

Câu 2:
Nhìn về phía bắc Đan Dương thấy mây Sở dầy đặc (phía đối diện cũng chẳng sáng sủa gì, mây Sở: mây trên lục địa nước Tàu).
Hai câu 1 & 2 cho biết bạn rời khỏi Đan Dương về hướng nào (bằng đường biển hay đường bộ) cũng có trở ngại; Đó là lý do Vương lo cho bạn mà cố nín rượu.

Câu 3:
Tiễn bạn trên lầu cao tôi không muốn uống say (Ơ trên lầu cao nên tôi nhìn thấy mây đen dầy đặc bao phủ cả hai phía; bạn đi về phía nào (đường thủy hay đường bộ) cũng sẽ gặp trở ngại; vì vậy cho nên rượu hôm nay không còn quyến rũ tôi như mọi khi).

Câu 4:
Bạn như sông lạnh hoang vắng; lòng tôi như trăng sáng. Trăng sáng mà soi sông lạnh thì giúp được gì? (thấy bạn lâm nguy mà không giúp được nên Vương lo âu).

Không ai có thể đo được lòng của Vương đối với Tân sâu rộng như thế nào bởi vì thơ của Vương mênh mông quá. (Thêm một lý do khiến người đương thời gọi Vương là vua thơ).

Con Cò
***
Cầu chúc chị Mỹ Ngọc sớm bình phục để tiếp tục góp phần văn thơ với nhóm.

Tiễn bạn trên lầu Phù Dung, Kỳ2

Nam thành trời xấu biển âm u
Thành Bắc nhiều mây Sở mịt mù
Tiễn bạn trên lầu ngưng chén rượu
Lòng này trong sáng tựa trăng thu!


Thanh Vân
*** 
Lầu Phù Dung tiễn Tân Tiệm kỳ2

Thành nam Đan Dương biển thu râm
Thành bắc Đan Dương mây Sở thâm
Lầu cao tiễn khách không đành khướt
Lặng thinh sông lạnh nguyệt minh tâm

Nam thành Đan, biển thu bóng đổ
Bắc thành Đan, mây Sở chập chùng
Lầu cao tiễn khách vài chung
Lặng yên sông lạnh tấm lòng sáng trăng

Lộc Bắc
Jan26
***
***
(Xin cầu nguyện cho chị Mỹ Ngọc được tai qua nạn khỏi, sớm bình phục để trở về với diễn đàn)

Về bài thơ kỳ này, BS xin giải thích vài ba chữ khó:
- Âm: u ám, tối tăm, âm u, mầu đen nhạt.
-  Thâm: sâu, kín đáo, cất dấu, rất (như thâm hồng là rất hồng), dầy.
- Tịch : yên, im, không có tiếng động.

Tuy ít chữ khó, nhưng câu thơ quá súc tích, không dễ dịch, như thu hải âm chẳng hạn. Và BS cũng thắc mắc: lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Theo ý bài thơ thì Tân Tiệm lại tới thăm Vương, và một lần nữa, Vương tiễn bạn.

Hai câu đầu tả trời âm u, mây vần vũ, chắc sắp có mưa lớn, nên tự nhủ không nên uống say, vì lòng còn như ánh trăng, đi theo bạn, minh nguyệt tâm thôi, chứ trời âm u làm gì có trăng. Xin dịch thoát:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2

Biển thu u ám phía nam thành,
Phía bắc mây dầy vẫn lượn quanh,
Lầu cao tiễn khách không nên khướt,
Lòng như trăng sáng chiếu sông xanh.

Bát Sách.
(Ngày 14/01/2026)
***
Nguyên Tác:             Phiên Âm:

芙蓉樓送辛漸其二 Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

王昌齡 Vương Xương Linh


丹陽城南秋海陰 Đơn Dương thành nam thu hải âm
丹陽城北楚雲深 Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
高樓送客不能醉 Cao lâu tống khách bất năng túy
寂寂寒江明月心 Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm

Bài Kỳ 2 được đăng cùng với Kỳ 1 và có mộc bản trong các sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人万 首绝句选-宋-洪遂
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”.

Phù Dung Lâu (Đơn Dương) ở Trấn Giang, Giang Tô

Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.
Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam.
Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Phù Dung Lâu (Kiềm Dương) ở Hồng Giang, Hồ Nam

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.

Tân Tiệm: bạn của Vương Xương Linh. Lần đó cùng vượt sông từ Nhuận Châu, để Tân Tiệm đi Dương Châu rồi đi về bắc đến Lạc Dương.
Đơn Dương: thành phố tỉnh Quý Châu (ngày nay là huyện Tử Quế, thành phố Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc)
Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)
Cao lâu: lầu cao, chỉ Phù Dung Lâu
Tịch tịch: hoang vắng, yên lặng

Dịch nghĩa:

Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm Kỳ 2

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Đơn Dương thành nam thu hải âm
Phía nam thành Đơn Dương đang mùa thu âm u,
Đơn Dương thành bắc Sở vân thâm
Phía bắc thành mây nhiều trên đất Sở.
Cao lâu tống khách bất năng túy
Tiễn bạn trên lầu cao chẳng thể say khướt,
Tịch tịch hàn giang minh nguyệt tâm
Lòng ta với bạn như vầng trăng sáng trên sông lạnh vắng lặng.

Dịch thơ:

Tiễn Tân Tiệm Tại Lầu Phù Dung Kỳ 2


Nam thành Đơn Dương sương phủ mù,
Thành bắc đất Sở mây âm u.
Trên lầu tiễn bạn không say khướt,
Sông vắng lạnh lòng dưới trăng thu.

Bidding Farewell to Xin Jian at Lotus Tower 2 by Wang Changling

Looking south from Danyang, I see only a vast, overcast autumn sea,
Looking north, I see only deep, layered clouds over Chu lands.
Seeing off my friend from the high tower, I bid him a reluctant farewell, my heart heavy with sorrow, even drinking could not bring me joy.
All around was silence; facing the cold river and sky, my heart toward my friend is as pure as the bright high-hanging moon.

Phí Minh Tâm
***
@ Lộc Bắc nghĩ:

Lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Có lẽ Phù Dung lầu gần cửa biển. Phải vậy không anh Tâm, anh Giám?

@Ý kiến của Phí Minh Tâm:

Thu hải: biển thu, chỉ mùa thu bao phủ. Mạnh Giao cũng xài cụm từ này trong bài Phụng Đồng Triêu Hiền Tống Tân La Sứ 奉同朝贤送新罗使 (Cùng quan lại tiễn sứ thần đi Tân La) với 2 câu: Miểu miểu vọng viễn quốc, nhất bình thu hải trung 淼淼望远国,一萍秋海中 (Biển mênh mông, nhìn về quê nhà xa xăm, một cụm bèo đơn độc trôi trên biển thu.)

Phù Dung Lâu: Nguyên thủy do vua nhà Đông Tấn cho xây cất nằm góc tây bắc của thành phố Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), nhìn toàn cảnh sông Dương Tử và khu vực phía bắc sông. Theo tập 26 của *Nguyên Hà Quân Tiên Trí* (Ghi chép về các quận huyện thời Nguyên Hà), trong phần về Nhuận Châu ở vùng Giang Nam, có viết: "Khi Vương Công nhà Tấn làm quan, ông đã đổi tên tháp tây nam thành Tháp Vạn Lý và tháp tây bắc thành Tháp Phù Dung”. Theo Wikepidia 芙蓉樓 (鎮江), đây là một công trình gỗ hai tầng, mô phỏng theo kiến trúc thời Đường. Tháp nguyên thủy bị phá hủy trong chiến tranh thời nhà Thanh và được xây dựng lại vào năm 1992 dưới chân núi Kim Sơn. Phù Dung Lâu nguyên thủy này nổi tiếng nhờ hai bài thơ của Vương Xương Linh.

Hiện nay, Trung Hoa còn có một Phù Dung Lâu thứ 2 mà nhiều nơi nhầm lẫn với lầu nguyên thủy được bài thơ của Vương nhắc đến. Lầu này nằm trong thành cổ Kiềm Dương, nay là thành phố Hồng Giang, tỉnh Hồ Nam. Theo Wikepidia 芙蓉樓 - 維基百科, đây là một công trình kiến trúc cổ điển được nhà Thanh xây cất để tưởng nhớ Vương Xương Linh. Vương bị giáng chức xuống làm huyện úy Long Phiêu (nay thuộc Kiềm Thành) vào thời Thiên Bảo nhà Đường gần 1000 năm trước đó.

Năm 1701, niên hiệu 40 Càn Long nhà Thanh, Diệp Mộng Lân, huyện trưởng Kiềm Dương, đã xây cất Phù Dung Lâu ở ngoại ô thành phía đông. Năm 1815, niên hiệu 20 Gia Khánh, Tằng Ngọc, quan huyện, đã xây dựng lại Phù Dung Lâu ở phía tây thành phố. Năm 1839, niên hiệu 19 Đạo Quang, quan huyện Long Quang Điền, cùng với con trai Long Khải Thụy và Giáo dụ Hoàng Bổn Ký, đã tu sửa lần thứ hai và đó chính là công trình hiện nay.


Phù Dung Lâu nguyên thủy nằm trên bờ sông Dương Tử. Phù Dung Lâu 2 gần sông Nguyên. Không có lầu nào gần biển. pmt

@Ý kiến Huỳnh Kim Giám:

... lầu Phù Dung ở gần sông, sao lại có biển?
Đơn Dương không ở gần biển và không thể thấy biển từ đó nên chữ 海=hải trong câu đầu dĩ nhiên không thể có nghĩa là biển hay nói về biển!

Chữ 萍=bình trong ví dụ anh Tâm đưa ra (一萍秋海中=nhất bình thu hải trung) là từ viết tắt cho 浮萍=phù bình, tên của loài bèo tấm (Lemnoideae) chỉ sống ở nước ngọt nên chữ hải trong câu đó cũng không thể có nghĩa là biển! Nhưng thu hải đường không phải là loài cây thủy sinh nên tại sao lại có bèo tấm giữa loài cây này thì cũng khó hiểu, ngoài hàm ý đơn côi, lạc loài.

Người Hoa Lục thời nay hình như cũng không hiểu 秋海=thu hải nghĩa là gì nên mỗi trang mạng "dịch" và giải thích một lối. Thu hải có thể là tên tắt của 秋海棠=thu hải đường (Begonia), hơn 2000 loài cây thân thảo, mọc thành bụi sát đất ở vùng nhiệt đới. Có hơn 200 giống ở Hoa Lục, thường thấy ở Giang Nam, nhất là ở Vân Nam. "... thu hải âm" có thể có nghĩa là thu hải đường mọc rậm rạp ở hướng nam Đơn Dương, và vì đây là loài cây của Giang Nam, nó hàm ý nơi xa lạ với người Hán, đối ngược với từ Sở thân thiết hơn.

Vì có quá nhiều giống mọc hoang, với đủ kiểu hoa và lá, người ni không biết Vương Xương Linh và Mạnh Giao muốn nói đến loài nào. Họ Mạnh ra đời 5 năm sau khi họ Vương lìa trần nên có thể rằng Mạnh mượn từ ngữ của Vương.

Huỳnh Kim Giám



Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi


Khói hương nghi ngút tỏa
Người về trong sương đêm
Cõi trần gian lây lất
Bỗng rơi một vệt sầu!

Từ nhỏ tôi là một đứa trẻ khác với chúng bạn: ốm yếu nhút nhát và thường chơi một mình. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với khung cảnh núi rừng thâm u. Tôi không nhớ đã yêu trăng tự lúc nào, chỉ nhớ là rất mê ngắm trăng, một cái thú mà lắm lúc làm cho mẹ tôi phải phàn nàn. Mẹ năm lần bảy lượt gọi tôi vô ăn cơm tối, nhưng tôi cứ lưỡng lự vì mải say sưa vân du cùng bóng nguyệt. Giữa núi rừng hoang vu tĩnh mịch, tôi bầu bạn cùng trăng và ánh trăng là niềm an ủi vô tận. Ánh sáng mờ đục rọi xuống sân nhà đã cùng tôi dệt bao mộng mơ. Khung cảnh tứ bề hoang vu. Cả ngày tôi chơi với bóng trăng và lẩn thẩn một mình. Trong khi những đứa trẻ ngang lứa với tôi vui đùa vô tư lự, thì tôi lại thích ngồi một mình trầm ngâm suy nghĩ vẩn vơ hoặc để hồn chu du buồn theo gió sầu theo mây. Tôi hay tưởng tượng những áng mây tích tụ và tan là những hình hài luôn biến đổi. Tâm hồn tôi mẫn cảm, mau khóc mau buồn, và có lẽ đó cũng là lý do tôi trở thành một người nội tâm về sau.

Tôi không biết là những đặc tính của mình khiến cho tôi lọt vào mắt xanh của các vị ở cõi giới vô hình hay tôi có căn duyên với họ, nhưng từ nhỏ tôi có một vài trải nghiệm tâm linh mà tôi thường nghe gia đình kể lại. Tôi không để tâm vào những điều tâm linh xảy ra với tôi cho lắm vì tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì nhiều . Qua Mỹ tôi lo vùi đầu vào việc học hành để tiến thân không có thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác, cho đến khi mãi sau này. Dù đã trưởng thành, tôi luôn mang một cảm giác lạc lõng giữa chốn đông người. Có lẽ từ nhỏ tôi quen bầu bạn với chính mình, với tiếng nói tữ bên trong nên nội tâm của tôi là người bạn đồng hành trong sự tĩnh lặng vô biên. Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi đứng trước những biến cố đầy rẫy thị phi, những con người mà tôi không gây thù oán nhưng lời nói và hành động đầy ác tâm của họ đã đẩy tôi đến bờ tuyệt vọng. Giữa khổ đau tột cùng, tôi cảm nhận dường như có một lực vô hình chạm vào người mình và vực tôi dậy. Tôi bỗng trở nên mạnh mẻ, sắc bén không như yếu đuối, dễ vỡ trước kia. Những điều cần nói cần viết như có ai rót vào tư tưởng khiến tôi trở nên nhạy bén mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi va chạm những rong rêu bọt bèo trần gian.

Biến cố kéo theo những rối rắm khác khiến tôi cảm giác mình như bị cuốn trôi trong cơn lũ. Bỗng anh xuất hiện, người xưa của tôi đã chết cách đây hai mươi năm, khiến tôi như trời trồng. Anh được giao sứ mệnh bảo hộ tôi. Vốn là người nhạy cảm nhưng cứng đầu, tôi hấp thụ nền giáo dục bên Mỹ nên đầu óc tôi nặng khoa học: phải mắt thấy tai nghe tôi mới tin. Sự xuất hiện của anh, người mang sứ mệnh bảo hộ đã dập cái bản ngã của tôi bao trận và nghiền nát tất cả sự hiểu biết ít ỏi của tôi về cõi giới vô hình, một cõi giới song song với cõi người trần. Và sự tỉnh thức tâm linh dường như tự kích hoạt trong tôi kể từ đó. Tôi cảm niệm sâu xa về sự cứu rỗi vô hình đúng lúc từ các vị trong cõi giới bên kia nên phát nguyện trường chay, và không ngờ đó cũng là bước ngoặc lớn trong cuộc đời tôi.

Mười năm không phải là chuồi thời gian quá dài cũng không phải là quá ngắn nhưng với một người thích chiêm nghiệm như tôi thì có quá nhiều điều để chia sẻ. Ở cái cõi nhân gian mấy ai hiểu, tôi không quan tâm ai nghĩ tôi thế nào, khen hay chê ra sao, tôi làm những điều từ cái biết, cái thấy từ bên trong. Tôi vẫn là một con người bình thường với những hỉ nộ ái ố như bao người khác, tuy nhiên điều khác hơn là những cảm xúc đó luôn đi kèm theo sự quán chiếu. Quan trọng nhất, những cái “tự nhiên biết”, và “tự nhiên thấy” đến với tôi những lúc tôi cần là điều bản thân tôi không thể giải thích được. Bài học lớn nhất mà tôi luôn ghi nhớ là chớ phán xét người . Anh thường nhắc nhở ” em không được phán xét người nghe em. Họ như vậy là do nghiệp quả.”. Lòng trắc ẩn và nhìn căn cơ của người là điều tôi suy xét để có cái nhìn cảm thông hơn về lời nói hay hành động của người khác. Khi lòng trắc ẩn có mặt thì tâm sân hận khó có cơ hội hoành hành.

Những người lấy bên ngoài làm nền tảng hạnh phúc dễ khiến tâm bị mù mờ bởi họ trở thành nô lệ cho bản ngã. Một cái tâm mù mờ sẽ khiến họ khó phân biệt đúng sai, thiện ác, điều này ảnh hưởng đến lời nói và hành động và cuối cùng tự chuốc lấy khổ đau từ sự bất an bên trong. Muốn có trí tuệ tâm linh, chúng ta phải rèn luyện và dọn rác thân tâm mỗi ngày. Thử thách lớn nhất là chúng ta sống trong một xã hội được định hướng sẳn nên khó vượt lên trên để tìm sự chân thật, sự trong suốt đến từ bên trong. Muốn có sự chân thật, trong suốt đó chúng ta bắt buộc phải làm cuộc giải phẩu nội tâm, và bớt quan tâm thói thường thế gian. Carl Jung, nhà tâm lý học nổi tiếng từng nói: “Who Who looks outside, dreams; who looks inside, awakes”. Những người vọng ngoại là người mơ, những kẻ đi vào bên trong là những người tỉnh. Tất cả những điều mà chúng ta hơn thua để có được từ hư danh đến chiếc mặt mạ hoàn hảo cũng chỉ là “giai thị hư vọng”, thấy vậy chứ không phải vậy bởi nó cũng chỉ là những huyễn hóa mà chúng ta ôm chặt bất chấp khổ đau.

Mười năm anh đã cho tôi biết bao kiến thức tâm linh, quán chiếu bản thân, quán chiếu về cõi sống cõi chết để tôi tiếp tục là một lữ khách tỉnh thức giữa trần gian. Anh dìu dắt tôi qua bao biến cố. Anh là bậc thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Bên cạnh anh, những lời phỉ báng, mạ lỵ, thị phi, đố kỵ từ những người tôi biết, những người tôi không biết, những người tôi chưa biết là bậc thầy tâm linh thứ hai. Họ cho tôi cơ hội rèn luyện tâm bởi họ hy sinh nhân phẩm, chuốc nghiệp để tôi thực hành hạnh nhẫn nhục, nâng cao trí tuệ tâm linh của mình. Bậc thầy tâm linh thứ ba là người thương của tôi, là Bồ Tát giữa trần gian, che chở cho tôi trước những lầy lụa của người đời. Anh cho tôi thấy ví dụ sống của một cái tâm thiện giữa bể dâu với trùng trùng thử thách và cũng cho tôi không gian để tôi có thể trầm mình trong thế giới riêng, với sự thương yêu và thấu cảm, bởi hơn ai hết anh hiểu căn duyên của tôi trong kiếp này. Và cuối cùng Đức Phật là bậc thầy tâm linh lớn nhất của tôi bởi sau trải nghiệm tâm linh, tôi hay đối chiếu và chiêm nghiệm những giáo lý của Đức Phật với những điều tôi học hỏi từ người bảo hộ vô hình để được thông suốt hơn.

Giữa muôn trùng duyên nghiệp đan xen, chúng ta đã hụp lặn từ bao nhiêu kiếp và mang theo bao chủng tử để mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Những bậc thầy tâm linh của chúng ta là những người góp phần vào việc xây dựng cho chúng ta một ngôi nhà tâm linh nơi mà trí tuệ vượt ra ngoài cái hữu hạn, và cho chúng ta an trú trong tỉnh thức giữa dòng cuồng loạn thế gian.

01.26.2026
Lê Diễm Chi Huệ

Một Ánh Sáng Không Bao Giờ Tắt

Tưởng niệm Chí sĩ Phan Châu Trinh (1926 – 2026)

Mộ phần của Người tại Tân Bình, Sài Gòn
 (https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Châu_Trinh)

Có những cái tên không chỉ để gọi mà là để thắp sáng. Có những cuộc đời không chỉ thuộc về một thời đại mà trở thành di sản của muôn đời. Với tôi, một người học trò cũ dưới mái trường mang tên Người, Phan Châu Trinh chính là một sự hiện diện như thế: một ánh sáng chưa bao giờ tắt trong tâm khảm người Việt.

Tôi lớn lên dưới bóng mát của ngôi trường mang tên Người tại Đà Nẵng. Suốt những năm tháng tuổi học sinh, mỗi sáng bước qua cổng, nhìn tượng hình Người sừng sững giữa sân trường, tôi luôn cảm nhận được một sự nhắc nhở thầm lặng. Nhưng phải đến khi rời xa mái trường ấy, đi qua những thăng trầm và bụi bặm của cuộc đời, tôi mới thực sự thấu hiểu vì sao ngọn lửa từ đầu thế kỷ XX ấy vẫn còn rực cháy đến hôm nay.

Phan Châu Trinh (1872-1926) không chọn con đường gươm đao hay súng đạn. Người chọn một con đường gian nan hơn: Khai minh. Giữa lúc dân tộc còn đang ngủ mê trong đêm dài nô lệ, Người dùng ngòi bút làm vũ khí, dùng trí tuệ làm đòn bẩy để thức tỉnh quốc dân. Người tin rằng độc lập chỉ vững bền khi dân tộc tự khai sáng, và tự do chỉ có nghĩa khi mỗi người dân hiểu rõ quyền làm người của chính mình.

Tư tưởng Duy Tân với cương lĩnh "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" không chỉ là một cuộc cách mạng văn hóa mà là một bản thiết kế cho tương lai Việt Nam:

*Khai dân trí: Quyết liệt đoạn tuyệt với lối học từ chương, sáo rỗng. Người mở đường cho chữ Quốc ngữ, đưa kiến thức khoa học thực dụng vào đời sống. Người kêu gọi: "Đồng bào ta... ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là Chi Bằng Học" cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị của một chân lý thời đại.

* Chấn dân khí: Đập tan xiềng xích tư tưởng của chế độ chuyên chế phong kiến, thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường. Người muốn mỗi người dân phải là một công dân biết tự trọng, hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ đối với non sông.

* Hậu dân sinh: Đây chính là cái đích cuối cùng của lòng nhân ái. Mọi nỗ lực cải cách đều phải hướng về con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bài trừ hủ tục, xây dựng một lối sống văn minh, tiến bộ.

Vào đầu thế kỷ XX, tư tưởng ấy là tiếng chuông thức tỉnh đại ngàn. Còn hôm nay, đó là kim chỉ nam cho sự phát triển. Qua từng dòng diễn thuyết của Người, tôi không thấy sự giận dữ mù quáng, mà thấy một niềm hy vọng lấp lánh, hy vọng vào một Việt Nam tự đứng vững trên đôi chân mình bằng tri thức và lòng tự trọng.

Tôi nhớ những buổi chiều tan học, đứng lặng yên dưới chân tượng đài, nhìn ánh nắng hoàng hôn rọi lên khuôn mặt kiên nghị của Người. Khoảnh khắc ấy, một học sinh bình thường như tôi chợt nhận ra một điều phi thường: Tri thức có thể thay đổi vận mệnh, và một cá nhân nhỏ bé có thể làm nên đại cuộc nếu mang trong mình một lý tưởng đủ lớn.

Giờ đây, dù đang sống xa quê hương, tôi vẫn mang theo "ánh sáng" ấy như một báu vật. Trong mỗi lựa chọn, mỗi ngã rẽ của cuộc đời, tôi vẫn thường tự vấn: "Nếu là Người, Người sẽ nghĩ gì? Người sẽ làm gì?". Câu hỏi ấy như chiếc la bàn tâm linh, giúp tôi giữ mình ngay thẳng giữa những biến động.

Tưởng niệm 100 năm ngày Người qua đời tại Sài Gòn (24-3-1926) không phải để đắm chìm trong tiếc nuối quá khứ mà để tiếp nối ngọn lửa cho tương lai. Nhân cuộc hội ngộ tháng Ba năm 2026 tại Orange County, California, tôi viết những dòng này như một nén tâm hương tri ân. Tri ân một người Thầy lớn đã sống và chết cho lý tưởng, nhưng vẫn sống mãi trong nhịp đập của những trái tim khao khát đổi mới.

Phan Châu Trinh không chỉ là một chí sĩ, Người là một biểu tượng của sự khai sáng. Ánh sáng ấy sẽ còn soi đường cho những thế hệ mai sau, những người trẻ đang học cách yêu nước bằng cả trí tuệ và trái tim nhân ái.

Trần Việt Long
San Jose, ngày 31-01-2026


Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Ví Dầu Cầu Ván Đóng Đinh - Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến


Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.... (ca dao)

Gửi quý anh chị em ít tấm hình mang đặc thù miền Nam quê ta....

Hình Ảnh: Vũ Ngọc Hiến

Thước Phim Nhân Sinh

 Tâm chỉ yên khi bạn ngừng chạy trốn chính mình.

Bất an không đến trong một khoảnh khắc. Nó đến trong những lần bạn quay mặt khỏi chính mình.
Ta mệt không phải vì gánh nặng mà vì cứ phải giả vờ mình không hề đau.
Trong đời, có những đoạn đường bạn bước đi rất nhanh... chỉ để không nghe thấy trái tim mình đang run. Có những nỗi buồn bạn cất rất sâu... chỉ vì sợ nhìn vào sẽ vỡ.
Ta nghĩ mình mệt vì người khác, vì công việc, vì thế giới, nhưng nếu nhìn kỹ, ta chỉ mệt vì chưa dám trả lời: Tôi đang thiếu điều gì? Tôi đang mong đợi điều gì từ người khác mà chính tôi chưa từng cho mình.

Từ việc bạn dám dừng lại, hít một hơi thật sâu, và thừa nhận: Tôi đang đau và xứng đáng được chữa lành.
Bởi vì:

'Không ai cứu được bạn bằng người mà bạn nhìn thấy trong gương mỗi sáng'
Khi bạn quay về bên trong, bạn sẽ nhận ra bao điều tưởng như phức tạp thật ra rất đơn giản:
Ta buồn vì kỳ vọng quá nhiều.
Ta tổn thương vì trao giá trị sai người.
Ta bất an vì chưa từng thật sự lắng nghe bản thân.
Ta cô đơn không phải vì thiếu người kề bên, mà vì thiếu chính mình.
Chậm lại một chút... hãy nhìn xem: bạn đã đi xa đến mức quên mất nơi mình bắt đầu - là chính trái tim mềm yếu ấy.
Quay về bên trong không phải là trốn chạy thế giới mà là để bước ra đời nhẹ nhàng hơn, bền vững hơn, tự do hơn.
Một tâm hồn biết trở về bên trong là một tâm hồn không gì bên ngoài có thể khuấy động, và rồi, nỗi lo sẽ lắng lại, nỗi buồn sẽ tan đi và những điều từng khiến bạn nghẹn lại... sẽ trở thành bài học, không còn là vết thương.
Điều đẹp nhất không phải là bạn chưa từng vấp ngã mà mỗi lần bạn đứng dậy, bạn đứng với một phiên bản sáng hơn của chính mình.

Sau cùng, bình yên không phải món quà ai trao, mà là nghi lễ bạn tự làm cho chính mình. Nó đến khi bạn đủ can đảm nhìn vào phần tốiđủ tử tế ôm lấy phần mềm yếu, và đủ tỉnh thức để không còn chạy trốn.
Đến khi ấy, không phải thế giới đổi thay mà là bạn. Và khi bạn đổi thay, mọi thứ tức khắc trở nên nhẹ nhàng.
Người tìm bình yên sẽ đi rất xa.
Người hiểu bình yên chỉ cần trở về.
-------
Không nỗi đau nào là vô nghĩa.

Đã bao giờ bạn ngồi giữa đêm, nước mắt rơi mà chẳng hiểu vì sao? Chỉ biết trong lòng trống rỗng, như thể một phần của mình vừa rơi xuống, không còn tìm lại được nữa.
Ta thường nghĩ nỗi đau là kẻ thù - là thứ cần tránh, cần quên, cần chôn thật sâu. Nhưng nếu không có những vết nứt ấy, làm sao ánh sáng có thể lọt vào?

Ai có lý do để sống, người đó có thể chịu đựng gần như mọi nỗi đau.
Đức Phật dạy rằng:'Từ đau khổ sinh ra trí tuệ'. Mỗi giọt nước mắt rơi không phải để làm ta yếu đi mà để rửa sạch điều cũ kỹ trong lòng, để sau đó - khi ngẩng lên, ta có thể nhìn đời bằng đôi mắt mới.
Không có nỗi đau nào là vô nghĩa. Có những vết thương không để lại sẹo, nhưng âm thầm dạy ta biết lắng nghe chính mình.
Có những mất mát không thể lấp, nhưng lại mở ra một cánh cửa khác - nơi ta thôi hỏi 'vì sao' và bắt đầu hiểu 'để làm gì'.
Rồi một ngày, khi ta đi qua đủ những khúc quanh gập ghềnh, ta sẽ nhận ra: chính những điều từng làm ta gục ngã, lại là thứ khiến ta lớn lên. Và khi ấy, ta sẽ biết ơn cả nỗi đau - bởi nhờ nó, ta học được cách yêu thương sâu hơn, và sống hiền lành hơn với chính mình.

Bởi cuối cùng, không phải hạnh phúc làm ta sáng lên mà là những lần đau - đã dạy ta cách tìm ánh sáng trong chính bóng tối của mình.

Trích từ "Thước phim nhân sinh".
PAD

Cậu Bé Cắt Cỏ Và Người Dược Sĩ Trung Niên


Hai ngày nay, thành phố FairFax vùng Hoa Thịnh Đốn tuyết rơi dày đặc, phủ trắng xóa từ mái nhà đến cây cối lấn vỉa hè. Từng cơn gió buốt, cuốn theo những bông tuyết nhỏ li ti quất vào mặt rát lạnh những ai “gan dạ” dám bước ra khỏi nhà. Hơi thở của con người sẽ bốc khói trong không gian xám chì, bàn tay vừa đưa ra đã tê cứng, chóp mũi cũng đỏ ửng vì lạnh. Đường phố im lìm, xe cộ chạy thật chậm, bánh xe nghiến lên lớp tuyết phát ra âm thanh rào rào khô khốc. Giữa cái rét cắt da ấy, cả thành phố như co mình lại, lặng lẽ chịu đựng mùa đông khắc nghiệt.

Bời vì “Nắng mưa là việc của trời” con người dù văn minh cỡ nào cũng làm sao tránh khỏi.

Lạnh quá không ngủ nán được. Tôi dậy ra phòng khách pha ly cà phê bưng đến ngồi bên lò sưởi. Hớp vài ngụm cà phê nóng cho ấm lòng, tôi nhìn từng cụm bông tuyết rơi rơi lung linh qua cửa sổ. Trong cái không gian mờ mịt ấy, đột nhiên tôi nhớ lại thời kỳ mới đặt chân đến Mỹ. Vậy mà thấm thoát đã bốn mươi mấy năm, và những gì tôi từng chứng kiến và trải qua bỗng hiện về tràn ngập tâm hồn.

Nhớ lại lúc chúng tôi mới đến định cư vùng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, cũng vào mùa tuyết rơi, khoảng đầu tháng 12. Thiên hạ chuẩn bị đón Giáng Sinh, khắp nơi đường phố, siêu thị, nhà riêng, phi trường… trang hoàng rực rỡ hình ảnh, đèn màu lấp lánh vui mắt. Phi trường Dulles Hoa Thinh Đốn nhộn nhịp, xe lớn xe bé ngoài bãi đậu đầy. Trong nhà ga hành khách kẻ đến người đi rộn ràng. Gia đình chúng tôi được cô em gái bảo trợ, đón về nhà riêng. Trời lúc ấy rất lạnh. Ngoài bãi đậu xe mấy đống tuyết gom lại cao nghệu vì tuyết rơi từ mấy hôm trước chưa tan, làm chúng tôi vô cùng ngạc nhiên lẫn thích thú vì chưa bao giờ thấy tuyết bên Việt Nam.

Em gái chúng tôi đến Mỹ định cư vùng Hoa Thịnh Đốn từ năm 1975. Gia đình em gồm 4 người con và bà Bác, thân mẫu người em rễ, khoảng 70 tuổi. Người con gái út cô chú sinh ra ở Hoa Kỳ, được 3 tuổi. Các con cô em từ lớn tới nhỏ đều líu lo tiếng Mỹ khi đi học như lúc về nhà. Cô chú đi làm cả ngày, tối về cơm nước, tắm rửa các cháu, không có thì giờ dạy cháu Viêt Ngữ nên các cháu nghe được nhưng nói không thạo.

Chúng tôi ở chung với gia đình cô em một thời gian và sau đó thuê nhà cách cô chú khoảng 15 - 20 phút. Cả gia đình cùng nhau làm việc tối đa và tiết kiệm tối đa. Ơn trời, năm sau chúng tôi mua được ngôi nhà nhỏ cũng gần đó. Bà Bác và tôi hợp nhau nên lúc dọn ra riêng 2 Bác cháu quyến luyến lắm. Các cháu nội cụ lúc ấy đi học bài vở nhiều nên it trò chuyện với bà trừ cháu nội ba tuổi. Nhờ cơ hội được ở nhà với bà Nội suốt ngày nên útt nói tiếng Việt giỏi như các trẻ em Viêt Nam. Quan sát chuyện hai bà cháu của út, tôi mới học được kinh nghiệm sau này khi dạy tiếng Việt cho con cháu mình, nếu phụ huynh ở nhà luôn nói tiếng Việt cùng con cháu thì chúng sẽ dễ dàng học và nói giỏi tiếng Việt.

Sau khi chúng tôi mua nhà ít lâu, Tân, em một người bạn tôi đang định cư Ohio đến thăm chơi và tỏ ý muốn dọn về vùng Hoa Thịnh Đốn để các con chú có cơ hội tiếp xúc với người Việt. Theo chú, Ohio phần lớn là người Mỹ bản địa, ít người Việt và không có chợ Việt Nam. Chú ấy là người Bắc di cư, gồm 2 vợ chồng, 6 đứa con và bà mẹ già. Cháu bé nhất chỉ mới khoảng 6 tháng. Ở Việt Nam trước kia chú có trường dạy đánh máy. Gia đình chú không có người quen ở Mỹ nên nhà thờ Ohio bảo lãnh. Chú cho biết Ohio rất lạnh, không hợp cho người Mẹ già.

Nhà chú đông người, chú có việc làm nhưng vợ chú chỉ đi làm bán thời gian nên cần người “co-sign” mới thuê được nhà. Chúng tôi khi đó có việc làm ổn định nên sẵn sàng giúp chú, cùng ký tên trong hợp đồng để chú thuê nhà. Chỉ có thế, chú thím đóng tiền nhà đầy đủ, chẳng phiền đến chúng tôi chút nào. Tuy nhiên chú rất biết điều nên năm nào vào dịp lễ Tết chú thím cũng biếu quà nọ kia hậu hĩ cho chúng tôi và chúng tôi cũng mua quà đáp lễ cho vui. Thật là chẳng phải họ hàng nhưng cư xử thân tình như người trong gia đình, ấm áp như bà con…

Nhà chúng tôi phía trước và sau có sân cỏ nhỏ nên phải thuê người cắt cỏ vào mùa hè và hốt lá vào mùa đông. Tâm con trai út chú Tân học lớp 9 nhưng cao to, phụ trách cắt cỏ nhà chú hằng tuần. Chú bảo Tâm đến cắt cỏ nhà tôi luôn, cũng gần nhà chú và không cho cháu lấy tiền. Cháu làm cẩn thận, sạch sẽ. Nhà tôi rất hài lòng và trả tiền cho cháu Tâm sòng phẳng nhưng dặn đừng cho bố cháu biết. Mùa Đông có tuyết chú Tân lại chở út đến cào tuyết giúp vì các con trai tôi đều đi học xa.

Tuy vất vả là thế, nhưng Tâm học rất giỏi, được điểm tối đa mỗi học kỳ. Sau khi tốt nghiệp Trung Hoc, Tâm được nhận vào Đại học gần nhà với học bổng toàn phần. Chú Tân vui mừng cho chúng tôi biết gia đình không phải bận tâm về tiền trường cho cháu. Là một cậu bé siêng năng chăm chỉ, Tâm cũng lại vừa học vừa làm, nhờ kinh nghiệm đi cắt cỏ, cào tuyết, khi còn học cấp Hai, để trả tiền nhà, tiền ăn, và xăng nhớt. Vợ chồng chú Tân cố khuyên cháu hãy nghỉ làm, chỉ chăm chú vào việc học, để ba mẹ phụ lo việc này, nhưng cháu vẫn không nghe mà giữ vững ý chí tự lập. Bạn bè của chú Tân và bà con cộng đồng Việt quen ai cũng yêu quý ngợi khen cậu bé.

Mùa lễ tốt nghiệp bốn năm sau, chú Tân đến báo tin vui út Tâm được nhận vào trường Đại Học Y Khoa tiếng tăm ở Thủ Đô. Chỉ riêng tiền học phí cũng gần $100.000/năm. Chú thím nói cháu Tâm tự lo lấy tất cả nhờ được học bổng và tiền cháu đi làm thêm job cắt cỏ vào cuối tuần.

Sau mười năm ròng rã miệt mài, Tâm phải đối diện không biết bao nhiêu là thử thách, gian nan khổ nhọc, theo lời kể của chú Tân. Ngành giải phẫu xin vào được đã khó, khi học càng khó hơn các ngành khác, và phải có sức khỏe thật tốt để hoàn thành các cuộc giải phẫu căng thẳng, cần nhiều thời gian. Nhiều lần Tâm tưởng như sắp bỏ cuộc, nhưng rồi lòng ham học và sự đam mê làm bác sĩ để cứu người của cậu đã chiến thắng.

Và rồi cuối cùng cái ngày hạnh phúc cũng đã đến. Tâm lấy được mảnh bằng Bác sĩ và ra đi làm. Hiện tại Tâm là Bác sĩ giải phẫu ở một nhà thương cách thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ khoảng 4 giờ bay.

Tôi mừng cho cậu bé Tâm cắt cỏ sân nhà tôi năm xưa, cho gia đình chú thím Tân, và cho đồng hương Việt Nam, nói chung. Khi vợ chồng chú Tân đi thăm cháu nội mới sanh, con cậu bé Tâm, chú về gửi cho tôi cho xem hình cái biệt thự to đẹp, nhiều hoa lá, có hàng rào, và sân cỏ xanh mướt bao quanh, cùng những chiếc xe hơi bóng loáng đậu trước sân nhà.

Gia đình chú Tân được đồng hương khen ngợi là gia đình gốc Việt thành công nhất, và là một gia đình tị nạn gương mẫu. Ngoài cậu bé Tâm cắt cỏ giờ thành bác sĩ, chú Tân còn có hai người con gái làm trong ngành ngoại giao của Hoa Kỳ. Và tất cả 6 người con chú thím Tân đều tốt nghiệp Đại Học có việc làm thật tốt. Nhưng chú Tân người cha cần mẫn vẫn mãi là người quản lý bình thường của tiệm Seven-Eleven cho đến ngày chú hưu trí.

Tuy nhiên không phải chỉ có mỗi gia đình gốc Việt của chú Tân thành công trên đất Mỹ. Tôi quen biết mấy gia đình Việt Nam có con đi bỏ báo, sơn nhà, lúc đi hoc Trung Hoc vào mùa Hè và những ngày cuối tuần, và lớn lên đã thành công, nhà cao cửa rộng, có gia đình tốt đẹp sau khi tốt nghiệp Đại Học có việc làm tử tế. Đó cũng nhờ sự chăm học, óc cầu tiến của sinh viên, và quan trọng hơn nữa là sự khuyến khích của gia đình. Ngoài ra những người nhập cư cũng đều tỏ lòng biết ơn chính phủ Hoa Kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh viên nghèo hiếu học cơ hội để tiến tới thành công. Những xuất học bổng toàn phần cho các sinh viên nghèo hiếu học có thành tích giỏi giang đã giúp họ cơ hội cạnh tranh cùng giới con nhà giàu mà cha mẹ phải trả hàng khối tiền rất tốn kém.

Từng là một nhà giáo, ngày xưa ở Việt Nam đi dạy học tôi thường khuyến khích học trò tôi cố gắng học hành, đừng hoang phí tuổi trẻ vì thời gian qua đi không lấy lại được. Một người giàu có ít học, thiên hạ sẽ xem thường, gọi là trọc phú. Nếu có học mà nghèo vẫn được thiên hạ quý nể. Như thuở trước Cụ Tú Xương nghèo nhưng có học vẫn được thiên hạ nể trọng.

Phải nói tinh thần hiếu học của người Việt rất là cao, rất đáng nể. Tôi có người bạn tên Hương là dược sĩ ở Việt Nam. Gần năm mươi tuổi, chị theo gia đình sang Mỹ định cư, bắt đầu lại cuộc sống từ con số không. Ở cái tuổi mà bên quê nhà nhiều người nghĩ đến nghỉ ngơi, chị Hương lại phải học lại tiếng Anh, làm quen với một hệ thống hoàn toàn xa lạ.

Người thân, bạn bè đều khuyên can:
“Lớn tuổi rồi, học lại làm gì cho cực? Học ra hơn 50 tuổi rồi ai thuê?”

Tính tình cương quyết và rất mạnh mẽ, chị Hương mặc kệ, bỏ qua những lời khuyên, chị ghi danh vừa học Sinh Ngữ, vừa học chuyên khoa. Vì chỉ biết đất nước Hoa Kỳ cho nhiều cơ hội, nếu không học thì suốt đời sẽ hối tiếc. Chị học lại từ đầu, rất vất vả cho người mẹ sáu đứa con. Dù gia đình bận rộn đông con, chị huấn luyện các con đứa lớn trông đứa bé, nhắc nhở nhau cùng học.
Những đêm dài vật lộn với sách vở, những kỳ thi căng thẳng, những lúc tưởng như không theo kịp lớp sinh viên trẻ, chị đều vượt qua. Không nhanh, không dễ chút nào, nhưng chị không nãn chí mà cứ tiến bước.
Cuối cùng, sau bốn năm vật lộn với trường lớp và con cái, chị Hương tốt nghiệp dược sĩ. Câu chuyện của chị cho tôi thấy rằng tuổi tác không giới hạn ước mơ, chỉ có sự tiêu cực mới đành cam nhận lấy thất bại mà thôi.

Dược sĩ Hương và tác giả Ngọc Hạnh

Chị Hương làm Dược Sĩ cho các nhà thuốc đến năm 80 tuổi, khi các con ép chị nghỉ việc chị mới chịu về hưu. Thật ra lúc ấy các con chị đều tốt nghiệp Đại Học và có gia đình. Chị cho tôi biết, khi đến tuổi về hưu tài chánh không là vấn đề chị bận tâm, nhưng chị thích đi làm có người ra người vào, vui hơn ở nhà một mình vì chồng chị đã qua đời.

Hiện tại chị Hương đã về hưu và đang hưởng thụ tuổi vàng. Chị đi du lịch, thăm viếng các thắng cảnh danh lam, và bà con gần xa. Cậu con trai lớn của chị năm xưa đi bỏ báo vào mùa Hè nay là Bác sĩ chuyên khoa gây mê ở nhà thương lớn California. Và hãnh diện thay, mấy đứa con của chị đều tốt nghiệp ngành Y Dược theo nghề Bố, Mẹ. Chị Hương có sáu người con thì năm người là bác sĩ, một người là dược sĩ, không kể nhiều dâu rể đều học cao. Đó là nhờ vợ chồng chị làm gương tốt cho các cháu. Tôi thật ngưỡng mộ những thành công tuyệt vời của chị Hương nói riêng và người Việt Nam mình nói chung.

Nhân Năm Mới (Tết Ta) Bính Ngọ sắp đến, tôi viết về những chuyện ngày xưa khi mới bắt đầu hội nhập của bà con gốc Việt, để các thế hệ trẻ sau này biết sự khó khăn nhọc nhằn của ông bà, bố mẹ lúc mới định cư nơi vùng đất mới Hoa Kỳ.

Kính xin chúc mừng chương trình Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo ngày càng tiến bước trong Năm Mới. Kính chúc đồng bào hải ngoại cũng như người trong nước luôn được ấm no, đức dục, trí dục mở mang, người lớn có việc làm, trẻ em được đến trường, mọi người bình an khỏe mạnh. Tôi cũng xin nguyện cầu cho đất nước Việt Nam tôi mưa thuận gió hòa, mong đường xá, phố phường Việt Nam tốt đẹp, giao thông an toàn, và miền Trung nước Việt Nam không còn bị ngập lụt, hoa màu thuận lợi, bà con chăn nuôi phát triển hơn năm cũ 2025.

Sau cùng, nhân dịp Xuân về, người viết xin có mấy câu thơ mộc mạc kính tặng Việt Báo và quý độc giả VVNM xem cho quên đi cái lạnh, vì vùng Hoa Thịnh Đốn tuyết đầu mùa vẫn chưa tan hết, trời đất còn rất lạnh, giá buốt thâm nhập khắp nơi, ra ngoài mặc áo khoác dày mà vẫn co ro:

Chúc Xuân  Việt Báo & VVNM

Trận tuyết đầu mùa lạnh cắt da
Trắng ngời lấp lánh đẹp như hoa
Cung đường bạc phủ quanh đầu hẻm
Góc ngõ đá vun tận vách nhà
Cầu suốt Tân Niên duyên phước đẫm
Chúc toàn Năm Mới lộc tài đa
Viết Về Nước Mỹ luôn tồn tại
VIỆT BÁO cùng nhau tiến vượt đà.

Ngày 10/01/2026
Ngọc Hạnh

Chuyện Mùa Đông Xứ Lạnh

 

Cũng là cái chị Nở, người chị khá thân thiết với tôi trong ca đoàn, hễ thấy mặt tôi vừa bước lên gác ca đoàn, chưa kịp ngồi xuống, chị đã mở đầu câu chuyện …mùa đông:
- Ui, năm nay ông trời đổ tuyết bù cho năm ngoái hay sao đó Loan ơi!
Tôi liếc chị, hững hờ:
- Thì sao ? Mùa đông Canada có tuyết ít hay nhiều, cũng là chuyện bình thường thôi mà, có gì lạ!
Biết lối nói chuyện tưng tửng của tôi, chị cười hề hề:
- Thì cũng phải than thở chớ! Nhớ năm rồi, chị bay từ Việt Nam về đây, cũng mùa này, mà trời khô ráo, tuyết chỉ lưa thưa mặt đường, mà năm nay thì hỡi ơi, tuyết đổ và gió rít, không kịp vuốt mặt.
- Nè chị, người được quyền …than thở là em đó nghen! Hồi đó ở trại, em chờ Mỹ phỏng vấn, bị rớt, rồi mới quay qua Canada. Còn chị, ai biểu nóng ruột, muốn đi sớm nên xin phái đoàn Canada cho đi định cư, giờ thì …ráng chịu, cho chừa cái tật hấp tấp!

Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ. Ổng cười, hỏi tôi:
- Nè, cô có biết Canada là xứ tuyết lạnh không?
Tôi cười duyên, tự hào:
- Tôi biết chớ! Canada lạnh như cái tủ lạnh!
Ổng xua tay:
- Không!! Lạnh hơn cái tủ lạnh nhiều lần đấy cô ơi!
Tôi hơi bị …quê, đang im lặng chưa biết nói gì, ổng nháy mắt:
- Cô vẫn có thời gian để …đổi ý, không đi Canada nữa đấy!
Tôi bèn nổi hứng… anh hùng:
- Ối, lạnh cỡ nào tôi cũng chịu được mà! Bao nhiêu người ở Canada chớ nào phải mình tôi!?
Vậy đó, bây giờ hơn ba mươi năm ở cái “xứ lạnh tình nồng”, mà mỗi khi mùa đông đến, tuy có quen thuộc, có chuẩn bị tâm lý sẵn sàng, mà đôi lúc cũng phải rên rỉ trong lòng, có khác gì chị Nở đâu.

Ở xứ này, câu nói mở đầu câu chuyện khi mùa đông, chắc chắn luôn là câu nói về …tuyết, về cái lạnh tái tê khi gió rét sang mùa. Chúng tôi hay nói với nhau rằng, mùa đông tuyết Canada trắng xóa, đẹp lắm, lãng mạn lắm, nhưng giá mà nhiệt độ đừng quá lạnh, cùng lắm là âm vài độ C thôi, thì tuyết sẽ càng đáng yêu hơn, Canada sẽ là một quốc gia tuyệt vời, có bốn mùa rõ rệt. À, trong nước Canada có một tiểu bang như thế, đó là British Columbia (BC), nơi có thành phố Vancouver xinh đẹp nổi tiếng, vì ở ngay biển nên mùa đông không lạnh nhiều, không có tuyết nhiều như những tiểu bang còn lại của Canada. Nhưng, lại là một chữ nhưng, nơi đây mưa rất nhiều, nên ai trốn tuyết qua đây lại gặp mưa, mưa dầm dề mưa lê thê, kéo dài từ ngày này qua ngày khác, cũng buồn…thúi ruột. Hơn nữa, vì nhiều người chọn kéo nhau về BC sinh sống nên giá cả sinh hoạt, nhà cửa rất đắt đỏ. Tóm lại, cuộc đời này, chả có gì là hoàn hảo, chả có nơi đâu là tuyệt vời “trăm phần trăm”, ai ở đâu rồi sẽ quen đó, sẽ chấp nhận và yêu thương nơi chốn mình đang gắn bó dài lâu.

Cái “lạnh hơn tủ lạnh” của Canada, đó là khi trời lạnh ở lúc cao điểm, thường là trong tháng 1 và tháng 2, có lúc xuống đến âm hai chục độ C, cộng với độ gió thổi có khi âm ba mươi độ, và cũng may, là những ngày lạnh ấy không kéo dài lắm (nghĩa là trong tháng 1và tháng 2, có vài ngày, hoặc một tuần “tái tê” mà thôi!), để rồi khi nhiệt độ lên chút đỉnh, bà con lại mừng rỡ bảo nhau: Ôi, tuần sau là ấm rồi, chỉ âm vài độ chớ nhiêu!! Nếu bữa nào trời nổi hứng, nhiệt độ bỗng lên qua 0 độ, vượt qua vài độ cộng, thì ôi thôi, vui như… thiên đàng.
Trở lại những ngày “tái tê teo đủ thứ”, tôi nhớ hồi đó đọc truyện, xem phim Dr.Zhivago, tôi đã không tưởng tượng nổi cái lạnh của xứ Nga, mà thương cảm cho nàng Lara và chàng Zhivago! Sau này mới biết, họ quay cảnh... tuyết giả ở Spain vào mùa Hè (vì đoàn phim không được phép quay ở Nga). Còn một số bối cảnh rừng mùa đông đêm dài hun hút tiếng sói tru, và cảnh xe lửa đi trong màn tuyết thì quay ở Finland và Canada vào mùa Đông…thiệt. Giờ thì tôi đã cảm được cái lạnh ấy rồi, té ra Canada của chúng tôi đủ lạnh xấp xỉ Siberia của Nga, trung bình âm 15 đến âm 20 độ C (ngoại trừ vài điểm lạnh nhất của Siberia là âm 40 độ C) nên mới được chọn để quay bối cảnh trong phim Dr. Zhivago, một trong những bộ phim kinh điển nổi tiếng khắp thế giới, cũng …oai đấy!

Và bây giờ xin được kể câu chuyện để kết thúc bài “mùa đông xứ lạnh” của tôi.
Tuần rồi, tôi có cái hẹn đi khám răng lúc 5 giờ chiều. Xin đừng ai hỏi, tại sao lại đi khám răng giữa mùa đông lạnh lẽo. Xin thưa, cái xứ này, mùa đông chính thức là từ tháng 12 qua đến tháng 1 tháng 2, nhưng kể từ tháng 11 trời có thể lạnh và tuyết rơi, thậm chí trời cũng vẫn còn chút lạnh qua đến tháng 3, nên nhiều người gom luôn cho tiện, rằng Canada lạnh 5 tháng dài. Vậy chả lẽ suốt ngần ấy thời gian, chẳng ai dám đi làm răng, khám bệnh hay sao? Trẻ con còn phải đi học, người lớn vẫn phải đi làm, thì các cuộc hẹn sức khỏe cũng cứ thế mà tiến hành, nhất là theo chu kỳ hãng bảo hiểm, nên tôi không thể bỏ lỡ chuyện khám răng định kỳ.

Rồi khoảng 1 giờ trưa, cô thư ký văn phòng nha sĩ phone cho tôi:
- Cô ơi! Vì hôm nay thời tiết xấu, tuyết đổ cả ngày mịt mù trơn trượt, chúng tôi có 2 người huỷ hẹn làm răng, mà cô là người có hẹn cuối trong ngày, nếu cô đến được lúc 2 giờ thì tốt quá, để chúng tôi có thể đóng cửa về sớm.
Tôi trả lời:
- Rất tiếc là không được vì tôi còn bận công chuyện khác. Tôi chỉ có thể đến sớm hơn 30 phút mà thôi, tức là 4 giờ 30 tôi sẽ có mặt.
- Tiếc nhỉ, dù sao cũng cám ơn cô.
Rồi một giờ sau, tức là khoảng 2 giờ, cô thư ký lại phone:
- Cô ơi, chúng tôi sẽ phải dời cái hẹn của cô qua tuần sau nhe, vì bây giờ nha sĩ có việc đột xuất phải đi.
- Này cô thư ký, thà anh nha sĩ cứ nói thẳng là muốn về nhà sớm trong một ngày tuyết lạnh như chiều nay, nghe có vẻ dễ thông cảm và lọt lỗ tai hơn nhiều.
Cô ấy chống chế yếu ớt:
- Nha sĩ bận thiệt mà.
Tôi là khách của phòng nha sĩ này hơn chục năm nay. Anh nha sĩ người Lebanon, tuổi trên 40, và cô thư ký người Philippine tuổi hơn 30, đều quen mặt tôi. Tôi nói tiếp:
- Này cô thư ký Lynn, không riêng gì tôi, mà bất cứ ai trong trường hợp này, đều nghĩ rằng chàng nha sĩ chẳng có bận đột xuất gì ráo! À mà nè, văn phòng của cô thường hay nhắc khách hàng về cái luật " 24-hour cancellation", nghĩa là nếu huỷ cuộc hẹn trước 24 tiếng thì ok, nếu không sẽ bị phạt $70, đúng không ? Nay tôi cho cô biết, tôi cũng có "24-hour" rule đấy nhé, nhưng tôi chỉ charge $50 thôi!

Cô ta cười khanh khách:
- Cô vui tính quá!
- Vui vẻ gì tầm này! Cô nhắn với chàng nha sĩ, tuần sau dù có bão tuyết động trời động đất thì cũng chớ có mơ đến chuyện dời cái hẹn của tôi nữa, lúc ấy đừng trách tại sao tui …hung dữ!
Tuần sau, tôi đến đúng hẹn. Mỗi lần có hẹn đi bác sĩ, nha sĩ, tôi thường chuẩn bị sẵn vài câu hỏi liên quan đến tình trạng của mình, hoặc có khi chỉ là những thắc mắc tổng quát.
Thường thì sau khi khám xong, họ hay hỏi bệnh nhân: “any questions?”, nhưng tôi vốn hay …ngược đời, luôn luôn hỏi ngay khi bắt đầu bước vào phòng, sau phần xã giao “hello” “how are you” là tiếp luôn: “I have some questions for you!!”. Họ sẽ lắng nghe, vui vẻ trả lời kỹ lưỡng hơn là để lúc cuối, lúc đó họ ở trong tâm trạng vội vàng đợi chờ bệnh nhân kế tiếp.
Bữa đó lạnh quá, phần vì còn bất mãn chàng nha sĩ dám… đơn phương hủy cuộc hẹn của tôi từ tuần trước, nên tôi bước vào ghế với khuôn mặt lạnh lùng hơn băng giá ngoài kia, chàng nhìn tôi cười cười như mọi khi:
- Cô có câu hỏi gì không?
Tôi lắc đầu, chàng ta hình như hiểu được “nỗi lòng mùa đông” của tôi nên dịu dàng chuộc lỗi:
- Lần này, và lần tới, cô sẽ không phải trả thêm tiền nhé.
Thông thường, bảo hiểm của tôi chỉ trả 90% chi phí, và tôi phải trả phần còn lại. Tôi hỏi:
- Ủa ... Ủa, lý do?
- Thì tuần trước cô đã nói với cô thư ký về cái "24-hour" rule mà? Tôi thật sự thích cái ý tưởng đó của cô!
Lúc này, tôi mới bật cười, quên mất bộ mặt nghiêm trang của mình khi mới bước vào:
- À à …Nhưng tôi chỉ "đòi" có $50, mà sao anh trả hơi nhiều?
- Tôi muốn cảm ơn cô đã dời cái hẹn qua tuần này, và tôi cũng xin lỗi vì đã huỷ cái hẹn sát nút, tôi thực sự sorry.

Có thế chứ! Thời gian, dù của bất cứ ai, cũng đều quý giá như nhau, phải không?
Thực ra, chỉ cần lời xin lỗi của chàng nha sĩ là tôi vui rồi, nhưng được offer khỏi phải trả tiền cho hai lần hẹn, thì tôi... vui hơn.

Bởi vậy, khi rời khỏi văn phòng nha sĩ, tôi lái xe thẳng đến…khu shopping khi ngoài trời tuyết vẫn rơi …rộn ràng!

Edmonton, Tháng 1/2026
Kim Loan

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Thoáng Tà Dương - Thơ: Lê Diễm Chi Huệ - Sáng Tác: Quang Ngọc


Thơ: Lê Diễm Chi Huệ
Sáng Tác: Quang Ngọc

Quê Xưa

 

Mẹ ơi, bên nầy, bên ấy cách xa

Mênh mông mây trắng… chảy là đà

Chạnh lòng con trẻ…hồn xao xuyến

U hoài…giọt lệ tháng ngày qua!


Bao năm thương nhớ…ở xứ người

Một trời hoa…nhưng nức nở chơi vơi!

Ấm no…nhớ quê mình xơ xác…

Nỗi niềm quặn thắt…giọt lệ rơi!


Bức tranh xưa…con vẽ vào lòng

Khói lam chiều….dưới ánh trời trong

Bên khung cửi…mẹ ngồi dệt vải…

Mộng mơ…theo từng sợi chỉ xuôi dòng!


Mảnh áo thô…con còn giữ đây

Hoa râm mái tóc…dáng vai gầy

Đường kim, khuy áo…hình bóng mẹ

Mơ màng vời vợi…cánh chim bay!


Độ ấy về quê…sương khói tiêu điều

Đường làng cô quạnh hắt hiu!

Mẹ cười …thì thầm trong mây gió

Ve vuốt hồn con…tiếng sáo diều!


Giờ đây…gặp Mẹ trong mơ

Mẹ ơi, tuyết trắng…áng mây mờ

Dòng đời…còn quá cay nghiệt!

Ôm Mẹ vào lòng… nốt nhạc lời thơ!


Tô Đình Đài


Còn Nhau

 

Qua giông tố nắng hồng lên ngọn cỏ 
Đời còn nhau ngày tháng vẫn là thơ. 
Mưa lất phất lá cuối mùa ướt sũng, 
Đường về quê sao vương chút ngại ngùng?! 

Trăng xóm cũ lặng trôi theo sóng cả 
Mây hoàng hôn cũng bỏ phố bay xa! 
Cơn gió bão mảnh thuyền xưa đảo vắng. 
Lòng đại dương nào hiểu ánh sao băng! 

Quê hương mãi chợp chờn trong giấc ngủ, 
Tiếng võng buồn kẽo kẹt vọng lời ru! 
Từ xa lắm có mùa xuân thật chậm 
Đang trở về tấu lại khúc tình thâm. 

Ta chẳng lẽ con đò không bến đổ! 
Ngày lênh đênh đêm nhịp sóng nhấp nhô. 
Biết về đâu khi con nước phai mầu! 
Em chớ khép... cho hồn ta ngủ đậu. 

Đỗ Bình
France 

Phố Núi Mùa Đông...

 

Phố nào tôi yêu, nếu ai hỏi?
Đây phố Banff, phố núi mùa đông
Tháp chuông nhà thờ giá rét thổi
Vẳng tiếng ngân dài trong mênh mông

Nơi đây buổi chiều đi rất vội
Núi giang tay ôm cả tầng mây
Con dốc quanh co lặng lẽ đợi
Mây thấp về giăng kín hàng cây

Đêm phố núi êm đềm quá đỗi
Áo khoác, khăn quàng nhẹ gió bay
Du khách dừng chân quán bar nhỏ
Rượu vang đầy chưa uống đã say

Huyền hoặc phố Banff lúc không đèn
Nửa đêm về sáng một màu đen
Núi, mây, phố phường cùng hoà quyện
Bóng tối phủ đầy mộng bình yên

Ai đến đây, dù chỉ một lần
Mùa Đông, có nghe lòng bâng khuâng?
Phố nhỏ, và những con đường nhỏ
Gợi nhớ nơi nào từng bước chân …

Đà Lạt đó, giáo đường đồi dốc
Triền thông reo se sắt chiều rơi
Lời yêu mới ngỏ bên bờ thác
Thung lũng hẹn thề tình không vơi

Cũng những đêm lang thang phố vắng
Ly sữa đậu nành ấm bờ môi
Sớm tinh mơ cà phê thơm nóng
Ngắm mặt trời hừng đông xa xôi

Thành phố nào vừa xa đã nhớ?
Đây phố Banff, hay phố ngày xưa?
Xa lộ tôi về đầy tuyết gió
Để lại sau lưng, trời mộng mơ …

Phố Núi Banff, Jan 2026
Kim Loan

Về Bài Thơ Hai Mùa Thu Của Masaoka Shiki

(Viết sau khi tiễn biệt một Đồng môn Trung học vừa qua đời)


Sau khi tham dự Tang lễ của một người bạn Đồng môn Trung học vừa qua đời ở tuổi 70 còn tương đối trẻ, về nhà tôi lại nhớ đến bài thơ hài cú Hai Mùa Thu của Nhà thơ người Nhật Shiki diễn tả bối cảnh cùng một thời gian và cùng một nơi chốn mà có hai mùa thu khác nhau, một mùa thu của người đang nằm dưỡng bệnh ở trong nhà và một mùa thu ở thế giới bên ngoài.

Nhà thơ Yosa Buson (1716-1784) là tác giả sáng tác thơ hài cú nhiều nhất nên người ta thường gán cho ông là tác giả bài thơ Hai Mùa Thu nhưng thật ra tác giả bài thơ hài cú tuyệt tác này là Nhà thơ Masaoka Shiki (1867-1902). Văn đàn Âu Mỹ ngưỡng mộ lời thơ và ý thơ của bài thơ Hai Mùa Thu này nên có rất nhiều người đã dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp và nhiều ngôn ngữ khác. Vì thế đôi khi nhiều người tưởng lầm dịch giả là tác giả; chẳng hạn như Nhà thơ người Anh Reginald H. Blyth là một nhà thơ dịch thơ nhưng nhiều người tưởng lầm là tác giả vì có lẽ Blyth là người dịch sát nhất và hay nhất với hình thức hài cú cổ điển.

Nói đến Mùa Thu, nhất là Mùa Thu Nhật Bản với sắc thu, hương thu, vị thu, gió thu và sương thu qua hình ảnh lá Phong đỏ, hoa Cúc vàng, hoa Triêu nhan tím của đất nước ngàn hoa, nơi ngàn hoa đã mở tung cánh cửa cho ngàn thơ tung bay vào thi đàn và bầu trời văn học sử Nhật cũng như thế giới.

Hai Mùa Thu ( 二つの秋 ) của Masaoka Shiki là một bài thơ hài cú sâu sắc phản ánh góc nhìn đặc sắc của ông về thiên nhiên và những kinh nghiệm của ông với bệnh tật. Shiki là một trong những người hiện đại hóa thơ hài cú (haiku) và thơ đoản ca (tanka) nổi tiếng nhất ở Nhật Bản; tác phẩm của ông thường mang tính trung thực và gần gũi, biểu tả được bản chất tinh tế của cuộc sống và thiên nhiên. Bài thơ Hai Mùa Thu được sáng tác theo tinh thần thơ hài cú chứ không theo hình thức cổ điển của thơ hài cú.
行く我にとゞまる汝に秋二つ
Nếu dịch sát thì nghĩa bị lệch nên chỉ có thể dịch thoát là (khi ly biệt) "Tôi ra đi, em ở lại, và chúng ta có hai mùa thu khác nhau," một mùa thu ở trong nhà và một mùa thu ở thế giới bên ngoài hay cùng một trời thu mà mùa thu trong lòng em và mùa thu trong lòng anh khác nhau; anh lưu luyến thiết tha, em ngậm ngùi sầu khổ. Bài thơ hài cú này được viết trong những năm cuối đời của Shiki khi ông nằm liệt giường vì bệnh lao, và nó truyền tải cảm giác tách biệt của ông với thế giới sôi động bên ngoài, trái ngược với kinh nghiệm yên tĩnh, hạn hẹp của riêng ông về mùa thu.

Về mặt phong cách, hài cú của Shiki thường tránh sự ủy mị lộ liễu và thay vào đó tập trung vào việc mô tả trực tiếp môi trường và cảm xúc của ông. Cách sáng tác của ông tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ đơn giản và hình ảnh rõ nét để diễn đạt những cảm xúc sâu sắc, thường để lại nhiều điều để người đọc diễn giải. Hai Mùa Thu đặc biệt ghi lại kinh nghiệm kép của ông về vẻ đẹp và sự cô lập — một là thế giới mùa thu ngoài tầm tay với của ông và một là "mùa thu" trầm lắng hơn trong thế giới của riêng ông. Sự tương phản sâu sắc này bao hàm cả phong cách của Shiki và chiều sâu chiêm nghiệm mà ông được ca ngợi.

Nhiều nhà thơ đã dịch thơ bài hài cú này của Shiki dưới cùng một tiêu đề là Two Autumns.

Two Autumns

for me going
for you staying
two autumns.
[R. H. Blyth]

for me who go
for you who stay
two autumns.
[Harold G. Henderson]

I go
You stay
Two autumns.
[Robert Hass]

Ở đâu cũng thế, người ra đi và người ở lại bao giờ cũng có cảm quan khác nhau cho dầu trong cùng một thời điểm.

Sau khi tham dự Tang lễ rồi về nhà thì tôi cảm thấy thật buồn cho nỗi niềm sinh ly tử biệt về đời sống vô thường của con người, tự nhiên tôi có một thôi thúc phải viết ra một bài thơ tưởng niệm người bạn đồng môn vừa ra đi vĩnh biệt. Bài thơ được viết vội trong đêm bằng English với tâm trạng thật buồn của tôi lúc đó.

Return To Void  

Return to void, a journey bleak and cold,
A cycle of life, its story left untold,
The leaves descend like tears that stain the sky,
Their whispers carried on the winds that sigh.

In temple’s courtyard, I, with mindful care,
Sweep autumn’s remnants, fragile in the air,
The void calls softly with a beckoning hand,
Drawing me back to where all things began.

Oh leaves, what secrets in your fall reside,
Of love once known, and sorrow yet denied?
In nothingness, I tread through time’s decay,
Listening for echoes lost in yesterday.

The dance of birth and death, a mournful tune,
Unfolds beneath the cold and distant moon,
And as I sweep, I feel their silent grace,
A fleeting life, dissolved without a trace.

Bài thơ này được Hạ Anh dịch thơ Việt ngữ thật hay và thật sát với nguyên tác.

Về Với Hư Vô  

Về với hư vô, hành trình ảm đạm,
Theo thời gian, ngày tháng cũng lặng chìm,
Chiếc lá rơi, trời đổ giọt mưa đêm,
Mang tâm sự thì thầm cùng với gió.

Góc sân chùa, ngồi lặng im bóng nhỏ,
Nhìn lá mong manh phủ ngập xuống đời.
Cuộc vô thường … xuôi ngược mãi không thôi,
Đi và đến một vòng tròn vô tận.

Ôi ! chiếc lá rơi có từng ân hận?
Tình yêu dở dang, nỗi nhớ còn đầy!
Từ cõi đời nào… cất bước về đây,
Nghe vang vọng lời tiền thân vẫy gọi.

Sinh tử xoay xoay điệu buồn mệt mỏi,
Vầng trăng khuya lạnh lẽo dõi phương nào?
Quét sạch lá sầu, thả mộng bay cao,
Đời bỗng chốc hoá phù du … cánh mỏng!

Và Nhà thơ Lê Lan Thu đã phỏng dịch bài thơ Return to Void thật tài hoa, tài hoa như một sáng tac mới với ý thơ của nguyên tác.

Khi Hơi Thở Hoá Thinh Không*

Khi hơi thở hoá thinh không
Một màu ảm đạm buồn trong mây trời
Lá rơi chới với giữa đời
Về đâu ngọn gió mang lời thở than

Tôi ngồi giữa chốn nhân gian
Mùa thu mỏng mảnh đã tàn trước sân
Tiếng rơi của lá nhẹ dần
Đưa tôi về với trong ngần thời gian

Ôi em, những chiếc lá vàng
Đã bao giờ khóc lỡ làng mơ xưa
Trong hư không những âm thừa
Chơi vơi lạc giữa mấy mùa vô thanh

Rã rời trong điệu tử-sanh
Bước chân của lá - dưới trăng lạnh lùng
Ơn em, ơn đến vô cùng
Tan theo hư huyễn - nhẹ không dấu hài…

* Tên một tác phẩm của Paul Kalanithi

Hai Nhà thơ Hạ Anh và Lê Lan Thu đều là cựu nữ sinh của Trường Nữ Trung học mang tên của một Nữ sĩ tài hoa trong văn học sử, Phù Gia Nữ học sĩ Ngô Chi Lan [ 吳芝蘭; 1434 - 1497 ].

Trần Việt Long
San Jose, January 18, 2026