Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2022

Có Một Người


Câu chuyện tưởng chừng như một đoạn phim hay, hoặc một đoạn văn hư cấu hấp dẫn của một nhà viết tiểu thuyết. Nhưng không. Đây là một chuyện thật I00%. Cả nước Pháp, từ trí thức đến bình dân, đều biết. Trong nước, ngoài nước - đều biết.

Có Một Người,

Bị tình phụ, vợ bỏ theo trai - theo một thằng nhóc tì 15 tuổi, học trò của mình và tuổi đáng con mình - bỏ lại mái ấm gia đình hạnh phúc với ba con và một ông chồng có địa vị, hiền lành đứng đắn, rất mực yêu vợ, thương con. Trước cảnh ngộ đau lòng vợ bỏ ông ra đi theo tình nhân mới mà ông không một lời oán trách, cũng không lên tiếng phàn nàn ồn ào, nói xấu vợ minh như thường tình thiên hạ mà âm thầm, lặng lẽ chịu đựng, nhẫn nhục hy sinh cho vợ được hạnh phúc trọn vẹn trong tình yêu mới. Sự nhẫn nhục phi thường nầy đã làm nên tên tuổi ông. Thói thường, người ta hay có cái nhìn hướng ngoại, nhìn người khác mà phê phán, nhưng ít ai quay lại nhìn chính mình để tìm hiểu khuyết điểm của minh. “Người nầy” khác hẳn người khác, quay lại nhìn mình trước tiên, tìm xem minh có những khuyết điểm gì? Có phải vì mãi lo sự nghiệp mà lơ là, thiếu sự âu yếm thương yêu, thiếu sự chăm sóc chiều chuộng vợ để vợ mình phải đi tìm tình yêu mới. Nghĩ là lỗi tại minh nên ông tự sửa làm một người chồng thật tốt, khắc phục mọi khuyết điểm, để mong vợ trở về sống hạnh phúc với ba con. Nhưng vô vọng.

Alfred de Musset & George Sand

Những cuộc tình éo le, ngang trái nầy không phải chỉ “CÓ MỘT NGƯỜI” mà dẫy đầy trong văn học Pháp cũng như Việt Nam. Lấy một thí dụ điển hình: * Alfred de Musset: Đêm tháng năm( Nuit de Mai) - đêm đau đớn nhứt đời ông vì nữ sĩ Amantine Aurore Lucile Dupin (tức George Sand) đã từ giả ông sau những ngày tận hưởng hạnh phúc lãng mạn, yêu đương nồng cháy, tắm nắng thi ca, lặn hụp trong biển tình ân ái. Trên đời có gì đau khổ hơn bị người yêu cắm sừng trên đầu, rồi ôm cầm sang thuyền khác. Nhà thơ Alfred de Musset thể chất vốn yếu đuối,“tiên thiên bất túc”, đau khổ rên rỉ khóc than như điên dại, loạng choạng bước đi trong bóng đêm tháng năm (Nuit de Mai) - đêm của sự đau khổ chia ly pha lẫn với nỗi buồn cô độc, của nước mắt khổ đau rơi xuống cõi lòng tan nát và những ngày hạnh phúc yêu đương đã xa rồi và bị thay thế bằng sự trống vắng cô đơn đang dày xéo tâm hồn.

Đang đau khổ cùng tột, bỗng có tiếng gọi từ cõi xa xăm vọng lại như tiếng gọi thiêng liêng của người chị an ủi vỗ về, tiếng thì thầm tình tự của người yêu chia sẻ: Hãy đứng dậy, gào thét lên tiếng kêu tuyệt vọng! Đừng làm con đà điểu gục đầu rên rỉ khóc than. Không gì làm chúng ta vĩ đại bằng sự đau khổ. “Rien ne nous si grands qu’une douleur” Đó là tiếng gọi của nàng Muse ( Nàng thơ) đã giúp chàng thi sĩ đang ở trạng thái cùng cực của sự đau khổ mà đứng dậy dựa vào đau khổ để biến nó thành những câu thơ bất hủ: 
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux 
J’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots 
(Alfred de Musset)

Và ngày nay thơ không chỉ giúp cho nhà thơ vượt qua nỗi khổ đau khi bị tình phụ như Alfred de Musset hay dằng dặc buồn thương tiếc nuối như T.T Kh, yêu thầm trộm nhớ như Félix Arvers – mà thơ ngày nay từ 45-54 trở về sau): "Thơ là chiếc nạng vững chắc cho người già, là chỗ dựa cho người thất thế, từ đó đứng lên làm lại cuộc đời"(Nguyễn mộng Giác giới thiệu Tạp chí Khoa Hữu). Phùng Quán cũng lên tiếng “ Có những phút ngã lòng, ta hãy vịn câu thơ mà đứng dậy”. Và từ đó, những nhà thi sĩ, trong những giây phút ngã lòng, hoặc khi bị thất thế, bị tù ngục, đều lấy câu thơ làm chiếc nạng hay dựa vào câu thơ mà đứng dậy như Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn chí Thiện, Phùng Cung, Phùng Quán v.v…

Hãy trở về “Có một Người” - dù trên đầu đã mọc lên cái sừng to tướng, dù trái tim còn ri rỉ máu nhưng vẫn âm thầm. im lặng chịu đựng với sự nhẫn nhục phi thường. Vết thương lòng hằn sâu tận xương tủy nhưng ông lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, nên sau khi ly dị bà Brigitte, ông rời Amiens và chọn cách sống ẩn dật tại một vùng ngoại ô Paris và ít xuất hiện dù là những buổi tiệc gia đình với các con (Web Hoa xương rồng).

(Tổng Thống Emmanuel Macron và vợ: Bà Brigitte Trogneux)

Ngày lễ đăng quang vị Tổng Thống đẹp trai, tài năng, trẻ tuổi nhất nước Pháp với 21 phát súng thần công, với trên 500 quan khách tham dự gồm những nhân vật tâm tiếng như cựu Tổng Thống Francois Hollande, Tổng Thống Nicolas Sarkozy và các nhà tai mắt đại diện cho tầng lớp dân chúng Pháp. Tổng Thống E. Macron không muốn làm ồn ào tốn hao công quỷ mà chỉ thực hiện các thủ tục thật giản dị tại điện Élysée. Dù vậy, cũng không thể thiếu những cuộc duyệt binh trong khuôn viên điện Elysée, đội quân nhạc cử hành bản “ La Marseillaise” hùng hồn vang dội một góc trời. Đây là ngày toàn dân Pháp reo hò ăn mừng có vị Tổng Thống mới tài năng trẻ tuổi nhứt nước Pháp. Tổng Thống E. Macron đọc một bài diễn văn ngắn gọn, đầy ấn tượng, chào mừng các quan khách và dân chúng với chương trình ông sẽ làm cho dân nước Pháp.

Trong khi nhiều thành phố dân chúng tổ chức reo mừng, lễ đăng quang rộn ràng lời chúc tụng, nhạc quốc ca hùng hồn vang dội một góc trời thì “ CÓ MỘT NGƯỜI” buồn ủ rũ, viết một lá thơ “Thơ cuối ngày gửi em Brigitte”. Bài thơ hay, lời lẽ cảm động, gây một ấn tượng sâu sắc, một rung động cảm thương cho số phần người chồng cũ của bà Brigitte: 

(Ông André-Louis-Auzière – một banquier tại Amiens Pháp 
 chồng cũ của bà Brigitte Trogneux)

Đây là lá thơ cuối ngày gửi em Brigitte:

“Cả thế giới hồi hộp theo dõi những gì đang diễn ra tại điện Elysée. Anh phải đóng cửa ngồi một mình trong ngôi nhà ngoại vi thành phố. Vậy mà tiếng tivi vẫn cứ vang lên trong từng căn phòng nhỏ. Người Pháp đang đón chào Macron - vị Tổng Thống trẻ trung nhất lịch sử nước mình.

Chắc là em không còn tâm trí nào để nghĩ đến anh 
Cái tên André – Louis đã bị xóa rất lâu rồi trong bộ nhớ 
Nhưng anh không thể quên Trogneux tóc vàng một thuở 
Những thanh chocolate vùng «Rua » đâu dịu ngọt bằng nàng
Anh nhớ lại những buổi chiều anh phải lang thang 
Chạy khắp mọi nẻo đường Paris để tìm cho con hộp thuốc 
Chỉ mười năm với ba đứa con có được
Ba đứa con - minh chứng cho tình yêu chúng ta - đẹp hơn cả thiên thần
Anh không ngờ chuyện bắt đầu từ một ngày em đòi ly thân 
Rồi em nhất quyết kêu anh ra tòa bằng cái đơn ly dị
“Không thực sự hạnh phúc”- em tự nhiên nói thế
Cuối cùng anh phải chiều em thôi
Vì anh biết em đã tìm thấy một phương trời
Cứ như Newton bất ngờ tìm ra định luật quả táo rơi
Em ngỡ ngàng tìm ra một chàng trai kém minh hai con giáp
Cũng chẳng có gì bất thường (nhất là nước Pháp )

Song gia đình của chúng ta thì lại giống bao gia đình kia tất thảy ở trên đời
Em đã có một mái nhà, một mái ấm đó thôi
Dù ai đó cao siêu Là hoàng tử, là nhà vua, hay Chúa Trời đi nữa
Em nên nhớ chữ Thủy Chung là muôn đời muôn thuở 
“Công chúa lấy thằng bán than”, cũng theo nó lên rừng
Có thể em đang mơ một sự nghiệp lẫy lừng
Tổng Thống với Đệ Nhất Phu Nhân tâm đầu ý hợp

Hai mốt phát đại bác vang trời, em choáng ngợp
Tiếng khóc trẻ thơ năm xưa mới đúng nghĩa gia đình
Thật buồn trong giây phút nầy chỉ anh nghĩ đến anh
Nhưng bỗng thấy ấm lòng 
Khi Sébastien, Laurence, Tiphani vừa nhắn tin cho bố
“ Chúng con yêu bố ngàn lần,
Bố hãy tin điều này bố nhớ 
Lát nữa, tan cuộc tại điện Elysée, chúng con sẽ về nhà
Cuộc sống sẽ thực sự bắt đầu với bốn bố con ta”
(André- Louis- Auzière)

Nhân vật chính trong khúc phim nầy là cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux. Họ đã sánh bước vinh quang vào điện Elysée, trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng ủng hộ vị tân Tổng Thống trẻ tuổi, tài năng của nền Cộng Hòa nước Pháp. Có một người đứng sau cuộc tình nầy đang đau khổ cực kỳ nhưng lặng lẽ âm thầm chịu đựng, hy sinh với một sự nhẫn nhục phi thường. "Có Một Người", Người ấy là ai?


Một gia đình hạnh phúc:

Tại Amiens - một thị trấn ở phía Bắc nước Pháp - có một gia đình trí thức: Cha trước làm nghề kiểm toán nhà nước, người con theo học ngành Ngân Hàng. Sau khi tốt nghiệp Đại Học, người con làm việc rất giỏi trong ngành Ngân Hàng .Về sau trở thành một banquier: Chủ nhà băng tại Amiens. Có địa vị xã hội, có tiền bạc, đời sống sung túc. Tháng sáu 1974 ( Juin 1074) Người nầy thành hôn với Brigitte - một cô giáo dạy văn và Latinh tại một trường Trung học cơ sở. Brigitte con nhà khá giả, sản xuất bánh kẹo và chocolate nổi tiếng. “Người ấy” hết sức thương yêu chiều chuộng vợ khiến cho người xung quanh ngưỡng mộ. Brigitte rất hạnh phúc dưới một mái ấm gia đình, với chồng có địa vị, giàu có, hiền lành, thương yêu vợ rất mực và ba đứa con ra đời là một mối dây ràng buộc cặp vợ chồng thêm gắn bó. Lúc đó, Brigitte chỉ biết có mái ấm gia đình sung túc, chồng thương yêu, con ngoan ngoãn . Niềm hạnh phúc mà biết bao người khát khao thèm muốn.`

Người ấy là ai ? Xin xem tấm hình đám cưới dưới đây:

 Hình đám cưới “ NGƯỜI ẤY” với cô giáo Brigitte Trogneux.( Người có mang vòng tròn đỏ trên đầu)

Nhưng,
Đời có lắm sự bất ngờ…

Brigitte là người thích văn chương và kịch nghệ. Kéo dài lê thê nhịp sống đơn điệu, buồn chán, Brigitte bèn gợi ý với chồng lập một câu lạc bộ nghiên cứu văn chương và kịch nghệ. Người chồng bao giờ cũng tôn trọng ý của vợ và ủng hộ việc làm nầy. Bây giờ Brigitte thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn, việc làm đáp lại sở thích của mình.

Bất ngờ xuất hiện một chàng trai 15 tuổi tại lớp học của cô giáo Brigitte. Chàng trai mà Laurence, con gái của Brigitte, khen là một chàng trai tuyệt vời am hiểu tường tận mọi việc. Còn cô giáo Brigitte choáng ngợp trước sự thông minh của Macron. Bà nói : Macron có lồi tư duy mà tôi chưa từng thấy trước đây. Mọi ngày thứ sáu, chúng tôi dành nhiều thì giờ để xây dựng các vở kịch. Nhưng chỉ là cái cớ để chúng tôi gần gũi nhau. Một người bạn của Macron tiết lộ: “ Cô giáo bị quyến rũ bởi tài viết lách của cậu ấy”.

Con người kỳ lạ hành xử cũng rất lạ kỳ. Con gái tuổi xuân hơ hớ không lấy mà lại lấy bà già đáng tuổi mẹ minh, lại là người có chồng ba con. Cuộc tình đôi đũa lệch, được đánh giá là “vượt mọi định kiến của gia đình và xã hội”.Cuộc tình trái cựa gà, tréo cẳng ngổng nầy lại là cuộc tình của một con người phi thường, xuất chúng, thông minh tuyệt đỉnh. Cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux sánh vai cùng nhau vinh quang bước vào điện E1ysée trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng chào mừng vị tân Tổng Thống tài năng, trẻ tuổi nhứt của nền Cọng Hòa Pháp.

Trong khi 21 phát súng thần công nổ rền trời, tiếng hoan hô dậy đất, đội quân nhạc cử hành bản quốc ca “ La Marseillaise” hùng hồn, cuộc diễn hành trong khuôn viên điện Élyseé, đoàn vệ binh hiên ngang rầm rập nhịp bước theo điệu kèn trống quân hành uy nghi hùng dũng, thì “CÓ MỘT NGƯỜI” đứng đàng sau cuộc hôn nhân Emmanuell-Brigitte, ôm một nỗi đau khổ nhìn cảnh vợ phản bộ, bỏ minh theo tình nhân mà nước mắt tuông rơi, trái tim tan nát…Nhưng “Người ấy” không bao giờ tức tối, mắng chửi, làm ồn ào mất mặt hay nói xấu vợ minh trước mặt người khác. Ông tập trung vào sự nuôi dưỡng và giáo dục ba con. Sau đó, “Người ấy” là một người đàn ông đích thực. Ông không bao giờ làm phiền cuộc sống của Brigitte. Sau khi ly hôn, ông lo cho con cái ăn học và chuyển hết tài sản cho con, ông đến vùng ngoại ô Paris sống ẩn dật và tránh gặp Brigitte, kể cả những buổi tiệc gia đình với các con.

Cuộc tình huyền thoại Macron Brigitte được loan truyền khắp thế giới nhưng không nghe ai nhắc đến “ MỘT NGƯỜI” - mặc dầu người ấy về tư cách, sự hy sinh, đức nhẫn nhục ít người sánh được, Thói đời là thế. Phù thịnh chớ ai phù suy! Thiên hạ Đông Tây, Tư bản, Cộng Sản đều thế cả.

Con người đáng kính ấy qua đời tháng 12 năm 2019. Tang lễ ông được tổ chức trong vòng bí mật.Mãi đến ngày 7 tháng 10 2020, con gái ông Tipun Ozier mới thông báo tin cha minh đã qua đời. Trong một tweet, cô viết: “ Cha tôi đã qua đời. vào ngày 24/12/2019. Ông ấy đã được chôn cất trong sự bảo vệ quyền riêng tư nghiêm ngặt nhất.Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi. Ông nói rằng ông không muốn làm phiền quá nhiều sau khi mình qua đời. Vì vậy, chúng tôi phải tôn trọng ý muốn của ông.Theo tạp chí Tatler của Anh Quốc, trò chuyện với Paris Match, một những đứa con gái của “Người ấy” và Brigitte nói: “ Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi là người không thích lề thói, luôn coi trọng sự ẩn danh hơn bất cứ thứ gì. Ông phải được tôn trọng”. Ý tưởng nầy rất phù hợp với sự xa rời mọi người và chuyển sang Paris vùng ngoại ô sống ẩn dật cho đến khi qua đời.

Người nầy không bao giờ khuấy động chuyên phản bội của vợ. Ông chọn cách xa rời thế giới theo cách riêng tư của minh là sống ẩn dật với lòng vị tha và sự nhẫn nhục phi thường.

Đánh giá một con người, không phải chỉ sự thành công nổi tiếng mà còn tư cách, sự nhẫn nhục, lòng hy sinh cao cả, âm thầm chịu đựng, lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, lòng vị tha làm tình thương, suốt đời không thay đổi. Con người đó không đáng cho đời ngưỡng mộ hay sao? Cũng như người chiến sĩ cả hai miền Nam Bắc ngoài mặt trận bắn giết nhau thành công thì ai hưởng? Người lính được hưởng gi? Người lính chỉ biết hy sinh ngoài mặt trận, ở hậu phương vợ con đói rách, cơm chan nước mắt hay bị bắt làm con tin, để chồng minh đi xẻ dọc Trường Sơn, đánh cho đến người Việt Nam cuối cùng.

Tuy nhiên còn có một người đời sau nhắc đến và vinh danh họ là thi sĩ Đằng Phương ( tức Giáo sư Nguyễn ngọc Huy): Họ là những chiến sĩ xông pha dưới làn tên mũi đạn: Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên Không ai đến khấn nguyền dân lễ vật Nhưng máu của họ đã len vào mạch đất Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông Và anh hồn chung với tấm tinh trung Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt. Đằng Phương

“ NGƯỜI ẤY” suy nghĩ cho sâu xa, quả là con người đáng cho đời tôn vinh và ngưỡng mộ như một người chiến sĩ ngoài mặt trận, như cái Dũng của một người anh hùng trước nghịch cảnh.

“ NGƯỜI ẤY” là người có vòng tròn đỏ trên đầu ngày cưới vợ là cô giáo Brigitte Trogneux. Và người ấy chính là André- Louis- Auzière.

“ NGƯỜI ẤY” chính là người bị vợ phản bội mà không một lời oán trách, không làm phiền vợ , luôn luôn một lòng vị tha, bao dung để vợ được sống trọn với tình yêu mới. Trên đời rất ít người vượt qua cảnh ngộ đau lòng nầy, để hành xử được như ông André.

Câu chuyện tình ly kỳ nầy được kết thúc nơi đây. Cặp Macron-Brigitte vinh quang sánh bước vào điện E1ysée - còn ông André chôn chặt nỗi hận lòng dưới ba tấc đất và hành xử với lòng vi tha hiếm có, chọn cách sống ẩn dật ở ngoại thành Paris cho đến khi qua đời. Còn Brigitte khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân thì không còn nhớ gì đến chuyện quá khứ.

Người đời mặc tình phê phán và chọn lựa. Nhưng đừng quên, khi đứng bên ngoài để phê phán thì dễ dàng hơn khi chính bản thân mình đối diện với nghịch cảnh./.

Những ngày bệnh tật cuối thu năm 2022. 
Lê Quốc

Ghi chú: 
Tạm thời xin hiểu bức thơ cuối ngày gửi em Brigitte là của ông André -Louis- Auzière trước khi có nhận xét của nhà biên khảo nổi tiếng và uy tín là Ông Trần Việt Long (Cao học 8, Học Viện QGHC). Sự nhận xét của nhà biên khảo xuất sắc nầy, người viết rất đồng ý nhứt là không có bản tiếng Pháp mà chính người viết đã khổ công đi tìm bản tiếng Pháp nhưng không hề có trên các diễn đàn tiếng Pháp và Việt. Như vậy, ông André không viết được tiếng Việt và cũng không thể nhờ người dịch ra tiếng Việt nếu không có bảng tiếng Pháp.

Hình đám cưới của ông André-Louis-Auzière (vòng tròn đỏ) và bà Brigitte Trogneux (tháng Juin 1974)

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Đọc Thơ Trang Châu

 

Lời tác giả: 
Những ngày tháng tự quản thúc tại gia vì thảm họa Covid. Bị trói tay, trói chân. Trói cả mặt mũi, miệng mồm. Buồn bã! Chán chường! Một nỗi buồn không tên gọi. Một tâm trạng hoang mang. Không biết bao giờ thảm họa này mới chấm dứt… Ngồi buồn, nhìn lên một chồng sách thi ca: thi ca bỏ túi xuất bản trong nước, thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, thơ Vũ Hoàng Chương, Nguyên Sa, Nguyễn Bính, thơ gần đây nhứt tại hải ngoại: Hoàng Xuân Sơn, Hà Huyền Chi, Trần Văn Lương, Phùng Quán, Phùng Cung, Hoàng Cầm, Trần Dần và mấy quyển phê bình văn học Hoài Thanh, Võ Phiến, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Trần Hồng Châu (tức Nguyễn Khắc Hoạch) đang nằm lẻ loi cô độc trên kệ sách. Những quyển sách này người ta đã nói nhiều rồi. Hàng trăm quyển sách, hàng chục ngàn trang sách. Những tác giả hầu hết là bậc thầy của kẻ viết bài này. Cho nên muốn tìm một cái gì mới lạ hơn, gần gũi hơn, thay vì đi theo những khuôn mòn sáo cũ... Nhìn lên kệ sách bên cạnh, tôi thấy có nhiều quyển thơ do bạn bè gửi tặng. Tôi hết sức trân quý vì đó là tấm lòng của những bạn bè. Trong những sách này có một quyển thơ có dấu triện son và chữ ký của nhà thơ gửi tặng với những lời lẽ trang nhã, cung cách ân cần. Tôi vói tay lấy xuống mới biết là của nhà thơ Trang Châu, người đã có thời được bầu làm Chủ Tịch VBVNHN (Nhiệm kỳ 1991- 1993). Xin thưa rằng tôi chưa một lần mặc áo thụng - cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - tôi viết mấy dòng cảm nhận thật thà về thơ Trang Châu. Ngày xưa, tôi đọc thơ như người cỡi ngựa xem hoa. Đọc để giải trí. Học để kiếm cơm. Bây giờ, tôi đọc thi ca với tuổi đã về chiều và cũng đã nếm trải qua bao thế thái nhân tình, thăng trầm vinh nhục. Trong tinh thần và hành trang đó, tôi thử đọc Trang Châu, một tác giả gần gũi với tôi và đã mở cánh cửa tâm hồn cho tôi đi vào thơ ông.
 
I- VƯỜN THƠ TRANG CHÂU. 

 Xin trang trọng bước vào:

Làm thơ là một nghệ thuật - nghệ thuật sáng tạo. Đọc thơ cũng là một nghệ thuật - nghệ thuật khám phá cái HAY, cái ĐẸP trong thơ. (Nguyễn Hưng Quốc) Thật vậy, làm thơ là trải lòng mình lên trang giấy, là đưa một thực tại sống động từ trạng thái im lặng đến hiện hữu bằng những chữ thần tình như có linh hồn, hài hòa, cộng hưởng với cảm xúc, âm thanh vần điệu và hình tượng, có sức quyến rũ ma quái đưa người đọc đến một vùng trời mênh mông bát ngát, một cõi thơ lung linh huyền ảo. Nhà thơ viết bằng nhịp đập con tim, hơi thở của buồng phổi, bằng sự rung động của tâm hồn, đôi khi bằng “cả sức khỏe, bằng cả hồn lẫn xác” như Phan Thanh Phước - và cũng nhiều lúc, nhà thơ “trào hồn ra ngọn bút”, “mỗi lời thơ, nét chữ, đều dính não cân của mình, đều quay cuồng như máu vọt”, để rồi “ngất ngư trên vũng huyết” như Hàn Mặc Tử. Và chỉ để sáng tạo một câu thơ, một bài thơ. Giả Đảo thời Trung Đường làm hai câu thơ phải mất ba năm “Nhị cú tam niên đắc. Nhất ngâm song lệ lưu”. Làm 2 câu thơ phải mất 3 năm. Ngâm lên hai hàng lệ nhỏ! Sự sáng tạo của nhà thơ là một sự cảm xúc tuyệt vời, một sự rung cảm chất ngất, mà người khác không có được. Thơ là linh hồn, là sự sống của những chữ, đôi khi là máu, là huyết của thi nhân, là một nghệ thuật của sự sáng tạo tuyệt vời. Người đọc thơ cũng phải khổ công đi tìm để khám phá cái MỚI, LẠ, CÁI ĐẸP trong thơ. Hàng ngàn bài thơ, hàng trăm tác giả. Điều quan trọng là bài thơ phải gây cho ta một cảm xúc. Mà cảm xúc chỉ có thể nhận bằng trực giác. Nhưng trực giác thì không thể giải thích bằng phân tích, lý luận. Đó cũng là phần không thể giảng của bài thơ. Người đọc thơ phải vất vả đi tìm cái hay ở chỗ nào, đẹp ra sao. Thế nào là đẹp? Ứng dụng tu từ pháp chỗ nào, ý thơ, ngôn từ, âm điệu đào sâu để hiểu ý thơ, giọng thơ hầu khám phá cái Đẹp. Đó cũng là một công trình và nghệ thuật khám phá của người đọc thơ. Nhà thơ là một nghệ sĩ. Mà nghệ sĩ thì thường có một tâm hồn bén nhạy và cách nhìn quán chiếu tận chiều sâu thăm thẳm lẫn chiều rộng mênh mông. Đó là cái “Ý”, tức cái cốt lõi, cái khung của bài thơ, là cách nhìn một hiện tượng, một tình huống. Nói theo Phùng Khắc Khoan: Làm thơ trước hết phải lập “Ý” - là cái xương sườn của bài thơ. “Ý” có sâu sắc mênh mông thì cảm xúc mới lai láng, dạt dào, hình tượng mới cụ thể, sống động. “Ý”, cảm xúc và hình tượng quyện chặt vào nhau, hài hòa, cộng hưởng với nhau, xuất hiện cùng một lúc như sóng vỗ, con tim nhà thơ nhịp đập liên hồi, tăng cao áp suất, hơi thở dồn dập tâm hồn thi nhân tràn ngập niềm rung cảm, cộng với tài năng, bất thần toát ra những ngôn ngữ thần tình, có sức quyến rũ kỳ lạ, sức truyền cảm mạnh mẽ, những xúc động muốn giãi bày, niềm tâm sự muốn gửi gắm. Ngôn từ gợi cảm đã có chất thơ, như có linh hồn, đã thành thơ bay bổng vào cõi thơ lung linh huyền ảo:

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi 
Trăng ngập dòng sông chảy láng lai
(Hàn Mặc Tử)

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt 
 Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
(Chinh phụ ngâm: Đoàn thị Điểm dịch nguyên văn chữ Hán của Đặng Trần Côn)

Đọc mấy câu thơ trên không thể dửng dưng, lạnh lùng, bởi tác động của những ngôn ngữ thần thánh gây cảm xúc mãnh liệt, có sức quyến rũ ma quái, người đọc rung cảm bồi hồi, tựa như nghe tiếng hát của người ca sĩ đã dứt mà giọng ngân còn kéo dài nhè nhẹ, lan man làm xao xuyến cả tâm hồn. Người đọc nghe như tâm tư mình bay bổng vào một vùng mênh mông, bát ngát...

II- ĐI TÌM ĐIỀU MỚI LẠ TRONG THƠ TRANG CHÂU

Đọc thơ Trang Châu là đi tìm điều Mới, Lạ. Ngôn từ bình dị, mà ý nghĩa sâu xa. Đọc Trang Châu rồi mới hiểu Nguyên Sa: Thơ là “linh hồn, là sự sống” của những chữ tài hoa.

Từ hậu bán thế kỷ 20 - rõ rệt hơn là từ 54 trở về sau - dòng thơ miền Nam dần dần biến chuyển. Thơ không “nương theo trăng ngừng lưng trời” mà thơ đậu xuống mặt đất. Ngôn ngữ thơ mất tính chất đăng đối. Mất du dương. Không vần điệu. Không quy luật. Bứt phá cái cũ. Dòng thơ tiền chiến mất dần. Thơ viết như văn xuôi, lấn đất, chiếm chỗ văn vần. Phong trào thơ cách tân nổi dậy. Đó đây, trên các diễn đàn văn nghệ có những bài viết cổ xúy cho thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại, xem nó như một giải pháp cho sự phát triển thi ca Việt Nam. Những phát ngôn này khoác cho các nhà thơ bộ mặt cách tân và chắp đôi cánh bay bổng đến một vùng trời xa lạ…

Điển hình là những nhà thơ Nhân Văn Giai phẩm: Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Phùng Cung và những Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hữu Loan và những khuôn mặt thi văn miền Nam: Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, trong số đó Trang Châu là một khuôn mặt không thể thiếu trong dòng thi văn này. Thử nghe Trang Châu và Phùng Cung:

Xin em (Trang Châu)

khi nói tiếng xứ người
đừng quên lời xứ mẹ
nhìn giàu sang quê họ
nhớ cảnh khó quê cha.
Xin em
khi sống ở đất hiền
đừng quên người biển khổ
trên thuyền yên bến đỗ
hãy nhớ kẻ phong ba.
………………………..
(Ngưng trích)

Quê Hương (Phùng Cung)
Quê hương ơi!
Đường quan lầy nước mắt
Điệu sáo hết du dương
Mây chìm gió ngủ
Chiều nắng da bò
Vẫn nhằm biên giới ưu tư
Rầu rầu đổ bộ
Sông sâu bặt tiếng gọi đò
Chim hãy giùm ta
Gọi cành xanh ngóc dậy
Để một lần
Quê hương thấy lại quê hương 

(ngưng trích)

Mồ hôi xương (Phùng Cung)

Tặng vợ
Em vất vả
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này vắt tận trong xương

1- Quả thật, Trang Châu là nhà thơ chủ trương đi tìm cái MỚI LẠ, cái độc đáo mà chỉ mình có, người khác không có hoặc có không trọn vẹn. Thể hiện điều mới lạ, Trang Châu đem cả phép toán chia vào thơ, ở một bài khác, cả bốn phép cộng trừ nhân chia vào thơ. Thật mới lạ và độc đáo:

Thi hào Nguyễn Du chỉ sử dụng toán chia đôi: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”. Thanh Tâm Tuyền: “Nửa hồn thương đau”. Vương Hồng Sển: “Hơn nửa đời hư”. Hà Triều & Hoa Phượng: “Nửa đời hương phấn”. Khái Hưng: “Nửa chừng xuân” v.v… Những văn nhân thi sĩ trên đây cũng chỉ đem phép toán chia đôi vào thơ mình. Đặc biệt hơn, Trang Châu, không những mang cả toán chia, mà cả toán nhân vào thơ:

Tuổi đời tôi
Dù hai mươi nhân bốn
Tôi vẫn nguyện với lòng
Chia bốn làm hai mươi
Để tấm thân già tìm sức sống thanh niên
…………………………………….
Đứng cùng anh chị em
Trong giờ phút vươn lên
Của hồn thiêng sông núi…

(Trang Châu)

Độc đáo hơn nữa, lần này nhà thơ còn mang cả bốn phép toán cộng (+) trừ (-) nhân (x) chia (:) vào thơ:

Ta trừ nhau tuổi muộn
Ta cộng nhau tuổi thơ
Ta chia đều gian khổ
Ta nhân tròn ước mơ

(Trang Châu)

Tuổi muộn tức tuổi già ta phải trừ bớt đi cho trẻ lại. Tuổi thơ tức tuổi trẻ ta phải cộng thêm cho mau thành người lớn. Ước mơ mau trở thành người lớn là ước mơ hết sức thành thật, khi ta còn trẻ. Gian khổ đắng cay ta cần chia sớt. Còn ước mơ ta nhân lên cho tròn. Tâm lý này rất “người” cho mọi lứa tuổi của thế gian. Cộng trừ nhân chia - bốn phép toán khô khan, không chút lãng mạn. Thế mà Trang Châu biến nó thành thơ. Bốn câu thơ rất thơ, rất MỚI LẠ và ĐỘC ĐÁO. Qua những nhà thơ tiền chiến, thơ hiện đại, cả thơ hậu hiện đại, người ta ít thấy nét độc đáo này.

2- Bàng bạc suốt dòng thơ Trang Châu, nổi bật những nét MỚI LẠ khác, nhưng là cái mới lạ rất nên thơ: 
Mới lạ trong ngôn từ, mới lạ trong tứ thơ, trong tu từ pháp (rhétorique): ẩn dụ và hoán dụ, cả sự luyến láy trong HÒA PHỐI NGỮ ÂM, thể hiện dưới hai dạng: Điệp và Đối.

Từng bước, đọc những bài thơ của Trang Châu, niềm rung cảm lần hồi cuốn hút tôi chìm đắm trong cái lạ lẫm trong ý thơ, trong ngôn từ, trong sự so sánh, trong sự tương phản để tăng cường ý nghĩa của sự việc.
2.1- Ý thơ độc đáo: Đôi tình nhân khi giận hờn nhau, không muốn thấy mặt nhau thì “đâu cần một con đường, một dòng sông, một chấn song”, để làm ngăn cách mà chỉ cần:

“Em chỉ cần gõ cửa tim anh 
 Và gọi tên một người rất lạ”
(Trang Châu - Đề nghị 1)

Một ý thơ mới lạ, độc đáo không thấy ở các nhà thơ khác. Một con đường - dù xa xôi hiểm trở tới đâu - khi yêu, dù ở chân trời góc bể, người ta vẫn vượt suối băng ngàn, để tới được. An Lộc Sơn thời thịnh Đường - nửa đêm, phi ngựa ngàn dặm hái trái “lệ chi” còn ngậm sương mai, đem về dâng cho Dương Quý Phi, mong nàng ban cho một khóe mắt thương yêu, hay một nụ cười hạnh phúc. Còn một dòng sông, vượt qua là chuyện nhỏ, một chấn song có thể bẻ gẫy, một bức thành chỉ là một vật thể do con người làm ra thì con người có thể phá vỡ được. Nhưng tình yêu là chuyện của con tim. Con tim đau thì phải chữa trị con tim, không chữa con mắt được. Nguyên là một y sĩ, nhà thơ Trang Châu đề ra một phương thuốc rất “nhà nghề” và chính xác. Muốn làm ngăn cách với anh, em chỉ cần gõ cửa tim anh và gọi tên một người khác, sẽ làm anh đau gấp vạn lần và làm ngăn cách vĩnh viễn với anh.

Ý tưởng MỚI LẠ và ĐỘC ĐÁO nhưng lại rất nên thơ. Em chỉ cần gõ cửa tim anh và gọi tên một người khác. Nếu ai đồng cảnh ngộ, người yêu khi gặp mình ngoảnh mặt làm ngơ hay choàng tay âu yếm với người khác, đọc hai câu thơ này, nghe như chính tim mình bị vỡ ra… đau đớn phũ phàng! Nên thơ ở chỗ nói về mình mà đau lòng ai đó đồng cảnh ngộ và cũng làm thổn thức con tim của những ai đã từng yêu và từng bị tình phụ.

2.2- Ý thơ mới lạ và lãng mạn:

Nếu anh có trong tay cây đèn thần
 Anh sẽ ước lên ba điều ước nguyện 
 Em hãy đến rồi đi Hãy ở xa và nhớ 
 Hãy muôn thuở của anh mà không phải của anh
(Ba điều ước – Trang Châu)

Thật là lãng mạn. Cũng thật là mới lạ. Em cứ bất chợt đến rồi cứ bất chợt đi. Nhưng khi ở xa hay bất cứ trong tình huống nào hạnh phúc hay đau khổ thì hãy nhớ anh. Khi em đến, em là của anh, khi ở xa, em không còn là của anh nữa nhưng em hãy mãi mãi nhớ đến anh. Như vậy, em muôn thuở của anh mà không phải của anh. Trang Châu muốn em đến rồi đi. Hồ Dzếnh ngược lại, muốn em hẹn nhưng đừng đến: Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé. Nếu trót đi em hãy gắng quay về. Tình mất vui khi đã vẹn câu thề. Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ. Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa (Ngập ngừng - Hồ Dzếnh)

Ý tưởng thật mới lạ: Em muôn thuở của anh mà không phải của anh. Em đến, em là của anh, khi ở xa em có thể có người yêu, nhưng em hãy nhớ đến anh. Vậy em là của anh khi em đến, em không là của anh, khi em đi. Dù trong cảnh ngộ nào em hãy nhớ đến anh. Vậy em muôn thuở là của anh nhưng không phải của anh. Ý tưởng quái lạ này ít thấy trên thực tế cũng như trong thi ca của người khác. Đọc thơ Trang Châu, ta thường thấy những cái gì lửng lơ, nửa chừng (“Mỗi người đàn bà chỉ nắm được nửa đời tôi” - Băn khoăn)

Quán chiếu với thực tế của cuộc đời hay tự mình soi chiếu vào nội tâm của chính mình, có thể có người đã có một mối tình dang dở, một món ngon ăn nửa chừng, để thấy cái gì nửa chừng, lơ lửng, ước muốn không thành là cái mình nhớ suốt đời như nhà thơ Trang Châu:

Bởi đời anh như con tàu viễn xứ
Mà tình em như bến buộc thuyền mơ 
 Anh ngại ngùng khi một buổi tiễn đưa
Lòng phải ngấm thêm một lần nước mắt
(Tạ từ Hélène – Trang Châu)

Trang Châu đau khổ: “Hélène ơi! Sao em hiểu được tiếng cười - Trên khóe mắt trong khi hồn nhỏ lệ” - vì anh là con tàu viễn xứ - mà tình em như bến buộc thuyền mơ, nên chúng mình nửa chừng phải xa nhau. Giọt nước mắt anh là biểu tượng của sự nhớ thương em mãi mãi, đời đời anh vẫn nhớ em. Không cần phải là nhà thơ, nhà văn, bất cứ ai trong đời thường, có một mối tình dang dở, gặp một món ngon ăn nửa chừng, chắc chắn sẽ ấm ức hậm hực nhớ mãi đến suốt cuộc đời. Nó trở thành một ấn tượng lặn sâu trong tiềm thức, ở đó suốt cuộc đời. Đôi khi nó xuất hiện trong một buổi sáng đẹp trời. Người ấy - vì ràng buộc gia đình, vì sợ tiếng thị phi của đời, đành ôm lấy nó âm thầm sống lại cái giây phút thần tiên đó. Cho nên cái gì nửa chừng, vướng vít nửa vời là chuyện không quên, là chuyện nhớ đời.

Văn nhân tài tử thường rung cảm với đề tài này mà sáng tác những khúc hát, những bài thơ để đời. Bình Nguyên Lộc: “Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương” - Thanh Tâm Tuyền: “Nửa hồn thương đau” - Tiên Điền tiên sinh: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” - Tuấn Khanh & Hoài Linh: “Quán nửa khuya” - Vương Hồng Sển: “Hơn nửa đời hư” - Hà Triều Hoa Phượng: “Nửa đời hương phấn” - Khái Hưng: “Nửa chừng xuân”. Cái gì nửa chừng, vướng vít, dở dang là nguồn cảm hứng của văn nhân tài tử trên đời này mà cũng là cái nhớ mãi mãi, thương đời đời của bất cứ ai trong cõi ta bà này.

Tác giả “Vang bóng một thời” còn nghe thấu đến tận cùng cái hậm hực dồn nén, ấm ức, cái chiều sâu thăm thẳm của tiếng đàn: “Bá Nhỡ đàn cho cô Tơ hát. Chưa bao giờ cô Tơ thấy rõ cái đau khổ ngậm ngùi của tiếng đàn đáy buổi này. Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết được ra. Nó là một nỗi ủ kín bực dọc bưng bít. Nó giống như cái trạng huống than thở của một cảnh ngộ vô tri âm. Nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng. Nó là niềm vang dội quằn quại của những tiếng chung tình. Nó là dư ba của bể chiều đứt chân sóng. Nó là cơn gió lọt kẽ mành thưa... Nó là một chuyện vướng vít nửa vời".
(Chùa Đàn - Nguyễn Tuân, trang 61)

Tiếng đàn mà nghe như một tấm tức sinh lý của một cuộc giao hoan lưng chừng thì chỉ có Nguyễn Tuân - một nhà văn lớn trong những nhà văn lớn trước Cách Mạng tháng Tám, mới nghe được tấm tức sinh lý qua tiếng đàn Bá Nhỡ cho cô Tơ hát. Nguyễn Tuân còn thấy, nghe và hiểu được cái thú uống trà. Và qua ngòi bút của ông, thú uống trà đã được nâng lên hàng nghệ thuật và tô phở Thìn, phở gánh Hà Nội năm xưa, cùng với Tùy bút sông Đà, Chém treo ngành (trong Vang bóng một thời) là những tác phẩm xuất sắc của người nghệ sĩ này thấy và nghe được tận cùng những gì mà người khác không nghe thấy được.

Tác giả tác phẩm VĂN số 12 hạ bút: Đối với ông văn chương nghệ thuật phải có phong cách Độc Đáo và Mới Lạ. Có lẽ Trang Châu đã chủ trương điều này trước tác giả tác phẩm Văn số 12. Chủ trương của nhà thơ Trang Châu qua những tác phẩm Thơ và Văn của ông, người viết đã chứng minh qua bài thơ “Nếu em muốn làm ngăn cách” và “Nếu anh có trong tay cây đèn thần”. Văn của ông cũng nổi bật sự lạ lẫm, khác người như “Nửa khuya”, “Viên thuốc màu xanh”, v.v... nhưng không phải là đề tài của bài viết này.

Dòng thơ Trang Châu bao gồm nhiều thể loại: Thơ mới, thơ tiền chiến, thơ cách tân, thơ văn xuôi lẫn văn vần. Loại nào ông viết cũng rất “tới”, thành thạo và điêu luyện trong cách sử dụng tu từ pháp (rhétorique). Ông sử dụng hòa phối ngữ âm trong tu từ pháp, thường biểu hiện dưới hai dạng: Điệp và Đối. Dùng điệp ngữ để làm nổi bật ý thơ:

“Những con thuyền nhỏ, con thuyền nhỏ
Xuôi nước âm thầm ra đại dương
(Về biển Đông - Trang Châu)

Huy Cận và Tản Đà cũng đã từng dùng Điệp ngữ: “Lớp lớp mây cao đùm núi bạc” (Huy Cận). “Non non, nước nước không nguôi lời thề” (Tản Đà).

Người viết còn gặp những câu thơ tiền chiến (theo thể thất ngôn tứ tuyệt), bốn câu thơ làm rung động lòng tôi và tôi tâm đắc nó trong trí nhớ. Khi ngày xuân nhớ bạn hiền bên kia biển Thái bình Dương, nhà thơ tưởng “chông gai cùng sát cánh, nào ngờ thế nước bắt chia tay”, chiều nay tác giả ngồi nhớ lại những chiều bên nhau:

Còn đâu những buổi sương chiều xuống
Mưa lạnh, đường xa, gió heo may
Bấm tay ngồi đếm ngày phiêu bạt
Chợt thấy xuân về trên khóm cây
(Xuân nhớ bạn – Trang Châu)

Ngày xuân, xa cách bạn hiền, ông đành mượn cơn say để giải sầu:

Mày vẫn âm thầm quê cũ sống
Tao phải bôn ba đất nước này
Cách sông, cách núi, lòng không cách
Nhớ mày tao chỉ một cơn say
(Xuân nhớ bạn – Trang Châu)

Những câu thơ rất thiết tha, cách sông, cách núi, lòng không cách. Khi đọc những câu thơ này, người bạn bên kia biển Thái Bình ắt phải thở dài, nén chặt niềm nhớ thương tận đáy lòng để khỏi rơi nước mắt. Lần bước đi sâu vào vườn thơ Trang Châu, lại gặp những điều rất lạ nhưng cuốn hút người viết như lạc vào một vườn hoa đầy kỳ hoa dị thảo:

2.3- Trang Châu và Lưu Trọng Lư - Hai tâm hồn lớn gặp nhau:

Trang Châu:

Kể từ em đến trong mơ
Đêm đêm mộng trải lên bờ gối chăn
(Nhà anh – Trang Châu)

Lưu Trọng Lư:

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ tràn đêm xuân
Cho tình tràn trước ngõ
Cho mộng tràn gối chăn.
(Một mùa Đông – Lưu Trọng Lư)

Hai nhà thơ không cùng thế hệ, cách nhau 27 năm. Lưu Trọng Lư sinh ngày 10-6-1911. Trang Châu sinh ngày 28-3-1938 - tức là Lưu Trọng Lư ra đời trước Trang Châu 27 năm. Thế mà lại gặp nhau trong câu thơ “mộng trải lên bờ gối chăn” và “cho mộng tràn gối chăn”. Thật là một sự tao ngộ kỳ thú của thi nhân tài tử trên đời.

Hoài Thanh phê phán Lư: “Trong thơ Lư, nếu có tả chim kêu hoa nở, ta chớ tin, hay ta hãy tin rằng tiếng kia màu kia chỉ có ở trong mộng. Đó mới là quê hương của Lư… Lư cứ để lòng trôi theo âm hưởng của bài thơ, ngân nga, dằng dặc, buồn buồn. Sau bài thơ, bát ngát một trời đất ta không hiểu, thi nhân cũng không hiểu... “Tôi biết có người trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu. Lư chỉ để lòng mình tràn lan lên mặt giấy.

Thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta.
(Thi nhân Việt Nam tiền chiến - Hoài Thanh & Hoài Chân - trang 303)

Hoài Thanh phê phán: Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy. Trong đời, nếu ai có cùng tiếng thổn thức như Lư thì hãy trải ra để hòa chung một nhịp với Lư thì hạnh phúc biết bao! Lư đã có người hiểu mình: Hoài Thanh và rất nhiều độc giả của nhiều thế hệ sau. Lưu Trọng Lư là một nhà thơ lưu danh trong văn học sử nước Việt Nam.

Lần bước theo dòng thơ Trang Châu, tôi lại bất ngờ nhận thấy một khuôn mặt khác của nhà thơ - một con người lúc nào cũng tưởng nhớ về quê hương, một người yêu thiết tha Tự Do Dân Chủ, yêu quê hương, yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào, yêu tất cả người Việt Nam lưu vong xứ người.

III. TRANG CHÂU- NHÀ THƠ YÊU NƯỚC, YÊU TỔ QUỐC, YÊU ĐỒNG BÀO VÀ YÊU TỰ DO DÂN CHỦ:

Người bạn của Trang Châu, dù mười năm tù cải tạo, chịu cảnh lao động khổ sai, chịu những trò tẩy não, nhưng vẫn giữ vững lập trường trước sau như một là xem sự Tự Do như là không khí để thở, là máu huyết để nuôi thân thể, là một hào khí để giữ vững tâm hồn.

Mười năm tù ngục
Máu Tự Do vẫn chảy trong hồn
(Gió Mới - Trang Châu)

Vận nước nổi trôi, khiến hơn ba triệu người dân bỏ nước ra đi, nửa triệu người vùi thây dưới dòng đại dương thăm thẳm… Trang Châu cũng đành rời bỏ quê cha đất tổ, lưu lạc xứ người, nhưng lòng lúc nào cũng thương nhớ quê hương, nhìn đâu cũng thấy quê hương, nhìn lá vàng xứ lạ mà tưởng như là quê hương mình:

Lưu lạc phương trời, lòng một phương
Rừng thu vàng úa lá quê hương
Nao nao tiếng hát buồn rười rượi
Côi cút người đi vạn dặm trường
(Bên giòng sông Cửu – Trang Châu)

và:

Ta về hẹn với dòng sông Cửu
Nối lại bờ chia một nhịp cầu
Xanh xanh mái tóc bên đầu súng
Áo trắng thương thương áo bạc màu
(Bên giòng sông Cửu – Trang Châu)

Chẳng những nhớ thương mà còn mong ước trở về làm người áo trắng bạc màu, mái tóc xanh xanh bên đầu súng. Quả thật là tha thiết với quê hương, trăn trở trong giấc ngủ, thể hiện trong lời thơ.

Nhớ thương quê hương đất nước, nhưng tấm lòng ông còn trải rộng đến các em bé Việt Nam với lời nhắn nhủ khi nói tiếng xứ người nhưng đừng quên lời xứ mẹ, khi sống ở đất hiền đừng quên người biển khổ.

Khi nói tiếng xứ người
Đừng quên lời xứ mẹ
Nhìn giàu sang quê họ
Nhớ cảnh khó quê cha
...
Khi sống ở đất hiền
Đừng quên người biển khổ
Trên thuyền yên bến đỗ
Hãy nhớ kẻ phong ba.
(Một lời xin – Trang Châu)

Tấm lòng nhân đạo của nhà thơ chứa chan tình người, thấm đẫm tình đồng bào đang bơ vơ nơi xứ lạ quê người.
Trang Châu lẫm liệt đứng một mình, không giống các nhà thơ khác. Nói đến giòng sông Cửu là để nhắc đến quê hương, lưu lạc quê người nhưng lòng vẫn một phương. Mùa thu xứ người lá vàng úa mà nhà thơ vẫn thấy màu lá quê hương.

Ngược lại, Nguyên Sa: “Mai anh về giữa bến sông Seine/ Anh về giữa một giòng sông trắng/ Là áo sương mù hay áo em”. Nguyên Sa mơ màng tìm người yêu mà chỉ thấy sương mù và bóng trăng…

Cung Trầm Tưởng tả cảnh biệt ly với người yêu: “Lên xe tiễn em đi/ Chưa bao giờ buồn thế/ Trời mùa Đông Paris/ Suốt đời làm chia ly”. Cũng là cảnh buồn tiễn biệt người yêu.
Cả hai nhà thơ nói đến sông Seine hay Paris cũng chỉ là nói đến tình yêu trai gái.

Trang Châu trái lại, mỗi lần nhắc đến giòng sông Cửu là lòng thương nhớ quê hương nổi dậy: “Ta về hẹn với dòng sông Cửu/ Nối lại bờ chia một nhịp cầu/ Xanh xanh mái tóc bên đầu súng/ Áo trắng thương thương áo bạc màu”.
Điểm sáng chói nhứt của Trang Châu là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu Tự Do Dân Chủ. Tất cả đều thể hiện trong dòng thơ Trang Châu.

IV. ĐI TÌM CÁI ĐẸP TRONG THƠ TRANG CHÂU

Với khả năng dù khiêm tốn, nhưng cảm nhận là chân thành, cảm xúc là sự thật, tôi đi tìm cái ĐẸP trong vườn thơ Trang Châu.

Làm đẹp tư tưởng là chủ đích của văn. Làm đẹp ngôn từ là chủ đích của thơ. Mà thơ là linh hồn, là sự sống của những chữ tài hoa. Trang Châu tận dụng tu từ pháp (rhétorique): ẩn dụ và hoán dụ cho câu thơ mình đẹp lên. Nhưng ẩn và hoán dụ, người ta xài nhiều quá thành khuôn mòn sáo cũ. Các thi nhân tìm cách làm cho nó mới hơn.

Lưu Trọng Lư: Mắt em là một dòng sông/ Thuyền ta bơi lội trong dòng mắt em.
Đinh Hùng: Dĩ vãng dầm mưa lén bước về/ Áo trùng, mây tỏa, mặt sầu che/ Run tay ấp nửa bàn chân lạnh/ Thương những con đường mưa cuốn đi.
Trang Châu: Bạn đi để lại thương cùng nhớ / trên những vành tang trắng nhớ thương.

Trang Châu dùng điệp ngữ, đối ngữ để làm đẹp câu thơ:

Quen nhau như thể quen nhau thuở nào. (Điệp ngữ)
Niềm đau không có tuổi - Nỗi buồn không có tên (Đối ngữ)
Ngày đơn chiếc đợi – đêm mòn mỏi trông (Đối nghĩa)

Cái đẹp trong thơ Trang Châu có thật nhiều:

Trong ta từ độ đời xa xứ
Lòng trắng lòng như tay trắng tay

Tuổi già như lá rụng mùa đông, đọc thơ ông nghe ấm trong lòng.

Cái ĐẸP của một bài thơ có thể là cái HAY- dù cái hay chưa chắc là cái ĐẸP, không thể phân tích bằng lý trí mà chỉ cảm nhận bằng trực giác. Cảm thơ như cảm một mùi hương, cảm một công trình nghệ thuật, một bức tranh, một bài hát. Cảm mà không biết tại sao. Đã là cảm thì không thể giải thích bằng lý trí. Cảm là việc của con tim. Con tim và lý trí không đi cùng một con đường. Thơ hay là thơ, lời đã cạn mà ý chưa hết. Đọc xong bài thơ mà ý tình còn lan man mãi trong tâm hồn. Một thoáng tâm tư, một cõi lòng nào đó còn lẩn khuất sau bài thơ, một xôn xao thầm kín có khi ta thấy chính là tâm sự của chính ta. Giống như giọng ca của người ca sĩ hay là hay ở giọng ngân dài sau tiếng hát. Giọng ngân dài nhỏ dần, kéo dài rồi mất hút… làm xao xuyến tâm tư người nghe, rung động tận làn da thớ thịt.

Riêng kẻ viết bài - Đọc thơ ông mà nghe lòng thương cảm bồi hồi. Một cuộc đời sóng gió, lao đao, những cuộc tình nửa chừng gẫy đổ, nỗi cô đơn dằng dặc tâm hồn, ít người hiểu được ông: “người hiểu ta xa như bờ núi thẳm, người ở gần như khối đá vô tri”. Ông nguyện ‘’trọn đời làm con đường thẳng, dù tình đời chỉ là những khúc quanh’’… Về tình yêu, chính ông quan niệm cuộc tình của ông khác người: “Mỗi người đàn bà chỉ nắm được nửa đời tôi. Và họ yêu tôi với ít nhiều tuyệt vọng”. Chính ông quan niệm tình yêu chỉ có phân nửa. Có lẽ cuộc đời nghệ sĩ tính của ông khiến ông sống tận cùng cái bản ngã nghệ sĩ của ông. Biết đâu đó là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ. Dẫu sao - tôi đã tìm thấy cái Mới Lạ và cái Đẹp trong vườn thơ Trang Châu.

V. DÒNG THƠ CÁCH TÂN TRONG VƯỜN THƠ TRANG CHÂU:

Biến thiên là định luật muôn đời của Tạo hóa. Càn khôn vũ trụ thay đổi. Chiếc kim đồng hồ không đi ngược chiều. Thời gian không bao giờ ngừng lại. Con người cũng bị cuốn hút theo dòng thời gian biến động. Ta không còn là ta sau một tích tắc đồng hồ hay một sát na thời gian. Dòng thi văn cũng vậy, cũng biến đổi theo thời gian. Dòng thơ tiền chiến mất dần tính cách đăng đối, hài hòa, vần điệu du dương. Nhà thơ ngày nay, từ bán thế kỷ 20 hay rõ rệt hơn là sau 45 - mở rộng mọi cánh cửa tâm hồn để cuộc đời ào ạt đi vào. Nhưng, cuộc đời vốn không bằng phẳng, êm xuôi mà nó trần trụi, sần sùi, ngoằn ngoèo, phức tạp, không suôn sẻ thẳng tắp, không nhẹ nhàng thi vị như Nguyên Sa phát biểu: “Vần thơ nếu luôn luôn thật sát thì sẽ nhàm chán. Vần không sát, thậm chí, lạc vận, nếu sử dụng đúng cách, đúng chỗ, vẫn ra một bài thơ hay. Vần thì có: Vần chính, vần thông, vần cưỡng ép, lạc vận. (Hồi ký Nguyên Sa)
Thơ tiền chiến xa rời cuộc đời. Thơ ngày nay gần gũi và phản ảnh cuộc đời.

Đó là lý do xuất phát dòng thơ cách tân. Và: “Thơ không còn là món trang điểm ở cung đình, món đưa cay trong buổi tiệc, cái áo giáp cho người ta phùng xòe trước đám đông, những khẩu hiệu để người ta biểu dương lực lượng. Mà thơ ngày nay là chiếc nạng vững chắc cho người già, chỗ dựa cho người thất thế, từ đó, đứng lên làm lại cuộc đời.” (Nguyễn Mộng Giác). Phùng Quán cũng có nhận xét tương tự: “Có những phút ngã lòng, vịn câu thơ mà đứng dậy.”

Trang Châu là một nhà thơ nhạy cảm trước dòng đời biến động và luôn luôn chủ trương đi tìm cái MỚI LẠ. Nhưng cái mới lạ độc đáo của Trang Châu là sự “MỚI LẠ CHỪNG MỰC”, không ồ ạt quá khích, có thể làm hỏng bài thơ của mình vì không gợi được cảm xúc trong lòng người đọc. Bài thơ không gây cảm xúc là bài thơ hỏng, bài thơ không phải thơ. Thơ cách tân của ông mới về hình thức lẫn nội dung nhưng vẫn còn phảng phất hơi thơ cũ, bàng bạc mơ hồ những âm thanh, vần điệu rất nên thơ. Người đọc vẫn rung động và cảm nhận được sự thể hiện của cuộc đời ở khía cạnh tích cực nên thơ của nó. Bài thơ “NẾU HÔM NAY” chứng minh luận cứ này:

nếu hôm nay
tôi còn hai mươi tuổi

tôi sẽ về
dù gió sáng mưa đêm
tôi sẽ về
chia sớt với anh chị em
niềm tin cùng hệ lụy
tôi sẽ về
ngày đi đêm nghỉ
tôi sẽ về
bằng khối óc con tim
tôi sẽ về
góp trắng thay đen
Nghiêng vai cùng gánh vác.
(Ngưng trích)

       

Người đọc vẫn nghe phảng phất những âm thanh vần điệu tuy không chặt chẽ, đăng đối như thơ tiền chiến nhưng vẫn cảm nhận được vần điệu nhè nhẹ ẩn khuất trong bài thơ và ý nghĩa cao đẹp của một người “không còn 20 tuổi”, mà tấm lòng vẫn muốn cùng anh chị em vùng lên đấu tranh đòi quyền sống, đòi Tự Do Dân Chủ cho quê hương Tổ Quốc.

Dùng ẩn dụ (métaphore), để làm đẹp tư tưởng là chủ đích của văn, làm đẹp ngôn từ là chủ đích của thơ. Trang Châu dùng điệp ý (“tôi sẽ về”) để nhấn mạnh, để làm nổi bật ý “tôi sẽ về” dù gió sáng mưa đêm, ngày đi đêm nghỉ, “tôi sẽ về” bằng khối óc con tim, “tôi sẽ về” góp trắng thay đen, nghiêng vai cùng gánh vác… Ngôn từ bình dị mà ý nghĩa sâu xa. Đọc thơ Trang Châu, độc giả còn thấy mùa xuân trong mùa hạ: Trong cây khô lá

Anh thấy màu tươi
Trên cánh hoa tàn
Anh thấy bình minh
Khi chiều nắng nhạt
Anh thấy mặt người gần
Trong ánh mắt người xa.

VI. CUỘC ĐỜI TRANG CHÂU: 

Một cuộc đời sôi nổi, đầy sóng gió và rất cô đơn. Nhà thơ tự thán:

Đời yên, ta chẳng là ta nữa 
Ta chỉ là ta khi bão lên
(Tình ta - Trang Châu)

Cái ta thật của Trang Châu là cái ta khi bão lên, nghĩa là khi có sóng gió, bão bùng thì cái ta thật của Trang Châu mới hiện ra. Nếu thật vậy thì người nghệ sĩ Trang Châu sống trọn vẹn cái nghệ sĩ tính của mình, sống tận cùng cái bản ngã nghệ sĩ của mình. Dường như đó là cái hạnh phúc của người nghệ sĩ Trang Châu. Nhiều lúc rất cô đơn, không ai hiểu mình: “Ta trót sinh đứng bên lề cuộc sống/ Mang cô đơn lầm lũi một mình đi/ Người hiểu ta xa như bờ núi thẳm/ Người ở gần như khối đá vô tri./ Những tình yêu ta đã cho và nhận/ Những buồn vui như bọt nước mong manh.

Tuy nhiên, cuộc đời dù sóng gió, sôi nổi nhưng có lúc phải dừng bước giang hồ tìm một tổ ấm. Trang Châu cuối đời sung sướng gặp được người:

em như tuổi mộng không già
tình chan chứa đọng trong tà áo bay
từ thân lữ khách không nhà
em dang tay đón môi ngà ngọc dâng
.....
dẫu ta cát bụi phong trần
cũng xin rũ áo một lần nghỉ chân
Nhà thơ bây giờ dừng bước giang hồ, hạnh phúc với tình yêu chân thật:
Ta về bỏ gió băn khoăn
Bỏ mây lơ lửng, bỏ trăng ven đồi
Bỏ buồn, bỏ nhớ khôn nguôi
Làm con tim nhỏ cuối đời yêu em
Xin thành tâm chúc nhà thơ sống hạnh phúc với người yêu trong tổ ấm cuối đời.


T.B: Vì khuôn khổ của một bài viết không cho phép. Vườn thơ Trang Châu còn nhiều điều chưa được nói đến. Bởi có nhiều cái LẠ về ngôn từ, về tứ thơ, về nghệ thuật sử dụng hòa phối ngữ âm, về sự luyến láy và trên tất cả là tấm lòng yêu nước của nhà thơ dù tuổi đời đã qua con số tám nhưng nhà thơ vẫn muốn góp sức với tuổi trẻ vươn lên cùng với hồn thiêng sông núi. Tấm lòng đó đáng trân quý biết bao!

LÊ QUỐC
* Hè năm 2022
-------------
*Nhà văn Lê Quốc là tác giả tuyển tập văn Một Góc Trời Quê xuất bản năm 2016. Trước 1975, sau khi đậu Cử nhân Văn khoa và tốt nghiệp Cao học Kinh tế-Tài chánh, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, ông làm Thanh tra Tiểu học rồi Giáo sư Trung học Đệ Nhị cấp, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, sau cùng là Đốc sự Hành chánh (Phó Trưởng ty Thuế vụ Quận 6-11 Đô thành Sài-gòn và Gia-định). Ở hải ngoại ông có bài viết đăng ở các tạp chí Nghệ Thuật, Làng Văn, Thời Báo, Sàigòn Nhỏ, Tân Văn, Đồng Nai Sông Cửu, Người Việt Montréal.

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Trở Về Làng Cũ


Tháng Chạp cuối năm, 
Trở về thăm làng cũ Tôi đi dưới nắng hồng Bàn tay chưa sạch bụi Mà tình xuân mênh mông...
Gió bấc liu riu trên mấy ngọn mù u, từng cơn rượt đuổi nhau xào xạc trên cánh đồng lúa chín vàng một khung trời.

Gió lạnh se se. Vài con vạc ăn đêm về muộn, xoải cánh bơ phờ, buông tiếng kêu xao xác, rã rời như cảm thấy lạnh vì ngọn gió từ phương Bắc thổi về... Cái lạnh miền Nam không rét buốt, nghiệt ngã như miền Bắc, khiến cụ già co ro, run rẩy trong chiếc áo ngự hàn, mà chỉ nhè nhẹ làm hồng thêm đôi má các cô gái đang tuổi xuân thì. Mấy ông già miền Nam sáng nay thức dậy, bỗng thấy có cái gì khác lạ : Trời còn mờ mờ tạnh ráo, không khí lành lạnh, những giọt sương còn đẫm ướt trên thảm cỏ xanh, có tiếng con chim khách lanh lảnh reo vui trên ngọn bằng lăng cạnh nhà. Ông già mặc vội thêm chiếc áo, ra hàng ba lấy con cúi đang ngún cháy, nhúm bếp lửa, đun sôi chiếc ấm pha trà. Ngồi bên lửa hồng ấm áp, ông già gật gù nhắp chén trà sen bốc khói thơm ngào ngạt mà nghe trời đất chuyển mình sang xuân, nghe lòng già thoang thoảng niềm vui khi ngọn gió bấc nhè nhẹ len vào hồn. Ông già che mắt nhìn trời, khoan khoái lầm thầm : " Tết đến nơi rồi ! "

Tôi trở về thăm làng cũ vào ngày mà thằng bé được ăn chén chè đậu trắng nước cốt dừa mà nó ước mơ mấy tháng tháng trước, khi nghe tiếng con cu đất gáy vang trên ngọn tre cao chót vót ngoài vườn: Cu kêu ba tiếng cu kêu Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè . Tội nghiệp thằng bé con nhà nghèo ! Chỉ cái ước mơ đơn giản là được ăn chén chè mà phải đợi đến ngày Ba nó dựng cây tre nêu có tờ giấy hồng điều phất phơ và cúng tiễn đưa ông Táo về Trời.

Trở về thăm làng cũ - tôi không còn ở vào cái tuổi hái hoa bắt bướm - cái thời thiếu niên của những buổi chiều vàng, ngồi bên bờ sông Long Hồ, đưa mắt nhìn theo những về lục bình trôi lang thang vô định mà mơ mộng viển vông...Tuy vậy, xa nhà lâu ngày, nay trở về nơi xóm cũ làng xưa, kỷ niệm rải rác trên từng bước đi, giăng mắc trên lùm cây bụi cỏ, trên dấu chưn bước qua chiếc cầu tre bắc ngang dòng sông đục nước phù sa. Những ngày vui thời thơ ấu bỗng vụt hiện về - không phải trong ký ức - mà ngay trước mặt, trên con đường làng đưa tôi về quê nội.

Trời chưa sáng hẳn. Từng vũng tối sáng loang lổ. Mặt trời lấp ló ở phương Đông, chiếu những tia sáng trinh bạch, nhuộm hồng mấy đám mây xám tận chân trời. Tôi bước đi trong niềm vui rạo rực. Làng xóm rộn rã.Tiếng quết bánh phồng vang lên khắp xóm.Tiếng mấy bà nhà quê ơi ới gọi nhau đi cán bánh phồng vần công, điểm thêm tiếng giã gạo chày ba muộn màng từ xa vọng lại, làm tăng thêm vẻ rộn ràng, hối hả chuẩn bị ngày Tết. Đó đây, trước mấy sân nhà trong xóm, thấp thoáng những bếp lửa, than cháy đỏ hồng, toát ra những tia lửa xanh lè liếm quanh nồi luộc bánh, như tiếp tay với mặt trời, làm cho buổi bình minh tăng thêm màu sắc Tết. Những nồi bánh tét, bánh chưng màu lá chuối xanh, sôi ùng ục, tỏa khói mịt mù...Tuổi già không ngủ, ông già ngồi sưởi ấm bên bếp lửa, sẵn tay thêm củi vào cho lửa cháy bùng lên, kêu lách tách. Ông lần lưng lấy gói thuốc rê vấn một điếu, lè lưỡi dán dính lại, châm vào que củi đang cháy đỏ, đưa lên miệng bập bập, rít một hơi dài, phà khói mịt mù...Ông già khoan khoái nhìn trời đang bắt đầu một ngày mới. Dọc hai bên đường làng, đó đây có những bà già - chừng như bà nội, bà ngoại hay bà mẹ - thoăn thoắt trở qua trở lại chiếc kẹp, nướng mẩu bánh phồng lên, bay mùi thơm phức, ngọt ngào. Đám con cháu bu quanh, chờ cho chiếc bánh nguội bớt, chia nhau bẻ rôm rốp, bỏ vào miệng nhai rào rạo, cười đùa sung sướng. Nhưng chợt nhìn bà nội lưng đã còng, đôi tay run rẩy, còn bà mẹ năm nay, tóc đã điểm sương pha, đám trẻ con bất chợt nghe lòng dâng lên niềm thương cảm...


Bên cạnh cái cảnh rộn ràng chuẩn bị bánh tét bánh phồng, gói nem, gói bì, làm bánh mứt, những nhà giàu bày trà rượu hực hỡ trên bàn thờ, nhứt định không thiếu một cặp dưa hấu thật lớn chưng cạnh dĩa ngũ quả " Mãng cầu, trái sung, dừa, đu đủ, xoài ", tượng trưng cho cái quan niệm khiêm cung của tổ tiên ta là "Cầu sung vừa đủ xài". Bàn thờ ông bà được quét dọn sạch sẽ. Bộ lư đồng, cặp chưn đèn, chiếc lư hương cũng được lau chùi láng bóng. Chiếc độc bình màu trắng, chạm trổ hình thất hiền trong rừng trúc, sẵn sàng để cắm một cành mai chờ nở đúng vào đêm giao thừa.

Chuẩn bị thức ăn - nhà nghèo lo dỡ chà, đặt lờ, đăng đó bắt cá, giậm cù bắt chuột đồng, đặt bóng đuổi chim võ vẽ, chàng nghịch, óc cao, gà nước, đem về nuôi chờ Tết. Nhà giàu, các điền chủ trong làng cho gia nhân tát đìa, chắt đập, bắt cá lóc to, cá trê vàng lớn, cá rô mề, tôm càng, tôm lóng đem về đổ đầy cả sân. Lớp ăn, lớp bỏ vào chiếc khạp lớn sau nhà. Tôm càng đem rọng trong sông nước ngọt, chờ Tết làm mâm cỗ thịnh soạn rước ông bà ngày ba mươi Tết. Đồng quê chuẩn bị thật rộn ràng, lòng người náo nức hân hoan. Nhà giàu đón xuân, nhà nghèo vay nợ, nông dân bán lúa non - nhà nhà nao nức trông chờ Tết đến. Không khí rộn rịp chờ đón ngày năm cũ bước đi, năm mới tới.

Trời đất vào xuân. Con người đón Tết

Cây lá mặc chiếc áo mới. Hàng rào xương rồng lấm tấm hoa vàng. Cây vông nem, lá xanh biếc, nức lên những nụ màu đỏ thẫm. Trời đã sáng hẳn. Hai bên đường, cây lá, hoa cỏ như chào đón tôi - kẻ tha phương trở về thăm làng cũ. Những líếp hoa huệ trắng tinh, hoa mồng gà, nở ngài, móng tai, thược dược đỏ thắm, khóm cúc vàng tươi mỉm cười trong nắng sớm. Hai bên con đường đưa tôi đi sâu vào trong xóm, nhà nào cũng trang điểm một cây mai đã lặt lá từ ngày rằm, nay lún phún những búp non như mủi viết, tràn ứ nhựa xuân căng mọng lên, hứa hẹn những cánh mai vàng sum sê ngày Tết. Thuở ấy, mai chỉ có năm cánh mà cũng vàng rực khắp làng. Vùng Bến tre, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ - ngày Tết mai nở tỏa vàng một góc trời, cánh hoa rụng ngập những con rạch nhỏ hay con suối chảy trong rừng. Mãi đến sau nầy mới có mai sáu cánh, tám hoặc mười hai cánh, đẹp não nùng, đẹp rực rỡ như một cô gái hơ hớ tuồi xuân thì.

Một tay chơi mai nổi tiếng trong làng là Cai Tổng Xu, Tết năm nào trước nhà ông cũng có một cây mai trồng trong chậu, nở hoa vàng cả sân. Lối xóm bu quanh trầm trồ. Ông lập tới ba phòng. Tình, tiền chu cấp đầy đủ.Mấy bà vui vẻ. Không nghe ai than phiền gì.Tuy vậy nghe dồn có một lần tình cờ ông ghé nhà bà ba, nghe tiếng bà rên ư ử...tưởng bà bị bịnh, lấy chìa khóa riêng mở cửa phòng, ông bước vào phòng thấy bà thân thể lõa lồ, thằng ở đang âu yếm gãi lưng cho bà. Ông nổi trận lôi đình, định cắt đứt giây ân ái. Bà Ba năn nỉ : Mình à ! Em ngứa lưng quá. Nhà lại không có ai nên biểu thằng ở gãi lưng chút thôi, chút có làm gì đâu. Nó là thằng nhút nhát. Biểu cái gì nó làm cái ấy. Em mới biểu nó gãi lưng chứ chưa có biểu nó làm gì hết. Bà ba tuổi xuân hơ hớ, thẹn thùng kéo vội chiếc áo che đôi ngực nõn nà. Ông Cai tiếc của đời, đành bỏ qua..


Năm đó khoảng 1959-60, chiến tranh chừng như lắng dịu như mặt nước hồ thu lăn tăn gợn sóng. Nhưng những đợt sóng ngầm như nằm dưới đáy, chờ ngày bùng phát dữ dội hơn. Nhưng đó là chuyện ngoài tầm tay, ngoài ý muốn của người nông dân chất phác. Còn bây giờ ăn Tết đã . Hôm nay trở về làng, tôi bước đi hớn hở trước cảnh tưng bừng rộn rịp của làng xóm. Nhưng cảnh vật rộn ràng đó, cũng không dấu được những dấu vết điêu tàn của thời tiêu thổ kháng chiến. Mấy cấy cầu sắt hoen rỉ, còn trơ lại những cây trụ cũng mòn mỏi với thời gian. Ngôi trường cũ nền đúc cao tới ngực, tấm biển lớn treo giữa tường mang dòng chữ Pháp"École Élémentaire Franco Indigène", hiện ra trước mắt tôi như ngày nào ba tôi dẫn tôi tới trường trong buổi học đầu đời. Nay chỉ còn là một bãi cỏ hoang tàn, gió đưa hiu hắt... Tiếng con tắc kè chắc lưỡi thở than ngoài cái miếu hoang đầu làng, như chia sẻ cùng tôi, nỗi buồn man mác trước cuộc dâu bể tang thương của cuộc đời !

Tôi tiếp tục đi trên con đường làng với tâm trạng bnồn vui lẫn lộn. Làng tôi nghèo khổ, xác xơ. Đa số là nông dân tá điền, làm nghề chài lưới, thợ mộc, thợ rèn, buôn bán trên ghe thương hồ, làm mướn làm thuê, Họa hoằn có một vài người, con của chủ điền, đỗ được bằng C.E.P.C. I và duy nhứt có một người đỗ bằng Thành chung thời Tây gọi là D.E.P.S.I ( Diplôme d'études Primaire Supérieure Indochinoise) nhưng rồi cũng không có công lao gì hiển hách. Chỉ ở nhà trông coi ruộng vườn, ăn chơi đờn ca xướng hát, la cà gạ gẫm mấy cô gái quê mang bầu rồi quất ngựa truy phong. Tiếng xấu đồn xa cả làng. Làng tôi như vậy đó. Không phải là đất địa linh nhân kiệt, cũng không là nơi sản xuất ra văn nhân tài tử nổi tiếng. Chỉ có hai người biết chữ nho là Ba tôi và ông Văn Minh - còn thì học lóm vài câu rồi tán dóc trong buổi trà dư tửu hậu. Nhưng thật sự hai vị nầy cũng như những hương chức trong làng cũng không có tiếng tâm gì lưu lại cho con cháu đời sau. Chỉ vài ông bô lão còn sống sót nói với tôi : " Ba mầy hồi đó viết liễn, chữ đẹp lắm" . Thế thôi ! Thậm chí đến cái sắc thần mà năm nào dân làng cũng đón rước linh đình, trống chiêng inh ỏi, cũng không biết vị thần ấy là ai ? có công trạng gì ? chỉ có vài chức sắc còn thấy được cái sắc thần - còn đa số dân làng cũng không biết cái sắc thần ra sao, chỉ nghe đồn là đó là lệnh có ấn của vua ban xuống. Cho nên - ai cũng khiếp sợ, không ai dám hỏi tới nữa. Làng tôi như vậy đó. Không có tiếng tâm gì, không có nhân vật nào đỗ đạt có tên trong bia Tiến sĩ hay là tướng lãnh anh hùng, danh thơm để đời như cụ Nguyễn trung Trực, Thủ Khoa Huân v.v...

Nhưng, ngược lại có hai người mà ai cũng biết, tiếng tăm vang dội khắp làng : Anh chín Khùng và thằng bao bố - hai cái tên quen thuộc đến không ai là không biết. Người lớn biết đã đành, trẻ nhỏ cũng biết, đầu làng cuối xóm ai cũng biết. Anh bị bệnh khùng bẩm sinh. Sinh ra, anh đã là đứa trẻ nhỏ gầy ốm, xanh xao, ngơ ngác. Sáu tuổi chưa biết nói. Chỉ lắc lắc cái đầu, chỉ trỏ lung tung, cười cười không thành tiếng. Cha anh bị Tây bắn chết trong một cuộc ruồng bố. Mẹ anh vất vả cày cấy mướn, nuôi anh. Rồi mấy năm sau, bà bị bạo bệnh qua đời. Chín Khùng bơ vơ. Lang thang xin ăn khắp làng, lần hồi ra đến Tỉnh, bị đám học trò nghịch ngợm chọc phá. Anh chỉ nhăn răng cười, nói làm xàm trong miệng. Anh rất hiền lành. Mấy bạn hàng trong chợ thương tình, cho cái bánh bò, bánh "dầu cháo quẩy", thỉnh thoảng có người hào hiệp bỏ tiền ra nấu cho anh tô hủ tiếu. Ngày ấy anh sung sướng lắm ! Có lần, đi lang thang phía rạch Cầu Lầu, chợt thấy một đứa bé té xuống sông, ngoi lên hụp xuống, uống nước đầy bụng, sắp chết đuối, chín khùng không biết có gì thúc giục, liền nhảy xuống sống ôm đứa bé dìu lên bờ. Lối xóm bu lại cứu được dứa nhỏ... Cha mẹ đứa nhỏ hay được chạy lại mừng rỡ hết lời cám ơn chín Khùng. Anh nổi tiếng từ đó. Đám học trò cũng thôi không chọc phá mà còn tỏ ra thương và kính trọng anh nữa. Nhưng anh vẫn tiếp tục khùng, kéo lê cuộc đời buồn thảm nơi xó chợ đầu đường. Mãi về sau, một anh bạn tôi thảng thốt nói với tôi : Chín Khùng chết rồi! Tôi ngẩn ngơ. Năm nay về thăm làng cũ, tôi không còn thấy được anh chín Khùng nữa. Anh chỉ còn lưu lại hình ảnh và tiếng tâm anh trong lòng tôi, cũng như trong làng xóm, người ta vẫn nhắc đến tên anh còn hơn nhắc đến tên quan chánh tham biện hay quan chủ quận xem làng xóm chỉ là nơi tạm bợ, đến vồ vập rồi đi lầm lũi... Nhân vật thứ hai tôi muốn tìm gặp là thằng bao bố. Nó nổi danh không kém anh chín Khùng. Điều đặc biệt khiến anh nổi danh là: Tài bắt chó và nấu món chó tay cẩm ăn nóng với củ riềng và đưa cay một ly nước mắt quê hương thì mọi việc trên đời coi như pha. Anh nổi danh không chỉ tài bắt và nấu thịt chó mà còn vang lừng trong làng chó. Bất cứ nơi nào anh đến, làng kế cận, kể cả ngoài tỉnh thành, chó không biết anh - nhưng thấy bóng dáng anh thì cho mẹ, chó con, chó hàng xóm,chó Tây, chó ta,chó mực,chó cò - đều ào ra sủa một lượt, sủa dữ dội, sủa điên cuồng, sủa như sủa một kẻ thù bất cọng đái thiên của nhà chó. Anh ta chẳng có nghề ngỗng gì, suốt ngày lê la ở mấy quán cóc đầu làng. Dân làng gọi anh là "Tư cà nhổng". Anh thành danh từ đó.

Anh thuộc lòng mấy ngày giỗ kỵ, cúng đình, cúng kỳ yên trong làng. Anh ta biết "nói thơ" Lục vân Tiên. kể chuyện Thầy Thông Chánh bắn quan biện lý Tây, cậu Hai Miêng rong thuyền đi chơi khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Mấy thằng nhỏ bu quanh nghe anh ta kể chuyện rất say mê thích thú. Anh ta lại nhái thơ Lục vân Tiên, dạy mấy thằng nhỏ: Vân Tiên ngôi dựa bụi môn. Chờ cho trăng lặn rờ...( bỏ 1 chữ) Nguyệt Nga. Mấy thằng nhỏ tò mò khoái chí "nói thơ" vang cả xóm bị ông già rầy la dữ dội, nhưng vẫn lén lút khoái chí truyền đọc cả làng. Đặc biệt, anh ta còn học lóm đâu đó, mấy câu đờn kìm, bài vọng cổ. Cho nên, anh ta "tư cách" lắm. Thèm nhậu, mỗi khi nghe nhà ai "động dao động thớt " là mon men đi qua đi lại ngoài lộ cái, không vào nhà. Anh rành tâm lý dân Nam Kỳ xởi lởi, rộng rãi, thế nào cũng mời mình. Quả đúng vậy, có người thấy anh ta đi tới đi lui ngoài lộ, liền kêu : " Ê, Tư vào đây làm một ly, mầy". Thế là anh ta đường hoàng đi vào. Không ngồi vào bàn liền. Đội mời đôi ba lượt mới chịu ngồi xuống. Và khi ngồi rồi thì không chịu đứng dậy.

Nhờ la cà mấy quán có đầu làng, mấy tiệc nhậu trong xóm lại thêm nghề bắt và nấu thịt chó, biết chút ít "nói thơ" Lục vân Tiên, thơ thầy Thông Chánh, lại biết đờn ca vọng cổ, anh ta làm quen và gieo cảm tình với tất cả mọi người. Anh ta nổi tiếng là người biết nhiều chuyện nhứt trong làng. Từ chuyện " đầu heo cắt tai" thú phạt, chuyện thầy giáo Tám dê học trò, chuyện bà ba bắt thằng ở gãi lưng, chuyện anh em cô cậu Đ...lấy nhau bỏ trốn, chuyện cậu Tư gạt gẫm lấy chị Sáu Gi... có thai rồi bỏ không nhìn, khiến chị ra sau vườn đẻ đại, gói bỏ đứa nhỏ trong bao giẽ rách, kiến bu đầy người...Làng xóm tri hô lên. Đứa nhỏ đã chết tự bao giờ. Dân làng đều biết cha đứa nhỏ là ai, nhưng im lặng...Nói ra không bằng chứng, lại bị trả thù. Ai muốn biết chuyện bí mật phòng the, hay ai có chuyện tranh chấp gì đều tìm đến anh ta. Đờn ca thì thấu tai cậu mười Vận. Về sau, Mười Vận và Tư cà nhổng trở thành đôi bạn đờn ca tương đắc.Tranh chấp đất đai thì có Cai Tổng Xu và chủ Mạnh.

Thời đó - thế chiến thứ II chấm dứt - Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Vua Bảo Đại theo truyền thống là người có thẫm quyền đại diện cho quyền lực chính thống. Học giả Trần trọng Kim được vua Bảo Đại mời lập chánh phủ. Lúc giao thời, chánh phủ yếu kém về mọi mặt, không có bộ Quốc Phòng, không có Cảnh sát bảo vệ. Hồ chí Minh với một lực lượng khoảng 5000 người, thừa cơ cướp chánh quyền, ra tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2 - tháng 9 năm 1945. Nhưng rồi với thế yếu, ông Hồ ký kết cho Pháp trở lại cai trị Việt Nam và rút vào bưng kháng chiến.

Pháp lần hồi tái lập nền cai trị Việt Nam. Thằng "Tư cà nhổng"- người biết nhiều chuyện nhứt trong làng bỗng nhiên được quan ba Savany thuộc Tiểu Khu Vĩnh Long, bí mật mời gặp mặt. Từ đó, "Tư cà nhổng" hút thuốc thơm hiệu "Cotab", ăn uống phủ phê, nhậu nhẹt suốt ngày...Trong khi dân làng đói khổ, ăn mặc rách rưới, có người mặc quần bằng bao bố tời, ban đêm đốt đèn bằng cây rọi mù u... Không nước mắm, nước tương, không đường cát, không hàng vải may mặc, chỉ thỉnh thoảng có đường thốt nốt lậu đựng trong khạp đầy xác ruồi, gián. Ban ngày, Tây ruồng bố bắt người đánh đập tra khảo. Ban đêm Việt Minh về hoạt động, ép dân xài tiền " Cụ Hồ", bắt người tình nghi cho mò tôm hoặc xử bắn, quăng xác xuống sông. Thằng chỏng trôi đầy sông Long Hồ. Kênh kênh, diều quạ đánh hơi xác chết, bay rầm rập... Cá tôm theo nước lớn, nước ròng rỉa ăn xác chết. Dân làng không ai dám ăn tôm cá. Thật là một thời kỳ khủng khiếp, ghê tởm nhứt.

Thằng Tư có lần bị bắt chung với dân làng, nhưng độ vài giờ sau được thả ra. Dân làng lấy làm lạ. Hôm ấy, Tây bố ráp qui mô nhiều làng trong Tỉnh. Thằng Tư bỗng biến mất. Dân làng bị bắt ngồi la liệt dưới nắng nóng rát da, mồ hôi nhễ nhại. Bỗng có hai thằng mang bao bố trùm đầu kín mít, chỉ chừa hai lỗ cho con mắt, cùng đi với quan ba Savany. Khi nó gật đầu trước ai, thì quan ba ra lệnh cho lính tới còng tay dẫn đi. Ngày ấy chú mười Vận cũng bị bắt cùng với dân làng. Khi hai thằng bao bố sắp tới trước mặt chú. Một thằng đi lướt qua, thắng thứ hai ngừng lại trong chốc lát rồi lắc đầu bỏ đi. Mười Vận run cầm cập trong lòng như chết đi sống lại. Buổi chiều hôm đó, cậu được thả ra, liền tức tốc kêu xe lôi về nhà. Trong lòng thắc mắc không biết nó là ai ? Tại sao nó lắc đầu cho quan Ba không bắt còng tay mình?

Không sống nổi với cảnh "một cổ hai tròng" - cậu Mười dông tuốt lên Saigòn, mở một " garage" tại đường Nguyễn Hoàng, mướn thợ rành nghề sửa xe, về sau cũng khá giả. Thằng Tư bỏ làng đi mất biệt. Cũng không một lần gặp lại mười Vận. Cậu Mười luôn luôn tự hỏi không biết nó là ai mà cứu cậu khỏi cảnh đánh đập tù đày?

Hôm nay, tôi về làng- ngoài mục đích thăm má tôi còn có mục đích thăm làng để tìm hai nhân vật nổi tiếng trong làng: Chín Khùng và thằng Tư cà nhổng. Chín Khùng đã ra người thiên cổ. Thằng Tư cà nhổng, về sau dân làng tình cờ biết được nó chính là thằng bao bố. Nó đã bỏ làng đi biền biệt phương trời. Có lẽ nó ân hận vì có lúc nó làm thằng bao bố điềm chỉ cho Tây - dù chỉ một thời gian ngắn.. Mười Vận luôn luôn thắc mắc không biết có phải là "nó" đã cứu mình không ? và ước mơ có ngày gặp lại để đền ơn cứu mạng, nhưng bóng chim tăm cá. Cậu Mười nay tóc đã bạc trắng mái đầu mà thằng bao bố vẫn như cánh chim trời bạt gió.. ./.

Lê Quốc

Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2021

Một Giai Thoại Văn Chương

 
                                 

Một giai thoại văn chương vô vùng thú vị. Người đời sau, khi đọc giai thoại nầy ắt phải thầm phục một người có một tài năng hiếm có và một sở học uyên thâm, đã làm rạng danh nền văn học Việt Nam trước một cử toạ gồm toàn người ngoại quốc. Thế hệ sau ắt sẽ tỏ lòng biết ơn và hãnh diện về giá trị của nền văn hoá của ông cha lưu truyền lại cho con cháu. 

Câu chuyện xảy ra trong bối cảnh một buổi sinh hoạt của hội truyền bá thơ Tanka của Nhật bản tại Paris năm 1964. Buổi họp gồm toàn là người Nhựt và người Pháp. Chỉ một người Việt duy nhứt được mời là giáo sư Tiến sĩ Trần văn Khê. Diễn giả là một ngưởi Pháp. Bước lên diễn đàn, diễn giả mở đầu buổi nói chuyện:

“Thưa quý vị,

Tôi là Thuỷ sư đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, Tanka là một đoá hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói  một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được."

Phân tích bài phát biểu của ông Đề đốc trên, người ta nhận thấy những điểm sau : 

 1.- "Sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể": Không thấy, giả định rằng ông đã đọc nhiều văn chương Việt Nam mà không thấy một áng văn nào đáng kể ? Điều nầy không đúng vì nếu ông đọc nhiều văn chương Viêt Nam, nhứt định ông sẽ thấy được một hay nhiều áng văn đáng kể. ( Thí dụ như truyên Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc v.v…) Hoặc không thấy vì ông không hề tìm hiểu hay giao du với giới văn học, nên dốt đặc về văn chương Viêt Nam. "Không thấy một áng văn nào đáng kể” là một câu nói hồ đồ để lấy lòng một cách vụng về, nhóm truyền bá thơ Tanka Nhựt Bổn và làm tổn thương đến danh dự của nền văn học Việt Nam và cả đến người Việt Nam. Thật đáng tiếc cho một sĩ quan cao cấp mà ăn nói khoác lác, hàm hồ, tự làm giảm danh dự mình trước một cử toạ trí thức.                                                                            

2.- "Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm." Mặc áo thụng vái thơ Tanka nhưng lại gián tiếp chê văn chương Việt Nam trong khi mù tịt về thi ca Việt Nam. Quả thật ông nầy là người « dốt hay nói chữ ». Văn học Trung Quốc có câu : Tri chi vi tri chi. Bất tri vi bất tri. Thị tri giả. »( Biết thì nói là biết. Không biết thì nói là không biết, Ấy là biết vậy). Ông Đề Đốc nấy quả thật là «  người điếc không sợ súng ». Đáng tiếc !    

3.- "Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc đậm đà." : Vì thiếu hiểu biết về văn chương Việt Nam mà chỉ nhìn vào thơ Tanka, nên ông nầy mới ca tụng thơ Tanka như thể không có thơ nào đặc sắc như vậy. Thi ca Việt Nam có hàng ngàn, hàng chục ngàn câu thơ nói về một ngọn núi hay một dòng sông mà chứa đựng bao nhiêu tình cảm sâu sắc đậm đà. Lấy một thí dụ:"Dáng chàng theo lớp mây đưa, Thiếp nhìn ngọn núi ngẩn ngơ nỗi nhà"

4.- "Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được" Chỉ biết thơ Tanka thôi mà dám đại ngôn cho rằng các nước khác không dễ có được. Các nhà bình luận lừng danh thề giới khi bình luận thơ Apolinaire, thơ Verlaine, Lamartine cũng không bao giờ dám buông lời ngông cuồng như thế. Điều nầy chứng tỏ ông đề Đốc nầy là cái thùng rổng kêu to. 

Giáo sư Trần văn Khê là một trí thức, có một sở học uyên thâm, ông chứng minh từng điểm cho ông Đề Đốc thấy cái dốt và cái « dốt hay nói chữ » của mình đồng thời trình bày với quan khách vè nền văn học kiệt tác của Việt Nam.             

 1. Giáo sư Khê hỏi ông Đề Đốc"Ở Việt Nam ngài chơi với ai mà hỏi không thấy một áng văn nào đáng kể?" Để mắng xéo ông Đề Đốc, giáo sư Khê tự trả lời luôn câu hỏi: "Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến sự ăn uống, chơi bời, hút xách… (Ý nói ngài chỉ ăn chơi, trác táng, truỵ lạc thì làm sao thấy được cái gì gọi là văn chương nghệ thuật. )       

Phải chi ngài chơi với giáo sư Émile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durant thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durant đã cất công sưu tập…Ông Durant còn cho biết thêm về hát chầu văn, và xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hoá của người Việt. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi sẽ có đến hàng ngàn, hàng chục ngàn áng văn kiệt tác.( Chữ ngài viết không hoa là ý của tác giả Trần văn Khê.)                                                                       

Mặt khác, giáo sư Khê còn gián tiếp phê phán ông nầy "phách lối ":" Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay của văn hoá mình cho người khác nghe. Nhưng họ cũng chọn mặt gửi vàng, với những người PHÁCH LỐI, có khi chúng tôi không tiếp chuyện.                       

Việc ngài không biết một áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, đối xử với người Việt Nam ra sao. Tôi rất tiếc về điều đó."   

2.- Ngài nói về thơ Tanka:"Chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu  tình cảm."    Thi ca Việt Nam chúng tôi cũng có nhiều ca dao, hò vè của giới bình dân, nói về ngọn núi, một con sông, hay dùng hoa lá nói thay tâm sự của mình như:                    

"Núi cao chi lắm núi ơi!                                                   
Núi che mặt trời không thấy người yêu"                               

Hoặc:                                                   

"Đêm qua mận mới hỏi đào ;                                         
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa"( Ca dao)                                       

Thật ra, giáo sư Khê chỉ dùng những câu thơ ngắn để so sánh với thơ Tanka vốn là một thể loại thơ ngắn của Nhật. Tanka là «  Đoản ca » và chõka  là Trường ca. Còn văn chương của ta không thiếu những câu thơ dùng núi và sông, suối còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn nữa. Thí dụ:    

"Dấu chàng theo lớp mây đưa                                         
Thiếp nhìn ngọn núi ngẩn ngơ nỗi nhà."                              

Về  sông :                                            

"Chàng ở đầu sông Tương                                         
Thiếp ở cuối sông Tương                                             
Nhớ nhau mà không gặp                                             
Cùng uống nước sông Tương"                         

Nguyên bản:                                                       

Quân tại Tương giang đầu                                       
Thiếp tại Tương giang vĩ                                            
Tương cố bất tương kiến                                           
Đồng ẩm Tương giang thuỷ. ( Trường tương tư – Lương ý Nương )   

 3.- Về 31 âm tiết trong thơ Tanka: Giáo sư Khê kể lại một câu chuyện vô cùng lý thú:         

Đời nhà Trần nước Việt Nam chúng tôi vào thế kỷ 13. Nhân lúc một bà phi của vua nhà Nguyên qua đời. Vua nhà Trần sai Trạng Nguyên Mạc đỉnh Chi đi sứ sang Tàu để chia buồn với vua nhà Nguyên. Bà phi nầy rất được sũng ái, nên vua nhà Nguyên vô cùng thương tiếc. Trong một buổi đại trào gồm bá quan văn võ, các văn nhân, học giả, sứ thần các nước, vua nhà Nguyên muốn có một kỷ niệm với bà phi tần yêu dấu, nên đưa ra một đề tài cho tất cả quan viên và sứ thần có mặt làm một bài ai điếu. Quan Lễ bộ Thượng Thơ bước lên diễn đàn, cầm một bao thơ  niêm kín có chứa đề tài của vua, xé ra đọc:                                            

Đề tài chỉ có: Bốn chữ Nhứt.                                                                              

Các quan viên văn võ, các sứ thần đều hoảng sợ vì đề tài khó quá. Chỉ 4 chữ nhứt làm sao sáng tác nổi bài ai điếu.    Trạng nguyên Mạc đỉnh Chi, sứ thần của Việt Nam, không chút sợ sệt, ung dung bước lên diễn đàn sang sảng đọc bài ai điếu có 4 chữ Nhứt:                    

"Thanh thiên NHỨT đoá vân
Hồng lô NHỨT điểm tuyết
Thượng uyển NHỨT chi hoa
Dao trì NHỨT phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết."                                                                                      

Dịch nghĩa:                                                                                                                        

"MỘT  đám mây giữa trời xanh                                         
MỘT bông tuyết trong lò lửa                                              
MỘT  đoá hoa trong vườn Thượng Uyển                                 
MỘT vầng trăng trên mặt nước ao hồ                                     
Ô hô! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết."                 

Tất cả có 29 âm tiết, chứ không cần 31 âm tiết như ông Đề Đốc dẫn thơ Tanka.   

 Khi Giáo sư Trần văn Khê giải nghĩa những cân thơ nầy thì khán giả vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt  Ông Thuỷ sư đề đốc đỏ mặt, nói: Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình sai khi vô tình vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam.Tôi thành thật xin lỗi ông và cả dân tộc Việt Nam.

Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thuỷ sư đề đốc gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm tối. Giáo sư Khê tê nhị từ chối. Ông Thuỷ sư đề đốc nói : « Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi »   Giáo sư đáp lời : « Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là : « I forgive, but I cannot yet forget ( Tạm dịch : Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên được.)   

Mạc đỉnh Chi là một nhà khoa bảng,  học vấn uyên thâm, có tài ứng đối nhanh nhẹn, thông minh hơn người. Năm 1308 Mạc đỉnh Chi đi sứ sang Tàu, đối đáp thông tuệ, học vấn uyên thâm. Trong một phiên chầu, sứ giả nước ngoài dâng vua một cây quạt quý.Vua nhà Nguyên sai các sứ thần làm một bài thơ vịnh cây quạt. Mạc đỉnh Chi nhanh chóng làm một bài thơ thật hay, có khí phách lớn, chữ nghĩa đối nhau rất tài tình. Hoàng Đế nhà Nguyên xem thơ xong hết mực ngợi khen  và phê ngay vào bài thơ 4 chữ “ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” rồi tự tay trao cho Mạc đỉnh Chi.

Thật là một vinh dự tột đỉnh cho ông và cho cả nước Việt Nam có được một nhân tài xuất chúng.           

Lê Quốc
Viết theo Hồi ký Trần văn Khê do Quang Minh tổng hợp.
Mùa Đông Canada, ngày 11- tháng 12- 2020