Từ xưa nay chỉ nghe trong nhạc nhắc 4 chữ" Vương Cung Thánh Đường". Tháng 5.2025 tôi được tận mắt nhìn được tất cả những di tích mầu nhiệm, trang nghiêm, kiến trúc đồ sộ còn tồn tại nơi đây.
Nơi đây là đâu, và ý nghĩa như thế nào? Theo tài liệu tìm hiểu:
"Đền Thánh Fátima (Santuário de Fátima), tên chính thức là Đền Đức Mẹ Mân Côi tại Fátima (Santuário de Nossa Senhora do Rosário de Fátima), là một trung tâm hành hương được cung hiến cho Đức Mẹ Fátima tọa lạc tại thành phố Fátima, quận Ourém, Bồ Đào Nha.
Đền Thánh Fátima bao gồm nhiều công trình Công giáo trong đó Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Mân Côi (Basílica de Nossa Senhora do Rosário) là công trình trọng điểm.
Bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, Đền Thánh còn có
- Nhà nguyện Cầu Nguyện Liên Lỉ (Capela do Lausperene),
- Một cây Sồi lớn đứng gần nơi mà Đức Mẹ hiện ra vào năm 1917,
- Một bức tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu (Monumento ao Sagrado Coração de Jesus)
- Nhà nguyện Đức Mẹ Hiện Ra (Capelinha das Aparições),
Bao quanh khu vực được cho là nơi 3 chứng nhân: Lúcia dos Santos, Francisco và Jacinta Marto thấy Đức Maria Đồng trinh hiện ra lần đầu tiên với mình.
Ngoài ra còn có nhiều công trình kiến trúc và tượng đài khác được dựng lên để kỷ niệm những năm mừng kính phép lạ tại Fátima.
(Ba trẻ mục đồng)
(Cây Sồi nơi Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất tại Fatima. 13-05-1917)
Nhà nguyện nơi Đức Mẹ hiện ra, được xây dựng ngày 28/4/1919, có diện tích khá nhỏ chỉ dài 3,30 mét, rộng 2,80 mét và cao 2,85 mét, được xây chủ yếu bằng đá và vôi, lợp ngói bên trên.
Trung tâm thị trấn là Lễ đài Thánh Tâm Chúa Giêsu (1932), ngắm Đền Valhnos.
Phía đối diện đền thánh có Vương Cung Thánh Đường Thiên Chúa Ba Ngôi được khánh thành sau năm 1953 để đáp ứng nhu cầu hành hương và phụng tự quy mô lớn thay cho Đền Thánh Fátima với sức chứa có giới hạn".
Cova da Iria là một địa điểm nằm trong thành phố Fatima, thuộc quận Santarém, miền Trung Bồ Đào Nha. Nơi đây nổi tiếng trên toàn thế giới.vì là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với ba em vào năm 1917, được biết đến với tên gọi Đức Mẹ Fatima.
Ngày 12 và 13 tháng 5 luôn là những ngày đặc biệt ở Fatima, nơi hàng ngàn người hành hương đổ về để mừng Đức Mẹ hiện ra ở Cova da Iria.
(Từ nguồn Wikipedia).
Rất nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo và du khách từ khắp mọi nơi đổ dồn về thánh địa Fatima này. Hình như tôi có được duyên lành với địa danh linh hiển Fatima, nên tôi có mặt ở đây đúng vào ngày Thánh Lễ mà không hề biết, cứ ngỡ các bạn rủ tôi đi du lịch thôi.
Trong năm ấy, là Năm Thánh cứ 25 năm mới có một lần, Tất cả những người trong đạo, họ rất tha thiết đi Hành Hương. Đã nhiều lần tôi ao ước được đến Đất Thánh, nơi Mẹ hiện ra để tôi được tạ ơn Mẹ, Người đã ban phép nhiệm mầu cứu thoát con tàu tôi trong tay của tử thần.
( Chiều 12.5.2026)
Vào 11.5.2025, tôi cùng các bạn trong ca đoàn và cô bạn nhỏ, tất cả 6 người cùng đáp chuyến bay đến phi trường Lisbon, Bồ Đào Nha,.Thủ đô Lisbon cách Fatima khá xa 142km, chúng tôi có xe Taxi đưa về khách sạn ở Đất Thánh Fatima vào một buổi tối.
Thành phố vắng im lìm, tôi không mường tượng, Nơi đây có gì để du lịch?
Sáng hôm sau 12.5.2025 vừa bước khỏi cửa khách sạn, tôi ngỡ ngàng, ôi người đâu mà đông và tấp nập thế này... Có những đoàn cùng đi chung, cầm cờ của từng nhóm khác nhau. Khách Sạn, nhà trọ không còn chỗ trống, họ cắm lều, Caravan trong ngăn nắp và trật tự.
Đến quảng trường, càng ngạc nhiên hơn, không ngờ tôi có thể chiêm ngưỡng một khu đất Thánh thật uy nghi, rộng lớn và thiêng liêng.
Đêm đó số lượng khoảng hơn 400,000 người đến từ khắp nơi trên thế giới, tụ hội về đây tham dự Thánh Lễ. Thực ra không có gì đáng nói, nhưng mọi người đã tụ họp với một thái độ thân thiện, cởi mở cho dù không cùng màu da, không phân biệt chủng tộc, không phân biệt tuổi tác, họ tự giữ sự trật tự và an toàn. Quả thật không phải là điều đơn giản.
Fatima có những thông điệp từ một tôn giáo tạo thành một niềm tin, một đức tin cho con người, sống trong tình thương yêu đùm bọc, thân thiện và nhân nhượng lẫn nhau. Có những đức tin mình chỉ học hỏi được khi nhìn thấy những người khác biểu lộ đức tin đó.
Những ngọn nến thắp lên, không chỉ là một tia sáng trong đêm mà còn tượng trưng cho đức tin và lòng sùng kính, dìu dắt ta đi trong cuôc sống. Tại nơi này, với đức tin mạnh mẽ như được kết nối bởi ánh sáng và sự bảo vệ của Đức Mẹ, tâm trở nên bình an và lòng vui phơi phới...
Phải nói là đêm nay cả một rừng người trong ánh nến huyền diệu thiêng liêng. Vô cùng xúc động vì cách nay 46 năm, đêm nay cũng là đêm tôi được đặt chân đến bến bờ tự do ở Mã Lai ngày 12.5.1979.
Tạ Ơn Đức Mẹ cho con được sống trong ánh sáng ấm áp đang ôm ấp lấy anh chị em chúng con!
Đêm nay 13 tháng 5, dưới cơn mưa, đứng từ trên cao nhìn xuống, cả rừng dù dù đủ sắc. Tôi lo ngại sức khoẻ vì đây là điểm đến đầu tiên, tôi còn đi một chuyền dài đến Bắc Âu. cô em đi chung bảo, chị đừng lo vì cách nay hơn 100 năm cũng mưa thế này, cầu nguyện Mẹ, mưa sẽ tạnh ngay. Tôi cầu nguyện ngay. Ồ, thật lạ lùng, tôi vừa dứt lời nguyện cầu cơn mưa chấm dứt. Tôi là người "đạo theo" tôi chưa bao giờ lại cảm thấy rõ ràng Đức Mẹ lại đến gần tâm hồn tôi, Mẹ nghe tiếng thì thầm trong tôi đến thế.
Với số người tham dự Thánh Lễ 13 Tháng 5, các tín hữu trên toàn thế giới kỷ niệm lễ Đức Mẹ Fatima, đặc biệt tại Đền Thánh Fatima ở Bồ Đào Nha Lễ này là để tưởng nhớ sự kiện Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn cừu vào năm 1917.
Tạ ơn Mẹ đã cho con thông suốt, thu hút lòng tin yêu, phép nhiệm mầu, con thấu hiểu hơn về đức tin của những người tề tựu về đây, nơi họ đã làm mới tâm hồn con và suy nghĩ của con. Tất cả đều qua tình yêu bao la của Mẹ!
Cũng đêm nay Mẹ đã nghe tiếng con van xin, Mẹ đã dang đôi tay ôm ấp, xoa dịu lo lắng, nỗi đau và cho con một sức khoẻ đề tiếp tục sống một đời sống chứng nhân.
Tình Mẹ Fatima đầy ơn phúc
Luôn nâng đỡ con những lúc khổ đau
Hồng Ân Mẹ như dòng sữa ngọt ngào
Ru con ngủ bài ca dao êm ái
Mẹ êm dịu như suối nguồn tuôn chảy
Tắm mát cuộc đời mãi mãi yêu thương
Là vầng trăng thanh soi sáng đêm trường
Cho đàn con trên bước đường ly xứ
Fatima đêm nay gió mưa bất tử
Muôn ngàn người tề tụ trở về đây
Những ngọn nến trên tay lời khấn nguyện
Sưởi ấm lòng chuyền hơi ấm đức tin
Mắt rưng rưng...Mẹ ơi cảm tạ huyền linh
Con được hưởng với trọn tình của Mẹ!
Amen!
Kim Oanh.
* Bồ Đào Nha 12, 13.5.2025 - Melbourne 13.5.2926
* Cảm ơn Anh Hy, Tuyết, Bích, Hường và Hà cho Kim Oanh đồng hành trong Năm Thánh 2025 một chuyến đi đầy thương yêu và ý nghĩa nhất.
Một vài hình ảnh ở Fatima
Xe đưa vào Làng Fatima, nơi có căn nhà của 3 trẻ em
Khi cây mai vàng chưa kịp đưa hương Và bờ cỏ đương đổi màu hoang tái Bóng chiều nghiêng cánh én còn ái ngại Vẫn nghe lòng vời vợi bước xuân phương. ---- Có phải bên cánh Hồng hoa tiếu nụ Hay sặc sụa tiếng cười quanh tiệc rượu Sắc màu giả tạm vội phôi pha! Nghe đâu đây xuôi ngược bước xôn xao Cố tìm một niềm vui trong xuân tứ Có hay đâu lá vàng rơi lối cũ Để đẹp màu lộc nhú biếc chồi cao. Khi câu thơ thắp sáng giữa trang thơ Đâu chỉ sáng riêng hồn con chữ Mà vẫn sáng giữa ngàn hoa cỏ chứ Giữa lòng đời còn tối vạn niềm đau! Có bao nhiêu thủ tục đón mùa xuân? Bề bộn quá những tháng ngày xa ấy! Nơi lối nhỏ rũ màu sương bụi đấy Xanh hồn rêu theo bờ cõi thanh tân. Chả phải tìm đâu, Khi con tim là nụ xuân hồng! Không đợi nén hương giao thừa, Câu thơ bay vút. Mai chưa kịp nở, Cỏ chưa viền lục. Nhưng lòng xuân có bao giờ chấm dứt Tình mênh mông Xuân trải bước mênh mông.
Quand tu chantes, je chante avec toi, liberté Quand tu pleures, je pleure aussi ta peine Quand tu trembles, je prie pour toi liberté Dans la joie ou les larmes, je t'aime Souviens-toi des jours de ta misère Mon pays, tes bateaux étaient tes galères Quand tu chantes, je chante avec toi, liberté Et quand tu es absente, j'espère Qui es-tu? Religion ou bien réalité Une idée de révolutionnaire Moi je crois que tu es la seule vérité La noblesse de notre humanité Je comprends qu'on meure pour te défendre Que l'on passe sa vie à t'attendre Quand tu chantes, je chante avec toi liberté Dans la joie ou les larmes, je t'aime Les chansons de l'espoir ont ton nom et ta voix Le chemin de l'histoire nous conduira vers toi Liberté, liberté…
G. VERDI (Qua tiếng hát NANA MOUSKOUR)
***
Dịch Thơ:
Tôi Hát Cùng Bạn, Tự Do Ơi!
Tự Do ơi! Bạn mến yêu Khi mà bạn hát, tôi theo hát cùng, Niềm đau của bạn tôi chung lệ sầu, Khi mà bạn bị đảo chao Tôi cầu cho bạn được mau tốt lành, Tôi yêu quý bạn chân thành Dù trong hoan lạc hay quanh lệ trào. Bạn nhớ chăng những ngày nào Bạn lâm vào cảnh khổ đau ngập tràn Thời quê tôi cũng lầm than Đồng thuyền ta chịu chung phần bi ai, Khi bạn hát, Tự Do ơi Tôi cùng hoan hỉ vang lời đồng ca Và khi bóng bạn nhạt nhòa Thời tôi hy vọng xót xa miệt mài. Hỡi Tư Do bạn là ai? Bạn là tôn giáo ở nơi chốn này Hay là thực tại nơi đây Tư duy cách mạng vần xoay lòng người, Riêng tôi tin tưởng mãi thôi Bạn là chân lý tuyệt vời độc tôn Mãi thanh cao, mãi trường tồn Đỉnh cao hy vọng của nhân loại mình, Tôi thường thông hiểu tận tình Có người mạng sống hy sinh chẳng màng Mong bảo vệ bạn an toàn Tư Do yêu quý vô vàn thiết thân, Có người suốt quãng đường trần Mãi mong chờ bạn âm thầm khôn nguôi, Khi bạn hát, Tư Do ơi! Tôi luôn cùng bạn cất lời hoan ca Dù trong vui thú thăng hoa Hay qua dòng lệ chan hoà đắng cay, Lòng tôi ấp ủ lâu nay Tình yêu quý bạn đắm say một đời. Bài ca hy vọng khắp nơi Đều ghi tên bạn với lời thiết tha Mang tiếng nói bạn vang xa, Con đường lịch sử mở ra rạng ngời Dẫn đường chỉ lối chúng tôi Hướng về phía bạn, chân trời đẹp tươi Tự Do ơi! Tự Do ơi!...
Năm 1956 ở Pháp bổng xuất hiện một ca sĩ có tiếng hát đặc biệt, nặng chất giọng Ý, nhưng lại được giới mộ điệu Pháp yêu thích, người ca sĩ ấy hát bài Bambino (Thằng bé) chinh phục được khán thính giả. Bài hát được phát thanh mỗi giờ một lần trên làn sóng của đài Europe 1, người ca sĩ có tên Dalida. Bài Bambino đứng đầu số bán trong nhiều tuần lễ đưa Dalida lên đài danh vọng. Mời nghe bài Bambino được Dalida hát năm 1956
Dalida sinh năm 1933 ở Ai Cập và lớn lên tại thủ đô Le Caire trong một gia đình người Ý đến định cư tại xứ Á Rập này. Lúc 17 tuổi, với dáng dấp cao ráo và thân hình mảnh mai, Dalida mơ ước được nổi tiếng nên dự thi hoa hậu và rồi thủ vai phụ trong một vài phim, nhưng tất cả không gây được sự chú ý. Sang Pháp năm 1954 với ý định làm diễn viên điện ảnh, nhưng thời thế đưa đẩy cô vào nghiệp cầm ca, lúc đầu chỉ để kiếm chút tiền cho cuộc sống đắt đỏ tại Paris, nhưng giọng hát và dáng vẻ của Dalida lọt vào mắt Giám Đốc chương trình nhạc của đài phát thanh Europe 1, vị Giám đốc này tên là Lucien Morisse. Chính nhờ Lucien Morisse mà tên tuổi Dalida nổi bật lên. Với sự quen biết rộng, với kiến thức về nghệ thuật ca hát cũng như biết rõ thị hiếu của khán thính giả, Morisse hướng dẫn Dalida chọn lọc bài nhạc, cách ăn mặc, cách trình diễn. Liên tiếp sau Bambino, các bài nhạc khác cũng thành công không những tại Pháp mà luôn các nước như Ý, Tây Ban Nha, Đức, Áo, Ai Cập.
Để trả ơn Lucien Morisse đã đưa mình lên đỉnh cao danh vọng, Dalida nhận lời cầu hôn của ông, lễ cưới diễn ra ngày 8/4/1961, nhưng thật lòng Dalida không yêu Morisse. Từ đầu cuộc hôn nhân, Dalida đã ngoại tình với một người họa sĩ, làm Morisse mất mặt, hai người thoả thuận ly dị ngay vào năm 1962.
Dalida đã nổi tiếng như cồn, những buổi trình diễn của cô ở hí viện Olympia Paris thành công rực rỡ, khán giả đông nghẹt trong 3 tuần lễ liên tiếp. Sau đó, Dalida đi lưu diễn ở Hồng Kong, Việt Nam và các nước Âu Châu với những bài nhạc Histoire d’un amour, Gondolier, Les Gitans…Nguyên thủy, Dalida có mái tóc màu nâu đen của người dân vùng Địa Trung Hải, từ năm 1964, cô nhuộm tóc vàng óng ả.
Và một thân hình người mẫu
Gốc gác người Ý, Dalida thường sang Ý trình diễn với những bài Come Prima, Ciao ciao Bambina, Romantica, Amore Scusami… cô gặp một ca sĩ tên Luigi Tenco 28 tuổi và hai người yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới. Năm 1966, cả hai người đến tham dự Liên Hoan Ca Nhạc San Remo ở miền Bắc nước Ý, với bài nhạc "Ciao amore ciao" (Đón mừng tình yêu), mỗi người sẽ lần lượt hát bài nhạc này do Luigi Tenco sáng tác để mong đoạt giải. Nhưng Luigi Tenco hôm ấy muốn tự trấn an nên uống rượu và dùng thuốc an thần trước khi trình diễn, ra sân khấu anh lúng túng hát quá tầm thường, không thuyết phục được khán giả cũng như Ban Giám khảo. Bị loại không được tiếp tục tranh giải, Tenco xuống tinh thần, trong lúc Dalida còn ở lại với buổi trình diễn, chàng ca sĩ trẻ người Ý trở về khách sạn và bắn vào đầu tự vẩn. Sau khi hát xong bài "Ciao amore ciao" Dalida chạy tìm người yêu và khám phá Tenco nằm chết trong phòng khách sạn. Đau khổ tận cùng, sau đó một thời gian, Dalida cũng uống thật nhiều thuốc ngủ để muốn chết theo người yêu, nhưng được cứu sống kịp thời.
Những năm 1970s, Dalida tiếp tục thành công qua những bài "Darla dirladada", "Paroles paroles" cùng hát với tài tử điện ảnh Alain Delon, "Gigi l’amoroso", "Il venait d’avoir dix-huit ans", "Salma ya Salama", "J’attendrai" …. Về phương diện nghề nghiệp, Dalida vẫn giữ vị trí hàng đầu, mỗi lần trình diễn cô vừa hát vừa nhảy múa, với những bộ quần áo thật đẹp và dáng dấp thon thả nên thu hút được sự ái mộ nồng nhiệt của khán giả.
Về phương diện tình cảm, năm 1970, người chồng đầu tiên của Dalida, Lucien Morisse cũng tự tử bằng một viên đạn bắn vào đầu tại nhà riêng. So sánh trường hợp Luigi Tenco và Lucien Morisse, báo chí gọi Dalida là người "đàn bà xui xẻo" (Dalida la maudite).
Năm 1972, Dalida gặp một người có tính hoang đường, hay đặt chuyện và dối trá tên Richard Chanfray, ông tự cho mình là hiện thân của một vị Bá Tước thời thế kỷ thứ XVIII, không có nghề nghiệp rõ ràng, ông sống hoàn toàn dựa vào Dalida. Cuộc tình kéo dài 9 năm. Hai năm sau ngày chia tay, năm 1983 Richard Chanfray được tìm thấy chết trong xe hơi ở Saint Tropez vì ngửi khói xe có đầy gaz CO2.
Ngoài những cuộc tình mà mọi người đều biết, Dalida còn có những mối tình "chóng vánh” như với Alain Delon, với ứng cử viên Tổng Thống Pháp François Mitterrand đến khi ông này đắc cử, cô cũng yêu một sinh viên Ý trẻ tuổi, Dalida có thai với cậu sinh viên này nhưng cô đi phá thai làm cô bị tuyệt sản.
Cuộc đời sự nghiệp thì thành công và sung mãn nhưng tình cảm trồi sụt bất thường, làm cho Dalida lâm bệnh trầm cảm và mất ngủ. Từ năm 1985 Dalida liên hệ với một bác sĩ tên Francois Naudy, nhưng chuyện tình rất hời hợt vì ông này có vợ và không hề muốn bỏ vợ để đến với Dalida. Ngày 2/5/1987, Dalida chờ ông Naudy đến nhà nhưng giờ chót ông báo tin không đến được. Tối đó, Dalida dùng nhiều thuốc ngủ và uống với rượu whisky để tăng độ mạnh của thuốc. Hôm sau, người làm trong nhà khám phá Dalida chết trên giường ở tuổi 54, ngọn đèn đầu giường vẫn còn cháy. Cô để lại một bức thư cho François Naudy và vài dòng cho người ái mộ: "Cuộc đời quá chán chường. Xin hãy tha lỗi cho tôi" (La vie m’est insupportable. Pardonnez-moi).
Đám tang của Dalida được tổ chức tại Nhà Thờ Madeleine với hơn 40 000 người đến dự đưa cô về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa Trang Montmartre trong một ngôi mộ có bức tượng y như hình người của Dalida và bông hoa do người ái mộ đến dâng tặng
Ngôi biệt thự của Dalida ở khu Montmartre
Bức tượng bằng đồng của Dalida được dựng gần ngôi nhà, người ái mộ vẫn đến viếng.
Một trường hợp hồng nhan bạc phận, đầy tài năng, như trong chuyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. "Ngẫm hay muôn sự tại Trời. Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao."
Sáng nay bên ly cà phê đen còn tỏa chút hương thơm, ngắm nhìn ngoài sân những chú chim đùa vui nhảy hót, không gian thật bình yên sau những ngày mưa rơi tầm tả, chợt thoáng nhớ về ngày tháng xa xôi, một thời si dại, một thuở khoác áo nhà binh, một nhóm bạn thân thương .....
Xin mượn những câu thơ ghi lại chút vụn vỡ nầy gởi lại đây...
Bước vào vườn Lộc Uyển
Nhặt chiếc lá Bồ Đề
Để đem về cho bạn
Dùng để tạm gieo duyên
Chiếc lá Bồ Đề xanh
Vừa mới rụng trên cành
Lá rơi trên sân cỏ
Trên sông, lá xuôi giòng
Lá rụng màu nâu xanh
Nhặt chiếc lá lìa cành
Ép vào trang sách nhỏ
Đem về tặng bạn thân.
Bồ Đề nghĩa là chi?
Là Trí Huệ, Từ Bi,
Là Chân Tâm, Phật Tánh
Là Tánh Biết trong Tâm.
Lá rơi xuống đổi màu
Hình trái tim đỏ nâu
Hình trái tim bất diệt
Tâm Từ chỉ một màu
Tâm Bồ Đề thanh tịnh
Giữa cuộc sống ồn ào
Giữa giòng đời lao xao
Tâm không hề giao động
Tâm không hề xôn xao
Mặc dù trên Thế gian
Mọi sự hợp rồi tan
Như sương đọng trên hoa
Như mây giăng đỉnh núi
Như tuyết phủ ngàn cây
Đến hội tụ rồi tan !
Nhưng Bồ Đề trong ta
Tâm Từ Bi chan hòa
Trí Tuệ cùng hiểu biết
Phật Tánh Tâm bất diệt
Chân Tâm luôn trong sáng
Mãi mãi trong chúng ta.
Mãi mãi trong chúng ta....
Mãi mãi trong chúng ta....
Hoàng Thục Uyên
Physicists Say It’s Possible to Send Messages Backward in Time
Một nhóm khảo cứu vừa tìm ra những cơ chế thực tiễn đằng sau một trong những ý tưởng táo bạo nhất của cuốn phim viễn tưởng Interstellar (Giữa Các Vì Sao).
Tóm lược:
Cảm hứng từ tác phẩm điện ảnh Interstellar, một toán toán học gia đã tìm ra — ít nhất là trên phương diện giả thuyết — cách thức chuyển đạt tin tức về quá khứ. Các nhà khảo cứu giải đáp bí ẩn về việc nhân vật chính trong phim có thể liên lạc với con gái mình bằng cách giả định rằng ký ức của anh về quá khứ chính là viễn cảnh về tương lai của cô con gái. Việc thu thập ký ức từ tương lai của một người khác và gửi tin tức dựa trên đó qua một "vòng lặp thời gian" đầy nhiễu loạn hóa ra lại hiệu quả hơn là gửi thông điệp tới tương lai.
Trong cuốn phim Interstellar, những hình thù kỳ lạ xuất hiện trong lớp bụi trên sàn phòng ngủ của cô bé Murph sau một trận bão cát. Cha của cô, Joseph Cooper — một cựu phi công của Cơ quan Không gian Mỹ (NASA) — đã nhận ra đó là những dị biệt về trọng lực mang mật mã nhị phân. Nhiều năm sau, khi phi hành qua một "lỗ sâu" không gian, Cooper lạc vào một "tesseract" (không gian đa chiều) do nhân loại ở tương lai tạo dựng, nơi anh có thể điều khiển trọng lực xuyên thời gian. Từ đó, anh gửi các thông điệp ngược về quá khứ cho Murph bằng cách tạo ra chính những hiện tượng trọng lực mà họ đã từng chứng kiến cùng nhau.
Do hiện tượng "thời gian giãn nở" — khi thời gian chậm lại đối với một vật thể di chuyển với vận tốc cực nhanh — nhiều năm đã trôi qua ở Trái Đất trong khi Cooper chỉ mới trải qua vài giờ đồng hồ. Theo những khảo cứu mới đây về vật lý lượng tử, việc gửi tin tức về quá khứ không còn là chuyện viễn tưởng thuần túy mà thực sự có khả năng thực hiện được.
Vòng lặp thời gian và Sự rối rắm lượng tử
Các vòng lặp thời gian có thể là cơ chế để gửi thông điệp về quá khứ. Thuyết Tương đối Tổng quát cho phép sự tồn tại của một "đường cong thời gian khép kín" (CTC), xảy ra khi quỹ đạo của một vật thể trong không-thời gian đưa nó đến tương lai rồi quay ngược lại quá khứ. Một cơ chế khác là "sự rối rắm lượng tử" (quantum entanglement): Nếu Cooper và con gái có mối liên kết lượng tử, họ có thể chia sẻ tin tức ngược dòng thời gian. Các hạt hạ nguyên tử có liên kết này luôn nhạy cảm với trạng thái của nhau, nên dù một hạt có bị phóng đi xa và nhanh đến tương lai, nó vẫn truyền đạt tin tức cho hạt còn lại ở quá khứ.
Thực tế, Giáo sư Seth Lloyd và các cộng sự tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) muốn biến ý tưởng này thành hiện thực. Mặc dù việc bẻ cong không-thời gian để tạo ra một đường cong thời gian thực thụ đòi hỏi một nguồn năng lượng khổng lồ không tưởng, nhưng Giáo sư Lloyd trước đây đã thành công trong việc dùng các hạt ánh sáng (photon) có liên kết lượng tử để mô phỏng một vòng lặp thời gian, gửi một hạt về quá khứ vài phần tỷ giây. Nay, họ muốn xem liệu việc gửi các thông điệp dài hơn có khả thi hay không.
Hiệu quả bất ngờ từ "Tĩnh điện thời gian"
Dù nghe có vẻ nghịch lý, các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng đối với một kênh truyền tin đầy "nhiễu" (giống như tiếng rè của máy vô tuyến điện), việc truyền một thông điệp về quá khứ thực tế lại dễ dàng hơn là gửi tới tương lai.
Trong một nghiên cứu vừa đăng trên tập san Physical Review Letters, nhóm khảo cứu cho biết:
"Việc tiếp cận một đường cong thời gian khép kín không nhiễu sẽ giải phóng một năng lượng xử lý tin tức kinh ngạc. Một kênh truyền tin như vậy có thể được biểu diễn qua cơ chế lượng tử, theo nghĩa là tin tức di chuyển qua kênh nhiễu vẫn tiến triển như bình thường, ngoại trừ điểm dừng chân cuối cùng là ở quá khứ."
Sự khác biệt giữa việc gửi thông điệp tới tương lai hay về quá khứ nằm ở chỗ Cooper ghi nhớ các sự kiện đã qua, bao gồm cả việc con gái anh giải mã các bức điện, vì điều này về mặt kỹ thuật đã xảy ra trong quá khứ của anh. Anh có thể liên lạc được với cô vì anh nhớ lại cảnh cô đang giải mã chúng. Do đó, khi gửi các bức điện này, anh viết chúng theo đúng những gì mình đã nhớ để cô có thể thông hiểu được.
Toán khảo cứu nhận định:
"Sự hiện diện của các vòng lặp thời gian khép kín có thể dẫn đến những hệ quả gây bàng hoàng, như việc vi phạm quy luật nhân quả hoặc việc thoát khỏi một lỗ đen."
Dịch giả lược ghi: Bài viết tập trung vào các giả thuyết vật lý mới nhất năm 2026 về khả năng truyền tin nghịch chiều thời gian dựa trên nền tảng cơ học lượng tử.
...Ngày ấy, chỉ biết yêu và tình yêu là màu hồng trải rộng cả không gian và thời gian. Cái đẹp thời đó như một chàng thư sinh được cô Tiên Nữ tỏ lòng mến mộ. Ôi, còn gì đẹp bằng, và tình yêu đó đã đem lại cho nhau những tuyệt vời, những mơ mộng và gom lại cho mình cả một không gian rộng mở cho tình của nhau, những tưởng trên thế gian này không có một cuộc tình nào đẹp như vậy.
Cái đẹp của tình yêu đã in sâu vào nhau, hai tâm hồn, hai trái tim đã gắn chặt vào nhau mà thời gian và không gian không còn cái nghĩa của phôi pha của quá khứ, của quên lãng.
Tuy, mỗi người một ngả, nhưng không phải đường ai nấy đi mà tình đã hài hòa trong cuộc sống, đã trân trọng trong Hạnh Phúc, đã đem sự yêu thương trong sáng vào đời sống tinh thần để cùng xây dựng cho nhau một cuộc đời đẹp nhất trong tình yêu riêng biệt của mỗi người...
Ánh mắt nhìn nhau để thấy mình đẹp cái đẹp chung cho mọi người, nhờ có nhau mà mình thấy mọi thứ đều đẹp, đều đáng trân trọng, đáng thương yêu, có lần chờ nhau ở bến phà Mỹ Thuận, một chuyến phà cập bến, 2 chuyến, 3 chuyến rồi 4 chuyến, chuyến nào anh cũng thấy đẹp, thấy có em, thấy có bóng dáng em và tất cả chỉ là em, toàn là em, nhưng rồi chuyến phà cuối không còn qua nữa, anh trở về lại Sài Gòn. “Vĩnh Long chờ, Sài Gòn anh cũng đợi” một lần đợi, một lần hẹn hò dù gặp nhau hay không cũng đều đẹp, bởi có em tất cả đều đẹp, đều dễ thương, và em cũng vậy.
Một lần mình cùng đến Long Xuyên khi đứng đợi phà Mỹ Thuận, có cô bé bán trái Ấu em cầm lên đưa cho anh. Lần đầu tiên anh mới biết trái Ấu. “Khi thương trái Ấu cũng tròn” đúng vậy em há. Nhìn trái Ấu không thể nào tròn được, nhưng có chúng mình, tất cả đều tròn, đều tình, đều yêu em nhỉ. Và tình yêu là gì? Hai đứa nhìn nhau ngơ ngác, ôm nhau sung sướng và hãnh diện trong thế giới của riêng mình. Phà cập bến mình nắm tay nhau bước lên phà. Chân em đẹp, gót chân em đẹp với đôi guốc trắng gọn gàng, đôi tà áo trắng nhẹ bay bởi làn gió mát rượi từ mặt sông Tiền dâng lên, anh thấy mình hạnh phúc vô cùng. Em cười anh cũng cười, đến bây giờ anh vẫn chưa quên nụ cười của em, nhẹ nhàng, dễ thương có sức quyến rủ và hấp dẫn....
Nguồn hình ảnh,Nguyễn Viện Chụp lại hình ảnh,Tác giả (trái) cùng nhà thơ Phạm Thiên Thư
Nhà thơ Phạm Thiên Thư (1940 – 2026) vừa qua đời vào chiều 7/5 tại Sài Gòn. "Những phương trời viễn mộng", nói theo cách của Tuệ Sĩ không chỉ cho Tô Đông Pha mà còn là một Phạm Thiên Thư của những "động hoa vàng", đã khép lại.
Những năm còn là sinh viên, tôi đã bắt gặp Phạm Thiên Thư trên Tập san Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Và tôi đã rất thích thơ ông bởi những mỹ từ như ngọc, lấp lánh thiền vị.
Rồi những ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc thơ ông như Ngày xưa Hoàng thị, Đưa em tìm động hoa vàng… đã làm cho tuổi trẻ chúng tôi thời ấy mê đắm và "ngủ quên" cuộc chiến tranh khốc liệt đang tung tóe trên khắp quê hương. Đặc biệt, 10 bài đạo ca cũng do Phạm Duy phổ nhạc thơ ông, càng khiến cho chúng tôi "viễn mộng" khỏi binh đao khói lửa.
Thời ấy, ở Đại học Vạn Hạnh có những tài năng trẻ như thầy Tuệ Sỹ, triết gia Phạm Công Thiện và nhà thơ Phạm Thiên Thư rất được Thượng tọa Viện trưởng Thích Minh Châu trọng vọng và công chúng yêu mến. Mỗi người một độc đáo khác cho đến tận bây giờ.
Sau 1975, cảm quan về nghệ thuật của tôi thay đổi. Không còn thích hoa mỹ, không còn thích thoát tục bởi thực tế cuộc sống quá khắc nghiệt. Cơm áo gạo tiền "không đùa với khách thơ". Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư ầm ĩ một thời trở thành vô vị.
Bản thân Phạm Thiên Thư cũng phải kiếm ăn với đầy những âm thanh hỗn độn của cuộc sống, bằng việc mở quán cà phê Hoa Vàng trong Cư xá Sĩ quan Chí Hòa cũ. Tại đây, ông còn hành nghề chữa bệnh.
Có một ngày tôi đến chỗ ông để nhờ chữa bệnh bao tử. Ông lấy một lọ dầu do chính ông bào chế, xoa xoa trên bụng tôi rồi bảo "xong rồi". Lúc về ông tặng tôi lọ dầu mà sau này tôi biết được ông sử dụng để chữa… bá bệnh.
Ông cũng tặng tôi mấy tập thơ, trong đó có tập Tự điển cười dày cả ngàn trang.
Một lần khác ngồi cà phê, Phạm Thiên Thư bảo: "Đau đâu rờ đấy, bệnh gì cũng khỏi."
Cũng vui thôi. Tôi quen nhà thơ Mai Trinh Đỗ Thị, vợ (cũ) của ông, trước khi quen ông. Và tôi cũng quen con trai ông, Phạm Thiên Văn, nữa.
Sinh thời, chị Mai Trinh Đỗ Thị hay ngồi nhậu ở 81 Trần Quốc Thảo cùng đám giang hồ văn nghệ. Mai Trinh và Thảo Phương là hai nhà thơ nữ vừa làm thơ hay vừa nhậu giỏi luôn có mặt. Những ngày ấy thật vui. Dân văn nghệ Sài Gòn chẳng ai là chưa từng lê la ở đó.
Trở lại với Phạm Thiên Thư. Có lần nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm, nhà văn Nguyễn Đức Minh rủ tôi cà phê. Anh Phạm Thiên Thư cũng có mặt. Tai ông nghễnh ngãng và ít nói hơn. Phạm Thiên Thư ngồi hiền lành như đất. Cái hình ảnh một nhà thơ tài hoa, một hành giả sâu sắc đã lặn sâu vào cõi tịnh.
Giữa một danh tiếng lẫy lừng với dòng thi ca hoa mỹ và lãng mạn còn hơn cả tiền chiến, một Phạm Thiên Thư còn lại trước mặt tôi lúc ấy chỉ là một ông già lắt lẻo:
Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành tâm mai
(thơ Phạm Thiên Thư)
Sương tụ rồi sương tan. Phạm Thiên Thư có đó rồi Phạm Thiên Thư trở thành hư vô. Nhưng những lời hát như Ngày xưa Hoàng thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này… tôi tin sẽ còn được hát rất lâu.
Với riêng tôi, Đạo ca 4 tức Quán Thế Âm mới chính là Phạm Thiên Thư bản lai diện mục.
Nhưng nếu nói về sự nghiệp của Phạm Thiên Thư thì không thể không nhắc đến cái kỳ công thi hóa Kinh Kim cang, cũng như trường ca Đoạn trường vô thanh (3.290 câu lục bát) đã được trao giải văn chương toàn quốc năm 1973 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Tình ca và đạo ca, hay nói cách khác, thi sĩ và đạo sĩ nơi Phạm Thiên Thư đã chan hòa làm một. Một phẩm chất mà sự hoa mỹ của ngôn từ không phàm tục hóa ngưỡng vọng giải thoát cái "tâm mai". Mà ngược lại, mĩ từ của Phạm Thiên Thư đã quyến rũ chúng sinh vào đại nguyện từ bi trong tục lụy và hóa thân độ lượng trong đại ngã.
Một nén tâm nhang cho Phạm Thiên Thư, cũng như cho những "động hoa vàng" đã khuất nẻo trong thời gian.
Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh sinh ngày 12 Tháng 06, năm 1942 tại Phan Thiết và mất ngày 13 Tháng 05, năm 2005 tại Orange County , Nam Cali. Hôm nay là đúng 21 năm NGÀY ANH ĐI (13/05./2005 - 13/.05/2026)
Ông là một Ca Nhạc Sĩ nổi tiếng trong làng Tân Nhạc Việt Nam trước năm 1975. Ngoài tài năng là một Ca Sĩ có giọng ca truyền cảm được khán thính giả khắp nơi yêu thích. Ông còn là một Nhạc Sĩ sáng tác nhiều nhạc phẩm rất giá trị. Đặc biệt là các bài hát viết LÍNH
Nhắc đến các nhạc phẩm về lính của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh có thể kể::Biển Mặn, Rừng Lá Thấp, Trên Đỉnh Mùa Đông, Anh Không Chết Đâu Anh, Đồn Vắng Chiều Xuân, Mùa Đông Của Anh, Tuyết Trắng, Hoa Trinh Nữ, Hàn Mặc Tử, Người Yêu Của Lính, Tạ Từ Trong Đêm, Không Bao Giờ Ngăn Cách, Anh Về Với Em, Lâu Đài Tình Ái, Tình Thư Của Lính, Mười Sáu Trăng Tròn,Chìều Trên Phá Tam Giang (phổ từ thơ Tô Thùy Yên)...
Theo tôi, một bài hát về Lính của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh là "NGÀY ANH ĐI", do Diên Hồng phát hành, kiểm duyệt số 3532, xuất bản ngày 04 tháng 12, năm 1964 đã được Quân Nhân VNCH và người yêu của lính rất ái mộ vào thập niên 1960.
Tuy nhiên, sau này nhạc phẩm NGÀY ANH ĐI ít được nhắc đến, ngay cả các trung tâm phát hành các chương trình văn nghệ ở hải ngoại, cũng như ít có ca sĩ nào hát nhạc phẩm này.
Xin mời Quý Anh Chi thưởng thức nhạc phẩm "NGÀY ANH ĐI", qua giọng hát đã từng là lính, để tưởng nhớ đến Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh và hồi tưởng những tháng ngày chinh chiến điêu linh.
Trần Đình Phước
(San José, California)
Ngày Anh Đi
Ngày anh đi, ngày anh đi. Mưa buồn giăng mắt sâu.
Ngày anh đi, ngày anh đi. Chiều trôi mây về đâu.
Phút chia tay muốn nói cho cạn sầu,
Phút chia tay muốn nói cho thật nhiều
Được bao nhiêu,được bao nhiêu, ân tình lúc phân kỳ.
Ngày anh di, ngày anh đi, Ai làm trăng vỡ đôi.
Ngày anh đi, ngày anh đi, phượng rơi, rơi ngàn lối.
Áo chinh nhân, ép cánh thư ngày nào,
Gửi cho nhau lúc mới quen lần đầu.
Ngày anh đi, Ngày anh đi, sông hồ in dáng em
Em có nhớ đêm trăng vàng mơ.
Anh khẽ nói, như trong truyện xưa.
Nếu anh là Quân vương, em sẽ là Hoàng hậu.
Nếu anh là trăng trong, em sẽ là lầu mộng.
Em có nhớ hôm xưa hen nhau.
Trên lối nắng, hai ta cùng mơ,
Nếu anh là chiến sĩ. Đi xây đắp tương lai
Em là người ở lại, phương này đợi chờ anh.
Giờ xa nhau. Giờ xa nhau, Trăng gầy soi bóng em,
Giờ xa nhau, Giờ xa nhau. Đường anh giăng mờ sương.
Trong bài viết của Trần Doãn Nho về “Nhạc Lính” đã ghi nhận: “Có khá nhiều tác giả viết về người lính: Y Vân, Trần Thiện Thanh, Nhật Ngân, Nguyễn Văn Đông, Lê Dinh, Anh Bằng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Huỳnh Anh, Phạm Thế Mỹ, Đinh Miên Vũ, Phạm Đình Chương, Tuấn Khanh, Lam Phương, Trúc Phương, Trầm Tử Thiêng, Nguyên Đàm, Nguyên Diệu, Phan Trần… Trong số đó, Trần Thiện Thanh là nhạc sĩ viết nhiều nhất…”. Còn có thêm Văn Giảng (Nguyên Đàm), Song Ngọc, Anh Thy, Duy Khánh, Mạnh Phát, Nhật Lệ, Hùng Cường, Mạc Phong Linh… hay Anh Việt Thu (cùng làm việc chung với Nhật Trường ở Phòng Văn Nghệ, Cục Tâm lý Chiến và Đài Phát thanh Quân Đội) nhưng chỉ có một vài bài.
Nói đến Nhật Trường Trần Thiện Thanh, liên tưởng đến nhạc lính và ngược lại. Sáng tác nhạc tình của Trần Thiện Thanh trong thời chinh chiến để làm thăng hoa hình ảnh người lính VNCH từ chiến trường đến hậu phương. Những ca khúc của anh không những in sâu vào tâm hồn người lính mà đi vào lòng mọi người từ thời binh lửa cho đến nay.
Trần Thiện Thanh sinh ngày 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết. Trưởng nam trong gia đình có 7 anh em. “Thật sự dòng họ Trần Thiện từ ông tổ gần là Trần Thiện Chánh (1822-1874), tài kiêm văn võ, cho tới thân phụ của Trần Thiện Thanh là Trần Thiện Hải nức tiếng khắp Phan Thiết là kẻ tài hoa, đủ đường ca hát, đóng kịch, soạn nhạc… cho nên ảnh hưởng tới con cháu như Nhật Trường là điều không ai phủ nhận…” (Hồ Đinh, bút hiệu Mường Giang, người bạn cùng thời tiểu học với Trần Thiện Thanh).
Ngoài bút hiệu Nhật Trường, thỉnh thoảng đề tên Anh Chương (tên trưởng nam của anh với các ca khúc của như Tuyết Trắng, Chân Trời Tím (phổ thơ Nguyễn Văn Hạnh), Hãy Trả Lời Em, Tâm Sự Người Lính Trẻ, Ngày Đầu Một Năm, Người Yêu Của Lính…). Sau nầy Trần Thiện Anh Chương ở Hoa Kỳ làm truyền thông với bút hiệu Thanh Toàn (Trần Thiện Thanh Toàn là chú ruột).
Anh cũng dùng bút hiệu Thanh Trân Trần Thị (tên con gái thứ nhì) qua một số nhạc phẩm khác như Chuyện Hẹn Hò, Phút Giao Mùa, Chuyện Lứa Đôi…
(Có một số bài hát nổi tiếng như Tình Đầu Tình Cuối, Tình Thiên Thu, Bắc Đẩu, Mầu Mũ Anh Mầu Áo Em, Tình Có Như Không… nhiều người nghĩ là của Trần Thiện Thanh, nhưng thật ra, đã được in với tên Trần Thiện Thanh Toàn, Thiếu Úy QLVNCH, em ruột Trần Thiện Thanh, hy sinh trên chiến trận khi còn trẻ. Ca khúc Trên Đỉnh Mùa Đông là sáng tác của hai anh em).
Theo lời người bạn Lê Hùng (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 341 Địa Phương Quân, tiểu khu Bình Tuy) học lớp Đệ Nhị cùng với Nhật Trường Trần Thiện Thanh ở trường trung học Ngô Đình Khôi niên khóa 1960-1961 ở Phan Thiết. Nhật Trường vừa là Trưởng Ban Văn Nghệ và cũng là cầu thủ (thủ môn) đội túc cầu của nhà trường.
Thân phụ Nhật Trường là Trần Thiện Hải, Trưởng Ty Thông Tin Bình Thuận, với môi trường đó qua chương trình phát thanh và văn nghệ cũng tạo thuận lợi cho Trần Thiện Thanh ca hát để giải trí. Trước đó, lúc còn nhỏ, Nhật Trường Trần Thiện Thanh (cũng như Song Ngọc ở Long Xuyên) đã tham gia trong Ban Văn Nghệ 860 của Bảo An Đoàn ở Bình Thuận, có Mỹ Thể, Nguyễn Hữu Sáng (em Nguyễn Hữu Thiết, gốc Quảng Trị, sinh tại Phan Thiết)…
Vì đam mê với kiếp cầm ca nên con đường học vấn bị dang dở và trong cái rủi có cái may khi rời quê nhà vào Sài Gòn để lập nghiệp… (Có vài bài viết cho biết năm 1958 Nhật Trường vào Sài Gòn lập nghiệp nhưng theo người bạn cho tôi biết cùng học với Trần Thiện Thanh ở Phan Thiết, sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp (1958), vào Sài Gòn học, thỉnh thoảng xuất hiện ca hát vào dịp cuối tuần ở Phan Thiết. Có lẽ vào Sài Gòn học vì chặng đường Sài Gòn – Phan Thiết khoảng hai trăm km, đi về dễ dàng vào thời điểm đó).
Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm anh và 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái), Vân Quỳnh và Diễm Chi. Băng nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi trình bày nhiều ca khúc về lính, được nhiều người ái mộ.
Góp mặt trong nền tân nhạc ở Sài Gòn qua các nhạc phẩm: Đừng Hỏi Tại Sao (1963), Anh Về Với Em (1964), Bảy Ngày Đợi Mong (1964), Đôi Ngã Đôi Ta (1964), Một Ngày Gần Đây (1964), Ngày Anh Đi (1964), Hàn Mặc Tử (1964), Đồn Vắng Chiều Xuân (1964), Không Bao Giờ Ngăn Cách (1964), Nỗi Lòng Thanh Trúc (1964), Từ Đó Em Buồn (1964), Tình Yêu Thứ Nhất (1965), Người Yêu Của Lính (1965), Tâm Sự Mộng Cầm (1965), Một Đời Yêu Anh (1965), Đời Còn Nhiều Gian Dối (1965)…
Nhật Trường Trần Thiện Thanh tuy chưa vào lính nhưng đã sáng tác vài ca khúc nổi tiếng như Anh Về Với Em, Ngày Anh Đi, Không Bao Giờ Ngăn Cách, Đồn Vắng Chiều Xuân… Và, ca khúc Người Yêu Của Lính gắn liền với tiếng hát Ngọc Minh. Trước khi vào lính, Nhật Trường xuất hiện trên sân khấu và truyền hình với quân phục VNCH.
Năm 1965 nhập ngũ, Hạ Sĩ Quan phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị. Đây cũng là môi trường của Trần Thiện Thanh khi “khoác áo treillis” sáng tác rất nhiều nhạc phẩm với các quân binh chủng Hải, Lục, Không Quân VNCH.
Đề cập đến nhạc lính như lời Trần Doãn Nho:
“Lính ở đây là lính VNCH. Trong suốt những tháng năm dài chinh chiến, người lính là hình ảnh nổi bật trong cuộc sống, gắn chặt với cuộc chiến, diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước. Gia đình nào, không ít thì nhiều, cũng đều có thân nhân nằm trong quân đội. Những thắng, bại trên chiến trường của người lính đều nhất nhất ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người. Và bi kịch của chiến tranh gắn liền với bi kịch cá nhân của từng người lính…
Nhạc lính, trước hết, nói về người lính, đã hẳn. Mà cũng là nói về chiến tranh. Về một xã hội vùng vẫy để tồn tại, để thích nghi với hoàn cảnh bom đạn. Và mơ ước. Những gian khổ, nhọc nhằn, vất vả, tiếc nuối, buồn chán, thất vọng, cay đắng, tủi nhục cùng với ước mơ – những gì vô cùng đời thường, vô cùng dân dã, tất cả đều được bày tỏ qua lời ca mà không cần phải sử dụng một ẩn dụ xa xôi nào. Do đó, khác với nhạc đỏ – thứ nhạc để chỉ nhạc Cộng Sản nói chung thường mang tính tuyên truyền – nhạc lính đầy tính cách nỗi niềm và mang tính nhân bản rõ nét.
… Đặc biệt, khác với nhạc đỏ, nhạc lính không nhằm gây căm thù. Không những thế, trong một số trường hợp, còn kêu gọi xóa bỏ căm thù, kêu gọi tình thương, kêu gọi hòa bình. Lời ca phần lớn và chủ yếu nói về nhiệm vụ, về lòng hăng say, sự hy sinh, ca ngợi sự chịu đựng gian khổ và lòng quả cảm của người lính. Và ngay cả khi đề cập đến cái chết anh hùng của những người sĩ quan chỉ huy trên chiến trường, ta cũng không hề thấy khêu gợi chút căm thù nào. Chỉ nói về cái chết, về sự hy sinh và nỗi tiếc thương…
Nhạc lính đồng thời cũng là nhạc tình. Cũng là nhạc quê hương. Nói về lính cũng chỉ để nói về tình. Mặt khác, trong một số bản tình ca thuần túy, hình ảnh người lính cũng hiện diện. Có lẽ vì đời lính, tự bản chất, chứa đựng sự xa cách, nhớ mong, niềm tuyệt vọng và bi kịch tình yêu…
… Trong khi còn chiến tranh, nhạc lính được hát như một bày tỏ nỗi lòng, có khi như một bù đắp, của những người khoác chiến y…”
(Trần Doãn Nho).
Từ giã mái trường, từ giã người yêu khi, chàng trai trẻ đáp tiếng gọi của non sông, với nghĩa vụ tòng quân:
“Ngày anh đi, ngày anh đi phượng rơi rơi ngàn lối
Áo chinh nhân ép cánh thư ngày nào
Gửi cho nhau lúc mới quen lần đầu
Ngày anh đi ngày anh đi sông hồ in dáng em
… Nếu anh là chiến sĩ đi xây đắp tương lai
Em là người ở lại muôn đời đợi chờ anh.”
Khi khoác áo chiến y, người yêu nơi hậu phương lúc nào cũng mong đợi lá thư từ đơn vị xa xôi nên dặn dò. Ca khúc “Nhớ Viết Thư Cho Em” qua tiếng hát của Lệ Thanh trên làn sóng phát thanh quá hay, nghe mà ngớ ngẩn, nghe mà ước mong có người yêu dễ thương như vậy để xoa dịu tâm hồn người lính:
“Nhớ viết thư cho em
mà bảo rằng dù xa cách đừng quên
Nhớ viết thư cho em
dù mực nhòe trên trang giấy trắng
Em biết đời phong sương
anh đã chôn dĩ vãng trong tim
Sống vui hiện tại và trọn đời anh cho tương lai
Nhớ viết thư cho em
để rạng ngời thêm trăng sáng nửa đêm
Nhớ hái đôi hoa sim đặt vào lòng tờ thư thương mến
Em muốn màu hoa sim
như màu yêu tím của đôi ta
Tím lên cuộc đời mà lòng ta thương mến nhau hoài”
(Trần Thiện Thanh & Mạnh Phát)
Ca khúc “Tình Thư Của Lính” thay cho lời tâm sự của người lính gởi cho người tình:
“Từ khi anh thôi học, và từ khi anh khoác áo treillis
Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây
… Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước đâu em.
Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình.
Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngaỵ
Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy”.
Ca khúc “Tâm Sự Người Lính Trẻ” của Trần Thiện Thanh chia sẻ nỗi niềm:
“Từ khi anh thôi học từ khi đôi lứa đôi đường
Từ sông ngăn núi trở tạ từ không nói nên lời
Từ khi gót sông hồ ngược xuôi ôi những đêm thật dài hồn nghe thương nhớ ai
Một năm tìm vui nơi quan tái chưa về một lần dù chỉ một lần thôi”.
Trong thời binh lửa, qua vài ca khúc trữ tình nầy, cảm nhận cuộc tình thật lãng mạn, dễ thương, quá đẹp khi xa nhau. Câu nói của Stefan Zweig “Dù cho biển cách núi ngăn, lòng hai ta cũng mãi không rời xa” đã thể hiện ở ca khúc Trần Thiện Thanh.
Bài thơ “Cần Thiết” của Nguyên Sa đã một thời thay cho lá thư tình của tuổi học trò:
“Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa”
Thì ca khúc của Trần Thiện Thanh chia sẻ hình ảnh giữa người lính với người yêu sự “cần thiết” đó thật đáng yêu:
“Nếu em không là người yêu của lính
Em sẽ nhớ ai Chủ Nhật trời xinh
Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
Và giữa chốn muôn trùng
Ai viết tên em lên tay súng.
Nếu em không là người yêu của lính
Ai sẽ nhớ em chiều dừng hành quân
Ai khẽ nhắc tên em muôn nghìn lần
Để thấy cánh sao gần
Không đẹp bằng hồ mắt giai nhân”
(Người Yêu Của Lính)
Người lính khó giữ đúng hẹn hò vì có khi vào giờ phút cuối phải thi hành nhiệm vụ của đơn vị đảm trách. Trong tình yêu phải có sự cảm thông cho nhau nên:
“Anh hẹn em cuối tuần
Chờ anh nơi cuối phố
Biết anh thích màu trời
Em đã bồi hồi chọn màu áo xanh”
Thế rồi qua 7 ngày đợi mong, không gặp người tình và cuối cùng:
“Chiều Thứ Bảy mưa rơi
Ai bảo anh lại tới
Ai bảo anh xin lỗi
Ai bảo anh nhiều lời cho mắt em lệ rơi”
(Bảy Ngày Đợi Mong)
Lời trách yêu đó thật nhẹ nhàng, “lệ rơi” khi gặp nhau mà không cần xin lỗi, không cần nhiều lời… Lời ca đó dành cho người thưởng thức cảm nhận.
Những người lính Mỹ (GI) tham chiến ở chiến trường VN, thường viết trên nón sắt “When I die I will go to heaven because I live in hell” (Khi tôi chết sẽ lên thiên đàng vì tôi sống trong địa ngục) như “than thân trách phận” nhưng với Trần Thiện Thanh thì ngược lại:
“Viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu
Đêm quân hành dừng chân đồi hoa tím
Nhớ xưa đôi mình hẹn nhau mà sao sáng
Đâu bằng đôi mắt em…
Áo anh nhuộm phong sương nhưng quê hương đẹp ý
Lối trăng đầy tình em còn soi sáng
Sẽ không bao giờ
Không bao giờ ngăn cách đâu em”
(Không bao Giờ Ngăn Cách)
Chỉ có người lính nhớ người yêu mới viết tên trên ba lô, tâm hồn lãng mạn của người lính làm đẹp chân dung người tình trong cơn binh lửa.
Nhạc phẩm “Màu Mũ Anh Màu Áo Em”, Trần Thiện Thanh phác họa chân dung người lính của các binh chủng với người yêu:
“Khi em đã yêu anh chàng lính Thuỷ Quân Lục Chiến
Bạc màu áo trận, bạc luôn cả chiếc mũ xanh
Khi em đã yêu anh chàng áo rằn sọc ngang
Màu áo xanh rừng em nhớ mang.
Hay em đã yêu anh chàng lính Dù là anh
Dù tung giữa trời và địa cầu dâng đất lên
Khi em biết yêu thiên thần mũ đỏ dù hoa
Màu áo bông hồng em nhớ cho…
Khi em dám yêu anh bộ binh nghèo là anh
Thì màu áo vàng là màu tình duyên đó anh
Xin cho tháng năm không làm phai màu tình yêu
Màu mũ anh và màu áo em
Khi em đã yêu anh chàng lính biển là anh
Tầu đi bến nào còn tình thì qua bến nao
Khi em đã yêu anh chàng lính Hải Quân hào hoa
Màu trắng mây trời trên áo em.
Hay em đã yêu anh chàng lính Biệt Động Quân
Mà rừng núi sình lầy nào còn vương gót anh
Khi em đã yêu trên trời núi thẳm rừng sâu
Màu mũ nâu là màu áo em”
Để tưởng nhớ và tri ân những người con thân yêu của tổ quốc khi dấn thân trong binh nghiệp bảo vệ lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Thân xác không còn nhưng qua các ca khúc của Trần Thiện Thanh luôn gợi lại hình ảnh bi hùng, cao cả trong trái tim mọi người.
Hình ảnh hào hùng của cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương của binh chủng Nhảy Dù hy sinh trong cuộc chiến qua ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh” của Trần Thiện Thanh góp phần hình ảnh cao đẹp trong Quân Sử VNCH.
Phan Nhật Nam tường thuật lại:
“… Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, tháng Hai, 1971.. Đại quân Miền Nam gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn I Thiết Kỵ, và Liên Đoàn I Biệt Động Quân cùng vượt biên giới Lào-Việt tiến đánh vùng hậu cần Tchépone của cộng sản Bắc Việt trên đất Lào. Lữ Đoàn 3 Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, và 8 giữ mặt Bắc của trục tiến quân. Vị trí Đồi 31 của Tiểu Đoàn 3 Dù được Pháo Đội B3 Pháo Binh Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Đương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Động Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Dù bị công phá.. Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Đồi 31 giữa vòng vây của một sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). Ngày 25/2, Đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ và toàn ban tham mưu lữ đoàn đồng bị bắt, căn cứ chỉ còn khẩu pháo cuối cùng, Đại Úy Đương hạ ngang nòng bắn thẳng vào toán quân cộng sản theo xe tăng T54 ào lên đồi chiếm mục tiêu, và ông gục ngã với khẩu pháo cuối cùng bị phá hủy…”
Trong cuốn hồi ký “Một Cánh Hoa Dù” của Thiếu Tá Trương Dưỡng đã kể lại thời điểm căn cứ hỏa lực 31 Hạ Lào (cao điểm 456) vào 6 giờ 30 phút ngày 25 tháng 2 năm 1971, như sau:
“Ngay chiều hôm đó đồi 31 bị tràn ngập, tôi nghe tiếng Nguyễn Quốc Trụ, bạn cùng khóa, gọi Kiệt bên căn cứ A-Lưới là: “Xe tăng Việt Cộng đang trên hầm chỉ huy, mầy nói pháo binh bắn lên đầu tao, chờ tụi nó xuống tao sẽ tự tử, vĩnh biệt mầy, Kiệt ơi.” Căn cứ hỏa lực 31 thất thủ, bên trong gồm Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, BCH Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh, Pháo Đội 33 của Nguyễn Văn Đương…”. Và, người hùng Pháo Đội Trưởng Nguyễn Văn Đương chấp nhận hy sinh để khỏi lọt vào tay Cộng quân.
Trần Thiện Thanh viết lên lời ca vô cùng xúc động:
“Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương
Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đếm mau
Và tiếng súng tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi…
… Ôi đất mát trên đồi xanh tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Đâu cánh dù ôm gió, đây cánh dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu
Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh
Không, anh không, anh không chết đâu em, anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua
Tôi thấy mắt anh bên ngọn nến vàng hắt hiu niềm nhớ
Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái ân
Giọt nước mắt nóng bây giờ và còn hằng đêm cho anh cho anh …”
Ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh” là một trong những ca khúc được trình bày trong một bộ phim truyền hình có tên là “Trên Đỉnh Mùa Đông” do Trần Thiện Thanh làm đạo diễn, ra mắt vào năm 1972.
Trong bộ phim này, còn nhiều ca khúc bất hủ nữa của Trần Thiện Thanh cũng được hát: Trên Đỉnh Mùa Đông, Mùa Đông Của Anh, Chiều Trên Phá Tam Giang… Cuốn phim đã làm rơi lệ của biết bao nhiêu khán giả, đã mô tả được phần nào cái chết bi hùng của Đại Úy Nguyễn Văn Đương tại chiến trường Hạ Lào, trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719.
Đồi Charlie với cao độ 900 mét, Tây Bắc tỉnh Kon Tum, một cứ điểm quân sự để kiểm soát cả một vùng rộng lớn ngã ba Đông Dương… Địa danh này nổi tiếng với nhiều trận giao chiến khốc liệt giữa Quân Lực VNCH và đồng minh Hoa Kỳ với Cộng quân.
Ngày 25 tháng 3 năm 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù được trực thăng vận bốc vào vùng hành quân. Đơn vị thiện chiến nầy nhảy ngay trên đầu địch làm cho chúng bất ngờ và nhiều trăm tên bị tan xác tại đây, lúc này cuộc hành quân đang đi vào giai đoạn chót. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo cùng Đại Đội chỉ huy và Đại Đội 110 trấn giữ ngọn đồi, 3 Đại Đội còn lại đóng chung quanh ngọn đồi. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn Nhảy Dù đóng ở xa vài chục cây số để yểm trợ.
Cộng quân dốc toàn bộ toàn bộ pháo kích vào Charlie thật nặng, mỗi ngày hàng ngàn quả đại bác 130 ly, 122 ly và cả hỏa tiễn 122 ly…
Cộng quân gia tăng quân số dù hàng ngàn cán binh trẻ từ miền Bắc đã bị nướng thiêu trong bom đạn nhưng họ vẫn ngông cuồng thí quân bao vây ngọn đồi Charlie. Dùng trận đánh “biển người” này, hầm chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã lãnh trọn 1 trái đạn pháo 130 ly và anh đã hy sinh! Sau 4 ngày đêm chiến đấu, ngọn đồi Charlie đã bị mất, cộng quân tràn ngập. Xác chết của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tuy đã gói trong 3 lớp vải dù poncho nằm lại ở giao thông hào mà cũng bị bom đạn của quân ta trút xuống đánh bật Cộng quân, cày nát xác thân anh. Charlie đã tan tành, chung quanh chỉ là khói tro quyện với thây người chết của cả hai bên.
Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Charlie ngày 12 tháng 4 năm 1972 khi vừa đúng 35 tuổi.
Ca khúc “Người Ở Lại Charlie” của Trần Thiện Thanh, một trong những ca khúc được nhiều người ngưỡng mộ với người chiến sĩ VNCH:
“Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie
Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí
Vâng, chính anh là ngôi sao mới
Một lần này chợt sáng trưng
Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng…
Ngày anh đi, anh đi anh đi từ tổ ấm
Anh ơi, địa danh nào thiếu dấu chân anh?…
Toumorong, Dakto, Krek, Snoul
Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu
Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành…
Xin một lần thôi, một lần thôi
Vẫy tay tạ từ Charlie
Xin một lần nữa, một lần nữa
Vẫy tay chào buồn anh đi”.
Với binh chủng Thiết Giáp, nhạc phẩm “Bắc Đẩu” của Trần Thiện Thanh và Trần Thiện Thanh Toàn ghi: Tặng anh hùng mũ đen Bắc Đẩu Nguyễn Ngoc Bích”. Cố Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích, Chi Đoàn Trưởng CĐ 2, Thiết Đoàn 18:
“Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu
Lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
Một tối chớm hè đạn pháo chuyển mưa
Cây Cầu Ga nhỏ anh qua, anh qua…
Xin muôn năm như vì sao sáng đó
Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ
Dậy đi Bắc Đẩu, dậy đi Bắc Đẩu
Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu…
Người tên Bắc Đẩu chết trận La Vang
Liệm xác ba lần Ngọc bích cũng tan
Chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi”
Danh hiệu Bắc Đẩu là đặt lệnh truyền tin của anh Nguyễn Ngọc Bích. Trường hợp Trần Thiện Thanh sáng tác ca khúc nầy theo lời kể của anh Lê Văn Mạnh (Thiếu Tá kỵ binh) cho biết, trong buổi gặp nhau ở quán nhậu tại Sài Gòn, Trần Thiện Thanh thấy hai vị Thiếu Tá kỵ binh Trần Hữu Thành và Lê Văn Nho ngồi uống beer với nhau, hai người nhưng có 3 ly, mỗi khi uống rót beer vào 3 ly rồi thay phiên nhau uống ly beer người vắng mặt. Trần Thiện Thanh thấy lạ nên đến hỏi cho biết “sự tình”. Khi ở chung đơn vị, 3 anh em thường có nhau, nay một người đã mất, để tưởng nhớ người bạn không còn nhau nữa nên lúc nào cũng vậy. Cảm tính tình chiến hữu với nhau nên ca khúc “Bắc Đẩu” hình thành…
Ca khúc Rừng Lá Thấp, Trần Thiện Thanh viết cho người bạn cùng quê ở Phan Thiết, Đại Úy Vũ Mạnh Hùng trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, đã hy sinh khi chận quân địch tại Hàng Xanh, Cầu Bình Lợi trong trận Mậu Thân!
Đại Úy phi công Trần Thế Vinh, đã vị quốc vong thân trên vùng trời Trị Thiên ngày 9 tháng 4 năm 1972. Ca khúc “Bay Lên Cao Đi Anh” của Trần Thiện Thanh không than khóc, ủy mị mà vẽ lên nét hào hùng chiến sĩ Không Quân:
“… Cao bay lên cao, bay lên cao đi anh
Như trong kỷ niệm, anh đạp gió xé mây trôi
Cao bay lên cao, bay lên cao đi anh
Xin linh hồn anh, lên trời cao bay thật mau
Xin cho cao thêm cho thêm lên cao lên
Cao câu nguyện cầu cho tuổi trẻ sớm đi xa
Xin cho cao lên cho cao lên cao lên
Hãy ngước nhìn không gian Việt Nam cao diệu vợi
… Bay lên bay lên cao đi anh
Mang theo hào hùng cho cuồng bão biết xôn xao
Bay lên bay lên cao, bay lên cao đi anh
Thế giới chìm sâu anh vừa qua còn mộng du
Cao bay lên, cao bay lên cao, đi anh
Xin linh hồn anh lên thật cao lên thật nhanh”
Với Không Quân và Hải Quân, Trần Thiện Thanh tô đẹp biết bao hình ảnh của quân chủng nầy. Ca khúc Tuyết Trắng, Trần Thiện Thanh dùng hình ảnh mây trời như tuyết, quá tuyệt:
“Đây áo bay màu xanh xanh như tình ái
Thắt lại khăn ấm chính em đan
Khi gió quay cuồng sau cánh bay
Con tàu thét gầm cho tim ngất ngây
Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên…
Ngả nghiêng cánh chim con tàu sẽ rời, rời xa thành phố rồi
Vượt cao vút cao mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần
Tuyết ơi xin nhuộm trắng trong tâm hồn em gái nhỏ tôi thương.
Khi nắng chiều đi không gian chợt tối
Xóa nhòa vùng tuyết trắng mông mênh
Anh ước sao tình mình như tuyết trinh
Cho dù chúng mình không gian cách ngăn
Cho dù tuyết trắng đã chìm trong màn đêm”.
Nhạc phẩm Hoa Biển của Trần Thiện Thanh và Anh Thy, đại lễ và quân phục của quân chủng, thủy thủ màu trắng, sóng biển màu trắng… tất cả đều là màu trắng giữa đại dương, màu hoa biển:
“… Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm em ơi tình mình trắng như hoa đại dương
Trùng khơi nổi gió lênh đênh triền sóng thấy lung linh rừng hoa
Màu hoa thật trắng, ôi hoa nở thắm ngất ngây lòng thêm
Vượt bao hải lý chưa nghe vừa ý, lắc lư con tàu đi
Chỉ thấy bọt nước, tan theo ngọn sóng dáng hoa kia mịt mùng
Biển khơi không mang hoa màu trắng
Tàu anh xa xôi chưa tìm bến
Nên em còn hờn, nên em còn buồn sao chưa thấy anh sang
Em ơi giận hờn, xin như hoa sóng tan trong đại dương”
Ngoài ra, Trần Thiện Thanh còn sáng tác Sư Đoàn I Bộ Binh VNCH Hành Khúc cho đơn vị nầy trấn đóng ở vùng giới tuyến.
“Đây Sư Đoàn 1, đây Sư Đoàn Giới Tuyến
Chiến Sĩ Tiền Phong nơi tuyến đầu Việt Nam
Lam Sơn oai hùng, tay xây đài chiến thắng
Súng thép đập tan quân Bắc phương hung tàn…
Quân Dân chung lòng, vang câu hò chiến thắng
Chiến thắng lừng danh, cao ngất như Trường Sơn
Gian nguy coi thường, ta kiên cường chiến đấu
Quyết chí đập tan quân Bắc phương ngông cuồng”.
Trong tâm hồn lãng mạn, đa tình của ca sĩ và nhạc sĩ, Nhật Trường Trần Thiện Thanh có nhiều hệ lụy với cuộc tình. Ngay thời còn đi học, có phải cô nữ sinh (Nhường) là mối tình đầu? và, tiếp đó cô nữ sinh Hồ Mỵ Châu, đẹp nổi tiếng ở Chợ Lầu cùng chàng trai trong mối tình ở trường Ngô Đình Khôi… chỉ là bóng mây.
Bài viết Những Bài Hát Của Một Thời Binh Lửa của Phạm Tín An Ninh ghi lại mẩu chuyện: “Sau mùa hè 1972, đơn vị tôi từ chiến trường Kontum được chuyển về dưỡng quân một tháng tại hậu cứ Sông Mao, Phan Thiết. Trong một đêm văn nghệ do tỉnh Bình Thuận tổ chức ủy lạo chiến sĩ, bất ngờ có sự tham gia của ca sĩ Nhật Trường nhân dịp anh từ Sài Gòn về thăm quê (quê anh ở Phan Thiết). Lúc ấy anh còn trẻ, đẹp trai và hoạt bát. Anh ngồi chung bàn với tôi. Trong lúc tâm tình, khi nghe tôi nói là ngày mai sẽ về thăm vợ ở Ninh Hòa, anh tròn mắt nhìn tôi rồi ghé vào tai tôi nói nhỏ, có một thời anh đã say mê một cô gái Ninh Hòa. Sau đó anh lên sân khấu hát tặng tôi bài Mùa Đông Của Anh, và nhờ tôi chuyển đến cô gái Ninh Hòa nào đó hai câu:
... Xưa hôn em một lần mà đau thương tràn lấp…
Anh yêu em một ngày rồi xa em trọn kiếp…”
Và, trong tình trường, không phải lúc nào cũng toại nguyện, có khi mang lại nỗi đau mà nhạc sĩ tỏ bày trong “Hoa Trinh Nữ” như: “Tôi chỉ là người lính phong trần. Thấy hoa nhớ người yêu rất xa” mà một thời dư luận cho rằng tác giả yêu nàng ca sĩ nhưng nàng chắp cánh với “ông hoàng” ở cao nguyên.
Trên trang mạng traixuviet.wordpress.com ghi lại cuộc tình và cuối đời của Trần Thiện Thanh:
“… Người vợ đầu tiên của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh thành hôn với ông tại Phan Thiết khi ông chưa đầy 20 tuổi, trước khi hai người cùng vào Sài Gòn sau đó. Chị Trần Thị Liên và ông có với nhau 4 người con, 2 trai, 2 gái là Anh Chương, Thanh Trân, Thanh Trúc và Anh Châu. Tuy nhiên hai người đã chia tay nhau một thời gian trước biến cố tháng 4 năm 75.
Trong thời gian còn ở lại Việt Nam sau năm 75, khi thường đi trình diễn chui ở các tỉnh miền Nam, Nhật Trường sống chung với Kim Dung, trước đó cũng là một ca sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.
Gần gũi nhau trong những lần diễn với nhiều khó khăn đó, họ đã trở thành vợ chồng và vài năm sau hai người có với nhau một con trai tên Anh Chính, (sau nầy theo Nhật Trường sống chung với Mỹ Lan ở Nam California). Nhưng cuộc sống vợ chồng giữa Kim Dung và Nhật Trường cuối cùng cũng đã đi đến đổ vỡ. Và người vợ thứ hai của ông hiện cũng đã có gia đình khác ở Việt Nam.
Vào năm 1993, Nhật Trường Trần Thiện Thanh rời Việt Nam sang Hoa Kỳ theo diện “fiancé” do nữ ký giả Nam Trân bảo lãnh. Tuy nhiên sau đó, lục đục xẩy ra giữa hai người nên tình trạng của Trần Thiện Thanh không được hợp thức hoá theo diện di trú, cho đến khi được người con trai trưởng của ông là Anh Chương, qua Mỹ trước đó và đã có quốc tịch Hoa Kỳ, đứng đơn bảo lãnh.
Tuy vậy tình trạng cư trú của ông vẫn chưa được chấp nhận. Phải đợi mãi cho đến ngày 12 tháng 5 năm 2004, tức 6 tháng trước khi phát hiện ra bệnh ung thư phổi và 1 năm trước khi mất, ông mới bất ngờ nhận được “green card” để có thể đi trình diễn ngoài nước Mỹ.
… Nhật Trường và Mỹ Lan trước khi ra hải ngoại cũng đã biết nhau qua những lần cùng đi diễn ở các tỉnh ở miền tây. Thời đó Mỹ Lan còn là một vũ công thường theo các đoàn hát đi lưu diễn đó đây trong những năm 76, 77. Tuy nhiên giữa hai người chẳng hề có một ấn tượng nào về mặt tình cảm.
Nhưng định mệnh đã đưa đẩy họ đến gần nhau vào năm 1993. Đó là năm Nhật Trường sang Mỹ và cư ngụ tại Nam California vào tháng 3…
… Sau mười mấy năm không hề liên lạc, lần đầu tiên Nhật Trường và Mỹ Lan gặp lại nhau trên đất Mỹ vào ngày 29 tháng 5 năm 1993 trong một chương trình đại nhạc hội do cố ca nhạc sĩ Duy Khánh tổ chức tại Seattle, tiểu bang Washingon. Trước đó, mỗi người có một đời sống gia đình riêng tư phải lo lắng.
… Và từ khoảng giữa thập niên 90, người ta thường thấy tên tuổi Nhật Trường – Mỹ Lan xuất hiện tại các chương trình nhạc hội tổ chức tại nhiều nơi trên đất Mỹ cũng như trong những buổi văn nghệ có tính cách cộng đồng hay từ thiện.
… Mãi đến năm 1985, Mỹ Lan mới bước chân vào con đường đi hát chuyên nghiệp. Đến năm 86, chị bắt đầu được biết đến tên tuổi. Và đến thời kỳ được nhiều người chú ý thì Mỹ Lan cùng chồng con được hai chị Mỹ Hoa và Mỹ Phương bảo lãnh sang Canada. sau khi mẹ và một chị khác là Mỹ Vân đã được bảo lãnh qua đây từ trước. Họ cùng đoàn tụ tại thành phố Montreal vào năm 1988.
Vài năm sau khi cư ngụ tại thành phố này, cuộc hôn nhân giữa Mỹ Lan và người chồng đầu tiên đi đến đổ vỡ sau khi có với nhau 2 con trai…
Sau 12 năm sống với Nhật Trường Trần Thiện Thanh, từ năm 1993 đến khi ông qua đời vì bệnh ung thư phổi (1 giờ5 phút trưa ngày 13 tháng 5 năm 2005, Nhật Trường Trần Thiện Thanh trút hơi thở cuối cùng)
Với Mỹ Lan, ông có được cháu trai Trần Thiện Anh Chí. Ngoài ra đứa con trai tên Anh Chính với người vợ thứ nhì là Kim Dung cũng ở cùng với ông và Mỹ Lan (lúc mới 8 tuổi).
… Sau khi Nhật Trường Trần Thiện Thanh nằm xuống, dĩ nhiên không ít thì nhiều đã xẩy ra những tranh chấp giữa những người con của người vợ đầu tiên, đặc biệt là người con trai cả của ông với người vợ cuối đời của ông. Đó là những gì đã xẩy ra mà Trần Thiện Thanh đã biết trước.
Tuy nhiên theo Mỹ Lan, chị cho biết nếu những người con của ông làm được những điều chị muốn làm cho Trần Thiện Thanh thì chị sẽ sẵn sàng hợp tác trong việc duy trì và phổ biến những tác phẩm của ông. Nhưng dù thế nào, Mỹ Lan vẫn tiếp tục theo đuổi con đường của mình. Những gì chị đã, đang và sẽ làm, Mỹ Lan cho là đúng và nếu những người con của Nhật Trường Trần Thiện Thanh muốn hợp tác trong cùng mục đích như vậy là một điều rất tốt”.
Ngày 29 tháng 5 năm 2014 Thanh Toàn (TTAC) qua đời tại Texas. Thật ra, khi Trần Thiện Thanh qua đời, vấn đề tranh chấp nhà cửa và bản quyền không có gì trầm trọng vì tình nghệ sĩ trong gia đình với nhau, dành cho đứa con thơ là Trần Thiện Anh Chí và Mỹ Lan là người giám hộ. Thế nhưng có vài tờ báo xé chuyện nầy ra to, làm đau lòng người quá cố! Tuy trải qua 3 đời vợ nhưng Trần Thiện Thanh có tình thần trách nhiệm và quan tâm đến những người con.
Với tài hoa sáng tác của Trần Thiện Thanh, có nhiều bài viết, ca khúc “Trần Thiện Thanh, Dòng Nhạc Một Thời Chinh Chiến” của Thụy Long với lời ca, vinh danh người nằm xuống:
“Xin cám ơn anh, một thời chinh chiến
Tay ôm đàn, ôm súng viết tình ca
Tầm đạn bay xuyên qua từng nốt nhạc
Những trận hành quân để biết nhớ nhà…
Cám ơn anh, cám ơn anh gót giày saut áo trận
Mang vào đời những dấu vết yêu thương
Giọt mồ hôi mặn mà thêm thân phận
Tiếng hát anh làm rung động cả chiến trường.
Những khúc tình ca một thời chinh chiến
Anh viết cho người góa phụ ngây thơ
Cho bà mẹ già chờ tin chiến tuyến
Chưa thấy con về, chưa thấy con về mắt đỏ bơ vơ…”.
Nếu cho rằng sử thi là dòng thơ ghi chép lại giai đoạn lịch sử nào đó thì những ca khúc của Trần Thiện Thanh, có thể nói lời ca của mỗi ca khúc là mỗi bài thơ được bay bổng theo giai điệu của nhạc phẩm qua cung bậc… gom lại thành sử thi của thời chinh chiến.
Khoảng hai trăm ca khúc của Trần Thiện Thanh, có một phần ba mang theo hình ảnh người lính, người yêu của lính khi yêu nhau, lúc nhỏ lệ dưới vành khăn tang.
Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã trở về với cát bụi nhưng tiếng hát và nhạc phẩm của anh vẫn tỏa sáng nơi xứ người. Với người lính năm xưa, nhạc và lời của anh vẫn còn vang vọng, bay bổng trong cánh dù, thấp thoáng giữa mây trời, tuyết trắng, bồng bềnh cùng hoa biển với đại dương. Anh là người thiên cổ nhưng “anh không chết đâu anh”: Nhật Trường Trần Thiện Thanh.