Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Bên Ngài - Sáng Tác & Pianist: Phạm Quang Học - Trình Bày Lê Quốc Tuấn


Sáng Tác & Pianist: Phạm Quang Học
Trình Bày Lê Quốc Tuấn

Tỉnh Thức

 
Dẫu Giáng Sinh về thiếu bóng anh
Đôi đầu xưa thệ tròn chung thủy
Lẻ bóng nay cầu víu mộng xanh
Vang vọng hồi chuông mời tỉnh thức
Ngân nga ca Thánh động tâm thành
Tạ ơn Thiên Chúa dìu con bước
Dẫu Giáng Sinh về thiếu bóng anh.
Đêm đông thui thủi lạnh thôi đành

Kim Oanh
Noel 2025

Sài Gòn Nỗi Nhớ....

 

Bao kỷ niệm Sài Gòn nỗi nhớ....
Của một thời xuân sắc mộng mơ
Tuổi học trò cặp sách tình thơ
Hồn thả mộng chân trời rộng mở...

Mái trường xưa bạn bè mỗi ngã
Thời gian trôi vầng tóc phai màu
Kẻ phương trời còn nhớ đến nhau
Hình ảnh cũ một thời xuân sắc

Nửa thế kỷ.... đường xưa lối cũ
Bao đổi thay còn mất đổi dời..?
Tình vẫn còn nghĩa hữu khắp nơi
Còn lưu dấu dẫu mờ năm tháng...

Sài Gòn xưa ... dòng đời viễn xứ
Người Sài Gòn rãi bốn phương trời
Tình vẫn dài cánh nhạn xa xôi
Cùng chia sẻ góc buồn lữ thứ....!

Ngư Sĩ

Thơ Tặng Con Gái Ba Miền - Khuyết Danh

 

Con gái Bắc kỳ vốn đảm đang
Lại còn ăn diện rất thời trang
Áo lụa dịu dàng ôm dáng ngọc
Hài nhung, xuyến bạc thật là sang !

Con gái Trung kỳ tính chắt chiu
Có tiền tiện tặn chẳng thích tiêu
Vóc hạc, xương mai, thân bồ liễu
Chữ tốt, văn hay, rất đáng yêu !

Con gái miền Nam vốn thật thà
Đơn sơ nón lá, áo bà ba
Nước trong, gạo trắng, hoa đồng nội
Tình nghĩa đong đầy đất phù sa

Ba miền chung một mẹ Âu Cơ
Ngôn ngữ Bắc Nam dệt thành thơ
Cửu Long thơm ngọt câu thưa, dạ
Sông Hồng, Hương thủy đẹp như mơ!


Khuyết Danh 
Nguyễn Tích Lai Sưu tầm

Tơ Lòng Còn Vương - Kỳ 3


Xa em đi như trong cổ tích
Gặp nhau rồi sao để mất nhau (thơ Th.H)

Lời của Đằng lúc 19 tuổi:
Tôi giờ là người vừa chớm bước qua tuổi trưởng thành, đang chuẩn bị thi cuối năm thứ nhất ngành Chính Trị Kinh Doanh, Viện Đại Học Đà Lạt.

Năm năm trước, gia đình chúng tôi đã chuyển đến một tỉnh thuộc vùng cao nguyên theo bước đường binh nghiệp của ba.

Ba tôi là dân chính gốc quê vừa có biển lẫn sông với chi chít những kinh rạch ruộng đồng, nơi anh em tôi được sinh ra và sống hết thời niên thiếu. Còn má tôi gốc Đà Lạt. Thỉnh thoảng ba hay nói đùa gia đình tôi tiêu biểu dòng dõi Con Rồng Cháu Tiên: ba là hậu duệ ông Lạc Long Quân sinh ở biển, má là con cháu bà Âu Cơ sinh ở núi nên phải chia thời gian lên non xuống biển mà sống cho đồng đều. Nhưng khi nào tàn chiến tranh rời binh nghiệp ba sẽ về sống trên quê nhà miền biển.

Mấy hôm trước khi đi, má tôi buồn dàu dàu vì tiếc vườn hoa sợ không ai chăm sóc chúng sẽ lụi tàn. Khoảng sân trước trồng cỏ, vài gốc mai vàng, cây bông sứ, bông giấy. Mảnh sân sau mới thực sự là một thiên đường nho nhỏ của má với nhiều kỳ hoa dị thảo, vài cây đại thụ ít ai biết tên. Đa số là những cây hoa khá hiếm tên rất thơ mộng tưởng chỉ có trong sách vở. Ai có dịp thấy cũng trầm trồ hỏi má sưu tầm đâu ra các loại thực vật nầy. Cũng dễ hiểu vì má là con gái Đà Lạt, nhà ông bà ngoại làm nghề trồng hoa nên từ nhỏ má đã được đắm mình trong cái không gian mỹ miều ảo diệu cơ man là hoa, niềm đam mê đó đeo bám má là điều tự nhiên thôi. Thỉnh thoảng má vẫn nói:
–Tiếc là má sinh toàn con trai, chả có một tiểu thư nào để má truyền cho cái thú chơi hoa và chăm sóc chúng.
Anh Khải, anh Phúc cãi:
–Có tụi con nè. Nhờ vườn hoa của má mà con lấy cảm hứng sáng tác nhạc, còn Phúc thì làm bao nhiêu bài thơ rồi đó.
–Thôi các cậu ơi, viết nhạc làm thơ để đi tán gái là giỏi chớ có chịu tiếp má chăm sóc vun trồng gì. Ừ mà tụi con phải lo học chớ không phải chỉ ngồi mơ với mộng nghe, đó mới là mục đích chính à.
–Thì tụi con cũng học giỏi vậy chỉ thua anh Tường chút xíu, làm thơ viết nhạc để giải trí chớ có để tán gái đâu má.
Anh Khải chống chế. Ba phụ hoạ:
–Ba cưới má tụi con cũng nhờ cái vườn hoa của ông bà ngoại nhé. Hồi đó ba học trường Võ Bị Đà Lạt, mỗi khi được nghỉ ba và vài người bạn hay ra ngoài lang thang chơi, tình cờ một hôm đi ngang vườn hoa của ông bà ngoại thấy cô gái tưới cây lạ lạ, sao trước đó ba cũng đi ngang mấy lần mà đâu thấy. Vừa gặp là ba như bị sét đánh trúng ngay tim luôn, hoa đã đẹp mà người tưới còn đẹp hơn. Một đoá hoa nổi trội giữa một rừng hoa đó nghe. Thế là tuần nào cũng giả bộ lân la có chút ít tiền chỉ để dành mua hoa thôi, thời gian sau ông ngoại biết nên hỏi toẹt rằng: mục đích cậu đến mua hoa hay là để thăm con gái tôi vậy. Ba thú thật thế là ông ngoại nói nếu con gái tôi đồng ý thì cậu về thưa cha mẹ cậu lên đây tôi gả.
–Trời, ba là lính mà cũng lãng mạn dữ a.
Các anh chọc, má lắc đầu nhưng cười có vẻ sung sướng:
–Thật cha nào con nấy.
Ba và anh Tường vẫn hay giúp má tưới cây lúc rảnh. Còn anh Khải, Phúc và tôi thì khi nào má sai mới chịu làm. Nhất là tôi, phá thì siêng thôi.

Căn nhà cất trên đất của ông bà nội chia cho mỗi người con nên không bán. Tạm thời giao cô Sáu em của ba trông nom, cô ở xa thị xã nên cho mấy người con trai tức em họ của tôi đến ở để đi học trường tỉnh cho tiện. Tuy họ vai em nhưng tuổi bằng anh Khải anh Phúc trở lên nên tôi gọi bằng anh. Cô Sáu thuê một phụ nữ lớn tuổi đến nấu ăn giặt giũ cho các anh.
Thỉnh thoảng nghỉ hè hay dịp tết chúng tôi trở về chơi thì thấy quả đúng như sự lo xa của má. Những cây đại thụ, gốc mai, sứ vẫn sống nhưng mấy giàn hoa đã chết hết hoặc khô cằn lơ thơ vài chiếc lá.
Nhưng không trách các anh được. Vì họ cũng chỉ là mấy thiếu niên tuổi chơi và học, làm gì có thời gian và kinh nghiệm mà chăm sóc hoa kiểng.

Ba tôi xuất thân binh nghiệp nên muốn các con trai phải mạnh mẽ, luôn khuyến khích chúng tôi phát huy một môn thể thao nào đó để rèn luyện sức dẻo dai chịu đựng nhiều nhất có thể. Lúc nhỏ mỗi khi tôi đi chơi về quần áo lấm lem ướt nhẹp bùn đất hoặc rách te tua, má cằn nhằn dơ quá giặt không sạch doạ cho tôi mặc đồ vá chứ không tiền mua hoài thì ba binh vực:
–Thôi em chịu khó với cha con anh đi. Trời bắt số em phải khổ nên mới sanh toàn con trai chớ không cho con gái rồi– Nói tới đó ba nháy mắt với anh em chúng tôi–Đã là trai thì phải hùng dũng tập dần từ nhỏ cho quen, thể chất mạnh thì mới kéo theo tinh thần mạnh được. Em cấm nó không được dơ thì nó không dám nhúc nhích, ru rú như con gái suốt ngày trở nên yếu đuối sau này sao thành cây tùng cây bách phục vụ đất nước và là chỗ dựa cho vợ con nhờ được. Con trai phải vùng vẫy dọc ngang mới là con trai em à.

Kể cũng lạ, là tôi hay nghe người ta khen ba má tôi có phước sinh toàn con trai. Ngược lại nhà ai chỉ sinh con gái thì họ nhất định phải cố để có con trai nối dõi, có nhiều bà mẹ chồng do nàng dâu không sinh trai nên xúi con bỏ vợ cưới người khác cho khỏi tuyệt tự. Tôi biết là ba không quan trọng chuyện con là trai hay gái, đôi lúc nghe ba ước phải chi nhà có một cô con gái để nhìn con nũng nịu, làm duyên làm dáng. Ừ nhỉ, nhiều khi chính tôi cũng mong mình có một cô em để được làm anh ra oai che chở, hoặc sai biểu nầy kia...
Khi nghĩ về em gái, tôi giả sử Trúc Đào là em để tôi sai khiến mà không ngăn được mỉm cười. Gì chứ chắc không có chuyện Trúc Đào vâng lời tôi đâu, có khi ngược lại nữa là khác căn cứ vào sự bướng bỉnh tự kiêu của nhỏ. Nếu Trúc Đào là em gái của mình thì tôi sẽ hãnh diện lắm đây.

Được ba ủng hộ nên bốn anh em tôi đều thích thể thao. Bóng bàn, bóng chuyền, bơi lội, đá banh, đánh cờ tướng...Mỗi thứ một ít, riêng anh Tường thì rất giỏi bóng bàn. Cờ tướng cả ba anh đều khá, thường tranh tài cao thấp với ba. Riêng tôi thì tệ nhất. Cái gì tôi cũng thử nhưng không cái nào ra hồn hoặc là tôi nghĩ thế. Có lẽ vì các anh ai cũng quá giỏi nên tôi bị lu mờ.
Có một lần tôi khóc tức tưởi vì chơi cờ tướng thua thảm hại, lúc đầu các anh để tôi thắng nên hí hửng tưởng mình tài nhất, ai dè cuối cùng bị chiếu tướng. Má tội nghiệp ôm tôi vô lòng và trách các anh không nhường em, anh Tường anh Khải hơi ân hận nên an ủi:
–Đằng chưa kinh nghiệm mà chơi vậy là giỏi rồi. Mai mốt lớn lên em sẽ qua mặt các anh cho xem.
Anh Phúc nói:
–Chơi cờ cũng giống như ra trận. Nếu đánh nhau mà không dốc hết tài dụng binh để bị thua quân sĩ chết hết tướng cũng chết theo làm sao.
Bị thua hoài tôi nản không chịu chơi cờ nữa.
Rồi tôi học đánh đàn với anh Khải. Có lẽ hợp nên tôi tiến bộ nhiều, mong một ngày nào đó mình chơi được nhạc cổ điển như anh vậy.
Lại mơ nếu mình đàn giỏi, lớp có tổ chức văn nghệ mình sẽ vừa ôm đàn vừa hát những bản tình ca cho tụi con gái nhất là Trúc Đào lé mắt. Giống như mấy lần tết có văn nghệ toàn trường, anh Tường anh Khải ôm đàn ngồi hát, mấy chị lớp lớn ngồi ngơ ngẩn lắng nghe vậy.
Chưa kịp thực hiện điều ước thì tôi phải vội vã ra đi. Má nói:
–Thôi thì cũng có cái hay là được gần ông bà ngoại, các cậu dì.

Anh Tường đi du học Mỹ được một năm do điểm học bạ từ lớp đệ thất (6) tới đệ nhất(12) đều giỏi và đậu tú tài hạng ưu. Anh Khải chuẩn bị thi tú tài toàn phần nên ở lại trường cho hết năm chứ không chuyển. Chỉ anh Phúc và tôi theo ba má đi Đà Lạt.
Lúc đó tôi đang học lớp 8 tức đệ ngũ được nửa năm.

Tôi vừa buồn vừa náo nức. Buồn vì rời xa trường lớp thầy cô bạn bè thân thuộc từ bao nhiêu năm nay. Náo nức vì sắp được khám phá, được quen biết thêm những thầy cô, bạn bè mới. Dù sao tôi chỉ là một đứa con trai 14 tuổi hãy còn vô tư mà.

Năm học nầy lũ con trai chúng tôi thôi chơi những trò bắn bi, vật lộn, đá dế… Các cô gái cũng hết còn chơi nhảy dây, lò cò mà bắt đầu làm dáng với những sợi bandeau cài tóc, hoặc thắt hai bím cột nơ đổi màu mỗi ngày ...

Tôi “nhổ giò” ốm nhom cao nhòng, má phải xuống lai quần cách ba tháng một lần. Số là anh em tôi được hưởng gien ba má, ngoài ra còn chơi thể thao nhiều nên ai cũng cao hơn trung bình. Nhưng chúng tôi chỉ bắt đầu tăng trưởng ở khoảng tuổi 13,14 chứ trước đó thì cũng lẹt đẹt –hèn gì Trúc Đào mới xem thường tôi là con nít–.

Má rút kinh nghiệm các anh nên lúc may quần thì trừ hao may dài hơn 5cm rồi lên lai. Chờ khi quần hơi ngắn thì xuống 2,3 cm cho vừa mặc. Như vậy khi lai quần không còn cm nào để xuống nữa thì cũng vừa hết năm học, tiết kiệm được một số tiền không nhỏ cho bốn cậu con khoẻ mạnh “vai năm tấc rộng, thân mười thước cao“.

Mấy ngày đó chỉ có ba là bình thản, còn má và mấy anh em đều chộn rộn nhất là anh Phúc. Tôi thấy tối tối anh cứ ngồi ghi ghi chép chép cái gì vào một quyển tập bìa cứng giấy trơn láng trắng tinh mà không phải vở học trò, thức rất khuya. Tôi ngủ một giấc, thức dậy vẫn thấy anh còn ngồi đó với quyển tập. Tôi đùa:
–Sao anh không đi ngủ làm gì thức khuya vậy. Bộ làm thơ tặng chị nào hả?
Tưởng nói chơi ai dè là thật, anh trả lời:
–Ừ anh viết cho chị Loan, định nhờ Đằng mai đi học đưa cho chị dùm anh.
Loan là chị học lớp đệ tứ (lớp 9) sau anh Phúc một năm.
–Sao anh không tự đưa mà kêu em? Rủi tụi bạn em thấy tưởng em trồng cây si chị sao.
–Thôi ráng giúp anh đi, anh không có can đảm đâu.
–Gì mà nhát như thỏ. Người trông mạnh mẻ tự tin thế mà sợ con gái là sao?
–Ừ nói hay lắm. Để chờ đến phiên em đi rồi sẽ thấy.
Anh năn nỉ quá nên tôi nhận lời với điều kiện anh cho tôi xem ít nhất một bài thơ anh viết trong quyển tập đó.
–Trời đất, thơ tình mà đòi xem, phải biết tôn trọng sự riêng tư chứ.
–Em hứa chỉ xem thơ chớ không xem thư tình. Thư tình mới là riêng tư, còn thơ
anh viết tặng ai mà không được, mấy ông thi sĩ làm thơ cho cả triệu người đọc đó thì sao.
–Thôi muốn đọc thì đọc, lý sự quá. Mà chỉ một bài thôi nhen.
Anh Phúc đồng ý. Tôi mở trang đầu, nét chữ anh Phúc vốn đẹp sẵn nay viết cho bạn gái càng bay bướm hơn.

“Xa em đi như trong cổ tích
“Gặp nhau rồi sao để mất nhau!


Tôi bình luận lung tung:
–Ôi nghe buồn quá. Vậy thì anh đừng để lạc mất, mai mốt đi xa cứ gởi thơ cho chị đều đặn là chị không quên anh.

Lật sang trang, lại đọc thêm bài thơ khác:

Em nép vai gầy
Hiền như cọng cỏ
Tóc mây tung xoã
Dang cánh đời bay

Em nép vai gầy bên lá hoa
Hiền như cọng cỏ dưới chân ta
Tóc mây tung xoã theo chiều gió
Dang cánh đời bay quá ngọc ngà
(Th.H)

–Úi chà chà, nghe dễ thương ghê,”em”trong bài thơ nầy giống y dáng chị Loan nhỉ. Tôi ba hoa.

Thơ anh Phúc viết cho bạn gái – chưa hẳn–, vì chỉ có anh đang yêu thầm chị Loan mà chưa dám tỏ, giờ sắp xa thì mới quáng quàng mượn thơ để nói lên nỗi lòng, đã vậy còn không dám tự tay đưa phải nhờ trung gian là tôi chứ chị Loan đã biết đâu. Bình thường anh Phúc có phải kẻ nhút nhát gì cho cam, cuối năm rồi anh đại diện cho khối lớp 9 đứng ra đọc bài cảm tạ ban giám hiệu cùng thầy cô trước toàn trường do chính anh viết lời cơ mà. Bài anh được mọi người khen ngợi vỗ tay quá trời, anh vốn giỏi văn chương.

Ủa, mà hình như với hai câu thơ giản dị đó, anh Phúc cũng nói hộ tâm trạng tôi vậy ta. Xa em? “Em nào”của tôi? Thấp thoáng bóng hình Trúc Đào vụt đến, tôi lắc đầu: không phải đâu. Tôi 14 tuổi, vẫn chỉ là một đứa trẻ mới hôm trước còn khóc nhè vì thua cờ tướng đây. Tôi với Trúc Đào đâu trao đổi chuyện trò gì bao giờ. Mỗi khi có dịp túm tụm cùng nhau, thường nhỏ chỉ im lặng lắng nghe mọi người nói rồi cười phụ hoạ mà thôi. Nhỏ vẫn siêng học, càng lớn càng nghiêm trang và xinh đẹp. Tôi biết có nhiều anh lớp trên đang ngắm nghía nhỏ, ngay trong lớp tôi nữa. Nhưng ở Trúc Đào toát lên dáng vẻ xa cách, kiêu kỳ khiến tụi nó kháo nhau là đừng mơ mộng xa vời cho mất công tụi mình không đạt được đâu. Rồi đứa khác nói ai cấm tụi mình mơ nào, được hay không đâu thành vấn đề, cái chính là mình cứ nuôi dưỡng giấc mơ cho cuộc đời phong phú lên.

Tôi nghĩ thầm: Chúng mầy là một lũ ngốc!!!

Ở ngôi trường mới tôi làm quen với những gương mặt mới, cách sinh hoạt mới cuốn hút tôi vào quỹ đạo của nó nên không còn thời gian nghĩ ngợi nhiều như những tuần đầu tiên. Hơn nữa, tôi chưa hề trải qua cảm giác nhớ nhung sâu sắc kiểu như:

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng bay
(Paris có gì lạ không em, Nguyên Sa)

Mà chỉ là thoáng xao động mỗi khi ánh mắt Trúc Đào và tôi giao nhau một vài giây ngắn ngủi. Rồi hết. Vì vậy, cùng với khoảng cách không gian hình ảnh các bạn cũ cũng nhạt nhoà dần trong cái thằng tôi ăn chưa no lo chưa tới.

Trong năm năm qua, tôi được ba má cho về quê biển nghỉ hè hai lần. Lần cuối năm lớp 9 và lần sau khi thi xong tú tài phần một. Lúc nầy đã thôi chạy xe đạp, mà mượn chiếc xe Honda 67 của các anh con cô Sáu tìm các bạn trai cùng nhau ra phố. Tập tành vào quán uống cà phê, hỏi thăm tin tức mọi người thì hay có người lên xe hoa, người bỏ học giữa chừng vì sinh kế, người đổi đi trường khác, anh Nam trưởng lớp vào lính vì đến tuổi quân dịch v..v.. Còn Trúc Đào? Tôi ngập ngừng chưa kịp hỏi thì Mạnh kể rằng nhỏ cũng thi đậu tú tài, nghe đâu giờ có nhiều cây si lắm kể cả mấy ông sĩ quan lính tráng.
–Thế nhỏ có “bồ” không?
– Làm gì không, hoa khôi của trường mà. Có điều chả thấy đi chung với ai hết.
Nghe nói Trúc Đào không đi chung với ai tự nhiên tôi thấy lòng vui vui. Vì sao thì tôi không giải thích được. Tôi thử chạy xe ngang nhà vài lần nhìn trộm vô xem có thấy bóng dáng nhỏ, mà đều thất vọng.

Đêm cuối trước buổi sáng quay về Đà Lạt lũ bạn hẹn nhau đi ăn chè ở quán nhạc cà phê của gia đình Hồng bạn học cũ, bất ngờ gặp Trúc Đào. Tim tôi nảy lên một nhịp vì vui sướng. Cũng là tình cờ Trúc Đào đi với cô em gái ghé qua thăm Hồng chứ không biết tôi về chơi. Gặp tôi ngoài phạm vi lớp sau mấy năm vắng mặt, Trúc Đào cởi mở vui vẻ chứ không cách biệt ngại ngùng như xưa. Đây là lần đầu tiên chúng tôi ngồi nói chuyện trực diện, dù chỉ những lời thăm hỏi thông thường mà sao tôi nghe lòng lâng lâng kỳ lạ.

Mới được một lát thì cô em gái Trúc Đào đòi về. Nhỏ quay qua tôi phân trần:
–Chào Đằng, chị em Trúc Đào phải về đây, vì đi từ chiều hơi lâu sợ ba má lo. Chúc mai Đằng lên đường bình yên.

Tôi muốn ngăn nhỏ đừng về vội, muốn nói một điều gì khác hơn những câu thăm hỏi thông thường, muốn hỏi Trúc Đào có bằng lòng cho địa chỉ nhà để liên lạc thư, muốn nắm níu thời gian bên cạnh Trúc Đào lâu hơn nhưng có gì chận ngôn ngữ không thoát ra khỏi miệng. Chỉ nói yếu xìu:
–Ừ, chị em Trúc Đào về nhé.

Dõi nhìn theo hai chị em, làm như thể nhờ ánh mắt thôi miên điều khiển Trúc Đào quay trở lại được vậy. Nhưng không, nhỏ đã đi rồi!
Hụt hẫng như để vuột mất một báu vật. Cảm giác ấy càng tăng khi nhận ra sao mình ngốc đến nỗi không đề nghị lấy xe hộ tống hai chị em để kéo dài thêm giây phút được gần nhỏ.

Dạo sau nầy tôi đọc sách nhiều hơn, tuy không biết làm thơ như anh Phúc nhưng biết thưởng thức. Thật khuya quán chuẩn bị đóng cửa bọn con trai chúng tôi mới chịu đứng lên. Bước ra đường, nhìn lên cao đáng lẽ có ánh trăng nhưng bị mây đen giăng báo hiệu sắp mưa, chợt nhớ mấy câu thơ của thi sĩ Nguyên Sa:

Mai tôi ra đi chắc trời mưa
Tôi chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào thì cũng phải xa nhau (Paris)

Ừ, chậm thế nào thì cũng phải xa nhau thôi Trúc Đào ơi, vậy thì đừng hối tiếc đã không đề nghị đưa nhỏ về nữa.

Trở lại Đà Lạt, năm cuối trung học vùi đầu vào bài vở nên dần dần tôi cũng nguôi ngoai. Ở trường có một cô bé học lớp 10 dáng dấp gương mặt từa tựa Trúc Đào, gợi tôi nhớ nhỏ quá. Mỗi lần thoáng thấy cô bé là tim tôi đập sai nhịp cứ tưởng người xưa. Chỉ nhìn rồi thôi, tôi không làm quen với em vì tôi không muốn có hình ảnh ai khác khoả lấp hình ảnh Trúc Đào trong lòng tôi, và vì tôi chắc chắn một ngày nào đó tôi sẽ gặp lại Trúc Đào. Để làm gì chưa biết, nhưng tự sâu trong tiềm thức tôi tin chúng tôi sẽ còn hội ngộ, chỉ là sớm hay muộn.

Tôi thi đậu tú tài toàn phần, biết má buồn vì con cái đi xa hết nên tôi vào ngành Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt để được gần má. Anh Tường viết thơ về đều đặn, hình chụp thấy anh cao to càng phong độ chín chắn hơn. Anh được cấp học bổng tiếp lên cao học do thành tích xuất sắc. Anh Khải học ba năm ở Viện ĐH Bách Khoa Thủ Đức thì có lệnh tổng động viên nên anh tình nguyện vào quân ngũ. Anh Phúc đang học Sư Phạm Saigon cũng nối gót anh Khải. Ba tôi nói:
–Ít ra con trai của ba cũng phải vậy mới xứng đáng làm trai chứ.
Má tôi triết lý:
–Nghĩ con người cũng không khác loài chim. Lúc nhỏ thì sống quây quần bên cha mẹ anh chị em, đến khi có đủ lông đủ cánh thì mỗi đứa bay đi một phương trời tít tắp, tạo dựng một tổ ấm mới. Người già thì yếu đuối bịnh hoạn rồi chết.
–Cuộc sống là thế, như chúng mình khi xưa cũng rời bỏ ba má đi triền miên vậy thôi. Ba nói.

Xuân về. Thành phố ngàn hoa đua nhau khoe hương sắc: mai anh đào, mai đỏ, phong lan, mimosa, trà mi, tử đằng, dã quỳ, oải hương, hoa hồng, hoa hướng dương...nhưng tôi không thấy lòng xôn xao như bao mùa xuân trước. Trong tôi có những trăn trở, những suy tư. Kiểu như: Tôi là ai? Tôi hiện diện trên đời này để chi? Tôi sẽ làm gì mang hạnh phúc cho bản thân, gia đình và tổ quốc?

Tôi chưa kịp tìm ra lời giải đáp cho những câu hỏi trên thì thần chiến tranh đã hung hãn thổi tràn lên vạn vật quét sạch đi mọi ước mơ mọi hoài bão của cả thế hệ.

(Còn tiếp)
Thanh Hà



Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Come Home On Winter Holidays - Về Nhà Ngày Lễ Mùa Đông


Thực Hiện:Magnolia Cao Tran

Xuân

 

Mây bay lờ lững trên trời
Nước sông vẫn chảy, cuộc đời vẫn tươi
Mùa Xuân về với mọi người
Với em với những nụ cười ngàn duyên...
Với lời cầu nguyện thiêng liêng
Chúc em an hưởng tân niên thanh bình!
Chúc người thân, chúc gia đình
Vui tươi mãi mãi trong tình mùa Xuân!

Chu Diệp

Tưởng Niệm Hòa Thượng Tuệ Sỹ Tôn Kính 1943-2023

 

Con ở phương xa hơn nửa vòng trái đất 
Đọc sách Thầy qua Internet hàng ngày 
Lòng biết ơn và tôn kính lâu nay 
Biết về Thầy nhưng chưa có duyên gặp mặt

Thầy TUỆ SỸ, vị Chân Sư tận tâm uyên bác 
Trọn cuộc đời viết Phật Pháp dịch kinh 
Thường khuyên Phật Tử tinh tấn tu hành:
                Người Chân Tu 
        Lấy Trí Tuệ làm sự nghiệp

Thầy uyên thâm Kinh Luật Luận Đạo Pháp
Thông thạo ngôn ngữ Pali, Hoa, Đức, Pháp, Anh.
Đem Giáo Lý Phật khai sáng tâm linh 
Cho đại chúng mở khai trí tuệ.

Sách nổi tiếng là "Tổng Quan Về Nghiệp"
Tập thơ hay "Giấc Mộng Trường Sơn"
Thơ tĩnh lặng "Thiên Lý Độc Hành" 
Kinh, sách, thơ, văn nhiều không kể xiết.

Chợt tin buồn hơn một tháng trước! 
Tin thật buồn Hòa Thượng đã về Trời!
Cánh hạc bay xa, vượt khỏi thế giới này
Vào Tháng 11, Năm 2023, Ngày 24

Tại Việt Nam, Thầy là Vì Sao sáng
Một Vì Sao rực sáng đã đổi ngôi
Ra khỏi trần gian, ảo ảnh cuộc đời
Thầy về thế giới bất sanh bất diệt

Đời tu hành, bị nhiều gian nan oan nghiệt!
Tất cả vì dân tộc, đạo pháp, quê hương 
Thầy ra đi, trần gian đang lạc lối mù sương!
Thế giới đang âu lo chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh!
Nay Thầy đã về Niết Bàn vô vi thanh tịnh 

Thầy Tuệ Sỹ, Pháp Danh Ngài sẽ lưu trong sử sách
Vị Chân Sư, Vị Điều Ngự Trượng Phu  
Có đôi mắt đậm sâu, sáng rực, hiền từ
Chứa đầy nghị lực,Từ Bi, Trí, Dũng

Trọn đời, viết sách cho dân tộc đạo pháp
Triển khai về nguồn gốc Vũ Trụ, Vạn pháp, 
Nghiệp quả, Tánh Không 
Lời Thầy dạy đầy chân-thiện-mỹ, ái từ 
Kính sách Thầy sẽ lưu chuyển ngàn thu 

Chúng con, hàng hậu học: 
Nguyện tiếp thu lời Thầy dạy
Vô cùng xúc động, khi tin Thầy Viên Tịch 
Bàng hoàng thay, Hòa Thượng đã về Trời!
Tưởng nhớ Thầy, Tâm con giòng lệ rơi!

A DI ĐÀ PHẬT 

 Hoàng Thục Uyên 
 Viết ngày 10/01/2024 
 (Viết bài Thơ này khoảng 1 tháng sau khi HT Viên Tịch)

Dạy Con



Bạn tôi kể:

Hồi nhỏ Ba mình dạy Toán cho con gái thường dùng những thí dụ dễ hiểu như vầy:
-Nếu con bưng một nồi cà ry từ bếp lúc 3 giờ, đến nhà ông Ngoại để biếu là 4 giờ 10 phút. Vậy con đã đi với vận tốc bao nhiêu cây số 1 giờ?
Má hỏi: -Cái nồi nặng bao nhiêu ký vậy anh?
Ba rộng lượng với mấy con số bất chợt: -Riêng cái nồi không 4kg, thêm 9 lít nước, 1kg thịt gà, 2kg vừa khoai tây, khoai lang vừa cà rốt, sả, hành, tỏi, tiêu, ớt và 1 trái dừa. Con tính luôn xem là nguyên nồi càry nặng bao nhiêu kg đi?

Má nói: -Con thưa với Ngoại là: món này Ba nấu lỏng bỏng vậy tha hồ cho bà Ngoại chấm bánh mì, khỏi cần nhai, nhưng Ba quên bỏ cà ry và quên mua bánh mì rồi, Ngoại sai con Nụ đi mua giùm Ba.
Rồi quay sang Ba, Má hỏi: Mà nồi có nắp không anh?
Ba thương con: -Nắp chi nữa cho nặng con nhỏ?
Má lo lắng: -Không có nắp thì con trừ hao đi: đến nơi sẽ đổ hết một nửa trọng lượng, không mỏi tay đâu.

Ba sợ đổ: -Vậy con ra vườn hái một tàu lá chuối to, rửa thật sạch, rồi đậy lên thì đi đường nước không sóng sánh ra đất, vừa nhẹ lại vừa tránh bụi bặm.
Má chu đáo: -Nếu bụi bay lên lá chuối nhiều quá thì con đi chầm chậm không thôi bụi nó… ăn hết… “cà ry” nha con.
Rồi cũng Má thắc mắc: -Mà nồi nóng không anh?
Ba trấn an: -Ấm thôi! Cho khỏi phỏng con gái cưng! Khi nào dùng, bà Ngoại sẽ hâm lại cũng được.
Má lại lo xa: -Nóng hay lạnh thì con bé cũng không thể bưng nỗi cái nồi nhiều ký thế kia đâu anh.
Ba có ngay một biện pháp: -Anh Hai sẽ khiêng phụ con!
Má phản đối: -Đứa cao tồng ngồng sẽ nghiêng hết sức nặng về phía con bé tí teo này. Anh đâu muốn nàng út… tắm “cà ry” phải không nè? Sao anh không đổi cái nồi “cà ry” khổng lồ nặng trịch kia thành một cái giỏ trái cây nhẹ nhàng êm ái hơn cho con gái?

Ba đuối lý nên cho một bài toán rất “xì trum” (Les Schtroumpfs*): -Ừ thì một cái giỏ gồm vừa hoa quả, vừa trứng gà, bánh, kẹo là… 5,1 kg
Má vẫn còn lo: -Giỏ nặng không anh?
-Chỉ 132,65gr thôi, tính luôn cái… nắp gài lại để giữ cho hoa tươi và trái cây bà Nội mới hái không bị rớt dọc đường!
Má rành rẽ: -Người ta bảo: “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, ai lại bỏ trứng và hoa tươi chung với trái cây thế kia thì còn gì… đời hoa? Con cầm hoa trên tay nha!
Con bé ngây thơ vô số tội tính toán thật hà tiện: -Dạ cứ để hoa trong giỏ! Tay của con phải cầm viết thì mới tính bài toán này được.
Để coi: 5 kg thì chắc là trong giỏ có 1 trái ổi, 1 trái xoài tượng, 2 trái me dốt, 2 trái cốc, 10 trái chùm ruột, gói muối ớt và 1 vòng hoa vạn thọ để con và nhỏ Nụ chơi trò Cô Dâu.

Ba còn đang ngơ ngác thì Má đã nhắc tuồng: -Con không thêm ô mai, xí muội cho đủ trọng lượng Ba đã yêu cầu sao?
-Dạ! Hổng ấy thêm 1kg hột dưa và mứt dừa nghen Má? Con Nụ nó hổng thích ô mai!
-Ừ! Để Má lấy trái dừa trong nồi “cà ry” của Ba ra làm mứt, bề nào thì không cà ry cũng phải có dừa cho Ba con vui.
Ba đầu hàng: -Thôi hôm nay con qua đó tính với cháu Nụ xem thử vận tốc là mấy km/1 giờ đi?
Kể từ mai, lớp Toán sẽ chỉ còn mỗi một giáo sư và 2 đứa học trò thôi, nhớ nhắc cháu Nụ qua sớm!
Má đắc thắng: -Hai giáo sư dạy một học trò thì mới giỏi chứ anh! Em cũng dạy toàn những điều hữu lý, có ích cho sự suy nghĩ của con mà!
-Dứt khoát chỉ hai học trò và một giáo sư! Anh chỉ muốn dạy cho con tập tính toán cho mau, em vừa… rề rà vừa… rầy rà quá… như vậy thì nên ở trong phòng mà làm… thơ đi!
Ừ mà con có nhớ cách tính bài toán này không nè?
***
Sau này mình nghe ông anh kể thêm rằng: sự im lặng hơi lâu sau câu hỏi làm ba má khựng lại, quay qua nhìn thì cô học trò bé bỏng đã… ôm mứt dừa biến mất tự lúc nào.
Ông nội ngừng đọc sách và trả lời thay:
-Giờ này chắc tụi nhỏ đang gọt xoài tượng chấm muối ớt rồi!
Hổng biết chúng sẽ làm gì với mấy cái trứng bể trong giỏ chứ Giáo Sư Toán và Giáo Sư Văn thì nên học nhau cách dạy con qua đề toán cho rõ ràng và nhanh nhẹn hơn giùm ba.
Sau Tết hai con ghi danh liền cho 6 đứa nhỏ trong nhà đi sinh hoạt Hướng Đạo Việt hết đi! Chứ cứ để chúng nó hết khiêng “cà ry” lại làm Cô Dâu Đội Bông Vạn Thọ thì làm sao mà tháo vát và khôn ra nỗi?

Ý Nga, 
16.12.2019
------------------
*Xì Trum (tiếng Pháp: Les Schtroumpfs) là tên một chủng tộc tí hon màu xanh được hư cấu bởi họa sĩ Peyo, xuất hiện lần đầu trong truyện “Johan et Pirlouit” và trở thành tên loạt truyện tranh phát hành vào năm 1958, sau đó có hoạt hình, phim ảnh và các sản phẩm thương mại.

*Hướng Đạo VN: (Scouting) được thành lập vào năm 1931 tại Hà Nội (trước 1975 Hướng Đạo chúng ta từng là một thành viên của Phong Trào Hướng đạo Thế Giới (World Organization of the Scout Movement), được sáng lập bởi Robert Baden-Powell, một trung tướng trong Quân đội Hoàng gia Anh vào năm 1907. Mục đích của Phong Trào là giáo dục bổ túc cho giáo dục gia đình và học đường, giúp thanh thiếu niên rèn luyện tính khí, tính tháo vát, để có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh, chuẩn bị để trở thành những công dân tốt, có trách nhiệm, biết trọng danh dự và hữu ích cho xã hội.(Chữ "đạo" trong cụm từ "Hướng Đạo" có nghĩa là "đường"; Hướng đạo có nghĩa là "dẫn đường")

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

Áo Lụa Vàng - Sáng Tác:Phạm Thế Mỹ - Trình Bày: Trần Uyên Thi


Sáng Tác:Phạm Thế Mỹ
Trình Bày: Trần Uyên Thi

Chuyện Chúng Mình…!!!

(Ảnh: Nguyễn Thành Tài)

Đường Em đi thênh thang đẹp muôn lối!
Đường anh về tăm tối nẻo quạnh hiu!
Nắng mừng xuân… bóng xế cũng đổi chiều.
Thương với nhớ đong đầy trong nỗi nhớ!
Xuân qua đi hoa tàn hoa thôi nở!
Thu lại về một nửa lá hoe vàng,
Trăng còn đây… lời thệ ước đã tan,
Đời là thế… chuyện chúng mình… đành thế …!!!
Kỷ niệm xưa nhớ… đừng quên, em nhé!
Câu thơ tình luôn đọc cho nhau nghe!
Những vần thơ ôm ấp nỗi si mê!
Anh đâu ngỡ đôi chim… giờ rã cánh.
Bờ mi cay từng giọt rơi lóng lánh,
Đôi mắt buồn tưởng nhớ những ngày qua!
Hai đứa mình giờ cũng đã chia xa,
Đoạn đường kết bên nhau rồi lẻ bóng…!!!

Nguyễn Thành Tài

Montréal, QC 2025


Xuân Vẫn Quanh Ta

 

Nghe nhắc Long Hồ lòng lại nhớ
Ngày em ghé lại mái nhà đơn
Gió thổi quàng xiên nghiêng mái thấp
Như cũng reo vui đón khách thăm
Em đến em đi như gió thoảng
Còn lưu kỷ niệm dấu ấn đời
Sông nước Vĩnh long
Đã xa ngàn dặm
Tự dưng dòng nhạc rụng nốt trầm
Chạm tờ lịch cuối mờ bóng nắng
Chiều lên, chiều đã võ vàng phai
Bên này đã trọn mười hai tháng

Một năm biền biệt đã trôi qua
Nhẹ êm gói trọn đêm tỉnh thức
Lại nhớ em rồi Long hồ ơi!
Mùa xuân xứ Vĩnh mai còn nở?!
Hay đã rụng theo gió bẽ bàng
Bếp lửa sân nhà còn đủ củi
Nồi bánh chưng kia nước có sôi
Ai thức ai canh, ai chờ đêm trắng
Đêm ba mươi em có nhớ gì không

Bếp lửa quê xưa còn theo anh biệt xứ
Dẫu cuối năm về là ngày tháng tiêu hao
Là thời gian trôi vô tình vô tướng
Sao bóng hình em còn mãi chẳng nhạt nhòa
Là nỗi nhớ Long hồ
Còn nguyên như thuở ấy
Thuở trăng tròn kẹp tóc chẳng âu lo
Thuở nhìn anh, em cười như hoa nở
Ôi! Ghét ghê răng khểnh má đồng tiền.

Đã hơn nửa đời người
Sao bóng đen dĩ vãng
Vẫn chập chờn réo gọi mỗi xuân về
Vẫn còn mơ ôm tròn quá khứ
Nhốt Long Hồ đất Vĩnh vào tim
Gói đất mang theo cùng trời cuối biển
Và tân xuân đem hong nắng lụa vàng
Cho nỗi nhớ, em ơi! nỗi nhớ!
Vẫn còn nguyên quê nam bộ phù sa.

Vẫn còn nguyên em với trời châu úc
Và anh trên nước mỹ viễn tây
Ta đón tết trong tận cùng nỗi nhớ
Thì ở đâu cũng đất Vĩnh Long Hồ.

Túy hà

Nhạc Sĩ Việt Dzũng


Ở Pháp những ngày cuối năm đường phố khắp nơi rực sáng những ánh đèn màu lóng lánh muôn sắc như ngàn hoa để đón những ngày lễ lớn của tôn giáo đó là Ngày Giáng Sinh và Ngày Tết Dương Lịch. Ngày Giáng Sinh ngoài tính thiêng liêng của tôn giáo người Pháp còn xem ngày lễ này như ngày sum họp gia đình, những thành viên trong gia đình dù ở phương xa trong ngày này đều trở về với mái gia đình chung vui, tặng quà lẫn nhau. Trong mùa vui, tôi chạnh nhớ đến những mùa Noel năm xưa ở quê nhà mà lòng bỗng xao xuyến nhớ về Noel Sài Gòn thuở nào. Đang suy tư hoài niệm bỗng tiếng điện thoại reo lên, bên kia đầu máy là tiếng nói đứt đoạn của nhà văn Nguyễn Thùy, anh báo tin nhạc sĩ Việt Dzũng, một trong các thành viên sáng lập Phong Trào Hưng ca Việt Nam từ 1985, và hiện là Phong Trào Trưởng, đã qua đời lúc 11 giờ 15 phút sáng 20 tháng 12 năm 2013 tại bệnh viện Fountain Valley-California, hưởng thọ 55 tuổi. Nghe hung tin người nghệ sĩ đa tài Việt Dzũng qua đời tôi bàng hoàng, vì mới đây nhà báo Kim Long vừa gởi cho tôi xem đoạn youtube Niềm Vui Giáng Sinh (2012) do Trung Tâm ASIA thực hiện tiếng cười nói của Việt Dzũng trong màn ảnh còn âm vang thế mà người nhạc sĩ mang cho đời những niềm vui đã vội ra đi!

Nhà văn Nguyễn Thùy bên kia đầu giây nói đề nghị viết mấy lời phân ưu nhạc sĩ Việt Dzũng để đăng trên các Diễn đàn, rồi anh đọc .:
«Việt Dzũng đã ra đi! Buồn!!! Nơi bên kia, xin anh hướng về chúng tôi, phù trợ chúng tôi trên đường đấu tranh cho quê hương, đất nước thêm hùng, thêm mạnh. Nơi xa, xin tiễn đưa anh với tất cả nhớ thương và nhớ ơn. Ðỗ Bình, Sơn Khôi, Nguyễn Thùy cùng anh chị em nghệ sĩ Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris. ».
Tôi đồng ý ngay, và sẽ viết ít dòng cảm nhận.

Nói đến Việt Dzũng người nhạc sĩ có những nhạc phẩm về quê hương : "Lời Kinh Đêm”
"... Thuyền trôi xa... về đâu ai biết ?Thuyền có về… ghé bến tự do ? Trời cao xanh… hay trời oan nghiệt, Trời có buồn… hay trời vẫn làm ngơ ? Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ…?”

Lời thơ ray rứt đượm chút triết lý nhân sinh như than trách tạo hóa và thương xót cho số phận con người. Những hình ảnh trong ca từ dựa trên tâm cảnh của người vượt biển được dàn trải trên cung bực thành giai điệu buồn mênh mông làm xao xuyến những tâm hồn cùng cảnh ngộ. Bài thơ được người nhạc sĩ tài hoa phổ đã chắp cánh đến với công chúng hải ngoại, và được công chúng đón nhận như một lời tâm sự của mình. Ca khúc đã diễn tả cảnh trời biển gặp nhau lúc hoàng hôn màu biển loang loáng bạc gợn sóng. Biển mênh mông vắng lặng làm tăng nỗi tuyệt vọng của những con người khốn khổ khát khao đến bến bờ tự do. Sự thầm lặng ẩn chứa một sự hãi hùng như đang đe dọa con thuyền mong manh chở đầy những con người bất hạnh bất chấp mọi hiểm nguy để tìm đường trốn hiểm họa CS đang xảy ra trên quê hương! Giữa trời nước bao la thân phận của con người càng bé nhỏ như bọt sóng bấp bênh theo con thuyền trước gió bão sóng cuồng! Dạo ấy những ca khúc viết về người tị nạn vượt biên rất nhiều nhưng lại ít có phương tiện để phổ biến đến công chúng. Nhưng dù có dịp phổ biến nhưng ca khúc muốn đi vào lòng người đòi hỏi còn phải có tính nghệ thuật thì mới thực sự ở lâu trong tâm hồn người thưởng ngoạn. Những nhạc sĩ như Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh,Trần Chí Phúc, Nam Lộc, Trầm Tử Thiêng, Phạm Duy v.v… đã trải qua cuộc vượt biển sinh tử nên diễn tả thành những nhạc phẩm nghệ thuật để cống hiến cho đời.


Trong những năm đầu của bước đường tha hương, có lẽ ca Khúc "Chút Quà Cho Quê Hương" đã diễn tả nỗi lòng của người nơi viễn xứ, xót xa về và thân phận những người còn ở lại quê nhà. Ca khúc đã đưa tên tuổi người nhạc sĩ trẻ Việt Dzũng mới bước vào con đường sáng tác đã mau chóng vang đi khắp nơi làm xúc động lòng người. Ca từ và giai điệu làm thổn thức hàng triệu con tim ở hải ngoài, và làm bùi ngùi những tâm hồn những người còn ở lại nơi quê nhà. “Một Chút Quà Cho Quê Hương” là một trong những ca khúc hay, xuất sắc của Việt Dzũng. Nhạc phẩm đẹp cả lời lẫn giai điệu được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Nhạc phẩm ra đời vào đúng thời điểm mà người Việt trong nước ồ ạt bỏ nước ra đi tìm tự do trốn chế độ CS, còn người Việt tị nạn hải ngoại bắt đầu gửi quà về cho thân nhân đang nghèo đói ở quê nhà. Ca từ như một bài thơ thống thiết, diễn tả cái thực trạng của tâm hồn những người tị nạn đành phải xa quê hương, chia lìa người thân. Ca từ là những giọt nước mắt dấu trong tim được ngân lên trong giai điệu buồn chan chứa tình thương, như chia sẻ nỗi niềm u uất của những người tị nạn xa xứ. Những lời ca sau đây:
“Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay … Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con quê hương quá đoạ đày … Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương. Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn …. Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây. Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy. Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …”
Đây là những câu thơ mang ngôn ngữ hình tượng. Hình ảnh người mẹ ngồi vá quê hương là hình ảnh đẹp trong nghệ thuật trừu tượng của tạo hình, nó diễn tả niềm đau tột độ của người mẹ Việt Nam nhìn thấy bày con xâu xé, tranh giành, đày đọa và giết nhau!
" Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá, Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay"

Giai điệu buồn như tiếng đàn bầu trong đêm vắng hòa với lời ca ray rứt. Về thân phận người, những tù nhân trong các trại tù CS. Những ai đã từng bị tù CS chắc hẳn không quên những ngày đói cơm, mảnh áo cũng không che đủ thân huống chi là mẩu thuốc lá, cục đường được xếp loại xa xỉ phẩm! Thuốc lá trở thành báu vật đối với những ai đã từng quen dùng nó để suy tư, tìm chút hương khói để ấm nỗi cô đơn. Ở đây tác giả không diễn tả sự thèm hơi thuốc mà dùng khói thuốc như một ẩn dụ để diễn tả tâm trạng của người tù mòn mỏi đợi chờ ngày được tự do. Sự đợi chờ tan như khói thuốc đốt dần cuộc đời!

Vào tháng hai năm 1994 ở thế kỷ trước, Việt Dzũng cùng một phái đoàn Người Việt tị nạn ở Mỹ sang Genève, Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Thụy Sĩ, chúng tôi ở Pháp gồm : cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Thượng Tọa Thích Quảng Đạo, GS Lại Thế Hùng, TS Trần Bình Tịnh, Nhà cựu Ngoại giao Nguyễn Đức Tăng… và một số Nhân sĩ người Việt tị nạn ở Thụy Sĩ... Mục đích của buổi hôm đó là tiếp kiến vị đại diện Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc để Tranh đấu cho Các Thuyền Nhân bị chối từ quy chế Tị Nạn. Họ sẽ bị cưỡng bách hồi hương vì các trại tiếp nhận đã được lệnh đóng cửa không tiếp người tị nạn.

Hôm đó mưa tuyết phủ trắng trước sân phủ Cao Ủy, lần đầu tiên tôi gặp người nhạc sĩ trẻ Việt Dzũng, anh chống hai nạng gỗ, mặc chiếc áo khoác không dày lắm. Tôi sợ anh bị lạnh vì không quen thời tiết mùa đông Âu Châu, nhất là ở Thụy Sĩ. Tôi gỡ chiếc khăn quàng cổ ra trao cho Việt Dzũng. Anh cảm động, từ chối và cảm ơn tôi. Anh nói:
" Em không lạnh, vì trước khi về định cư ở Cali em cũng đã đi nhiều nơi trên xứ Mỹ nên đã quen với cái lạnh."

Ngày xưa khi đất nước còn chiến tranh, ngồi trong ghế nhà trường tôi nhìn thấy đất nước có quá nhiều anh hùng, những bạn bè quanh tôi đều theo tiếng gọi lên đường làm chiến sĩ, và họ đã trở thành Tử Sĩ. Sau chiến tranh những anh hùng đều tử trận chỉ còn lại “hiền sĩ ” thích vui trên thân phận dân nghèo!
Thời đại hôm nay người có học vị bằng cấp cao thì nhiều nhưng kẽ sĩ thì hiếm. Tôi ngưỡng mộ Việt Dzũng từ dạo ấy, một con người dấn thân không những cho quê hương mà cho ngay chính những đồng bào của mình còn kẹt lại trong các trại tị nạn ở Á Châu. Những năm sau đó, nhiều lần Nhóm Hưng Ca qua Âu Châu và có ghé Paris cùng Cộng Đồng Người Việt Paris tranh đấu cho Nhân Quyền VN, với những khuôn mặt trong nhóm Hưng Ca : Huỳnh Công Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng và Tuấn Minh, Đào Trường Phúc, Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo v.v... Ở Paris với sự tham dự của Tổng Hội Sinh Viên VN Paris, người chủ tịch của Tổng hội SV Paris ngày đó là nhạc sĩ Lê Như Quốc Khánh, được sự trợ giúp đắc lực của kỹ sưTrần Ngọc Giáp, người bạn thuở sinh viên cùng thời với người anh hùng Trần Văn Bá,và kỹ sư Phương Khanh phụ trách Ca Đoàn Lam Sơn của Tổng Hội, cùng với nhóm Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris: Danh ca Thanh Hùng, nghệ sĩ Thúy Hằng , Nhạc sĩ Trịnh Hưng và Đỗ Bình. Chúng tôi cùng Nguyệt Ánh, Việt Dzũng và các bạn đồng hát những bài ca tranh đấu cho Nhân Quyền VN trên quảng trường Nhân Quyền Trocadéro. Việt Dzũng là người dấn thân nên đã hoạt động liên tục không ngừng nghỉ trong nhiều lãnh vực. Nhà văn Nguyễn Thùy viết mấy lời cảm ơn anh, vì Nguyễn Thùy cũng là một thuyền nhân đến muộn. Trong nhiều năm Việt Dzũng cùng các bạn đã làm những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People. Tôi qúy mến Việt Dzũng vì anh là những Hậu Duệ của gia đình Lính, tiếp nối truyền thống của ông, cha, biết ơn và vinh danh những người đã hy sinh vì nước, nên đã ca ngợi Người Lính VNCH qua nhiều chương trình văn nghệ nói về Lính và tổ chức những buổi văn nghệ giúp anh em TPBVNCH.

Sau năm 1975 anh em TPBVNCH như bày chim trúng đạn tan tác khắp nơi, họ bệnh tật, nghèo đói, ẩn mình sống trong những xóm nghèo tăm tối, hẻo lánh. Nhớ ngày nào những thiên thần bị gẫy cánh được ưu ái, thương cảm vì trên thân thể của họ những dấu đạn vết tích của chiến tranh mà có thời được vinh danh là chiến tích Anh Hùng thì nay với chế độ mới đó là những tàn tích «nợ máu,phản động». Họ sống trong âm thầm và trong số ấy có rất nhiều người già yếu đã ra đi ! Cứu giúp TPBVNCH là một cách nhớ ơn, một nghĩa cử đẹp về tinh thần, làm xoa dịu nỗi đau mất mát một phần thân thể của những người đã vì sự tự do quê hương. Với những điều cao đẹp mà Việt Dzũng và các bạn đã phụng sự cho quê hương, và cho tha nhân nên tôi ngưỡng mộ. Từ ngày bỏ nước ra đi đến nay đã 38 năm, thời gian khá dài so với một đời người thế mà Việt Dzũng chưa một lần trở lại quê hương, anh giữ trọn những điều anh đã viết, đã nói, dù thời gian qua đã có quá nhiều thay đổi mà lòng anh vẫn son sắt trọn một đời cho lý tưởng TỰ DO. Giờ đây anh chọn một thế giới xa, một cõi vĩnh hằng để an nghỉ, vứt bỏ nhưng ưu tư trăn trở muộn phiền chốn thế gian. Dù anh ra đi nhưng những nhạc phẩm của nhạc sĩ Việt Dzũng viết về quê hương vẫn còn ở lại trong lòng người ly hương.

Nguyện cầu cho linh hồn anh Việt Dzũng đời đời an nghỉ ở Nước Trời cùng Thiên Chúa.

Paris 23.12. 2013-12.25.
Đỗ Bình

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Có Những Chiều Thu - Thơ: Lâm Hoài Vũ - Nhạc: Nguyễn Tuấn - Trình Bày: Quốc Duy


Thơ: Lâm Hoài Vũ
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình Bày: Quốc Duy

Thái Nữ Lan

( Ảnh: Thái Lan)

(Tặng chị Thái Nữ Lan - Chữ đầu ghép lại là tên của chị)

Tình tôi luôn gởi đến nàng
Hỡi cô gái Huế dịu dàng biết không?
nh trăng Văn Bút vườn Đông
In sâu hình bóng trong lòng O ơi

Nắng xuân tươi sắp đến rồi
Ươm hoa thắm mật đón mời nàng thơ

Lan hương sắc gió đong đưa
Ai tô nét vẽ cho vừa ý đây
Nàng xinh Thái Nữ Lan ơi!


Việt Chỉnh

Tuyết Đầu Mùa

 

Tuyết đầu mùa vạch lá thu thức dậy
Trắng đường về vàng lá giữ chân nhau..
Còn đâu đó hương của ngày đêm cũ
Và bóng em vội vã bước chân về
Anh còn nắm trong tay tình em đó
Em xa vời ngàn dặm kiếp cô liêu


Tuấn Đặng
Nov.24

Tập Thơ Năm Cũ

 

Tập thơ năm cũ vẫn còn
Thoảng mùi mực tím nét son học trò
Những ngày tuổi dại chẳng lo
Nên thương anh tỏ bằng thơ trao nàng

Khi yêu mơ én xuân sang
Thiệp hồng hoan hĩ hai đàng một đôi
Nào ngờ lẻ bước đơn côi
Tình theo vận nước thuyền trôi mịt mùng

Tôi nơi viễn xứ nhớ nhung
Mượn thơ mơ khúc tương phùng em ơi
Nào ai biết trước cuộc đời
Nghìn xa tiếc nuối khung trời thần tiên

Tôi về tương ngộ tất niên
Gặp nhau vui kể chuyện thời học sinh
Giờ thì chỉ bạn chẳng tình
Tiếp thơ ngày cũ nếu mình còn thân

Trúc Lan KTP

Dịch Hay Chuyển Ngữ?


Hai chữ ‘chuyển ngữ’ thấy xuất hiện khá phổ biến những năm gần đây khi nói về công việc dịch thuật. Cách dùng như thế là thiếu chính xác vì dịch và chuyển ngữ khác nhau hoàn toàn.

Chuyển ngữ (轉語) được dùng lần đầu trong quyển Phương ngôn (方言) của triết gia Dương Hùng (53 BC đến năm 18 BC, thời Tây Hán bên Trung Hoa).

Theo Tự Điển Thiều Chửu, Chuyển là dời đi, đưa một vật từ nơi này sang một nơi khác.

轉 chuyển, chuyến (18n)

1: Quay vòng, đi vòng quanh, vật gì hình tròn mà quay đi quay lại được gọi là chuyển. Như địa cầu công chuyển 地球公轉 quả đất quay chung, địa cầu tự chuyển 地球自轉 quả đất tự quay, v.v.

2: Chuyển vận. Như chuyển thâu 轉輸 chuyển vận đi, tải đi.

Vậy, Chuyển ngữ là:

· Truyền đạt lời nói từ nơi này sang nơi kia.
· Giải thích những từ có cách phát âm mà theo thời gian, không gian, có sự thay đổi ý nghĩa.
· Từ ngữ mở rộng để giải thích hay đề cập việc thay đổi chủ đề.
· Trong kinh sách nhà Phật, cũng có chữ chuyển ngữ để nói tới những lời nói sắc bén dẫn đến sự giác ngộ.

Trong thời đại chúng ta, chuyển ngữ có nghĩa là ngôn ngữ được chọn dùng để truyền thụ kiến thức, chuyển tải và thu nhận kiến thức (tài liệu). Ví dụ:

· Sau khi độc lập, chính phủ Việt Nam đã ra lệnh dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ trong các trường đại học thay thế Pháp ngữ.
· Giữa người Việt và người Hoa có hàng rào ngôn ngữ, phải dùng tiếng Anh hay Pháp làm chuyển ngữ.

Dịch 譯 cũng là truyền tải, nhưng không mang tính di dời từ nơi này sang nơi kia, mà từ ngôn ngữ nước này sang ngôn ngữ nước khác và vẫn giữ nguyên bố cục và nội dung của nó. Tự điển Cambridge định nghĩa dịch là “thay đổi chữ sang một ngôn ngữ khác” (to change words into a different language).

Trong Việt Nam Tự Điển của hai ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, còn có chữ Dịch Âm – mà chúng ta gọi là phiên âm – vẫn giữ tiếng nước ngoài, nhưng đọc theo âm của nước mình. Ví dụ: Cyclo, café, London, được dịch âm là xích lô, cà phê, Luân Đôn.

Dịch cũng có thể là mã hóa hay giải mã (code, decode), là đổi chữ sang ký hiệu, hay ngược lại. Trong ngành điện toán, có các ký hiệu để thay cho ngôn ngữ của người bằng ngôn ngữ của máy (assembly languages) như Cobol, Pascal, Unix, C+, C++, vân vân.

Dịch từng chữ, từng câu (literally) sẽ làm mất giá trị nghệ thuật; Dịch chính xác (accurately) trong trường hợp các tài liệu về luật, hành chánh, ngoại giao; dịch phỏng (loosely) không theo sát bản gốc, dịch thoát (roughly) là chỉ nói về ý chính mà không dịch đủ trọn vẹn. Ngoài ra còn phóng tác (adapted) là chỉ dùng nội dung cốt truyện nhưng thay tên nhân vật, địa danh và cả tình tiết theo ý mình. Cũng có thể phóng tác một tiểu thuyết sang một kịch bản phim.

Đòi hỏi về phía người dịch

Dĩ nhiên, người dịch phải có trình độ vững chắc về ngôn ngữ của chính mình và ngôn ngữ khác mà anh ta sẽ dịch. Trình độ này không phải chỉ biết đọc và viết thông thạo, mà còn phải biết các thành ngữ, tục ngữ, tiếng lóng... Chắc khó có người biết hết tất cả, nhưng ít ra phải nhạy bén, biết cách tra cứu khi cần thiết. Nếu người dịch còn hiểu biết thêm về văn hóa, tập quán, lối sống thường ngày của nước đó thì càng tốt.

Người dịch cũng phải là một nhà văn hay ít nhất cũng có một khả năng viết theo một văn phong trôi chảy; phải biết cách chuyển văn phong của bản gốc sang văn phong của mình. Người dịch giỏi không dịch chữ ra chữ, câu ra câu mà cần linh động, sáng tạo, đọc cho hết cả đoạn văn để hiểu rõ ý của tác giả rồi có thể tùy cơ mà thay đổi cấu trúc câu văn sao cho người đọc dễ hiểu. Trong tự vựng có rất nhiều chữ có nhiều nghĩa khác nhau, người dịch phải cân nhắc chọn chữ nào thích hợp với bối cảnh, ngữ cảnh của bản văn mà tác giả đã viết.

Do các yếu tố trên, người dịch cũng cần phải có bản quyền như tác giả, và tên người dịch cũng phải được in trên trang bìa, với khổ chữ nhỏ hơn tên tác giả. Vấn đề này hiện đang được bàn cãi.

Chúng tôi đã đọc trong một bản dịch, khi viết về giai đoạn bế tắc trong chính trường miền Nam năm 1964 – 1965, tác giả GJV đã dùng chữ “a perfect slatemate.” Theo tự điển Merriam-Webster, ‘perfect’ được định nghĩa là “being entirely without fault or defect.” Người dịch căn cứ vào tự điển Anh Việt “Perfect là hoàn hảo” đã dịch ra thành “một bế tắc hoàn hảo.”

Nhưng một sự bế tắc thì không thể là tốt đẹp (hảo 好, tiếng Hán, là tốt đẹp) huống chi là ‘hoàn hảo,’ tốt đẹp hết sức! Bế tắc là một tình thế rất xấu. Ông dịch giả quên xem thêm trong tự điển, ‘perfect’ còn có nghĩa là ‘tuyệt đối, hoàn toàn, ở vị thế tột cùng’ (absolute, complete, of an extreme kind). Vì thế, để dịch cho đúng, a perfect slatemate phải là “một tình trạng bế tắc cùng cực, không giải quyết được.”

Cũng trong cuốn sách đó, câu viết của tác giả về các chính phủ nối tiếp sau 1963 “...transition from a military regime to a democracy” bị dịch ra “... từ chính thể quân chủ sang chính thể dân chủ.” ‘Military regime’ (vốn là chính thể do các quân nhân cầm đầu, hay gọi là ‘quân phiệt’) bị dịch giả hiểu sai là chính thể quân chủ (chính thể do một vị vua cầm đầu). Các chữ ‘quân’ viết và có nghĩa khác nhau là ‘quân đội’ 軍 隊 , và ‘quân vương’ 君 王, ‘quân chủ’ 君主.

Dịch kiểu Google

Nhờ vào các software như Grammarly, Google Translation, nhiều người đã dễ dàng trở thành các dịch giả. Họ chỉ cần đưa bản tiếng Anh hay Việt vào khung rồi bấm chữ ‘translate’ là có ngay một bản dịch chỉ trong vài giây đồng hồ.

Nhưng chỉ cần đọc qua một vài dòng là thấy ngay lối hành văn cứng ngắt, khó chịu như người ngồi xe chạy lắc lư trên con đường gập ghềnh. Tự điển, tự vựng của các software cũng phong phú lắm, nhưng không hẳn là đầy đủ hết để chọn lọc chữ nào tương ứng để ghép vào trong những trường hợp tinh tế như trong dẫn chứng về các chữ ‘perfect slatemate’ nói trên. Chỉ có những nhà văn mới có khả năng viết những câu văn trôi chảy, gọn gàng, thông suốt, dễ hiểu. Máy, dù tinh vi đến đâu, cũng không thay thế con người khi đụng đến những tình cảm, suy nghĩ tinh tế gửi gắm trong câu văn.

Trong những năm gần đây, trên các báo chí, truyền thông xã hội có đưa ra hình ảnh những bảng hiệu, biểu ngữ, văn bản bên Việt Nam với những chữ dịch từ Việt Ngữ sang Anh Ngữ một cách ngớ ngẩn như: ô mai (salted apricot) dịch là “umbrella tomorrow,” khô mực (squid) dịch“dried ink,” [con] công Ấn Độ (peacock) dịch là “Indian public”… Đây đúng là kiểu dịch từng chữ một.

Không ai bắt bẻ chê bai những người dân bình thường trình độ thấp kém. Nhưng khổ nỗi việc dịch bậy bạ này xảy ra ở các lãnh vực công quyền, báo chí. Trong một bản tin về cô Jennifer Gates đăng trên VNExpress (15 tháng 10, 2021), nhà báo VC đã dùng tựa đề “Con Gái Ngậm Thìa Vàng của Tỷ Phú Bill Gates.” Anh ta muốn nói tới câu thành ngữ “born with a silver spoon in his mouth” mà tiếng Việt lẽ ra nên dùng câu ‘sinh trong gia đình giàu có’ hay ‘đẻ bọc điều’ vừa hợp ý vừa dễ hiểu cho người Việt Nam. Anh ta còn bạo thay chữ ‘thìa bạc’ bằng chữ ‘thìa vàng’ vì cho rằng vàng còn sang hơn!

Một bạn trẻ, khi dịch bài bằng Anh ngữ của tôi The True Identity of Ho Chi Minh đến câu “He worked as a kitchen helper on the French merchant steamer, the Admiral de Latouche-Treville, that arrived in Marseille, France, on July 5, 1911.” Đã dịch hai chữ “Merchant steamer” (thương thuyền chạy bằng hơi nước) thành “nồi hơi thương gia.” Và ở câu “... and more regular troops flooded to the south ...” (thêm nhiều lính chính qui tràn vào miền Nam) thành “thêm nhiều lính chính qui bị ngập lụt ở miền Nam...”

Cũng như sau này tĩnh từ ‘physical’ vừa là những gì liên quan đến vật lý, nhưng cũng vừa là thể chất. Người Việt Nam cứ thấy báo chí Anh Mỹ viết “physical attack” (hành hung/bạo hành về thế chất) là thoải mái dùng nhóm chữ tiếng Việt “tác động vật lý’ khi nói đến các vụ đánh nhau! Cũng chữ Physics làm chúng tôi nhớ tựa đề cuốn sách Vật Lý Đại Chúng do Ủy Ban Khoa Học Nhà Nước của Việt Nam xuất bản khoảng thập niên 1970. Tựa đề Anh ngữ là Universal Physics mà nội dung nghiên cứu về vũ trụ, gồm Cosmology và Astrophysics. Đó là môn học cao nhất, khó nhất trong ngành vật lý, được dạy ở năm cuối cùng chương trình kỹ sư. Các ‘trí thức’ VC cứ thấy chữ Universal Physics là dịch ngay thành ‘Vật lý Đại chúng’ tưởng như là những kiến thức phổ thông dạy ở cấp tiểu học! Trong bài về ‘Thiên Thạch’ (meteorite), họ đã dịch câu “the Indians living in Colorado” “người Ấn Độ ở bang Colorado!”

Câu “He didn’t make it” trong cách nói thường ở Mỹ là “anh ta không qua khỏi được,” nhưng rất nhiều lần chúng tôi thấy bên VN họ dịch thẳng là “anh ta không làm điều đó.”

Nói chi đến việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, ngay cả những đài truyền hình Fox, CNN, NBC lớn nhất nhì ở Mỹ, khi dùng các software để viết lời xướng ngôn viên ra câu ‘caption/subtitle’ bên dưới màn hình, cũng có khá nhiều những chữ viết sai. Còn các caption trong phim ảnh thì sai nhiều lắm, có khi rất ngớ ngẩn, buồn cười là khác.

Vì có yêu cầu của một vị, chúng tôi thấy cần thiết phân biệt hai chữ Thông Dich và Thông Ngôn: Source: https://www.academyofinterpretation.com/blog/interpretation-vs-translation

Thông Dịch (Translate/Translation) là việc đổi một bản văn từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà vẫn giữ đúng ý nghĩa, hành văn của bản gốc. (Translation involves converting written text from one language to another while preserving the meaning, tone, and style of the original content.)

Thông Ngôn (Interpret/Interpretation) là việc chuyển lời nói từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác trong một thời gian nhất định. (Interpretation involves orally conveying spoken language from one language to another in real time.)

Trở lại đề tài, chúng tôi thấy chữ 'dịch' là thích hợp khi nói về hành vi đổi ngôn ngữ của một nội dung bài viết hay sách báo. Chúng tôi tiếc một thời vàng son, khi các cuốn sách giáo khoa hay truyện của ngoại quốc đã được các dịch giả Việt Nam thời Cộng Hòa dịch rất hay. Ngày nay, chỉ có vài vị là có khả năng dịch như thế.

Đỗ Văn Phúc

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

Lạy Đức Phật Bà Quan Thế Âm - Nhạc & Lời: Tô Quốc Thắng Hòa Âm: Nguyễn Lâm Đằng


Nhạc & Lời: Tô Quốc Thắng 
Hòa Âm: Nguyễn Lâm Đằng
Tiếng Hát:Diễm Ngân

Tu Hành Thành Phật

 
Thơ & Trình Bày: Minh Lương


Tơ Vương


Tôi muốn nói tiếng yêu từ lâu lắm
nhưng lời tình cứ giữ lại trên môi
Gần nhau thôi nhưng thấy lòng xa thẳm
Trong tầm tay mà như cách phương trời!

Đành thả tâm tình vào trang nhật ký
để từng câu, từng chữ quyện nhớ nhung
Em đâu biết trong cõi tôi mộng mị
Có bóng Em là hạnh phúc rất vô cùng!

Tim nhức nhối trong từng đêm dỗ giấc
nhạc lòng tôi rải từng nốt nhặt khoan
Đọng trên phím, lắng trên từng cung bậc
là tim yêu ngân mãi khúc tơ vàng.

Từ xa xưa bậc công hầu, khanh tướng
đều lạc vào mê trận của mỹ nhân
Huống chi Em, ơi đêm thanh nguyệt bạch
đã làm tôi dệt mộng biết bao lần!

Đêm ơi! Hãy đưa hương về phố cũ
cho trăng Em đẹp mãi khúc nghê thường
Gió ơi! Hãy ngân hoài câu tình tự
Ru hồn tôi qua từng ngả tơ vương.

Huy Văn
(Để nhớ Đà Lạt 1972 trong đêm
"Lang Nguyệt" của năm 2026)

Thứ Bảy Buồn

 

​Thứ Bảy buồn, mình tôi trên đường vắng
Hàng cây xanh, lặng lẽ rũ bên đường
Cơn mưa thu, sao buốt giá con tim
Làm run rẩy, sầu giăng muôn phương kín.

​Ta là chiếc, lá vàng sầu ngơ ngẩn
Chẳng biết rằng, mai còn giữ màu xanh
Hay theo gió, lạnh lùng rơi rụng xuống
Cõi hư vô, ôi sao quá đọa đày.

​Phòng đơn chiếc, chẳng còn sáng ánh đèn
Chẳng còn nghe, nụ cười em giòn giã
Chẳng còn cả, mùi hương xưa thân thuộc
Và hơi thở... của ngày vội vã xa.

​Trao vội vàng, một nụ hôn nồng cháy
Ngỡ bên nhau, hạnh phúc đã đủ đầy
Giờ chỉ còn, nỗi sầu vương cô quạnh
Cùng cơn mưa... chiều thứ Bảy đơn côi

Sep.2025
Tuấn Đặng

New Year‘s Resolution Và Một Cái Chết Có Thể Tránh


Một người bà con xa của chúng tôi ở Irvine vừa bị một chiếc xe hơi lạc tay lái tông chết khi chị đang jogging trên lề đường gần nhà.
Người chồng cho biết hai vợ chồng anh hồi đầu năm có làm một resolution list cho năm 2025 trong đó có việc mỗi ngày hai vợ chồng phải chạy bộ ít nhất là 30 phút. Họ đã giữ đúng lời hứa với chính mình được mười một tháng. Đến tháng chót, tai-nạn rủi-ro đã xảy đến cho người vợ, một người bị chết khi đang cố-gắng cải-thiện sức-khỏe của mình nhằm ngăn-ngừa bệnh-tật để được sống khỏe.

Khi nhận được tin buồn này, tôi thầm nghĩ nếu biết được chuyện tập thể-dục của họ sớm hơn, có thể tôi đã cứu được một mạng người.

Từ trước đến nay, chúng tôi vẫn thường hay trình-bày với bạn bè CHÍN điều lợi hại khác biệt giữa việc chạy bộ ngoài đường và dùng treadmill trong nhà, với mục-đích là cố-gắng thuyết-phục mọi người dùng treadmill trong nhà.
Đa-số cho biết họ thấy những điều nhắc nhở này nghe có lý. Có người lâu nay vẫn dùng treadmill như là một chỗ chứa đồ linh-tinh, phơi khăn, móc dù, treo bóp....., nay quyết-định trở lại dùng nó để chạy tập thể-dục trong nhà, thay vì chạy bộ ngoài đường.

CHÍN ĐIỀU KHÁC BIỆT:

1. QUẦN ÁO TẬP THỂ-DỤC:

Chúng ta không phải bận-tâm nhiều đến quần áo, giày dép thể-thao khi đi treadmill trong nhà.
Mặc cái gì cũng được.
Có khi ở nhà một mình, một cái quần lót cũng xong. Nếu không xong là vì tại mình mặc không đúng size.

2. THỜI-TIẾT:

Chúng ta không bị ảnh-hưởng bởi thời-tiết nóng, lạnh, mưa, nắng, hay giờ giấc sáng, trưa, chiều, tối khi chạy với treadmill. Có điện là chạy được.
Treadmill khó bị hư, bảo-trì dễ, chúng tôi mua một cái trên dưới $300.00, xài gần hai chục năm nay, hầu như ngày nào cũng dùng gần hai tiếng đồng-hồ, nay vẫn còn tốt. Cứ mỗi ba tháng thì cho dầu một lần, mình quên thì khi chạy nó kêu nghe rột-rẹt để nhắc khéo mình. Quên nữa thì nó vẫn kiên-trì nhắc khéo mình, nghe nhắc lớn hơn, lớn hơn. Cho đến khi nó chết. Rồi mới tới mình!

3. TIẾT-KIỆM THÌ GIỜ:

Khi dùng treadmill, chúng ta tiết-kiệm được thì giờ. Vừa đi treadmill chúng ta có thể vừa xem video hoặc những chương-trình TV mình ưa thích, hoặc nghe nhạc thoải-mái. Chúng tôi còn biết có người vừa đi treadmill vừa tập hát Karaoke, rất thành-công.
Nhưng đến khi đi dự party thì đòi phải có treadmill mới chịu hát. Thật là quá đáng!


4. ĐẠP “KÍT” CHÓ:

Đi treadmill không sợ đạp phải "kít" chó, hoặc đạp phải chó Chihuahua như khi chúng ta chạy jogging ngoài đường. Chính chó Chihuahua cũng khuyên-răn con cái của chúng - kể cả những con đực, cũng là con của chúng, không nên chạy bộ lăng-quăng ra ngoài đường, có ngày bị đạp mất mạng.

5. BỊ CHÓ CẮN:

Đi treadmill trong nhà không sợ bị chó rượt cắn như khi chạy bộ ngoài đường. Nên nhớ chúng ta không phải là mailman hoặc mailwoman. Mấy người này chúng ta khỏi phải bàn. Họ chạy nhanh hơn chó!

6. VẤP LỀ ĐƯỜNG:

Không sợ bị vấp té ở những chổ có lề đường gập ghềnh.
Chúng tôi có một người bạn bị vấp té dập mặt, phải vào nhà thương, đã thề là suốt đời sẽ không bao giờ chạy bộ ngoài đường nữa. Và trong cơn khủng-hoảng đã tuyên-bố sẽ tránh không gặp bạn bè nếu mặt mày răng cỏ không được chữa lành lặn lại như trước khi bị té.
Bạn bè thân, thông-cảm, muốn thăm anh phải kín-đáo đeo mask vào để anh không biết ai là ai, thăm xong ra về ai cũng thề sẽ không bao giờ chạy bộ trên lề đường nữa. Mấy người chạy treadmill thì khỏi thề, lo đứng gạ bán treadmill cũ của mình cho mấy người vừa thề, có thêm tiền mua treadmill mới.
Thật ra chạy treadmill không cẩn-thận cũng có thể bị té. Có điều lúc té không được nhiều người bu lại xem và nhất là không bị chụp hình đưa lên Facebook như khi bị té ở ngoài đường.

7. BỊ XE TÔNG:

Đi treadmill không sợ bị xe tông như người bà con của chúng tôi hồi đầu tháng.
Có khá nhiều những ông những bà lái xe ẩu, hoặc vừa lái xe vừa gọi phone, vừa text, hoặc đang lái xe thì bị stroke, bị heart attack, bị seizure, bị đường trong máu xuống, bị say rượu, bị say thuốc (hiện nay Cannabis is legal trên toàn 50 tiểu-bang) hoặc đi ăn cướp nhà băng bị cảnh-sát rượt chạy thục-mạng, chạy đâu không chạy lại chạy ngay vào công-viên, nơi chúng ta đang chạy bộ, nơi các ngài vẫn thường có thói quen hay chạy đến khi cần hẹn-hò, bàn-bạc, chia chác với các bạn đồng-nghiệp thân thương của mình.

8. HÍT KHÓI XĂNG:

Đi treadmill trong nhà chắc chắn tránh được việc phải hít khói xăng do xe cộ chạy ngoài đường thải ra.
Fun fact: Nếu loài người chúng ta ai ai cũng chịu khó hít khói xăng một cách thật tích-cực và thường-xuyên, số lượng không-khí bị ô-nhiễm trên quả đất này sẽ giảm đi rất nhiều.
Số người trên quả đất này cũng sẽ giảm đi rất nhiều!

9. CƯỚP VẶT:

Đi treadmill trong nhà không bị kẻ xấu làm phiền. Chạy ngoài đường, có khi mình vừa chạy về tới cửa nhà mình thì nó cũng vừa chạy về tới cửa nhà mình. Ngay sau lưng mình là nó. Ngay sau lưng nó là thằng bạn rất thân của nó. Hai đứa này tình-cờ quen biết nhau và kết-nghĩa anh em khi còn ở trong tù. Vừa vượt ngục ra công-viên ngồi chờ đồng bọn thì thấy mình đang jogging thoải-mái, vừa chạy tung-tăng vừa nghe nhạc qua earphones, vừa hát theo. Mà hát rất lớn, ai cũng nghe. Nghe loáng-thoáng như là bài "Chuyện ba người".
Hai thằng kia thì chỉ khe-khẽ duo bài "I will follow you".

CÔNG-BÌNH MÀ NÓI:

Đến đây chúng ta cũng phải công-bình mà nói là ngoài chín điểm tiện-lợi, an-toàn và tốt cho sức khỏe ra, việc đi treadmill trong nhà cũng có vài điều không tiện:
A- Không có dịp tiếp-xúc nhiều với ánh sáng mặt trời,
B- Không nhìn được cảnh-vật thiên-nhiên,
C- Không có dịp gặp bạn bè cùng chạy bộ và chuyện trò với nhau.

Ngoài ra còn phải bỏ tiền ra mua một cái Treadmill và phải lo bảo-trì cho nó tốt để dùng được bền lâu.

A- Thật ra, ra sân sau nhà mình ngồi đọc sách và nghe chim hót cũng có được suntan rồi.
B- Vừa đi treadmill vừa xem TV có những đài chiếu về Travel và Nature cũng xem được cả nghìn cảnh-vật thiên-nhiên, phong-cảnh đẹp trên toàn thế-giới.
C- Vừa đi treadmill ta cũng còn có thể dùng cellphone nói chuyện với bạn bè gần xa. Đi có 3 dặm một giờ mà mình nổ là chạy 6 dặm một giờ, có khi cũng có người tin. Ai cũng vui. Bạn của chúng ta vui vì biết chúng ta còn khỏe nên còn nổ được. Chúng ta cũng vui vì thấy mỗi lần nổ xong thì trong người khỏe ra. Đi có 3 dặm một giờ đã thấy gần hụt hơi, ở đó mà chạy được 6 dặm một giờ. Trừ khi đang chạy bộ ngoài đường mà có một trự Pit Bull Dog vừa xổng chuồng, rất mến ta, chạy theo ta thì lúc đó có bao nhiêu dặm một giờ cũng phải cố mà chạy. Cho đến khi nào thấy thế-giới bên kia thì ngừng.


MỘT ĐỀ-NGHỊ HAY:

Một số anh chị có đề-nghị muốn an-toàn chúng ta có thể lái xe từ nhà đến công-viên, rồi từ đó hãy bắt đầu chạy bộ, chạy chung quanh công-viên.

Có điều khi về thì phải nhớ lái xe về, đừng đãng-trí chạy bộ thẳng về nhà, sáng hôm sau ngủ dậy cần xe mới nhớ là mình đã bỏ quên xe ở ngoài công-viên. Gọi Uber, chạy ra công-viên thì công-viên vẫn còn đó mà xe xưa nào thấy đâu.
Buồn quá. Nó đang trên đường qua Mexico để gặp chủ mới, hay đang được rã ra ở nghĩa-trang xe để kẻ gian bán đồ phụ-tùng?
Phải báo cho cảnh-sát.
Hôm sau cảnh-sát cho biết chiếc xe vẫn còn nằm chình-ình tại cái công-viên mà mình chạy bộ.
Hóa ra hôm trước mình và ông Uberist tìm lộn công-viên.
Lại gọi Uber. Xong gọi Bác-sĩ để xin thêm thuốc trị Dementia đã hết từ thuở nào ....không nhớ.
Ai nhớ hay không nhớ là chuyện của người. Riêng chúng ta vẫn nhớ trong mùa lễ lạc ăn uống cẩn-thận, xe cộ cẩn-thận, sau mùa lễ lạc vẫn còn được gặp lại nhau.

HAPPY NEW YEAR 2026!

Lê Xuân Cảnh

PS: Chúng tôi vừa nhận được một tin vui.
Một chị bạn vừa gọi đến cho biết chiều nay hai vợ chồng chị vừa vác về 1 cái treadmill mới toanh hiệu Merit, model 715 T Plus, giá $349.00.
Đây là loại treadmill rất giản-dị mà chúng tôi đang dùng và thường hay giới-thiệu với bạn bè.
Việc anh chị này mua treadmill khiến chúng tôi có hơi ngạc-nhiên.
Chúng tôi đã bỏ gần cả 2 năm trời thuyết-phục anh chị, nhưng cả hai, nhất là anh, rất thích chạy ngoài đường để có "fresh" air, suntan, friends và good view.
Chắc chắn chúng tôi phải hỏi cho ra nguyên-do tại sao có sự thay đổi này.
Và đây là nguyên-văn câu trả lời của chị bạn, "Sáng nay ảnh chạy về nhà sớm hơn thường-lệ, đập cửa rầm rầm. Tôi vội mở cửa, nhìn thấy chồng mặt mày xanh mét, mồ hôi ướt đẫm, hỏi 'anh bị chó rượt cắn hả?' Không có câu trả lời. Chồng tôi còn đang bận tập-trung vào việc làm sao phóng vào restroom cho thật nhanh.
Nếu kịp, có thể save được tiền giặt thảm. Hoặc tiền thay thảm, nếu giặt xong vẫn còn mùi hôi. Nói chung, bây giờ vợ chồng chúng tôi quyết-định dùng treadmill. Ảnh nói, 'Dùng treadmill tiện hơn là dùng tã.' "

Chúng tôi rất vui có thêm hai người bạn vừa bước chân vào thế-giới tiện-nghi và an-toàn của chúng ta. Và từ nay bảng nhắc-nhở chín điểm trên kia có thêm được một điểm mới nữa, tổng-cộng thành mười điểm.

10. Never underestimate the power of an old Chinese man named Tào Tháo!

50 Năm Tình Vẫn Còn Xanh

Trong một lần lục soạn mấy chục cuốn albums và mấy thùng đựng hình ảnh xưa, tôi nhìn một tấm hình gia đình Nàng vẫn còn rõ nét, gồm cha mẹ và 3 chị em. Nhớ lại, Khi tôi khoảng 13 hay 14 tuổi, Măng tôi treo bức ảnh đóng khung này ở tường ngay trên đầu giường ngủ của tôi. Bà cho thằng con trai út của mình biết đó là hình gia đình của OB Phan Huy Thạch gởi từ Phan Thiết tặng “Bà Vú”, vì Măng tôi là vú đở đầu cho mẹ Nàng trở lại đạo khi OB làm đám cưới tại nhà thờ. Măng tôi còn cho biết Ô. Thạch là một vị quan tòa nổi tiếng thanh liêm, thường bênh vực người nghèo khó, yếu thế và phụ nữ nên được nhiều người quý mến. Theo năm tháng, tôi lớn lên với tấm hình ấy, nhìn ngắm cô bé bên trái mỗi đêm, bắt đầu tơ tưởng đến cô bé ấy. Cho đến một hai năm sau, tôi bổng chỉ tay vào hình cô bé ấy và buột miệng nói với Măng tôi “Con sẽ cưới đứa con gái này”. Vào hè 1966, tôi treo bằng Bac II của tôi bên cạnh bức hình gia đình OB. Thạch. Bấy giờ tôi được 18 tuổi. 

Ngoài tấm hình trên, có luôn cả tấm hình rửa tội của Nàng mà trong đó tôi nhìn thấy, từ trái qua phải: linh mục Bửu Đồng, Măng tôi, cô Trần Như Quê, mẹ đỡ đầu với bé sơ sinh trên tay, Bà và Ông Thạch, Cụ Ưng Trạo. Đằng sau tấm hình có hàng chữ “Marie Madeleine, ngày 18 tháng 10, 1953”. Marie Madeleine là tên thánh của Nàng. 


Vào một chiều của hè 1967 và mùa thi cuối năm Dự Bị YK, một buổi chiều chan hòa nắng vàng óng ánh trên sông Hương, tôi tình cờ nhìn thấy một cô bé nhỏ nhắn mặc áo đầm vàng đi dạo cùng Mẹ và các em trong công viên trước trường Đồng Khánh. Thuở ban đầu lưu luyến ấy bắt đầu thành hình nơi đây. Vài ngày sau tại nhà tôi trong khuôn viên trường Đồng Khánh, tim tôi đập lỗi nhịp đầy thích thú khi bất ngờ gặp chính cô bé ấy đem bánh ít mặn của Mẹ làm đến biếu “Bà Vú”, tiếng nàng gọi Măng tôi. Bấy giờ tôi liên tưởng ngay đây là nhân vật nữ trong bức ảnh năm nào của gia đình OB Thạch, mà trong bao nhiêu năm qua, mỗi khi nhìn đến, tôi thường nghĩ rằng có ngày tôi sẽ có Nàng luôn bên cạnh, như một ám ảnh, một ước mơ thầm kín. Một nguyện cầu vu vơ. Đứng trước mặt tôi bây giờ là một cô bé tuổi 13, thật thanh tú với ánh mắt sáng thông minh, mái tóc “mùa thu tóc ngắn”, có một giọng nói thật đặc biệt pha từ nhiều miền, kể cả miền Bắc của ông nội Nàng.

Thì ra gia đình Nàng vừa di chuyển từ Đà Nẵng đến Huế sau khi ba Nàng đảm nhận chức vụ Chánh Án tòa án Thượng Thẩm Huế. Do sự quen biết giữa 2 gia đình, thỉnh thoảng tôi đến thăm Nàng tại nhà, tự nhiên làm quen với gia đình và chơi đùa với các em Nàng. Nhờ đó tôi có dịp nhìn thấy nết đoan trang và sự chu đáo của nàng khi phụ giúp Mẹ săn sóc các em. Có một lần, ngồi dựa lưng trên thành cửa sổ nhỏ phòng nàng, tôi hát tặng Nàng bài Mưa Hồng vì tôi thích câu “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”, do xúc động giọng của tôi xuống thấp rồi tắt, không hát tiếp được, Nàng im lặng không dám cười, nhưng tôi can đảm xin hát lại lần thứ hai.

Mậu Thân 1968 xảy ra. Cả bức ảnh gia đình Nàng và bằng Bac II của tôi chung số phận bị mất cắp. Vào cuối mùa Xuân 68, đến ngày kề cận phải rời Huế vào Saigon học tiếp nửa năm còn lại, tôi lấy hết can đảm viết cho nàng một lá thư tình. Dĩ nhiên thư tôi không được hồi âm.

Đầu năm 1969, gia đình Nàng rời Huế khi ba Nàng nhận nhiệm sở mới ở Nha Trang. Tôi vẫn tiếp tục học thêm một niên khóa tại Saigon. Tôi vẫn chờ đợi trong im lặng, cho mình chín chắn hơn. Cho một thời cơ thuận tiện tốt đẹp. Hay để cho nàng lớn thêm hơn vài tuổi!? Tôi và nàng vẫn kẻ ở Huế, người Nha Trang. Không một thư từ, không một trao đổi liên lạc. Tôi lần lượt lên lớp cao dần ở trường YK và gián tiếp theo dõi tin tức Nàng ở những năm cuối trung học. Sau gần 3 năm xa cách Nàng, tôi tự hỏi mình nhiều lần, đây có phải là tình yêu? Người ta thường nói cách mặt xa lòng! Tưởng tình yêu đơn phương âm thầm tan biến theo thời gian, thế nhưng nó vẫn còn đó, như những cơn gió lao xao chợt đến. Như những tiếng thầm thì không chờ đón.

Cái sợ của tôi là ở Nàng không còn chút hình ảnh nào của tôi! Ngay cả cái tên cũng có thể quên đi! Dù không một tin tức trực tiếp của Nàng, tôi vẫn quyết định tìm đến thăm Nàng vào mùa Xuân 1972 khi Nàng đang học năm thứ Nhất tại phân khoa Chính Trị Kinh Doanh ở Viện ĐH Đà Lạt.

Tôi đến Đà Lạt trong tư cách một cộng sự viên của Sinh Viên Vụ quay phim chụp hình cho phái đoàn SV Viện Đại Học Huế tham dự Đại Hội Thể Thao Liên Viện do ĐH Đà Lạt đứng ra tổ chức vào tháng 3, 1972. Đến nơi, tôi trao hết đồ nghề cho một bạn khác, và trong suốt 3 ngày liên tục của Đại Hội, tôi không làm gì khác hơn ngoài việc tìm thăm Nàng, người tôi yêu và đeo đuổi trong nhiều năm qua, từ Huế vào đến Nha Trang và nay Đà Lạt. Sáng tôi đón Nàng ở Kiêm Ái, chiều tôi trả Nàng về lại cư xá. Nàng và tôi đã đi bộ qua bao con đường quanh thị xã, cùng ngồi chuyện trò ở sân Cù trong nắng ban mai, ngắm Hồ Xuân Hương, dạo phố Hòa Bình, đưa nhau đi ăn sáng, ăn trưa, ăn tối…Với tôi, đó là 3 ngày hạnh phúc nhất trong quãng đời, dù ngắn ngủi, nhưng đã ghi sâu trong tim tôi những kỷ niệm đậm đà không hề phai. Trong lá thư duy nhất gởi tôi khoảng 2 tuần sau khi tôi về lại Huế, Nàng viết “Anh Chánh ơi, hãy trân quý và giữ lấy tình yêu của anh. Nhưng anh cũng phải biết, yêu không cần phải được yêu trả lại mới thật sự là yêu…” Măng tôi cảm nhận sự đau đớn của con trai mình khi nhìn thấy sự lặng lờ của tôi trong những ngày tháng sau đó. Ba ngày le lói bên Nàng tại Đà Lạt, để bù lại, thêm một lần nữa, tôi phải trả đắt giá cho một thời gian “bonjour tristesse” dài trong 3 năm kế tiếp, để khi ở nơi xa, tôi chỉ cầu mong Nàng trong những “đêm mai cô đơn đi về, xin người hãy nhớ tình tôi”.

Trong tình cảnh đáng ngại chính trị và quân sự của Miền Nam VN, tôi tốt nghiệp YK Huế tháng 6, 1973, sau 7 năm miệt mài với sách vở, luôn mang trong lòng một bầu nhiệt huyết với đất nước, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ bất cứ nơi đâu, bất cứ trong vị trí nào khi đất nước kêu gọi. Song song với giấc mơ dài của trai thời loạn, tôi vẫn giữ kín cho mình niềm mơ ước có ngày tôi sẽ trùng phùng với Nàng, người tôi vẫn tiếp tục mãi mãi yêu thương và nhung nhớ, dù cho Nàng ở xa ngoài tầm với, như một thôi thúc diệu kỳ và mãnh liệt không dứt trong tâm tưởng.

Sau khi thi đậu lâm sàng và do nhu cầu cần in tập Luận Án cho kịp trình vào tháng 12 cuối năm 1973, tôi quyết định làm một cuộc hành trình bằng đường bộ từ Đà Nẵng vào Saigon sau khi dò hỏi biết xe chở khách sẽ dừng đêm tại Nha Trang. Từ bến xe khách Nha Trang, và sau khi gởi nhờ một bà ngồi gần tôi trong cùng chuyến xe giữ giùm xách tay, tôi leo lên xe honda ôm, nhờ chở thẳng đến số 4 đường Hoàng Hoa Thám, dinh thự Tòa Đặc Ủy Giám Sát Quân Khu 2, là cơ sở làm việc của ba nàng và cũng là chỗ gia đình Nàng cư ngụ. Khi xe đến nơi, bỗng nhiên tôi khựng lại, tự hỏi không biết cửa nhà Nàng có mở chào đón tôi, cuộc gặp gỡ có đầm ấm hay gượng gạo khách sáo. Tôi bỏ hẳn ý định vào thăm Nàng như đã rộn ràng lên kế hoạch trước chuyến đi đường bộ. Cái gì đã khiến tôi thay đổi vào phút chót? Mất tự tin?? Thời cơ chưa thuận tiện?? Con người tôi chưa đủ phong độ?? Con đường trước mắt tôi còn quá dài, sự nghiệp tôi còn quá khiêm nhường?? Sau khi xe ôm chạy thêm vài vòng qua lại trước nhà Nàng, tôi quay trở về bến xe, thuê chiếc ghế bố ngủ qua đêm. Một đêm trằn trọc, ray rứt cho đến tận sáng. Để cuối cùng tôi nhận thấy quyết định vừa qua của mình chính đáng và đầy tự trọng.

Tôi trình diện nhập ngũ tháng Giêng 1974 tại trường Quân Y và theo học khóa 16 Trưng Tập cùng với 160 bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ. Ngày tốt nghiệp vào cuối tháng 5, 1974, không một do dự dù đậu cao với hạng thứ 12, tôi tình nguyện chọn phục vụ Quân Y Nhảy Dù.
Trở về nhà trong Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa, tôi báo cho Măng biết tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Măng tôi la hoảng lên, lo lắng thấy rõ. “Răng mà chọn đi ND nguy hiểm rứa! Không sợ chết à?! Gia đình nuôi con ăn học ra tới bác sĩ mà không biết suy nghĩ thương lại Măng và các anh chị!..” Tôi liền trình bày sự hiểu biết của mình về binh chủng ND cho Măng tôi nghe… Mặc tôi giải thích, Măng tôi vẫn nhất quyết cho người kêu các bà chị của tôi đến nhà để bàn chuyện, ý muốn tìm cách thay đổi đơn vị cho thằng con trai út bằng cách nhờ cậy các nơi quen biết.

Đến nước đó, tôi cương quyết giữ vững lập trường của mình, cho biết tôi dứt khoát muốn trở thành một BS. Nhảy Dù, rằng tôi muốn tự thực hiện một thay đổi quan trọng cho đời mình, quyết chí cho mình một ý thức mới trong cuộc sống sắt đá oai hùng của một chàng trai đúng nghĩa của thời chiến, sẵn sàng dấn thân vào chốn nguy hiểm để xem mình có thể quên được người con gái hằng đeo đuổi và mãi thương nhớ trong nhiều năm qua. Xót xa cho thằng em mình, các chị tôi bênh vực tôi và cuối cùng Măng tôi đành miễn cưỡng chấp nhận.

Sau hơn nữa năm theo chân Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù chiến đấu tại Miền Trung, tôi được thuyên chuyển về làm y sĩ trưởng Tiểu Đoàn 15 Nhảy Dù Tân Lập, cùng với Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù Tân Lập, có nhiệm vụ trấn giữ Saigon. Tôi may mắn biết được gia đình Nàng đã từ Nha Trang dời vào Saigon từ năm 1974. Và Nàng đang học năm cuối tại phân khoa Chính Trị Kinh Doanh, Đại Học Đà Lạt.

Vào chiều Mùng Một Tết, hiên ngang trong bộ hoa dù mũ đỏ, dạn dày phong sương, ăn nói chững chạc, hạnh phúc dồn dập đến với tôi khi tôi gặp lại Nàng tại nhà gia đình Nàng, sau gần 3 năm xa cách kể từ tháng 3, 1972 ở Đà Lạt. Từ đó tôi tiếp tục ráo riết chinh phục Nàng qua những lá thư đậm đà tình thương nhớ từ trại quân hay trong khi đi hành quân ven đô, hoặc qua những dịp đến thăm Nàng tại nhà, trổ miệng lưỡi chiếm cảm tình của gia đình họ hàng Nàng. Mối tình của tôi từ từ chuyển hướng thuận lợi. Trong bối cảnh chao đảo của chiến sự, càng ngày Nàng và tôi càng cảm thấy gần gũi sâu đậm hơn. Các anh chị tôi, các bà con bên nội và bên ngoại phía Nàng đều thương mến chúng tôi, và qua hình ảnh “Em là gái trong song cửa, Anh là mây bốn phương trời” thường nhìn chúng tôi với ánh mắt ngưỡng mộ.

Tình trạng chính trị và quân sự của Miền Nam Việt Nam từ từ đi vào bế tắt. Xế chiều ngày 30 tháng 4, 1975, tôi rời vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 15 Nhảy Dù, về nhà Nàng. Nàng là người đầu tiên từ trên balcon nhìn thấy tôi bước xuống xe ôm, và cùng các em chạy nhanh xuống mở cổng đón tôi vào. Khi đến thang lầu, tôi phải vịn vào vai Nàng để bước lên từng bước. Cơ thể tôi rã rời và tinh thần khủng hoảng, tôi thật chẳng hiểu vì sao mình lại về được đến nhà an toàn. Hầu như mọi người đều thông cảm và tôn trọng sự yên lặng của ba nàng và của tôi. Chiều đến, tôi đạp xe về nhà Măng tôi ở cư xá Sĩ Quan Chí Hòa cho bà cụ yên tâm, rồi tôi chở Măng tôi đến nhà Nàng xin ba mẹ nàng cho phép tôi ở tạm nơi đây, vì cư xá Sĩ Quan Chí Hoà quá nguy hiểm.

Đêm 30 tháng 4, Nàng và tôi ngồi ở balcon nói chuyện với nhau đến thật khuya. Trước đây, trong một lá thư gởi cho nàng, tôi có viết “anh xin làm bóng mát trên con đường em đi”. Giờ đây, với sự đổi đời, tương lai tôi mù mịt, viễn ảnh những năm tháng sắp tới là chuỗi ngày đen tối, đọa đày và tôi e ngại tôi chẳng còn khả năng làm bóng mát cho em. Nàng ngồi nghe tôi nói nhiều hơn trả lời. Vì có lẽ câu trả lời đã được quyết định tự lúc nào.

Em yêu dấu, sau ngày đôi cánh thiên thần của tôi sụp gãy, em can đảm dang rộng đôi tay cứu vớt đời tôi khi quyết định thành vợ thành chồng với tôi 3 ngày sau khi mất nước, trong khi tôi là một thằng lính bại trận. Một đám cưới đơn sơ, cô dâu không hề có áo cưới, trong khi mẹ Nàng nuôi con khôn lớn chỉ mong được nghe tiếng pháo cưới của con. Em cùng tôi chắt chiu hạnh phúc trong cơn lốc đổi đời, đã cùng nhau vượt qua bao thử thách gian khó cùng cạm bẫy để có nhau và mãi mãi bên nhau. Cho đến khi chúng ta đến bến bờ tự do. Vòng tay em tuy nhỏ, nhưng cái ôm choàng cứng chặt và bền bỉ hơn cả cánh dù tôi hằng mơ ước.


Giờ đây, nhờ lục soạn những tấm ảnh xưa cũ, nhờ nối kết với những dữ kiện gom góp qua trí nhớ đối chiếu của cả 2 đứa, chúng tôi nhận thấy mình thật sự có duyên tiền định. Thật khó giải thích sự diệu kỳ các diễn tiến phù hợp với suy luận trên. Như trong 2 tấm hình kèm đây. Tấm đầu tiên cho thấy tôi ngồi bên góc phải trên thành cầu của thác Prenn, chụp vào tháng 7, năm 1971 trong một chuyến đến chơi hè ở Đà Lạt. Tấm ảnh kế bên của Nàng, ngồi bên cạnh mẹ cũng ở góc bên phải trên thành cầu thác Prenn, chụp vào khoảng tháng 8, 1971 khi Nàng được cha mẹ đưa từ Nha Trang lên nhập học năm học đầu tiên tại phân khoa CTKD tại Viện Đại Học Đà Lạt. Như vậy không là tiền định thì còn gì hơn nữa!?
  

Tôi đã bền bỉ chạy theo tiếng gọi của con tim nhưng không hoàn toàn mê muội để bỏ bê học vấn. Tôi chiến đấu với chính mình, tôi vừa thách thức vừa phớt lờ khoảng thời gian và không gian cách trở. Tôi vừa bất chấp vừa chấp nhận sự thua thiệt trong chạy đua. Sự đau khổ tuyệt vọng giúp tôi khiêm tốn. Sự thất bại cho tôi thêm kinh nghiệm và ý chí. Thất tình giúp tôi thêm kiên nhẫn và bền chí, nhất là giúp cho tôi biết chờ đợi cơ hội thuận tiện. Để cuối cùng, không ít thì nhiều, áo hoa dù mũ đỏ cùng phong cách hiên ngang tự tin của một người trai trưởng thành trong khói lửa đã làm Nàng xiêu lòng và cảm nhận tấm lòng thành của tôi. Tình yêu của tôi đã được đáp trả. Giờ đây tôi có tình yêu. Trong tình yêu phải có đam mê. Và tôi có cả hai. Ước mơ năm xưa nay là hiện thực. Tôi là người hạnh phúc nhất trần gian.

50 Năm, một nửa thế kỷ! Một khoảng thời gian quá dài để nhớ hết tất cả những gì đáng nhớ, nhất là khi đã trải qua những năm liền với nhiều biến cố dồn dập. Nhưng rồi 50 năm đã qua như một cơn gió thoảng. Hai chúng tôi tự nhiên gắn bó với nhau theo thời gian, tận hưởng cuộc sống trong từng khoảnh khắc. Hạnh phúc đơn giản dễ thấy khi mỗi sáng thức giấc còn bên cạnh nhau, nắm tay nhau bất cứ khi đi cạnh nhau, tối chờ nhau cùng lên giường một lúc, ôm sát nhau, tay chân đụng nhau, gác lên nhau, xoa xoa nắn nắn, bóp trên bóp dưới, bóp trước bóp sau, bóp chân bóp tay, da thịt quen thuộc, nồng nàn êm ấm, mộng lành trong tiếng thở của nhau, quen luôn cả tiếng ngáy “mê hồn” ru ngủ. Tuy nhãn quan kém dần, tay chân quờ quạng hơn xưa, bước đi kém mạnh và bớt nhanh, nhưng đầu óc vẫn còn minh mẫn để nhìn cuộc đời rõ hơn. Để biết nếu trong đời có những buồn tủi thất vọng thì cũng có những giây phút thăng hoa. Nếu có những cạm bẫy ma quỷ thì cũng có những tha thứ bù đắp, có những hư hao nhưng không là mất mát, những bi quan nhưng không vô vọng. Có những thử thách nhưng không là những cơn bão dữ, những bất ngờ đáng tiếc nhưng không là những tàn phá vĩnh viễn. Vì vậy cảm thông và tha thứ là căn bản trong tình yêu thương vợ chồng bền vững. Nếu duyên tơ hồng là do trời định, thì sự bồi đắp cho một hạnh phúc lâu bền là trách nhiệm của cả vợ lẫn chồng. Hai chúng tôi đều biết điều đó, quyết chí sẽ sống bên nhau cho đến trăm tuổi. Với cuộc tình mãi xanh như thuở ban đầu trong mùa xuân bất tận.

Xin được trích vài lời trong nhạc khúc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương để làm khung cho phần kết :

“Nhớ như là một giấc mơ, 50 năm ngày nào, hồn xuân vẫn ngọt ngào
Nhìn hoa trái đẹp đời, 50 năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy…”


Em yêu dấu, bài viết này là thư tỏ tình thứ hai của tôi. Sau 50 năm bên nhau. Ở tuổi gần 80, bài viết mang ý nghĩa trang trọng hơn một buổi tiệc hấp hôn với cả trăm khách mời. Nó tuyệt đẹp hơn cả trăm bó hoa chúc phúc tình mình. Bài viết này đủ để được trân quý đóng khung vĩnh viễn trong ký ức chúng minh.

Trong bài “Thơ Tặng Vợ”, Hồ Dzếnh viết:

“Mình vừa là chị, là em – Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này, tới phút chia đôi - Hai ta, ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau – tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình..”

Tôi đồng ý hoàn toàn, tuy chỉ xin thêm một câu: 

“Mình vừa là boss của anh – lại vừa là mẹ bề trên của nhà"

Cuối cùng, sau tất cả, tôi vẫn có em, bên cạnh tôi. Quả là một ơn phước nhiệm mầu!



Vĩnh Chánh
Tháng 7, 2025