Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Trung Thu Nhi Đồng - Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn

 

Tranh Sơn Dầu: Họa Sĩ Nguyễn Sơn



Có Không Em - Thơ & Thực Hiên: Hoàng Dũng - AI Hát

Thơ & Thực Hiên: Hoàng Dũng -
AI Hát

Xuân Về Hạ Vẫn

 

Gió xuân lay nhẹ đầu cành
Hương xuân thoang thoảng mộng lành đưa duyên
Tìm nhau khắp nẻo mọi miền
Chỉ nghe da diết đỗ quyên vọng về

Kim Phượng
***
Phương này nắng hạ vẫn còn vương
Phương ấy xuân sang tím cả trời
Kim Phượng ngàn trùng xa vạn dặm
Hương xuân theo gió quyện muôn phương

Hoàng Yến

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lăng Trung 十五夜望月寄杜郎中 - Vương Kiến 王建 (Vãn Đường)


Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Vương Kiến

Lời phi lộ

Chả biết quan lang trung họ Đỗ thân thế ra sao mà được Vương Kiến nhớ nhung sâu đậm như trong bài thơ dưới đây. Mời các bạn thưởng thức bài 十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung, một bài thơ yêu tinh tả mối tình tri kỷ.

Nguyên tác Dịch âm

十五夜望月寄杜郎中 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
不知秋思落誰家 Bất tri thu tứ tại thuỳ gia?

Dịch thơ
Ngắm Trăng Rằm Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trong sân đất trắng quạ trên cây
Hoa quế âm thầm hứng sương mai
Trăng sáng đêm nay ai cũng ngắm
Ý thu chẳng biết ngụ nhà ai?


Lời bàn
Đọc chầm chậm và liên tục cả 4 câu mới thấy lối cấu trúc âm thanh của bài thơ tuyệt vời
Câu 1:
Trong sân đất trắng (trời lạnh, sương đọng, trăng sáng làm cho mặt đất có màu trắng của sương mù). Quạ đậu trên cây (Có lẽ quạ đang ngủ vì không thấy kêu. Qụa vốn đa ngoa, hễ đậu là kêu inh ỏi).
Câu 2:
Sương lạnh âm thầm (sương rơi từ từ, thâu đêm) làm ướt đẫm hoa quế.
Câu 3:
Đêm rằm mọi người (chỉ thiếu bạn) đều ra ngắm trăng (cái ý nhớ bạn khơi ra từ câu này).
Câu 4:
Chẳng biết ý thu trụ ở nhà ai đây? Nói chẳng biết mà kỳ thực đã biết rồi, (chẳng biết = đã biết). Ý thu ở nhà ai đây? (ở nhà bạn ta chứ còn nhà ai nữa!)
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau, biến phủ định thành khẳng định (chẳng biết, đã biết), biến mơ hồ thành rõ ràng (tại nhà ai đây? nhà bạn chứ còn nhà ai nữa), biến mọi người thành một người (mọi người ra ngắm mà thiếu bạn), không nói tới nhớ bạn mà nhớ nhiều, không nói tới tri âm mà rất tâm đồng (bạn 

Con Cò
***

Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:

Trung đình: sân trong/trong sân? Nhà ngày xưa thường có sân trước/tiền đình và sân trong/sân giữa/trung đình. Nhà tôi trước 1945 cũng xây cất như vậy. Đất trắng chắc là vì sương. 
Bài này có hai dải, dải đầu gồm hai câu nói sương rơi trắng cả đất nhưng chỉ có hoa quế âm thầm đón sương thôi; dải hai gồm hai câu sau nói trăng chiếu khắp thiên hạ nhưng chỉ có một người âm thầm đón ý thu thôi. Tôi chia ra hai dải là bắt chước Kim ThánhThán và Trần Trọng Kim đấy. Hai bậc tiền bối này thường phân tích bài thơ kiểu như vậy.

***

Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung.

Trong sân đất trắng quạ cây nương,
Hoa quế âm thầm lạnh thấm sương.
Trăng sáng đêm nay bao kẻ ngắm,
Nhà ai nào biết ý thu vương?


Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Sept. 21/2026.
***

Ngắm Trăng Rằm Gởi Đỗ Lang Trung

Sân trong thềm trắng quạ nương cây
Móc lạnh lặng thinh đọng quế dầy
Trăng sáng đêm nay người thảy ngắm
Chẳng hay thu ý lạc nhà ai?

Song thất lục bát:

Quạ trên cây sân trong thềm trắng
Ướt quế hoa lạnh vắng móc rơi
Đêm nay thảy ngắm trăng soi
Chẳng hay thu ý lạc loài nhà ai?


Lộc Bắc
Sep26
***
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Cây quạ đậu giữa sân ánh trắng
Hoa quế dầm sương lạnh giăng rơi
Đêm rằm người ngóng trăng soi
Ý thu biết đọng ở nơi chốn nào.


Kim Oanh
***
Đêm rằm ngắm trăng

Sân trong đất trắng quạ trên cành
Sương lạnh âm thầm ướt quế nhanh
Trăng sáng đêm rằm ai cũng ngắm
Ý thu vằng vặc rớt nhà tranh?


Thanh Vân

***

Anh Giám thì nêu nhiều thắc mắc, vì không biết Đỗ Lang Trung là ai. BS thì thấy Đỗ là ai không quan trọng, tất nhiên ông ấy là bạn của Vương Kiến, Vương ngắm trăng rằm mà nhớ bạn.
Lời bàn của anh Hoàng Ngọc Khôi rất hợp lý, TRUNG ĐÌNH là SÂN TRONG, không phải trong sân, Tiền Đình là sân trước.
ĐỊA BẠCH thì BS thấy hơi lấn cấn:
- Anh Bảo cho rằng: trăng sáng làm cho mặt đất có mầu trắng của sương mù. Sương mù trắng khi chưa rơi xuống đất, tới đất thì đọng thành nước, không trắng nữa, chỉ có tuyết xuống đất, chưa tan mới trắng thôi.
- Anh Khôi thì “ đất trắng chắc vì sương “ BS thì nghĩ, mặt đất ướt vì sương tan, phản chiếu ánh trăng nên có mầu trắng.
Cái này là bàn chơi thôi, đâu biết tác giả nghĩ sao.
Hai câu đầu tả cảnh nơi tác giả ở, hai câu sau tỏ ý nhớ bạn, nghĩ rằng lòng bạn đầy ý thu khi ngắm trăng thu.

Ngày Rằm Ngắm Trăng Gửi Lang Trung Họ Đỗ 

Sân trong, đất trắng, quạ đậu cây,
Hoa quế ướt vì sương lạnh bay,
Đêm nay trăng sáng, người ngắm mãi,
Ý thu nào biết rớt nhà ai.

Bát Sách.
(Ngày 19/09/2026)
***
Nguyên tác:            Phiên âm:
十五夜望月-王建 Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt - Vương Kiến

中庭地白樹棲鴉 Trung đình địa bạch thụ tê nha
冷露無聲濕桂花 Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa
今夜月明人盡望 Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng
不知秋思在誰家 Bất tri thu tứ tại thùy gia



Các sách bên dưới có đăng bài thơ:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司馬集-唐-王建
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁
Nguyên tác bên trên được chép từ sách của Vương Kiến. Riêng sách Ngự Định Toàn Đường Thi 御定全唐詩 có tựa bài thơ là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung 十五夜望月寄杜郎中 và cho dị bản ở câu 4 là: lạc落=rơi thay vì tại在=ở.

Giải nghĩa chữ khó:

Thập ngũ dạ: đêm 15 của tháng, ngày rằm; ở đây là rằm tháng 8 Trung Thu
Đỗ lang trung: Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (773 – 833), một đại thần thời Trung Đường, từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông, bạn thân thiết của nhà thơ.
Lang trung: đây không phải là thầy thuốc Đông y, một cách gọi dân gian về sau này, mà là một chức quan triều đình. Trong hệ thống quan chế nhà Đường, là người đứng đầu một Ty thuộc Lục bộ (Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ...)
Trung đình: khoảng sân ở giữa nhà hoặc giữa vườn, sân trong, phần trung tâm của một ngôi đền
Địa bạch: mặt đất trắng xóa. Ở đây chỉ mặt đất ngập tràn ánh trăng rằm sáng trong như phủ sương, phủ tuyết; một loài chim bồ câu lớn, chúng chỉ đi bộ trên mặt đất chứ không bay lượn trên không trung nên mới có tên gọi như vậy, được nuôi để diệt trừ mối.
Thụ tê nha: quạ đậu trên cây. Con quạ vốn nhạy cảm với ánh sáng, khi trăng quá sáng ngỡ là trời rạng đông nên xao xác tìm nơi đậu.
Lãnh lộ: giọt sương lạnh lẽo của đêm thu.
Quế hoa: hoa quế (tên khoa học: Osmanthus fragrans), còn được gọi là Bạch Quế, Lan Quế. Hoa quế ở đây vừa chỉ những bông hoa quế nở rộ tỏa hương trong sân vào mùa thu, vừa mang tính ước lệ chỉ cây quế trong cung trăng (theo truyền thuyết Hằng Nga).
Nhân tận vọng: mọi người (ai ai) cũng đều ngẩng đầu ngắm nhìn.
Thu tứ: nỗi lòng, tâm tư hoặc nỗi hoài niệm, sầu muộn trong mùa thu, những cảm nghĩ cô đơn ảm đạm (thường là nỗi nhớ nhà, nhớ người thân).
Thùy gia: nhà ai khác, người nào khác; thi nhân đang xa nhà, nhớ quê hương, gia đình, bạn bè khi ngắm trăng rằm, nên truyền đạt cảm nghĩ của mình một cách dè dặt và tế nhị

Dịch nghĩa bài thơ:

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt Ký Đỗ Lang Trung
Đêm Rằm Ngắm Trăng Gửi Quan Lang Trung Họ Đỗ

Trung đình địa bạch thụ tê nha Trong sân đất sáng trắng, quạ đậu trên cây,
Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa Sương lạnh lặng lẽ làm ướt đẫm hoa quế
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng Đêm nay trăng sáng ai ai cũng ra ngắm
Bất tri thu tứ tại (lạc) thùy gia. Chẳng biết ý thu rơi vào nhà ai đây?

(Câu 4 có thể hiểu rằng: Đêm rằm Trung Thu trăng sáng đẹp, biết có ai thấy hứng thú để làm thơ chăng?)

Bình luận:

Vào đêm rằm Trung thu, trong khi Vương Kiến đang tụ họp cùng một số bạn bè, ông nhìn vầng trăng sáng, chạnh lòng nghĩ đến thân phận phiêu bạt của mình và nhớ đến người bạn Đỗ Nguyên Dĩnh đang ở một nơi xa xôi. Bài thơ vừa là một món quà tinh thần gửi tặng bạn, vừa là tiếng lòng sẻ chia nỗi cô đơn và hoài niệm giữa hai tâm hồn đồng điệu trong đêm Tết Trung thu.

Bài thơ của Vương Kiến là một kiệt tác của thơ ca thời Đường, nổi tiếng với hình ảnh gợi cảm và sự kìm nén cảm xúc sâu sắc. Hai câu đầu ghi lại một cách tinh tế bản chất thanh tao, se lạnh của đêm Trung thu. Cụm từ "địa bạch" (mặt đất sáng trắng) mô tả sinh động khoảng sân ngập tràn ánh trăng, trông như một lớp sương giá bao phủ. Sự im lặng tuyệt đối được nhấn mạnh bởi làn "sương lạnh không tiếng động" (lãnh lộ vô thanh), âm thầm làm trĩu nặng những bông hoa quế ngát hương.

Tết Trung thu theo truyền thống là thời gian để gia đình đoàn tựu. Bằng cách quan sát thấy "người người đều ngắm nhìn" cùng một vầng trăng, nhà thơ đã kết nối nỗi cô đơn của cá nhân ông với trải nghiệm chung của nhân loại. Đoạn kết tuyệt vời - hỏi xem "thu tứ" (ý thu/nỗi sầu mùa thu) đã rơi xuống nhà ai - chuyển trọng tâm từ cảnh vật khách quan sang niềm mong mỏi chủ quan. Cách viết này biến nỗi đau đau đáu nhớ nhà của cá nhân thành một nỗi buồn chung, đẹp đẽ của tất cả những người con viễn xứ dưới cùng một bầu trời.

Dịch thơ:
Thể thất ngôn:
Ngắm Trăng Rằm Trung Thu

Trăng sáng trong sân quạ đậu cao,
Sương đêm lạnh ướt hoa tươi màu.
Đêm nay trăm vạn người cùng ngắm,
Ai biết tình thu đọng chốn nào?


Thể lục bát:

Giữa sân mặt đất trắng ngà,
Trên cây quạ đậu, hoa đà ngậm sương.
Đêm nay trăng sáng bao la,
Thu sầu có ý viếng nhà ai đây?

Watching the Mid-Autumn Night Moon, Sent to Langzhong Du
by Wang Jian

The courtyard floor shines silver-white, crows roost upon the tree,
In silence falls the freezing dew, to drench the cassia sweet.
Tonight the moon is full and bright, all watch its brilliant gleam - free.
Yet none can tell on whose house the autumn spirit will meet.

Literal Translation:

The courtyard ground is white [with moonlight], and crows are roosting in the trees.
The cold dew falls silently, soaking the cassia blossoms.
Tonight the moon is bright, and all people look up to gaze at it.
One does not know into whose home the autumn thoughts have fallen.

Commentary:
This masterpiece beautifully captures the essence of the Mid-Autumn night through a delicate blend of imagery: the silver moonlight, the restless crows, and the dew-drenched cassia flowers. While the moonlight shines universally upon everyone, the poignant ache of autumn nostalgia is deeply personal. By ending with a subtle, open-ended question, Wang Jian transforms a shared celestial view into an intimate reflection on loneliness and homesickness during a time of reunion and celebration (Mid-Autumn Festival).

Phí Minh Tâm

***

@ý kiến của Huỳnh Kim Giám

Có thể như anh Tâm nói rằng người ta thêm 寄杜郎中 về sau nhưng các chức của Đỗ Nguyên Đĩnh cao hơn tứ phầm gồm: ty huân viên ngoại lang (司勳員外郎), trung thư xá nhân (中書舍人), Hộ bộ thị lang (戶部侍郎), thừa chí (承旨), đồng trung thư môn hạ bình chương sự (同中書門下平章事), và tể tướng (宰相). Hai trang zh. và us.Wikipedia không nói đến chức lang trung, và vì Đỗ Nguyên Đĩnh đã giữ chức tể tướng từ năm 821 , không lẽ Vương Kiến lại dùng chức lang trung để gọi bạn? Lang trung là một chức dưới thị lang. g.

@Phí Minh Tâm trả lời:

Theo trang Bách Khoa Bách Độ, Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖 (769 – 833), từng giữ chức Tể tướng dưới triều vua Đường Mục Tông khoảng năm 821-823. Pmt

@ ý kiến của Huỳnh Kim Gián:

Hai trang Wikipedia chữ Anh và Hán cũng nói (từ nguồn Cựu Đường Thư) Đỗ Nguyên Dĩnh giữ chức tể tướng từ năm 821 và nếu cần tin thì tôi vẫn tin Wikipedia hơn là Baidu- 百度 vì nhiều khi Bách Độ không cung cấp nguồn. Điều tôi muốn nói là không nơi nào nói Đỗ Nguyên Đĩnh từng giữ chức trung lang.
Có lẽ vì thế mà AI nói không ai biết 杜郎中, Đỗ lang trung là ai. Nếu AI không tìm ra dữ kiện thì tôi cũng thua.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Đọc bài thơ với cái tựa dài 9 chữ thì biết ngay là phiên bản NĐTĐT của nhà Thanh. Nguyên tác của Vương Kiến có tựa là Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt 十五夜望月. Ngoài ra Vương Kiến xài chữ 在tại=ở trong câu 4 thay vì 落lạc=rơi. Chớ lấy râu ông này cắm càm bà nọ. Pmt

@ ý kiến của Lộc Bắc

Nhờ Gemini tìm tựa bài 9 chữ thì thấy được clip này :
Góp ý của mirordor:

Bài tứ tuyệt này của Vương Kiến khó hiểu một phần vì không ai biết lang trung họ Đỗ là ai nên không ai biết thi nhân muốn nhắn, hỏi ai và nói về chuyện gì. Bài thơ cũng khó hiểu một phần vì ngữ cảnh làm bối cảnh mơ hồ; thi nhân đang đứng trong sân nhà ai đó hay đang tả mặt trăng?

中庭地白樹棲鴉 trung đình địa bạch thụ tê nha

Đất ít khi có màu trắng và từ địa không hẳn phải có nghĩa là "đất" mà còn có nghĩa nền, sàn, v.v... và địa bạch ở đây có thể chỉ mặt trăng. Vì quạ có toàn bộ lông màu đen, người Tàu phương nam tin rằng 鴉=nha/quạ báo điềm bất tường trong khi ở phương bắc quạ lại là biểu tượng cho chữ hiếu..

冷露無聲濕桂花 lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa

桂花=quế hoa là cây mộc với hoa dùng để ướp trà của người Việt, và quế hoa cũng là cây mà người Tàu thấy trên mặt trăng trong huyền thoại Ngô Cương (吴刚). Có nhiều huyền thoại về Ngô Cương - hình như là nhân vật trong một tiểu thuyết nhưng Ngô Cương là người bị phạt phải đốn cây quế trên cung trăng và cây này liên tục mọc trở lại sau khi bị đốn nên họ Ngô vĩnh viễn làm chuyện vô vọng, tương đương với huyền thoại Sysiphus của tây phương.

今夜月明人盡望 kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng

Từ 望=vọng có nhiều nghĩa: hướng về, nhìn xa, ước, bái phỏng, oán trách có thể dùng cho câu ba và không có cách gì đoán thi nhân muốn dùng nghĩa nào, một phần vì từ 盡=tận chỉ có thể là một trạng từ bổ nghĩa cho vọng nhưng các nghĩa tất cả, hết hay quá sức không cho nghĩa nào rõ ràng cho câu thơ!

不知秋思落誰家 bất tri thu tứ lạc thùy gia

思=tứ là tâm tình hay ý niệm. Vì tựa đề bài thơ bảo là để gửi cho một nhân vật họ Đỗ nào đó, người đọc có thể hiểu là thi nhân họ Vương đang phân vân không biết Đỗ lang trung đang nghĩ hay vọng/mơ ước gì. Lang trung thời Đường là một chức ngũ phẩm trong triều lo việc hành chánh cho một bộ nào đó. Phải chăng thi nhân hàm ý rằng Đỗ mong được thăng quan tiến chức nhưng đang gặp điều bất tường?

Huỳnh Kim Giám


Peace and Joy. Happiness - An Bình Và Niềm Vui.Tức Hạnh Phúc - (An Vui)


Ai cũng muốn có an bình và niềm vui, peace and joy, tức hạnh phúc.

Nhưng hầu hết đều đi tìm an bình và niềm vui, tức hạnh phúc bằng cách nương tựa vào thế giới bên ngoài tâm.
Rồi họ không thể không thấy rằng mọi thứ bên ngoài tâm đều không ổn định, luôn biến đổi, vì thế họ luôn sống trong bất an lo lắng.

Một điều hầu hết ai cũng cảm nhận được dễ dàng vì nó quá rõ ràng và trực tiếp, đó là:

- khoái lạc giác quan thể chất mang lại cho họ khoái cảm và niềm vui, làm cho họ vui sướng, cảm thấy hạnh phúc
- khi dược khen, được yêu, được ngưỡng phục thì họ vui sướng, có thể còn vui sướng, hạnh phúc hơn cả khoái lạc thể chất.
Vì thế họ khao khát đuọc hưởng lạc càng nhiều càng tốt, khao khát được yêu, được khen, được ngưỡng phục, hâm mộ càng nhiều càng tốt.

Họ nghĩ rằng tiền bạc, chức vị, danh vọng có thể bảo đảm sự an tâm, an bình, niềm vui và hạnh phúc vững bền.
Họ không thấy rằng những thứ đó không thể giúp họ tránh khỏi khổ tâm do sinh lão bệnh tử, khổ tâm do ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội.

Cuộc sống của họ trải qua sự thăng trầm không thể tránh khỏi: an bình và niềm vui, tức hạnh phúc tạm bợ luôn luôn được nối tiếp bởi đau khổ.
Và, đây chính là cái khổ luôn luôn hiện diện trong tâm họ, dù khi ẩn khi hiện : đó là bất an lo lắng. Họ thực sụ không bao giờ có hạnh phúc. Làm sao có thể gọi là hạnh phúc thật sự khi tâm luôn luôn bất an, lo lắng!?

Họ không thấu hiểu được:

- Vô Thường Tùy Duyên
- Vô Ngã: tuyệt đối không có một cái Tôi nào cả. Cái Tôi chỉ là một ảo tưởng.
- Khổ, 4 Sự Thật về Khổ, tức Tứ Diệu Đế.

Chỉ khi nào họ đã trải qua những đau khổ, cảm nhận thấm thía cái khổ do Tham Ái và Ngã Mạn, dẫn tới Khao Khát khoái lạc thể chất và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng, thì họ mới thấy được, hiểu ra rằng chính Tham Ái và Ngã Mạn là nguồn gốc của khổ đau, và buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì họ mới có thể có An Vui Chân Thật Sự, tức Hạnh Phúc Chân Thật.

An Bình và Niềm Vui, tức Hạnh Phúc chân thật chỉ có thể dựa trên những yếu tố bên trong tâm: 

Đó là Trí Tuệ và Từ Bi, sinh khởi từ Trí Tuệ.
Để có và DUY TRÌ Trí Tuệ thì phải duy tri Chánh Niệm nhờ vào Chánh Tinh Tấn, Chánh Định.
Buông bỏ Tham Ái, Khao Khát khoái lạc giác quan và khoái lạc cho cái Ngã ảo tưởng và từ đó thực hiện Từ Bi là cách duy nhất để Dứt Khổ và có An Vui.

Nhưng phải hiểu rõ và nhớ rằng cần buông bỏ tham ái, attachment, lobha, và khao khát khoái lạc giác quan, chứ không phải buông bỏ khoái lạc giác quan vì cảm thọ giác quan là cái không thể tránh khỏi.
Còn khoái lạc cho cái Ngã là cái khoái lạc ảo tưởng, sinh khởi từ ảo tưởng về Ngã, đó là cái khoái lạc ảo tưởng của người bị bệnh hoang tưởng, psychosis, delusional psychosis của bệnh tâm thần phân liệt, schizophrenia

Với một cư sĩ tại gia thì Chánh Mạng là cách duy nhất thực hiện An Vui, tức Hạnh Phúc Chân Thật cho chính bản thân và đồng thời góp phần giúp người khác tránh khổ và có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.

Phật nói:

Tôi không khuyên bạn bất cứ điều gì.
Tôi chỉ nói lên Sự Thật Nhân Quả.
Có A thì sẽ có B
Tham Ái thì sẽ Khổ Đau
Ngã Mạn thì Khổ Đau tột cùng
Buông bỏ Tham Ái và Ngã Mạn thì sẽ có An Vui, Hạnh Phúc chân thật.

Bạn có Tự Do tuyệt đối: 

Tùy bạn quyết định chọn lựa.

An Vui

Nhớ Tết Trung Thu Và Chiếc Lồng Đèn Cá Chép


Tháng Tám về, trăng tròn trước ngõ. Mỗi khi nhìn lên vầng trăng ấy, tôi lại nhớ đến một mùa Trung Thu rất xa, một mùa Trung Thu mà đến tận bây giờ, dù đã đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn không thể nào quên. Năm đó, ba vừa ra khỏi trại cải tạo.

Ngày ba trở về, cả nhà tôi vui lắm. Ba gầy đi nhiều, mái tóc đã pha vài sợi bạc. Những năm tháng trong trại đã để lại trên người ba nhiều dấu vết mà một đứa trẻ như tôi khi ấy chưa đủ hiểu để gọi tên. Tôi chỉ biết ba thường ngồi rất lâu ngoài hiên, đôi khi đưa tay xoa lên đầu, rồi nhìn xa xăm như đang nhớ về một nơi nào đó rất xa. Nhưng với tôi, điều quan trọng nhất là ba đã về.

Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đón Trung Thu có ba ở nhà. Những năm trước, Trung Thu đối với lũ trẻ trong xóm là một ngày hội. Đứa nào cũng có lồng đèn. Đứa thì lồng đèn ngôi sao, đứa có lồng đèn bánh ú, đứa khá hơn thì có những chiếc lồng đèn mua ngoài chợ, đủ màu sắc. Còn tôi, nhà nghèo, chẳng có tiền mua lồng đèn.

Có năm, tôi dành dụm mãi mới mua được hai lon sữa bò đã uống hết ở quán cà phê dưới xóm. Tôi đem về, dùng đinh đục những hàng lỗ nhỏ chung quanh thân lon. Tôi lấy những thanh tre nhỏ nẹp lại làm bánh xe, rồi kiếm một miếng vải, nhúng dầu lửa và gắn vào bên trong lon làm đèn.

Mỗi khi đẩy đi, chiếc lon lăn, va vào nhau phát ra tiếng leng keng, leng keng. Ánh lửa nhỏ chập chờn trong lon, lúc sáng lúc tối theo từng bước chân. Tôi cứ vừa đẩy chiếc lồng đèn tự chế ấy, vừa chạy lon ton theo đám trẻ trong xóm, lòng vui như thể mình đang có một chiếc lồng đèn đẹp nhất.

Vậy mà Trung Thu năm ấy, tôi không còn phải chắt chiu từng đồng để mua lon sữa làm lồng đèn nữa. Vì năm ấy, ba đã trở về và tự tay làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn cá chép, chiếc lồng đèn lớn nhất và cũng là chiếc lồng đèn đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ của tôi.

Ba tôi nói:
- Để ba làm cho mấy đứa một cái lồng đèn.
Tôi nhìn ba, bán tín bán nghi. Tôi chưa bao giờ thấy ba làm lồng đèn.

Vài tuần trước Trung Thu, ba sang nhà hàng xóm xin mấy cây tre. Người ta cho ba vài cây tre khô, ba vác về đặt trước sân rồi ngồi xuống, lấy rựa cẩn thận róc từng nhánh tre. Tôi ngồi bên cạnh, tò mò nhìn đôi bàn tay ba thoăn thoắt làm việc. Ba chẽ những thân tre thành từng thanh nhỏ, lựa những đoạn vừa dẻo vừa chắc rồi uốn cong thành những vòng tròn lớn nhỏ khác nhau. Ba dùng những sợi dây lạt buộc chặt từng mối nối, kiên nhẫn ghép vòng này với vòng kia. Một vòng. Rồi hai vòng. Rồi thêm nhiều vòng nữa.


Những vòng tre nối tiếp nhau, dần dần tạo thành một bộ khung kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ngồi nhìn hồi lâu, càng nhìn càng thấy tò mò, không biết ba đang định làm thứ gì. Cuối cùng, không nhịn được, tôi ngước lên hỏi:
- Ba làm lồng đèn gì vậy?
Ba cười:
- Lồng đèn cá chép.
Tôi ngạc nhiên hơn bởi tôi chưa bao giờ thấy con cá nào được làm từ những vòng tròn như vậy.

Ba kiên nhẫn nối những vòng tròn lại với nhau. Dần dần, một bộ xương cá hiện ra trước mắt tôi. Có đầu cá, thân cá, rồi đến đuôi. Hai bên là những chiếc vây được uốn cong bằng tre. Tôi ngồi nhìn say mê.
Trong mắt tôi lúc đó, ba giống như một người thợ tài hoa nhất trên đời. Nhưng làm được bộ khung chỉ mới là một nửa câu chuyện.
Ba nhìn chiếc khung rồi nói:
- Giờ thiếu giấy.

Nhà tôi nghèo. Tiền mua gạo còn phải tính từng bữa, nói gì đến chuyện mua giấy màu làm lồng đèn. Ba định xin những bao xi măng cũ của những nhà đang xây cất trong xóm về lấy mặt giấy bên trong dán lên khung lồng đèn. Nhưng chờ mãi, cả xóm chẳng thấy nhà nào xây cất, trong khi ngày Trung Thu cứ mỗi lúc một gần. Một buổi chiều, khi ba đang ngồi bên bộ khung cá chép còn trơ những vòng tre, ba nhìn tôi rồi nói:
- Con đi học về, thấy giấy nào người ta bỏ thì gom về cho ba.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Giấy gì cũng được hả ba?
Ba cười, giọng nhẹ tênh:
- Ừ, miễn là còn dán được.

Chỉ một câu nói đơn giản vậy thôi mà từ hôm đó, sau tiếng trống tan trường, tôi không còn vội chạy về nhà như mọi ngày. Tôi bắt đầu đi tìm giấy cho ba. Tôi đi từng lớp học, từng phòng học, len qua từng dãy bàn, rồi cúi xuống mở từng hộc bàn để tìm những thứ người khác đã bỏ quên. Những tờ giấy học trò nhàu nát, những trang vở xé dở, những bài kiểm tra cũ, những mảnh giấy chỉ còn một nửa, thậm chí cả những chiếc máy bay giấy bị vò nhàu sau những lần phóng ra cửa sổ... tôi đều nhặt. Có những tờ giấy còn một mặt trắng, tôi cẩn thận vuốt phẳng rồi xếp riêng. Có những tờ đã bị vò đến nhăn nhúm, tôi vẫn nhặt lên, dùng bàn tay nhỏ của mình miết đi miết lại cho bớt nhàu. Những chiếc máy bay giấy nằm dưới sân, tôi cũng nhặt về, tháo từng nếp gấp rồi đem theo. Trong mắt người khác, đó chỉ là những mảnh giấy vụn chẳng còn giá trị, nhưng trong mắt tôi lúc ấy, mỗi mảnh giấy đều quý giá, bởi tôi biết chúng sẽ trở thành một phần của chiếc lồng đèn cá chép mà ba đang ngày đêm làm cho anh em tôi.

Có những hôm tôi phải ở lại sau giờ học để chờ đến lúc các bạn làm vệ sinh lớp. Khi tiếng trống báo hết tiết vang lên, lũ trẻ ùa ra sân, còn tôi lại lặng lẽ ở lại phía sau. Tôi đi dọc theo từng hàng bàn, cúi xuống nhặt những mảnh giấy nằm dưới chân ghế, trong góc lớp, sau cánh cửa hay mắc lại đâu đó trong những chiếc hộc bàn. Có hôm, tôi đi hết phòng này sang phòng khác, tay ôm một xấp giấy nhàu nát mà lòng vui không tả được. Tôi cứ tưởng tượng đến lúc mang chúng về, ba sẽ lấy từng tờ ra lựa chọn, vuốt phẳng rồi dán lên thân con cá chép. Tôi nghĩ đến ngày Trung Thu, khi chiếc lồng đèn hoàn thành, tôi sẽ được đứng bên ba nhìn nó sáng lên giữa sân nhà.

Một hôm, cô giáo đi ngang qua thấy tôi đang lúi húi nhặt giấy dưới một dãy bàn. Cô dừng lại hỏi:
- Con tìm gì vậy?
Tôi giựt nảy mình, rồi ngẩng đầu lên nhìn cô giáo. Hai tay vẫn đang ôm một xấp giấy vụn, rồi thật thà trả lời:
- Dạ con đi lượm giấy đem về cho ba làm lồng đèn Trung Thu.
Cô nhìn tôi một lúc, rồi nhìn xuống những mảnh giấy trong tay tôi. Cô mỉm cười, không hỏi thêm gì, chỉ nhẹ nhàng nói:
- Vậy con cứ nhặt đi.

Từ hôm đó, tôi càng chăm chỉ đi lượm giấy hơn. Tôi không còn thấy những mảnh giấy nằm dưới gầm bàn là rác nữa. Tôi thấy trong đó có hình dáng của một con cá chép đang chờ được hoàn thành, có ánh sáng của đêm Trung Thu đang đến gần, và có cả niềm vui của một đứa trẻ lần đầu tiên được đón Tết Trung Thu bên người cha vừa trở về sau những năm tháng xa nhà.

Mỗi buổi chiều, tôi lại ôm túi giấy vụn chạy về nhà, lòng háo hức chờ ba đi rẫy trở về. Vừa thấy bóng ba thấp thoáng ngoài con đường đất, tôi đã chạy ào ra, đặt xấp giấy mình nhặt được suốt cả ngày trước mặt ba rồi hí hửng khoe:
- Ba ơi, hôm nay con lượm được nhiều lắm!

Ba ngồi xuống bên hiên, đón lấy xấp giấy từ tay tôi, chậm rãi mở ra và lựa từng tờ. Tờ nào còn nguyên, ba vuốt phẳng. Tờ nào nhàu quá, ba kiên nhẫn dùng bàn tay chai sạn miết đi miết lại. Những mảnh giấy nhỏ, rách hoặc không còn nguyên vẹn, ba cũng không bỏ. Ba chưa bao giờ chê chúng quá cũ, quá nhàu hay quá rách. Ba chỉ lặng lẽ lựa từng mảnh, như thể mỗi thứ tôi mang về đều là một món quà quý giá. Tôi ngồi bên cạnh, nhìn đôi bàn tay từng trải của ba nâng niu những mảnh giấy học trò, và trong tâm hồn non nớt của mình khi ấy, tôi chợt hiểu rằng những thứ người khác bỏ đi, qua bàn tay ba, vẫn có thể trở thành một điều gì đó thật đẹp.

Đến khi gom được đủ giấy, ba bắt đầu làm lồng đèn. Ba lấy bột quậy với nước rồi nấu sôi thành một thứ hồ dán đơn sơ, rồi mấy cha con tôi xúm xít bên nhau quanh bộ khung cá chép bằng những vòng tre. Ba phết từng lớp hồ lên mặt giấy, rồi nhẹ nhàng đặt lên khung. Tôi phụ ba giữ những góc giấy. Anh tôi chuyền từng mảnh giấy nhỏ. Không có giấy màu mới, cũng chẳng có keo dán tốt như những chiếc lồng đèn bán ngoài chợ, chúng tôi chỉ có những tờ giấy học trò đã qua tay người khác, những mảnh giấy nhàu nát tôi nhặt được sau giờ học và bộ khung tre ba đã kỳ công uốn từng vòng. Vậy mà dưới bàn tay ba, từng mảnh giấy cứ lần lượt nối vào nhau, miếng này chồng lên miếng kia, chỗ rách được che lại bằng một mảnh khác, chỗ trống được ba kiên nhẫn vá vào. Thân cá trống rỗng ngày nào dần dần có da có thịt, có đầu, có thân, có vây, có đuôi. Mỗi ngày nhìn nó lớn thêm một chút, tôi lại thấy trong lòng mình nôn nao một niềm vui khó tả. Tôi không chỉ chờ chiếc lồng đèn hoàn thành. Tôi chờ một mùa Trung Thu đầu tiên có ba bên cạnh.

Rồi Trung Thu cũng đến. Trước ngày rằm vài hôm, chiếc lồng đèn cá chép cuối cùng cũng hoàn thành. Ba treo nó giữa sân, tôi đứng bên cạnh nhìn mà ngỡ ngàng. Nó lớn hơn rất nhiều so với những chiếc lồng đèn mà tôi từng thấy, lớn đến mức tôi biết chắc mình không thể cầm nó đi rước đèn cùng đám trẻ trong xóm. Tôi ngước nhìn ba rồi hỏi:
- Ba, mình đem nó đi đâu?
Ba cười hiền:
- Không đem đi đâu hết. Treo trước sân cho tụi con chơi.

Ba lấy sợi dây buộc chiếc cá chép lên cao, ngay trước hiên nhà. Khi trời vừa sụp tối, ba thắp ngọn đèn bên trong. Một quầng sáng ấm áp từ bụng cá lan ra, xuyên qua những lớp giấy học trò chắp vá, làm hiện lên những đường nhăn, những vết gấp và cả những mảnh giấy tưởng chừng đã bị cuộc đời bỏ quên. Vậy mà dưới ánh đèn, tất cả bỗng trở nên lung linh. Đúng lúc ấy, một cơn gió từ ngoài đồng thổi qua. Chiếc đuôi cá khẽ ngoe nguẩy, hai chiếc vây rung rinh, cả thân cá chao nhẹ như đang bơi giữa một dòng sông ánh sáng. Tôi đứng nhìn không chớp mắt. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác ba đã không chỉ làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn, mà đã dùng đôi bàn tay của mình để làm nên cả một thế giới tuổi thơ.

Tiếng trẻ con ngoài đường mỗi lúc một gần. Một đứa nhìn thấy chiếc cá chép liền gọi to:
- Qua coi lồng đèn nhà thằng Chút kìa. Cái lồng đèn con cá bự tổ bố.
Rồi đứa này kéo đứa kia, chẳng bao lâu trước sân nhà tôi đã đầy những đứa trẻ trong xóm. Những chiếc lồng đèn ngôi sao, bánh ú đủ màu đang rước đèn ngang qua cũng lần lượt dừng lại. Đám trẻ đứng chen nhau dưới sân, ngước cổ nhìn con cá chép khổng lồ đang đung đưa trong gió. Chẳng đứa nào muốn đi tiếp. Có đứa trầm trồ, có đứa chạy vòng quanh, có đứa cứ đứng nhìn mãi chiếc đuôi cá đang phe phẩy như thật. Ánh trăng rằm từ trên cao rót xuống sân, hòa cùng ánh sáng từ những chiếc lồng đèn nhỏ trong tay bọn trẻ và ánh đèn vàng ấm áp trong bụng con cá. Đêm Trung Thu năm ấy, trước sân nhà tôi sáng rực như một khoảng trời riêng. Tôi đứng bên cạnh ba, lòng đầy tự hào. Ba không nói gì, chỉ đứng lặng lẽ nhìn chiếc lồng đèn do chính tay mình làm ra. Tôi quay sang nhìn ba và bắt gặp một nụ cười rất hiền trên gương mặt đã hằn nhiều dấu vết của những năm tháng xa nhà. Tôi không biết lúc ấy ba đang nghĩ gì, chỉ biết rằng nụ cười ấy đã ở lại trong ký ức tôi suốt cả cuộc đời.

Nhiều năm đã trôi qua. Nhưng mỗi khi tháng Tám trở về, mỗi khi nhìn thấy vầng trăng tròn treo trước ngõ, tôi lại nhớ đến những buổi chiều năm ấy. Tôi nhớ những hộc bàn mình từng cúi xuống tìm từng mảnh giấy, nhớ những giờ vệ sinh ở lại sau cùng để nhặt những thứ người khác bỏ đi, nhớ tiếng bước chân mình chạy trên con đường đất mỗi chiều để mang túi giấy về cho ba. Và hơn hết, tôi nhớ đôi bàn tay chai sạn của ba, đôi bàn tay đã nhặt nhạnh, uốn nắn, chắp vá và biến những thứ tưởng như chẳng còn giá trị thành một chiếc lồng đèn đẹp đẽ.

Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ ba làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn để đón Trung Thu. Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng chiếc lồng đèn cá chép ấy chưa bao giờ chỉ là một món đồ chơi. Nó được làm từ những cây tre xin được, những mảnh giấy người ta bỏ đi, thứ hồ dán đơn sơ và đôi bàn tay đã trải qua quá nhiều nhọc nhằn của ba. Nó được kết lại bằng tình thương của một người cha vừa trở về với gia đình sau những năm tháng xa cách. Ba đã không có tiền để mua cho chúng tôi một chiếc lồng đèn đẹp như những đứa trẻ khác, nên ba đã dùng tất cả những gì mình có để tự tay làm một cái. Và có lẽ, chính vì được làm từ những điều nghèo khó nhất mà nó lại trở thành món quà giàu có nhất trong tuổi thơ tôi.

Bây giờ, tôi không còn nhớ những chiếc lồng đèn ngôi sao hay bánh ú năm ấy đẹp đến mức nào. Tôi cũng không nhớ chiếc lồng đèn cá chép đã có bao nhiêu mảnh giấy, bao nhiêu vòng tre hay được treo ở đó bao nhiêu mùa Trung Thu. Tôi chỉ nhớ hình ảnh con cá chép lắc lư trong gió dưới ánh trăng rằm, nhớ lũ trẻ đứng kín trước sân và nhớ ba đứng phía sau, lặng lẽ mỉm cười. Có những món quà rồi sẽ cũ, có những thứ rồi sẽ mất đi theo năm tháng, nhưng tình thương mà người ta gửi vào một món quà thì không bao giờ mất. Cái lồng đèn cá chép năm ấy được làm từ tre, giấy vụn và ánh sáng, nhưng bơi suốt một đời trong dòng sông ký ức của tôi.

Võ Phú

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Ở Đây, Bạn Bè Ngồi Lại - Nhạc & Lời: Bình Phương - Hòa Âm & Trình Bày: SUNO(AI)

''Ở đây, bạn bè ngồi lại'' được viết năm 1977, năm bắt đầu có những ''biến mất'' bất ngờ trong bạn bè chúng tôi! Không chỉ là trong khuôn viên đại học. Mà là ở mọi từng lớp trong xã hội miền Nam. Trừ mấy cột đèn đường!

Và bạn bè còn lại chúng tôi, còn lại ''ở đây'', bắt đầu tổ chức những buổi ''họp mặt vòng tròn'', những ''đêm không ngủ'', nếu có dịp . Bởi vì không ai biết ''ngày sau sẽ ra sao?'. Bởi vì ai cũng biết sẽ một ngày ''mình ngồi, mình hát, mình nghe'' . ''Ở đây'' hay ở một nơi ''nghìn trùng xa cách''. Còn ai đâu nữa mà hát, mà nghe?!

1977-1978, chỉ 2 năm thôi nhưng, đối với tôi, đó là ''một thời để yêu và một thời để hát''. Hát cho nhau nghe, khi bạn bè ngồi lại.

Năm 1979, đến phiên tôi ''biến mất''!!!
Xin mời nghe

BP

Tự Tình


Một bầu một chén một mình tôi
Dưới ánh trăng khuya chẳng ghế ngồi
Chờ đợi lâu rồi người mộmg vắng
Chỉ nghe từng khắc giọt sương rơi
Thôi thì tự rót rồi bưng cạn
Chả lẽ mời trăng xuống uống chơi
Thuở trước Tiền nhân từng độc ẩm
Còn mình chờ đến mỏi hai đùi.
                              
Còn mình chờ đến mỏi hai đùi.
Mặc kệ bây giờ cứ nếm môi
Rượu bạn rượu bè ai uống cạn   
Chén qua chén bậu có mình thôi 
Trăng tàn dần ngã đoài xa thẳm  
Hai đứa chia ly chuyện đã rồi
Để những đêm về trong vắng lặng 
Một mình một bóng lấy ai mời

Một mình một bóng lấy ai mời  
Thử hỏi sao sầu mãi chẳng vơi   
Bởi nước xuôi đông là vạn thuở 
Nên qua nhớ bậu lẽ muôn đời  
Uống đi cho mảnh tình thêm đắm 
Để thấy nơi lòng lệ vẫn rơi  
Đêm đã dần tan còn thổn thức  
Luyến lưu chi dĩ vãng xa vời.
              
Luyến lưu chi dĩ vãng xa vời 
Nhưng cuộc tình nào phải cuộc chơi 
Có rức có ray đành cố chịu
Từng thương từng nhớ mới theo vời
Em hoa hàm tiếu như khiêu gợi
Anh bướm đa tình đâu để rơi 
Những chuyện yêu đương thường khó trọn 
Đôi ta ly cách chẳng nên lời.    
       
Đôi ta ly cách chẳng nên lời.    
Thế sự xoay dần phá ghẹo chơi 
Áo thắm Bậu mang sang bến khác   
Lệ cay Qua xót đọc thư mời  
Đêm về thao thức nhìn trăng lặn
Rượu uống say mèm tái cả môi 
Tình hận men nồng đâu thể xoá
Nên giờ còn nhớ kẻ chân trời.   

Quên Đi 
(Bài Họa)

Khi Tôi Về

 
 
Tôi sẽ về như cánh vạc đêm
nương theo đốm sáng những đường tim,
ghé qua con phố còn thiu ngủ
đậu nhẹ lên hàng cây lá im.

Tôi sẽ chờ trăng non bỏ đi.
Căn nhà ngói đỏ bỗng thầm thì
ba ngồi tụng sớm hồi kinh khổ
gởi bốn phương trời, hướng biệt ly.

Tôi sẽ nhìn qua đám lá nghiêng.
Má tôi gom lá rụng đầu hiên
tóc già run rẩy niềm trăn trở
cặp mắt buồn sâu như mới nguyên

Tôi sẽ chờ tia sáng ban mai
len qua kẽ vách giọt nắng dài.
Tôi nhìn thấy lại căn phòng cũ
một góc đời riêng vẫn ngủ say.

Tôi sẽ chờ em vụt thoáng qua
mong manh như phiếm mỏng tỳ bà.
Em gầy như một niềm tuyệt vọng
bỏ lớp trường xưa, gánh chợ xa.

Tôi sẽ chờ con nắng trở chiều
nhuộm vàng khóm trúc ngã xiêu xiêu
cho tôi thấy lại màu sương khói
bãng lãng khi trời đổ quạnh hiu.

Tôi sẽ nhìn thôi rồi bỏ đi.
Cánh tôi chắc sẽ nặng như trì.
Tim tôi vỡ vụn thành trăm lệ
hóa đá từ khi chực ướt mi.

Thôi nói gì thêm cũng ngại ngùng.
Quê nghèo có nhỏ lệ bao dung
Buổi đi ai nói lời sông núi
mà chỉ còn đây những viển vông!

Tôi sẽ về như cánh dơi mù
nghe hồn ốc mượn mõi mòn ru.
Tôi về như một người khuất mặt
chết giữa đêm xuân nặng oán cừu.

Sao không về như cánh dơi mù!

Cao Vị Khanh

Để trả lời một câu hỏi.

 

Đánh Bạc



(Tặng các vị sắp... đánh bạc « thưởng Xuân ».)

Một ông bạn "chức việc" nhân một lúc cao hứng, có buộc miệng nói cho Nhất-Sách tôi biết rằng năm Kỷ-Hợi có lẽ là năm tương-đối xui xẻo nhất cho các tay có máu mê cờ bạc đặc-biệt thuộc phái-nữ. Bằng cớ là tòa nhà đồ sộ vàng vàng đối-diện trường Văn-Khoa Đại-học Saigon, sớm chiều hai buổi đều có bóng dáng yêu-điệu của quý bà chuyên khảo-lục khoa đỏ đen.

Những ngày ấy, giá tỉ có một bác "phó nhòm" nào chịu khó ôm máy ảnh đứng "canh" thường trực ở một góc nào kín kín, ắt bác sẽ thâu được không thiếu các hình ảnh quen thuộc và hữu danh. Thôi thì đủ, từ một bà "ký còm" đến một bà đốc phủ sứ... hầm..., từ một me tây về chiều đến một nữ phú thương, vân vân và vân vân.

Rõ là trong công việc bài trừ cờ bạc, nhà nước không chừa một ai. Nếu có một tay chuyên môn chứa gá nào chưa lọt lưới thì ấy, có lẽ tại lưới còn hẹp. Chớ chưa chắc là tại còn có cái sự "nhất bên trọng, nhất bên khinh" như mụ Nhất Sách nhà tôi thường bình phẩm.

Nhưng chỉ hơi lạ là tại sao chỉ bán thuốc điếu tứ thời ngồi lì ở đầu đường Nguyễn Trung Trực - Gia Long cứ luôn luôn phải... ré lên:
- Kìa, bà kia sao cứ đến hoài cả? Bộ hết chỗ chơi rồi sao chớ?

Bà nào? Thì bà ấy đó. Cái bà phớp pháp cứ bị bắt hoài mà vẫn chẳng chừa. Hình như mỗi lần xuất hành đi họp là một lần bà đã chuẩn bị để giã biệt chồng con ít ngày. Đề đi,... đổi không khí.
***
Nói đến đánh bạc là nói đến sự ăn thua bằng tiền tính theo kết quả của từng ván bài một. Nếu chỉ đánh bài suông tình, đánh bài đề... không "ăn" gì của nhau thì chả gọi là đánh bạc. Nhưng sự thực ngay đến đứa con nít, khi đã đánh đính đánh dáo với nhau, chúng cũng phải thanh toán sự hơn thua bằng tiền, hoặc bằng một thứ đồ chơi có... giá gần như nhất định. Ý thức đánh bạc của đứa trẻ con là ở chỗ đó.

Sở dĩ phải có ăn thua, phải có kẻ mất, người được là vì (theo lời các nhà chuyên môn *) không thế thì không có gì hào hứng, gay go. Có lẽ vì thế, nhiều bà vàng đeo ngọc dát, mỗi khi ngồi vào chiếu bạc đều trịnh trọng lên tiếng thương lượng trước về cái "định số" phải góp. Để bác những đề nghị "góp nho nhỏ" của những tay ít vốn, thường thường quý bà hay chép miệng :

- Tôi cũng chỉ đánh chơi cho vui. Chẳng phải "cờ bạc gạo" gì. Nhưng góp thế... chả bỏ. Vả lại, đã biết ai được, ai thua. Đại ý bà muốn góp lớn. Vì có góp lớn mới bỏ, không hiểu là bỏ công "chơi" hay là "được thua cho bỏ".

Nhưng dù là gì đi nữa nếu nghiên cứu cái "luận điệu" nói trên, người ta cũng vẫn tìm ra được một điều mâu thuẫn : đã bảo chỉ đánh chơi cho vui, sao chưa chi đã nghĩ đến ăn thua. Đã tính đến ăn thua, sao còn nói phú dầu không cờ bạc... gạo?

Thế nên, một nhà "chuyên môn" đã có lý khi phê bình : đã ngồi vào chiếu bạc thì "thằng" cũng như "ông", "con" cũng như "bà", Ai cũng chỉ muốn "ăn người". Có là Phật cũng chả... dại mà rắc tiền cho thiên hạ hốt.
***
Người ta cũng đã kể đến nhiều bằng cớ để chứng minh chả có con ma nào thật bụng giải trí (đúng nghĩa) bằng quân bài lá bạc.

Đại đề, có người — khi vừa chớm thua — đã gắt như... củ kiệu. Mỗi lá bài "quật" xuống là... chiếu lệch giường xô, tưởng chừng như cả một trời sụp đổ. Có người càng thua đậm càng... nặng mặt ra, thỉnh thoảng mới tiếng bắc tiếng chì rồi lại ngồi đó mà nặng mặt thêm ra, cặp mắt cứ đỏ ngầu ngầu và lừ lừ như sắp đánh lộn. Những người chỉ nặng mặt ra mà không nói nhiều mới là những vị "cay cú" bạc nhất và cũng khó chịu bạc nhất. Chính cái mặt lì lì nặng nặng của họ mới dễ làm "cử tọa" mất... vui và lần lần khó thở. Đùng một cái, khi "cóc" thực sự mở miệng là rất dễ có chầu... tan đám.

Nhưng, cái binh chung của các nhà chuyên thí-nghiệm đỏ đen là hễ rủ áo đứng dậy thì thế nào cũng phải... công-bố về số tiền thua, được. Có người "ăn" nhiều "khai" ít. Có người không thua vẫn kêu thua. Có người thua một xướng lên mười. Họa hoằn mới có người không... phóng đại.
***
Nhiều người lúc bình thường vẫn quý nhau như bạn, giao du mật thiết, vay qua mượn lại "không thành vấn đề", nhưng khi ngồi vào chiếu bạc là y như... tam tứ hổ tranh mồi. Họ mặt nặng mày nhẹ với nhau, tưởng chừng một phút có thể tuyệt giao vĩnh-viễn. Nhưng không, chỉ lát nữa, khi ra khỏi "sòng", hô hấp không khí mát mẻ ngoài trời là các lò "sốt de" nguội lại, Người ta lại chơi với nhau như thường.

Nhưng có điều đáng ghi vào "thanh sử" là các "con bạc", nhứt là quý bà, quý cô (xin lỗi) thường mắc phải chứng... lươn ngắn chê trạch dài. Chả bà nào chịu nhận mình là "xấu chơi". Bà nào cũng cho mình là "tốt nết" nhất.

(Xem tiếp trang 31)
--- ⁕ ---
(Tiếp theo trang 23)

Nói xấu nhau thậm tệ như thế, ghét nhau quá như đào đất đổ đi, ấy thế mà — kỳ dịu thay — cứ đến giờ các ông lụm khụm đến sở làm, là các bà lại tiếp tục... hội thảo như thường. Cứ thế mà làm đi làm lại quanh năm và có thể là suốt cả đời nếu cõi đời này vẫn suốt đời là cái vòng... lẩn quẩn, không lối thoát ra.
***
Người ta cũng thường nói đến cái "bở" của các nhà chứa gá và cho rằng vì "bở ăn" nên có một vài bà đã dám dẹp cả một tiệm vàng để mở nhà... chứa bạc. Không chứa ở nhà thì tổ chức "vòm" (sòng) lưu động. Tổ chức "vòm" lưu động là phải tổ chức cả một... hệ thống "bồng khứa" (rước khách). Cũng phải mướn "người làm", nhưng có điều chỉ phải trả lương công nhật "và khỏi phải tuân theo... luật lao động, kể cả các trường hợp "sa thải quá lạm".

Nhưng người ta lại ít "bàn" đến nỗi khổ của các tay chủ chứa chuyên nghiệp. Khổ nhứt là hay bị những "con bạc"... xỏ lá vay xỏ vay xiên. Khổ thứ nhì là cũng hay bị "xóm giềng" mượn đỡ ít tiền... lẻ. Cho "mượn" thì êm, mà "cho mượn" mãi thì ai mà chịu nổi. Nhưng không cho mượn là... a-lê-hấp, chỉ sớm tối là có chầu gởi thơ "nặc danh" báo nhà chức trách !

Ấy vậy, nhiều nhà "chuyên môn" mới thường giải thích như thế này:
- Đánh bạc, chả có kẻ "xấu mồm" đi "báo" thì có,... trời biết !
...Đúng vậy chẳng?

HCD: Cũng là:

Chiếu bạc trải ra, lòng tham liền khởi;
Đồng tiền đặt xuống, nghĩa bạn hóa không.

Huỳnh Chiêu Đẳng 

——―⁕֍⁕―——

Một Chuyến Đi Buôn


      

Đông ngồi dựa vào thành của chiếc giường trong toa xe lửa thuộc chuyến đi từ Sài Gòn đến Hà Nội của khu đường sắt Thống Nhất để tập… đi buôn. Nàng đi theo Hội, bạn của chị Thuỷ và Khải, người anh họ của Hội, mang một số những mặt hàng mà miền Bắc cần dùng trong khi ở Sài Gòn có nhiều và giả rẻ . Chị Thủy đã đi buôn chung với chị Hội vài lần , lời lãi thì chẳng bao nhiêu nhưng chị nói chuyến đi rất là thú vị vì đi xe lửa từ Nam ra Bắc, khoảng hơn một ngày, ngừng lại để giao bốc hàng và cho khách lên xuống ở những nhà ga lớn , dù không được ra ngoài nhưng được thưởng thức những món ăn địa phương rất độc đáo và đặc biệt, hơn nữa, có gì thích bằng được ngắm phong cảnh của quê hương, nếu Đông muốn thì chị sẽ nói với chị Hội cho đi buôn thử xem sao.

Lúc đó vào khoảng đầu năm 78, Thu Đông đã mất việc làm, hai lần đi vượt biên thất bại, mấy chị em phải bán dần những quần áo và vật dụng trong nhà để mua gạo và thực phẩm. Áo dài may bằng hàng soie nhập cảng bán được giá hơn cả vì bền và đẹp, có thể cắt may lại thành áo bà ba hay nhiều kiểu áo ngắn thích hợp với cuộc sống của xã hội mới. Mỗi lần bán áo, Đông không khỏi ngậm ngùi khi nhớ lại những tà áo bay trong gió trên đường phố ngày nào… Nhưng người chưa biết còn có giữ được hay không, nói chi đến áo !

Thường thì sáng sớm, chị Thủy theo bạn ra chợ để mua cau tươi, về nhà bổ ra phơi khô rồi bán… một ngày hai chị em bổ cả mấy thiên cau, ngón tay cái in lằn sâu như con dao sắc nhỏ lưỡi mỏng dùng bổ cau, kiếm được rất ít, nhưng vẫn phải làm để sống … thỉnh thoảng có chuyến đi buôn xa thì rủ nhau hùn hạp mua đồ bán kiếm lời. Đông không giỏi bươn chải như chị Thuỷ nên thường làm theo lời chị, tính lại thích… phiêu lưu mạo hiểm nên xin chị cho đi buôn thử một lần cho biết, vả lại chị Hội, người ở cùng xóm, cũng biết Đông thuộc loại tiểu thơ công chức, nên bảo cứ đi theo họ mua và bán hàng thôi, không phải nói nhiều, học cách mua bán cho quen nên Đông vững lòng cho cuộc chợ mới.

Hàng mua đã xong, chia làm ba phần để mỗi người mang theo khi đến ga xe lửa, chị Hội dặn Đông cứ bình tĩnh như người đi thăm gia đình thì quan thuế không xét và khỏi phải đóng thuế, vì nếu quan thuế nghi ngờ và xét thấy là nhiều hàng, bắt đóng thuế rồi thì như đi công không…Chẳng cần phải đóng kịch giỏi vì trông Đông ngơ ngác như … nai vàng trong sân ga ồn ào đầy hỗn độn nên nhân viên nhà ga để Đông đi qua một cách dễ dàng, không hạch hỏi gì cả…hú hồn…

Khi gặp lại trong xe lửa vì chỗ giường của chị Hội gần chỗ của Đông, chị báo tin buồn là cả chị và anh Khải đều bị khám xét và phải đóng thuế nên chuyến đi này chưa biết ra sao, nhưng may là hàng của Đông không bị đóng thuế nên sẽ có lời… chị Hội nói có lẽ Đông không bị nhân viên quan thuế giữ lại để xét hành lý vì họ không thấy quen mặt nên cho qua.

Khi xe lửa bắt đầu chạy thì trời đã sáng, Đông ngồi dựa vào thành giường, nhìn xe đi qua phố thị, dần dần đến những cánh đồng đầy cỏ hoang vì vụ mùa đã qua, nàng chưa bao giờ đi xe lửa nên mãi ngắm cảnh đến khi chị Hội qua thăm, hai chị em ăn chung bữa trưa bằng hai cái bánh chưng nhỏ mang theo, chị Hội cười

-Mình ăn tạm thôi, chút nữa đến ga đón khách thêm…có nhiều người bán quà dong, Đông tha hồ mua . .. chị đã ăn rồi , nhiều cái ngon lắm.

Xe lửa dừng lại ở vài trạm đón thêm khách, khi đến nhà ga ở Huế thì đã quá nửa đêm, tiếng rao hàng ồn ào làm Đông thức giấc. Nàng ngồi dậy, khoác thêm chiếc áo len vì cảm thấy lạnh. Xe lửa ngừng khá lâu, Đông mua ít bánh bán giò, bánh nậm ở ga xe lửa, bánh có vị rất… Huế. Trời hơi lành lạnh và chưa sáng rõ… .gần một ngày rồi, Đông tự nhủ, nàng mua thêm một con gà quay, dự định sẽ mời chị Hội cùng ăn trưa.

Khi xe lửa đi qua một cây cầu dài trên sông, Đông đang mơ màng thì nàng nghe tiếng động gần cửa sổ, ngó lên thì chỉ còn thấy bàn tay nắm con gà quay trong túi thoáng qua…Đông giật mình nhìn lại thì con gà đã biến mất, nàng hốt hoảng nhìn xuống xuống cạnh giường …vali hành lý vẫn còn… thì ra ai đó ngồi trên khung của tường song sắt chắn trên sông, thò tay ra lấy con gà Đông để trên bàn gần cửa sổ!
Khi chị Hội qua thăm Đông, chị không thấy con gà và vẻ mặt ngơ ngác của Đông thì đoán ra ngay.
-Mất con gà quay rồi phải không?
Đông ngạc nhiên
-Sao chị biết!
-Chị quên không dặn Đông, không để gì gần cửa sổ cả, nhất là khi xe lửa qua sông lớn…có người ngồi sẵn trên khung tường, ai sơ hở để đồ là mất.
-Em còn bánh giò, chị ăn với em nhé.
Xong bữa trưa, chị Hội dặn Đông phải cẩn thận khi xuống ga, nếu xuống trước thì chờ chị và anh Khải gần cửa nhà ga để về nhà trọ. Đến xế chiều thì xe lửa đến nhà ga ở Hà Nội, ba người đi bộ khoảng hơn nửa tiếng thì đến nhà trọ.
Dù đã chuẩn bị tư tưởng, nhưng Đông không thể nào nghĩ rằng nhà trọ lại tệ như thế. Ngoài cái giường và cái bàn nhỏ, tất cả những tiện nghi khác đều là … công cộng. Đông đã từng đi vượt biên, qua đường dài đến tỉnh nhỏ với những điều kiện vệ sinh đáng sợ, nhưng đây là nhà trọ mà cũng không khá hơn bao nhiêu và nhất là đi tắm thì … không biết tả làm sao! Cả ba ngày ở Hà Nội, Đông xuống nơi tắm chung chỉ có đúng một lần!

Buổi sáng đầu tiên ở Hà Nội, Đông theo chị Hội đến chợ Đồng Xuân để bán đồ, anh Khải không đi chung vì anh đi bán đồ ở chợ trời trên phố. Chị Hội có một số khách quen nên việc mua bán tương đối dễ, chị dặn Đông quan sát kỹ để lần sau tự đi mua bán một mình. Đông chú ý đến cách chị nói với khách hàng, thỉnh thoảng nhìn quanh xem cách sinh hoạt ở chợ. Chợ Đồng Xuân không lớn như Đông nghĩ qua những câu truyện được đọc ngày xưa…Từ cửa chính đi vào, trong chợ chia thành nhiều dãy, đa số là những sạp nhỏ với những mặt hàng khác nhau. Chỉ có chỗ bán hoa là Đông thích hơn cả, hoa được bày bán trên sạp nhiều hơn là để vào chỗ để có nước như ở chợ Sài Gòn, có lẽ là vì khí trời mát lạnh? Nhìn những bông hồng tươi tắn trên những tấm đan tre, Đông chỉ muốn mua, nhưng chị Hội nói mình còn phải đi bán hàng lâu, không nên mua vì hoa sẽ héo.

Đến tối, chị Hội, anh Khải và Đông đi ăn phở, chị Hội nói để cho Đông biết mùi phở Hà Nội thôi, chứ đi ăn cơm thì rẻ hơn. Đông rất ngạc nhiên khi thấy chỉ có tô phở, không có rau thơm và giá …thấy Đông có vẻ chờ rau, chị bảo phở ở đây chỉ có thế thôi, đừng hỏi vì họ sẽ trả lời khó nghe lắm, không có lịch sự như chỗ mình đâu! Tuy là không thích phở kiểu này nhưng vì trời lạnh, được ăn phở nóng và ngắm cảnh phố đông người mặc áo ấm đi qua lại cũng vui.

Sáng hôm sau, chị Hội bảo Đông đi bán hàng ở chợ trời với anh Khải cho biết thêm cách mua bán. Chợ trời thì ở đâu cũng hỗn tạp, đủ loại hàng, đủ loại người…Anh Khải dặn Đông đừng nói nhiều, đừng để ý đến những lời họ nói vì có thể hơi khó nghe…anh cười cười … tôi nghe cô Hội nói cô chưa quen với việc mua bán, đi cho biết xem có thể… bụi … như dân buôn được không nhé…
Anh Khải đến góc phố, nơi có bàn nhỏ và mấy cài ghế nhựa thấp. Anh nhìn Đông.
-Hãy còn sớm, cô Đông uống cà phê vỉa hè phố Cổ nhé… Cô làm việc ở khu ngân hàng chợ Cũ thì chắc hẳn là biết uống cà phê ?
Đông cười
-Đúng như vậy, cám ơn anh cho thưởng thức cà phê phố Cổ.
Anh Khải gọi hai ly cà phê sữa nóng. Đông ngạc nhiên khi thấy họ để ly cà phê thủy tinh nhỏ trong bát có nước nóng. Thấy Đông lấy tay khều khều quanh ly cà phê, anh Khải giải thích
-Ở đây, khi trời lạnh, họ để ly cà phê trong bát nước nóng để giữ độ ấm của cà phê. Cô Đông uống thử xem nhé.
Đông uống mấy ngụm nhỏ, yên lặng nhìn đường phố với những hàng cây trụi lá còn mờ trong sương sớm rồi nói nhỏ
-Không có mùi cà phê nhiều anh Khải ạ. Dường như có pha thêm chất khác
-Cô đúng là dân cà phê Sài Gòn có khác, uống cho biết và cho có chút cà phê cho tỉnh thôi chứ không thơm bằng cà phê chỗ mình đâu.
-Cũng tạm được chứ anh, cách họ để giữ ấm cà phê rất thú vị. Xứ mình, ngay vào tháng 12 cũng không đủ lạnh để phải có nước nóng giữ cho cà phê ấm.
Sau khi uống cà phê, Đồng theo anh Khải đến chợ trời… người đi kẻ lại, tiếng trả giá ồn ào. Anh Khải đến vài chỗ quen mời mua hàng …đến trưa, cũng chưa bán được hết hàng, anh có vẻ mệt và thất vọng.
-Lần này chắc không khá rồi cô Đông ạ, hàng mang qua ga thì bị đóng thuế, đến đây thì bị ép giá. Chắc là ngày mai tôi phải đi chỗ khác.

Buổi tối, lúc đi ăn cơm chung, chị Hội cũng than phiền không bán hết được hàng vì họ có nhiều người bán hàng với giá thấp. Hai anh chị hẹn nhau trưa mai, sau khi ra chợ trời thì sẽ đi xe điện đến chợ xa hơn, hy vọng bán hết hàng để ngày mốt mua ít mặt hàng rồi ra ga mua vé xe lửa về Sài Gòn.

Hàng hãy còn khá nhiều, sau khi ăn trưa, cả ba ra đường đón xe điện. Chị Hội dặn Đông phải cẩn thận vì đến trạm, xe điện chỉ chạy chậm lại chứ không ngừng hẳn, nên khi xe điện đi ngang qua, phải nắm lấy thanh sắt của cửa xe điện rồi… nhảy lên … chị cười …dân ở đây họ gọi là nhảy xe điện chứ không phải lên xe điện !

Khi xe điện gần đến gần trạm, Đông nghe những tiếng chuông “leng keng “ thật là vui tai. Trạm khá đông người nên anh Khải nói chờ đến chuyến sau và để Đông có dịp xem cách người ta nhảy lên xe … Khi tiếng leng keng và xe điện đến gần ,anh Khải nắm cửa xe điện, nhảy lên dễ dàng dù trên vai đeo đồ nặng, chị Hội cũng nhảy lên được dù vai cũng đeo đồ, còn Đông chỉ có túi xách nhẹ trên vai, nắm lấy thanh sắt rồi nhảy lên, hơi chậm một chút nên một chân bị hụt, đu đưa trong không khí rồi mới chạm sàn xe, Đông giật mình và cảm thấy chân hơi đau. Khi vào trong xe điện, chị Hội hỏi
-Đông có sao không? Có nhảy lên xe điện được không?
Đông cười
-Em bị hụt chân chút thôi…
-Vài lần rồi quen, đừng sợ.
Ba người đứng gần nhau trong xe, khoảng chừng nửa tiếng thì nhảy xuống xe điện và đi một quãng ngắn đến một nói giống như chợ trời với những bàn bán đồ điện . Nghe nói chuyện thì họ chỉ nhận hàng và giao tiền một nửa thôi, chuyến sau sẽ lấy tiếp vì hàng bán chậm. Anh Khải đồng ý vì là bạn hàng quen và cũng không thể mang hàng về!
Lần về, Đông nhảy lên xe điện gọn nhẹ … Chị Hội cười đùa
-Đông đi buôn được rồi …đi buôn mà đi xích lô thì lỗ to đấy.

Trong chuyến xe lửa trở về Sài Gòn, Đông cảm thấy lòng bâng khuâng nhớ tiếc những ngày lang thang trên vỉa hè góc phố Hà Nội … nghe anh Khải và chị Hội nói chuyện thì khó có thể tiếp tục mang hàng đến bán ở Hà Nội được nữa vì dường như những mặt hàng bán được giá mang từ Sài Gòn đã được cán bộ thu mua và chuyển về bán ở Hà Nội với giá rẻ vì không qua hải quan. Chuyến đi này tiền lời vừa đủ cho mọi chi phí, coi như mấy ngày không công thôi.

Hơn một năm sau chuyến đi buôn, Đông cùng nhóm bạn vượt biển thành công đến đảo Ku Ku thuộc Indonesia rồi đi định cư tại Mỹ. Chuyến đi buôn độc nhất trong đời đã để lại trong lòng nàng chút kỷ niệm về vùng đất ngày xưa mà bố mẹ nàng thường nhắc đến với biết bao nỗi nhớ.

Ý Nhi Nguyễn thị Dung

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Thiếu Nữ Và Hoa Hồng (Tranh: Họa Sĩ Nguyễn Sơn) - Đề Thơ: Nguyễn Tích

(Tranh: Họa Sĩ Nguyễn Sơn)
Môi hồng mắt phượng mày ngài
Tóc huyền xõa mượt bờ vai dịu hiền
Với hồng hôn ngắm... tự nhiên
Mơ màng thanh thản như tiên trên trời
Người đâu đẹp vậy??!! bạn ơi!!!


Nguyễn Tích Lai
 

Thuyền Và Bến

 

Thuyền ơi bến vẫn đợi chờ
Dù cho mưa gió mịt mờ bốn phương.
Thu
yền đi khuất bóng chiều sương
Bến chờ năm tháng rưng buồn biệt ly.
Thuyền đi cứ mãi thuyền đi
Bao giờ mong đợi ngày về bến không?
Mãi xa theo nước xuôi dòng
Coi chừng sóng dữ long đong cõi ngoài.
Tìm về bến lạ thuyền say
Hoa tươi pháo đỏ trăng đầy suốt đêm.
Bến xưa lặng l
ẽ âm thầm
Dú cho mưa gió bao năm vẫn chờ!!

Hàn Thiên Lương
7-7-2026

Rằm Tháng 8 - Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến


Nhiếp Ảnh Gia: Vũ Ngọc Hiến

Những Chỗ Ngồi Của Mẹ


Tập thơ ''Quê Ngoại'' của Hồ Dzếnh xuất bản năm 1943, trong đó, 4 câu cuối bài ''Cảm Xúc'' được nhiều người nhắc đến

Cô gái Việt Nam ơi !
Nếu chữ Hy Sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Bài thơ có thể đã được tác giả viết, trước khi tập thơ ra đời năm 1943. Nếu lấy 1943 là cái mốc ''khổ cực'' thì trong 32 năm, 1943 đến 1975, những cô gái Việt Nam ở hai miền Nam Bắc, từ đời ''bà'' đến đời ''cháu'', càng khổ cực hơn do chiến tranh. Nhưng ''khổ cực'' nhất phải là những cô gái sống trong xã hội đói nghèo ngoài Bắc. Sau 1975, thì ...''đổi chỗ''! ''Khổ cực'' nhất phải là những cô gái bên ...''thua cuộc'' miền Nam . Mà ai cũng biết!

Tôi viết ca khúc ''Những chỗ ngồi của Mẹ'' tháng 5/1985, đưa ra hình ảnh một đoạn đời của một bà mẹ trong 10 năm ''đau thương, khổ cực'' nhất (1975-1985): Từ lúc ngồi trên vùng kinh tế mới, chờ trông đứa con ''cải tạo'', đến lúc mỏi mòn, đành mang (những) đứa con còn lại, liều chết, ngồi thuyền vượt biên. Và sau cùng , trên xứ người , Mẹ ngồi cầu nguyện trong Thánh đường hay khấn Phật trước chùa, xin ơn trên phù hộ cho ''thằng con học tập'' được tha về !

Đó chỉ là 4 ''chỗ ngồi'' tiêu biểu, trong trăm ngàn ''chỗ ngồi'' đau thương, tủi nhục vv mà, phải nhiều ''Trường ca'', của nhiều tài năng lớn, mới có thể nói lên được một phần nào sự cực khổ, hy sinh vv.. Của những bà Mẹ miền Nam, sau 4/75!

Không có khả năng ''nạm vàng'', tôi chỉ làm một chuyện nhỏ nhoi: xin được vinh danh những bà mẹ miền Nam, qua ''Những chỗ ngồi của Mẹ''.

Hơn là ''Những chỗ .. nằm(!) của Mẹ''!
Muốn ''cho lòng cô gái Việt Nam tươi'' thì nên ''nạm vàng muôn khổ cực'' lúc họ còn ... ''ngồi'' !

BP
24/09/2026