Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Ước Mơ - Thơ: Phan Khâm - Nhạc: Nhật Bằng - Ca Sĩ: Mai Thiên Vân


Thơ: Phan Khâm
Nhạc: Nhật Bằng
Ca Sĩ: Mai Thiên Vân

Dương Việt Chỉnh

 
( Chữ đầu ghép lại Tên của Việt Chỉnh)

Dấu thời gian với dòng thơ
Ươm bao kỷ niệm trên tờ văn chương
Ơi lòng sao mãi vấn vương
Nghe thăm thẳm nhớ sắc hương cuộc đời
Gởi vào nét mực rong chơi

Viễn du theo gió mây trời bốn phương
I tờ con chữ nhớ thương
Êm như tiếng mẹ quê hương ngọt ngào
Tuổi hồng rực rỡ bay cao

Câu thơ ngày ấy dạt dào ước mơ
Hoài hương nguồn cội mịt mờ
In vào ký ức tình quê ấm nồng
Nỗi niềm sâu lắng mênh mông
Hồn thơ ghi dấu vào trong sách đời

Dương Việt-Chỉnh
Ngày 14/1/2026

Bốn Mùa

 

Hạ đến biển tuyệt vời
Cát mềm mịn gót chân
Tung tăng sóng vợt nhanh
Nắng chiếu ấm làn da
Mùa thu của mộng mơ
Trời còn mờ hơi sương
Gió nhẹ lùa bên má
Lá vàng ngập lối đi
Mùa đông khoác áo bông
Tuyết trắng bay phất phây
Phủ trên những hàng cây
Trông đẹp tựa như tranh
Rồi mùa xuân trở lại
Nụ hoa vàng xuất hiện
Chim hót mừng ban mai
Niềm vui rót ly đầy
Mỗi mùa một kỷ niệm
Chẳng bao giờ sẽ quên
Mỗi mùa nằm trong tim
Thêu dệt cả cuộc đời
Khi chiều tà nắng lặn
Ngồi nhớ lại từng mùa
Từng chuyện vui nhỏ nhoi
Cho đến niềm hạnh phúc
Ta được hưởng đường đời
Ta cúi đầu cảm tạ
Tình yêu Chúa ban ra
Cho nhân loại muôn người

June 14, 2025
Diệm Trân


Tự Lực Và Tha Lực


Đây là bài số bảy trăm chín mươi sáu (796) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.

 

Đã từ lâu tôi không còn thích xem phim hành động hay ma quái nữa vì tôi không thích những hình ảnh chém giết lẫn nhau một cách rùng rợn, tàn bạo. Thú thật, khi lỡ thấy những cảnh giết bò, giết heo, giết rắn để ăn nhậu, tôi thường nhắm mắt lại không xem và hỏi chừng ông xã đã hết chưa rồi mới dám xem tiếp  tục khi cảnh giết hại đó chấm dứt. 

 

Không phải vì lòng “chợt từ bi bất ngờ” như lời ca của một bài hát mà tôi đã nghe mà có lẻ vì càng lớn tuổi, con người hình như sống về tâm linh nhiều hơn thuở thiếu thời. Tôi là thế đó.

 

  Người viết cũng xin tạ ơn các đấng giáo chủ đã lập ra các tôn giáo dạy con người nên làm lành lánh dữ để cho cõi trần gian này bớt đi những nghiệp tội, nhữg đau khổ do chính con người tạo ra.  Con người nếu có đời sống tâm linh vững chắc sẽ biết sợ nhân quả, tội phước và từ đấy sẽ bớt đi những việc làm tội lỗi, tham lam, sân hận, si mê, sát sanh hại mạng v..v….  Đạo nào cũng tốt cả vì Chúa hay Phật đều dạy con người nên làm lành lánh dữ, sống từ bi hỷ xả, nhân  ái, yêu thương tất cả mọi người, sống thiểu dục tri túc, sống cư trần lạc đạo.  Người viết thiển nghĩ chỉ có người làm hư Đạo chứ Đạo không làm hư người nếu tín đồ tri hành đúng lời dạy của các đấng Cha Lành.

 

Phim ảnh đôi khi cũng đưa lên những bài học rất hay về cuộc đời, về quan niệm sống như thế  nào cho vui cho khỏe, cho hợp với thiên lý,  hợp với nhân đạo.

 

 Theo tôi, tác giả viết dựng một bộ phim nào cũng muốn gửi gắm một tâm sự hay đưa lên một bài học nào đó để chúng ta cùng suy ngẫm.  Hình ảnh đẹp trong phim, nội dung hay của cuốn phim sẽ gây cho ta một ấn tượng, một cảm nghĩ khó quên và ít nhiều gì cũng có ảnh hưởng đến quan điểm sống của chúng ta.

 

 Người viết nhớ trước đây có xem phim “The Scent of Woman” được dịch là  “Tình Yêu Dối Trá” đã chiếu lâu rồi .

 

Chuyện phim kể về chuyện cô thư ký tên Lý Yên Trà  nhan sắc trung bình,  tiện tặn trong việc chi tiêu hằng ngày, làm việc giỏi trong một hãng du lịch có một chàng giám đốc trẻ tuổi đẹp trai tên Lưu Chính Quốc. Cô thường bị người trưởng phòng bắt nạt và chịu nhiều áp lực, phiền muộn từ công việc làm, từ những người cộng sự và cấp trên của cô. 

 Một hôm đi khám sức khỏe nơi một bệnh viện có người bạn làm bác sĩ ở đó và cũng là bạn học thuở thiếu thời, cô được báo cho biết một tin kinh khủng là cô bị bệnh ung thư  và chỉ còn sống 6 tháng nữa mà thôi. 

Ban đầu cô không muốn được chữa và không còn sợ gì nữa. Bắt đầu cô quăng đơn xin nghỉ việc, sửa sang lại nhan sắc, ăn diện hàng hiệu, đi du lịch ở Okinawa với số tiền cô đã tiết kiệm được để tận hưởng những ngày còn lại.  Tại đây, cô lại gặp ông giám đốc trẻ tuổi đẹp trai của cô mà cô muốn cua làm người yêu của cô. Chàng này cũng đến đây công tác.  Rồi từ đấy, cảm tình bắt đầu nở hoa và đưa đến tình yêu giữa hai người.   Cô lập danh sách những việc cần phải làm trước khi chết và bắt đầu thực hiện: trả thù những người đã đối xử xấu với cô, học nhảy tango, lo lắng cho mẹ được tái hôn, chụp hình mặc áo cưới  v..v…

Nhiều lần cô muốn trốn chạy tình yêu với người cô yêu nhưng trước tình yêu chân thành của anh giám đốc người yêu của cô, cô thay đổi cách sống,  cô yêu cầu xin được chữa trị để mong được sống lâu hơn bên cạnh người cô yêu, sống lạc quan, yêu đời, yêu người, giúp đỡ và tha thứ những ai đã làm cô đau buồn. 

 

Người yêu của cô dù bị áp lực của người cha nhưng vẫn luôn động viên, khích lệ tinh thần cô nên cuối cùng cô đã kéo dài sự sống thêm hơn một tháng nữa. 

 

Vai chính trong truyện có lẻ muốn nói:  “Dù gặp cảnh ngộ khó khăn, bi thương trong cuộc sống thế nào đi nữa, chúng ta phải chấp nhận sự việc thực tế đó, và tìm cách vươn lên với những ý nghĩ và cách sống lạc quan thì hy vọng biết đâu có sẽ kỳ tích xuất hiện và kết quả cuối cùng sẽ tốt đẹp hơn là buông xuôi cho định mệnh, bi quan than khóc cho số phận.

 

Thức tế sau năm 1975,  chúng ta cũng đã thấy nhiều gia đình mà cuộc đời kể như đã “tiêu tùng” hết hy vọng sống còn rồi, nhưng họ vẫn  khắc phục được những khó khăn, gian khổ đó, vươn lên để mà sống tốt đẹp hơn lên.  Bây giờ ở hải ngoại, cộng đồng người Việt của chúng ta đã có rất nhiều người tài giỏi đã làm cho thế giới phải nể kiêng, mà trước đó cuộc sống của họ thật là gian khổ, thật là đau thương.  Người viết xin được góp vui cùng với  các gia đình đã biết vươn lên để mà sống đẹp này.

 

 Nói đến tự lực nhưng chúng ta cũng cần nói đến tha lực.



Tha lực là sự giúp đỡ, khích lệ của người khác để giúp cho mình thành công tốt đẹp hơn nữa.  Ngày xưa Đức Mục Kiền Liên cũng phải cần oai lực của chư tăng hỗ trợ cầu nguyện trong ngày lễ Vu Lan mà mẹ của Ngài mới thoát khỏi ngục hình nơi chốn Diêm đài.

 

 Trong câu chuyện nói trên, cũng chính nhờ sự giúp đỡ tinh thần tận lực của mẹ, của người yêu, của vị bác sĩ chữa trị, cộng chung với tinh thần  lạc quan, ý chí muốn sống còn mạnh mẽ của mình mà cô Lý Yên Trà mới có thể kéo dài thêm sự sống.

 

 Đời sống tâm linh, đức tin, sự cầu nguyện cũng quan trọng cho đời sống chúng ta không kém.

 

Khi đi vượt biên, trong những lúc hiểm nguy hay tuyệt vọng, nhiều người trong chúng ta đã cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát hay Đức Mẹ Maria cứu khổ cứu nạn.  “Có cảm tức có ứng” và nhiều người đã thấy được nhiều sự hiển linh của đức tin này. Cũng từ đấy, khi thoát được sự hiểm nguy, an toàn đến được các quốc gia tự do, nhiều người đã tín nguyện vào tôn giáo mà họ hằng cầu nguyện.

 

 Khoa học ngày nay dù đã phát minh ra nhiều điều hữu ích cho nhân loại nhưng vẫn chưa có thể giải thích hết mọi sự việc, mọi hiện tượng xảy ra ở cuộc sống thế gian. Chúng ta vẫn phải tiếp tục cầu nguyện, vẫn muốn có một đời sống tâm linh vững mạnh, một tinh thần vững chắc.

 

 Xin mời Bạn đọc một tài liệu về những nhà bác học nói chuyện về đức tin và cầu nguyện do một người bạn gửi đến người viết.

 

Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện


Frederic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris  Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

 

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

 

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”

 

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”

 

Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?”

 

Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”

 

Louis Pasteur - Nhà bác học thiên tài - Một tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện


Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.

 

Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”

 

Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”

Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”

 

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?”

 

Người sinh viên nhanh nhảu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”


 Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên.

 

 Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.

(Nguồn:  Trích trong email bạn gửi)

 

 Người viết xin mượn câu chuyện ngắn ngắn dưới đây để làm kết luận cho bài tâm tình hôm nay, Bạn nhé!

 

MUỐI.

Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già. Anh ta lúc nào cũng bi quan và phàn nàn về mọi khó khăn. Đối với anh, cuộc sống chỉ có những nỗi buồn, vì thế học tập cũng chẳng hứng thú hơn gì .
Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe, rồi đưa cho anh một thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.

-Con cho thìa muối này hòa vào cốc nước, rồi uống thử đi!

Lập tức chàng trai làm theo rồi uống thử, cốc nước mặn chát. Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa muối đầy xuống nước.
-Bây giờ con nếm thử nước ở trong hồ đi!
-Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy .Nó chẳng hề mặn chút nào -Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
Người thầy chậm rãi nói:
-Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn nó giống như thìa muối này thôi .Nhưng mỗi người hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước, thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và chẳng bao giờ học được điều gì có ích cho bản thân mình!

 

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 796 – ORTB 1237-1-21-26)


Cảm Ơn Em


Phan mở cửa bước ra vườn sau, cơn gió heo may và cái buốt lạnh của sáng mùa thu ập vào anh, Phan đưa tay như kéo chiếc áo khoác ngoài nhưng tay chạm vào khoảng không và chợt nhận ra là mình không có áo khoác. Anh đứng yên trong gió, nhìn những bông hoa thạch thảo mầu hồng nhạt lả bay theo gió, lòng quặn lên nỗi đau…Như Hồng, anh thì thầm…hôm nay gió nhiều và lạnh quá, sao em không nhắc anh mặc áo ấm khi ra vườn ?

Như Hồng đã ra đi vào đầu mùa thu khi lá thu mới chớm chút hanh vàng. Sáng nào cũng vậy, Phan ra vườn hái hoa cắm vào chiếc bình nhỏ trên bàn thờ nàng rồi mới xuống bếp pha cà phê, một cho nàng và một cho anh như hai vợ chồng cùng uống trong suốt mấy mươi năm qua. Phan cảm thấy như nàng vẫn quanh quẩn bên anh, anh vẫn nói chuyện với vợ như là nàng ở đâu đó trong nhà… Từ ngày con chim nhỏ nhất học xong, rời tổ ấm đi làm việc ở xa, Phan về hưu để săn sóc cho vợ và đưa nàng đi thăm những thắng cảnh của nước Mỹ như lời hứa năm xưa khi gia đình mới định cư ở Maryland.

Gió vẫn thổi mạnh …những chiếc lá rời cành bay theo cơn gió như cuốn anh vào hình ảnh của những ngày qua…
o O o

Lần đầu tiên gặp Như Hồng, vẻ mỏng manh yếu đuối của nàng làm Phan nghĩ rằng chỉ cần một cơn gió thoảng cũng đủ làm nàng tan biến. Và sự yếu đuối mong manh ấy đã làm Phan có cảm giác muốn được che chở bảo vệ cho nàng … và yêu nàng. Trong thời gian đó, Phan đang đóng quân ở Bình Dương và đám cưới đã được tổ chức một cách đơn giản tại quê nàng.

Một năm sau, Phan được chuyển về làm việc tại bộ phận Quân Nhu ở Sài Gòn và đưa vợ về sống chung với mẹ anh, lúc đó em trai Phan mới nhập ngũ và mẹ anh ở nhà một mình. Ba anh mất sớm, mẹ anh ở vậy nuôi con, bà là dược sĩ, làm việc ở phòng thí nghiệm nên gia đình có cuộc sống tương đối thoải mái. Khi Phan mới cưới vợ, mẹ anh muốn vợ anh về ở với bà, bà không có con gái nên muốn có con dâu bên mình, nhưng thấy vợ chồng Phan ở Bình Dương và Như Hồng còn quyến luyến gia đình của nàng nên không ép buộc.

Như Hồng với bản tính nhẹ nhàng và tế nhị nên được lòng mẹ chồng. Nàng đi dạy học, và chỉ ba năm sau đã có hai con, một trai một gái, gia đình tràn đầy hạnh phúc với tiếng bi bô của trẻ thơ. Mẹ Phan nghỉ làm để chăm sóc hai cháu nội, bà đã lớn tuổi và làm việc quá lâu nên Phan và em anh rất vui với quyết định của mẹ, mong mẹ có được những ngày nhàn rỗi với sự yêu thương thơ dại của hai cháu nhỏ.

Thế rồi, biến cố 4/75 xẩy ra làm tan nát hạnh phúc của gia đình…Phan và Thái, em trai anh đều phải đi học tập cải tạo vì là quân nhân phục vụ dưới chính thể VNCH. Như Hồng không còn được đi dạy học nữa vì là vợ của sĩ quan chế độ cũ. Với sự giúp đỡ của bạn mẹ chồng, Như Hồng đi bán thuốc Tây ở chợ trời để có tiền lo cho gia đình.

Khi nhận được giấy phép cho đi thăm Thái lần đầu tiên, Như Hồng cùng đi với mẹ chồng vì Thái chưa có gia đình. Dù chỉ gặp Thái vài lần khi Thái về thăm nhà nhưng Như Hồng đã thấy những nét hiên ngang quả cảm và lòng yêu nước chân thành của chàng trai trẻ tuổi này. Khi gặp lại Thái ở trại cải tạo, nàng chỉ chào hỏi rồi để hai mẹ con có thời gian nói chuyện với nhau. Chỉ mới hơn một năm thôi mà Thái đã gầy đi rất nhiều, chỉ còn đôi mắt vẫn còn vẻ hiên ngang bất khuất làm Như Hồng cảm thấy không yên tâm và lo ngại cho sự an toàn của người em chồng.

Mấy tháng sau khi đi thăm Thái, Như Hồng nhận được giấy phép đi thăm chồng, anh đang học cải tạo tại một trại cải tạo ở miền Trung. Thấy mẹ chồng đã yếu vì bà buồn khổ nhiều sau khi đi thăm con trai út, Như Hồng khuyên bà nên ở nhà, nhưng bà nhất định đòi đi nên nàng phải chiều lòng. Thức ăn khô và thuốc men nàng gói ghém chuẩn bị cẩn thận theo lời chỉ dẫn của người bạn thân đã đi thăm chồng cải tạo ở miền Trung tháng trước. Từ những lúc làm đồ ăn cho chồng, từ những lúc đếm những viên thuốc nhỏ, nàng thì thầm như nói chuyện với anh… như gửi những nhớ nhung, những yêu thương vào từng món đồ gửi mà nàng mong là anh cảm nhận được khi mở ra.

Trải qua hai ngày đêm trong xe lửa, cuối cùng hai mẹ con đến trại giam giữ Phan. Như Hồng không nhận ra chồng cho đến khi anh cười…một nụ cười méo mó trên gương mặt sạm đen khô héo của cây sậy biết đi nhìn nàng đầy thương nhớ … nàng đứng yên, nước mắt rơi đầy trên mặt, chờ chồng chào và nói chuyện với mẹ trước. Khi anh quay qua nàng, cả hai nhìn nhau như đọng cả trời thương nhớ…vài giọt nước ẩn trong khóe mắt khô cằn…anh hỏi thăm hai con…Như Hồng cố nén sự cảm động, cố giữ giọng bình thường để cho anh biết các con đều ngoan và khỏe. Tí Anh gửi cho ba một cái hôn và mong ba về khoe sách tô màu, còn Tí Em nhõng nhẽo muốn ba bế…Cuối cùng, anh dặn nàng giữ gìn sức khỏe, chăm sóc cho mẹ và hai con, chờ anh về…

Phan ngậm ngùi nhìn theo dáng mẹ và vợ xa dần… mới đó mà tóc mẹ đã bạc trắng như sương, lưng đã còng, đi bên người vợ thân thương mỏng manh như lá liễu của anh, mà bây giờ lại là người gánh vác mọi việc của gia đình.

Đúng như sự lo sợ của Như Hồng, không lâu sau đó, phường khóm gửi thư cho mẹ Thái, báo tin cho bà biết con trai của bà, Nguyễn văn Thái, đã bị xử bắn vì tội phản động trong trại cải tạo. Bà đọc thư, không khóc không nói, chỉ lẳng lặng ôm khung hình của Thái vào lòng và nằm trong phòng. Như Hồng phải tạm bỏ việc bán thuốc để ở nhà săn sóc cho mẹ chồng. Dù nàng hết sức khuyên nhủ, nhắc bà còn có Phan, con trai lớn của bà và các cháu cần sự giúp đỡ của bà, nhưng bà nhất định không ăn không uống. Đêm thứ ba, sau khi lo cho hai con đi ngủ, Như Hồng vào phòng bà, để tay trên tay bà thì thấy tay hơi lạnh, trán cũng lạnh và khi nàng để cái gương soi nhỏ dưới mũi thì không còn hơi mờ nữa…nàng quỵ xuống sàn nhà… Mẹ ơi, Thái ơi… anh ơi… Sao mọi chuyện lại xảy ra như thế này… Sao em lại phải chịu đau khổ đến như thế này anh Phan ơi !

Những lần sau, khi đi thăm nuôi Phan, Như Hồng chỉ nói là mẹ yếu nên nàng không muốn mẹ đi thăm anh vì xa xôi quá. Dù thiếu thốn và vất vả nhưng Như Hồng vẫn cố gắng đi thăm nuôi chồng khi có phép, phần thì thương chồng, lo cho sức khỏe của anh, phần thì không muốn anh phải lo nghĩ vì thấy nhiều người vợ bỏ chồng ở trại cải tạo… với rất nhiều lý do khác nhau… nàng lăn lộn bán thuốc ở chợ trời nên biết được chuyện đau lòng của những ông chồng nhờ hỏi sao không thấy vợ đi thăm nuôi? Chỉ có một lần, đâu khoảng 5 năm từ ngày anh đi tù, nàng đã chuẩn bị xong mọi thứ, nhưng đến ngày đi thì con trai bị sốt nặng, phải đưa vào bệnh viện, mấy hôm sau, khi con giảm sốt và được xuất viện thì không còn đủ thời gian để đi xe lửa đến trại tù. Nàng biết anh chờ đợi và lo lắng vì biết vợ yếu đuối nhưng biết làm sao, sức khỏe của con là trọng. Lần sau đi thăm chồng, nàng thấy sự yên tâm trong mắt anh và cảm thấy thương chồng vô cùng.

Thế mà đã bẩy năm trôi qua, thỉnh thoảng trong những người quen hay bạn hàng ở chợ trời, vài người có chồng được cho về… nàng hy vọng một ngày thấy anh về đến nhà nhưng vẫn là đợi chờ và … đợi chờ.

Một buổi xế trưa, Như Hồng đang đi lẩn đến khu phố quanh chỗ nàng bán hàng để tránh công an đang tìm bắt những người bán thuốc Tây lậu thì thấy cô hàng xóm quen từ ngày trước mà nàng thường nhờ đón con, giao chìa khóa nhà để cô cho hai đứa nhỏ vào nhà và trông coi cho đến khi nàng về. Cô thở dồn dập.

-Chị ở đâu mà em tìm mãi không ra… anh đang ở nhà chờ chị đó.
Như Hồng nắm chặt tay cô hàng xóm.
-Em nói thật chứ?
-Thật mà, em thấy có người lấp ló ở cửa nhà chị nên qua xem, thấy giống như tù cải tạo mới được thả ra, cái đầu trọc lóc và giống hình chồng của chị để ở trong nhà nên em đến hỏi. Anh ấy nói là anh là chồng của chị, mới được thả ra ngày hôm qua, đi xe lửa, vừa về đến đây, anh hỏi hai đứa nhỏ đâu? Anh nói đúng tên chị và tên hai đứa nhỏ nên em mở cửa cho anh vào nhà vì không muốn anh đứng lớ ngớ trước cửa, công an nghi ngờ thì mệt lắm. Em nói sẽ đi tìm chị, cho chị biết anh đã về.

Như Hồng như không thở nổi, nàng đón chiếc xe xích lô gần đó và nhờ chở hai người về nhà. Vừa đến nhà, thấy cửa còn khép hờ, nàng bước nhanh xuống xe, đẩy cửa vào nhà và hốt hoảng khi thấy Phan cúi gục đầu quỳ trước bàn thờ.
-Anh!
Như Hồng quỳ xuống, phủ phục bên Phan.
-Em xin lỗi anh! Mẹ và Thái mất đã hơn năm năm rồi!
Phan ngẩng đầu lên và quay người lại, cầm lấy tay vợ, mặt anh còn đầy nước mắt.
-Không, em không có lỗi gì cả, chỉ có anh là đứa con bất hiếu, không lo được cho mẹ và không bảo vệ được cho em.
Như Hồng nức nở
-Khi nhận được tin Thái bị xử bắn, mẹ không nói gì hết, chỉ ôm hình Thái vào lòng cho đến khi chết. Em thật không biết phải làm sao trước hai sự mất mát quá lớn lao!

Phan vỗ vào vai vợ như cảm thông nỗi đau khổ của nàng, anh đỡ nàng đứng dậy và cả hai vái trước bàn thờ rồi đến bàn ngồi.
-Mấy giờ hai con đi học về ?
-Khoảng 5 giờ anh ạ, thường thì cô Sáu, người mở cửa cho anh vào nhà, đón con rồi trông tụi nhỏ cho đến khi em về. Hôm nay em sẽ đi đón con về sớm để cho hai đứa nó mừng, tụi nó nhớ ba lắm. Anh ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe chờ em và con nhé.

Sau khi trình diện với phường khóm, Phan bàn với vợ, anh muốn nàng mua cho anh một chiếc xe xích lô cũ, sau khi đưa con đi học, anh đi đạp xích lô kiếm thêm tiền và đón con về, đỡ đần công việc cho Hồng và dễ liên lạc với bạn cũ. Anh đã có địa chỉ người bạn thân, cùng học trung học La San và ở mấy năm cuối ở tù chung. Nghe nói vợ Hoàng vẫn thăm nuôi chồng đến ngày cuối khi Hoàng được thả năm trước. Hoàng là trung úy Hải quân, Phan hy vọng tìm được bạn, và tìm được cách đi vượt biên nếu Hoàng chưa đi.

Vài tháng sau, Phan đã quen với nghề đạp xích lô, anh đi qua nhà của Hoảng vài lần nhưng chưa dám gõ cửa hỏi thăm. Một buổi chiều, Phan neo xe dưới gốc cây gần nhà Hoàng, thấy có một người đàn ông bước ra khỏi nhà, anh chạy xe tới, không ngờ người đàn ông đưa tay đón xe và muốn ra bến sông gần Cầu Ông Lãnh. Phan nhận ngay ra Hoàng, nhưng Hoàng không nhận ra Phan vì Phan đội mũ rơm rộng vành . Đi đến khúc đường vắng, Phan khẽ gọi
-Hoàng …Hoàng
Người đàn ông trong xích lô kéo vạt che phía sau xe và nhìn lên, Phan bỏ nón ra và cười, Hoàng giật mình
-Phan, phải mày không?
-Hoàng, tao chứ còn ai nữa.
-Trời ơi, sao mà may quá vậy, tao đang nghĩ đến mày. Quay xe lại về nhà tao, nói chuyện cho yên tĩnh.

Đến nhà, Phan đẩy xe xích lô vào sân rồi theo Hoàng vào nhà. Chờ vợ đóng cửa xong, Hoàng nhìn Phan, giới thiệu.
-Phan, đây là Liên, bà xã tao.
-Xin chào chị.
Hoàng quay sang phía Liên.
-Em, anh Phan,” tủ thuốc” trong trại giam, ai hỏi thuốc gì, hầu như cũng có, mà có thì cho. Nếu không có mấy viên thuốc ký ninh anh Phan cho khi anh bị bệnh sốt rét rừng thì chưa chắc anh đã về được nhà.
Liên nhẹ cúi đầu nhìn Phan
-Cám ơn anh.
Phan cười
-Có gì đâu chị, ngày đó tôi cũng không hiểu tại sao bà xã tôi hay gửi nhiều thuốc, về nhà mới biết là bà ấy làm nghề bán thuốc Tây lậu.
-Thế thì may quá.
Liên nói rồi nhìn chồng. Hoàng cười
-Đúng vậy, em cho anh Phan và anh hai chai bia nhé. Chúng ta có chuyện cần bàn.

Khi Liên mang bia lên, Hoàng nói vợ ngồi xuống cùng bàn.
Hoàng kể cho Phan nghe việc anh cùng hai người bạn chung nhau mua ghe đi đánh cá, làm việc được hơn môt năm, đi về nhiều lần để tránh sự nghi ngờ của công an và bây giờ đang chuẩn bị vượt biên. Chỉ có vài gia đình, không lấy khách. Đang chuẩn bị mang lương thực và thuốc men xuống ghe thì không ngờ lại gặp Phan.
Hoàng nhìn Phan, giọng tha thiết và chân thành.
-Phan, tụi tao muốn mời mày và gia đình cùng đi, không cần tiền nong gì cả. Hiện giờ, nhờ mày giúp về việc tải lượng thực xuống ghe và bà xã mày giúp Liên mua thuốc Tây. Tao sẽ nói chuyện với Tiến, nó cũng là dân La San và Khánh tài công, là bạn cùng khóa Hải Quân với tao về việc gia đình mày cùng đi.
Phan nói với nét mặt đầy cảm động
-Tao không biết nói sao cho hết lòng cám ơn mày đã lo cho gia đình tao. Sáng ngày mai, tao sẽ đưa Như Hồng đến gặp chị Liên. Mày cần tao làm giúp được bất cứ việc gì, tao sẽ làm.
-Vậy thì tốt quá, bây giờ tạm thời mày đưa tao đến chợ Cầu Ông Lãnh, tụi nó đang chờ tao.
Hoàng dặn Liên
-Em nói chuyện với chị Phan nhé, chiều mai anh sẽ về.

Phan chở Hoàng đến bờ sông, hai người không nói gì thêm về việc vượt biên, Hoàng xuống xe và đi về phía bờ sông. Phan đạp xe được một khoảng thì có khách đi chợ về, nhà gần trường học của con nên Phan nhận ngay. Hai đứa nhỏ chạy ra khi thấy xe, chào ba rồi lên xe, tíu tít kể chuyện trong trường…lần đầu tiên, Phan cảm thấy yên tâm khi nghĩ đến việc học của con.
Về đến nhà, Như Hồng thấy chồng ngồi bên bàn ăn, đầy vẻ suy tư. Nàng đi thẳng đến bên chồng, giọng lo lắng
-Anh khỏe không, sao không chơi với con?
Phan nhìn vợ, mặt tươi hẳn lên.
-Vào phòng, anh có chuyện vui bàn với em.
Phan kể hết chuyện gặp vợ chồng Hoàng cho Hồng nghe, nàng nắm tay anh, hai vợ chồng cùng yên lặng trong hy vọng, sự may mắn đến quá nhanh. Phan nhìn vợ đầy âu yếm.
-Không ngờ những viên thuốc em gửi cho anh, giúp được bạn bè và đưa đến cơ duyên này.
Phan nói rồi đi ra bàn thờ, anh thắp hương cho mẹ và em rồi cùng Như Hồng cầu xin phù hộ cho cả nhà được may mắn, bình yên đến xứ sở tự do.

Thật là may mắn, như lời cầu xin của hai vợ chồng, sau ba ngày lênh đênh trên biển, ghe của Hoàng và các bạn anh đến đảo Pulau Bidong ở Malaysia an toàn. Và khoảng một năm sau, nhóm bạn bốn gia đình của Hoàng - Khánh- Tiến - Phan, lần lượt được đi định cư ở Hoa Kỳ. Gia đình Phan đi sớm nhất vì Như Hồng có người chị di tản năm 75, ở tiểu bang Maryland, bảo lãnh qua Mỹ và cư ngụ cùng tiểu bang, sau đó là hai gia đình Hoàng và Tiến được bảo lãnh về Virginia, chỉ có gia đình Khánh về Philadelphia. Cả bốn gia đình vẫn liên lạc thường xuyên và hẹn gặp lại vào ngày ghe đến Malaysia, kỷ niệm ngày đặt chân đến miền đất tự do.

Sau nhiều lần nói chuyện và bàn thảo, cuối cùng thì mọi người đồng ý sẽ chọn nhà của gia đình Hoàng ở Manassas, Virginia vì Hoàng thuê được căn nhà nhỏ gần trường học, nơi anh đang làm việc, có chỗ rộng rãi để tụ họp.
Phe nữ, Liên, Hồng, Hoa và Ngọc bàn với nhau nên nấu món gì để đãi các “ chàng “, để cùng chung vui kỷ niệm ngày đến đảo…Liên, chủ nhà sẽ nấu món Cari gà và chè hạt sen, Hồng sẽ làm nhân chả giò và mang đến nhà Hoàng gói chả giò, Hoa làm bánh bông Lan trang trí ngày kỷ niệm. Ngọc vì nhà xa nên hai vợ chồng sẽ đến nhà Hoàng vào chiều thứ bảy, nên muốn mua thịt quay hỏi vào sáng chủ Nhật ở Eden và phụ chiên chả giò cho Như Hồng. Phe nam lo việc di chuyển và sắp bàn ghế. Chưa gặp nhau mà đã rộn ràng vui quá.

Mọi chuyện đúng như chương trình dự định, trong khi các bà nấu nướng chuyện trò vui vẻ dưới bếp, các ông trong phòng khách cũng chẳng kém, ồn ào nhắc lại chuyện xưa…từ những khi còn đi học, tới những ngày chinh chiến rồi đến những năm tháng đi tù cải tạo. Nhắc đến chuyện ở tù, chờ vợ đến thăm nuôi…, ai cũng cảm động khi nghĩ đến những khó khăn gian khổ mà người vợ phải trải qua và giữ được lòng chung thủy với chồng…Hoàng nói nhỏ
-Tôi có ý kiến, hiện giờ các bà đang ở đây và cũng rất khó có dịp gặp nhau như hôm nay, chúng ta còn có gia đình, con cái và hạnh phúc là nhờ sự hy sinh, lòng chung thủy, không quản ngại gian khổ đi thăm nuôi chồng… chúng ta nên nhân dịp này tỏ lòng biết ơn cho các bà vui lòng.
-Ý kiến tuyệt hảo, tôi cũng nghĩ nên làm như thế, nhưng- Phan nói nhỏ hơn- chúng ta mỗi người nói riêng với người của mình- Cám Ơn Em-
-Và, Khánh thêm vào, có lẽ nên tặng một nụ hôn cho thêm lãng mạn dễ thương, ai cũng làm giống nhau cho người mình yêu thương, không để cho bà nào mắc cỡ, từ chối được.
-Đúng như vậy, - Tiến đồng ý- xin anh Hoàng nói trước, giải thích sự kiện và tiến trình cho các chị biết, rồi chúng ta cùng làm thì không ai có thể nhìn và cười người khác được.
Bàn xong, cả bốn ông cùng đi vào bếp làm các bà ngạc nhiên nhìn lên. Hoàng chờ cho mỗi chàng tìm chỗ đứng cạnh nàng của mình, anh đứng cạnh Liên, hắng giọng.
-Xin các chị ngừng tay, tắt bếp, chúng tôi có việc muốn thưa với các chị.
Hoàng chờ mọi người yên lặng rồi lên tiếng
-Xin thưa với các chị Hồng, Hoa, Ngọc và Em Liên, tất cả chúng ta có mặt đông đủ ngày hôm nay để kỷ niệm hai năm ngày đặt chân trên đảo Bidong là nhờ công ơn, lòng chung thủy và sự hy sinh không ngại gian khổ, chăm sóc gia đình và đi thăm nuôi chúng tôi. Chúng tôi xin được nói lời -Cám Ơn Em- với người chúng tôi yêu thương và trân trọng nhất trong đời, và xin được gửi một tặng phẩm vô giá của chúng tôi- một nụ hôn- cho người vợ thân thương yêu quý.

Hoàng nói xong, anh bước lại gần Liên, ôm vai vợ, nhẹ nhàng - Cám ơn em - và hôn lên má nàng.
Phan cúi xuống nhìn vợ, Như Hồng ngước lên, mắt nàng long lanh như ướt, Phan hôn nhẹ lên môi nàng - Cám ơn em - rồi quàng tay qua vai nàng.
Tiến để tay lên tay Hoa, anh là người lớn tuổi nhất, hơi bảo thủ, rất ít khi có những cử chỉ thân mật với vợ chỗ đông người, nên có vẻ ngượng ngùng, anh nói nhỏ - Cám ơn em - rồi chỉ hôn nhẹ lên tóc vợ. Hoa biết tính chồng nên nhìn anh và cười.
Cặp Khánh Ngọc là tự nhiên hơn cả. Ngay sau khi Hoàng nói xong, Khánh ôm vợ và hôn lên môi nàng một cách nồng nàn - Cám ơn em, Anh yêu em.
Một sự im lặng nhẹ nhàng bao phủ quanh căn bếp nhỏ, dường như cả tám người vẫn còn cảm xúc, còn chút dư âm của lời nói, của nụ hôn …cả hai bên, được nói và được nhận, đều cảm thấy lâng lâng niềm hạnh phúc.

Trong bữa tiệc, mọi người đểu vui vẻ với những ánh mắt nhìn nhau đầy nồng nàn trìu mến, các bà thì dịu dàng hơn vì thấy sự hy sinh của mình trong những năm qua được cảm nhận và biết ơn. Còn các ông thì cảm thấy thoải mái khi nói ra được sự biết ơn sâu xa trong lòng trong khung cảnh đồng cảm. Phan yên lặng nhìn Như Hồng mang những đĩa chả giò được bày rất đẹp mắt để trên bàn, dáng nàng vẫn mỏng manh như ngày đầu, anh không thể tưởng tượng rằng nàng đã chăm lo nuôi dưỡng cả gia đình trong suốt hơn bẩy năm anh vắng mặt.

Và trong khi nói chuyện về những cực khổ đói khát bệnh hoạn trong trại tù, Hoàng nhắc lại những viên ký ninh trong “tủ thuốc” của Phan đã cứu mạng anh, Hoàng ngỏ lời cám ơn Như Hồng, Hồng nhìn chồng và Hoàng, giọng đầy cảm động.
-Mẹ anh Phan là dược sĩ, sau lần đi thăm anh Phan ở trại tù trong núi rừng ở miền Trung, bà dặn tôi mang nhiều thuốc Tây cho anh và nhất là thuốc ký ninh vì nơi rừng núi thâm sâu dễ bị bệnh sốt rét rừng. Không ngờ những lời dặn ngày đó giúp anh thoát bệnh hiểm nghèo và chúng tôi được có mặt cùng các anh chị trong ngày hôm nay.

Mọi người vỗ tay, mừng cho những duyên cơ và may mắn…đến khi cắt bánh kỷ niệm hai năm từ ngày đến đảo, ai cũng trầm trồ vì trên mặt chiếc bánh, Ngọc trang trí cảnh bờ biển có hai cây dừa và nhóm người nắm tay nhau từ bờ biển đi vào đảo… xa xa có bóng chiếc tàu. Những cảm giác an toàn, sung sướng khi đặt chân trên đất liền trở lại trong tâm tưởng …mỗi miếng bánh như những ân huệ của cuộc đời.

Tiệc tàn, mọi người ra về trong niềm vui tái ngộ, cùng hẹn gặp lại, nhưng thật buồn vì đó là lần duy nhất cả nhóm được họp mặt. Năm sau, gia đình Khánh Ngọc di chuyển tới Cali vì có người quen giúp Ngọc mở tiệm làm bánh, rồi gia đình Tiến Hoa tới Hawaii ở với chị của Hoa, phụ bán đồ kỷ niệm, khăn quàng… ở những phiên chợ cho khách du lịch. Chỉ còn hai gia đình Phan, Hoàng vẫn ở Maryland và Virginia vì cả hai đều làm việc tại trường công của tiểu bang.

Thời gian qua mau, mọi người đều bận rộn với đời sống trên xứ người, nhưng cả bốn gia đình vẫn liên lạc thường xuyên và đi thăm nhau khi có cơ hội.

Vào khoảng cuối năm 2005, Hoàng bị bệnh ung thư bao tử, ảnh hưởng từ những năm tháng tù đày thiếu ăn và bệnh hoạn. Phan đi thăm bạn thường xuyên nhưng chỉ 4 tháng sau thì Hoàng mất. Khánh từ Cali về cùng với gia đình Phan đến chia buồn với Liên và tiễn bạn lần cuối. Tiến không về được nhưng hứa là đi đón tro cốt của bạn khi Liên mang đến Hawaii để cùng gia đình rải tro trên biển như ước nguyện của Hoàng khi đến thăm gia đình Tiến ở Hawaii mấy năm trước.

Từ ngày con trai lớn vào đại học thì Phan không muốn Như Hồng phải đi làm nữa, dù là công việc làm của nàng nhẹ nhàng, chỉ phụ bán hàng bách hóa và hoa ở tiệm nhỏ bên trong khách sạn Marriott. Tuy không được khỏe và hay bị ho nhưng Như Hồng vẫn muốn đi làm, phụ giúp chồng để cuộc sống gia đình được thoải mái. Mấy năm sau này, Như Hồng cảm thấy yếu hơn và khi Phan muốn nàng nghĩ việc để có giờ nghỉ ngơi vì sau khi đi làm về còn lo cơm nước cho gia đình, nàng nghe lời, và khi rảnh rồi thì trồng thêm hoa trong vườn.
o O o

Thế rồi, Phan chớp mắt, tiếng xào xạc của những chiếc lá trên sân làm anh như tỉnh lại ...Phan không thể nào ngờ được Như Hồng bỏ anh lại một mình, ra đi sau một cơn bệnh viêm phổi. Tưởng rằng anh sẽ ở bên nàng cho đến cuối đời, để được săn sóc cho người vợ mỏng manh yếu đuối, để được cám ơn, được đền bù lại những hy sinh của nàng để cho anh có một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Tám năm trôi qua, từ ngày Như Hồng mất, ngày nào Phan cũng hái hoa để lên bàn thờ cho vợ, pha cà phê cho nàng , kể cho nàng nghe chuyện gia đình… Em à, gia đình Tí Anh mới về thăm nhà, cháu nội Kevin đã đi học, cháu giống hệt như bố nó ngày anh đi “tù cải tạo” về, đến trường đón hai anh em nó, chỉ khác là ba nó đón con bằng xe hơi… còn ông nội đón ba nó bằng xe xích lô với cái mũ rơm rộng vành trên đầu… Tí Em mới lập gia đình, hai vợ chồng đẹp đôi lắm. Con gái khóc khi lễ gia tiên vì nhớ mẹ… Anh cảm thấy đã yếu đi rất nhiều…chỉ mong đến ngày được gặp lại em.

Ý Nhi Nguyễn thị Dung

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Lời Sám Hối Muộn Màng - Sáng Tác: Trần Văn Khang - Trình Bày: AI


Sáng Tác: Trần Văn Khang
Trình Bày: AI

Mưa Paris

 

Mưa Paris giọt buồn rơi thánh thót 
Cơn mây chiều giăng nỗi nhớ quê hương. 
Thu đến sớm lá hôm qua vàng vọt, 
Gió nửa khuya rụng nhiều chiếc bên đường! 

Mưa mãi dột trên phận nghèo rách tả, 
Lên mảnh đời phiêu bạt trắng ước mơ! 
Tháp Eiffel lặng yên hồn ta ngả, 
Khải Hoàn Môn quen những gót ơ thờ! 

Mưa trút nước Paris nhòa phong cảnh, 
Trời vào thu gía buốt tiết mùa đông. 
Trong quán ấm điếu thuốc tàn vẫn lạnh 
Ngoài công viên rét mướt mấy nụ hồng! 

Mưa thổn thức ôm nỗi lòng phố Huế 
Nhìn sông Seine mà ngỡ nước sông 
Hương Ðây thành quách vết thời gian trầm phế, 
Thời hoàng kim ôi một thoáng vô thường! 

Mưa Hà Nội bỗng chợp chờn lối ngõ 
Phố cổ xưa màu sắc lẫn Paris. 
Ðã lâu lắm quên mùa xuân tuổi nhỏ, 
Chưa một lần về lại chốn ra đi! 

Mưa rả rích Paris càng thơ mộng 
Thương Sài Gòn mưa ngập lối nhà em. 
Lá me rơi con đường tình gió lộng, 
Áo em bay thơ một thuở say mèm! 

Rượu không uống mà hồn ta bỏng cháy 
Chút tình quê nào ai hiểu lòng ta! 
Sông uốn khúc ngược hai dòng vẫn chảy, 
Ðời quanh co, mưa vỡ trên phím ngà! 

Ðỗ Bình
France

Chiều Trên Phá Tam Giang

 
 

Chiều nghiêng lặng lẽ ven sông, 
Gió đưa nhánh cỏ, mây bồng bay xa. 
Bèo trôi theo bóng chiều tà, 
Người xưa khuất nẻo, trăng ngà lửng lơ. 
Anh về thăm Sịa tình thơ, 
Nhắn giùm đôi tiếng, đợi chờ nhớ thương.
Ly hương mấy độ đoạn trường, 
Ngày về bái tổ, khói hương gọi mình. 

Trần Đại Bản 
Virginia Thu, 2025 

Chim Huyền Thoại Và Thực Tế

 

 Chim được coi là biểu tượng mang nhiều ý nghĩa phong phú trong các tác phẩm văn chương Việt. Trong bài viết này, tôi không đề cập tới chim Lạc là một sinh vật truyền thuyết của người Việt cổ và được xem là vật tổ của cư dân thời kỳ văn hóa Đông Sơn trong buổi đầu hình thành nước Văn Lang-Âu Lạc. Tôi chỉ muốn chia sẻ đôi điều về biểu tượng loài chim được miêu tả và diễn đạt bằng nhiều thể loại khác nhau qua các câu ca dao tục ngữ, thi ca, và văn xuôi.

 Trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ, hình ảnh của các loài chim thường được sử dụng qua lối ẩn dụ như sau:
“Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe” 

hay
“Chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần không lấy, đi lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm đôi đũa, tách trà ai nâng.”

hay
Chim trời ai dễ đếm lông,
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày

hay
Chim lạc bầy thương cây nhớ cội,
Xa bạn xa bè, lặn lội tìm nhau.

 hay
Một con chim én không làm nên mùa xuân.

Một số tác giả của những tác phẩm văn xuôi cũng thường dùng lối ẩn dụ, nhân cách hóa hay lồng những hình ảnh chim vào những áng văn để làm sinh động quang cảnh, không gian hay diễn tả  tâm trạng, những ý nghĩ thầm kín và khát vọng của mình.Ví dụ như cảnh chim chuyền cành, bay lượn trên không trung hay hót líu lo, véo von…

 Cho dù sử dụng nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ hay văn phong khác nhau như thế nào, các văn thi sĩ tiền bối Việt Nam đã để lại một kho tàng hết sức quý báu đối với việc lưu lại kinh nghiệm, truyền tải những lời khuyên sâu sắc đối với các thế hệ con cháu. Tuy nhiên, trong nguồn tài nguyên trí tuệ ấy, có những lối ẩn dụ và so sánh về loài chim không hoàn toàn chính xác.

 Ví dụ như mục đích câu tục ngữ: Chim có tổ, người có tông  nhắc nhở mỗi người trong cuộc đời  đều có nguồn gốc, gia đình, dòng họ và tổ tiên, tương tự như chim có tổ là nơi chúng trú ngụ  và được mẹ/cha chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đến lúc lớn luôn. Đây là một câu nói mang tính khuyên răn, dạy dỗ, nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người với cội nguồn, quê hương và  tổ tiên giòng tộc. Nhưng, thực tế khi chim ra ràng rời tổ, chúng không bao giờ quay về tìm lại cái tổ mà chúng từng được cha mẹ chim nuôi nấng. Và chúng cũng không có khả năng nhớ hay nhận biết con chim nào là cha mẹ, ông bà, cô bác hay anh em của chúng. Nếu quan sát kỹ đời sống của chim, ta sẽ nhận thấy là chim chỉ thích đồng hành với con chim “đối ngẫu” để cùng bay đó đây, bất kể cùng trời, cuối đất. Ngoài ra, còn có loại chim thích sống theo đàn. Đàn bay đến đâu chúng theo đến đó. Tuỳ theo thời tiết, chúng theo đàn bay xa ngàn dặm, tránh  xa vùng khí hậu lạnh lẽo, rồi bay trở lại chốn cũ khi mùa Đông trôi qua. Tuy nhiên, có lúc, chúng không trở về chốn cũ mà ở luôn nơi vùng đất mới, tuỳ thuộc vào ý thích của các con chim trong đàn.

Hình ảnh ẩn dụ của chim trong ca dao Việt Nam thường mang nghệ thuật cao khi nói về thân phận con người,  cách ứng xử và kinh nghiệm  trong cuộc sống. Tuy nhiên có những lối so sánh không hợp lý như câu

Chim khôn đậu nóc nhà quan.”  Hình ảnh ẩn dụ chim trong câu này ngụ ý về con người và nhà quan mang hàm ý là nơi an toàn, nơi có chức quyền mà con người có thể tựa vào hay nhờ cậy được. Thực tế, không phải con chim nào cũng có thể đậu nơi an toàn. Tuỳ theo khả năng của nó và môi trường thiên nhiên nơi chúng ở, chúng có thể tìm những nơi an toàn để trú ngụ hay không. Thô thiển hơn, ta có thể nói: chim không có khả năng tìm nơi an toàn, cho dù chúng khôn ngoan đến mức độ nào. Và cũng có thể những nhà quan/ nơi an toàn không tạo cho chúng cơ hội được đậu hay trú ngụ. Cũng như không phải con người thông minh nào cũng có  thể  tựa vào nơi có chức quyền để trông cậy.

 Tương tự câu “Như chim liền cánh như cây liền cành” đề cao sự gắn bó mật thiết, không thể tách rời,  câu ca dao “chim bay về tổ có đôi” mang ý nghĩa đôi uyên ương luôn bên nhau, thường sánh đôi, sánh bước cùng nhau. “Về tổ” mang ý nghĩa về nhà, về nơi trú ngụ; nhưng thực tế, không phải chim có đôi, có bạn mới về tổ. Người hay chim cũng có thể về nhà hay về “tổ” một mình không cứ chi phải có đôi, có cặp.

 Hình ảnh trong câu Chim vàng đậu nhánh mai vàng vẽ nên bức tranh  đẹp của sự tương hợp giữa hoàng yến là chim vàng trên cành hoa mai vàng, một loài hoa thường nở vào mùa xuân. Nhưng thực tế, chim hoàng yến đậu bất cứ loại cây hay loại hoa nào thuận tiện khi chúng di chuyển trong môi trường chúng đang sinh sống chứ không phải chỉ đậu trên cành mai nở hoa vàng trong mùa Xuân.

 Trong văn xuôi cũng có nhiều câu so sánh về hình ảnh đẹp đầy tính nghệ thuật của các loài chim. Tuy nhiên, có những câu so sánh không hoàn toàn đúng với thực tế. Ví dụ như câu: “Ước gì anh có đôi cánh chim, anh sẽ bay đi khắp chốn tìm em…” Thực tế, không phải con chim nào có cánh cũng có thể bay được. Bản thân người viết từng nuôi chim trong mười năm hơn, chứng kiến nhiều con chim Yến Phụng từ lúc sinh ra đời đến lớn không thể bay dù có lông cánh đầy đủ. Những con chim này chỉ có thể dùng chân và mỏ để bám víu các vật gần kề khi muốn  di chuyển lên cao. Không khác loài người chúng ta, có những người có hai chân đầy đủ nhưng không thể đi được vì chứng bệnh bẩm sinh nào đó. Cho nên, nếu dùng hình ảnh đôi cánh của chim để có thể tự do bay khắp chốn chỉ là lối ví von huyễn hoặc. Trong lịch sử Việt Nam, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từng nhấn mạnh rằng “Chim Hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở sáu trụ xương cánh!” Như thế, ngay cả chim Hồng hộc có cánh to rộng cũng phải có trụ xương vững. Chim hay người muốn theo đuổi chí lớn cần phải có điều kiện sức khỏe và ý chí rèn luyện.

Cũng từ vấn đề này mà khi ta thả chim nuôi ra khỏi chuồng cho chúng được tự do không đúng với ý nghĩa của hai chữ “phóng sanh”. Những con chim quen sống trong môi trường được chăm sóc kỹ, chúng rất sợ khi bị đưa ra ngoài trời. Nhất là những con chim bị khuyết tật. Chúng sợ bị chụp bắt ăn thịt bởi những con chim ó hay diều hâu. Và như vậy, thiện ý “Phóng sanh” cho trường hợp này đưa đến kết quả trái ngược, có thể gọi là “Phóng tử”

Khi nhìn những con chim bay trong không trung hay đậu trên những cành cây cao, chúng ta khó xác định giới tính. Ngoại trừ, vài loài chim có màu sắc và đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể đoán được là chim trống hay chim mái. Cho nên, hình ảnh “Chim mẹ mớm mồi cho con” nhằm đề cao tình mẫu tử của loài chim trong các đoạn văn xuôi có khi mắc phải sai lầm. Thực tế, không phải chỉ có chim mẹ mớm mồi cho con mà chim cha cũng mớm mồi nuôi con thay vợ. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy có những con chim trống thường cư ngụ gần tổ chim để canh chừng, bảo vệ và chăm sóc cho vợ con chúng. Chúng thường kêu to báo động khi phát hiện sự nguy hiểm từ những con thú rình mồi, hay bay về trông tổ chim con khi chim mẹ bay đi kiếm ăn, và cũng thường xuyên thay chim mẹ mớm mồi nuôi con. Khi chim con ra ràng, những con chim trống cũng thường quấn quýt bay theo chim mẹ khi con chim này dạy cho chim con tập bay.

Có những đoạn văn tả tiếng chim hót vui tươi đón chào nắng mới để làm tăng lên sự hân hoan của loài lông vũ trước  vẻ đẹp của bình minh hay của mùa Xuân…Tuy nhiên, nếu có dịp quan sát tường tận loài chim, chúng ta sẽ rõ những tiếng chim kêu to rõ mang âm hưởng đặc biệt  mà ta chưa từng được nghe  không phải là “ tiếng hót hay, tiếng hót vui mang lại điềm may mắn trong mùa nắng ấm!” mà là lời oán trách của con chim trống đối với sự lạnh lùng từ chối của con chim mái mà nó ưa thích hoặc là những tiếng than trách thân phận cô đơn, bị giam cầm trong cái lồng nhỏ bé, thay vì được tung cánh bay lượn trong không gian ấm áp, tươi đẹp ngoài kia.

 “Đôi chim tình tứ, quấn quýt hôn nhau và rỉa cánh cho nhau trên cành.” là câu văn miêu tả hết sức sâu sắc hình ảnh gắn bó của đôi uyên ương. Nhưng thực tế, chim không hề biết hôn môi và  hình ảnh đôi chim quấn quýt bên nhau ấy, có khi không phải là hình ảnh của chim trống với chim mái.

Hình ảnh một con chim kề mỏ vào mỏ một con chim khác chỉ là hình ảnh  tưởng tượng đầy thi vị về đôi chim đang hôn môi nhưng thực tế, đó chỉ là hành động của việc san sẻ thức ăn cho nhau. Sau khi chim ăn hạt hay côn trùng, thực phẩm sẽ chứa vào trong mề. Khi chim muốn tán tỉnh con chim khác giới, chúng sẽ dụ dỗ bằng cách nôn/ ói thức ăn trong diều lên cuống họng rồi truyền thức ăn này vào mỏ con chim kia. Hình thức giống như cách chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tuy nhiên, không phải chỉ có chim trống mới hào hiệp tiếp thực phẩm cho chim mái qua cách này. Có những con chim, bất kể là trống hay mái, có tính hào hiệp thường chăm sóc những con chim yếu đuối không thể bay đi kiếm ăn, bằng cách tiếp thức ăn qua cách này để giúp con chim ấy khỏe hơn.

Có thể nói rằng: Nếu chúng ta sử dụng ẩn dụ và so sánh không đúng với thực tế, chúng ta không thể thuyết phục độc giả một cách tuyệt đối.

Sự ví von về các loài chim qua điển tích và truyện cổ được lưu truyền qua những lời kể truyền miệng  hay các văn bản chữ viết đã giúp cho  các thế hệ tiếp nối mặc niệm về biểu tượng của các loài chim như : Chim khách báo hiệu điềm may mắn, vui vẻ, cú là điềm xui xẻo, tang chế, chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình, chim cò là hình ảnh lam lũ, tần tảo của phụ nữ, tu hú là loại chim tráo trở, phượng hoàng tượng trưng cho sự cao quý….

Những ý niệm nhân cách hóa về các loài chim được lưu truyền trong dân gian và trong văn chương Việt đã trở thành những biểu tượng về tính chất và thân phận con người. Những ví von này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ Việt mà còn là hình thức  mà ông cha ta nhắc nhở con cháu về các giá trị đạo đức và cách đối nhân xử thế. Tuy những ý niệm này giúp chúng ta tự soi chiếu bản thân và  thấu hiểu các giá trị sống qua thế giới loài chim nhưng thế giới điển tích và truyện cổ của ông cha vẫn còn có những giai thoại khiến ta cần phải phân tích kỹ lưỡng sự đúng, sai.  Nếu không, ý niệm về một loài chim qua một giai thoại sẽ dẫn đến sự so sánh sai lầm từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Điển hình là giai thoại   trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi gọi chim sẻ là kẻ tiểu nhân khi ông đi sứ nhà Nguyên năm 1308. Khi vào phủ Tể tướng nhà Nguyên, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thấy một bức trướng thêu hình con chim sẻ vàng đậu trên cành trúc. Ông tưởng là chim thật, chạy đến bắt khiến quan quân nhà Nguyên cười ồ chế giễu. Ngay lập tức, Mạc Đĩnh Chi đã giật bức trướng xuống và xé toạc nó. Khi bị chất vấn, ông bình thản giải thích rằng: “Người xưa chỉ vẽ chim sẻ đậu cành mai, chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là biểu tượng của quân tử, sẻ là vật mọn của tiểu nhân. Tể tướng treo bức tranh này là để tiểu nhân trên quân tử, tôi sợ đạo của thánh hiền bị suy đồi nên phải trừ đi.”

Câu trả lời của Mạc Đĩnh Chi đã giúp ông thoát khỏi tình huống bị chê cười và còn thể hiện sự am tường sâu sắc về văn hóa đồng thời tỏ rõ sự tôn trọng đối với Nhà Nguyên (triều đình phương Bắc lúc bấy giờ) khiến cho quan quân nhà Nguyên thấy lời của Mạc Đĩnh Chi đúng với đạo lý.

 Nhưng chính sự giải thích có tính cách khẳng định này song song với quan niệm của Á Đông về tính cách “quân Tử” đối lập với “ tiểu nhân” thời ấy đã khiến mọi người mặc định  loài chim sẻ là tiểu nhân tầm thường khi so sánh đối lập hình ảnh loài chim đại bàng uy vũ và dũng cảm, hay loài chim phượng hoàng cao quý và bất tử.

Từ đó, trong quan niệm văn chương cổ điển, chim sẻ thường bị gọi là “kẻ tiểu nhân”. Trong nhiều điển tích, chim sẻ (tước) được đặt cạnh chim én (yến) để minh họa  sự đối lập giữa những người tầm thường với những người có chí lớn. Câu nói của Trần Thắng thời Tần “Yến tước an tri hồng hộc chi chí tai?” (Chim sẻ, chim én sao biết được chí hướng của chim hồng hộc?) đã khẳng định về tính chất thấp kém của loài chim này.

Hơn nữa, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272–1346), bậc thánh hiền thông  minh xuất chúng, đạt chức vụ Đại Liêu Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng), được vua nhà Nguyên  tán phục phong làm Lưỡng quốc Trạng nguyên (năm 1308) sau khi trổ tài ứng biến qua bài phú “Hoa sen trong giếng ngọc” (Ngọc tỉnh liên phú), thì  tính tiểu nhân của loài chim sẻ qua giai thoại về bức họa chim sẻ đậu cành trúc cứ thế mà lan truyền, được thuộc lòng và trở thành mặc định từ đời này sang đời khác. Điều này khiến cho kiến thức về loài chim sẻ trong các câu chuyện dân gian truyền miệng không có đủ sức để phản biện.  Làm sao những kẻ bé cổ thấp miệng có thể chạm vào những lý lẽ đã được minh định một cách vững chắc?

Thực tế, “chim sẻ” có tính "tiểu nhân" như  trong quan niệm xưa cũ không?

Chúng ta không thể căn cứ vào thân hình nhỏ bé, đầu óc nhỏ bé để kết luận sự thấp kém, thiếu ý chí và tâm địa nhỏ nhen tiểu nhân của loài chim sẻ. Khi khẳng định đặc điểm, tính cách  của một sinh vật, chúng ta chỉ tựa vào thân thể,  hình dáng và thể chất của một sinh vật ấy rồi kết luận qua cảm tính  thôi sao? Hay đơn giản chỉ lập lại những quan niệm của đạo đức xưa cũ? Rồi phớt lờ quá trình quan sát, ghi nhận, và tổng hợp những kết luận xác thực.

 Cho dù  chúng ta đã rõ đặc điểm của loài chim có mỏ quặp như đại bàng/ diều hâu  là loài chim hung dữ và có thể xé tan xác con mồi mà chúng bắt thịt trong khi loài chim sẻ có mỏ nhọn, không quặp là giống chim hiền lành không hề  làm tổn thương con vật khác, chúng ta cũng không thể kết luận rằng chim sẻ hiền hơn đại bàng, hay đại bàng hung ác hơn chim sẻ.  Tương đồng như thế, chúng ta không thể nói những chim sẻ có thân hình nhỏ bé là tầm thường, là không quân tử, không chí lớn như những con chim có thân hình to lớn, hùng dũng như chim đại bàng. Mỗi loài sinh ra trên trái đất có đặc điểm khác nhau và chúng ta không nên so sánh một cách phiến diện và khập khiễng giữa loài này với loài khác, cho dù đồng loại hay khác loài.  Người viết bài này có thể khẳng định rằng: Trong loài chim sẻ, có những con chim sẻ tiểu nhân và cũng có những con chim sẻ quân tử. Trong loài chim đại bàng, có những con chim đại bàng tiểu nhân và những con đại bàng quân tử. Và trong các loài chim khác cũng thế!

 Chúng ta không nên kết luận vội vã rằng: Con chim to lớn có thể bay cao, vượt cuồng phong giữa trời giông bão là uy dũng can đảm, mà chúng ta cần quan sát những con chim sẻ, chỉ dùng chiếc mỏ nhỏ bé của chúng để “khuân/tha” những miếng rơm rạ, vỏ cây, nhành lá to lớn hơn thân thể của chúng gấp đôi ba lần để làm tổ, chúng không dung cảm sao?  Chúng ta cũng cần quan sát cảnh các chú chim sẻ tần tảo bới những đống tuyết cao để kiếm mồi trong mùa đông giá lạnh và sự đoàn tụ quây quần của chúng  khi kiếm ăn hay di chuyển từ nơi này sang nơi khác theo đàn để xóa tan ý nghĩ cho rằng chim sẻ là kẻ tiểu nhân. Gán cho chim sẻ chữ tiểu nhân là cách nhân hóa dựa trên quan điểm đạo đức xưa cũ, và không chính xác.

Trong thực tế, chim sẻ  không phải là  kẻ thiếu ý chí, thích soi mói, chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt hay hạ  thấp kẻ khác mà là  loài chim có ích  cho các cánh đồng  nông thôn với hình ảnh nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và linh hoạt. Chúng là những con chim chăm chỉ, kiên trì, sống theo đàn một cách hồn nhiên, yêu đời và đoàn kết.

Theo thiển ý của người viết đề tài này là chúng ta cần thấy rõ những điều bất hợp lý trong văn chương Việt để tránh sử dụng lối so sánh khập khiễng, bất hợp lý làm sai ý nghĩa hình ảnh và đời sống của các loài chim.

 Cung Thị Lan
Maryland 17/1/2026

Cung Lan gửi thêm vài hình ảnh và Video Clip



Đông Ơi Đừng Vội


Lìa cành lá rơi
Thu qua mất rồi
Đông buồn sắp về
Hồn nghe tái tê

Đông ơi chậm thôi
Ta đang vẫn ngồi
Bên dòng nước cạn
Nghe chiều nhẹ trôi

Mây bay lững lờ
Thu buồn hắt hiu
Trời chiều dịu êm
Ta ngồi đợi đêm

Xa xa tiếng chuông
Nghe thăm thẳm buồn
Con chim lẻ loi
Nhìn quanh ngó quanh

Thu chưa muốn đi
Đông buồn vội về
Ta ngồi đợi mưa
Nghe cơn gió đùa....

Phạm Phan Lang
2/12/2020

Bài thơ Đông Ơi Đừng Vội đã được nhạc sĩ Mai Hoài Thu ưu ái phổ nhạc và biến thành một ca khúc sâu lắng, trữ tình. Ca khúc được trình bày bởi ca sĩ Đông Nguyễn, với giọng hát truyền cảm, nồng nàn.

Cũng từ bài thơ này và cũng với giai điệu Blues nồng nàn này của nhạc sĩ Mai Hoài Thu, nhạc phẩm Đông Ơi Đừng Vội đã tiếp tục được ca sĩ Nhất Chi Mai trình bày. Giọng hát đầy cảm xúc kết hợp với giọng bè nhẹ nhàng, lâng lâng ở cuối mỗi đoạn, khiến người nghe không khỏi xao xuyến và bồng bềnh trong một không gian cảm xúc rất riêng.

Xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Mai Hoài Thu, ca sĩ Đông Nguyễn và ca sĩ Nhất Chi Mai, những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và đến gần hơn với người nghe.


Nhân ngày đầu Đông, xin mời quý vị cùng nghe lại bài hát cũ và kính chúc Merry Christmas & Happy New Year.

Thân kính,
Phạm Phan Lang
***
English version

Don’t Hurry, Winter

One late autumn day five years ago, when winter hesitated at the doorstep, I wrote the poem "Don’t Hurry, Winter."

Don’t Hurry, Winter

Leaves fall from branches
Autumn has slipped away
Winter’s sorrow approaches
My soul feels so forlorn

Oh Winter, slow down
I’m still sitting here
By the shallow stream
Listening to the gentle flow of the evening

Clouds drift aimlessly
Autumn’s sadness lingers
The sky soft and serene
I sit waiting for the night

In the distance, a bell tolls
Its sound echoes with sorrow
A lone bird
Looking around, searching

Autumn doesn’t want to leave
Winter rushes in with sadness
I sit waiting for the rain
Listening to the playful breeze….

Pham Phan Lang
2/12/2020

The poem "Don’t Hurry, Winter" was lovingly set to music by composer Mai Hoai Thu, transforming it into a song rich in depth and emotion. The piece was beautifully performed by singer Dong Nguyen, whose heartfelt voice conveys both passion and tenderness.

This same poem, with the soulful Blues melody of composer Mai Hoai Thu, was later performed by singer Nhat Chi Mai. Her rendition, enhanced by gentle harmonies at the end of each stanza, creates a uniquely ethereal and mesmerizing listening experience.

I would like to express my heartfelt gratitude to composer Mai Hoai Thu, singer Dong Nguyen, and singer Nhat Chi Mai for breathing life into this modest poem with their extraordinary melodies and voices, helping it soar to new heights.

As the first days of winter arrive, I invite you to enjoy this song and wish you Merry Christmas & Happy New Year.

Sincerely,
Pham Phan Lang

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Trở Về - Sáng Tác:Châu Kỳ - Trình Bày: Phạm Gia Nghị & Vương Đức Hậu


Sáng Tác:Châu Kỳ
Trình Bày: Phạm Gia Nghị & Vương Đức Hậu
Trình Bày:Hoàng Khai Nhan

Chiều Hạ Tím

 

Chiều hạ tím đã đưa ta đi dạo
Trời đất mênh mông, én liệng, oanh chào
Xa xa từng đợt sóng biển dâng trào
Hôn lên bờ cát mịn màng, êm ả

Trên lối phượng hồng, giai nhân thư thả
Từng đôi uyên ương sánh bước bên nhau
Vòng tay thiên nhiên xua tan niềm đau
Ghế đá công viên chờ người trong mộng

Trên cánh buồm vàng ngoài khơi gió lộng
Những cặp tình nhân tha thiết bên nhau
Bao nỗi sầu theo bọt sóng tan mau
Lòng thanh thản, nhẹ tênh, như cánh vạc

Đời đẹp quá! bên tai ta biển hát...
Bản tình ca vang vọng từ xa xăm
Ta lắng nghe lời của gió thì thầm…
Em hiện hữu, ánh chiều lên tím ngát

Trái tim ta hoài cô đơn, đói khát
Cám ơn em đã đến đẹp kiêu sa!
Tình yêu nồng nàn, son sắt, thiết tha
Chỉ một cái nhìn, suốt đời thương nhớ

Vinh Hồ
Oct. 28, 2025
(Trích trang 122, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)
*Bài này đã được NS Troy Tran đưa vào MV nhạc.

Gương Hùng Soi Sử Việt

 

Ngày vào xuân biển gào cơn phẫn nộ
Bạc đầu dâng thành lũy chống Hán gian
Chiến hạm vẫy vùng. Hải pháo rền vang
Đàn con Việt lại kiêu hùng Sát Thát!

Từng cơn sóng cuồng bừng bừng vỗ nhạc
Khí thế dân Nam lẫm liệt chiến trường!
Sống trọn Nghĩa Tình. Thác gửi quê hương
Vì tổ quốc, Biển cùng Người quyết chiến!

Từ ngàn xưa khi sơn hà nguy biến
Cha ông liều mình tiến bước xông pha
Nay hậu sinh có Thành Trí, Văn Thà
nêu chí cả của Con Hồng, Cháu Lạc!

Đã 52 năm san hô nghe biển hát
khúc liệt oanh truy điệu những anh linh
74 người con đã vì nước quên mình
thành trầm tích trong một ngày thủy táng!

Sóng vỗ bờ xa qua từng năm tháng
nghe như lời bi tráng của trùng dương
nhắc cháu con nhớ mãi chí quật cường
của người Lính Cộng Hòa trong hải chiến.

52 năm! Bằng “Tấm Lòng Của Biển" (*)
đảo san hô vang vọng bản hùng ca
Tận ngàn sau ...Hoàng Sa hỡi Hoàng Sa
mãi là tấm gương hùng soi Sử Việt!

Huy Văn

( Kính dâng hương linh Chiến Sĩ các cấp
đã hy sinh tại Hoàng Sa ngày 19-01-1974 )
(*) Tựa tuồng cải lương của soạn giả Hà Triều- Hoa Phượng

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ Thông Báo Phát Hành Tập Sách “Một Thoáng Hương Xưa" - Lê Thị Kim Oanh - (Y Thy Võ Phú)

 

Kính gửi quý văn thi hữu,

Sau gần một tháng miệt mài trình bày nội dung, thiết kế hình bìa và điều chỉnh qua nhiều lần để đạt được sự hoàn chỉnh tốt nhất, tập sách “Một Thoáng Hương Xưa” của văn thi sĩ Lê Thị Kim Oanh đã chính thức được gửi đến nhà in để tiến hành in ấn và chuẩn bị phát hành.


Tác phẩm dày 463 trang, khổ lớn 6 x 9, gần 100 bài viết gồm tản văn, tùy bút, bút ký, truyện ngắn… kèm theo hình ảnh minh họa, phản ánh một không gian ký ức phong phú, giàu cảm xúc và chiều sâu nhân bản. Đây là kết quả của một quá trình lao động chữ nghĩa nghiêm túc, bền bỉ và đầy tâm huyết của tác giả.

Nhân dịp này, Võ Phú xin được bày tỏ lòng tri ân chân thành đến quý văn thi hữu đã quảng đại ủng hộ về mặt tài chánh, góp phần giúp các văn thi hữu (đặc biệt là những người chưa có tác phẩm riêng) có cơ hội hoàn thành và ra mắt đứa con tinh thần của mình. Sự nâng đỡ quý báu ấy không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần lớn lao cho sinh hoạt văn học chung của chúng ta.

Trân trọng kính mời quý văn thi hữu dành thời gian đọc bài Tựa của tập sách, như một lời dẫn nhập để cùng bước vào thế giới văn chương đầy hoài niệm và tinh tế của “Một Thoáng Hương Xưa.”

Kính chúc quý văn thi hữu luôn dồi dào sức khỏe, an vui trong đời sống, và tiếp tục đồng hành, nâng đỡ nhau trên con đường chữ nghĩa.

Trân trọng kính chào,
Võ Phú
===

Từ Long Hồ Đến Xứ Người: 

Một Không Gian Ký Ức Mang Tên Một Thoáng Hương Xưa của Văn Thi sĩ Lê Thị Kim Oanh

Một Thoáng Hương Xưa là tập sách đầu tay của văn thi sĩ Lê Thị Kim Oanh, một cây bút trưởng thành từ Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; vùng đất hiền hòa thấm đẫm phù sa và ký ức. Rời quê hương sang Úc Châu, bà mang theo trong hành trang tinh thần của mình những kỷ niệm sâu lắng về gia đình, làng xóm và những năm tháng tuổi thơ. Suốt hơn bốn thập niên sống nơi xứ người, ký ức ấy không phai nhạt mà trái lại, được bà bền bỉ gìn giữ, chưng cất và nuôi dưỡng qua từng trang viết.

Một Thoáng Hương Xưa không chỉ đơn thuần là sự tập hợp của gần 100 bài tản văn, hồi ký, bút ký, thơ và truyện ngắn; mà còn mở ra một không gian ký ức giàu cảm xúc, nơi “hương xưa” của quê nhà được nâng niu và hồi sinh. Ở đó có bóng dáng thân thương của gia đình, những con đường làng, mái trường cũ, thầy cô tận tụy và một thời áo trắng học trò trong veo. Bằng giọng văn chân thành, nhẹ nhàng mà thấm sâu, Lê Thị Kim Oanh đã chắt chiu từng mảnh ký ức, lưu giữ chúng với tất cả sự trân trọng và yêu thương, để Một Thoáng Hương Xưa trở thành không chỉ là một cuốn sách, mà còn là nhịp cầu nối liền quá khứ với hiện tại, quê hương với xứ người, và trái tim người viết với người đọc.

Lê Thị Kim Oanh lớn lên tại xã Trung Ngãi, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; từng theo học Trường Nữ Trung Học Tống Phước Hiệp, bà mang trong mình một nền tảng ký ức rất đậm đặc về miền Tây sông nước và mái trường nữ sinh ngày cũ. Sau biến cố lịch sử, bà định cư tại Melbourne (Úc) từ cuối năm 1979. Dù phải tiếp tục học tập, đi làm và thích nghi với cuộc sống mới, nhưng văn chương vẫn luôn song hành như một mạch ngầm bền bỉ. Với bà, viết không phải để “làm văn”, mà là để giữ lại những gì đang dần phai mờ theo thời gian.
Cuốn sách Một Thoáng Hương Xưa đúng như tên gọi: không ồn ào, mà lan tỏa bằng những thoáng hương ký ức rất nhẹ, rất thật.

Nội dung sách trải rộng trên nhiều đề tài quen thuộc nhưng giàu chiều sâu nhân bản:
Gia đình, đặc biệt là hình ảnh cha mẹ với những hy sinh thầm lặng qua các bài viết như: Bản Đồ Của Má, Ba Má Mãi Mãi Là Mùa Xuân, Cây Bông Giấy Của Ba, Cây Hoa Giấy 31 Năm Tuổi Của Ba, Cùng Má Kể Chuyện Đời Xưa!, Cuốn Tự Điển Sống!, Đêm Xuân Trò Chuyện Cùng Má!, Hành Trình Của Mẹ, Lưu Vật Dấu Yêu Một Thời Của Ba Má, Tưởng Nhớ 25 Năm Giỗ Ba...

Thầy cô và mái trường xưa, nơi trường Tống Phước Hiệp, Long Hồ, Vĩnh Long được nhắc lại nhiều lần như một miền ký ức không thể tách rời qua các bài viết: Kỷ Niệm Ngày Về Trường Xưa, Lời Cho Thầy Châu Văn Kiêm, Lời Cuối Cho Người Thầy Kính Thương, Đêm Hội Ngộ Kỷ Niệm 55 Năm Thành Lập, Tưởng Nhớ Cô Trần Thị Mỹ Trang, Tiếc Thương Thầy Dương Hồng Đức..., Ước Mơ Mãi Là Học Trò Nhỏ....
Tuổi học trò và tuổi thơ, với những hình ảnh đời thường thân thương: Cô Bé... Ngỗ Ngáo, Trái Me Dôn Dốt, Nhất Quỷ Nhì Ma Thứ Ba Học Trò...

Bên cạnh đó, sách còn ghi lại những bút ký du ngoạn qua nhiều không gian văn hóa khác nhau: từ Úc Châu, Anh Quốc, Canada, California, đến các nhà thờ, viện bảo tàng, những chuyến đi vừa mang tính địa lý vừa mang tính nội tâm: ABBA Voyage in London và Ước Mơ Của Tôi, Bốn Mươi Mốt Năm Sau Nơi Xứ Người 1974-2015, Buồn Vui Tị Nạn, Cambridge University và Thành Tựu Của Con, Đại Hội Thánh Mẫu La Vang Melbourne, Du Ngoạn Bằng Phà Từ Melbourne City Đến..., Viện Bảo Tàng Di Dân Melbourne, Úc Châu, St Michael And All Angels Bedford Park..., St. Paul's Cathedral, London Và Niềm Tin..., Úc Châu Hội Ngộ Houston...

Ở những trang viết này, người đọc thấy rõ một tâm hồn Việt luôn tìm cách đối thoại giữa ký ức quê nhà và hiện tại xứ người, giữa niềm tin, hoài niệm và hành trình hội nhập.

Văn phong của Lê Thị Kim Oanh mộc mạc, chân thành, thiên về tự sự và hồi tưởng. Bà không chủ trương cách tân hình thức hay dùng thủ pháp cầu kỳ; thay vào đó, bà để cho cảm xúc đi chậm, lắng sâu, và lan tỏa tự nhiên. Chính sự giản dị ấy tạo nên sức lay động: mỗi bài viết như một lời tâm sự nhỏ, nhưng góp lại thành một bức tranh lớn về đời sống tinh thần của người Việt xa xứ, đặc biệt là thế hệ phụ nữ mang theo ký ức quê hương trong vai trò người con, người mẹ, người gìn giữ nếp nhà.

Một Thoáng Hương Xưa vì thế không chỉ dành cho riêng tác giả, mà dành cho tất cả những ai từng có một miền tuổi thơ để nhớ, một mái trường để thương, một quê hương để quay về trong ký ức. Đây là một cuốn sách đọc chậm, đọc để lắng lại, để nhận ra rằng: giữa bao đổi thay của đời sống tha hương, hương xưa vẫn còn đó, chỉ cần có người đủ kiên nhẫn và yêu thương để gọi tên nó bằng chữ nghĩa.

Với tập sách đầu tay này, văn thi sĩ Lê Thị Kim Oanh đã âm thầm ghi dấu một tiếng nói riêng: tiếng nói của ký ức, của ân tình, và của một tâm hồn Việt luôn hướng về cội nguồn; dù đã đi xa nửa vòng trái đất.

Y Thy Võ Phú
Richmond, Virginia
Ngày đầu năm 2026
-----------------
Y Thy Võ Phú