Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Hoàng Chương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Hoàng Chương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2025

Quên - Thơ: Vũ Hoàng Chương - Thư Pháp: Quang Hà



Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên
Thơ: Vũ Hoàng Chương
Thư Pháp: Quang Hà

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Vũ Hoàng Chương



Xướng:

Vũ Hoàng Chương

Nhớ xưa ai trẩy hội * chùa Hương
Lại nhớ ai say * cuộc hý trường
Rượu đắng lưỡi còn the thế vị
Rừng phong * thu đã nhuốm tà dương
Hỡi ơi mây * nổi trò hư vọng
Ra thế lòng son nguyện cúng dường
Một cánh hạc vàng ** ai cưỡi vượt
Ngàn năm thơm vạt áo Hoàng Chương

Vi Khuê

* Tên các thi phẩm của Vũ Hoàng Chương
** Vũ Hoàng Chương dịch bài Hoàng Hạc Lâu bản dịch thật hay
***
Kính Họa:

Mỗi lời thơ đẹp mỗi làn hương
Thế vẫn không qua nỗi đoạn trường
Tâm sự …*, Lại say - nồng chén rượu
Cành mai trắng mộng - úa vầng dương
Hai phen danh dự từng chia giải**
Một tấm lòng son nguyện cúng dường
Ngõ hẹp đời tàn trên gác xép
Sáng ngời tên tuổi Vũ Hoàng Chương

Quang Hà

*Tâm sự kẻ sang Tần. Chữ viết nghiêng là tên bài thơ của VHC
**Năm 1959 được giải thưởng toàn quốc VNCH về tập thơ Hoa đăng.**Năm 1972 đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc
 

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

Vịnh Tranh Gà Lợn


Bài xướng:

Vịnh Tranh Gà Lợn


Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om sòm, rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh

Khánh Hội SG Tết năm Thìn 1976
Vũ Hoàng Chương
***
Kính họa:

Vận Nước


Vận nước chao ơi, quá đoạn đành
Từ ngày "huynh đệ" dứt tương tranh
Phố phường tràn ngập bao cờ đỏ
Rừng thẳm chôn vùi hết tuổi xanh
Xót bậc tài hoa nằm dưới mộ
Thương người dũng tướng chết theo thành
"Bắc Nam xum họp ..." đầy mai mỉa
Sóng biển đêm trường vọng thất thanh.

Nguyễn Kinh Bắc
Philadelphia 8/28/2014

 Hùng Tâm Khí

Hào kiệt vì dân chết cũng đành
Dư đồ nước Việt vẽ nên tranh
Bên trời vận lỡ đời lưu lạc
Góc bể năm cùng thuở tóc xanh
Giậu đổ liều mình âu thất bại
Bìm leo níu mệnh ắt hoàn thành
Lòng son ấp ủ nuôi hoài bão
Ca khúc khải hoàn vọng tiếng thanh


Kim Phượng
Australia 18.4.2023
***
Vịnh Xứ Của Giấc Mơ

Tối không ra tối, sáng thôi đành
Xanh đỏ trộn màu, xấu tấm tranh
Đấy xứ cờ Hoa, tan giấc mộng
Này miền bắc Mỹ, vỡ mơ xanh
Duyên may bạn hữu chưa hề mất
Phận xúi anh em đã quá thành
Chắp nối làm chi cho phí sức
Im mồm cãi vã tắt âm thanh

ChinhNguyên/H.N.T.
USA,Aprl.26.23

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2022

Trả Ta Sông Núi -Thơ Vũ Hoàng Chương - Thư Họa: Vũ Hối

 

(Kỷ niệm Tết Tân Mão 2011 - Melbourne - Photo: Kim Oanh)

Trả Ta Sông Núi

Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng, núi nguy nga
Trả ta sông núi bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
Trả ta sông núi từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
Không đòi, ai trả núi sông ta

Cờ báo phục hai bà khởi nghĩa
Ðuổi quân thù, xưng đế một phương
Long Biên sấm dậy sa trường
Ba thu xã tắc, miếu đường uy nghi
Xót nòi giống, quản chi bồ liễu
Dòng Cẩm Khê còn réo tinh anh
Một phen sông núi tranh giành
Má hồng ghi dấu sử xanh đời đời

Bể dâu mấy cuộc đổi dời
Lòng trăm họ vẫn dầu sôi bừng bừng
Mai Hắc Ðế, Phùng Hưng, Bố Cái
Liều thế cô dằng lại biên cương
Ðầu voi, Lệ Hải Bà Vương
Dù khi chiến tử vẫn gươm anh hào
Tinh thần độc lập nêu cao
Sài lang kia, núi sông nào của ngươi?
Núi sông ấy của người dân Việt
Chống Bắc phương, từng quyết thư hùng
Ngô Quyền đại phá Lưu Cung
Bạch Ðằng Giang nổi muôn trùng, sóng reo
Hồn tự chủ về theo lửa đuốc
Chữ thiên thu: Nam Quốc sơn hà
Phá tan nghịch lỗ không tha
Tướng quân Thường Kiệt gan già mấy mươi
Gươm chiến thắng trỏ vời Ðông Bắc
Hịch vải nêu tội giặc tham tàn
Dựng nhân nghĩa, vớt lầm than
Danh thơm ải ngoại, sấm ran biên thùy
Khí thiêng tỏa chói tư bề
Phường đô hộ có gai ghê ít nhiều?…

Cửa Hàm Tử vang teo vết cáo
Bến Chương Dương cướp giáo quân thù
Trận Ðà Mạc dẫu rằng thua
Làm Nam quỷ, chẳng làm vua Bắc đình
Chém kiêu tướng, đồn binh Tây Kết
Triều Phú Lương gầm thét giang tân
Phá cường địch báo hoàng ân
Trẻ thơ dòng máu họ Trần cũng sôi
Kìa trận đánh bèo trôi, sóng dập
Sông Bạch Ðằng thây lấp xương khô
Những ai qua lại bây giờ
Nghe hơi gió thoảng, còn ngờ quân reo
Hịch Vạn Kiếp lời khêu tướng sĩ
Hội Diên Hồng quyết nghị toàn dân
Khuông phù một dạ ân cần
Vó thiêng ngựa đá, hai lần bùn dây
Sơn hà mấy độ lung lay
Máu bao chiến sĩ nhuộm say mầu cờ

Cảm ý núi ngồi mơ độc lập
Thuận tình sông trôi gấp tự do
Ấy ai đầu dựng cơ đồ
Gấm thêu lời chiếu Bình Ngô thuở nào
Cơn nguy khốn ra vào sinh tử
Thân nằm gai, lòng giữ sắt son
Linh Sơn lương chúa hao mòn
Quân tan Côi Huyện, chẳng còn mảy may
Chén rượu ngọt cùng say thấm thía
Tình cha con mà nghĩa vua tôi
Thuận dân là hợp ý trời
Sử xanh chót vót công người Lam Sơn

Quốc dân chung một mối hờn
Cần câu đánh giặc mà hơn giáo dài
Chống ngoại địch, gươm mài quyết chiến
Voi Quang Trung thẳng tiến kinh kỳ
Phá Thanh binh trận Thanh Trì
Sông Hồng khoảng khắc lâm ly máu hồng
Núi dậy sấm cho sông lòe chớp
Cờ Tây Sơn bay rợp Bắc Hà
Xác thù xây ngất Ðống Ða
Bụi trường chinh hãy còn pha chiến bào

Tinh thần độc lập nêu cao
Sài lang kia, núi sông nào của ngươi
Cường quyền vẫn muôn đời cưỡng áp
Dưới bàn tay giặc Pháp càng đau
Chúa tôi nhỏ lệ cùng nhau
Khua chiêng hải ngoại, rừng sâu kéo cờ
Dạ Cần Vương trơ trơ thiết thạch
Kẻ Văn Thân, hiệp khách cùng chung
Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng
Khói reo Thanh Nghệ, lửa bùng Thái Nguyên
Hợp Nghĩa Thục kết liên đồng chí
Xuất dương tìm tri kỷ Ðông Ðô
Phan Sào Nam, Phan Tây Hồ
Long đong bốn bể, mưu đồ cứu dân
Vận nước chửa hết tuần bĩ cực
Sức người khôn đọ sức ông xanh
Mỗi phen gắng gỏi tung hoành
Thương ôi! sự nghiệp tan tành mỗi phen
Nguyễn Thái Học gan bền, chí cả
Họp đồng bang gióng giả nên đoàn
Rừng xanh bụi cỏ gian nan
Mong đem nhiệt huyết dội tan cường quyền
Tổ chức việc tuyên truyền, ám sát
Khắp nơi nơi, từng hạt, từng châu
Xiết bao hy vọng buổi đầu
Một đêm Yên Bái ngờ đâu tan tành

Ôi Việt sử là tranh đấu sử
Trước đến sau cầm cự nào ngơi
Tinh thần độc lập sáng ngời
Bao người ngã, lại bao người đứng lên
Ngày nay muốn sông bền, núi vững
Phải làm sao cho xứng nguời xưa
Yêu nòi giống, hiểu thời cơ
Bốn phương một ý: phụng thờ giang sơn
Ðừng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài

Trả núi sông ta! lời dĩ vãng
Thiên thu còn vọng đến tương lai
Trả ta sông núi! câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đai
Trông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

Tác giả: Vũ Hoàng Chương

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

Vũ Hoàng Chương - Cung Tiến Và Hoàng Hạc Lâu (Quỳnh Giao)

( Vũ Hoàng Chương)

Sinh tiền, Vũ Hoàng Chương là thày dạy Việt văn của Cung Tiến. Ông sinh năm 1916, trước người nhạc sĩ tên tuổi này 22 năm. Nhưng với thói quen khoáng đạt của một nhà thơ, ông không hề câu nệ, vẫn coi Cung Tiến như người bạn vong niên hơn là một đứa học trò.

Có lần ông nói đùa. Rằng Cung Tiến phổ thơ biết bao người mà chưa từng phổ thơ Vũ Hoàng Chương! Cung Tiến không quên điều ấy nhưng biến cố 1975 đã ụp trên cả nước và người nhạc sĩ thì lưu vong ra ngoài, còn nhà thơ kẹt lại ở bên trong với những Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Xuân Ninh, Phan Lạc Phúc, v.v....

Trong nỗi bi phẫn về cảnh bạn bè tán lạc, Vũ Hoàng Chương đã cảm dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, rồi nhờ bạn bè chuyển được ra ngoài, đến tay Cung Tiến khi ấy còn ở Canberra bên Úc... Thôi Hiệu là nhà thơ khét tiếng thời Thịnh Ðường vào đầu thế kỷ thứ tám. Bài thơ của ông khiến một người như Lý Bạch còn nghẹn lời không dám viết về lầu Hoàng Hạc nữa và được Kim Thánh Thán ngợi ca là “bút pháp tuyệt kỳ, tác phẩm đệ nhất cổ kim trong thơ Luật”.

Ðấy cũng là bài được người mình dịch sang Việt ngữ nhiều nhất. Có người đếm ra hơn bốn trăm bản dịch khác nhau, từ Tản Ðà, Ngô Tất Tố đến Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Nguyễn Ðức Hiển, v.v... Với Cung Tiến và nhiều bằng hữu thì bài cảm dịch của Vũ Hoàng Chương là một sự tuyệt mỹ vì tâm cảnh mọi người vào lúc đó..
 
( Cung Tiến)

Từ bên ngoài, nhận được bản dịch, Cung Tiến nhớ thầy, nhớ bạn và nhớ lại cung cảnh xa xưa nên đã xuất thần phổ nhạc rất nhanh và tìm cách gửi về ngay năm sau. Nhưng không kịp nữa. Vũ Hoàng Chương bị cầm tù và bị kiệt sức mới được thả ra và tạ thế sau đó năm ngày nên không bao giờ được nghe ca khúc này. Bây giờ nhớ lại thì xin ghi bài cảm dịch của ông để chúng ta khỏi quên và cùng thưởng thức:

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Ðây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống nào quê quán
Ðừng giục cơn sầu nữa, sóng ơi...”

Khi còn sống, ông Nguyễn Ðức Hiển tại Houston Texas cho rằng bản dịch Vũ Hoàng Chương “còn hay hơn nguyên bản, mà nguyên bản vốn đã hay tót vời”. Ông Hiển có thể nói không ngoa vì bản thân đã dịch đi dịch lại mười mấy lần bài thơ của Thôi Hiệu! Ông còn dụng công so sánh hai câu thực của nguyên bản, gồm sáu thanh trắc liên tiếp:

“Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du”

Với câu “thực” do Vũ Hoàng Chương để lại mà ông cho là ảo diệu hơn:

“Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời...”

Khi đọc lại, làm sao mình không ngậm ngùi với những chữ tuyệt diệu như “vút” bóng người, hay chút “thơm” rơi...? Và câu kết, “Ðừng giục cơn sầu nữa, sóng ơi!”, nghe thê thiết hơn vần lục bát của Tản Ðà:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!”

Cung Tiến đưa Hoàng Hạc Lâu vào nhạc với phần hòa âm soạn cho dương cầm và viết trên cung Ré giáng Trưởng, nhịp 4/4 chậm rãi tha thiết - andantino - và ý nhị. Piano mở đầu bằng hai ô nhịp, hai mesures, viết lối Arpège chùm hai nốt, thánh thót, êm đềm. Rồi lời ca cất lên bồi hồi day dứt như một truyện kể, mà dùng phép tả cảnh để tả tình:

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người...
Ðây lầu Hoàng Hạc chút (ứ ư ) thơm rơi...”

Ðàn piano lại rải, nghe như tiếng chim hót, và cứ thế ca khúc dẫn người nghe vào một bức tranh cổ, với cánh hạc vàng ẩn hiện sau vầng mây bạc có nắng chiếu, có cây bến Hán Dương u buồn và cỏ bờ Anh Vũ vắng vẻ, chẳng còn ai chơi...

Ðoạn nhạc chuyển tiếp nỉ non đan lượn những ngậm ngùi rồi chợt mở ra tâm sự kẻ tư hương, nhớ quê, nhớ bạn...

“Gần xa chiều xuống nào quê quán
Ðừng giục cơn sầu nữa (ư ứ), sóng (à à) ơi...”

Rồi đàn lại buông arpège hai nốt nhẹ nhàng, lãng đãng chìm khuất, mơ hồ như cánh hạc vàng tan trong khói sóng...
Toàn bài, Cung Tiến dùng âm giai ngũ cung đầy chất Ðông phương với nét nhạc thanh thản, nhuốm vẻ Lão Trang và phảng phất giai điệu Claude Debussy trong bài “Clair de Lune”. Cung Tiến rất chuộng Debussy khi nhạc sĩ người Pháp này khám phá nhạc Á Ðông vào đầu thế kỷ trước. Debussy cũng dùng hợp âm ngũ cung và cũng lấy “Arpège” rải tay trái và đưa ra một hợp âm lạ tai mà hài hòa êm ái.....


Bài “Hoàng Hạc Lâu” là viên ngọc quý của thơ Ðường. Bản dịch Vũ Hoàng Chương là bài chuyển ngữ mang tâm sự của một thi hào trong hoàn cảnh bi đát của đất nước. Ca khúc Cung Tiến là sự kết hợp lạ kỳ của tình cảm và nhạc thuật để nối liền ngần ấy nét đẹp của thơ, của nhạc. Ðiều hơi tiếc là ít người biết hoặc trình bày ca khúc trác tuyệt này để đời sau còn nhớ Vũ Hoàng Chương và dòng nhạc quý phái của miền Nam chúng ta khi mình đã mất hết...

Lần cuối mà miền Nam tự do có buổi sinh hoạt để vinh danh Vũ Hoàng Chương là vào Tháng Ba năm 1975, tại phòng trà của Khánh Ly, do Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền tổ chức. Ðã 35 năm tròn rồi. Sau đó là cảnh chia ly tan tác. “Vàng tung cánh hạc”... như ánh chớp chợt lóe rồi vụt tắt.

Dư âm còn lại là tiếng nhạc lãng đãng trong chiều tà. Sau đấy là cõi tối đen của thơ và nhạc...

***


Cung Tiến Không Lời (Quỳnh Giao)

Có những người thuộc phái nam nhi anh hùng đã chau mày phàn nàn: “Lòng cuồng điên vì nhớ...”, nghe sao yếu quá!
Dưới con mắt của các đấng tu mi đó thì đàn ông không có quyền ủy mị như vậy! Huống hồ tác giả lời ca lại là người tuổi cọp.

Chẳng biết rằng khi đó, tác giả bài Hoài Cảm có thấy hắt hơi giật mình không. Nếu có, thì Cung Tiến cũng khó động lòng hơn Ðinh Hùng, tác giả bài Kỳ Nữ bất hủ. Ở bên kia “chiến tuyến,” các cô lại thấy rằng đấy mới là lời ngợi ca xứng đáng và rất anh hùng với tình yêu. Phải chi Cung Tiến phổ nhạc bài thơ này của Ðinh Hùng, chắc là nam ca sĩ trình bày ca khúc sẽ phải gục trên sân khấu thì mới xứng!

Có lẽ, Cung Tiến là người viết nhạc sớm nhất của chúng ta. Ông sáng tác ca khúc đầu tay là Thu Vàng khi mới 15 tuổi, năm 1953. Mùa Thu ấy là Thu Hà Nội và chỉ Hà Nội mới có lá vàng để ông nhặt, chứ trong Nam không đủ lạnh để có lá vàng. Và ông đề tặng Hà Nội những ngày ấu thơ. Ca khúc trở thành Hà Nội tiêu biểu của lớp người di cư nhớ Bắc, rồi mới chinh phục mọi người nghe qua cách trình bày nhí nhảnh vui tươi của giọng ca Tâm Vấn thời đó.

Sau đấy, ông viết Hoài Cảm, và đề tặng Ðỗ Ðình Tuân. Dường như Cung Tiến sáng tác cho mình và cho bạn, vì phần lớn các ca khúc ông viết đều trân trọng ghi tặng từng người. Như Mùa Hoa Nở, Cung Tiến viết năm 1954 đánh dấu làn song di cư của cả triệu người miền Bắc vào Nam. Ðược viết theo dạng một bài hợp ca, nên ca khúc ít được trình bày. Thật đáng tiếc.

Sau đó Cung Tiến viết liên tiếp mỗi năm một bài: Hương Xưa năm 1955 đề tặng Khuất Duy Trác. Cũng chính Duy Trác đã đem Hương Xưa và tên tuổi Cung Tiến đến thính giả của đài phát thanh và trên sân khấu của các trường trung học và đại học Việt Nam. Năm kế tiếp 1956, ông viết Nguyệt Cầm trên ý thơ của Xuân Diệu, và trở thành người sáng tác loại âm hưởng bán cổ điển độc đáo và ngự trị cùng một cõi nhạc cao sang quý phái của Vũ Thành và Dương Thiệu
Tước...

Dòng nhạc mở đầu của Nguyệt Cầm phảng phất tấu khúc Romance en Fa của Beethoven, nhưng ca khúc kén người hát và người nghe. Nhạc trưởng Vũ Thành thường trao cho Anh Ngọc vì chỉ danh ca này mới hát câu “trăng sầu riêng chiếc, trăng sầu riêng chiếc, sầu cho tới bao giờ...” crescendo da diết và dài hơi hơn mọi người! Năm sau đó 1957, ông viết Lệ Ðá Xanh theo ý thơ Thanh Tâm Tuyền và đề tặng Phạm Ðình Chương.

Từ đây là thời gian ông đi du học. Khi trở về, Cung Tiến sáng tác rất nhiều thơ phổ nhạc và họa hoằn mới soạn lời từ, như Mắt Biếc năm 1966 và hoàn chỉnh lại năm 1981. Hoặc bản Bản Tango Cuối, viết năm 1974, hoàn chỉnh năm 1980.

Những bài thơ ông phổ nhạc giai đoạn này là Thuở Làm Thơ Yêu Em của Trần Dạ Từ, Ðêm của Thanh Tâm Tuyền, Ði Núi của Xuân Diệu, hay Ðôi Bờ của Quang Dũng... Chỉ tác giả mới biết vì sao ông thích phổ thơ hơn là viết lời riêng của mình. Phải chăng là càng hiểu biết nhiều thì cách viết càng bó làm ngôn ngữ thành khó hiểu?

Sau biến cố 1975, Cung Tiến và gia đình vượt thoát được sang Hoa Kỳ, định cư tại tiểu bang Minnesota. Từ hải ngoại ông tiếp tục phổ thơ Quang Dũng là bài Kẻ Ở và Ðường Hoa, thơ Phạm Thiên Thư là Vết Chim Bay, và bản cảm dịch của Vũ Hoàng Chương bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu... Hoàng Hạc Lâu là bài trác tuyệt nhất của ông với nét nhạc âm hưởng Á Ðông mang nét Debussy mới là lạ.

Ðặc biệt nhất có liên khúc Vang Vang Trời Vào Xuân là phổ thơ Trần Kha, bút hiệu ẩn của bạn ông, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, khi còn ở trại học tập lén gửi ra ngoài. Liên khúc được tác giả viết cả phần đệm piano. Lời thơ và ý nhạc quyện nhau thành lời kinh cầu trong sáng, một vầng trăng rực rỡ, một ban mai thắm tươi và dịu dàng của tâm hồn thanh thản trên những hành hạ khổ đau của thể xác... Dân ta vốn yêu thơ, trong tù cũng làm thơ và ý thơ vẫn phơi phới cùng nét nhạc Cung Tiến. Nhưng, như các ca khúc sáng tác sau thời du học bên Úc, liên khúc 10 bài ngắn này lại không dễ hát nên người yêu thơ và nhạc ít có dịp thưởng thức.

Năm 1988, Cung Tiến hoàn tất một tác phẩm độc đáo và đồ sộ, đó là một bản hợp tấu khúc viết cho dàn giao hưởng lấy cảm hứng từ Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Ðoàn Thị Ðiểm diễn thơ chữ Hán của Ðặng Trần Côn. Hợp tấu khúc có âm hưởng hoàn toàn Á Ðông với nhạc khí Tây phương. Khi diễn tả áng thơ tuyệt tác này, Cung Tiến quả là nhạc sĩ tài hoa và sâu sắc.

Có những lúc được nghe nói rằng ông còn muốn soạn nhạc để diễn tả thơ Ðường hay cả bài Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trãi... Nghe nói thôi chứ chưa nghe thấy nhạc. Ông còn cảm hứng hay không, chúng ta chưa biết được.

Cung Tiến là nhạc sĩ của những tác phẩm có âm hưởng bán cổ điển rất trang nhã, cầu kỳ và chuyển dần về nhạc Ðông phương. Nhưng nhớ lại thì hình như chúng ta có thể rút ra một kết luận rất nhuốm vẻ Thiền.

Ban đầu, ông viết nhạc rất hay trên lời từ óng chuốt của mình. Sau đó, ông hết soạn lời mà chỉ chú ý đến nhạc, để phổ lời của các thi sĩ ông quý trọng. Ðến một giai đoạn sau, lời ca cũng tan vào nhạc vì Cung Tiến soạn nhạc không lời.

Dùng nhạc để người nghe cảm ra lời thơ Chinh Phụ Ngâm hay bản hùng văn đại cáo Bình Ngô là đi tới một đỉnh cao của nhạc. Như nhạc khúc viết cho dương cầm tên là Pictures at an Exhibition của Mussorgsky viết tả các bức tranh trong phòng triển lãm.

Nhưng ta cứ yên tâm, không lên tới cõi đó, mình vẫn còn nguyệt cầm để hoài cảm hương xưa thì cũng đủ vui rồi...

Quỳnh Giao

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2020

Phương Xa - Thơ Vũ Hoàng Chương



Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xô về đông hay giạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,
Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.

Vũ Hoàng Chương
Văn học giai đoạn 1900-1945 
( Lý Ngọc Cương sưu tầm)

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2020

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Tương Tiến Tửu - Lý Bạch


(Lý Bạch)

Tương Tiến Tửu

Quân bất kiến Hoàng hà chi thuỷ thiên thượng lai, 
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!
Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
Sầm phu tử,
Đan Khâu sinh.
Tương tiến tửu,
Bôi mạc đình!
Dữ quân ca nhất khúc,
Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính:
"Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,
Đãn nguyện trường tuý bất nguyện tinh!
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương tích thời yến Bình Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước".
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu. 

Lý Bạch
***

( Vũ Hoàng Chương)

Bản Dịch:

Tương Tiến Tửu


Người chẳng thấy từ cao đổ xuống
Nước sông Hoàng cuồn cuộn ra khơi?
Một ra biển, chẳng về trời,
Nhà cao gương sáng thương ai bạc đầu!
Sớm như tơ, xanh màu tóc ấy
Chiều đã như tuyết đấy… biết không?
Thì vui sao chẳng đến cùng?
Việc đời dễ được như lòng mấy khi…
Đừng để chén vàng kia trơ đáy
Cùng vầng trăng đây đấy ngẩn ngơ.
Trời sinh tài, chẳng để hư,
Ngàn vàng để trắng tay ư? lại về
Hãy mổ thịt trâu dê mà khoái,
Gặp nhau đây là phải say sưa,
Uống, xin đừng một giọt thừa.
Ba trăm chén, hãy cho vừa một hơi.
Ý ta muốn chén mời chẳng gác,
Chớ ngừng tay hai bác Đan, Sầm!
Vì nhau một khúc ca ngâm,
Lắng tai, nào bạn tri âm đó hề!
Của trước mắt đủ gì quý báu,
Cho ngọc ngà! Cho dẫu trống chuông!
Nguyện say một giấc ra tuồng,
Mình ta tỉnh, bốn phương cuồng, nhảm chưa?
Đều thế cả từ xưa hiền thánh
Cũng giờ đây nằm lạnh thời gian.
Tiếng tăm còn để trần hoàn
Chỉ riêng có gã say tràn cung mây.
Trần Vương trước, tiệc vây Bình Lạc
Rượu ngàn chum thả sức vui đùa.
Chủ nhân nào! Đã nhớ chưa?
Nói chi tiền ít mà thưa dặt dìu!
Ngựa hoa đấy, áo cừu cũng đấy,
Gọi trả đem đổi lấy rượu mau!
Ta cùng ngươi lại cùng nhau
Uống cho ngàn trước ngàn sau tan buồn.


Vũ Hoàng Chương

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2017

Khai Xuân Thạch Vấn - Vũ Hoàng Chương




Khai Xuân Thạch Vấn

Tường vân mãn tọa nguyệt bôi minh
Hy chúc xuân khai dạ bán quỳnh
Ðông liễu Tây đào song tận mỹ
Tần tang Yên thảo nhất hà thanh
Tẫn giao cố quốc hoài kim phấn
Tự hữu cuồng ngôn xuất thạch bình
Ðồi ngọa dữ sa trường túy ngọa
Cổ lai thùy dã chiếm cao danh

Dịch Nghiã:

Mây lành đầy khắp chỗ ngồi, chén rượu sáng lóng lánh,
Đùa vui chúc cho phút giao thừa xuân sang, nhiều điều tốt đẹp.
Liễu phía Đông và đào phía Tây cả hai đều đẹp tuyệt,
Dâu đất Tần và cỏ đất Yên, một dòng sông cùng xanh.
Dẫu cho vẫn nặng lòng nhớ thương hương phấn nước cũ,
Song đã có một lời ngông vọng lên giữa núi dựng như thành.
Giữa kẻ say nằm nghiêng ngả và người say lăn nơi sa trường,
Xưa nay ai lưu danh cao hơn ai?

Đá Mở Lời Xuân

Bạn đầy mây, chén đầy trăng,
Xuân vào đêm, giữa lòng băng nở quỳnh 
Liễu tơ đào gấm như tranh 
Dâu Tần biếc, cỏ Yên xanh, một trời 
Quê xưa phấn rụng vàng rơi 
Có nghe vách đá vang lời hỏi duyên 
Say nằm trước ngõ là tiên 
Hoặc say nằm cát ngoài biên mới hào?

Vũ Hoàng Chương - Trên Thềm Tết Ất Mão 1975

Phạm Khắc Trí sưu tầm(Bài thơ này được đăng trên báo "Nhà văn" số xuân Ất Mão 1975 gồm bản chữ Hán, phiên âm Hán Việt và bản dịch của chính tác giả.
***
Các Bài Họa: Đá Mở Lời Xuân

Rượu sáng trăng soi mây phủ kín
Chúc xuân đêm ngọc mọi điều lành
Tây đào đông liễu đều xinh đẹp
Yên cỏ Tần dâu một sắc xanh
Phấn hương nước cũ còn thương nhớ
Vách đá lời ngông được viết thành
Vất vưởng hay say nằm trận tuyến
Xưa nay đâu thể được so danh

Quên Đi 
***
Bài Họa:

Đá Động Lòng Xuân

Đáy chén lồng mây nguyệt thẹn anh,
Giao thừa hỉ lạc chúc xuân lành.
Tây đào đông liễu cây hoa thắm,
Yên cỏ Tần dâu sông nước xanh.
Hương phấn nặng tình quê cố quận,
Câu thơ ngông vọng núi cao thành.
Say men chiến sĩ sa trường vậy,
Ai kẻ còn danh chiếu hãn thanh ?

Mai Xuân Thanh

Ngày 18 tháng 02 năm 2017
***
Diễn Nôm:
Đá Mở Lời Xuân

Mây lành tràn ngập chén trăng soi,
Vui chúc đêm xuân mộng nửa vời.
Đông liễu tây đào đều đẹp tuyệt,
Dâu Tần cỏ Yến cũng xanh tươi. *
Mặc người cố quốc hờn hương phấn,
Tự kỷ nương thân tựa vách trời.
Say khước cùng say nằm chiến địa,
Xưa nay ai đã " bảnh " hơn ai?!

Đỗ Chiêu Đức
Đầu Xuân 2017.
***
Lời Đá Hỏi Đầu Xuân

Trăng ngập tràn ly, mây phủ quanh
Giao thừa vui chúc mọi an lành
Liễu đào tươi đẹp như hoa gấm
Cây cỏ rạng ngời phô sắc xanh
Tình nước còn vương hương thấm đẫm
Lời ngông đã lộng núi xây thành
Say nơi trận mạc, say chăn chiếu
Ai kẻ yên bình, ai nổi danh?

Phương Hà phỏng dịch


Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai - Vũ Hoàng Chương



Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu
Lênh đênh thương nhớ giạt trời Âu
Thôi rồi tay nắm tay lần cuối
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

Trai lỡ phong vân gái lỡ tình
Này đêm tri ngộ xót điêu linh
Niềm quê sực thức lòng quan ải
Giây phút dừng chân cuộc viễn trình.

Tóc xõa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lả hoa dung
Sóng đôi kề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xưa đã vợ chồng.

Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay
Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy
Nắng mưa đã trải tình nhân thế
Lưu lạc sầu chung mộng hướng say

Gặp gỡ chừng như truyện Liêu Trai
Ra đi chẳng hứa một ngày mai
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai ?

Phương Âu mờ mịt lối quê nàng
Trăng nước âm thầm vạn dặm tang
Ghé bến nào đây người hải ngoại
Chiều sương mặt bể có mơ màng.

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.

Vũ Hoàng Chương 
(An Nguyen sưu tầm)

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Dịu Nhẹ - Vũ Hoàng Chương


Gợn trắng ngàn mai thoảng dáng xuân, 
Màu trinh e lệ gió ân cần, 
Mươi bông cúc nõn chờ tay với, 
Một chút hoa đào vướng gót chân. 

Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về, 
Cỏ chen màu liễu bước chân đê. 
Tình xuân ai chở đầy khoang ấy, 
Hương sắc thanh bình ngập lối quê. 

Nắng nhẹ mây bờ, sương hơi hơi, 
Sương thưa, nắng mỏng, nhạc khoan lời, 
Dây đàn chầm chậm hôn trên phím, 
Muôn vạn cung "Hồ" lả lướt rơi. 

Khói dịu hương êm tản mác đầy, 
Tơ chùng điệu thấp, bốn phương say 
Mùa xuân lẳng lặng về không tiếng, 
Duyên khép tình em ngậm dấu giầy. 

Là ánh trăng non chớm độ rằm 
Xuân là duyên nụ tuổi mười lăm, 
Mến thương không ngỏ, Chàng như Thiếp, 
Hồn khoá then trinh lặng nhớ thầm. 

Tìm chi nao nức giữa mùa tươi, 
Xuân chẳng đàn cao ở phím đời, 
Rượu ngọt men hiền say chút ít, 
Chàng Lưu đừng ngại thiếu Mai Khôi.

Vũ Hoàng Chương
Suối Dâu sưu tầm

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Phương Xa - Vũ Hoàng Chương


Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng, 
Xô về đông hay giạt tới phương đoài, 
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng, 
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi. 

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa, 
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh, 
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa, 
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh. 

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ, 
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ, 
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị, 
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ. 

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt, 
Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan. 
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt, 
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan

Vũ Hoàng Chương
Suối Dâu sưu tầm