Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2025

Quên - Thơ: Vũ Hoàng Chương - Thư Pháp: Quang Hà



Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
Đưa hồn say về tận cuối trời Quên
Thơ: Vũ Hoàng Chương
Thư Pháp: Quang Hà

Cuộc Tình

 

Cơn mưa rào làm hoa tàn trúc rũ
Trận bão đời làm chết cả con tim
Dù đau thương người cứ phải im lìm
Mắt đẫm lệ ôm nỗi sầu xa vắng!

Nhớ một thuở ngát hương tình hoa bướm
Chẳng rời nhau trong nắng sớm bình minh
Lúc chiều tà trong hoàng hôn nhuộm tím
Nụ cười hoa nở đẹp cõi ba sinh!

Ai cũng ngỡ mộng tình không héo úa
Tay trong tay bước trọn con đường tình
Khi bạc tóc vẫn gọi mình ơi đôi lứa
Không mơ màng say đắm chuyện phù vinh!

Đó chỉ mơ ước… đường đời xuôi ngược
Cảnh phồn hoa xa mã thật bon chen
Lòng đắm say không hề nhìn sau trước!
Cứ nhẹ lòng tin vội những lời khen!

Rồi mái ấm thuở nào đành tan vỡ
Cảnh phồn hoa làm chết cả cuộc tình
Người ở lại khổ đau đời ủ rũ
Cơn bão đời héo úa những ngày xanh!

Kẻ vong ân dứt tình vui duyên mới
Cứ tưởng rằng vàng ngọc mãi thăng hoa
Thật tình người chỉ là cây chùm gởi
Chẳng bao giờ trụ mãi chốn hoan ca!

Đành cúi mặt trở về thôn xóm cũ
Tìm người xưa không gặp được bao giờ
Nàng đã chết trong một chiều mưa bão
Mối tình sầu thao thức đến thiên thu…!

 Hàn Thiên Lương
16-7-2025



Lá Thu Bên Đường

 

(Sài gòn 1996)

Bao THU… về lại Sài gòn,
Thu nầy sao quá bồn chồn tái tê!
Như dòng nước lạ chảy về,
Sóng vờn chia rẽ, chẳng hề tâm-giao!

Người qua kẻ lại xôn xao,
Sao ta lạc lõng như vào rừng hoang!
Phố xá lộng lẫy vẫn còn,
Sao ta cảm thấy xốn xang tình đời!

Bước chân trĩu nặng sầu vơi,
Hồn đang ngập lặng khung trời buồn tênh!
Phải chăng vạn vật hớ hênh,
Cả hương lẫn sắc trở nên xa vời!

Vì đâu chia xẻ đôi nơi,
Vì đâu con Mẹ phải rời quê hương!
Bỏ bao tình cảm vấn vương,
Sài gòn xanh thẳm, Đại dương trải dài!

Thu ơi… biết tỏ cùng ai!
Trái tim tê-tái, lệ hoài nhớ thương!
Cho con chiếc lá bên đường,
Mang theo kỷ-niệm ở phương xa vời!!

Tô Đình Đài

Tình Yêu Tuổi Vàng

 

Có những điều chưa nói
Và một điều ngại nói
Về tình yêu tuổi vàng
Câu chuyện vui chàng, nàng:
Xưa ông chồng nhà binh
Nay như người tình si
Đưa vợ đi và đón
Khắp mọi nơi mọi giờ
Ai biết đâu mà ngờ
Đời thăng trầm trôi qua
Giờ không còn bôn ba
Thời gian là sức khỏe
Thời gian nuôi tinh thần
Gắn kết đôi tâm hồn
Nhà hai người mộng mơ
Với sân vườn nên thơ
Nàng trồng hoa màu sắc
Chàng thường xuyên tưới nước
Thu hút nai tìm về
Đàn bướm ong lượn lờ
Sóc rùa thỏ xinh ghê
Nắng chan hòa mênh mông
Hai bóng ngồi song song
Ôn bao nhiêu kỷ niệm
Chuyện quê hương một thời
Những buồn vui xứ người
Sáng vừa xong điểm tâm
Lời ngọt ngào không quên
Nàng nhắc chàng uống thuốc
Chàng khuyên nàng uống nước
Tay trong tay rời nhà
Tản bộ hơn một giờ
Con nghe mừng hả hê
Trưa diễn đàn lai rai
Tin tức cùng đổi trao
E-mail chưa đọc hết
Chàng ngủ say vài giờ
Tới cơm chiều rau dưa
Tối chàng hát kara-oke
Nàng ngẩn ngơ làm thơ
Lâu lâu nhìn không nói
Trong lòng thương đậm đà
Hạnh phúc vui tuổi già
Ngày từng ngày bên nhau
Lời sắt son không phai
Đường tương lai dần ngắn
Luôn cám ơn đất trời
Tuổi vàng ơi tuyệt vời

Dương Việt-Chỉnh 
9/2025


Những Chuyện Đau Lòng Về Chữ Hiếu

 
Cha và mẹ của học sinh 15 tuổi ở Michigan đã bị tòa tuyên án từ 10 tới 15 năm tù vì tội đã mua súng cho con trai và cậu này đã dùng nó để thảm sát bốn học sinh tại Oxford High School. Còn cậu bé bị án tù chung thân không ân xá. Công tố viên đã buộc tội cặp vợ chồng này đã không để súng tại một nơi có khóa an toàn và không có hành động ngăn cản khi có biểu hiện con mình sẽ có hành động điên cuồng.

Đúng là “Con dại cái mang”. Đẻ con ra cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa, mong cho nó khôn lớn nên người. Ngờ đâu mới 15 tuổi mà nó đã hung hăng, tiêm nhiễm bởi những phim ảnh bạo lực, xách súng vào trường giết luôn bốn bạn học chỉ vì một xích mích nhỏ nhặt. Không biết kiếp trước cặp vợ chồng này đã làm gì nên tội mà oan hồn đầu thai vào nhà để báo oán? Sau 15 năm tù cặp vợ chồng này còn gì? Có khi bỏ nhau chỉ vì tranh cãi tại ông hay tại bà quá nuông chiều con. Vị thẩm phán đã lau nước mắt nhiều lần khi tuyên đọc bản án này.

Rồi một thảm kịch rơi nước mắt khác là một cậu con trai ở Florida đang học lớp dự bị y khoa đã dùng dao đâm mẹ mình 70 nhát khiến bà là một giáo viên dạy Lớp Hai, gục chết với lý do rất giản dị “ Bà ấy làm tôi bực mình”.

Hiện nay có một hiện tượng đáng sợ là con cái giết cha mẹ ở Mỹ cũng như ở Việt Nam. Thông thường vợ chồng sinh con thì mừng rỡ biết bao. Thế nhưng theo giáo lý nhà Phật thì con cái chưa hẳn là hạnh phúc mà có khi là tai họa. Nó thành công chưa chắc mình được hưởng mà hễ nó làm bậy một cái thì cha mẹ gánh hết.

Thế giới ngày hôm nay tiến quá nhanh, trẻ con được luật pháp bảo vệ và nuông chiều. Trong khi đó thì trên hệ thống liên mạng toàn cầu, có quá nhiều hình ảnh tác động tới trẻ con, tốt thì ít mà xấu thì nhiều. Có thể nói trẻ con ngày nay rất tự ái, tự kiêu, nóng nảy, tinh khôn và hung dữ. Chính vì lo lắng về thảm họa này khiến nhiều cặp vợ chồng trẻ đã không chịu sinh con…vừa bận bịu, tốn kém và trách nhiệm rất nặng nề. Luật bảo vệ thiếu nhi đã khiến nhiều cha mẹ ngồi tù vì con cái.

Là phụ huynh thuộc tầng lớp cổ hủ và lạc hậu, chúng ta phải làm sao để cứu vãn? Nhà thờ, trường học, gia đình đã hoàn toàn bất lực. Thống kê mới nhất tại Tiểu Bang Missouri cho thấy đa số giáo chức muốn bỏ nghề vì lương thấp, áp lực và nhất là học sinh rất hỗn hào.

Học sinh ngày nay chẳng coi dạy học là chức năng cao quý mà chỉ là một nghề để kiếm sống mà thôi, chẳng có “tôn sư trọng đạo” gì hết. Cãi lại thầy/cô, túm tóc đánh cô giáo ngay trong lớp học là chuyện thường. Chúng ta cứ lên án Khổng Tử là lạc hậu thế mà dưới sự giáo dục của Nho gia, đất nước Việt Nam và Trung Hoa xưa đã sản sinh bao nhà tư tưởng, trạng nguyên, tiến sĩ, cử nhân đã đem tài ra giúp nước qua đạo Tu Thân-Tề Gia-Trị Quốc-Bình Thiên Hạ và biết bao người con hiếu thảo. Nho gia ngày xưa coi thầy còn trên cha mẹ mình. Tiến sĩ về làng phải xuống ngựa. Nhiều khi thầy chết học trò phải để tang. Chúng ta chê trách và khinh thường Đạo Khổng vậy thì ngày nay chúng ta xây dựng đạo gì để: Con cái hiếu thảo biết vâng lời cha mẹ, học trò biết kính trọng thầy cô và coi trường học là lò giáo dục và đào tạo con người? Dường như chẳng có đạo nào để thay thế Đạo Nho cả mà chỉ có đạo bạo lực và đạo nhố nhăng trên Internet mà thôi. Nước Mỹ có ngày Mother’s Day và Father’s Day nhưng không bao giờ dạy dỗ về lòng hiếu thảo, “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Tôi năm nay đã 83 tuổi rồi, nhưng nhớ lại thuở xưa, vẫn kính trọng và biết ơn tất cả thầy/cô đã dạy dỗ tôi từ bậc Tiểu Học tới Đại Học. Tôi có một kỷ niệm còn nhớ mãi trong đời. Năm 1974 tôi là phó tỉnh trưởng Tỉnh Kiến Hòa, về Sài Gòn công tác. Xe có tài xế lái, chẳng may bị một xe taxi quẹt vào tại Đường Hai Bà Trưng gần Chợ Tân Định. Tôi nhảy xuống coi sự thể thế nào. Nhìn vào xe tôi xúc động quá. Người đàn bà ngồi trong xe là Cô Ngữ dạy Anh Văn của chúng tôi. Ngày xưa tóc của cô còn xanh, ngày nay tóc của cô đã bạc trắng. Tôi xúc động nói, “Cô…cô…con là học trò của cô năm xưa đây!”. Cô Ngữ vô cùng ngạc nhiên vì làm sao cô có thể nhớ hết cả trăm học trò? Và cô cũng chẳng nói nên lời. Học trò nhớ thầy/cô chứ thầy/cô làm sao nhớ hết học trò. Trước sự ngạc nhiên của cô, tôi quay qua nói với người tài xế taxi, “ Đây là cô của tôi, thôi bỏ qua nghe chú.”. Rồi hai xe chạy đi như không có chuyện gì xảy ra. Đấy tình nghĩa thầy trò ngày xưa là như vậy.

Thế nhưng quan điểm này nếu nói với bọn trẻ ngày hôm nay, chúng nó sẽ nhún vai và tự hào về một nền văn minh và lối sống mới của chúng nó. Chúng ta biết làm sao? Thôi thì quay lại với lời dạy của Đức Phật, vạn hữu vốn vô thường. Thời mạt thế thì hiền thánh ẩn phục hoặc im hơi lặng tiếng, đạo lý suy đồi còn các tầng lớp của thời đại mới thì hãnh diện với thời trang, nhạc Pop, nhạc Rap, Football. Chúng biết rành rẽ những trò chơi quái đản trên facebook, twitter, tiktok và hễ trái ý một cái thì rút súng ra bắn chết liền dù đó là cha mẹ, anh em, thầy cô, bạn bè, bạn đồng sự…và chấp nhận án tù chung thân hay tử hình để thỏa mãn Cái Tôi vĩ đại.

Theo tôi nghĩ, để cứu vãn phần nào thảm kịch gia đình của thời đại chỉ còn cách đưa giáo lý Tứ Trọng Ân bao gồm “Ơn cha mẹ, ơn thầy cô, ơn đồng loại và ơn tổ quốc” của nhà Phật vào chương trình giáo dục từ bậc Tiểu Học. Nhưng làm thế nào để một quốc gia mà nền tảng tâm linh là Thiên Chúa Giáo có thể chấp nhận một giáo lý của Phật Giáo mà họ gọi là ngoại đạo. Và nhất là trong một xã hội mà tất cả các nhà trí thức lỗi lạc đều coi phát triển tự do cá nhân là nền tảng của sự phát triển con người. Tôi đã từng phục vụ cho một học khu ở California 19 năm trời. Thấy các bảng “I am unique” long trọng treo ở trên tường của các trường học tôi “ớn lạnh”. Nếu tôi là độc đáo, tôi là duy nhất thì cha mẹ, anh em, xóm làng , đất nước ở đâu? Cái Tôi phải chan hòa với mọi người chứ?

Thôi thì nghiệp lực của chúng sinh đang chùng chùng chuyển động như một dòng thác. Dù chúng ta có tâm thiện lành cũng không thể lay chuyển được nghiệp lực. Nghiệp này do chính chúng sinh - tức chúng ta tạo ra. Chính chúng ta phải giác ngộ và quyết tâm chuyển nghiệp. Cầu cứu, van vái thần linh, ngồi đó than vãn - tức là thấy chết mà không cứu, như đà điểu chui đầu vào cát và chỉ làm cho nghiệp trầm trọng thêm.

Thiện Quả Đào Văn Bình


Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2025

Thu - Thơ: Lê Minh Đức - Nhạc: Võ Tá Hân - Ca Sĩ: Diệu Hiền


Thơ: Lê Minh Đức
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Diệu Hiền

Đây Mùa Thu Tới - Xuân Diệu



Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng:
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá...
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ...
Đã nghe rét mướt luồn trong gió...
Đã vắng người sang những chuyến đò...

Mây vẫn từng không chim bay đi.
Khí trời u uất hận chia ly.
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.

Xuân Diệu



 

Tơ Hồng Luôn Buộc Được Nhau

 

Nhớ anh chung thủy, ngọt ngào
Không hề “trăng gió” lọt vào được tim.
Lăng nhăng “kiều nữ” đi tìm
Anh luôn tránh né, lặng im, lạnh lùng
Nhớ, thương! Anh vẫn người hùng
Trong tim em trụ tơ hồng buộc nhau.
Anh ơi! Nếu có kiếp sau
Thủy chung xin giữ! Mật vào tình ta!

Á Nghi, 
17.9.2025

Ngày Thu Phân Cali

 

Mây phủ âm u suốt cả ngày,
Không mưa chẳng nắng thật là hay.
Nhẹ nhàng thời tiết trông êm ả,
Bình lặng không gian rõ đẹp thay.
Gió chẳng rung cành, cây lặng đứng,
Sương mờ nhẹ phủ chẳng hề bay.
Bốn lăm năm quá bình yên sống,
Cảm tạ ơn Trời giúp đến nay.

Nhật Quang Phi Hồ 
(21Sep25)

Những Đêm Trăng Sáng - Từ Kế Tường

 
 
Ông Tám Đạo đã tới nhận việc lột dừa. Việc đầu tiên là tìm chỗ xóc cây dằm. Một người sáng mắt, nếu không quen việc xóc cây dằm để lột dừa cũng rất khó. Trước tiên là phải chọn vị trí thuận tiện, kế đến là chỗ đất thịt không cứng lắm nhưng cũng không được “ nhão” để cây dằm lún thật sâu, hơi nghiêng một góc 45o, và vừa tầm tay khi xóc trái dừa vào lột nhanh gọn, nhẹ nhàng. Thế nhưng ông Tám Đạo không thấy đường, vẫn xóc được cây dằm lột dừa đúng ý mà không cần ai giúp.

Ông Tám Đạo lột dừa rất nhanh, chỉ cần “ phập” trái dừa khô vào lưỡi dằm, nạy đúng hai lần là lấy nguyên được phần vỏ dừa, động tác rất nhịp nhàng, dứt khoát. An ngồi nhìn ông Tám Đạo lột dừa không chớp mắt, nó thầm phục người đàn ông khiếm thị này và cảm thấy áy náy cho công việc nặng nhọc mà ông đang làm, lẽ ra phải thuộc về một thanh niên khỏe mạnh, sáng mắt. Chị Chiêm và chị Én cũng đã tới, để đảm nhận việc đập dừa. Dì Tư Ảnh không lấy nước dừa, mà cho người đập lấy để “ thắn” nước màu rồi chia thành quả lại dì Tư Ảnh với tỉ lệ 7/3. Dì Tư Ảnh lấy 3, người đập dừa lấy 7. Nước màu dừa là một loại gia vị không thể thiếu trong việc kho cá từ thôn quê tới thành thị, cá kho không có nước màu thì không ngon đã đành, lại không đẹp mắt. Người ta có thể “ chế” nước màu chữa cháy bằng cách “ thắn” một muỗng đường cát hoặc một miếng đườn tán để trở thành nước màu. Nhưng loại nước màu đường này không thể so sánh với nước màu dừa.

Một mùa dừa của riêng nhà dì Tư Ảnh, chị Chiêm và chị Én “ thắn” mỗi người cũng được vài chục lít nước màu, bán cũng được một khoản tiền, nên đây là một nguồn lợi khác của cây dừa mà ít người biết. Hôm nay chỉ còn lại An, Tiếp, Mạnh làm việc ở khâu bưng dừa đã đập xong ra sân phơi, Phiến và Trang đảm nhận việc phơi dừa. Những trái dừa phơi ba nắng là có thể cạy được để trở thành sản phẩm vô bao mang lên tỉnh cân bán cho các vựa thu mua. Tới mùa giật dừa, nhà vườn nào cũng bân rộn nhưng rất vui, người ta có thể làm việc cả ngày rồi đến đêm theo yêu cầu của chủ vườn, nhất là những đêm trăng sáng.
Chị Én ngồi nhìn ông Tám Đạo lột dừa một lúc rồi lên tiến trêu chọc:
-Nhanh lên anh Tám ơi, người ta đang chờ đập dừa lấy nước mà anh lột chậm như rùa bò vậy?
Ông Tám Đạo nghiêng hai con mắt chỉ còn tròng trắng cười vô tư:
-Hai bà cứ đập thoải mái đi, sợ đập không kịp nữa, ở đó mà kêu chậm với mau?
-Anh lột nãy giờ có đếm được bao nhiêu trái không?
-Tôi không đếm nhưng biết được cả trăm trái rồi.
Chị Chiêm cười:
-Một trăm trái tui và con Én đập ba mươi giây là xong. Đêm nay có trăng, anh Tám ở lại lột dừa luôn cho tụi tui đập lấy nước kịp “ thắn” nước màu luôn nghen.
-Lột ngày rồi ở lại lột đêm nữa mệt lắm.
-Bà Tư Ảnh sẽ nấu cháo già bồi dưỡng, lo gì. Đêm trăng mà nghe anh vừa đàn vừa ca sáu câu “ Chuyện tình Lan và Điệp” chắc con Én…nó bỏ nhà theo anh luôn.
Chị Én dập thùm thụp lên vai chị Chiêm ngượng nghịu nói:
-Cái bà này…vô duyên. Có bà theo ảnh thì có.
-Thôi mày ơi, tao có chồng con rồi anh Tám đâu có chịu, mày còn con gái nheo nhẻo ảnh mới ô kê.

Ông Tám Đạo tánh tình hiền khô, hình như ông không biết giận ai bao giờ, nên trước những lời trêu ghẹo của chị Chiêm và chị Én ông Tám Đạo vẫn cười hồn nhiên, không giận mà cũng chẳng tỏ vẻ buồn phiền.
An lên tiếng:
-Đêm nay trăng sáng lắm chú Tám ơi, chú ở lại lột dừa rồi ca cho tụi con nghe đi. Tụi con mê chú ca sáu câu lắm.
-Mày là đứa nào?
-Con là thằng An.
Ông Tám Đạo cười:
-Tao nghe tiếng mày rồi, mày đã chỉ huy tụi nhóc truy bắt con sấu hoa cà sổng chuồng của ông Sáu Xê phải không?
Chị Chiêm nói:
-Nó đó chứ ai.
-Mày làm gì ở đây?
-Chờ bưng dừa đem phơi, rồi mai mốt cạy dừa luôn.
Chị Én bỗng nói:
-Anh Tám ơi, thằng An nó muốn làm đệ tử anh để học đàn, học ca đó, anh nhận đi. Thằng này có… “ chí khí” lắm đấy, nó rất xứng đáng để anh nhận làm đệ tử.
Ông Tám Đạo dừng tay hỏi:
-Mày muốn thiệt không An?
-Dạ thiệt.
-Mày suy nghĩ kỹ chưa?
-Dạ rồi.
-Xưa nay tao không nhận đệ tử, nhưng vì tao khoái mày là đứa có “ dũng khí” dám chơi con sấu hoa cà nên tao phá lệ. Mày về hỏi má mày đi, nếu má mày cho học thì tao nhận.
An sướng phồng mũi, nó không ngờ việc xin học đàn, học ca với ông Tám Đạo lại diễn ra nhanh chóng và dễ dàng như vậy, bởi An nghe nói ông Tám Đạo rất khó tính.
Chị Én vui vẻ nói:
-Vậy là mày ngon rồi nghe An, được ông Tám Đạo nhận làm đệ tử không phải dễ đâu. Mau bái sư phụ đi mày.
-Ừ, phải làm gà, làm vịt nấu cháo cúng thầy đi, không thì ổng đồi ý đó.
Ông Tám Đạo cười dòn:
-Mấy bà này bày chuyện hù dọa con nít. Tôi nhận là tôi nhận, chẳng cúng bái gì cả. Bao giờ mày học cứ tới nhà tao cho biết là coi như xong nghe An.
-Dạ, để con về hỏi má con đã.
-Được rồi, mày cứ xin phép má mày đi. Còn bây giờ tối nay tao ở lại lột dừa…ngoài giờ. Trăng lên tao sẽ ca cho tụi bây nghe.
Chị Chiêm gật gù:
-Vậy là ngon rồi, công mày lớn lắm nghen An?
-Tui có công gì?
-Tại ông Tám Đạo khoái mày nên mới chịu ở lại chứ tao và con Én nãy giờ nói gãy lưỡi mà ông co chịu nhận lời đâu?
An không biết có đúng như chị Chiêm nói không, nhưng nó cũng lấy làm hãnh diện vì được ông Tám Đạo chấp nhận cho học đàn và chịu làm sư phụ nó. Một chuyện mà không phải đứa trẻ con nào cũng làm được.
Ông Tám Đạo giục:
-Hai bà lo đập dừa đi, ở đó mà ngồi nhiều chuyện.

Đập dừa là một công đoạn tuy dễ nhưng mà khó. Nếu không biết đập, trái dừa không bể làm đôi mà bể làm ba, bốn miếng thì khó phơi và cũng rất khó cạy.Thành phẩm cơm dừa đã không đạt chuẩn mà nhà vườn khi thu miễng gáo cũng rất khó bán. Người đập dừa “ chuyên nghiệp” tay trái đỡ trái dừa, tay phải trở sóng dao đập một phát mạnh, trái dừa bể làm đôi, hai phần bằng nhau như cắt. Thế là đạt yêu cầu.
An đã thử đập nhiều lần, nhưng vẫn chưa “ chuyên nghiệp” bằng chị Én và chị Chiêm, hai bà này chỉ cần hai thao tác: tay trái cầm trái dừa, tay phải trở sóng dao đập “ bụp” một cái, trái dừa bể làm hai, kê vào thùng hứng nước rồi ném qua bên cho tụi An chất vào cần xé khiêng ra sân phơi là xong.

Phiến và Tranh đã quét dọn hai nền sân rộng làm chỗ để phơi dừa, An và Tiếp một khiêng một cần xé, Mạnh và Na một cần xé thi chạy nước rút từ chỗ đập dừa tới sân phơi. Phiến và Tranh cũng thi đua nước rút, xếp những mảnh dừa ngửa lên theo hàng lối đều tăm tắp ra sân để phơi dưới nắng. Đứng trên khoảng sân rộng, nheo nheo mắt nhìn ánh nắng mặt trời đang chiếu xuống gay gắt, thằng Na chép miệng nói:
-Nắng này, chỉ cần hai ngày là cạy dừa được.
-Cạy xong còn phải phơi hai nắng nữa chứ?- An nói.
-Tao nghĩ chỉ cần một nắng thôi.
-Tùy mày, nhưng dừa khô không đạt yêu cầu thì má mày chửi ráng mà nghe đấy.
Na cười khì:
-Đến giai đoạn này thì khỏe rồi.
An biết ý nghĩa tiếng “ khỏe” của thằng Na vừa nói, vừa khỏe vì công việc đã nhàn hạ, vừa khỏe vì…nó có thể ăn cắp một bao dừa cạy lén đem bán lấy tiền bỏ túi riêng mà má nó không biết.
Phiến đang phơi dừa, vụt ngửng lên nhìn an hỏi:
-Thế là An định học đàn với ông Tám Đạo thật à?
-Thật.
-Đàn kìm khó lắm đấy, chỉ có hai sợi dây mà sao đàn réo rắt thế?
-Phiến thích nghe đàn kìm không?
-Thích.
Tranh cười dòn:
-Phiến ơi, làm thân con gái chớ nghe đàn kìm.
-Sao vậy?
Người ta nói con gái mà nghe đàn kìm không tốt đâu.
-Không tốt là sao?
-Ai biết, Tranh chỉ nói vậy thôi.
Tiếp cười ranh mãnh:
-Tiếp biết.
-Là sao?
-Má Tiếp nói con gái mà nghe đàn kìm là…bỏ theo anh đánh đàn kìm.

Nói xong Tiếp bỏ chạy, Phiến và Tranh ngượng ngùng cúi xuống phơi dừa. An không biết thằng Tiếp phịa chuyện ra nói hay đúng là do má nó nói. An tủm tỉm cười nghĩ thầm, chắc là thằng Tiếp xạo chứ nếu đúng thì tại sao tới giờ này “ sư phụ” nó vẫn còn sống cu ki một mình? Sao không có cô gái nào theo?
***
Sư phụ của thằng An rất uy tín, nói là giữ lời. Buổi chiều hết giờ làm việc, sau khi ăn cơm ở nhà thằng Na xong, ông Tám Đạo về nhà, có lẽ để tắm rửa, thay quần áo. Đúng giờ 7 giờ tối như đã hẹn, sư phụ An quay trở lại. Khi nghe tiếng gậy khua trên lối đi vào nhà thằng Na, An biết là sư phụ nó tới nên vội chạy ra đón. An hơi bị bất ngờ vì sư phụ nó bây giờ rất “ phong độ” chứ không lùi xùi như lúc sáng nữa. Áo sơ mi trắng, quần Tây xanh đen, đôi dép Lào đỏ dưới hai bàn chân to bè, tóc chải gọn gàng và hình như có mùi dầu thơm. Sư phụ mang theo trên vai cây đàn kìm quen thuộc mà An thường thấy, cây đàn cũ, lên nước bóng ngời, trục đàn có cẩn xà cừ rất đẹp.

Chị Chiêm và chị Én có mặt từ rất sớm, hai bà này cũng diện quần áo đẹp như đi ăn đám cưới. Tiếp. Mạnh, Phiến, Tranh cũng có mặt. Mọi người đều háo hức chờ ông Tám Đạo tới. An nắm đầu gậy của sư phụ định dẫn qua bậc thềm tam cấp nhà thằng Na nhưng sư phụ nó khua gật nạt:
-Mày kéo đầu gậy tao làm gì thế?
-Để con dẫn sư phụ đi, sợ sư phụ vấp té.
-Khỏi, chưa bao giờ tao nhờ ai dẫn tao đi cả. Tao…thấy đường.

Bữa tiệc cháo gà được dọn lên bộ ván gõ, thằng Na mang lên một xị rượu và cái ly nhỏ. Ai cũng biết rằng để ông Tám Đạo lấy hứng, đàn hay, ca mùi thì cho ông uống một xị rượu. Ông Tám Đạo chỉ uống một xị thôi, có nài ép cũng không uống thêm và bữa tiệc nào cũng thế, khi ra về, ông Tám Đạo tay lần gậy, miệng ca sáu câu suốt dọc đường và khi đó người ta mới biết là ông say.
Ông Tám Đạo vừa ngồi xuống chỗ của mình đã khịt khịt mũi:
-Chà, có rượu ngon đây.
-Biết ý anh Tám nên làm sao thiếu chất…men cay đắng được- Chị Én tủm tỉm cười.
-Ừ, có vài ly ấm bụng nó mới hứng.
Dì Tư Ảnh mời:
-Thôi mời chú Tám ăn miếng cháo cho nóng.
-Hồi chiều tôi ăn cơm còn no, giờ ăn cho vui thôi, chủ yếu làm vài ly cho ấm bụng. Có ai uống với tôi cho vui không?
Chị Chiêm vỗ vai chị Én cười:
-Có con Én nó “ đối ẩm” với ông chứ ai, không lẽ bắt mấy đứa con nít uống rượu?
Chị Én giãy nẩy:
- Bà này…vô duyên, ai biết uống rượu hồi nào mà “ đối ẩm”?
- Mày làm bộ chứ …khùng lên mày uống thầy chạy luôn.
- Nhưng bữa nay tui…chưa khùng. Thôi ăn cháo đi bà ơi, nhiều chuyện thấy ghê luôn.
Ông Tám Đạo ngửng mặt hỏi:
-Mày đâu rồi An?
-Con ngồi kế sư phụ nè.
Chị Chiêm cười:
-Chà, chưa học ngày nào mà kêu sư phụ ngọt xớt vậy mà?
-Nhất tự vi sư bán tự vi sư mà chị.
-He he…thằng An bữa nay xổ nho nữa ta- chị Chiêm cười dòn.
Ông Tám Đạo giọng cao hứng:
-Mày rót rượu chưa An?
-Ủa, sư phụ…không thấy đường hả?
-Ừ, cái gì tao cũng tự làm được, nhưng chuyện rót rượu tao…thua.
An rót rượu vào ly cho sư phụ. Ông Tám Đạo uống một hơi, đặt cái ly xuống chép miệng nói:
-Chà, rượu ngon…xé mang tai.

An lại rót rượu vào ly cho ông Tám Đạo. Khi xị rượu đế đã vơi hết nửa thì trăng cũng đã lên sáng vằng vặc bên ngoài. Một tấm đệm lớn đã được chị Chiêm trải sẵn ngoài sân phơi. Chị Én pha một bình trà, Phiến và Tranh cầm theo mấy cái tách.
Chị Én vừa đặt bình trà xuống giữa tấm đệm, ngước mắt nhìn trăng nói:
-Chà, đêm nay trăng sáng quá ta.
-Trăng mười bốn rồi không sáng sao được?- Chị Chiêm nói.
-Đêm trăng mà nghe đàn ca tài tử thì hết ý.

Thằng Na mang ra một dĩa đường tán để mọi người ăn đường tán uống nước trà, đây là cái “ gu” uống trà của người nhà quê, không chỉ người lớn thích mà trẻ con như bọn An cũng khoái. Có lần anh Tân con chú Đồng về chơi, An cũng cho anh Tân uống trà với đường tán, mới đầu anh Tân không quen vì ở thành phố không ai uống trà kiểu này, hoặc là uống trà khơi khơi, không cần “ mồi”, nếu có “ mồi” thì phải là kẹo đậu phộng hay bánh ngọt, hoặc thứ gì đó chứ không ai uống trà với đường tán bao giờ. Nhưng khi anh Tân đã quen rồi thì mê luôn và khen “ tuyệt cú mèo”.

Mọi người đều kéo ra ngồi thành vòng tròn quanh tấm đệm, người lớn ngồi một bên, trẻ con ngồi một bên, sư phụ Tám Đạo ngồi giữa và đang vặn trục lên lại dây đàn. Thật kỳ lạ, nhiều lần An nhìn xoáy vào đôi mắt của sư phụ như muốn tìm ra đằng sau hai tròng mắt “ trắng dã” vô hồn ấy là cái gì nhưng An không thể biết được. Đó là một điều hoàn toàn bí ẩn mà chắc chỉ có…ông Tám Đạo biết thôi. An ngồi cạnh Tiếp, kế đến là Tranh, Phiến, Mạnh rồi tới thằng Na. Lần đầu tiên ngồi cạnh con gái mà không phải trong lớp học, thằng Tiếp có cảm giác rất lạ, nó vừa thích thú vừa…run.

Tiếp ghé vào tai An nói:
-Tóc con gái thơm thật mày ạ. Nhỏ Tranh chắc không gội đầu bằng xà bông. Nó gội bằng cái gì ấy.
-Con gái thường gội đầu bằng…dầu gội đầu chứ cái gì?- An tỏ vẻ thành thạo.
-Nhưng dầu gội đầu tên gì mà thơm quá vậy?
-À, chắc là “ đúp bô-rích”.
-Sao mày biết?
-Ừ, tao…nghe quảng cáo trên tivi.
-Nhỏ Phiến gội dầu gì?
An thụi vào bụng Tiếp:
-Mày vô duyên quá, làm sao tao biết được. Mày ngồi gần làm bộ quay qua hỏi chuyện nó rồi… ngửi tóc nó xem.
Tiếp nhe răng cười:
-Rủi hồi chiều vội quá nó không kịp gội đầu thì sao?
-Mày ngu quá, tóc con gái lúc nào cũng thơm, không gội đầu cũng vẫn thơm.
An tưởng nói chơi thôi, không ngờ thằng Tiếp làm thật, nó nghiêng người qua chỗ Tranh để hỏi chuyện nhỏ Phiến, mũi nó cố tình dí sát vào tóc Phiến rồi quay lại nói vào tai An:
-Tao biết nhỏ Phiến gội đầu bằng dầu gì rồi?
-Dầu gì?
-Đúp-bô-rích.
-Sao mày biết?
-Thì mày…vừa nói đó.

An mắc cười quá mà không dám cười. Trời ơi, cái thằng này thậm ngu, con gái thường gội đầu bằng dầu gội đầu thì đúng rồi, nhưng đâu phải đứa nào cũng gội “ Đúp –bô- rích”?

Nhưng sư phụ Tám Đạo đã lên xong dây đàn và đàn dạo trước khi ca, dưới chân sư phụ là cây “song lang” dùng để đánh nhịp, nói là “ đánh” chứ thật là đạp, mỗi dứt câu, xuống hò, xuống xề người giữ cây “song lang” đạp nhẹ bàn chân, cây “ song lang” sẽ kêu “ cốp” một tiếng rất thanh, rất giòn làm điểm nhấn cho cả giọng ca và tiếng đàn nghe rất hay.
Sư phụ Tám Đạo gõ mấy tiếng “song lang” cốp cốp cốp rồi hỏi:
-Giờ tôi ca bài gì đây?
-Chuyện tình Lan và điệp.
-Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà.
-Tình anh bán chiếu.
-Gánh nước đêm trăng.
-Tống tửu Đơn Hùng Tín.
Mọi người tranh nhau yêu cầu bài ca mà mình thích. Nhưng ông Tám Đạo thì chỉ có một, không thể đáp ứng hết tất cả yêu cầu của mọi người trong cùng một lúc được. Sư phụ cười rất hồn nhiên:
-Trời ơi từ từ…rồi cháo nó cũng nhừ. Tôi sẽ lần lượt đáp ứng hết mọi yêu cầu của mấy cô, mấy chị và mấy cháu. Đêm nay trăng sáng…ca tới sáng luôn. Giờ tôi chơi bản ruột trước nghe, một lớp “ Tây Thi” trước khi vô sáu câu. Đó lài bài “ Tống tửu Đơn Hùng Tín”
-Vỗ tay tụi bây- Chị Chiêm nhắc.
Tiếng vỗ tay lốp bốp, giọng sư phụ Tám Đạo cất lên:

“ Dạ thưa Đơn nhị ca chính em đây là Giảo…danh tánh họ Trình
Thủa nhỏ chuyên nghề bán muối lậu, ăn cướp bạc vua
Lớn lên em mới ra đầu Đường…”

Ông Tám Đạo thật kỳ lạ, càng về khuya, trăng càng sáng, ông càng ca thật hay, thật mùi. Khi ông Tám Đạo ca tới bài “ Gánh nước đêm trăng” thì An nhìn lên bầu trời đêm lấp lánh ánh sao và vầng trăng như càng thêm sáng. Giọng ông Tám Đạo càng ngọt ngào, nghe như tiếng thổn thức:

“ Trăng ôi, trăng sáng làm chi khi lòng của tôi đang u tối
Nước giếng sâu trong vắt sao lòng của ai kia như vũng nước trong bùn…
Đêm nay tôi lại thẫn thờ ra đi gánh nước
Ngồi trên bờ giếng một mình
Có ai giải mối hận tình tôi không…”

Ông Tám Đạo nhịp “song lang” cái cốp, An thấy chị Én đưa tay lên dụi mắt.
An và các bạn chưa kịp vỗ tay đã nghe chị Chiêm cất giọng nói:
-Ông Tám ơi, ông ca mùi quá làm cho con Én nó khóc rồi nè.
An nghe sư phụ thở ra một hơi nhẹ, nhưng cái giọng vẫn hồn nhiên:
-Hóa ra cô Én cũng mau nước mắt quá nhỉ.
-Ông ca mùi rệu làm tui cũng muốn khóc luôn chứ nói gì con Én- chị Chiêm cười.
-Thôi nghỉ- Ông Tám Đạo nói gọn- Tôi cũng buồn quá ca hết nổi rồi.
-Một bài nữa đi- Chị Chiêm yêu cầu.
-Thôi, tôi nói thôi là thôi.
Tánh ông Tám Đạo là vậy. Nói xong tay trái ông tìm cây gậy, tay phải ông xách cây đàn, đứng lên nói:
-Chào bà con và mấy cháu nghen. Tôi về đây.

Thế là ông Tám Đạo lọc cọc chống gậy lần đường về nhà không cần chờ đợi ai. Ông mày mò lần bước dưới ánh trăng, cái bóng cô độc của ông khuất dần.

***
An và các bạn cũng ra về ngay sau đó. Do Tranh ở gần nhà Tiếp và tiện đường về nhà Mạnh nên An nói với Tiếp:

-Hai đứa mày phải có trách nhiệm đưa Tranh về tới nhà nhé.
-Được rồi, còn mày?- Tiếp hỏi.
-Còn tao có trách nhiệm đưa Phiến về.
Mạnh cười:
-Tao có ý kiến này, hay là tụi mình cùng đưa nhau về cho vui.
-Là sao?
-Tao, mày, Tiếp, Tranh đưa Phiến về.
-Rồi sao nữa?
-Tới phiên Phiến đưa Tranh, tao, mày, Tiếp về.
-Rồi sao nữa?
-Tao, Phiến, Tranh, Tiếp đưa mày về.
Tiếp thụi vào lưng Mạnh:
-Vậy là tới sáng chẳng ai về nhà được. “Tối” kiến của mày hơi bị…khùng rồi Mạnh ơi.
-Ừ, ước gì mình không phải về nhà mà đi hoài suốt đêm trăng như thế này nhỉ?
Tiếp rờ trán Mạnh nói:
-Thằng này bị ấm đầu thật rồi.
-Là sao?
-Bị khùng chứ sao.
An gật gù:
-Ừ, tao cũng chợt có suy nghĩ như thằng Mạnh, ước gì được đi lang thang trên đồng, ra bãi sông…ngắm trăng thì tuyệt cú mèo.
-Mày cái gì cũng tuyệt cú mèo.
Phiến so vai nói:
-Phiến bị lạnh rồi, phải về nhà thôi. Giờ này ở nhà không có ai, thằng Sơn chắc ngủ mất đất rồi.
-Còn Tranh thì buồn ngủ, hai con mắt muốn nhắm lại luôn.
-Ừ, thì về.

Thế là nhóm bạn tách hàng, Tranh theo Mạnh và Tiếp rẽ một hướng, còn An và Phiến rẽ một hướng.. Đúng là gió lạnh thật và sương cũng đang xuống. An ngước nhìn ánh trăng đang treo trên đỉnh đầu, nó rất sáng, và vầng trăng như đang trôi ngược chiều với những đám mây.
An hỏi:
-Phiến lạnh thật hả?
-Lạnh ghê luôn.
-Ước gì có chiếc áo ấm.
-Chi vậy?
-Để Phiến mặc cho hết lạnh.
-Lúc chiều đi Phiến quên đó chứ.
Phiến bỗng nhìn lên bầu trời và hỏi:
-Đố An mặt trăng đang trôi hay đứng một chỗ?
-Mặt trăng thì đứng một chỗ chỉ có mây đang trôi thôi nên dưới này nhìn lên tưởng là vầng trăng đang trôi.
-Lạ nhỉ?
-Đó là quy luật của vũ trụ, chỉ có trái đất là quay vòng vòng bất tận nên mới gọi là hành tinh.
-Còn mặt trời có quay vòng vòng không?
-Mặt trời đứng yên, trái đất quay chung quanh mặt trời.
-Vậy mặt trời là hành tinh hay là gì?
-Mặt trời là định tinh, khác với hành tinh.
Phiến cười:
-Sao cái gì An cũng biết hết vậy?
-Nhờ An đọc sách. Phiến biết không, sách là túi khôn của nhân loại đấy. Mình đọc sách nhiều thì túi khôn của mình càng chứa được nhiều kiến thức.
-An có nhiều sách không?
-Chỉ có vài chục cuốn, anh Tân hứa lần này về chơi sẽ mang nhiều sách về cho An đấy.
-Thích nhỉ, nếu có cuốn nào hay An cho Phiến mượn đọc “ ké” với nhé.
-Sẵn sàng.
-Phiến cũng thích đọc sách lắm đấy, nhưng Phiến không có sách để đọc.
-Mai mốt Phiến tha hồ đọc, An sẽ sưu tầm cho mình một tủ sách lớn.
Phiếp chớp mắt:
-Vậy là An định chứa tất cả túi khôn của nhân loại vào đó hả?
-Ừ.
-Lạnh quá.
-Biết làm sao cho Phiến hết lạnh bây giờ?
-Chỉ có đi thật nhanh là hết lạnh thôi.
An ngẫm nghĩ rồi nói:
-Nhưng đi thật nhanh sẽ…mau về tới nhà Phiến.
-Thì mình cũng mong cho mau về tới nhà mà?
-Không phải vậy- An gãi đầu.
-Phiến không hiểu An muốn nói gì?

An cũng không hiểu nó muốn nói gì, chỉ là buột miệng nói thế thôi, vì đi nhanh con đường cũng sẽ nhanh chóng bị thu ngắn lại, trong lúc An như muốn con đường…dài thêm ra để nó và Phiến được đi dưới ánh trăng như thế này càng lâu càng tốt. Nhưng làm sao giải thích được điều đó cho Phiến hiểu?

Hai đứa đi nhanh hơn, con đường làng đã được tráng nhựa thẳng tăm tắp, hai bên những ngôi nhà đang thiếp ngủ, chỉ có cây lá xạc xào trong những cơn gió đêm thổi qua. Ánh trăng rải xuống đường nhựa một sắc vàng mờ ảo, cây cỏ hai bên đường dường như cũng nhuộm trong sắc vàng mờ ảo này. Đêm trăng đẹp một cách lạ lùng.
Phiến bỗng hỏi:
-Chừng nào An học đàn với sư phụ?
-Chắc vài hôm nữa thôi, khi chú Tám Đạo lột xong dừa nhà thằng Na.
-Bộ chú không nhận lột dừa cho nhà khác à?
-An không biết nữa.
-Chừng nào học xong An đàn cho Phiến nghe nhé, Phiến cũng thích nghe tiếng đàn kìm lắm.
-Người ta gọi đàn kìm là nguyệt cầm. Phiến biết tại sao không?
-Làm sao Phiến biến được.
An giải thích:
-Vì cây đàn kìm hình tròn giống như vẩng trăng đêm rằm tròn vành vạnh. Cái cần dài giống như cây đa trong sự tích chú cuội ngồi gốc cây đa để trâu ăn lúc gọi cha ời ời đấy.
-Chứ không phải chú cuội ngồi gốc cây đa đợi chị Hằng Nga hả?
-Ai biết, nhưng có lẽ thế thật, chú cuội ngồi đợi chị Hằng Nga mà quên mọi thứ đến nỗi để trâu ăn lúa phải gọi cha ời ời…đến cứu đấy.
Phiến cười giòn:
-An giải thích thật là “ siêu”
-Là sao?
-Siêu tưởng tượng ấy mà!
-Phiến thích nghe đàn kìm, bộ không sợ hả?
-Sợ gì?
-Sợ điều Tiếp nói lúc nãy.
-Tiếp nói sao Phiến quên rồi.
-Làm thân con gái chớ nghe đàn kìm.
Phiến cười:
-Câu này Phiến biết Tiếp “ chế” ra để chọc Phiến và nhỏ Tranh thôi. Người ta nói là làm thân con gái chớ nghe đàn bầu chứ không phải đàn kìm.
-Vậy là đàn bầu còn “ siêu” hơn cả đàn kìm?
-Chắc là như vậy.
An nheo mắt hỏi:
-Như vậy là sao?
-Chắc là…buồn hơn cả đàn kìm chứ sao.
-Ừ nhỉ, đàn kìm có hai dây đàn lên nghe đã buồn, nhưng đàn bầu chỉ có một dây mà đàn lên nghe còn buồn…thê thảm hơn. Người ta “chế” ra hai cây đàn này hay thật.

Rồi nhà Phiến cũng hiện ra dưới ánh trăng khi An đưa Phiến về tới chân cây cầu khỉ bắc qua con rạch. Cây cầu làm bằng những thân tre nối nhau “ lên dốc, xuống đèo” có tay vịn, bình thường An không chú ý, nhưng bỗng dưng trong đêm trăng nó hiện ra lừng lững trên dòng nước tắm đẵm ánh trăng vàng đẹp như một bức tranh kỳ ảo, sương khói khiến An sững sờ nhìn không chớp mắt. Rồi ngôi nhà của Phiến cũng thế, nó cũng hiện ra lừng lững dưới cây lá và cũng đẹp như một bức tranh.

-An nhìn gì thế?
-Phiến cũng nhìn đi thì biết- An nói.
Và Phiến chợt hiểu. Phiến cũng sững người trước chân cầu khỉ mà chưa vội bước qua. Cây cầu tre hiện rõ dưới ánh trăng, nó in cái bóng mờ ảo trên mặt nước đầy và cả An và Phiến đều nhìn thấy bóng trăng in xuống mặt nước gợn sóng lăn tăn.
-Đẹp tuyệt vời- Phiến nói rất khẽ.
-Ừ nhỉ, sao mãi bây giờ mình mới nhận ra điều này nhỉ?- an gật gù.
-Có lẽ tại thường ngày mình không để ý.
-Không phải, tại vì lần đầu tiên tụi mình mới đi chơi đêm và lần đầu tiên An mới nhìn thấy cảnh vật trước nhà Phiến vào một đêm trăng sáng như thế này.
Phiến ngước nhìn lạn bầu trời nói:
-An có biết chuyện những ngôi sao làm đám cưới chưa?
-À, chuyện này An có đọc trong sách, hình như của ông nhà văn Dodet thì phải?
-Nếu những ngôi sao trong bầu trời đêm nay cũng đang tổ chức một cái đám cưới trong vũ trụ mênh mông thì sao nhỉ?
An xuýt xoa, chép miệng:
-Thì…thật tuyệt vời, xem như An và Phiến đang dự đám cưới tập thể của những ngôi sao trong bầu trời vậy. - . /.

Từ Kế Tường




Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Thơ: Đàm Trung Phán - Diễn Ngâm: Hồng Vân - Phần 3


Thơ: Đàm Trung Phán
Diễn Ngâm: HHồng Vân

Thu Lỗi Hẹn

  

Nửa thế kỷ qua vẫn biệt ly
Sông ngăn núi cách chặn đường về
Hoài trông cố lý mòn cung mắt
Ngóng đợi quê nhà đẫm lệ mi
Ngắm cảnh thu vàng sầu lá đổ
Nhìn chiều nắng xế nhớ người đi
Còn đâu mộng ước? buồn tang hải
Xót dạ người ơi! lỗi hẹn thề!

Hàn Thiên Lương



Vũ Hoàng Chương



Xướng:

Vũ Hoàng Chương

Nhớ xưa ai trẩy hội * chùa Hương
Lại nhớ ai say * cuộc hý trường
Rượu đắng lưỡi còn the thế vị
Rừng phong * thu đã nhuốm tà dương
Hỡi ơi mây * nổi trò hư vọng
Ra thế lòng son nguyện cúng dường
Một cánh hạc vàng ** ai cưỡi vượt
Ngàn năm thơm vạt áo Hoàng Chương

Vi Khuê

* Tên các thi phẩm của Vũ Hoàng Chương
** Vũ Hoàng Chương dịch bài Hoàng Hạc Lâu bản dịch thật hay
***
Kính Họa:

Mỗi lời thơ đẹp mỗi làn hương
Thế vẫn không qua nỗi đoạn trường
Tâm sự …*, Lại say - nồng chén rượu
Cành mai trắng mộng - úa vầng dương
Hai phen danh dự từng chia giải**
Một tấm lòng son nguyện cúng dường
Ngõ hẹp đời tàn trên gác xép
Sáng ngời tên tuổi Vũ Hoàng Chương

Quang Hà

*Tâm sự kẻ sang Tần. Chữ viết nghiêng là tên bài thơ của VHC
**Năm 1959 được giải thưởng toàn quốc VNCH về tập thơ Hoa đăng.**Năm 1972 đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc
 

Dis, Quand Reviendras-Tu (Isabelle Boulay) - Hãy Nói Bao Giờ Anh Trở Lại (Mùi Quý Bồng)

Dis, Quand Reviendras-Tu 


Voilà combien de jours,
voilà combien de nuits

Voilà combien de temps
que tu es reparti

Tu m'as dit cette fois,
c'est le dernier voyage

Pour nos cœurs déchirés,
c'est le dernier naufrage

Au printemps, tu verras,
Je serai de retour
Le printemps,
c'est joli pour se parler d'amour

Nous irons voir ensemble les jardins refleuris

Et déambulerons dans les rues de Paris
Dis, quand reviendras-tu

Dis, au moins le sais-tu

Que tout le temps qui passe

Ne se rattrape guère

Que tout le temps perdu

Ne se rattrape plus
Le printemps s'est enfui depuis longtemps déjà

Craquent les feuilles mortes, brûlent les feux de

A voir Paris si beau dans cette fin d'automne
Soudain je m'alanguis, je rêve, je frissonne

Je tangue, je chavire, et comme la rengaine

Je vais, je viens, je vire, je me tourne, je me traîne

Ton image me hante, je te parle tout bas

Et j'ai le mal d'amour, et j'ai le mal de toi
Dis, quand reviendras-tu

Dis, au moins le sais-tu
Que tout le temps qui passe

Ne se rattrape guère

Que tout le temps perdu

Ne se rattrape plus

J'ai beau t'aimer encore,
j'ai beau t'aimer toujours

J'ai beau n'aimer que toi,
j'ai beau t'aimer d'amour
Si tu ne comprend pas qu'il te faut revenir

Je ferai de nous deux, mes plus beaux souvenirs

Je reprendrai ma route, le monde m'émerveille

J'irai me réchauffer à un autre soleil

Je ne suis pas de celles qui meurent de chagrin

Je n'ai pas la vertue des femmes de marin
Dis, quand reviendras-tu

Dis, au moins le sais-tu
Que tout le temps qui passe

Ne se rattrape guère

Que tout le temps perdu

Ne se rattrape plus

Isabelle Boulay
***
(Isabelle Boulay, CQ is a Canadian singer, actress, and composer known for her distinctive style and emotional connection with listeners. Her music blends folk, pop, country, and chanson influences, and her wide vocal range is showcased in songs like "Parle-Moi" and "True Blue" with Dolly Parton. Boulay released her first albums in the late 1990s and has won multiple Canadian music awards, including seven Female Artist of the Year)

***
Bài Dịch:

Hãy Nói Bao Giờ Anh Trở Lại

Không biết đã bao nhiêu ngày,
Không biết đã bao nhiêu đêm,
Không biết đã bao nhiêu lần
Anh về rồi Anh lại ra đi.
Lần này Anh hứa với em
Nhất định sẽ là lần cuối.
Cho hai trái tim chúng ta
Mà thời gian đã xé nát
Chịu đắm chìm một lần chót.
Xuân về Anh sẽ trở lại,
Mùa Xuân thật đẹp để cho
Chúng ta hát bản tình ca,
Cùng đi thăm những vườn hoa
Lang thang trên khắp nẻo đường
Kinh thành Ba Lê tráng lệ.
Anh, Anh hãy nói đi Anh
Bao giờ thì Anh trở lại.
Anh hãy nói đi, ít nhất,
Thì Anh cũng dư biết rằng
Khi thời gian đã trôi đi
Không hy vọng gì bắt kịp.
Những giờ phút mình đánh mất
Làm sao níu kéo được đây.
Mùa Xuân đã chết lâu rồi.
Lá vàng nứt, củi khô cháy
Để thấy Ba Lê tươi đẹp
Trong những ngày cuối mùa Thu.
Đột nhiên em thấy mỏi mòn,
Em mơ và em run rẩy,
Em nằm nghiêng, em lật úp,
Và giống như một điệp khúc,
Em đi tới, em đi lui,
Em rẽ ngang, em quẹo dọc,
Em hết lê rồi em lết.
Hình bóng Anh ám ảnh em.
Em cứ thì thầm với Anh
Tương tư Anh, ngán ngầm Anh.
Anh, Anh hãy nói đi Anh
Bao giờ thì Anh trở lại.
Anh hãy nói đi, ít nhất,
Thì Anh cũng dư biết rằng
Khi thời gian đã trôi đi
Không hy vọng gì bắt kịp.
Những giờ phút mình đánh mất
Làm sao níu kéo được đây.
Dù em vẫn còn yêu Anh.
Dù em vẫn yêu Anh mãi
Dù em chỉ yêu mình Anh,
Dù tình yêu lớn cỡ nào
Em sẽ coi như kỷ niệm
Đẹp nhất trong cuộc đời em.
Em sẽ đi tiếp hành trình
Thế giới biết bao ngạc nhiên
Em đi tìm nguồn sưởi ấm
Từ một một mặt trời mới
Em không phải là một kẻ
Tự hủy trong nỗi đau buồn
Em không có được đức tính
Của một người vợ thủy thủ
(Ngày tháng kiên nhẫn chờ chồng)
Anh, Anh hãy nói đi Anh
Bao giờ thì Anh trở lại.
Anh hãy nói đi, ít nhất,
Thì Anh cũng dư biết rằng
Khi thời gian đã trôi đi
Không hy vọng gì bắt kịp.
Những giờ phút mình đánh mất
Làm sao níu kéo được đây.

Mùi Quý Bồng
(phóng tác)
08/17/2025

La Veuve Du Loup (René Bazin)-Bà Góa Của Ông Sói (Tháinữlan Dịch)


- " Élise bé nhỏ của ông nè, trong ao hồ Agubeil có những gì hả cháu?
- Hoa của lau sậy mà không ai dám hái và bao nhiêu cá mà cũng không ai dám câu, ông ạ.
- Có gì nữa cháu?
- Ông ơi có con chim bói cá, rồi những cô nàng với đôi cánh xanh biếc, những chú ễnh ương kêu vang, những con kỳ nhông, đám quạ bay không ngớt.
- Hết chưa?
- Chưa ông ạ, còn có cả hình bóng của bà Góa của ông Sói , bà ấy đang đi qua đi lại, vòng vòng quanh đây.
- Thế thì Elise à, đừng bao giờ đi gần khu đó nhe cháu ; vì cháu sẽ gặp nạn, ta nói cho cháu biết đó, gặp nạn bên bờ ao Agubeil này."


Đứa bé liền hứa với ông. Ông ngoại của bé, là người bán hàng rong, mỗi khi vừa đến nơi đó liền chuyển sang hướng khác và tránh những vùng lân cận, nơi đó có mối hiểm nguy luôn rình rập ông và những người trong dòng họ. Đó là một ao hồ rất xưa cũ có nguồn nước từ một ngọn đồi bé nhỏ, quanh co,ở đó không có cư dân, quanh vùng ao hồ là vài khu rừng. Và ngọn đồi cạnh thung lũng thì thẳng đứng, là mõm đá đen, và đầy cả vết nứt rất sâu nên đám rắn rết đã có thể làm tổ trong đó, và những cây đậu kim thì đâm rễ thật sâu vào. Và chỉ có loại cây này là có thể sống trên mô đất này mà thôi. Nhưng chúng đã có thể vươn cao một cách diệu kỳ, rồi ngự trị trên ấy, và trong suốt năm tháng trời chúng đã rải những nụ hoa vàng tươi thắm lên đám lá xanh ngát của những cánh rừng cây sồi dẫn đến ao hồ. Những cánh hoa tàn vàng ươm rơi lả tả trên mặt ao được gió mang đi lăng tăng như những cánh buồm, và các bác nông dân nói rằng: " Nếu như tất cả loại cây đậu kim trên trái đất biến mất, thì vẫn tìm thấy hột ở Agubeil."


Tuy nhiên họ không thích đến cạnh bờ ao. Họ vừa cuốc cày ruộng rẫy trên vùng cao nguyên ấy vừa ngắm nhìn dòng nước trong vắt. Một vài người mạo hiểm thả cần câu hoặc giăng đó vào mùa cắt cỏ; nhưng không một ai màng đến việc lang thang quanh vùng đó, vì là đất sở hữu của Bà Góa.
Hỡi ôi! khi kể lại việc này tôi lại nhớ đến thời kỳ thật xa xưa và thảm thương làm sao! Tôi biết bà Góa đã rất nhiều tuổi và bị ghét bỏ. Người dân ở thị trấn thì quay mặt đi khi bà đến gần, để khỏi phải chứng tỏ rằng họ biết bà ta. Nhiều người đã từ chối không bán len, muối hoặc ngay cả vài đấu khoai mà bà cần để duy trì cuộc sống, vì thế bà thường phải đến hỏi nông dân và cửa hàng ở các thị trấn xa hơn.
Bà ấy cao lớn, khô cằn, uy nghiêm và gương mặt cộc cằn, và bọn trẻ rất sợ hãi khi bà đến gần chúng. Mái tóc, đôi vai, toàn thân mình bà chìm trong nếp gấp của chiếc áo khoác đen mà phụ nữ lúc xưa thường mặc vào ngày chủ nhật, nhưng bà ấy lúc nào cũng khoác vào mỗi khi ra khỏi nhà. Đó là dấu hiệu của sự nghèo khó, hay là để tang? Ai có thể biết được? Bà ấy thật là bí mật.


Không một ai dám đưa tay ra bắt tay bà, không một ai chào hỏi bà, và ngay cả nếu trong nhiều tuần lễ liên tiếp họ không nhìn thấy bà cũng không một ai có ý nghĩ đến nhà xem thử bà còn sống không.
Những bà mẹ thì nói: -" Nếu con không ngoan thì mẹ sẽ đến nói cho bà Góa đó", thế là bé im ngay và thu mình vào tay họ. Tuy nhiên cái bà Góa ấy, ngày xưa chắc bà rất xinh đẹp, và cũng có thể là người tốt, . Bà đã yêu và làm vợ của một người làm thợ xay lúa; ngày nay thì máy xay đã đổ nát, giương cao cái bánh xe bằng gỗ bên trên lỗ tháo nước ở bờ ao; và ngay nơi này bà đã xây lại cái chòi để ở bằng những mảnh đá và thanh xà còn sót lại.


Vào thời điểm đó, ở đâu cũng loạn lạc, như tôi đã kể, và cánh đàn ông người thì theo phe bảo hoàng cuối cùng chống lại cách mạng, người thì vào quân đội Cộng Hoà. Rồi đến một ngày, quá mỏi mệt với chiến tranh, hòa bình đã trở lại. Mọi người đều trở về nhà. Thế là tiếng trẻ lại vui đùa la hét quanh những trại gác xưa, và cánh đàn bà thì đang thư thả ngồi kéo sợi trước thềm nhà.
Ông Ngoại của bé Élise và người thợ xay lúa, lúc trước thuộc hai phái thù nghịch nhau, trẻ trung, hăng say, lòng sôi nổi khí thế với nhau vì sự ganh đua nào rất xa xôi trước đó, không ai biết được thế nào, đều trở về nhà cùng một lúc từ hai đội quân. Lúc xưa khi còn chiến trận, họ đã tìm nhau cả mười lần khi chiến đấu mà không gặp nhau. Và giờ đây, trên con đường ở bìa rừng dọc theo chỏm núi đá, họ đã gặp nhau, vào một chiều tháng năm.


Người thợ xay lúa mặc bộ quân phục lính xung kích, với bộ vải da bọc ống chân, áo quần kiểu Pháp, trên chiếc mũ dạ rộng có gắn phù hiệu tam tài. Người theo phe bảo hoàng thì gắn một cành hoa đào gai vào lỗ khuy áo vét bằng vải bông màu đỏ hoe. Khi nhìn thấy nhau từ xa, họ lên cò súng liền.
-Này Jean-François ! người thợ xay hét lên, mi phải chào ta đi chứ, vì đội ta là kẻ chiến thắng mà!-
- Không ai là kẻ chiến bại cả, Jean-François vừa nói vừa kéo cái mũ xuống tai. Mi hãy đi qua bên phải đi, còn ta sẽ đi lối bên trái. Bây giờ là hòa bình rồi.
- Đối với ta thì không. Mi đã nói xấu vợ ta! Mi đã nhạo báng khi nhà máy xay của ta bị cháy! Mi đã nhắm bắn vào các bạn của ta!
- Còn mi cũng đã bắn vào bạn của ta kia mà; đó là chiến tranh mà.
- Mi không mất gì cả, và mi là kẻ chiến bại; còn ta thì đã mất tất cả, và ta trở về là một kẻ đói rách. Nào, bỏ nón ra đi!
- Không bao giờ trước mặt mi!"
Rồi họ giương súng lên.
Ngay lúc đó người vợ của ông thợ xay lúa xuất hiện trên mô đất. Bà hét lên thật to ... Bên dưới kia, trên con đường tràn ngập toàn một màu xanh lá mới đầu mùa, hai người đàn ông đang chĩa súng vào nhau, ở sườn dốc, cách đó chừng bốn mươi bước sãi. "Jean-François !", bà la lên. Nhưng tiếng la thất thanh đã chìm mất trong hai tiếng súng nổ. Một luồn khói bay lên từ con đường sâu hút dưới đồi. Người lính xung kích nằm dài ra đó, úp mặt xuống đường, một viên đạn xuyên qua tim. Jean-François nhảy qua bờ rào cạnh đó, và chạy sổng vào thôn trang.


Ôi , hình ảnh kinh hoàng làm sao! Bốn mươi năm đã trôi qua, mà cảnh tượng ấy vẫn còn đây, sự ghê rợn vẫn còn bao trùm nơi chốn kinh khiếp này, nơi mà tiếng súng sau cùng của trận đại chiến vùng nông thôn đã vang lên. Bà vợ người xay lúa, trở nên như điên dại, đã tự tay gầy dựng lại cái chòi từ căn nhà đổ nát , rồi vì cô độc, trở nên thô lỗ cộc cằn, người ngợm thì tệ hại vì đói kém và khổ đau, đã không còn nhớ tên thời trẻ của mình là gì nữa.
Những người nông dân, khi nhìn thấy cách sống của bà, rồi nhớ đến tính tình hung bạo của chồng bà, nên chỉ gọi là Bà Góa của ông Sói. Bà đi ăn cắp khoai và củi để sinh sống và sưởi ấm; bà đi săn lậu y như một người đàn ông, và nhất là bà đến câu và giăng lưới bắt cá trong ao Agubeil . Thi thoảng lắm, khi thiếu lương thực hoặc có món đồ có giá cần đem bán, thì bà mới ra thị trấn. Người ta nghĩ rằng bà có thể làm tất cả những gì có thể, bởi vì bà chỉ nói đến một việc. Bà thường nói: "Ông thợ xay lúa đã chết rồi, và Jean-François cũng sẽ chết theo. Hắn sẽ gục ngã nơi mà người kia đã nằm xuống. Ta đã để dành một viên đạn cho hắn. Một khi mà hắn đi ngang qua ao, thì hắn sẽ nằm lại đó. Ta sẽ không đến nơi nào khác để giết hắn; mà ta sẽ hạ gục hắn chính ở nơi ấy, hắn ta hoặc con cháu của hắn."


Thế rồi, từ bốn mươi năm nay, bà ấy rình cơ hội để trả thù. Bởi vì lý do đó, ông bán hàng rong tránh không đến gần những quả đồi bao quanh cái ao, và ông cấm hẳn cô cháu gái Élise,- hỡi ôi! cô bé là người thân duy nhất của cả gia đình ông còn lại- , không được bén mảng đến khúc đường mà xưa kia ông đã gặp kẻ thù của ông. Bây giờ bởi vì ông đã luống tuổi, ông luôn tự trách mình đã phạm trọng tội, tại sao lại tự vệ bằng cách đó vào thời cũ xưa, và hàng năm ông đều xin lễ đọc kinh cho người lính xung kích .
Ông ấy là một người u buồn. Đôi khi, đang trên đường về vào lúc sẫm tối, vai mang túi hàng hóa, bỗng nhiên ông phát hiện ra một khóm hoa anh túc đang khoe sắc trên sườn đồi, bên dưới là những con đường mòn trũng sâu, thì ông chọn đánh một vòng xa hơn nửa dặm hơn là đi thẳng ngay xuống đó để hái hoa.
Tất cả niềm hạnh phúc vui sướng của ông , nhưng luôn đầy âu lo, là nhìn thấy cô bé Élise lớn lên.


Cô bé sắp lên mười tuổi rồi. Và, khi cô bé được rước lễ lần đầu, buổi lễ diễn ra rất ôn hòa, bé mặc bộ áo trắng tinh, gương mặt có vẻ hơi nhợt nhạt xanh xao đang bước đi giữa đám bạn, nhưng yêu kiều duyên dáng và trầm lặng hơn chúng. Toàn bộ thị trấn được trang hoàng bằng những vòng chuỗi xanh lục. Lúc đó là vào khoảng đầu tháng sáu. Trong nhà thờ, tất cả các bà mẹ ngồi yên ắng đằng sau các cô bé. Tất cả đều khóc. Jean-François cũng ngồi chung với họ, cũng khóc như họ và cho dù ông không rời mắt khỏi cô bé, ông không thể nhìn thấy bé cho rõ được, đôi mắt ông nhòa đi vì dòng lệ mà ông không thể ngăn được.
Ông có lý do để khóc chứ, bao nhiêu là cái tang trong thời gian qua, bao nhiêu là cảm xúc sâu lắng ở thời điểm hiện tại, và một nỗi lo sợ cho dù ông không muốn tí nào, cho những tháng ngày sắp tới! Sáng nay bé Élise nói với ông: "Ông ơi, cháu sẽ cầu nguyện cho chồng của bà Góa nữa nhé, được không ông?"và ông đã trả lời: "Tính đến nay là đã bốn mươi năm mà ông đã làm điều đó rồi, cháu ạ".
Sau đó, cảm thấy mệt mỏi vì khơi lại điều ấy, ông để cho cô bé trở về nhà một mình, nhà ở ngay cuối vùng thị trấn thôi, và ông giao cô bé cho hai phụ nữ cũng đi về hướng ấy; rồi ông đến quán rượu." Hãy cho tôi rượu vang đóng chai nhe, để tôi xem thử tôi còn trẻ trai không". Rượu làm khô nước mắt của ông, làm cho ông vui lên, và quên mất bé Elise. Không lâu sau, bé ở nhà một mình, nhà thì có hai cửa , một cửa thông ra đường và cửa kia thì đưa ra cánh đồng.


Thường ngày cô bé vẫn có thói quen ở nhà một mình. Nhưng đặc biệt hôm nay cô cảm thấy buồn khi nhận ra không có ai chung quanh mình cả. Cô bé nghe ngoài kia từng đám trẻ đi với mẹ chúng, và hôm nay sao họ lại nói cười huyên thuyên vui vẻ thế kia nhỉ.
Rồi cô ta nhìn kỹ ba cái bánh ngọt đã được ban phép lành cô mang từ nhà thờ về, có hình dáng ngôi sao, đúng rồi, như những ngôi sao giấy vàng ánh dán lên những lá cờ hiệu.
-"Này nhé,một cái để cho ông, một cái cho Dì Gothon. Rồi cái thứ ba thì cho ai nhỉ?"
Bé thảnh thơi suy nghĩ, vì quanh cô không có ai làm phiền cả. Bé cảm thấy tâm hồn bao dung, vui sướng và trong sáng vô cùng, đến nỗi bé chẳng còn sợ hãi gì nữa cả, và tự mình trả lời: "Cho bà Góa của ông Sói!" Ôi thật tôi nghiệp cho cô bé mới mười tuổi đầu, không tin là có điều xấu xa bởi vì cô ta tinh khiết quá, và bé còn can đảm hơn cả một người đàn ông bởi vì cô đang vui sướng quá!
Thế là không cần phải nghĩ ngợi gì nữa, bé chụp lấy một cái bánh, và đi cửa sau dẫn ra cánh đồng lúa, dẫm đôi giày trắng trong đám cỏ cao. Cô ung dung bước đi, không chút sợ hãi, không ngoái đầu lại. Cái khăn trùm đầu vướng phải các bụi gai, bé phải cột chặt lại trước ngực. Trông cô bé như là một thiên thần hiện lên giữa đám bông lúa. Cánh đồng bây giờ trở nên hoang vắng, bao quanh toàn là những khu rừng, thật ghê sợ, không còn nghe thấy tiếng nói chuyện rì rầm vọng lại nữa. Ông ngoại của bé vẫn còn đang uống rượu ở quán. Élise đang đến gần cái ao Agubeil . Bé không nhớ đến lời ông cấm cản dặn đi dặn lại bao lần nữa. Ngày hôm nay đâu có giống những ngày đã qua đâu? Nếu bé không đi thì ai sẽ đi đây, ai mang bánh thánh đến cho bà Góa của ông Sói? Không ai còn nhớ đến bà góa phụ của ông thợ xay lúa , bà ấy chẳng có con cái bà con bạn bè gì nhớ đến bà nữa, chỉ có cô bé đang leo lên mõm đá rạn nứt đầy rong rêu trơn trợt giữa đám cây đậu kim đây thôi.


Bé đã leo lên đỉnh mỏm đá. Rồi bé lại chạy xuống sườn phía bên kia, đến một căn chòi bằng đá và phủ đầy nhánh cây, cánh của hé mở nửa chừng. Ôi, nhà bà Góa nghèo nàn làm sao! Nhìn giống như một chuồng nuôi lợn. Khi nhìn vào cái ao trong vắt thấy cả cảnh vật chung quanh, và khi soi mình vào đó thì thấy cả dưới đáy ao. Tim cô bé bắt đầu đập mạnh. Bé bước qua ngưỡng cửa, và miệng thì sẵn sàng thốt lên:
-"Xin chào bà Góa của ông sói ạ!" Nhưng không có ai cả. Toàn là nồi chảo , những bó cỏ, rồi trong góc nhà thì có cây súng, một cái nón cũ kỹ có gắn phù hiệu tam tài, một cái ghế, một bếp lò bằng đá bị cháy đen, chỉ có thế thôi. Tiếng dế gáy vang bên ngoài ."Làm thế nào để bà ấy biết là mình đã đến chứ", Élise nói một mình. Thế là bé cầm lấy con dao, rồi lấy đầu nhọn khắc lên bánh tên của bé gồm sáu nét chữ. Xong thì bé đặt bánh lên bìa bếp lò, rồi đi ra. Bây giờ thì bé cảm thấy sợ. Bé chạy một mạch về đến nhà, " Ông ơi, ông ơi, cháu đã mang một cái bánh đến cho bà Góa của ông Sói rồi!"
Đến khi ông lão trở về nhà và nghe thấy điều đó, gương mặt ông trở nên trắng toát như nụ hoa đào gai mà xưa kia vào thời đại chiến ông gắn vào khuy áo.
Bốn tháng đã trôi qua.
Élise bị bịnh, mọi người quanh vùng nghĩ rằng bé sẽ không qua khỏi. Cô bé yếu đuối đến nỗi thường hay nói nhảm, và rồi các chú đánh xe ngựa khi vừa nhìn thấy mái nhà của bé, đã phải ghì cương xe lại và không dám la lối những con ngựa, con bò đang trên đường đến đồng lúa để kéo cày.


Jean-François không còn cười vui, Jean-François không còn đi uống rượu với bè bạn nữa; ông không rời nửa bước căn phòng lát gạch, nơi đó ông đang đếm từng giây từng phút theo nhịp thở thoi thóp của bé, cô bé có vẻ như muốn thời gian trôi đi thật nhanh cho rồi. Nhịp thở rất khó nhận biết, nhưng Jean-François lại nghe rất rõ, rõ hơn cả bất cứ tiếng động nào bên ngoài, và làm cho ông thức trắng đã bao đêm rồi. Ôi! Giá như cháu của ông có thể thở khá hơn một chút! Giá như cơn sốt hạ xuống! Giá như ông có thể làm thế nào để bé hé mở đôi mắt một chút, thay vì cứ nhắm nghiền lại như thế.! Ông ngồi đó nhìn tất cả những đứa trẻ cùng trang lứa với cháu ông đi ngang giường bé, và trên gương mặt của chúng, khi chúng ra về, ông đã thấy chúng mấp máy cùng một điệu: "Giã biệt, bạn Élise bé nhỏ!", rồi chúng bỏ về.
Không còn bất cứ ai dám vào phòng đó nữa, bởi vì nỗi bất hạnh đã quá cận kề.
Vị bác sĩ cũng đã nói: -"Tôi sẽ trở lại", nhưng rồi ông ấy đã không trở lại.
Jean-François đã không còn giọt nước mắt nào để khóc nữa. Ông đang ngồi ở ghế bành bằng rơm mà bà cho thuê đồ vật ở thị trấn đã cho ông mượn. Ông nhìn cái giường trắng xinh đang bị bóng đêm bao phủ, gương mặt xanh xao nhợt nhạt chỉ còn thấy được sự sống qua cử động nhẹ nhàng của đôi môi, và rồi đêm dần xuống, vào thời khắc này cánh đồng bên ngoài cũng im ắng không động tĩnh trong suốt mười hai tiếng.
Vào lúc nửa đêm, một tia sáng nhỏ của ánh trăng len vào cửa sổ, và đúng lúc đó Élise đã giương cao đôi mí mắt trắng bệch lên. Ông lão liền cúi xuống gương mặt bé, và ông đã không nhận ra được nụ cười nào, sự rạng rỡ hoặc nét vui tươi nào từ xưa nay vẫn hiển hiện trên nét mặt Élise bé nhỏ của ông: nhưng ông đã nghe thấy một giọng nói chưa được tỉnh táo đang hỏi:
"- Ông ơi, ông ở đâu vậy? - Ngay đây nè, bé cưng à. Cháu không nhìn thấy ông sao?
Cô bé nói tiếp: " Ông ơi, cháu muốn có con cá bạc đang bơi lượn trong ao Agubeil. Nó bơi ở cạnh bìa ao ấy, nó có hai cái vây màu đỏ; nó luồn lách giữa đám lau sậy. Ông hãy đi tìm nó đi. Cháu sẽ khỏi bệnh nếu như cháu ăn được cá ở hồ Agubeil, ông ạ."
Rồi Élise lại nhắm mắt. Bé không hiểu những điều Jean-François đã trả lời bé. Bé chỉ nở nụ cười trẻ thơ, chỉ biết đòi hỏi và cám ơn, làm như thể hai việc này không khác gì nhau cả. Ông lão không do dự thêm phút nào cả. Ông sang thức bà hàng xóm dậy, rồi trong khi bà ngồi canh người bịnh, ông chạy lên gác xép, ở đó ông đã cất kỹ một cái vó bằng vải gai mịn có khung gỗ phỉ. Thế là ông đi ra lối sau vườn, cái lưới vó đeo trên vai.


Cánh đồng trải rộng những lối đi xanh biếc, có dấu chân của loài vật đi hoang rẽ tấm thảm tươi thắm thành hàng trong đám cỏ mọng nước. Ôi, Jean-François tội nghiệp, anh đã biết trước một lời nguyền trả thù ghê gớm như thế nào đang chờ anh ở đấy; anh biết rõ rằng bà ấy chẳng chớp mắt tí nào cả, và một khi tiếng động nhỏ của cái lưới tỏm xuống hồ ao Agubeil, thì một người đàn bà sẽ lẻn vào bên trong đám cây đậu kim, và rằng sự vòi vĩnh bất thường của bé Élise sẽ khiến anh trả giá rất đắt. Nhưng ông lão thuộc loại người chỉ biết yêu thương. Không một phút giây do dự nào làm ông chậm bước lại. Chỉ có điều là thay vì đến ao bằng con đường đắp cao ở sát cái ao, thì ông đi vòng qua lối rừng, và khi đã xuống sườn dốc, ông cảm nhận được bóng cây trên đầu không còn che dấu ông được nữa, khiến bây giờ ánh trăng rọi hình bóng ông rất rõ, thì ông đứng trên bờ cỏ sát mặt hồ lặng như tờ, và đã làm dấu thánh giá trên trán và trên trái tim bây giờ hơi run rẩy.


Ông giăng sào vó xuống; ông nhìn thật kỹ, cố tìm con cá bạc. Nhưng ông chỉ thấy những đốm sáng nhỏ xen lẫn với những vũng tối lượn lờ trên mặt ao, rồi bừng sáng lên, và di chuyển rất nhanh đến nỗi mắt không thể nhìn thấy sự chuyển động ra sao. Nó ẩn nấp nơi nào đây? Ông giương cái lưới lên và nhận chìm theo may rủi giữa hai khóm lau sậy. Toàn bộ đám sao lung linh khi mặt nước chao mạnh. Bà Góa của ông Sói không hề ngủ. Bà đã nghe thấy tiếng cành cây gãy răng rắc trong khu rừng, rồi bà lại nhìn thấy con người mà bà đã chờ đợi trong bao nhiêu năm nay vừa đi ra từ đám cây thưa, cái kẻ đã giết chồng bà, kẻ thù mà do một lúc điên rồ không thể ngờ được đã đem mạng đến nộp ngay địa điểm mà ngày xưa đã xảy ra tội ác không thể nào tha thứ được.


Trong thâm tâm bà Góa, bà cảm thấy bừng lên một niềm vui hung ác. Từ cửa sổ con trong căn nhà, bà đang nhìn Jean-François đứng ở bờ ao .
-" Rồi đó, thế là bà tóm được mày rồi nhé!", bà tự nói thầm.
Rồi bà bật cười hả hê. Bà lấy cái súng treo ở tường, cái súng rỉ sét mà bà thường dùng để bắn bọn vịt hoặc đám thiên nga thường hay đậu trên ao Agubeil. Đám cây đậu kim mọc cao quá đầu người, nên Jean-François không thể nhìn thấy cái bóng đen đang cúi mình xuống và đến gần đỉnh đồi. Một cái nòng súng lẻn qua đám cây cỏ , chĩa nghiêng về phía bờ bên cạnh, đang mò mẫm tìm trọng tâm là trái tim của ông, và những thiên thần từ trên Trời đang bay trong màn đêm đen kịt bỗng kinh hoàng khi nhìn thấy cảnh tượng này: bà Góa của ông sói đang nhắm bắn kẻ thù của bà và ngón tay đang sắp lảy cò súng. Nhưng rồi, vừa ngay lúc ngón tay sắp nhấn cò, thì người đàn bà bỗng nhìn thấy bao nhiêu là ngôi sao đang nhảy múa. Ánh sáng sinh động của chúng bao trùm cả mặt nước ; chúng cũng vờn quanh ụ đất nơi người đàn ông đang đứng. Và mỗi cánh sao lại giống hệt cái bánh thánh vàng rực mà bé Élise đã để lại trong nhà của bà.
-"Bọn bây hãy tránh xa đi, hỡi đám sao sáng kia, hãy đi đi!" Nhưng đám sao không bỏ đi.


Đã ba lần bà Góa đưa cao súng lên rồi lại hạ xuống. Đến lần thứ ba, Jean-François lấy một con cá dưới đáy cái vó, chụp lấy nó, rồi bỏ chạy, để lại cái lưới trên đám cỏ. Cây cối gãy răng rắc như khi một con nai bị săn đuổi chạy lướt nhanh qua.
Thế rồi, hét lên như người điên, vì đã để xổng mất con mồi, bà Góa của ông sói đứng thẳng người bên trên bìa mỏm đá, rồi ném mạnh cây súng mà trước đây được xử dụng trong trận đại chiến xuống ao.
Cây súng xoay tít, rơi tõm xuống ao, chọc thủng màng nước lấp lánh đầy cả ngôi sao, những chòm sao phủ đầy lên trên súng thành một màn dày đặc, và chôn nó vĩnh viễn dưới đó ...


Jean-François đã chạy tít xa, trên con đường mòn, ra khỏi khu rừng, tay ôm con cá bạc sẽ cứu lấy mạng sống cho Élise bé nhỏ của ông.
Ngày hôm sau, bà Góa của ông sói rời bỏ bờ ao Agubeil.
Bà đi về phía thị trấn, đến một viện dưỡng lão , và nói:
-"Tôi là bà Góa của ông Sói, người mà trong suốt bốn mươi năm đã kéo dài cuộc sống chỉ để trả thù. Kẻ gây ra việc đó đã đến tận nơi đã ấn định. Tôi đã nhìn thấy hắn ta ở ngay đầu mũi súng của tôi. Nhưng rồi đám sao lấp lánh đã quá giống miếng bánh thánh của con bé đã tặng cho tôi. Điều đó đã làm cho bao nhiêu sự dũng cảm của tôi tan biến đi trong giây phút. Bây giờ tôi đã trở nên vô tích sự rồi: Hãy bắt tôi đi".
Mọi người cho rằng bà ấy có lẽ đã trở nên hơi mất trí rồi, và họ mang bà vô viện.
Và chính ở nơi đây tôi đã biết đến câu chuyện của bà Góa của ông Sói, và bà cũng qua đời ở đó.




René Bazin- Tháinữlan dịch

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

Còn Lại Những Gì

(Má lúc 16 tuổi)

Đầu tháng 9, khí hậu chuyển mùa, xuân vừa chạm ngõ. Ngoài trời lất phất mưa, mưa của nhung nhớ, mưa giăng mắc trên nỗi buồn người xa xứ không còn Má.

Ngày ấy,
Bên kia một dòng sông nhỏ, nơi ấy có sự gặp gỡ từ hai người xa lạ, chắp mối lương duyên. Lúc ấy, tóc Má còn xanh, cô gái hồn nhiên, đơn sơ, mộc mạc với sắc đẹp của người gái quê 16, bước lên thuyền hoa về làm dâu út nhà nội. Tuổi mười sáu, là người nội trợ của gia đình, Má đã lo toan việc trong, ngoài.

Là dân quê, nhưng Má không chọn quanh quẩn bên ruộng đồng mà thay nghề, đổi nơi chốn và có ý định đưa con lên tỉnh thành ăn học, hầu xây đắp một tương lai rộng mở, là hoài bão Má ấp ủ.
Má chẳng quản nhọc nhằn, dời lên xã Trung Ngãi, lần lượt đưa những đứa con lớn đến tỉnh Vĩnh Long. Ba đi làm xa, còn lại Má với đàn con thơ dại bên cạnh. Một thân, một mình, vai Má trĩu nặng, quẳng gánh thay Ba.

(- Hàng trên: Anh tư Kim Thành, Ba bồng bảy Kim Hiệp, chị hai Kim Xuyến
 - Hàng bên dưới: Chị ba Kim Phương, chị năm Kim Nhi, sáu Kim Phượng trong vòng tay Má
 - Y phục của các con đều do Má vẽ kiểu và tự may lấy)

Đời người phải chăng là dòng sông nhỏ và dòng sông đời Má chẳng êm ả với hoàn cảnh chiến tranh ngày một leo thang. Cái móc thời gian khốc liệt, 1968, đã gây nên sóng gió cho dòng sông đời Má. Nhà cửa bị thiêu rụi. Một lần nữa Má chuyển về ở hẳn tại căn nhà nhỏ thuộc tỉnh Vĩnh Long, nơi Ba đã dựng lên cho các các con đang trú ngụ để theo đuổi việc học. Đây là cơ hội gia đình sum họp. Nhưng là cơ hội chật vật, chắt chiu hơn về vật chất trong cuộc sống mưu sinh. Thời gian ấy, vỏn vẹn hai năm cuối bậc Trung học của tôi. Tôi được sống trong vòng tay che chở của Má. Những ngày tháng dù không dài lâu, nhưng Má là tàng cao che bóng mát khi nắng hạ, là mái ấm ấp ủ những ngày đông. Dù thiếu thốn, vất vả, nhưng lời của ngày xưa đó, lời Má vẫn còn đó...các con muốn học tới đâu, Má lo cho học tới đó… là bao ước ao, mong con thành công, có một ngày mai, trở thành người hữu dụng cho đời. Chỉ chừng ấy lời, Má là cầu thang, từng bậc đưa con lên đỉnh cao.

Hình chụp nơi chợ Giồng Ké - 1961
(- Hàng trên: Má bồng út Kim Hữu, chị hai Kim Xuyến, chị năm Kim Nhi, chị ba Kim Phương, anh tư Kim Thành bồng em mười Kim Diệp, Ba.
- Hàng bên dưới: Em chín Kim Oanh, em tám Kim Hội, sáu Kim Phượng và em bảy Kim Hiệp)

Theo năm tháng, tóc Má đà điểm sương. Các con, đứa đã bước chân vào đời, đứa còn dưới mái học đường. Má vẫn hiền lành, dịu dàng nhưng đôi lúc nghiêm khắc với các con gìn giữ lề thói. Cứ ngỡ thời gian êm ả như thế mà trôi.

Nhưng không, 1975, dòng sông đời Má, tàn khốc hơn trước gợn sóng ba đào. Vượt qua bao nghịch cảnh trong ly loạn, Má vẫn cố gầy dựng lại. Tình yêu dành cho các con vô lường, đành chịu đựng khổ đau, cắt từng núm ruột, Má đưa con ra biển. Đưa để mà đưa. Đâu là bờ bến. Ra sao thân phận của những đứa con Má từng mang nặng đẻ đau. Và có lẽ cái đau câm nín, nhức nhối nhất của Má là rời quê cha đất tổ, sang Úc châu, định cư cùng các con. 
Có lẽ trong cảnh ngộ gặp nhiều gian nan đeo đuổi, trong một mối đau đớn vô hạn, đã hun đúc sự quả cảm. Má vẫn tròn tấm lòng người Má, trọn trái tim với Ba. Nhưng cuộc hữu duyên kỳ ngộ của Má trong kiếp phù sinh rồi cũng đến phút chia đôi, Má đành tiễn Ba về cõi vĩnh hằng. Và bốn năm sau Má đã về đoàn tụ với Ba.

Hai mươi ba năm qua rồi!

Có những hôm nhớ Má, nhìn trăng tàn sao rơi, tôi ngồi khóc như đứa trẻ.
Tôi lưu luyến một cái gì đó xa quá. Ngẫm lại, mỗi khoảnh khắc sống bên Má, không biết là đầy đủ hạnh phúc, không cảm nhận đã và từng sống trong tình yêu thương của Má. Giờ đây, cái điểm tựa vững chắc nhất cũng xa các anh chị em tôi.

Lần về thăm mộ, nén hương nghi ngút tưởng niệm. Nhìn quanh, mênh mông là đồng lúa xanh rờn, thẳng tắp. Cũng nơi này Ba Má đã một thời sinh sống, yêu thương. Cũng nơi này, giờ đây Ba Má đã yên nghỉ chung trong một nấm mộ. Công sinh thành, nghĩa dưỡng dục, mong ngày đền đáp, nhưng... Ngàn năm mây trắng...Má còn đâu, Má ở đâu?
Đã mãn phần, sao mãi nhắc nhớ! Đợi lúc nắng tàn lại tiếc nuối ngẩn ngơ! Vì sao?
Vì... “...khi nhìn hoa trái đời sau sẽ biết giá trị của cội nguồn đời trước”*, lời nhắc nhớ trong ngày tiễn đưa Má.

Má chào đời vào mùa xuân, rời khỏi cuộc đời cũng vào mùa xuân, hoa đào mùa xuân trước sân nhà con đang rực rỡ. Và con...
Đến bao giờ con có mùa xuân, Má ơi!

Kim Phượng
24.9.2025 Lần Giỗ MáThứ 23


Đêm Xuân Trò Chuyện Cùng Má!

(Trà Vinh 1957. Con được 5 tháng tuổi trong bụng Má)

Má ​thương yêu của con ơi.

Một mùa xuân nữa đang trở về với khu vườn đầy màu sắc, chim ca, hoa rộ nở xinh tươi. Đặc biệt xuân nay theo Phật giáo đúng vào mùa Vu Lan, bên Công giáo là Năm Thánh mỗi 25 năm mới đến một lần. 
Má ơi! Giỗ của Má cũng đúng dịp này. Vui quá phải không ba má của con!

Vậy đêm nay má con mình cùng nhau tâm tình ôn lại những ngày đầu đến xứ người nha ba má..

Đã 23 năm má rời xa cũng đã 23 năm con có những giờ phút lặng lẽ, lật lại ký ức và những lưu vật quý báu đối với con.

Ngày đầu tiên má đế Úc, trong phòng ba má con đề 2 bộ Pyjama, 2 chiếc đồng hồ Seiko, Khăn tắm, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng. Riêng má con để thêm quyển nhật ký và cây viết. Má vui mừng hiện trên gương mặt, cầm quyển nhật ký, cây viết là món quà đắc ý, Má cười nói " sao con hiểu ý má vầy" rồi nói với ba "con Oanh ý tứ vậy đó" Má ơi, vì con được má truyền cho con giống má mà, ngày xưa xửa khi vừa lớn, con cũng có 1 quyển nhật ký, chỉ có nó là người bạn tin cậy nhất để mình có thể tâm sự, bộc bạch hết đáy lòng mình phải không má, và nó cũng là tri kỷ là nguồn vui cho mình hy vọng tin yêu.

Tuy nhiên má cao siêu hơn, má ghi chép nhiều điều quý nhất, má ghi chép về gia phả, ngày giờ sanh​, ngày giờ mất của ông bà ngoại, ông bà nội, cô bác cậu dì, họ hàng, a​i còn ai mất. Nếu không có, ngày nay ai nói để chúng con biết. Ngoài ra những kết toán sinh hoạt của má hàng ngày. hàng tháng, hàng năm.... năm này qua năm khác, con còn giữ nguyên trong ngăn cặp đây.

Nhưng kết toán gì đây má hỡi, toàn là chi phí cho con cháu, dâu rể, họ hàng, còn kẹt lại ở Việt Nam. Sổ sách của má chi thì nhiều mà thu chẳng bao nhiêu, chỉ với số tiền an sinh xã hội chu cấp vừa đủ, vậy thì sao có dư, thì ra ba má đã chắt chiu, tiện tặn để chu toàn mọi thứ.Từ một thời tuổi trẻ cho đến tuổi già ba má vẫn miệt mài lo lắng, thương yêu, đùm bọc.

Nhìn lại 12 tờ khai sinh, của ba má và 10 đứa con thẳng thớm, được cất kỹ qua bao biến cố chạy loạn và nay đã đến Úc cùng ba má. hồ sơ con bảo lãnh, Sổ thông hành Việt Nam khi đến Úc định cư, giấy nhập cư vào Úc, giấy vào quốc tịch, sổ ngân hàng, thẻ Medicare đều vẹn nguyên.


Đọc lại những quyển tập, ba má đi học Anh Văn nét chữ đẹp đẽ, Khó ai có thể nghĩ đến hai ông bà tóc trắng phau, ngày nào cũng cắp sách đến trường. Con nhớ hoài lời Má nói " tại sao mình muốn con cháu phải học tiếng Việt để không quên cội nguồn, thì tại sao mình không học tiếng Anh để được gần gũi chuyện trò để hiểu con cháu hơn". Ngày ấy con còn chưa được suy nghĩ cấp tiến và tâm lý như ba má vậy.

Má ơi, con sẽ giữ tất cả báu vật của má gửi trao, đến giây phút cuối cuộc đời con, con sẽ trao lại cho hai đứa cháu ngoại của má tiếp tục giữ gìn, những gì má giao phó cho con má hãy yên tâm nha ba má.

Nhìn lại những tấm hình ngày má về với ba, cả một quãng đời sung sướng, vui buồn, tần tảo, nhưng nụ cười vẫn nở trên môi, tươi tắn, hiền hòa... Những bức hình khi được an lành nơi xứ người, nụ cười rạng rỡ., phúc hậu...tràn đầy tin yêu.

Ba má đã chấp nhận cuộc sống mới dễ dàng, không muốn làm gánh nặng cũng chỉ vì thương con cháu, chúng đang bôn ba vớí cuộc sống cho gia đình nhỏ của các con. Nhìn lại, suy ngẫm lại con rất hãnh diện và lòng tràn đầy sự kính trong thương yêu chân tình của ba má dành cho chúng con.

(Hawthorn 1985, trước ngõ nhà con)

Một chặng cuối cuộc đời hạnh phúc an nhàn vì trách nhiệm và bổn phận làm cha mẹ đã hoàn thành như mong mỏi. Ba đã thanh thản ra đi trong giấc ngủ bình yên. Rồi má thấy ba về nói, ba đã xây nhà mới về đón má cùng đi. và má một lần nữa về với ba trong hạnh phúc ngọt ngào nơi vùng trời mới.

Má ơi, tuy mùa xuân... nhưng giờ đây ngoài trời đang mưa, lòng con cũng mưa .... nhưng những giọt mưa trọn vẹn niềm hạnh phúc vô biên vì được cùng má ba trò chuyện đêm nay.

Sáng mai ba má cùng ăn với con, bữa cơm ngon miệng, hy vọng thức ăn con nấu được má chấm điểm trung bình là con mừng hết lớn rồi...hihihi....và giây phút ấm áp này ba má cùng Ông bà con lên đường bình an về nơi căn nhà mới của má ba....

Thuở 15 ba cưới má về
Chu toàn dâu thảo phu thê trọn tình
Mong con rực ánh bình minh
Chống chèo gian khổ gia đình ấm êm
Keo sơn kết chặt nợ duyên
Trước sau như một hương nguyền chẳng vơi
Đến khi nhắm mắt lìa đời
Thủy chung vẹn giữ về Trời có nhau
Ba má dòng suối ngọt ngào
Tấm gương lưu lại đẹp màu sáng soi
23 năm má đã xa rời
Đêm nay con nguyện với lời cầu kinh
Hồng ân huyền nhiệm lung linh
Một đời sống mới Thiên Đình thảnh thơi
Amen!

Thương yêu con gái thứ 9 gửi về Má Ba!

Lê Thị Kim Oanh
Melbourne Lần Giỗ thứ 23. 
24/9/2025

Ngắm Trăng Thu Nhớ Người



(Viết thay chị CW nhân ngày giỗ anh DW)

Anh đi đã bốn thu tròn
Lòng em vò võ nỗi buồn dài thêm
Trăng xuyên kẽ lá qua rèm
Nhìn trăng tìm bóng anh trên bầu trời
Ngồi đây thương nhớ anh ơi
Tim như vỡ vụn khóc người khó quên
Hơn năm mươi năm êm đềm
Niềm vui hạnh phúc vẫn còn chưa nguôi
Sợ bao kỷ niệm chôn vùi
Em gom hết để ấp yêu một mình
Nhớ trăng xưa sáng lung linh
Anh cùng em ngắm chị Hằng rất lâu
Vai anh em tựa mái đầu
Tay mình mười ngón đan nhau không rời
Bỗng dưng mát rượi bờ môi
Tình yêu đâu nói bằng lời phải không
Đêm nay lại đến trăng rằm
Ánh trăng huyền ảo thầm mong anh về
Chờ anh vào mỗi giấc mơ
Ru câu thơ ngọt vỗ về tình em
Giọt sương rơi nhẹ cô đơn
Lệ rưng rưng đọng mi vương mắt buồn
Lá vàng nhuộm thắm sân vườn
Mùa thu trở lại người thương đâu rồi?

Dương Việt Chỉnh



Cáo Phó Từ Gia Đình Nhà Văn Tiểu Tử

 

 

Ban Biên Tập Trang Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Nhà Văn Tiểu Tử( Võ Hoài Nam)

 

 

Tiểu Tử - BP

 
 

LTG:
Trưa qua, 20/9/2025, một anh bạn viết cho tôi '' Xem Facebook thấy tin buồn : anh Võ Hoài Nam (Tiểu Tử) mới mất hôm qua ( i.e 19/9/2025)!
Xin gởi lại các anh chị, các bạn, bài viết về chú Tiểu Tử , hôm 05/04/2022. Như một nén hương tiễn linh hồn ông về nước Chúa!
Cầu Chúa phước thành phù hộ chú sớm về cõi thiên đàng!

BP

Thú thật, trưa chủ nhật 03/04 rồi, khi đưa vợ chồng người bạn , từ Thụy Sĩ sang thăm ông, nếu không có họ, tôi không biết gọi ông là gì ! Ông sanh năm 1930, nhỏ hơn ông cụ tôi gần 20 tuổi, nhỏ hơn chú út tôi 14 tuổi. Gọi ông bằng bác, bằng chú thì «danh không chính« mà gọi bằng anh cũng «ngôn không thuận» dù ông chỉ lớn hơn ông anh Cả tôi 5 tuổi, bởi vì ông ra trường trước khi tôi ra .. đời! Nhưng ông là bạn thân (đàn em) của thân phụ cô bạn tôi : giáo sư Nguyễn văn Rô (1921 – 1997) của trường Cao đẳng Mỹ Thuật Gia Định, nên tôi gọi ông, và phu nhân, theo vợ chồng cô bạn tôi: «chú thím». Chú thím Nam

Chú Nam là Võ Hoài Nam: tên thật của nhà văn Tiểu Tử. Gia đình cô bạn tôi (họa sư Rô) và gia đình « chú Nam « thân nhau lắm. Tôi chưa có dịp hỏi bạn tôi về mối quan hệ giữa hai gia đình . Nhưng: khi nhìn cô bạn, vừa gặp chú Nam, đã chạy vội tới ôm chú, gục đầu vào người khóc « ngon lành » ; khi xem những tấm hình đen trắng chụp đám nhóc tì của hai gia đình (trong đó có cô bạn tôi); khi nghe chú thím (nhất là thím) kể lại những kỷ niệm giữa hai gia đình, những buổi đi chơi chung, những lần đi pique-nique..vv thì mới biết là thân đến mức nào. Bố bạn tôi và chú Nam thân nhau không chỉ vì hợp tánh, hợp tình mà còn thêm hợp cọ. Trước đây, tôi biết chú Nam là kỹ sư (Ecole d'Electricite Industrielle de Marseille / 1955), giáo sư (Petrus Ký 1955-1956), văn sĩ.

Chủ nhật rồi, tôi biết thêm chú còn là họa sĩ .Tường nhà chú treo nhiều bức tranh của chủ nhân, tranh cọ lẫn sơn-mài . Điều cũng không lạ vì trong bài viết « Một thời tranh sơn mài ở Sài gòn « (" lacquerart "), tác giả Phạm công Luận cho biết « thầy Rô là họa sĩ sơn mài duy nhất mà họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường tiếp, vì thầy am hiểu kỹ thuật sơn mài, lại có đội ngũ thợ giỏi, nếu ông Trí cần thì sẽ đưa đến giúp «. Có ông anh nổi tiếng sơn mài thì ông em mài sơn là phải.


Trên giá vẽ lớn trong khách chú thím là trang bìa tuyển tập « Chuyện thuở giao thời « của chú, được phóng đại , trong đó chú minh (biếm) họa một câu nói của ông Nguyễn tấn Dũng » Cả dân tộc bước ra biển lớn «. Như chú cháu chúng tôi đã lần lượt bước ra biển lớn năm 1979 ! Đó là lúc tôi khám phá rằng nước mắt mặn nhiều hơn nước biển !!

Văn là người. Đọc văn Tiểu Tử, tôi đã hình dung một ông già Nam Kỳ bộc trực, có duyên, thích tếu, dễ xúc động. Và tôi đã gặp đúng « ông già « đó, «sống» với ông trong gần hai tiếng đồng hồ. Tuy mới gặp chú lần đầu nhưng tôi tưởng như đang nói chuyện với một ông chú họ xa, lâu ngày không gặp. Một ông chú"chịu chơi ", dễ tánh. Chú làm tôi quên đi mình đang nói chuyện với một người đáng tuổi bố mình, đáng làm thầy mình, từ hơi "giữ kẽ" lúc đầu, tôi, chúng tôi ( 2 cặp bạn), bị "ông già" "dắt vào " cuộc chơi" lúc nào không hay. Tánh tôi thường nhật đã thích đùa, gặp chú " đưa banh", tôi càng " thọc" tiếp. Nhưng nhờ thế, mà mấy chú thím cháu nói chuyện với nhau trong một không khí rất thân thuộc, gia đình. Như, để chọc chú, tôi nháy nháy mắt hỏi : « Hồi xưa, bác R. và chú, hai ông nói là đi vẽ nhưng có khi nào xé rào, vẽ mấy chai .. bia ôm hông ? «. Chú chu miệng đáp " Ngu sao nói ?!"

Theo thím Nam (thím Đ.), do lớn tuổi (93) lại chịu mổ tim cách đây gần chục năm, nên sức khỏe chú Nam có phần xuống : chú chỉ nghe rõ bên tai phải và chỉ thấy rõ bên mắt phải. Thím nói tới đây thì chú thêm vào:
- Tao bây giờ ngon lắm
- ???
- Chỉ nhìn đời bằng nửa đôi mắt!

Nói vậy nhưng khi " lưu bút" trên mấy quyển sách cho mấy đứa chúng tôi, chú cầm cây viết rất vững, chữ viết cũng còn " rồng bay, phượng múa » lắm ( nhất là chữ « t » / tiểu tử , kéo dài xuống rồi đá lên . Như cái cán dù ). Viết xong lại còn đóng triện son lên một cái bụp! Oai lắm cơ ! Tôi thêm vào «Cứ y như vua Bảo Đại ấy"!

Nói về chú Nam mà không nói về thím, là một thiếu sót lớn. Chú Nam lúc trẻ là con nhà giàu, học giỏi, đẹp trai . Chú là con trai độc nhất của cụ Võ thành Cứ, cựu giáo sư Petrus Ký. Chính cụ Cứ chọn cô học trò Đ. cho cậu quý tử . Tôi sẽ không kể ra đây cái « thuở ban đầu » dễ thương, ngộ nghĩnh của chú thím Nam. Chỉ biết là khi nghe chú thím « anh anh, em em « với nhau, tôi biết là tại sao thím phải là người bạn đời của chú. Không có thím, vẫn có thể có văn sĩ, họa sĩ Tiểu Tử nhưng tôi không tin là sẽ có một ông Tiểu Tử đến tuổi 93 này mà vẫn yêu người và yêu đời như chú Võ hoài Nam.

Thấy chú lớn tuổi hơn thím nhưng tóc thím bạc hơn chú, tôi hỏi đùa thím : » Chú đa tài như thế .Thế có đa … tình không thím ? «.Thím cười hiền nói, đại khái là » Chú nói chuyện có duyên lắm thành ra có nhiều người ..thích . Nhưng mà làm gì thì mình cũng phải giữ tiếng cho chồng »! Đúng là mẫu người con gái Á Đông xưa mặc dầu thím là dân Tây học!

Văn chương chú Tiểu Tử được rất nhiều người yêu mến. Mỗi người một ý. Năm 2015, khi phát biểu trong buổi ra mắt « Chuyện thuở giao thời », theo ông anh (bạn) tôi, Joseph Huỳnh: « .. tại sao ông không phải nhà văn, không phải nhà xuất bản mà lại nhận in sách « Chuyện Thuở Gìao Thời » cho Tiểu Tử. Ông nêu lên ý rất tế nhị và vô cùng đẹp, tuy mới nghe qua như nó không rõ nghĩa lắm « Ông chọn làm việc này mà thật ra không phải chọn lựa ». Ông cắt nghĩa « chọn lựa » là làm việc bằng cái đầu. Nhận lãnh làm mà không chọn lựa vì hành động theo con tim của mình. Ông đảm nhận việc in ấn chỉ vì muốn sách của Tiểu Tử phải được phổ biến. Tuy số lượng ít nhưng nó sẽ được lưu lại với thời gian. Một ngày kia, có người bắt được đọc qua, sẽ rung động theo nhịp tim của tác giả, sẽ thấy văn chương của Việt nam không phải như thứ văn chương của Việt nam ngày nay ở Việt nam, tức thứ văn chương xã hội chủ nghĩa. « (*)

Với tôi, Tiểu Tử là nhà văn viết những đề tài rất "đời thường" , với những con chữ «Nam kỳ« nhưng cách hành văn của ông không « Hai Lúa » cũng chẳng « miệt vườn » chút nào ! Tôi nghĩ, đó là do bản tánh nhân hậu của ông, do nền giáo dục ông hấp thụ được, từ gia đình cho đến nhà trường. Nhiều người thích chuyện ông vì họ thấy họ trong đó. Thấy ông nói lên dùm những điều họ muốn nói mà chưa có dịp. Từ lần đọc đầu tiên Tiểu Tử, tôi biết là ông không hư cấu, ông không viết chuyện , mà là kể chuyện . Đọc thêm nhiều chuyện nữa thì thấy ông chỉ, hoặc đem chuyện mình ra kể, hoặc kể lại chuyện người. Chuyện ông viết là chuyện thật. Chuyện khóc, chuyện cười, được viết bằng cái « văn phong » rõ ràng, trong sáng. Như lời thầy (giỏi) đứng trên bục giảng.

Thích ông qua văn chương nhưng tiếp xúc với ông rồi thì từ thích, tôi qua «mê« rất nhanh ! Ông là một trong những người tôi có thể ngồi chuyện trò hoài mà không thấy chán. Cái để tài ông nói. Cái cách ông chăm chú nghe, bằng đôi mắt mở to, bằng cái miệng «chu chu». Chờ người nói xong, ông mới phán nhẹ một câu làm người đối diện phải phì cười !

Khi xin phép ra về, thím đưa 4 đứa chúng tôi ra tận cửa, chú , do chân yếu, nên ở lại trong phòng khách. Nhìn cái dáng chú đang loay hoay tìm cách ngồi xuống và nụ cười đưa tiễn của thím, tôi chợt nghĩ bụng, chắc sau khi khách về rồi, khi trở vào phòng khách, chú sẽ hỏi thím:
"Em à, chiều nay mình ăn món gì vậy?"

BP
05/04/2022
(*): https://vietbao.com/a232441/gioi-thieu-tac-pham-moi-cua-nha-van-tieu-tu-chuyen-thuo-giao-thoi