Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Huy Trứ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Huy Trứ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2025

Do Not Stand At My Grave And Weep (Author Unknown) - Mai Anh Chết (Lê Huy Trứ)


This beautiful poem is probably one of the world's best known and best loved, but the identity of the author remains unconfirmed. There are several variations in print, but the version that appears here was published in The Gypsy magazine in 1934 with the by line of Clare Harner of Topeka, Kansas. The poem has also been attributed to Mary Elizabeth Clark Frye, a Baltimore housewife; Stephen Cummins, a British soldier; J.T. Wiggins, an Englishman who migrated to America; and Marianne Reinhardt (no information found). It's also been alleged as a Navajo burial prayer. Sadly, we may never know who gets the credit for these comforting words.

Do Not Stand At My Grave And Weep

Do not stand at my grave and weep,
I am not there, I do not sleep.
I am in a thousand winds that blow,
I am the softly falling snow.
I am the gentle showers of rain,
I am the fields of ripening grain.
I am in the morning hush,
I am in the graceful rush
Of beautiful birds in circling flight,
I am the starshine of the night.
I am in the flowers that bloom,
I am in a quiet room.
I am in the birds that sing,
I am in each lovely thing.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there. I do not die.

(This poem is in the public domain)

Author Unknown
***
Mai Anh Chết

Mai anh chết,
Em yêu ngăn dòng lệ.
Chẳng có anh,
Anh chỉ mộng vô thường.

Anh là gió,
Vờn môi em yêu dấu.
Anh là mưa,
Ướt nhẹ mái tóc huyền.

Anh là sao,
Lấp lánh trong mắt ngọc.
Anh là trăng,
Soi sáng bóng yêu kiều.

Anh là nắng,
Hôn em trong buổi sáng.
Anh là đêm,
Ôm em giấc mơ nồng.

Anh ở đây,
Lắng nghe em tâm sự.
Anh đang nhìn,
Say đắm giáng tiên nga.

Mai anh chết,
Em thương đừng nhỏ lệ.
Chẳng có anh,
Anh chẳng chết bao giờ.

Lê Huy Trứ

June 16, 2022


Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

Chiến Sĩ Bất Tử


Chiến sĩ anh hùng, không bao giờ chết,
Họ không nằm yên trong lòng đất mẹ.
Họ hóa thành tinh tú trên trời cao,
Họ là gió mây, bay giữa lưng trời.

Họ là sấm sét, mưa nắng, cỏ cây,
Họ là tiếng thét hào hùng trên ngàn.
Họ là núi sông, giang sơn xã tắc,
Họ là hồn thiêng bảo quốc, an dân.

Họ là bầy nhạn trắng bay từng đàn,
Sải cánh bay theo đội hình chiến đấu.
Nhạn gọi đàn, vỗ cánh ra Trường Sa,
Như ngày nào cùng nhau bay ra trận.

Nhạn chiến sĩ vẫn bay từ ngàn xưa,
Đàn nhạn bay không bao giờ mỏi cánh.
Trong đội hình kia vẫn còn khoảng trống,
Nơi đồng đội vẫn để dành cho tôi?

Đàn nhạn tưng bừng về trong mưa gió,
Hồn như đám mây lững lơ trên trời.
Giang hồ tiếu ngạo, không bờ không bến,
Hiên ngang, hào sảng, đẹp kiếp anh hào.

Anh hùng hào kiệt, chiến sĩ bất tử,
Họ chỉ nhạt nhòa trong cơn bể dâu.
Anh hùng tử trận, khí thiêng bất tử,
Sinh vi chiến sĩ, tử vi thánh thần.

Lê Huy Trứ

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2025

Huế Ở Buồn Đi Nhớ


Nếu mai ai về Huế
Qua Quốc Học Đồng Khánh
Trường Tiền nghể áo trắng
Nghiên nón lá qua cầu

Mai mốt ghé Đông Ba
Mưa phùn đầu mái rạ
Bên nớ mô Thuận Long?
Lối xưa hồn thu thảo

Nắng gió Nồm cuối Hạ
Thu rượng bến Văn Lâu
Ôn Mệ buồn vật vã
Con cháu chừ lưu vong

Bờ ni qua bến nớ
Khoảnh khắc như thiên thu
Nhớ Huế buồn trăn trở
Áo trắng chừ nơi mô?

Nước tràn Đập Đá chưa?
Ngắm xóm lạ quen quen
Bóng củ chừ dư âm
Thương Ôn biết mô tìm?

Bên ni chùa Thiên Mụ
Bên nớ Long Thọ Cương
Gió đưa trúc la đà
Trăng sáng chuông chùa ngân

Bên ni tê tái mộng
Về thăm chốn chôn nhau
Chừ ngày thực đêm mơ
Huế ở buồn đi nhớ

Lê Huy Trứ

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2025

Tình Xuân



Nắng Xuân rực thắm hoa đào,
Hoàng mai rực rở đón chào Tết sang.
Chim muôn ríu rít trên cành,
Tâm hồn ngây ngất, rộn ràng ngất ngây.

Xôn xao du ngoạn chợ hoa,
Hương xuân tỏa ngát, trăm hoa đón chào.
Dịu dàng tà áo thước tha,
Thương ai dáng ngọc, thiết tha mỹ miều.

Xuân sang mơ ước thật nhiều,
Yêu ai yêu cả những chiều cô đơn.
Yêu say đắm, thương thật tình,
Ửng hồng đôi má, thẹn thùng đôi môi.

Mùa Xuân hái lộc chùa xưa,
Hoa sen cúng Phật, tâm hương cúng dường.
Với tay định bẻ hoa đào,
Thương hoa tinh khiết, trong ngần nên thôi.

Trách ai quên những ước thề,
Tình sầu mang xuống tuyền đài chưa tan.
Rượu xuân chưa nếm đã say,
Trách ai lỡ hẹn, câu thề mây bay.

Tết về ngõ cũ lối xưa,
Còn đâu ong bướm, oanh đưa đón chào.
Nụ xuân thơm ngát hương tình,
Tình đã lở rồi thương tiếc lắm ru.

Lê Huy Trứ




Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

Mừng Xuân

  
 
Thu Đông khứ Xuân lai,
Vườn Xuân mai nở chào.
Nụ tầm xuân xanh ngát,
Trổ chồi non nỏn nà.

Bầu trời mây trắng trong,
Tiếng chim muôn thảnh thót.
Bình minh giấc mơ vàng,
Hôm trước tặng cành mai.

Tâm lòng em hé mở,
Thẹn thùng đón Xuân vào.
Anh đến mang mùa Xuân,
Tim rung động rộn ràng.

Thở hơi Xuân trong gió,
Ôi mùa Xuân tuyệt vời.
Mừng nàng Xuân ghé chào,
Tết an khang hạnh phúc.

Xuân đến hoa đua nở,
Muôn thú vui đón mừng.
Thảnh thót tiếng đàn ca,
Ngân vang theo trong gió.

Nhân sinh lòng sảng khoái,
Tinh thần thoải mái hơn.
Sinh hoạt thêm hăng hái,
Cho mùa Xuân mới này.

Lê Huy Trứ

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2025

Sàigòn, Ngày Tháng Cũ

 

Sàigòn ơi, Ta nhớ thương ngày tháng cũ
Nhớ cây dầu, dưới mây trời bình yên
Nhớ những con đường, vỉa hè, quán cóc
Nhớ Sàigòn nắng mưa, lụt lội, kẹt xe

Tháng tư, bông Sao, Phượng nở đầy trời
Gió vờn tà áo, mái tóc nắng vương
Em tan trường về, chân dẫm lá Me
Theo em về, lòng thổn thức dạt dào

Ôi, tuổi ô mai, hồn nhiên học trò
Nay dỗi hờn, mai bồi hồi xuyến xao
Tuổi ngọc, trinh nguyên, mơ ước viễn vông
Em ngồi hóng gió, hứng sao dầu rơi

Dáng ngọc chân ngà, em đi qua phố
Dưới hàng cây, chim bướm cũng ngẩn ngơ
Theo tia nắng, bất chợt mưa rót xuống
Dưới gốc Bàng bồn chồn, lén chờ ai

Đường xưa lối cũ, cây xanh bóng mát
Mái trường xưa, áo dài trắng thênh thang
Nhớ tà áo lụa, đài các kiêu sa
Sàigòn trong tim, vẫn nhớ mãi suốt đời

Hoa dầu xoay trước nhà thờ Đức Bà
Cuốn theo lời cầu nguyện hóa rêu xanh
Sàigòn ơi, lời tình tự như nắng mưa
Để câu thề về lại bến hư không


Lê Huy Trứ


Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2024

Hững Hờ

 

Phố đêm đèn vàng, vây quanh em nỗi lạc lõng, quạnh hiu.
Nhớ ngày nào, dìu nhau, tay trong tay, mà nay đã chia lià.
Giờ này anh ở đâu, em sống buồn tẻ, lẻ loi, đầy nhung nhớ.
Em sầu đau, tâm trí quay quần, đời sống vô vị, khi vắng anh.

Không có anh, ai chờ đón em, đưa em về vùng trời thơ mộng.
Nếu vắng anh, tâm hồn em cũng buồn tẻ, tiêu điều, vắng tanh.
Không anh, bạn bè chung quanh em, tất cả chỉ thêm nhàm chán.
Thiếu anh, cuộc đời này, toàn là băng giá, vô cảm, buồn tênh.

Nhủ lòng, mình không yêu, nhưng em không thể dối chính mình.
Đêm từng đêm, cô đơn, hiu quạnh dâng thành bão tố, sóng thần.
Định mệnh nào, duyên nợ nào, oan nghiệp nào, trói buộc nhau?
Thôi từ đây, em gạt lệ, cố sống hồn nhiên, quyết rủ hết ưu phiền.

Vậy mà em vẫn mong có anh, để em tựa vai, khóc, trút nỗi lòng.
Vì không có anh, ai sẽ dỗ dành em, cho em thiết tha, ngọt ngào?
Thiếu anh, em ôm nặng khối tình, tim em lạnh giá, sụt sùi lệ rơi.
Em luôn tự dối lòng mình, mặc dù em biết tình anh nhiệm mầu.

Anh luôn kề cận bên em, bao lời anh hứa sao đành nở quên?
Bao đêm gầy guộc cô đơn, bao ngày vất vã vạ vào thân em.
Ngày đi, anh đã hứa rằng, ngày về anh sẽ kết vui mừng cho em.
Giờ anh hờ hững, đời em quạnh vắng, em kết vui lành với ai?

Một mình em lẻ loi, lặng lẽ, gõ nhịp trên vỉa hè phố khuya buồn.
Xa rồi, cuộc tình ngọt ngào, những nụ hôn đắm đuối ngày xưa.
Sao anh vội vàng, lãng quên những ngày yêu đương mặn nồng.
Bao lời hứa thủy chung, nay anh nỡ lòng nào quên thật rồi sao?

Lê Huy Trứ
1/12/2024




Thứ Hai, 25 tháng 11, 2024

Sài Gòn Trong Mơ

 

Sàigòn ngày xưa đó, tim vẫn bồi hồi
Áo trắng ngây thơ, em tan trường về
Tung tăng, nhí nhảnh trong công viên Tao-Đàn
Áo trắng trinh nguyên, bên hàng cây xanh

Sàigòn, bon chen, ngược xuôi giữa dòng đời
Đường phố rộn ràng, nhộn nhịp, vội vàng
Qua Bạch Đằng, bến Chương Dương gió mát
Bến Vân Đồn, chợ Bến Thành phồn hoa

Hàng cây xanh, Tháp Rùa soi bóng ai
Vương Cung Thánh Đường, tiếng chuông bình an
Văn khoa, Luật Khoa, thấp thỏm chờ nhau
Tự Do, bên nhau, mưa chợt trút xuống

Cư xá Chí Hoà, tráng lệ xinh xinh
Thoáng chút tình xưa, Nguyễn Huệ chờ nhau
Rex, Eden, Thương-Xá Tax, Brodard, Pagode hẹn hò
Sàigòn, thoảng đâu đây một chút hương thừa

Sàigòn ngày tháng đó, giờ xa ngàn trùng
Mưa Sàigòn, lụt qua Gia Định, Đa Kao
Mưa trên hàng cây, trên hàng đèn vàng
Thị Nghè, sông Bến Nghé, Đò Thủ Thiêm

Lang thang trong khi đường phố lên đèn
Con đường này, dư âm bước chân xưa
Hàng cây buồn, lòng xót xa thấm mệt
Tiếng côn trùng hay tiếng khóc nỉ non?

Lê Huy Trứ
12/21/2023


Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2024

Sài Gòn Đẹp Lắm

Mưa Sài Gòn, mưa rào qua Gia Định
Sài Gòn lụt lội để em quên về
Sài Gòn đẹp, đêm mưa trên cao ốc
Ngân hà sao sáng, long lanh Sài Gòn

Sài Gòn, thành phố thức trắng đêm thâu
Sài Gòn đêm vũ trường phím đàn ca
Vũ khúc du dương theo làn tóc rối
Môi ngoan chờ đợi nụ hôn nồng cháy

Sài Gòn nỗi nhớ tiếc mãi khôn nguôi
Nhà Thờ Đức Bà, xưa Nhà Hát lớn
Chợ Bến Thành, Dinh Độc Lập uy nghi
Sài Gòn thương ơi, ta đã về đây

Sài Gòn nắng sớm, chiều mưa chóng tạnh
Bạch Đằng bến mộng ven sông Sài Gòn
Chiều Tao Đàn mây xanh gió heo may
Sài Gòn, quán nhậu, cà phê, hàng rong

Sài Gòn, Ba Lê, "Hòn ngọc Viễn Đông"
Sài Gòn phố phường vừa số vừa tên
Đường hẻm chồng chéo, dễ quên dễ lầm
Sài Gòn ồn ào, khói xe, chen chúc

Đường Duy Tân xanh bóng mát, chung đường
Phượng vỹ, me già, Văn khoa, Luật Khoa
Trưng Vương, Gia Long, theo gót chân ai
Sài Gòn tuyệt đẹp, Sài Gòn yêu ơi

 
Lê Huy Trứ

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2024

Chữ Tình( Nguyễn Công Trứ) - Tâm Lòng(Lê Huy Trứ)


Chữ Tình

Mưỡu: 

Chữ tình là chữ chi chi, 
Dẩu chi chi cũng chi chi với tình. 
Sầu ai lấp cả vòm trời, 
Biết chăng chăng biết hỡi người tình chung? 

Nói: 

Đa tình là dở, Đã mắc vào đố gỡ cho ra! 
Khéo quấy người một cái tinh ma, 
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy! 
Đã gọi người nằm thiên cổ dậy, 
Lại đưa hồn lúc ngũ canh đi.
 Nực cười thay lúc phân kỳ, 

Trông chẳng nói, xiết bao nhiêu biệt lệ. 
Tình huống ấy dẩu bút thần khôn vẽ, 
Càng tài tình càng ngốc, càng si. 
Cái tình là cái chi chi?

Nguyễn Công Trứ
***
Cảm Tác

Tâm Lòng

Mưỡu: 

Tâm lòng bản lai chi chi?
Dẩu chi chi cũng chi chi tâm lòng.
Bản Tâm che khuất mặt lòng,
Vô minh chẳng biết bởi lòng nhị tâm.

Nói:

Vọng tâm lòng khổ,
Tâm lọt lòng rồi khó thoát ra.
Khéo quấy lòng một cái tâm ma,
Trói lòng kẻ thiền tâm biết mấy!
Đánh thức tâm lòng nơi mộ dậy,
Lại chạnh lòng lúc ngủ tâm đi.

Cười lúc đau lòng khổ tâm
Tâm chẳng động, lòng không còn phân biệt.
Tâm lòng này chỉ trí tuệ ngộ thông,
Lòng tham ái, tâm càng sân si.
Tâm lòng diện mục chi chi?

Lê Huy Trứ


Thứ Hai, 23 tháng 9, 2024

Xin Một Lần Gặp Lại Nhau

 

Nếu tình cờ gặp lại nhau
Đôi môi hồng xưa có còn nồng?
Nhân duyên nào gặp lại nhau
Rồi thiên thu vơi đầy luyến tiếc

Dòng đời nào xuôi về đây?
Gặp chi cho nhau thêm ngỡ ngàng?
Nhủ lòng muốn gặp lại nhau
Dù ước thề xưa đó đã nhòa.

Mái tóc xanh đã phai màu
Đâu tiếng nói thơ ngây ngọt ngào?
Nếu gặp lại có vui không?
Nhân dịp nào mong gặp lại nhau

Tuổi xuân trôi qua mau quá
Vòng tay còn sưởi ấm được nhau?
Giờ đời ta héo úa tàn
Tim mòn gối mỏi mắt quầng thâm.

Xin một lần gặp lại nhau
Xin tạ lỗi ngày xưa không đến
Chúng ta duyên nợ không thành
Đành lỗi hẹn quay về hối tiếc.

Một lần này gặp lại nhau
Nghe nhau nói vui lại một lần
Chỉ một lần gặp lại thôi
Bao tâm tình thốt hết một lần

Lê Huy Trứ
8/30/2022

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2024

Ngày Mai Không Bao Giờ Đến


Con chỉ cần tâm sự riêng với một mình ta. Ta luôn luôn lắng nghe con với ánh mắt thanh tịnh đầy thông cảm.

Con không cần nói cho thiên hạ biết mà chỉ thì thầm với riêng ta. Ta đang lắng nghe tâm lòng của con cũng như con đang ở trong tâm lòng của ta.

Và nếu con tịnh tâm nhìn vào, con sẽ tức khắc kiến thấy ta. Con không bao giờ cô đơn, lo lắng, sợ hãi giữa biển khổ đau.

***
Con người hình như là động vật duy nhất trên trái đất biết mình sẽ mất mát, sẽ chết nên lo sợ đưa đến đau khổ?

Cái sợ hãi khủng khiếp nhất là chờ đợi sự sợ hãi đến, chứ không phải trông cái sợ hãi đi.

Những sinh vật khác chỉ linh cảm được nguy hiểm để tránh, biết đau đớn nhưng không biết khổ tâm.

Vì không biết mình sẽ chết, không biết mình sẽ già bệnh, không tích lũy bất động sản cho nên những sinh vật này không chấp có cho nên không biết lo âu, khổ sở.

Ngày nào mà chúng ta chưa thấu đáo được cái nguyên nhân hiện sinh làm người của mình thì chúng ta vẫn trầm luân trong luân hồi sinh tử chưa thể giải thoát được cho đến khi giác ngộ. Cái ngày đó bảo đảm sẽ không bao giờ tới với đa số chúng sinh. Tuy nhiên, đời đẹp biết bao nếu ngày mai không bao giờ đến.

Tomorrow Never Comes

I've been climbing my way through the sky 
Searching for answers that 
I'll never find
Losing my breath as I fall
Learning to fly, letting go of it all 
Learning to fly, letting go of it all 

I'm gonna live
Like tomorrow never comes 
There's no end in sight 
Tonight we black out the sun

Better hold on tight
Before you know it's gone
And live like tomorrow never comes
I've been trying to open my eyes

Take it all in as the world passes by 
Getting lost in the twists and the turn 
Finding these questions inside me still burn 
Finding these questions inside me still burn 

I'm gonna live
Like tomorrow never comes
There's no end in sight
Tonight we black out the sun 

Better hold on tight
Before you know it's gone 
And live like tomorrow never comes
I keep…

Zac Brown Band
***

Tôi đã đang tự leo thang lên hỏi trời 
Tìm những câu trả lời mà tôi sẽ không bao giờ tìm thấy
Hụt thở khi rơi
Tập bay xa, bỏ lại tất cả 
Nhẹ cánh bay, buông bỏ đời

Tôi sẽ sống
Như không có ngày mai 
Không thấy tận cùng 
Đêm nay, chúng ta đen tối mặt trời

Tốt hơn, nắm chặt lấy
Trước khi mình biết nó vuột đi
Và sống như ngày mai không bao giờ đến
Tôi đã đang cố mở mắt

Chấp nhận tất cả như dòng đời trôi qua 
Lạc lõng trong khúc khuỷu
Tìm những câu hỏi này nóng bỏng trong tôi 
Nóng lòng với nhiều nghi nan

Tôi sẽ sống
Như ngày mai không bao giờ tới
Không có giới hạn trong mắt tôi 
Tối nay tôi tắt mặt trời

Giữ nó chắc nịch trong tối đen 
Trước khi mình biết nó mất đi
Và sống như ngày mai không bao giờ tới
Tôi quyết giữ ...

***
Cuối cùng là cho những người đã bước qua đời bạn hay bạn đã suýt nữa đi xuyên qua đời họ, yêu hay hờn, nhớ hay thương, bạn hay thù. Bạn nên luôn luôn cầu cho họ buông tha cho bạn lẫn buông xả chính họ, đừng nên nuối tiếc để vướng bận tâm lòng nhau vì khi mà không có duyên số, nợ nần với nhau thì đối diện cũng bất tương phùng.

Gặp hay không gặp, tái ngộ hay biệt ly cũng vì duyên, chớ nên đau khổ luyến lưu.

Quán thấu sự “vô thường” của nhà Phật giúp chúng ta tùy duyên mà sống nhất là thường khi chúng ta rơi vào nỗi thống khổ, ái ố, tưởng như không thể chịu đựng được nữa thì quán thấu lý vô thường, “qua đi qua đi những cơn mê, cuộc đời này rồi cũng đổi thay,” sẽ giúp chúng ta thăng hoa trí tuệ để can đảm mà đối chiếu với khổ đau, trở ngại một cách tự tại, bình thản, và thanh tịnh.

Sống vô úy không phải là bất úy nhưng mà sống an nhiên tự tại thanh thản với khả úy. Quán khả úy giai không.

Không nên mong ngày mai gặp lại nhau, vì ngày mai đó không bao giờ tới trong kiếp này, mà có tới, nó cũng trôi qua nhanh.

Tất cả đã nhạt nhòa đi rồi. Tất cả có thể sẽ không trở lại trong kiếp sau, đúng như vậy mà mong ước.
Ngày mai tự nó không tới không đi. Ngày mai ngày mốt chỉ đến đi trong tâm tưởng.

Lê Huy Trứ

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2024

Ánh Trăng Chơi

 

Xuyên lá cành ánh trăng ghé thăm
Lướt vào lòng nằm gọn trong tim
Cung đàn ngân vãn tiếng hát
Hồn phiêu lãng tâm lòng thổn thức dậy

Tiếng hát liêu trai dưới ánh trăng
Cung đàn du dương trầm bổng ngân
Gối trăng nghe dường như mộng
Kỳ ngộ thay không thể nói nên lời

Trở về lại vườn xưa chốn cũ
Bèn bẽn lẽn tim bồi hồi đập
Hy vọng dâng đầy âu lo
Ai đang đàn ca dưới đêm trăng đó

Chiếc lá nhẹ rơi dưới ánh trăng
Dưới bóng trăng ta gặp gỡ ta
Lang thang hoài kiếp phù du
Bềnh bồng biển ái như huyển như ảo

Nếu một mai ta có qua đời
Ai mang theo ánh trăng rạng rỡ
Vầng trăng soi ánh đạo vàng
Tây phương tịnh độ cho người hóa thân

Bao kiếp sống luân hồi nhàm chán
Quán âm trong ánh trăng tỉnh lặng
Lẫn trong trăng tiếng ai hát
Nhiều kiếp trăng chơi ta tái kiến ta

Lê Huy Trứ



Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2024

Người Trí Và Kẻ Kém Trí


Ðức Phật giải thích sự khác biệt giữa người cuồng dại với người trí. Ngài dạy rằng, thật không gì nguy hiểm bằng, khi người ngu tưởng rằng mình có trí:

(Pháp Cú 63)
Người ngu tự biết mình ngu
Thế là có trí, người xưa dạy rồi,
Ngu mà cứ tưởng khôn thôi
Mới là một kẻ muôn đời thật ngu.

Theo Kinh Pháp Cú, chánh pháp đóng một vai trò rất quan trọng trong trách nhiệm phát huy chánh kiến, tu tập trí tuệ, đưa người hành giả dần đến mục đích giác ngộ và giải thoát. Chánh pháp cũng giữ một vai trò rất quan trọng trong trách nhiệm hướng dẫn nhân quần. Như lời căn dặn của Ðức Phật trong kinh Ðại Bát Niết Bàn, “Này A Nan, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ tựa.” Lời căn dặn trong kinh Đại Bát Niết Bàn này hình như có vẻ hơi tối nghĩa giữa chữ ‘dựa, ỷ, dùng’ khi được dịch ra Việt Ngữ?

Theo tôi, người trí phải biết tự tin, trì chánh pháp để được thân tâm tịnh lạc mà cứu độ chúng sinh chứ không bị chánh pháp trì, không nên dựa vào chánh pháp mà quên mục đích. Dùng chánh pháp như là phương tiện để đạt tới cứu cánh như ngón tay chỉ mặt trăng.

(Pháp Cú 158)
Đầu tiên hãy tự đặt mình
Vào đường chân chính quang minh rạng ngời
Về sau mới giáo hóa người,
Kẻ hiền, kẻ trí luôn noi gương này
Nào ai chê trách nữa đây.

Lê Huy Trứ

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2024

Cảnh Giới Hoa Nghiêm


Mưỡu:

Rừng thông con suối tịnh thanh
Cọp ngồi nghe kệ, rồng nằm ngân kinh


Hát nói:

Hoa Nghiêm, cõi Phật, bất tư nghi,
Khi chưa đến đó luống mơ màng.
Kìa vi trần, vạn sắc tướng,
Vô nhất vật, niết bàn, ảnh hư vô?

Phóng quang minh Như Lai thuyết pháp,
Mở tâm lòng bồ tát nghe kinh.
Thoảng đâu âm nhạc ngân trầm,
Lòng thanh thản thấm nhuần vô quái ngại.

Trong hư trần thâu muôn thế giới,
Bất khả tư nghị bất khả thuyết.
Mỗi trần mười phương ba pháp,
Vô lượng cõi phật trên đầu cọng lông.

Thế giới chẳng một cũng chẳng hai,
Kim cương ngũ sắc long lanh dệt.
Tri kiến phật tịnh pháp tánh,
Thấy vạn pháp bản tánh như không pháp.

Tri kiến Phật vô sở vô trụ,
Tâm vô ngại chứng pháp vô ngại.
Tánh không, Hoa Nghiêm khởi pháp,
Tâm, Phật, Chúng Sanh cả ba là một.

Ngũ Trí Như Lai viên diệu pháp,
Như huyễn nhất tâm quang minh chiếu.
Trùng trùng duyên khởi, đồng hiện,
Quan Âm Bồ Tát, viên hạnh Phổ Hiền.

Nam-mô Hoa-Nghiêm vô thượng Phật bồ-tát


Lê Huy Trứ


Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2024

Tình Hè Rực Nắng

 

Tia nắng hè chói nóng khắp đô thị,
Hàng phượng vỹ che bóng trên vĩa hè.
Hoa phượng đỏ theo gió Nồm rơi nhẹ,
Áo trắng xưa rực nắng giữa sân trường.

Bao kỷ niệm một thời yêu áo trắng,
Nắng tình hè hâm nóng tâm hồn xưa.
Dáng hình ai năm tháng chưa phai nhòa,
Mối tình hè vẫn rực nắng trong mơ.

Nắng hạ, phượng nở, ve kêu hẹn ước,
Dưới hàng me, nắng theo dỏi tình hè.
Nắng hè, biển xanh, đưa nhau vào hạ,
Làm sao quên tình vụng dại hè xưa?

Nhớ mái tóc thề, áo tím, lưng thon,
Nhớ đôi mắt liếc, nụ cười mê ly,
Nhớ môi hồng, dáng kêu sa diễm lệ,
Nhớ tuổi ngây thơ, thẹn thùng ngây ngô.

Hè về nắng lên phượng hồng rực rở,
Tiếng ve sầu gợi lại kỷ niệm xưa.
Thành phố kia, chia tay nhau ngày đó,
Lê gót buồn theo nỗi tiếc khôn nguôi.

Nụ hôn ngày ấy rực nắng tình hè,
Tình hè e thẹn, thẹn thùng, ngây thơ.
Hè này nắng vẫn rợp ấm phố phường
Ve kêu, phượng nở tìm nhau nơi nào?

Lê Huy Trứ


Thứ Năm, 1 tháng 8, 2024

Quan Niệm Của Phật Giáo Về Vạn Vật Nhất Thể


Như điện như ảo có khả năng tạo ra vô vàn điều kỳ thú, mà sự ảo hóa đó xuất phát từ một siêu năng lực chung được gọi là tâm. Mọi cá thể chúng sinh có một cái tâm riêng gọi là tâm chấp ngã, chấp pháp, tâm đó phân biệt mọi thứ thành ra vạn vật.

Từ vô ngã bùng nổ thành ngã, và rồi từ ngã bùng nổ giác ngộ trở về lại vô ngã. Cái “big bang Phật Giáo” này xảy ra trong từng sátna. Phật pháp cũng nói rằng tất cả mọi chúng sinh đều có chung một tâm mà Duy Thức Học gọi là A Lại Da Thức.

Cái tâm riêng là vọng tưởng chấp ngã chấp pháp gọi là Mạt Na thức (Manas,) đó là tâm luân hồi sinh tử, của khổ đau, nó bé nhỏ như hạt lượng tử (quantum, god particle,) còn cái tâm chung của vạn vật mới đích thực là tâm như hư không vô sở hữu, to lớn như vũ trụ.

Cứu cánh của Phật Giáo là chứng được cái tâm này, gọi là giác ngộ, thiền Trung Hoa gọi là kiến tánh thành Phật, tâm này còn có nhiều danh hiệu khác như - Chánh Biến Tri, Như Lai, Phật Thế Tôn. Ngôn ngữ con người muốn gọi thế nào đi nữa cũng chưa bao giờ diễn tả nỗi, hay có thể chỉ thẳng được cái tự tánh của nó.

Tâm ở đâu khó mà biết được vì tự tâm không ở, không đến, không đi, không bị chi phối giới hạn bởi không gian và thời gian vì vậy tốc độ ánh sáng hay trọng lực (gravity) cũng không ảnh hưởng tới nó được. Tâm không ở trong tim ta, không ở trong đầu óc ta, nó không phải của ta. Tự Tâm không “tâm viên, ý mã,” mà cái ngã nó tưởng là tâm mình không tịnh. Không thể tịnh cái đã tự nó đã luôn luôn tịnh. Không thể an cái an. Cho nên thiền sư nói, đưa tâm ngươi ra đây, ta sẽ an tâm cho.

Như vậy, vạn vật nhất thể của Phật Giáo chính là Tâm, đây chính là lực tổng hợp duy nhất của 4 lực cơ bản của thế giới vật chất, và rất nhiều lực vô hình của vô lượng nghiệp chướng trong Tam giới. Cái ý nghĩa vạn vật nhất thể được Phật Giáo gọi là bất nhị.

Chính xác hơn, bất nhị (non-dualism) tức không phải là hai nhưng cũng không phải là một.

Chúng ta thấy rằng photon chẳng phải là hạt (particle,) cũng chẳng phải là sóng (wave) có khi hữu tướng thể hiện là hạt khi được quan sát, có khi vô tướng thể hiện là sóng khi không quan sát. Cố xác định nó phải là cái gì thì cũng không đúng (tạm gọi, God particles.) Vật chất (Sắc, matter) chẳng phải là có thật, mà cũng không hẳn là không có, không thể gò ép cho là có, là không được. Trong vật lý học, đây là nguyên lý bất khả định (Principle of Uncertainty) do Werner Heisenberg nêu ra năm 1927. Trong toán học, đây là định lý bất toàn (Incompteness Theorem) do Kurt Gödel nêu ra năm 1931.

Nguyên lý bất định cũng có ý nghĩa trong Sinh Vật Tiến Hóa Luận, nó khiến cho thuyết sinh vật tiến hóa (Theory of Evolutions) của Darwin trở nên không vững chắc nhưng không có nghĩa là sai.

Đức Phật đã kết thúc những hiện tượng vũ trụ trên trong kinh Kim Cang bằng bốn câu kệ rất sâu sắc như sau:

“Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.”

Dịch nghĩa:

Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như sương, như chớp loé,
Hãy quán chiếu như thế.

Lê Huy Trứ

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2024

Chăn & Người Ai Sưởi Ấm Ai?


Câu chuyện thiền trứ danh, nghe nhiều lần nhưng vẫn không nhàm dù tôi đã viết về chủ đề này rồi.

Trong một ngôi chùa cũ nát, điệu (chú tiểu) chán nản thất vọng nói với sư cụ: “Trong cái chùa nhỏ bé ni chỉ có hai thầy trò chúng ta, lúc con đi xuống núi hóa duyên, mọi người đều là nói những lời ác với chúng ta, còn thường xuyên gọi con là điệu con hoang. Họ cho chúng ta tiền hương khói càng ngày càng ít đến thê thảm.”

Điệu phàn nàn tiếp: “Hôm ni con đi khất thực, trời lạnh như vậy mà không có một ai mở cửa cho con, đến cơm bố thí cũng được ít. Chùa Từ Đàm chúng ta muốn thành một ngôi chùa ngàn gian, tiếng chuông vang xa không ngớt như thầy nói, con e chỉ là trong tâm tưởng.”
Sư cụ khoác lên mình chiếc áo cà sa không nói lời nào, chỉ nhắm mắt lại lẳng lặng nghe, điệu cứ nói và cằn nhằn liên miên….

Cuối cùng sư cụ mở mắt từ bi hỏi: “Bây chừ bên ngoài gió bấc thổi mạnh, lại có băng tuyết ngập trời, con có thấy lạnh không?”

Điệu bận cằn nhằn quên cả lạnh. Bây giờ nghe Thầy nhắc toàn thân run rẩy nói: “Con lạnh, hai chân con đều tê cóng cả rồi!”
Sư cụ nhẹ nhàng nói: “Vậy chi bằng chúng ta đi ngủ sớm đi.” Hai thầy trò vội tắt đèn chui vào trong chăn ngủ.
Một giờ sau, sư cụ hỏi: “Bây giờ con có thấy ấm không?”
Điệu trả lời: “Đương nhiên là con thấy ấm rồi, giống như ngủ trong lò sưởi vậy!”
Sư cụ nói: “Lúc nớ, chăn bông để ở trên giường là lạnh, rứa răng khi có người nằm vô lại trở nên ấm áp. Con thử noái thử coai, có phải là chăn bông sưởi ấm cho người hay là người sưởi ấm cho chăn bông đây?”

Điệu nghe xong liền nở một nụ cười nói: “Thầy thật là hồ đồ đó, chăn bông làm sao có thể sưởi ấm cho người được, phải là do con người làm chăn bông ấm lên mới đúng chứ!”
Sư cụ hỏi: “Chăn bông đã không cho chúng ta sự ấm áp lại còn cần chúng ta đi sưởi ấm nó, như thế thì chúng ta còn đắp chăn bông làm chi?”
Điệu suy nghĩ một lát rồi nói: “Mặc dù chăn bông không sưởi ấm cho chúng ta, nhưng chăn bông dày lại có thể giữ hơi ấm cho chúng ta, khiến cho chúng ta ngủ được thoải mái.”

Trong bóng tối, Sư cụ hiểu ý cười cười: “Chúng ta là thầy chùa tụng kinh rung chuông, chẳng phải là giống người nằm dưới chăn bông? Còn những chúng sinh kia chẳng phải họ là một cái chăn bông dày đó sao? Chỉ cần chúng ta một lòng hướng thiện, thì chiếc chăn bông lạnh như băng kia cuối cùng cũng sẽ được chúng ta sưởi ấm. Lúc nớ, “cái chăn bông” dày tê cũng sẽ biết giữ ấm cho chúng ta. Chúng ta ngủ trong “cái chăn bông” như vậy, chẳng phải rất ấm áp răng? Ngôi chùa ngàn gian, tiếng chuông chùa ngân vang không ngớt, còn có thể là trong mơ được răng?”

Điệu nghe xong liền bừng tỉnh ngộ.

Bắt đầu từ ngày hôm sau, điệu đều dậy rất sớm đi xuống núi hóa duyên. Điệu cũng vẫn gặp phải những lời ác như trước đây. Thế nhưng điệu vẫn luôn luôn giữ vững thái độ hòa nhã và cư xử lễ độ với mọi người.

Lần lần, điệu chiếm được cảm tình của nhiều người. Họ cúng dường cùng hỏi pháp, điệu đối đáp nhã nhặn trôi chảy làm mọi người mến mộ.
Rồi như thế, trong lúc hạ san hóa duyên hàng ngày như thường lệ, bỗng nhiên, điệu ngạc nhiên khi thấy mọi người cung kính vái lạy gọi ngài là thầy thay vì chú tiểu như ngày hôm qua. Họ cùng rủ nhau lên chùa cúng dường và yêu cầu ngài thuyết pháp.

Tiếng tốt đồn xa, nhiều hòa thượng lẫn khách thập phương ở mọi nơi lủ lượt rủ nhau lên chùa nghe thuyết pháp, càng ngày càng đông đảo, cảnh chùa trở nên nhộn nhịp hẳn lên.


Mười năm sau…

Chùa Từ Đàm đã trở thành ngôi chùa rộng lớn với nhiều tăng lữ cư ngụ để tu hành, có diện tích hơn ngàn dặm, không ngớt khách quan, nhiều người phú quý, quan quyền nườm nượp đi hành hương, tới để nghe pháp, thăm viếng, và cúng dường tài vật.

Chú điệu năm trước cũng đã trở thành vị sư trụ trì, thay thế thầy mình đã già yếu, hai thầy trò thường đăng đàn thuyết pháp được nhiều người ngưởng mộ.
Cái mong muốn đầy vị tha của hai thầy trò, biến ngôi chùa nhỏ bé nghèo nàn “thành một ngôi chùa ngàn gian, tiếng chuông vang xa không ngớt” cho mục đích cao cả, ưu tiên phục vụ chúng sinh đã thành đạt nhờ cách chỉ điểm nhẹ nhàng tế nhị của lão hòa thượng mà tiểu hòa thượng tiệm ngộ chuyển được tâm bồ tát trong lúc hóa duyên.
Tâm mình thay đổi làm thay đổi tâm người.

Thiết tưởng, lão hòa thượng không cần phải nhắc nhở tiểu hòa thượng cái nguyên lý đó nữa vì bây giờ điệu đó là sư trụ trì, đại hòa thượng, đức cao trọng vọng của ngôi chùa Bồ Đề, thịnh vượng, to lớn nhất trong vùng.

Hơn nữa, đây là lẽ đương nhiên của lý nhân duyên thầy trò mà lão hòa thượng đã thấy trước từ tiềm năng sẳn có của người học trò trẽ, duy nhất của mình. Lão hòa thượng chỉ là hướng dẫn đạo sư độ tiểu hòa thượng qua sông để tiểu hòa thượng trưởng thành hoành dương Phật Pháp, trước là tự độ mình sau là độ nhiều người.

Kỳ thực, tất cả chúng sinh đều đang trùm “bồ đề tâm chăn” nhưng vừa nhắm mắt nằm run rẩy, vừa phàn nàn là cái mền này không đủ ấm trong bóng tối lạnh lẻo của vô minh. Khi ta dụng “tam muội chơn hỏa” để sưởi ấm chăn bông phật pháp thì cái mền kỳ tâm đó cũng sẽ giữ hơi ấm thân tâm ta từ âm u, lạnh lẽo của vô minh.

Cho nên, trước là tự tâm đắp cho chính mình cái chăn (mền) chánh pháp với tâm bố thí rồi tu hành và giảng pháp để hoành dương và bảo vệ Phật Pháp đó là mục đích tối thượng của kẻ tu hành.
Đó là ý nghĩa của “Trước nguyện ‘cứu độ’ chúng sinh, sau là mong được an tâm tu thành Phật để tự cứu độ mình lẫn hướng dẫn chúng sinh.” Chứ không phải ngược lại như ta thường nghe giảng, trái ngược với tâm pháp.
Tuy nhiên, thành Phật không cứu độ được chúng sinh mà chúng sinh phải tự độ bằng phương pháp tục diệm truyền đăng, bất đáo bỉ ngạn.

Cứ nằm lì bên ni rồi bên nớ sẽ đến bên ni. Không cần đáo bỉ ngạn bên ni vì bên ni không có thể trở về lại bên ni được?
Hơn nữa, trùm chăn nớ, không đi mô cả thì làm chi có chuyện đến bên nớ?

Trên phương diện khoa học, phải biết hiện tượng mất nhiệt (heat loss, bố thí), trao đổi nhiệt độ (heat exhange, tu hành và giảng pháp) để mà giữ nhiệt (tục diệm, hoành dương và bảo vệ Phật Pháp). Đó là hạnh bố thí, càng cho nhiều thì càng nhận nhiều. Đó cũng là lý nhân quả, luật đồng thanh khí, luật rung động (law of vibration,) luật hấp dẫn (law of attraction) trong vật lý.

Ngủ đắp chăn cả một đời, vậy mà hôm nay mới biết cái lý tương quan của pháp giữa vật và người này. Lòng bồ đề, tâm bồ tát thể hiện trong tâm ta như là hơi ấm trước sưởi ấm chúng sinh sau giữ hơi ấm cho chính ta vì ta cũng chính là chúng sinh trong cõi ta bà này.

Tuy nhiên, người Phật Tử cũng phải biết lý nhân duyên đó, cái tương quan sưởi ấm, soi sáng mật thiết giữa pháp và chúng sinh, vật và người, tâm và thân trên cõi đời này nó như điện như ảo, quá vô thường để mà bám víu vào một trong những kiếp nhân sinh đầy tạm bợ này.

Tương tự, cái chăn bông (không phải chăn điện) đó cũng như cái tâm chúng sinh, ta đang nằm trong tâm người khác mà tưởng như chính là tâm của ta. Khi ta dụng tâm đi sưởi ấm tâm người thì tâm đó cũng sẽ giữ ấm cho tâm ta.
Nhưng “tâm ta” có thật sự là “tâm ta” hay tâm ta cũng là tâm chúng sinh?
Nếu câu trả lời “là đúng như vậy” thì tất cả những sách vở, kinh sách miêu tả về “tâm ta” đã mô tả rõ ràng, và đầy đủ rồi cứ thế mà tin, “tâm ta là tâm người” cũng như ta “sở hữu Ngã hóa, thân ta” vậy.

Tâm là tâm không có chuyện tâm chúng sinh, hay tâm ta.

Nói nghe dễ ợt vậy mà cả mấy ngàn năm rồi với cả rừng kinh sách nhưng đến ngay bây giờ cũng chả mấy ai thật sự biết rõ bản lai diện mục của tâm là cái gì để an ấm tâm.

Tâm này đây có phải sở hữu riêng của một cá nhân nào để tìm ra... mà tới với mớ tâm sự ngổn ngang và ngồi tâm tình với tâm mình, rồi bình tâm để nghe tâm lòng đang thổn thức, nóng lạnh, hay tâm này đang ngừng đập?

Ta đang nằm trong tâm mền hay là tâm lòng ở trong chăn ta?
Ta không biết là ta sưởi ấm tâm hay tâm sưởi ấm ta, tâm cần ấm hay ta cầu ấm?

Công án chăn mền chỉ giúp tiểu hòa thượng tiệm ngộ cái lý nhân duyên, sự liên quan thực tế và tối cần thiết giữa thầy chùa và khách thập phương.

Mong rằng “Ngôi chùa ngàn gian,”thịnh vượng của chùa không động lòng trần của hòa thượng. Trái lại, “tiếng chuông chùa ngân vang không ngớt” đã làm hòa thượng đốn ngộ.

Kinh Kim Cang đã cảnh tỉnh: Không nên trụ vào những vật chất vô thường đó mà động tâm.

Lê Huy Trứ