Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2025

Xóm Cũ - Sáng Tác: Phạm Anh Dũng & Phạm Thế Trường - Ca Sĩ: Lệ Thu


Sáng Tác: Phạm Anh Dũng & Phạm Thế Trường
Ca Sĩ: Lệ Thu

Lại Nữa...

  

Lại nữa, một đêm. Lại một đêm

Lại nghe rón rén mé bên thềm
Lại mùi ngai ngái nơi chăn đệm
Lại tiếng thở dài buôn buốt đêm.

Chủ nhật, 01 tháng 06-2025
Đặng Xuân Xuyến

Áng Mây Hồng Phiêu Du

Ở trong Cung Ngoan Đạo
Cấm em nhắc chuyện tình
Một nghìn trang di cảo...
Khóa bằng khóa vô minh!

Ở trong Cung Ngoan Đạo
Làm anh lỡ cuộc tình
Ta nhìn em điên đảo
Tay đặt vào trang kinh

Em nhìn ta khờ khạo
Thơm mái tóc tội tình
Trên bờ vai run rẩy
Hình như cơn gió lay

Chưa dứt được vấn vương
Nghe chuyện tình kể lể
Còn nẩy mầm bén rễ
Miền tâm thức xanh tươi

Ở trong Cung Vô Tội
Anh lần mãi tràng hạt
Tưởng chừng như nốt nhạc
Quyện hai đầu mối tơ

Ở trong Cung Thiên Thu
Bao giờ đưa nhau tới
Bao giờ còn ngóng đợi
Áng mây hồng phiêu du

Hình như và hình như
Áng mây hồng phiêu du

Phan Khâm

Long Lanh Mắt Cười



Sóng trong lòng sóng ngoài sông
Mà sao mới giận lại mong làm hòa
Tình yêu không có mái nhà
Cho nên hờ hững gần xa mệt nhừ

Vui buồn kiệt sức tương tư
Đón đưa sớm tối còn chưa đủ gần
Nắng trong sân mưa ngoài sân
Hàng mai chiếu thủy trắng ngần cách ngăn

Đêm dài đối bóng tìm trăng
Gửi lời thương nhớ hàm răng mình cười
Gió hôn cánh bướm vàng tươi
Cánh hoa lơi lả sương rơi nhẹ nhàng

Mây áo choàng mây khăn choàng
Nghiêng nghiêng suối tóc bàng hoàng tình si
Trải hồn dưới bước em đi
Có nghe tội nghiệp chút gì không em

Năm năm chưa được làm quen
Mười năm chưa dám hờn ghen chút nào
Mây vẫn cao trời vẫn cao
Tới lui lận đận lao đao mấy lần

Áo nhầu không dám mừng xuân
Bao lần qua cổng ngập ngừng rồi thôi
Tưởng như đã mất thật rồi
Nghe như giông bão đất trời đảo điên

Không còn ngày chỉ có đêm
Hoa thơm đã chết bên thềm rêu xanh
Đi không đành giận không đành
Thoáng trong cửa sổ long lanh mắt cười

Lòng bỗng vui hồn bỗng vui
Bao nhiêu buồn tủi ngủ vùi trong mơ….

MD 03/21/03
LuânTâm

(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh,
Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xuất bản ,CA,USA.2005,tr.133-134)
 

Giá Cô Thiên – Tân Khí Tật - 鷓鴣天 - 辛棄疾

 

欲上高樓去避愁, Dục thướng cao lâu khứ tịch sầu,
愁還隨我上高樓。 Sầu hoàn tùy ngã thướng cao lâu.
經行幾處江山改, Kinh hành kỷ xứ giang sơn cải,
多少親朋盡白頭。 Đa thiểu thân bằng tận bạch đầu.

歸休去, Quy hưu khứ,
去歸休。 Khứ quy hưu.
不成人總要封侯? Bất thành nhân tổng yếu phong hầu?
浮雲出處元無定, Phù vân xuất xử nguyên vô định,
得似浮雲也自由。 Đắc tự phù vân dã tự do.

Chú Thích

1- Giá (chá) cô thiên 鷓鴣天: tên từ bài, tên khác là Tư giai khách 思佳客, gồm 55 chữ, mỗi đoạn có 3 bình vận. Cách luật:

X X X X X X B vận
X B X T T B B vận
X B X T X B T cú
X T B B X T B vận

X X T cú
X B B vận
X B X T T B B vận
X B X T B B T cú
X T B B X T B vận

2- Tỵ (tịch) 避: trốn, tránh.
3- Kinh hành 經行: trải qua.
4- Kỷ xứ 幾處: mấy phen.
5- Bạch đầu 白頭: tóc đã bạc trắng.
6- Quy hưu khứ 歸休去: về hưu thôi. Chữ khứ 去 dùng làm trợ từ.
7- Bất thành 不成 = nan đạo 難道 hoặc = mạc phi 莫非: chẳng lẽ.
8- Tổng yếu 總要: chỉ muốn.
9- Phong hầu 封侯: được phong quan tước.
10- Phù vân 浮雲: mây, mây nổi
11- Xuất xử 出處: đi và ở. Cũng có nghĩa là ra làm quan hoặc về quy ẩn.
12- Nguyên 元 = nguyên原: nguồn gốc.
13- Vô định 無定: không có chỗ cố định.
14- Đắc tự 得似: được như, thật là; khẩu ngữ của người thời Tống.

Dịch Nghĩa

Muốn lên lầu cao để trốn tránh cái sầu,
Cái sầu còn theo tôi lên lầu cao.
Trải qua vài lần giang sơn biến đổi,
Bao nhiêu bạn thân đã bạc đầu hết.

Về hưu thôi,
Hãy về hưu.
Chẳng lẽ mọi người đều muốn được phong hầu sao?
Đi và ở của mây nổi vốn vô định,
Được như mây nổi cũng tự do.

Phỏng Dịch

1 Giá Cô Thiên - Tự Do

Muốn bước lầu cao tránh nỗi sầu,
Sầu còn theo mãi đến cao lâu.
Trải qua mấy bận giang sơn đổi,
Lắm bạn quen thân đã bạc đầu.

Về hưu nhé,
Hãy về hưu.
Lẽ nào người chỉ muốn phong hầu?
Phù vân qua lại nguyên vô định,
Được giống phù vân cũng tự do

2 Tự Do
Trốn sầu muốn bước lên lu,
Sầu còn theo đến cao lâu muộn phiền.
Giang sơn biến đổi mấy phen,
Hoa râm tóc bạc thân quen bạn già.

Về hưu thôi nhé bọn ta,
Lẽ nào người chỉ bôn ba phong hầu.
Phù vân trôi nổi về đâu,
Được như mây nổi một bầu tự do.

HHD 
12-2024
***
Giá Cô Thiên

1-

Muốn bước lầu cao trốn cái sầu
Sầu này theo mỗ tới cao lâu
Trải qua vài bận non sông đổi
Nhiều ít bạn thân bạc trắng đầu

Về hưu nhé
Hãy về hưu
Mọi người chẳng lẽ mộng công hầu?
Ở-đi mây nổi nguyên vô định
Như thể phù vân cũng tự do.

2- Tự Do

Trốn cái sầu lầu cao muốn bước
Sầu theo ta cùng vượt cao lầu
Giang sơn dăm bận thay nhau
Bao nhiêu bạn cũ trắng phau mái đầu

Về hưu nhé, hưu mau bạn nhé!
Mộng công hầu chẳng lẽ mọi người?
Ở-đi vô định giống thôi
Được như mây nổi cũng đời tự do

Lộc Bắc

Xóm Cũ Tình Xưa


Lom khom tìm CD giọng ca Như Quỳnh, Trường Vũ trong tiệm bán nhạc Trung Tín tại chợ Việt Nam, tôi chợt bắt gặp bàn tay trắng nõn của một cô gái bên cạnh, đang cầm một CD, lẩm bẩm đọc tên các bài hát. Bàn tay với những ngón thon dài nuột nà, như có ma lực thu hút tiềm thức, khiến tôi đứng ngây người. Giây phút nào đó, sự trỗi dậy một dư ảnh, một dư hương hoặc một dư âm cũng đủ đánh thức nỗi niềm chôn sâu âm ỉ tận đáy tâm hồn.
Trả tiền xong, cô gái tiến ra cửa. Tôi chỉ kịp nhìn thấy mái tóc dài buông hờ hững trên đôi vai tròn trịa.
Đã từ lâu, ấn tượng về một người con gái đến với tâm tư tôi, không phải thân hình bốc lửa, không phải dáng đi uyển chuyển, không phải giọng nói dịu dàng, không phải đôi mắt u huyền mà là đôi bàn tay. Bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, chiêm ngưỡng người khác phái, tôi nhìn đôi bàn tay trước tiên. Âu đó cũng là cách lý giải nguyên nhân mà mãi sau này lúc định cư tại hải ngoại tôi mới khám phá được ý nghĩ chính mình.
-------
Đầu thập niên 70, tôi được lệnh gọi thi hành quân dịch. Sau 3 tháng huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tôi về Trung Đoàn 7 SĐ5 BB.
Khi Hiệp định Paris năm 1973 ký kết, Tiểu Đội tôi được lệnh đóng tại khu vực Đồng Xoài – Phú Giáo, cắm cờ VNCH, để phân biệt lãnh thổ trong chiến dịch mà địch gọi là “chiếm đất giành dân”. Lúc bấy giờ tôi mang lon Binh Nhất, phụ trách khẩu đại liên M60, vì là nông dân nên thân hình tôi rất vạm vỡ và chắc nịch.
Trong một đêm tao ngộ chiến, khẩu đại liên đang khạc đạn như mưa, bỗng tôi bị hất tung lên vì một trái súng cối của địch nổ gần. Tôi không biết mình mê man bao nhiêu ngày. Khi hồi tỉnh, tôi cảm thấy môi mình ngòn ngọt. Một người nào đó đang đổ sữa cho tôi uống. He hé mắt, ánh sáng chói lòa khiến tôi phải nhắm nghiền lại ngay. Một bàn tay mềm mại đặt lên trán tôi. Tôi hi hí mắt nhìn một lần nữa. Khuôn mặt trái xoan ngược ánh sáng, chỉ có đôi mắt hai mí long lanh nhìn tôi. Mái tóc dài cúi xuống, phủ lên ngực tôi khiến tôi nhột nhạt, khó chịu. Ánh nắng chiều nhuộm đôi bàn tay với mười ngón thuôn đuột búp măng mà tôi mường tượng đôi bàn tay tiên xoa dịu cơn đau nhừ thể xác. Giọng nàng reo vui:
– A ! Anh Trường đã tỉnh rồi.
Cố moi óc, vẫn không sao nhớ được nàng là ai, tôi thì thào:
– Ai vậy ?
Nàng nũng nịu:
– Em Kim đây. Bộ anh hổng nhớ hả?
Bàn tay mát rười rượi của nàng nắm chặt tay tôi. Tôi thiếp đi lúc nào không hay...
Nhà Kim và nhà tôi cùng xóm, cái xóm nghèo nàn của xã 2, Thủ Thừa Long An. Khi học hết bậc tiểu học, Kim lên Phú Định Chợ Lớn, ở nhà người chú, học tiếp Trung học. Phần tôi gia cảnh quá nghèo, đành bỏ dở dang, ở nhà phụ ba má tôi lo ruộng vườn.
Mỗi kỳ nghỉ hè hoặc Tết, Kim về thăm quê, chúng tôi tiếp tục chung vui những ngày hồn nhiên dang dở. Thời gian trôi qua mau, Kim đã trở thành một thiếu nữ biết e thẹn, biết làm duyên.
Con gái quê tôi, Thủ Thừa, không biết nhờ dòng dõi hay nhờ nguồn nước sông Vàm Cỏ, cô nào cũng cao ráo và trắng ngần. Kim cũng nằm trong số đó. Tuy vậy, con gái xứ này thường hay lấy chồng xa, có lẽ trai nơi đây không đầy đủ điều kiện cho các cô coi là thần tượng. Bởi lẽ ấy, tôi biết phận mình, biết hoàn cảnh mình nên giữ ý không dám mơ mộng hão huyền.
Một lần Tết Trung Thu, Kim về nghỉ cuối tuần sau kỳ thi Lục Cá Nguyệt. Chúng tôi ra bờ sông Vàm Cỏ đầu thôn, ngồi chờ trăng lên.
Chiều quê nắng tắt hẳn. Màu tím bàng bạc, sẫm dần. Màn đêm như chợt hửng vàng khi ánh trăng vành vạnh từ từ nhô tận chân trời phương Đông. Tiếng côn trùng rỉ rả, nỉ non, đôi khi hòa vui như chung hơi thở nhịp tim rộn rã. Mùi hương cau tỏa nhè nhẹ, gió hiu hiu từng chập. Thời gian tĩnh lặng như ngừng trôi...
Tôi thẳng thắn tỏ ý niệm mình xuyên qua những cuộc tình duyên trai gái tại địa phương. Tôi không dám mơ ước gì ở Kim ngoài tình bạn như thời ấu thơ. So với trai thành thị, tôi chỉ là một người nhà quê nghèo hèn, tính tình chân chất, kiến thức nông cạn và tài năng kém cỏi.
Nhìn tôi một lúc thật lâu, Kim cười. Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc, tôi nhìn rõ má lúm đồng tiền và hai hàm răng đều như bắp non. Kim nói:
– Em không giống các bạn gái ở đây. Họ không có bạn từ thuở nhỏ, thân thiết như anh với em. Vì hoàn cảnh, anh không tiếp tục học được chớ không phải anh không muốn học. Có lên Chợ Lớn, so sánh các bạn trên đó, em thương các bạn ở quê mình hết sức. Các bạn nghèo, thiếu thốn đủ thứ, từ vật chất đến giải trí. Cha chú ở quê có người chưa bao giờ biết Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang... Suốt đời họ chỉ quanh quẩn với đình làng, với hàng tre xanh, với mương tôm ao cá.
Tôi thở dài:
– Làm sao hơn được hả em? Chính anh, anh cũng phải chịu chung số phận như cha chú mình...
Chúng tôi nói với nhau nhiều lắm, nhiều lắm... nhưng vẫn chưa đề cập gì đến tình yêu giữa hai đứa.
Khi Tổng Y Viện Cộng Hoà báo tin cho gia đình tôi biết tôi bị trọng thương, ba má tôi cuống quít, sang nhờ ba má Kim lên Chợ Lớn cho Kim hay. Ba má tôi chưa hề lần nào biết Saigon, nghe đồn trên đó rất xô bồ và phức tạp thì e ngại vô cùng.
Ba tôi bán rẻ 5 giạ lúa để Kim lấy tiền chăm sóc tôi. Mặc dù có y tá, nhưng những giờ nghỉ học ở Đại học Dược, Kim vào bệnh viện lo cho tôi từng miếng ăn, từng ly nước uống. Quần áo bệnh nhân của tôi dơ dáy, Kim không quản ngại, nàng mua sà phòng, mang ra vòi nước giặt và phơi nắng giết vi trùng. Tôi không tắm được, Kim đã nấu nước nóng lau từng ngón tay, từng bàn chân cho tôi, còn hơn người vợ săn sóc chồng. Nàng vì lòng thương hại của em gái hậu phương đối với một thương binh? Nàng vì lòng bao la của một người có tâm huyết công tác xã hội? Tôi không sao lý giải và cũng không cần giải lý. Tôi chỉ biết mình hưởng những gì mà các thương binh chung quanh tôi không được phước hưởng.
Sau gần một năm nằm bệnh viện, tôi được các bác sĩ hội chẩn và lại tiếp tục trở về đơn vị tác chiến cũ. Ngày chia tay, những giọt nước mắt nóng bỏng của Kim khiến tôi bùi ngùi. Thời chiến, như Phạm Duy đã phổ nhạc lời thơ: “Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại?”
Ngày 1/5/1975 tôi trở về quê cũ thì gia đình Kim đã di tản, không biết về nơi nào. Mặt trận Long An những ngày cuối cùng, từ quốc lộ 4 đến các quận, thôn làng sôi động khác thường.
Cũng như những người đi tìm tự do, năm 1982 tôi vượt biên với gia đình và thành công.Vị chỉ huy cũ Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7 SĐ 5 BB có ghe, có vàng nên cho chúng tôi đi theo. Thoạt đầu ba má tôi không chịu rời xóm làng. Ông bà quyết định sanh nơi đây thì chết cũng nơi đây. Khi thằng em kế tôi đi thanh niên xung phong, bỏ thây trên Campuchia, ba má tôi mới lo sợ cho thằng út, và nói một liều ba bảy cũng liều...
Tại Chicago, thằng út lập gia đình và đã có cháu nội cho ba má tôi ẵm, nên tôi không bị ép lấy vợ. Làm sao tôi quên được đôi bàn tay của Kim đã chăm sóc khi tôi nằm bệnh viện. Là sinh viên Dược, nàng có quyền chối bỏ cực nhọc, dơ bẩn đối với người thương binh thất học. Kiến thức chênh lệch, nàng có quyền xa lánh người binh sĩ, có cấp bậc thấp trong quân đội như tôi. Nỗi ray rứt, ký ức về bàn tay ngà ngọc khiến tôi quyết định về chốn cũ, tìm lại những gì đã mất theo tháng năm mà mối tình câm nín của Kim và tôi đã chôn chặt vào dĩ vãng...
Thế rồi cuối cùng tôi trở về thăm xóm cũ. Bao nhiêu năm xa cách, cảnh vật như xưa, nhưng người đã khác hẳn. Cũng những mái tranh nghèo xơ xác, cũng vũng rãnh ao tù nước đọng, cũng ruộng nương ngập phèn chua váng đỏ, rong rêu lều bều. Dân thôn xóm năm xưa giờ đây tứ phương cầu thực. Vì miếng cơm manh áo, người tìm cuộc sống mới nơi phồn hoa đô thị, kẻ lìa bỏ lũy tre xanh rợp bóng thôn làng.
Đứng trước quang cảnh cũ, lòng tôi bồi hồi xúc động. Chỉ có những người xa quê hương đằng đẵng, tâm trạng mới trào cuồn cuộn sóng yêu thương, nhung nhớ khoảng trời dẫy đầy dấu tích. Con đường ngoằn ngoèo xuyên qua xóm, giờ đây vẫn còn lũy tre bao phủ. Hàng cau cao vút thấp thoáng xa xa. Xóm nghèo của tôi ở đó.
Bước qua hàng rào bằng các nhánh cây găm xuống đất cho có lệ, tôi tiến vào nhà cũ của mình.Căn nhà tăm tối, ẩm thấp. Mái lợp lá dừa nước cũ kỹ, tả tơi. Vài đứa trẻ nhà bên cạnh thập thò nhìn tôi dáng vẻ tò mò và xa lạ.
Tôi bước qua nhà cũ của Kim. Một ông già tay run run chống gậy, đưa đôi mắt đờ đẫn nhìn tôi, không nói năng lời nào. Tôi nhắm nghiền mắt lại. Ba của Kim đây rồi. Hai giọt lệ ứa ra. Tôi khóc!
Đứng lặng yên như thế một lúc thật lâu, tôi đỡ ông cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ bên cửa sổ. Có lẽ ông cụ lãng trí, không còn biết những gì xảy ra chung quanh.
Một bé gái trạc tám chín tuổi, vừa ngoài ruộng về, tay cặp chiếc rổ đựng vài con cá rô bằng hai ngón tay, thấy tôi lạ nên bước lại hỏi:
– Chú tìm ai ?
Tôi trả lời ngay:
– Tôi tìm cô Kim, cháu biết cô Kim ở đâu không?
Đứa bé ấp úng:
– Má cháu...
Tôi cũng ấp úng theo nó:
– Má cháu... má cháu... ở đâu?
Đứa bé không trả lời, lẳng lặng đem rổ cá ra sau bếp. Khi trở lên nhà trên, nó nắm tay tôi đi về hướng sông Vàm Cỏ. Chui qua cụm dừa nước, đứa bé đưa tay chỉ người đàn bà đang lúi cúi cầm rổ thưa hớt cá ven bờ sông, nước lên đến gần đầu gối. Nó không nói câu nào, quay phắt trở về nhà. Tôi xắn quần, cởi giày vớ cầm tay và lội bì bõm xuống chỗ Kim. Cố gắng dằn lòng, nhưng sao tim tôi đập nhanh quá.
Hình ảnh cô sinh viên Dược tươi mát săn sóc tôi năm nào tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và hình ảnh một thiếu phụ thôn quê nghèo khổ đang vớt từng con cá, từng con ốc nuôi sống gia đình, chen lẫn nhau, nhạt nhòa trong mắt tôi... Còn cách độ vài thước, nghe tiếng lội nước, Kim đứng thẳng người lên nhìn ngoái lại.
Mái tóc dài bây giờ không còn buông xõa mà bới cao sau ót, để lộ mảng da vẫn trắng nõn như xưa. Đôi mắt hai mí long lanh độ nào, đã vương nét u uẩn thăm thẳm, xa xôi vời vợi. Kim ngạc nhiên hỏi:
– Ông tìm cái gì mà lội ra đây?
Nàng chẳng nhận ra tôi. Giá con gái nàng không dẫn đến, khi gặp nàng, chưa chắc tôi đoán biết được nàng.
Quá xúc động, tôi nhìn nàng, không biết mở lời ra sao. Hai người nhìn nhau một lúc. Kim chợt nhớ lại người bạn thân cũ năm xưa, nàng lúng túng cúi gằm mặt xuống. Tôi tiến lại nắm tay Kim. Dẫu rằng trải qua nắng mưa,dẫu rằng tuổi đời chồng chất,hai bàn tay nàng vẫn thon đẹp, từng ngón búp măng vẫn nõn nà và đài các, duy lòng bàn tay bị chai cứng vài chỗ. Dáng nàng cao cao, toát ra vẻ đẹp kiêu sa giữa miền đồng chua nước mặn. Làn da mặt mịn màng, trắng tự nhiên, chợt ửng hồng khi nhận ra tôi, không khác gì thuở còn son trẻ.
Mười mấy năm xa cách, tình cảm câm nín năm xưa đến bây giờ cũng vẫn nín câm. Có lẽ hai chúng tôi đều nghĩ rằng những lời tự đáy lòng không cần nói ra, vì lời nói đầu môi chót lưỡi đôi khi chỉ là những lời giả dối, ai thốt cũng được. Hai ánh mắt nhìn nhau cũng đủ tỏ rõ tình yêu tự đáy lòng mình.
Kim kể rõ đầu đuôi cuộc tình kết tinh một bé gái mà mãi đến bây giờ nàng mới có dịp thổ lộ.
Khi miền Nam sụp đổ, gia đình nàng theo vợ của chú nàng ngược ra miền Trung vì nơi đây là quê hương của thím. Lúc gia đình tôi vượt biên, Kim đang làm công nhân phòng thuốc tại một bệnh viện ở Huế. Được tin tôi ra đi, nàng tuyệt vọng và sống thầm lặng qua ngày. Rất lâu sau đó nàng lập gia đình với một bác sĩ. Biết Kim là sinh viên Dược, ông quí nàng vô cùng. Vợ bác sĩ này rời Việt Nam ngày 30/4/1975, định cư tại California, trong khi ông còn kẹt ở Đà Nẵng.
Khi hai chính phủ Mỹ và Việt Nam thỏa thuận chương trình “Ra Đi Trong Vòng Trật Tự” (O.D.P.), vợ ông bác sĩ lập thủ tục bảo lãnh chồng. Kim ôm đứa con gái, tan nát cõi lòng. Má nàng vì con, buồn rầu sinh bệnh rồi chết. Ba nàng dần dần mất trí nhớ. Kim nuốt lệ đưa gia đình về quê cũ sống. Đối với cha, nàng luôn tròn chữ hiếu, đối với con gái, tình mẫu tử thiêng liêng bao trùm khiến Kim không màn tấm thân ngày càng tàn tạ. Kim thở dài: – Em làm quần quật từ sáng tinh sương đến tối mịt. Từ làm cỏ mướn, cày bừa, vét mương, tát đìa... em chỉ mong được bà con chung quanh trả công vài ký gạo, cha con ông cháu tạm no lòng, con em được manh quần tấm áo lành lặn. Giấc mơ tầm thường như vậy, nhưng đối với em là một cuộc vật lộn gay go với hoàn cảnh xã hội từng ngày.
Tôi siết chặt tay Kim. Lòng bồi hồi thương cảm:
– Anh rất khâm phục sự chịu đựng của em. Anh là đàn ông, chưa chắc anh đã can trường như em.
– Làm sao hơn hả anh? Phải vùng vẫy trong sự khốn đốn để tồn tại. Và...
– ... Và đến nay mình mới có cơ hội gặp lại...
Ánh trăng vẫn như năm nào khi chúng tôi ngồi cạnh nhau bên bờ sông, có khác chăng giây phút này, cõi lòng mỗi người thổn thức một cách khác biệt. Thâm tâm tôi lo lắng cho nàng, không gợn một chút gì thương hại, mà là tình cảm thuần khiết. Một người con gái vì xã hội, vì hoàn cảnh gia đình, tương lai bế tắc, phải chui rúc trong xóm nghèo, trong khi các bạn nàng sống sang trọng trên Saigon đầy ánh sáng hoa lệ.
Với chiếc áo bà ba nâu bạc màu, con người Kim giản dị và mộc mạc như các cô thôn nữ khác. Thế nhưng tôi hình dung được trong tâm hồn nàng, một ý chí cương quyết mãnh liệt, không hề lùi bước trước gian khổ. Tuy đời sống không như ý muốn, nhưng Kim an phận với hiện tại mà không kêu ca, than phiền vì nếu có than phiền và kêu ca cũng không ai giúp được.
Hôm nay, sau những năm xa cách nơi chôn nhau cắt rốn, nơi trải qua thời ấu thơ đầy kỷ niệm, tôi được trọn vẹn thưởng thức những gì hằn sâu tận tiềm thức. Vả lại, ước vọng gần gũi người mình nhớ nhung từ lâu, nay trở nên hiện thực. Tôi muốn thời gian dừng lại. Tôi muốn không gian bất biến để níu giữ, dồn nén thật chặt niềm rạo rực vào trái tim lỗi nhịp, đôi khi quặn thắt đau.
Tiếng cười đùa hồn nhiên của trẻ thơ đánh thức tâm trạng người xa xứ. Vui buồn lẫn lộn tràn ngập lòng tôi. Quê tôi nghèo quá. Dân quê làm lụng vất vả mà vẫn không đủ sống. Đời người cơ cực triền miên. Trẻ em thất học là điều tất nhiên, mà càng suy nghĩ càng thương tủi cho những em bé xa ánh sáng văn minh thành phố tại Việt Nam, chứ chưa dám so sánh với trẻ em trên các nước khác trên thế giới.
Khi đặt những bước chân đầu tiên về quê, từ đầu làng đến xóm cũ, tôi nhận thấy trẻ em quần áo xác xơ, tóc tai bù xù, chân tay đen đúa, nét mặt không có vẻ gì tinh anh, ngơ ngác nhìn tôi xa lạ. Trong những ánh mắt đó, tôi có cảm tưởng vùng đất tôi đang đi là một vùng đất đầu tiên đón tiếp con người. Các em đang phụ cha mẹ đào khoai lang trong đám đất khô cằn, hoặc vớt tép, vớt cá trong những đường mương đục ngầu.
Tại Mỹ, tôi từng chứng kiến các trẻ em vừa ăn vừa vứt đổ những thức ăn vô tội vạ. Những phần Mc Donald, những miếng thịt bò mềm mại,những khúc sườn nướng vàng lườm, những tô súp thịt gà ngậy béo, những tô phở thơm ngon, ăn không hết, họ thản nhiên dồn vào thùng rác. Trong gia đình, thức ăn thừa mứa qua ngày, mặc dù bảo quản trong tủ lạnh, nhiều bà nội trợ vẫn không thích dùng đến, vì ngăn ngừa bệnh hoạn. Đồng tiền làm ra tương đối dễ dàng. Cuộc sống sung túc, đầy đủ tiện nghi, sự phí phạm không sao tránh khỏi.
Tại quê tôi, dân làng chắt mót từng hột gạo, từng muỗng muối, từng con ốc, từng con cá, con tép bằng ngón tay để bồi dưỡng cơ thể. Suốt ngày dầm mưa dãi nắng, làm quần quật mới có miếng ăn. Hôm nào đau ốm nằm một chỗ, gia đình thêm vất vả, chạy đầu này mượn lon gạo nấu cháo, đến chỗ kia xin nhúm muối để nêm. Xóm nghèo, nhà nào cũng như nhà nấy, nhưng lá rách đùm lá nát, giúp đỡ nhau không nề hà. Chưa kể những năm lũ lụt đã tàn phá các thửa ruộng nho nhỏ, cướp trọn những gì dân quê dành dụm suốt một kiếp con người... Những người lớn trong gia đình ở lại xóm nghèo, có lẽ thâm tâm họ không muốn rời nơi từng cưu mang họ trong thời gian chiến tranh khói lửa,nơi ông bà cha mẹ an táng tại đây và nhất là nơi họ sẽ an nghỉ vào cuối đời. Chỉ tội đám trẻ con sống với ông bà cha mẹ, đành chấp nhận chung hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực.. Bàn tay xinh đẹp mà tôi ấp ủ bao năm trời, đang nằm gọn trong tay tôi. Bàn tay khác hẳn những bàn tay phái nữ hải ngoại nuôi dưỡng da bằng lotion, rửa tay bằng xà bông ngoại hạng, gọt giũa móng tay kỹ lưỡng và sơn phết đủ màu trong các tiệm Nail. Cùng là phái nữ, hoàn cảnh và thế đứng xã hội là đầu mối phân chia giai cấp để người này sống đầy đủ tiện nghi, người kia thiếu thốn mọi thứ.
Đôi bàn tay xinh đẹp năm xưa, trắng muốt và dịu êm, đã tận tình chăm sóc tôi tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, đã cứu vớt gia đình nàng qua cơn hoạn nạn, thoát những ngày đói khổ. Phân tích lòng mình, tôi có nhiều ấn tượng và lý do để cất giấu hình ảnh nàng tận đáy tim tôi, trong khi tôi dư điều kiện tìm những người con gái khác đẹp hơn, trẻ hơn tại Mỹ cũng như tại Việt Nam.
Xóm cũ nghèo nàn, nhưng chứa chan nồng thắm của tình người và tình quê hương. Xóm cũ ngày xưa đã ấp ủ nàng, một người âm thầm đi vào cuộc đời tôi. Tôi cám ơn rặng tre làng, tôi cám ơn dòng sông Vàm Cỏ phù sa đã hun đúc bẩm chất nàng trở nên hiền thục lẫn cương cường. Nàng như nguồn nước mát cơn mưa chiều xoa dịu những ngày oi bức trong cơn mộng cằn cỗi và tuyệt vọng của tôi, mà những ngày còn lại cuộc đời, tôi sẽ hết lòng trân trọng và nâng niu nàng như chính bản thân mình.

Minh Nhã Nguyễn Thanh Dũng
( Sưu Tầm: Tiêu Nhơn Lạc)

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2025

Về Nhà Cha - Nhạc & Lời Vũ Lương Đúng (Vũ Lương Thiên Phúc)- Ca Sĩ: Chiron Tuấn


Nhạc & Lời: Vũ Lương Đúng (Vũ Lương Thiên Phúc)
Ca Sĩ: Chiron Tuấn

Chuông Ngọ Giáo Đường



Trưa về phố xá đông người,
Chân đi vội vã giữa đời ngược xuôi.

Gió đưa nắng đổ rã rời,
Tiếng xe, tiếng nói… rối bời bước chân.

Bỗng vang chuông giáo đường ngân,
Nghe như gió thoảng, thấm dần tim ai.

Âm vang tỏa giữa đất trời,
Thầm thì khơi gợi bao thời đã quên.

Giữa rừng náo động bon chen,
Một giây tĩnh lặng, lòng êm nhẹ nhàng.

Tiếng chuông ấp ủ dịu dàng,
Như khe khẽ chỉ nẻo đường về ta.

Quen rồi sống vội quá đà,
Bẵng quên trầm lặng để mà "soi tâm".

Gọi ta rời bể mê lầm,
Về trong sâu thẳm âm thầm, chính ta!

Trưa nghiêng nghiêng rọi muôn nhà,
Chuông rơi từng giọt hiền hòa, âm vang...

Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng


Ngày Ấy


Hè về ngày ấy buổi tan trường
Sánh vai chung bước đường hoa phượng
Đỏ thắm sắc màu gieo vấn vương

Ánh mắt vui trao đầy rung động
Chẳng dám hẹn thề dẫu ước mong
Cười tươi trong nắng thầm mơ mộng

Giây phút bên nhau thỏa nguyện lòng
Đẹp mãi thời gian cùng trông ngóng
Sợi tình rung nhẹ luyến nhớ thương


Hoàng Mai Nhất
6/6/2025

Vùng HoaThinh Đốn Và Học Sinh Trường Cũ *


Vùng Hoa Thịnh Đốn mấy hôm nay lúc mưa lúc nắng nhưng khí hậu ấm áp không còn lạnh lẽo như những tuần trước. Nhờ mưa sân cỏ, hoa trong xóm nhà nào cũng xanh tươi.Trời đẹp đi loanh quanh nhìn cây cảnh họ trồng cũng vui mắt. Tuy nhiên có nhà hoa, kiểng bị họ hàng nhà nai tận tình thưởng thức, trụi lủi, chẳng còn lá non hay hoa. Xóm này nhiều nai quá. Nếu chủ nhà không phủ lưới hay làm rào che là chúng ăn nhanh lắm. Qua một đêm các bụi hoa chỉ còn cọng, lá mất hết thật trông thật xác xơ tội nghiệp. Gia đinh nai có khi đến 7,8 con lớn, nhỏ nhởn nhơ thong thả đi lại, không sợ chủ nhà.

Nói chung đi loanh quanh trong xóm hay đến các công viên nhin cỏ hoa tươi tốt mượt mà cũng vui mắt. Các nơi bán cây cảnh bày bán các loại hoa khác nhau rực rỡ màu sắc:


Cũng nhờ thời tiết ấm áp nên quý vị cao niên có thể ra ngoài dự các buổi sinh hoạt do cộng đồng tổ chức, thăm viếng bà con bạn hữu không sợ lạnh như tháng trước. Tuy nhiên có cụ cẩn thận vẫn mang theo áo khoác nhẹ khi ra đường.
Thưa quý độc giả tôi nhắc đến quý vị cao niên vì các cụ là những người dễ bị ảnh hưởng thời tiết, hắt hơi, cảm cúm khi trời lạnh. Người trẻ tuổi họ mặc áo ngắn tay đi tung tăng ngoài đường phố từ cả tháng nay .

Một em cựu nữ sinh Gia Long, dí dỏm xếp hạng những người cao tuổi như sau: 70 tuổi: người già; 80 tuổi: già khú; 90 tuổi :già khú đế. Tuy cao tuổi nhưng các cụ ở vùng Hoa thịnh đốn phần lớn còn khỏe mạnh, vui vẻ,thường tham gia các buổi sinh hoạt cộng đồng ...
Tôi nhớ các cụ 80 tuổi ở Việt Nam ngày trước ít ra khỏi nhà và thường chằng phải làm việc gì cả. Trong nhà con cháu phụng sự,có khi rót nước uống cũng có người giúp.

Ngày nay ở Hoa kỳ 80 tuổi còn đi làm như chị bạn tôi đã vào hàng cao niên nhưng nhà thuốc vẫn mướn cho đến khi con cháu bắt chị ấy nghỉ hưu. Chị bảo đi làm có người ra người vào, chuyện trò bận rộn vui hơn ở nhà, ra vào một minh vì chồng đã qua đời. Các con chị đều có nhà cao cửa rộng nhưng chị chẳng ở với cô cậu nào cả tuy các cháu ân cần mới mọc. Chị ở gần các cháu mà thôi. Theo ý chị thì nhà mình , mình ở. Đọc sách khuya dậy muộn cũng chẳng ai phàn nàn. Ở với con cháu mất tự do của chúng và của mình. Tôi biết có nhà thơ 102 tuổi ở một mình nơi chung cư dành cho người già, từ chối không chịu ở chung với con cháu. Đến chơi vài ngày , 1 tuần rồi cũng trở về chung cư. Anh tự lo sinh hoạt hàng ngày, sáng tác thơ văn, trò chuyện với con cháu, thân hữu bà con qua điện thoại nhưng không ở chung với ai. Thật không giống với các cụ ở Việt Nam ngày trước, ông bà, cha mẹ và các con cháu 2,3 thế hệ sống chung trong ngôi nhà rộng. Mọi người cơm nước hầu hạ, lo lắng chăm nom, phụng sự ông bà cha mẹ vào tuổi thượng thọ của mình...
Ngày nay hay chính xác hơn, cách đây vài hôm có 1 chị cưu giáo sư 90 tuổi, nghỉ hưu từ Mỹ về Việt Nam sống với bà con. Nay chị trở lại Hoa kỳ vừa để khám mắt, vừa thăm bạn hữu, chị em. Có lẽ một phần để tránh thời tiết nóng nực quê nhà. Chị cho biết Huế, Việt Nam đang là mùa Hè, nóng lắm. Chị đi một mình, không cần ai đưa đi suốt khoảng đường dài hơn 20 tiếng trên máy bay. Học trò cũ của chị, bạn bè biết tin, hết người này đến người khác mời chị dùng cơm trưa, cơm tối.
Cũng trong cùng một ngày tôi có người học trò năm xưa muốn đến thăm vì đã lâu không gặp cô giáo cũ. Em là Kiến trúc sư từ Việt Nam đến thủ đô Hoa kỳ dự hội thảo về Kiến trúc, nhân cơ hội đi thăm cô giáo ngày xưa. Tôi phân vân vì có hẹn với chị bạn cao tuổi, làm sao có thể gặp cả hai cùng thời gian? May quá em Khánh Trung cố gắng thu xếp đến thăm tôi vào giờ khác nên tôi có thể dự buổi họp mặt với chị bạn từ quê hương trở về vùng Hoa Thịnh Đốn.


Thưa quý độc giả em Khánh Trung là học sinh cũ của tôi cách đây hơn 50 năm khi em còn học sinh Trung Học. Nay em là Kiến trúc sư tên tuổi nơi quê nhà. Khánh Trung và các bạn cư ngụ Hoa kỳ liên lạc nhau để cùng đến thăm cô giáo ngày xưa , mang quà quê hương đến tặng và mời đi ăn, mừng ngày "Họp Mặt".. Các bạn Khánh Trung không học với tôi ngày nào, chỉ là học trò trường cũ. Tôi thật sự ngạc nhiên, cảm động và rất cám ơn các em .Thời gian làm học trò của các em qua đã lâu và ai cũng bận rộn...Vã lại em Khánh Trung dự hội thảo ở tận Washington DC, tôi ở Virginia vùng Fairfax, cách nhau cả tiếng nếu không kẹt xe... Tuấn và Vũ cũng ở xa, nhà em Tùng tương đối gần hơn.
Ngày xưa các em là những học sinh Trung học vô tư. Nay các em tóc điểm bạc còn cô giáo là bà lão không phải già mà" già khú đế" theo sự xếp hạng của em cựu nữ sinh Gia Long. Các em có người đã có dâu rể, làm ông bà, thành công , có sự nghiệp...Tôi từng tham dự buổi Họp Mặt hàng năm của những cựu học sinh các trường Trung Học Việt Nam cư ngụ Hoa Kỳ. Các em tổ chức các buổi tiệc Tân niên, Tất niên với cả trăm người tham dự để thầy trò, bạn bè có dịp hàn huyên, thăm hỏi nhau, thì giờ rộng rãi. Trường hợp em Khánh Trung thì giờ eo hẹp nhưng cố gắng thăm cô giáo ngày xưa. Thật là quý hóa vô cùng. Các em cựu học sinh Trung Học Nguyễn Trãi khác cư ngụ Hoa kỳ thỉnh thoảng cô trò còn gặp nhau. Khánh Trung ở Việt Nam xa xôi, tôi thì già "khú đế", có thể Khánh Trung đi thăm cô giáo lần cuối trước tôi vĩnh viễn ra đi?
Thưa quý vị, trước 1975 phần đông các giáo chức xem trường học và học sinh quan trọng như gia đình thứ hai của mình. Chúng tôi rất vui khi biết các em thành công, hạnh phúc. Xót xa nếu các em gặp việc không may như khi nghe 1 cựu học sinh chết thảm trong chiến trường Campuchia ở tuổi thanh niên hay chìm trong lòng biển cả lúc vượt biên ...


Nhớ lại từ lúc nhỏ còn là học sinh trẻ con đến khi lớn thành sinh viên, bọn học trò chúng tôi đều quý mến thầy cô giáo của mình. Vui biết bao thấy các cựu học sinh còn giữ nề nếp xưa. Sự viếng thăm các em là phần thưởng tinh thần cho giáo chức chúng tôi. Cám ơn các em nhiều lắm, các em cựu học sinh thân mến.
Theo tôi Việt Nam thời trước 1975 tình cảm thầy trò, phụ huynh học sinh và nhà trường rất tốt đẹp. Học sinh phần lớn thân thiện với đồng môn và quý mến thầy cô giáo. Có lẽ nhờ giáo dục gia đình học sinh, sinh viên Việt Nam ở Hoa Kỳ cũng kính quý thầy cô giáo, các giáo sư của mình. Tôi có người bà con dạy ở Đại học Nha Khoa Hoa kỳ. Các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp, mở phòng mạch đã mấy năm mà Tết, Giáng Sinh vẫn gởi thiệp hay đến thăm và mang quà biếu thầy. Không thấy cô cậu sinh viên Mỹ nào đến thăm. Không biết với đồng môn và giáo sư Mỹ, các sinh viên Mỹ có thân thiết hơn không?
Tóm lại tôi cám ơn em Khánh Trung và các bạn đã dành thì giờ quý báu đến thăm, tặng quà, cho biết tin tức các thầy cô giáo trường xưa, các bạn đồng môn ở quê nhà.

Tôi cầu chúc quý thầy cô , các em cựu học sinh Nguyễn Trãi, quý đồng bào quê nhà và hải ngoại thật nhiều sức khỏe, niềm vui, thành công trong mọi việc, mãi hạnh phúc. Xin ơn trên ban phước lành cho tất cả các em, đồng bào và gia đình.

Virginia, ngày 2/6/25
Ngọc Hạnh

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

Đừng Bỏ Em Một Mình...


Đừng vì một phút giận nhau
Bỏ quên hạnh phúc ngọt ngào thuở xưa
Em thương em nhớ bao mùa
Một thân trơ trọi nắng mưa cuộc đời
Mình ơi! Tiếng gọi khàn hơi......
(Melb.12.6.2025)

Hình Ảnh:Vũ Ngọc Hiến 
Thơ: Kim Oanh

Lá Rơi - Nguyễn Tâm Hàn - Hạ Quyên


SángTác: Nhạc &Lời Nguyễn Tâm Hàn
Trình Bày: Hạ Quyên
Thực Hiện: Nguyễn Tâm Hàn

Đôi Khi Nhìn Lại



Đôi khi nhìn lại thân tôi
Năm qua đi đứng nằm ngồi ra sao
Nhìn vào mới thấy…ôi chao
Đi thì chậm chạp ra vào đắn đo

Nhưng chưa đến nỗi nằm co
Tay thường lạng quạng tìm mò đồ rơi
Leo lầu thở muốn hụt hơi
Mắt thì lúc tỏ lúc hơi mờ mờ

Tai điếc lắm lúc ơ hờ
Những khi vợ gọi vật vờ chẳng nghe
Chẳng trả lời, miệng êm re
Vợ réo dăm bận mới nghe rõ nhời

Nói một đằng hiểu một nơi
Nên vợ cứ thế ra hơi gọi hoài
Cái đầu coi bộ có mòi
Quên sau nhớ trước bồi hồi thấy lo

Đồ vật lắm lúc kiếm mò
Để vào chỗ nọ lại dò chỗ kia
Kiếng mang thất lạc lia chia
Mãi năm ba bữa thấy – kìa – ngoài sân

Đồ đạc trước mặt chần dần
Mắt sao chẳng thấy trí thần mụ mê
May mà chưa lạc lối về
Lái xe thì phải rề rề hơn xưa

Trời đang nắng nghĩ rằng mưa
Bạn bè mới gặp tưởng chưa bao giờ
May mà chưa ngẩn chưa ngơ
Kẻo không lại phải ngồi trơ ở nhà

Rà thêm mấy món nữa là
Tim gan phèo phổi chúng đà ra sao
Tim thì vẫn thấy nao nao
Gặp mưa thấy nắng thứ nào cũng mê

Gan chưa bọc mỡ bề bề
Nhờ mấy viên thuốc toa kê lâu rồi
Nhưng mà lắm lúc cần ngồi
Hai tay phải chống kẻo rồi đau chân

Bệnh gout cũng hết phân vân
Mỗi ngày uống thuốc nhiều phần giảm đau
Tiểu đường cơn bệnh đa sầu
Bánh, chè, cơm cháo yêu cầu chớ xơi

“Cô lét tê rôn” bạn ơi
Thử lui thử tới ông trời còn thương
Chỉ còn mỗi bệnh vấn vương
Ngày đêm sớm tối nhớ thương quê nhà

Nhớ về đất tổ quê cha
Thuốc nào trị được…ấy là thuốc tiên…

Phong Châu


Ta Sống Một Mình Ta



Nơi đây vắng vẻ
Thỉnh thoảng ta muốn gọi thăm người thân
Gọi nhiều lần
Không nghe bạn trả lời

Email cho bạn
Ta không nhận được hồi âm
Bạn muốn xa ta thật sao ?
Cũng đành thôi
Cám ơn bạn
Cám ơn đời
Ta sống một mình ta
Lấy trăng sao làm bạn
Hoa lá là người thân
Chiều chiều nghe tiếng chuông ngân
Cầu mong bằng hữu xa gần ,bình an.

Hoàng Long


Chẳng Nợ Gì Nhau


Năm ấy Hảo 22 tuổi đang làm việc trong một ngân hàng ở Sài Gòn, công việc lịch sự lương cao. Hảo xinh gái con nhà khá giả gia giáo trong xóm. Nàng là một cô gái có đủ điều kiện để người ta mơ ước yêu và cưới làm vợ.

Mẹ nàng sốt ruột thấy con gái yêu “sáng giá” như thế mà vẫn chưa có ai.
Hảo trấn an mẹ:
Có người đang theo đuổi con, mẹ để từ từ con xem thế nào..

Hảo nói thế cho oai chứ thật ra Hảo mới là kẻ đang theo đuổi người ta. Nàng yêu thầm Thái, anh không quân đẹp trai hát hay đàn giỏi, ăn nói ngọt ngào. Hảo gặp và quen Thái trong một lần đi ủy lạo thăm chiến sĩ miền xa, bản doanh đóng tại Pleiku. Thỉnh thoảng mỗi lần về thành phố Thái đều hẹn Hảo rủ nàng đi dạo phố, xem xi nê, ăn kem. Họ đi bên nhau đẹp đôi dù chưa thành đôi, ngay cả chưa một lời yêu.

Ngồi bên Thái nghe chàng hát “Một chuyến bay đêm” Hảo ước ao được bay cùng anh chuyến bay này. Nghe Thái hát “Tuyết Trắng” Hảo lại ước ao được làm người yêu của anh, tặng anh chiếc khăn ấm chính em đan. Hảo hy vọng và chờ đợi, chắc Thái đang tìm hiểu nàng và một ngày nào đó chàng sẽ tỏ tình. Có hai con người trong Thái, một nghệ sĩ và một chiến sĩ. Hảo yêu quý cả hai.

Gần 2 năm trời dù Thái vẫn thỉnh thoảng gặp gỡ, ngọt ngào chiều chuộng nhưng chàng chẳng tiến xa hơn. Đôi lúc Hảo giận hờn Thái quá vô tình nàng chỉ muốn đi lấy chồng cho hả dạ. Đúng lúc này thì mẹ nàng thông báo:

- Dì Minh, bạn của mẹ muốn làm mai một chàng trai ở Xóm Mới cho con. Anh Đạo làm việc ngay tại Sài Gòn, đạo công giáo như nhà mình, gia cảnh khá giả…hơn nhà minh. Nhà mình chỉ có 2 tầng lầu, nhà cậu ta 5 tầng lầu, to cao nhất khu phố. Mẹ đồng ý.

Hảo dãy nãy:

- Ai giới thiệu đám nào mẹ cũng đồng ý trước cả con. Nhưng…

Mẹ nàng ngắt lời:

- Con đừng có nói là đang tìm hiểu anh chàng Thái không quân của con nhé, mấy lần nó đến nhà mình, tướng tá đẹp trai hào hoa lại ăn nói hoạt bát ngọt ngào quá làm mẹ e ngại và không mấy cảm tình.

Hảo bắt bẻ mẹ:

- Người ta có bao nhiêu ưu điểm mà mẹ không cảm tình? Mẹ muốn con lấy chồng xấu hả..

Mẹ nàng bắt bẻ lại:

- Con biết gì về gia cảnh thằng Thái? Nhà cửa thế nào, cha mẹ thế nào?..

- Đại khái là anh ấy chưa mồ côi cha mẹ, có 2 đứa em, nhà anh ấy ở cầu chữ Y.

Hảo chỉ nghe loáng thoáng qua bạn bè Thái hoặc đôi lúc Thái nhắc đến chứ chưa bao giờ Thái đưa nàng về nhà và gặp gỡ những người thân của Thái cả.

Cuối cùng Hảo chịu thua mẹ, nàng sẽ chờ đợi Thái đến bao giờ? anh ngọt ngào đấy, anh chăm sóc đấy, anh hẹn đi chơi đấy nhưng chưa phải là tình yêu. Thái của nàng chỉ là hình bóng như giấc mộng trong khi anh Đạo Xóm Mới là có thật, đẹp trai con nhà giàu và đang muốn quen nàng để tiến tới hôn nhân..

Dì Minh đưa anh Đạo đến ra mắt gia đình Hảo cho đôi trẻ gặp mặt, không là lính không quân mà Đạo cũng đẹp trai cao ráo không thua gì Thái. Cha mẹ Hảo ưng ý ngay, Hảo cũng đồng ý làm quen, cha mẹ Hảo tạo cơ hội cho đôi trẻ gặp gỡ trò chuyện riêng khi thì ngay tại nhà khi thì cùng đi chơi phố. Đạo nhanh chóng yêu thích Hảo, cuối tuần nào Đạo cũng đến nhà Hảo ở chơi mãi chẳng muốn về và thường được mẹ Hảo mời ở lại ăn cơm, thân mật như con cái trong nhà. Vài tháng sau cha mẹ Đạo làm một đám dạm ngõ linh đình cho con trai, dự tính cuối năm ấy sẽ làm đám hỏi và đám cưới.

Cha mẹ Hảo sung sướng nở mày nở mặt với mọi người vì con gái sắp gả vào một nơi tử tế giàu sang. Còn Hảo nửa vui nửa buồn, nàng không yêu Đạo nhưng nàng cũng không ghét Đạo, giá mà không có hình bóng Thái thì Hảo sẽ vui trọn vẹn với cuộc hôn nhân này.

Bẳng đi mấy tháng bặt tin, một buổi chiều thứ bảy Thái đến tìm Hảo, chàng đợi Hảo trước cửa ngân hàng khi giờ tan làm để hẹn nàng chiều mai Chủ Nhật cùng nhau đi ăn và nghe nhạc như thường lệ mỗi lần chàng về phép. Hảo đã vừa buồn giận vừa kiêu hãnh báo tin:

- Em không thể đi chơi cùng anh nữa, em sắp lấy chồng rồi, em đã làm đám dạm ngõ…

Chàng khẽ thở dài:

- Sao em vội thế, để anh chiều nay qua phố một mình.

Chàng từ biệt quay đi để Hảo ngẩn ngơ trông theo. Chiều hôm ấy về nhà Hảo đã buồn, đã day dứt vì câu nói lửng lơ trách móc của Thái. Nàng nằm vùi trong phòng lòng dạ ngổn ngang, Hình như Thái cũng yêu nàng, người ta có yêu mới trách móc thế ?. Đúng lúc ấy tiếng hát của Khánh Ly trong radio vọng ra một bài hát của Vũ Thành An, đến câu: “Này em hỡi con đường em đi đó, con đường em theo đó, sẽ đưa em sang đâu? Mưa bên chồng có làm em khóc…” Câu “Mưa bên chồng có làm em khóc..” đã làm nàng bật khóc nức nở, nàng tủi thân hình dung một chiều mưa ủ ê ở Xóm Mới mà thương nhớ cơn mưa đẹp như thơ tận bên cầu chữ Y. Thì ra người nàng yêu chỉ là Thái, nàng không thể quên Thái.

Hôm sau Hảo đã liều lĩnh quyết định, hẹn gặp Đạo, hủy đính ước “dạm ngõ” Nàng xin lỗi Đạo và gởi lời xin lỗi cả gia đình Đạo. Nàng không thể lấy Đạo vì không yêu anh.

Hảo đã tạt một gáo nước lạnh vào mặt Đạo và gia đình Đạo làm họ bẽ bàng tức giận, dì Minh người mai mối và cha mẹ Hảo cũng mất mặt không kém.

Làm người khác tổn thương Hảo cũng thấy lòng mình thương tổn, đau như muối xát. Hảo như sống trong địa ngục, bị cha mẹ mắng chửi, đay nghiến suốt một thời gian dài. Mẹ nàng tinh ý hiểu ra vì Hảo yêu Thái, bà tức giận cấm chỉ Thái không được bước chân vào nhà này.

Nhưng bà khỏi cấm. Thái có đến nữa đâu dù Hảo đã có nhiều cách báo tin cho chàng hay nàng đã “từ hôn” và vẫn là cô gái chưa có người yêu. Rồi một thời gian sau đến lượt Hảo bẽ bàng đớn đau, Hảo nghe tin Thái đã cưới vợ. Chàng đã có người yêu từ lâu hay mới có sau này khi nghe tin Hảo sắp lấy chồng? Hảo oán trách Thái sao không ngỏ lời với nàng? Rồi Hảo ân hận chỉ vì Thái nàng đã từ bỏ Đạo và làm cho nhiều người khổ lây.

Không lấy được Thái, không lấy Đạo, vài năm sau Hảo cũng đi lấy chồng, tìm an phận bên chồng con nàng vẫn mang trong lòng món nợ tình với Đạo, mong muốn có cơ hội gặp lại anh để nói lời xin lỗi. Và Thái nữa, chàng không quân đẹp trai hát hay hay hát cũng nợ nàng một lời xin lỗi vì đã vô tình quá đổi để cho nàng hi vọng chờ mong một mối tình vô vọng.

Không ngờ sau một thời gian dài dì Minh bặt tăm giận dỗi mẹ con Hảo, bỗng một hôm dì xuất hiện, Mẹ Hảo lo lắng dì Minh sẽ nhắc lại sẽ hờn trách chuyện cũ , mà dì Minh nhắc lại chuyện cũ thật nhưng vui mừng kể rằng cha mẹ Đạo…rất cám ơn cuộc từ hôn của Hảo năm đó, nhờ thế con trai họ lấy vợ một nơi vừa ý hơn, tương xứng hơn. Gia đình vợ của Đạo giàu có với nghề làm giò chả xóm Ông Tạ, vợ Đạo xinh đẹp lại buôn bán giỏi giang họ hiện có 2 con gia đình hạnh phúc.

Nghe tin này Hảo thở phào nhẹ nhõm coi như giữa nàng và Đạo chẳng nợ gì nhau. Chỉ còn Thái nợ nàng, yêu hay không sao không nói một lời.

…………….

Hảo đã đến Mỹ mấy chục năm qua và Hảo cũng biết tin Thái đã mang cả gia đình sang Mỹ từ 1975. Hảo đôi lúc nghĩ đến Thái vẫn còn chút hờn giận chưa xóa nhòa trong ký ức, vẫn còn chút ấm ức con người vô tình ấy đã làm tổn thương nàng và nợ nàng một lời xin lỗi.

Hôm nay vợ chồng Hảo với tư cách thân hữu được mời tham dự một đại hội không quân ở nam California. Đây là đại hội lớn các không quân ở mọi nơi về họp mặt. Dù sao Hảo cũng một thời yêu người lính không quân, yêu cả binh chủng không quân của chàng nên nàng rất vui khi được tham dự và trong thâm tâm hy vọng biết đâu sẽ gặp lại Thái, chỉ để xem người xưa của lòng nàng giờ ra sao cho thỏa chí tò mò và cho bõ ghét nếu anh ta bây giờ là một ông già đầu hói nhẵn bóng, bụng phệ , gương mặt cau có nhăn nhó khó ưa. “Thái không quân” mà “xuống cấp” như thế thì nàng sẽ hả hê xóa tội ngày xưa cho anh ta ngay.

Hảo đang ngồi ăn và nghe chồng chuyện trò với một ông cùng bàn thì bỗng chú ý khi nghe MC giới thiệu một tiếng hát không quân nồng ấm ngọt ngào của Nguyễn văn Thái. Cái tên bình thường giản dị đi đâu cũng gặp, nhưng cái tên đi kèm với lời khen hát hay hát ngọt của chàng không quân hào hoa thì không dễ gì gặp.

Hảo giật mình tim thót lại không dám nhìn lên sân khấu, sợ mình nghe lầm sẽ thất vọng, vờ mải mê hóng tiếp chuyện chồng với ông cùng bàn nhưng tai vẫn lắng nghe. Thái đang nói gì đó trước khi cất tiếng hát. Đúng là kiểu nói, giọng nói của Thái ngày xưa, giọng nói mà Hảo từng nghe chàng rót mật vào tim.

Ông cùng bàn nhìn lên sân khấu và chuyển đề tài:

- Anh chàng “Thái không quân” đẹp trai hát hay này ngày xưa đã đốn bao trái tim người đẹp, người yêu chàng và người chàng yêu đếm không xuể. Thái lấy vợ là người đẹp tiếp viên hàng không Việt Nam thế mà tình vẫn chưa yên, vẫn hào hoa bay bướm ban phát săn đón, ngọt ngào cho những phụ nữ khác, vợ ghen, vợ khổ tâm vì chồng, chịu không nổi phải ly dị, cứ thế mà cho đến nay Thái 3 đời vợ.

Ông cùng bàn chắc là bạn thân của Thái nên ông biết rành rẽ về Thái như thế.

Hảo quay nhìn lên sân khấu và lặng người trong phút giây, đúng là Nguyễn Văn Thái của nàng dù chàng đã già theo tuổi – dĩ nhiên- nhưng chàng không thay đổi tàn nhẫn bởi thời gian như nàng vừa tưởng tượng. Sao ông trời lại chiều chuộng người đàn ông “hư” này đến thế. Chàng hanh hao dáng gầy của tuổi, phong trần mái tóc bạc hoa râm, nhưng vẫn điệu đàng đeo kính mát hàng hiệu màu trà nâu và miệng vẫn là nụ cười thân ái chẳng ai nỡ chối từ. Nếu bà vợ thứ ba hiện nay không khéo giữ thì chàng sẽ dư sức tiếp tục đến bà vợ thứ tư nữa đấy.

Hảo định mở túi xách lấy ra chiếc kính mát đeo lên vì ngại Thái sẽ nhìn xuống nhận ra nàng vì bàn nàng khá gần sân khấu. Nhưng có lẽ nàng quá lo xa, làm sao mà Thái nhận ra người phụ nữ béo mập lại mang đầu tóc giả kiểu ngắn bồng bềnh này để che đi mái tóc rụng lưa thưa là em Hảo ngân hàng của chàng ngày xưa với dáng thon thả, với mái tóc dài lãng mạn buông lơi bay bay trong gió đi bên chàng trên hè phố Sài Gòn những buổi chiều Chủ Nhật đông vui .

Trời xui đất khiến sao Thái lại hát “Bài không tên cuối cùng trở lại” của Vũ Thành An “ Này em hỡi con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng đấy em ơi. Nếu chúng mình có thành đôi lứa, chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau?”

Hảo không ngờ bài hát “Bài không tên cuối cùng" xưa và nay của Vũ Thành An lại đúng y chang với cuộc đời nàng, cứ như là sao chép từ cuộc đời nàng.

Hảo bỗng thấy nhẹ lòng, thấy mình may mắn ngày ấy đã không được Thái yêu và cưới nàng làm vợ, thì nàng đã là người vợ đau khổ, người vợ cũ thứ nhất trong số 3 đời vợ của chàng rồi.

Nàng không thèm trách hay giận hờn Thái nữa, coi như Thái chẳng nợ gì nàng và nhất là không bao giờ nàng đủ can đảm xuất hiện trước mặt Thái để “hỏi tội” chàng với dung nhan xế chiều “bề thế“ của nàng hiện nay. Nàng không muốn mất đi hình ảnh Hảo xinh đẹp trong danh sách những người đẹp ngày xưa trong ký ức chàng.

Hảo thề trong lòng từ giờ trở đi không bao giờ đi dự họp mặt của Không Quân nữa.
Hảo, với Đạo với Thái chỉ đi qua đời nhau, không duyên phận với nhau và chẳng ai nợ gì nhau.

Nguyễn Thị Thanh Dương
(April. 01- 2025)

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2025

Giọt Nắng Chiều - Thơ: Ý Nhi - Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Vân Khánh


Thơ: Ý Nhì
Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Vân Khánh

Bên Tách Trà Khuya



tặng TT Tín, M Điền.

Một tách trà thơm những sớm chiều
Quanh vườn chim hót quyện hương yêu.
Gió lay bóng ngả bờ nhân ảnh,
Thanh thoát hồi chuông nhịp mõ đều.

Đêm ngắm vầng trăng chênh chếch bóng
Giữa miền áo luỵ mộng hoang tiêu.
Đâu hay nhịp gõ thời gian lặng,
Chợt ngắm về ta được ít nhiều.

Tâm sự cùng nhau bên quán trọ
Thời gian chầm chậm bể dâu tan.
Ngược xuôi giữa bến đời vô tận,
Còn mất hay đâu mộng võ vàng.

Ta rót mời ta câu đối ẩm
Trải lòng năm tháng bể hoang sầu.
Để nghe và hiểu đời thêm nữa,
Năng lượng tình yêu thêm nhiệm mầu.

Khuya nay bên tách trà hương cũ
Giữa mảnh vườn con, một mảnh đời.
Tiếng chim xa vọng nghe thanh thoát,
Chạnh lòng viễn xứ nhớ xa xôi.!

Mặc Phương Tử


Trùng Hợp?



Vừa chuẩn bị một ngày
Khởi đầu bài thơ mới
Cùng lúc tiếng điện thoại
Báo rằng thức dậy thôi

Đời bao nhiêu trùng hợp
Lạ như ta ra đời
Tại sao lại là ta?
Nghiệp và duyên kết nối

Trong mênh mang bầu trời
Một con chim xa lạ
Một hạt nhỏ bị rơi
Một nơi không chọn lọc

Một cây non mới mọc
Một nghiệp duyên ra đời
Bao nhiêu nghiệp và duyên
Bao nhiêu chuyện lạ lùng

Tưởng như trong huyền thoại
Tưởng như một giấc mơ

Dương Vũ

Chọn Bạn Mà Chơi


Chọn bạn mà chơi! Ông bà ta vẫn luôn khuyên bảo con cháu như vậy. Nghĩa là chúng ta không nên tùy tiện chọn người để hợp tác hoặc kết giao. Biết suy nghĩ kỹ trước khi quyết định, bạn sẽ tránh được những sai lầm không đáng có.

6 loại người không nên hợp tác

1. Không hợp tác với người có tham vọng riêng quá lớn, vì họ không nhìn thấy được sự hy sinh của người khác mà chỉ quan tâm đến kết quả và cái được mất của mình.

2. Không hợp tác với người không có tinh thần sứ mệnh, vì họ lấy việc kiếm tiền làm mục đích.

3. Không hợp tác với người không có tình người, vì làm việc cùng họ sẽ không vui vẻ.

4. Không hợp tác với người tiêu cực, vì họ sẽ làm tiêu hao năng lượng tích cực của bạn.

5. Không hợp tác với người không có nguyên tắc sống, vì họ cho rằng kiếm được lợi ích cho mình chính là nguyên tắc sống.

6. Không hợp tác với người không có lòng biết ơn, vì người vong ơn thì chắc chắn sẽ phụ nghĩa.

7 loại người nên không kết giao

1. Người không có hiếu với cha mẹ không nên kết giao.

2. Con người quá khắt khe không nên kết giao: Nói chuyện không khiêm tốn, nói năng tùy tiện không suy nghĩ, không phải quân tử, làm việc không thể thấu hiểu cho người khác. Người này luôn luôn làm tổn thương người khác, đâu thể làm bạn?

3. Người tính toán chi li không thể kết giao.
Người mà chuyện gì cũng tính toán chi li, lúc sống sợ bản thân mình bị thiệt thòi, người luôn dành giật cơ hội, toan tính hẹp hòi, hầu như phải chiếm được lợi ích từ người khác mới cảm thấy vui lòng… đâu thể kết giao được?

4. Người không biết kính trọng người khác thì không nên kết giao.
Tục ngữ nói: Có qua mà không có lại là vô lễ. Chuyện gì cũng phải có qua có lại, bạn kính tôi một thước, tôi kính bạn một trượng. Dù bạn mang ơn nhỏ như giọt nước cũng phải báo đáp người bằng dòng suối to lớn. Người chỉ biết nhận lấy mà không biết cho đi, cũng không nên kết giao.

5. Người giỏi a dua tâng bốc thì không nên kết giao.
Người này luôn luôn chạy theo lợi thế, ham lợi quên nghĩa, ích kỷ chỉ biết đến mình, là nhân vật vô cùng nguy hiểm trong đời người. Tuyệt đối không thể mất cảnh giác với loại người này, bởi kết giao với họ đâu biết là phúc hay họa?

6. Không có nguyên tắc đối với quyền quý thì không thể kết giao.
Làm người phải có tôn nghiêm và nhân cách của chính mình. Quan lớn hay bình dân, đại gia hay người nghèo đều là cơ thể bằng da bằng thịt như nhau. Người này không thể nể sợ khúm núm dưới chân người khác, cũng không được khinh miệt người khác bắt họ phải khom lưng quỳ gối trước mình. Người có khoảng cách quá lớn thì không cần phải kết giao.

7. Người không có lòng thương xót thì không nên kết giao.
Làm bạn với kiểu người không có lòng thương xót hoặc là người có tâm địa độc ác hoặc là người ích kỷ vô cùng khác gì làm bạn với sói, tuyệt đối không nên kết giao.

4 loại người nên kết giao thân thiết

1. Kết giao với một người biết trân trọng bạn, họ sẽ an ủi và giúp đỡ bạn trong lúc bạn khó khăn gục ngã.

2. Kết giao với một người có năng lượng tích cực, họ sẽ ở bên cạnh khích lệ bạn khi tâm trạng bạn tồi tệ nhất.

3. Kết giao với một người dẫn dắt bạn, họ sẽ bằng lòng làm đá lót chân cho bạn, đưa bạn vượt qua vũng lầy và màn sương mê ảo.

4. Kết giao với một người chịu phê bình bạn, luôn luôn nhắc nhở bạn, giám sát bạn để bạn luôn phát hiện ra sự thiếu sót của mình.

Yên Đỗ sưu tầm

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2025

Bơ Vơ - Nguyễn Ánh 9 - Phạm Cao Tùng


Sáng Tác: Nguyễn Ánh 9
Trình bày: Phạm Cao Tùng
Thực Hiện: Phạm Cao Tùng

Ta Đi Nhẹ Nhàng

Đêm Thu ngồi ngắm lá rơi
Ngắm Trăng mới mọc ngắm hoa rời cành
Trăng lên rồi Trăng sẽ tàn
Giàu nghèo rồi cũng đến ngày tàn hơi
Ngày nào còn sống trên đời
Hãy lo tu học - Ham chơi - ích gì
Mai đây đến lúc ra đi
Tâm hồn thanh thản - Ta đi nhẹ nhàng

Hoàng Long

Gương Mặt Thi Nhân


Tôi thấy vết nhăn hằn trên gương mặt
Từ vết nứt mọc ra một câu thơ
Ý thơ sâu thẳm từ trong ký ức
Hiện hóa thân tôi như một giấc mơ.

Lần theo đường chỉ hằn sâu vết nứt
Tôi nhặt ra hạt bụi nẩy mầm thơ
Từ đó thơ tôi mang theo hoài niệm
Thân phận con người trần tục bơ phờ.

Tôi lại thấy vết nám trên da thịt
Vết nám lan nhanh màu sắc tím bầm
Nhưng nơi ấy có vầng thơ trải rộng
Trên mình thi nhân tư tưởng nẩy mầm.

Tôi mặc kệ những vết nhăn bầm tím
Dấu vết thời gian nhân cách thi nhân
Mỗi ngày câu thơ từ trong trí tuệ
Trên mình thi sĩ nở đóa phù vân.

Tế Luân

“The world is broken, and a crack is left in the poet's body.” Heinrich Hein (1797-1856)
Thế giới bị phá vỡ, vết nứt để lại trên cơ thể nhà thơ.

Chiếc Ghế Cũ Và Người Thợ Hàn


Năm ngoái, trong một lần lướt Facebook và dạo trên chợ trời, (Facebook Marketplace), tôi tình cờ thấy một bộ bàn ghế bằng sắt. Dù đã cũ kỹ, rỉ sét, nhưng kiểu dáng cổ điển với những đường nét uốn cong mềm mại khiến tôi bồi hồi nhớ lại những buổi chiều thơ ấu ngồi bên hiên nhà, sau một ngày dài phụ việc ở nhà ngoại. Chủ món đồ rao bán với giá rất rẻ, nhưng kèm điều kiện: người mua phải mang đi hết, kể cả hai chiếc ghế gãy, không còn sử dụng được, một chiếc mất khung, chiếc kia thì gãy chân, trông chẳng còn mấy giá trị.


Tôi quyết định mua cả bộ. Nghĩ bụng: “Cứ đem về, sửa được thì lời, không thì cũng chẳng thiệt bao nhiêu.”
Sau vài ngày kỳ cọ, rửa sạch, sơn sửa lại, tôi đăng bán. Bộ bàn ghế được người ta mua ngay, và tôi lời được vài trăm đô. Nhưng hai chiếc ghế gãy thì vẫn nằm đó – một góc sân, một góc suy nghĩ.
Lúc đầu, tôi định đem đôi ghế hỏng đi bán sắt vụn. Nhưng mỗi lần bước ra sân, nhìn thấy chiếc ghế cũ đứng lặng lẽ một mình, tôi lại chùn bước. Có điều gì đó trong dáng vẻ xiêu vẹo ấy khiến tôi không nỡ rời xa. Nó như có một linh hồn – bị quên lãng, nhưng vẫn âm thầm chờ đợi.

Tôi giữ lại chiếc còn đỡ hơn, dù nó đã mất một đoạn chân. Nhưng khi đứng riêng lẻ, nó trông thật lạc lõng. Như một người bạn cũ giữa đám đông xa lạ, chiếc ghế ấy dường như cần một người đồng hành – có lẽ chính là chiếc còn lại, dù hư hỏng nặng hơn.
Thế là tôi quyết định sửa lại cả hai. Tôi cưa thanh sắt từ cái giá treo chậu hoa thành hai đoạn để làm khung, rồi tính tìm thợ hàn để gắn lại thành đôi ghế hoàn chỉnh. Tôi gọi vài xưởng hàn quanh vùng để hỏi giá. Nhưng chỉ sau vài cuộc điện thoại, tôi bắt đầu nản. Người ta tính công theo giờ, mà tối thiểu cũng phải một giờ. Giá công thợ hàn ở Virginia, nơi tôi sống, dao động từ 80 đến 120 đô một giờ. Mức giá quá cao, nhất là khi so với những chiếc ghế cũ đang được rao bán đầy rẫy trên Facebook Marketplace.
Tôi nghĩ: “Thôi, bỏ luôn vậy.” Nhưng trong lòng vẫn còn day dứt, như thể vừa từ chối một điều gì đó đáng được trao cơ hội.
Rồi một hôm, như một cái duyên tình cờ, tôi đọc được mẫu quảng cáo ngắn trên Facebook Marketplace: “Nhận hàn đồ hư hỏng, giá phải chăng. Liên lạc Gustavo Cotta.”
Tôi nhắn tin thử. Vài giờ sau, Gustavo trả lời. Anh bảo tôi chụp vài tấm ảnh những chỗ bị hư để anh xem trước. Sau một hồi trao đổi, anh nhắn lại: “Bốn mối hàn? Tôi lấy 25 đô thôi. Chiều thứ Sáu, sau 5:30, anh đem qua nhé. Khoảng 15 phút là xong.”
Chiều thứ Sáu, sau khi tan làm, tôi vội chất hai chiếc ghế hỏng lên xe và chạy đến địa chỉ Gustavo đã gửi. Gustavo Cotta là một thợ hàn trẻ gốc Brazil, sống trong một căn townhouse nhỏ nằm trong khu dân cư yên tĩnh, chỉ cách nhà tôi chừng tám phút lái xe. Tôi đến nơi khi trời vừa dịu nắng. Anh mở cửa với nụ cười hiền lành, giọng nói ấm áp và hơi chậm rãi – kiểu ngập ngừng quen thuộc của người không dùng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ. Sau vài câu xã giao, anh ra chỉ dẫn cho tôi đi vòng ra phía sau nhà – nơi anh đã biến khoảng sân nhỏ thành một xưởng hàn mini.
Góc sân ấy không lớn, nhưng gọn gàng. Một chiếc bàn kim loại kê sát tường, bên trên là đèn hàn, kẹp sắt, mặt nạ bảo hộ, găng tay, cùng đủ loại dụng cụ thường thấy của nghề hàn. Ở góc sân, các đoạn thép, tấm ván, mảnh sắt vụn được xếp ngay ngắn – như thể tất cả đang đợi được trao một đời sống mới.
Gustavo có dáng người chắc khỏe, làn da rám nắng của người thường xuyên làm việc ngoài trời. Trên tay chân anh là những hình xăm đậm nét – lạ lẫm nhưng không hề dữ dằn, có vẻ như mang những ý nghĩa riêng. Anh thấp hơn những người Brazil tôi từng gặp, nhưng đôi mắt thì sáng, đầy sinh khí và sự nhiệt thành khiến tôi có cảm giác tin tưởng ngay từ lần đầu gặp mặt. Anh không phải kiểu người làm việc cho xong – ngược lại, có cái gì đó rất tỉ mỉ, kiên nhẫn, và chân thành trong từng cử chỉ.
Khi tôi mở cửa xe, lấy hai chiếc ghế ra đặt xuống sân, Gustavo cúi xuống xem xét kỹ từng vết nứt, từng đoạn gãy. Anh không nói nhiều, chỉ gật gù, chép miệng, như thể đang tính toán phương án tốt nhất trong đầu. Rồi anh đi vào nhà, mang ra mặt nạ, găng tay và dụng cụ hàn. Không cần chỉ dẫn, không chần chừ, anh bắt tay vào việc – như một người nghệ nhân đang âm thầm phục hồi lại linh hồn cho món đồ cũ kỹ mà ai đó từng bỏ quên.
Trong lúc làm việc, Gustavo vừa hàn vừa trò chuyện:
“Ngày trước ở Brazil, tôi là thợ hàn chuyên nghiệp. Nhưng khi sang Mỹ, do tiếng Anh còn hạn chế, tôi khó tìm việc đúng nghề, nên chuyển sang làm xây dựng, lát gạch, sơn sửa nhà. Nhưng thỉnh thoảng, tôi vẫn nhận hàn mấy món đồ cũ – vừa giữ nghề, vừa thấy vui.”
Tôi đứng bên cạnh Gustavo, nhìn anh cạo sạch lớp sơn cũ, gắn dây hàn, rồi những tia lửa điện lách tách bắn ra giữa một buổi chiều yên bình. Có gì đó rất tĩnh lặng, rất con người trong công việc tưởng chừng đơn giản đó. Không chỉ là một người sửa ghế, mà như thể anh đang chữa lành điều gì đó – trong chiếc ghế, trong tôi, hay trong chính cuộc sống này?
Sau khoảng 20 phút, hai chiếc ghế – từng là “phế phẩm” – giờ đã tái hợp thành một cặp hoàn chỉnh. Dù các vết hàn còn lộ ra, nhưng đối với tôi, chúng đẹp theo một cách rất thật: không còn hoàn hảo, nhưng bền vững và kiên cường. Tôi trả Gustavo 25 đô như đã thỏa thuận, rồi tặng thêm anh 15 đô nữa – như một cách cảm ơn vì đã “cứu rỗi” hai chiếc ghế tưởng chừng chỉ còn giá trị sắt vụn.
Tôi chở ghế về, rửa sạch lại lần nữa, rồi phun thêm lớp sơn chống sét mới. Đặt chúng cạnh nhau dưới mái hiên trước nhà, nơi chiều xuống ánh nắng loang nhẹ. Cơn gió đầu xuân mơn man thổi qua, tôi ngồi xuống, tựa lưng, nhún lên nhún xuống và thả mình theo nhịp ghế.

Một lát sau, tôi pha ấm trà, gọi vợ ra cùng ngồi hóng gió. Khi ngồi xuống ghế, vợ tôi tròn mắt hỏi:
“Ủa, hai cái ghế mới này anh mua ở đâu mà ngồi thoải mái quá vậy?”
Tôi mỉm cười, nhìn nàng rồi đáp:
“Ghế cũ người ta cho, anh chỉ tốn vài chục đô sửa lại thôi đó.”
Nghe vợ khen, tôi thấy trong lòng không chỉ là sự hài lòng – mà là cảm giác biết ơn. Biết ơn vì đã không bỏ đi thứ gì chỉ vì vẻ ngoài cũ kỹ. Biết ơn vì đã tìm được một người thợ có tâm. Biết ơn vì từ những thứ tưởng chừng bỏ đi, lại có thể tạo nên một khoảnh khắc bình yên đến lạ lùng.

Y Thy Võ Phú
04282025

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2025

Cõi Nhớ - Nguyễn Văn Nam & Đông Dương - Hoàng Trâm Anh


Thơ: Đông Dương
Nhạc:Nguyễn Văn Nam
Trình Bày: Hoàng Trâm Anh
Thực Hiện: Minh Chau Nguyen

Ngọn Lửa Hồng Cho Mùa Đông


  (Thân tặng người thân)

Một làn hơi ấm giữa mùa Đông lạnh giá
Từ Vir-gi-nia xuống Geor-gi-a
Bao phủ đôi bàn tay Cội-mai-già
Món quà đến vào đúng ngày sinh nhật

Hơi ấm của tình anh em ấm áp
Dù cách xa nhưng lòng ở thật gần
Đủ xoa dịu cái lạnh thấu tim gan
Đủ chia xẻ nỗi nhớ thương đằm thắm

Làn sinh khí cũng từ làn hơi ấm
Sẽ thổi vào hai buồng phổi bệnh nhân
Sáng mai sẽ làm một CAT S-can
Thêm hy vọng được gia tăng sức khỏe

Rồi anh em tha hồ chuyện trò qua Net
Không sợ mệt vì sức khoẻ tốt hơn nhiều
Cho quên đi nỗi buồn lo tuổi xế chiều
Đó là tất cả ước mơ chân hạnh phúc.

Chinh Nguyen/HNT
Sinh Nhật 2025 

*Một đôi bao tay & một cuốn lịch bỏ túi VN


Đông Lạnh

Gió bấc hiu hiu
Cánh chim ủ rủ
Trơ trọi cây buồn
Còn đâu mùa thu

Trời rét căm căm
Mưa phùn lất phất
Mây xám phủ che
Bao trùm vạn vật

Dáng ai mờ mờ
Thổn thức rèm thưa
Bên song nhung nhớ
Hình ảnh năm xưa

Dạ rối bời bời
Đông về nào biết
Trống trải cô đơn
Sao người biền biệt

Hơi lạnh giăng giăng
Đêm trường một bóng
Giờ chỉ có mơ
Tìm người trong mộng.

Quên Đi

Một Đêm Văn Nghệ, Hai Câu Chuyện

 

Trại Sikiew, đêm văn nghệ mừng Năm Mới diễn ra trên Bãi Đá năm ấy có vài giọng ca gây bất ngờ.

Đầu tiên phải kể đến Vân Đại Bàng với bài hát Đường Xưa Lối Cũ hay thần sầu, bà con vỗ tay rần rần.

Nói về “đại bàng”, hổng biết các trại tỵ nạn khác có không, chớ trại tỵ nạn Thailand thuở ấy thì nhiều vô số kể. Có những “đại bàng” từ Việt Nam “tiền án nhiều hơn tiền mặt”, có những “đại bàng” lang bạt sang Cambodia, rồi theo dòng đời nổi trôi đến trại tỵ nạn tiếp tục hành “nghề”, có những “đại bàng” do thời cuộc đời tỵ nạn nhào nặn bắt buộc phải làm “đại bàng” để mưu sinh, để tồn tại.

Vì Thailand sát biên giới Cambodia và Cambodia sát biên giới Việt Nam nên có thể nói trại tỵ nạn Thailand có đủ các kiểu: đại gia, đại bàng và đại ca.

Tôi đã từng viết về đại bàng trại tỵ nạn, và chuyện đại gia trại tỵ nạn là mấy người trong đường dây nước hoa Thanh Hương Nguyễn Văn Mười Hai chạy qua trại trốn lệnh truy nã, hôm nay tôi xin kể chút xíu về đại ca cho đủ “bộ tam sên”.

Lúc mới nhập trại, bốn đứa chúng tôi bị nhóm dân miền tây khu kế bên gọi là "bốn cô Bắc Kỳ Hải Phòng" vì giọng nói của chúng tôi khác hẳn với kiểu nói "mình ên", "cá gô nằm trong gổ" của họ.
Bỗng một ngày kia, có một nhóm thanh niên, tướng tá khá ngầu, có người còn xăm trổ đầy mình, tìm đến nhà chúng tôi:

- Nghe nói mấy em là dân Bắc Kỳ nên các anh đến nhận "đồng hương đồng khói" đây.

- Úi chu choa, lộn rồi mấy anh ơi, tụi em là Bắc Kỳ 1954... 9 nút chớ hổng phải 2 nút 1975 như mấy anh đâu ạ!

Sau vài câu thăm hỏi quê quán ngoài ấy, cuối cùng họ bảo rằng "dù sao thì chúng ta vẫn là đồng hương Bắc Kỳ, mấy nút không quan trọng".

Từ đó, thỉnh thoảng trong trại, hễ có gặp nhau, hai bên vẫn gật đầu chào nhau, gọi nhau là "đồng hương đồng khói" rộn ràng.
Một thời gian sau, nhóm tôi chỉ có tôi đậu thanh lọc, nhóm "hai nút" cũng chỉ có một người đậu thanh lọc, đó là Nam Đại Ca hay còn gọi là Nam Nghệ Tĩnh. Nghe nói Nam trong nhóm bộ đội Việt Nam đóng quân bên Cambodia đào ngũ chạy qua trại tỵ nạn Thailand, chẳng biết thực hư ra sao, và cũng chẳng cần tìm hiểu tại sao người ta gọi là Nam Đại Ca.

Về trại Transit, chúng tôi ở chung lô, nhưng hầu như Nam Đại Ca ít khi có mặt ở nhà, tôi đi làm bên Cao Ủy từ sáng đến chiều về, luôn luôn thấy nhà Nam Đại Ca đóng cửa kín mít, chắc đại ca bận rộn đâu đó, có trời mới biết. Có lần hiếm hoi đụng mặt nhau, anh Nam bảo tôi:

- Nếu trong trại có ai gây sự với em thì cho anh biết, "đồng hương đồng khói" giúp đỡ nhau, anh sẽ "nói chuyện" phải trái với họ, em đừng lo.

Câu này quen quen vì anh Vân Đại Bàng cũng từng nói với chúng tôi như thế tại Sikiew, và tôi cũng đáp y chang:

- Úi anh ơi, em nhát hít, nào dám gây sự với ai. Họ mà lớn tiếng là em co giò chạy trước.

Thỉnh thoảng trời về khuya, Nam Đại Ca tụ tập vài thanh niên, dù là giờ giới nghiêm, chắc là “quen lớn” với Ban An Ninh trại, nên vẫn ngồi đàn guitar, hát nhạc mùi bolero, cả lô mọi người nằm im, nghe lại những bản nhạc vàng trước năm 1975 mà thả hồn về quá khứ mộng mơ. Riêng tôi có khi thao thức đến nửa đêm về sáng, vì những lời nhạc gợi nhớ quê hương, nhớ kỷ niệm bỏ lại quê nhà, chớ hổng phải thao thức vì ... đại ca đâu á. Sau đó, Nam Đại Ca đi định cư bên Úc, không biết bây giờ ở bên Úc, anh Nam còn là "đại ca" không nhỉ.

Trở lại chuyện đêm nhạc có anh chàng Vân Đại Bàng ca bài Đường Xưa Lối Cũ.Tôi thích bài này lắm, nhưng tôi đâu có “số má” mà được quen biết với “đại bàng” để hỏi chép giùm bài hát.

Một tuần sau, Vân Đại Bàng sau chầu uýnh lộn say xỉn, bị bắt giam. Tôi có đi theo bà boss Cao Ủy vào lập danh sách tù nhân. Tôi được dịp trò chuyện với Vân Đại Bàng, khen anh hát Đường Xưa Lối Cũ thật truyền cảm, và ngỏ ý muốn có bài hát ấy. Vân Đại Bàng vui vẻ, kêu tôi đưa giấy bút, vài ngày sau anh gửi bài hát ra cho tôi, và ngoài sự mong đợi, anh ấy viết lời bài hát trên nền một bức tranh, có “trăng treo trên đồi”, có “bóng tre che thôn nghèo” mơ màng, rất đẹp. Nét chữ lả lướt, tranh vẽ cũng lả lướt bằng nét bút chì, dưới góc phải ký tên Vân, đó là cả một tác phẩm chan chứa tâm hồn nghệ sĩ, tôi say sưa ngắm bài hát trên bức tranh, quên hẳn anh ấy là... “đại bàng”! (Tôi sẽ có một bài viết riêng về cuộc đời Vân Đại Bàng).

Cũng trong đêm văn nghệ ấy, còn có tiết mục “Sài Gòn Đẹp Lắm” do chú Sanh trình bày. Nếu Vân Đại Bàng hát Đường Xưa Lối Cũ ngọt ngào, thiết tha làm mọi người thổn thức, thì chú Sanh khuấy động cả trại với điệu chachacha vui nhộn, giọng hát đầy nội lực, khán giả reo hò nhún nhảy theo.

Chú Sanh là hàng xóm dưới lầu chung lô. Sáng nào chú cũng mặc quần shorts áo thun ra bãi đá đánh tennis. Buổi trưa chú hay ngồi trước nhà, đeo mắt kiếng đọc sách báo hoặc uống trà với vài người quen, nói chung là cuộc sống rất nề nếp.

Trước khi làm việc cho Cao Ủy, tôi từng là nhân viên bưu điện trong trại, chú Sanh là người thường xuyên lên lãnh thư bảo đảm có tiền thân nhân nước ngoài gửi đều đặn, thành ra tôi cũng gọi là có chút quen mặt với chú ấy.

Nói hổng phải khoe (mà thực sự cũng là ... khoe), hồi đó nhân viên bưu điện có giá lắm, vì mỗi ngày có hàng trăm người xếp hàng chờ lãnh thư, ai cũng biết mặt.

Mỗi chiều đi làm về, ngang qua các lô nhà, bà con chào hỏi thân thiện, luôn kèm theo câu hỏi:“ngày mai tui có thư không cô Loan?” (chả là mỗi cuối giờ trưa, bưu điện đón nhận cả một xe thư, chúng tôi đổ các bao bố đựng thư ra, phân loại, rồi ghi vào list, sáng hôm sau dán list cho người tỵ nạn đến dò thư ). Có vậy thôi, nhưng là đem niềm vui đến trước, dù chỉ một đêm, mà bà con ghi nhớ và…thương mến.

Chị Hảo nhóm chúng tôi nghe chú Sanh ca “Sài Gòn Đẹp Lắm” là mê tơi, muốn có bài hát đó để tập múa cho mấy em trong Thiếu Nhi nhân dịp Lễ và văn nghệ của Nhà Thờ, nên chạy đến chú Sanh nhờ chép giùm bài này, nhưng đã bị chú từ chối thẳng thừng, tôi nghe tin mà chưng hửng! Dẫu biết chú Sanh là người khó tính và sống khá xa cách với mọi người xung quanh, nhưng chỉ là chép lời một bài hát thôi mà, Vân “Đại Bàng” còn nhận lời chép cái rụp không nghĩ suy, có sao!

Bỗng nhiên, chị Hảo reo lên:

- Loan ơi, chỉ có em mới giúp chị chuyện này.

- Em giúp được ư?

Chị nhìn tôi, mắt long lanh:

- Chúng ta đành phải áp dụng “mỹ nhơn kế”, ý lộn, nói chính xác là “Loan bưu điện kế”, chắc chắn với cái uy bưu điện của em, chú Sanh sẽ nhận lời .

Hà và Quyên, hai nàng còn lại trong nhóm cùng vỗ tay, tán thành “tuyệt chiêu” của chị Hảo . Gì chớ, bốn đứa ăn ở chung với nhau nên họ rành lắm cái “uy” của tôi .

Còn nhớ thời kỳ cao điểm ở trại, hàng tuần đều có hàng trăm người tỵ nạn nhập trại, cả đường bộ lẫn đường biển, dân số gia tăng chóng mặt, nên trại phải mở thêm trại mới bên kia con đường, cách nhau hai lớp hàng rào kẽm gai. Lúc này, trại bắt đầu giải quyết cho những trường hợp người thân của hai bên qua lại thăm nhau, sáng đi chiều về, nhưng phải xin giấy phép từ văn phòng cộng đồng. Người ta nườm nượp xếp hàng dài, vì mỗi tuần chỉ có một chuyến vào ngày chủ nhật, mỗi chuyến cỡ chục người, có ban An Ninh dẫn đầu, đi qua cổng lính Thái, băng qua con lộ lớn, đi một đoạn vào con đường đất đỏ, là tới cổng trại mới, trình giấy tờ cho lính Thái, xong tha hồ rong chơi, đến 4 giờ chiều tập trung lại ngay cổng để đi về.

Tôi thuộc loại…ham vui, cũng muốn qua bển xem nó tròn méo ra sao, nhưng chưa có lý do chính đáng. May quá, lúc đó nghe tin một chị “ bà con” xa lắc xa lơ mới nhập trại, tôi bèn mạnh dạn đến gặp chú trưởng trại người Việt, chú hỏi:

- Cô đi thăm ai? Nên nhớ là bây giờ chỉ ưu tiên cho người thân, họ hàng thôi nhé.

- Dạ, con có…bà con xa.

- Xa như thế nào, nói nghe coi.

- Dạ, đại khái… rằng… thì …là, mẹ của chị ấy là …chị dâu của… anh rể con.

- Trời, hiểu chết liền! Cô nói rõ cho dễ hiểu chút đi.
- Hay nói cụ thể hơn nè chú: Bố của chị ấy là anh ruột của anh rể con, hay có thể nói gọn hơn là, chị ấy gọi chị ruột của con là Thím. Nghe có gần hơn hông chú?!

Chú trưởng trại lắc đầu nguây nguẩy:

- Thôi cô càng nói tôi càng nhức đầu, nhưng vì cô làm nhân viên bưu điện, tôi ưu tiên giải quyết lần này thôi nhe.

Tôi cám ơn chú rối rít và trong bụng cũng cám ơn cái job “nhân viên bưu điện” của mình biết bao. Có lần, một anh chàng lạ hoắc nói giọng rặt miền Tây nam bộ đến nhà tôi:

- Chiều mai mời chị đến nhà em ăn vịt nấu chao nha, con vợ em nó nấu ngon lắm, ăn quên sầu luôn.

- Mà có gì sao em mời chị?

- Dạ, ngày giỗ ba em đó chị, nhà em ở lô bên kia, em mời chị tại vì chị làm…bưu điện!

Cho nên, được sự tin tưởng của cả nhóm, tôi mạnh dạn hớn hở đến nhà chú Sanh vào buổi sáng chúa nhật đẹp trời, chú đang thong thả bên ấm trà và đọc sách.

Tôi giả lả:

- Chào chú Sanh, chú đọc sách gì vậy cà?

Chú tháo cặp mặt kiếng, nhận ra tôi, cũng mỉm cười:

- À, cuốn Hợp Lưu bạn bè bên Mỹ gửi.

Rồi chú nhìn tôi như biết được “ý đồ” của cuộc thăm viếng bất ngờ này:

- Cô Loan đến tìm tôi có chuyện gì không?

Đã thế thì tôi chẳng cần rào trước đón sau nữa:

- Chú ơi, hôm bữa chú ca bài “Sài Gòn đẹp lắm” hay quá chừng luôn, nhờ chú chép lại cho tụi con tập múa cho mấy em trong nhà thờ, nhé?

Sắc mặt chú thay đổi, có vẻ không vui, rồi nhìn ra ngoài sân:

- Tui ca đại chớ hổng nhớ lời!

- Ủa, bữa đó chú ca ngon lành suôn sẻ lắm mà?

- Thì nhớ gì ca nấy, chớ có bài bản gì đâu!

Tôi cố tiếp tục:

- Dạ, chú nhớ sao thì chép cho tụi con vậy cũng được.

Lần này thì chú nghiêm mặt, dứt khoát:

- Thôi cô đừng năn nỉ mất công, tôi đã nói với cô Hảo rồi, khi nào nhớ ra tui sẽ chép cho.

Tôi tiu nghỉu bước ra về, lần đầu tiên trong đời ... tỵ nạn, cái uy “Loan bưu điện” chẳng có kí lô nào. Về tới nhà, cả nhóm đang chờ, nhìn tôi với những cặp mắt hy vọng, miệng chum chím chuẩn bị những nụ cười rạng rỡ. Tôi đi thẳng ra sau nhà, vẫn kịp liếc chị Hảo một cái, rồi hờn mát (hờn ai, hổng biết!):

- Ối, còn thiếu gì bài hát hay để múa, cần gì “Sài Gòn Đẹp Lắm”? Chị lo kiếm bài khác mà tập cho mấy đứa nhỏ, chú ấy sẽ không bao giờ …nhớ ra đâu!

Kim Loan
Edmonton, Tháng Bảy 2023