Hiển thị các bài đăng có nhãn Dư Thị Diễm Buồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dư Thị Diễm Buồn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Tôi Đã Khóc (Dư Thị Diễm Buồn) - I Have Cried (Thanh Thanh)

 

Tôi Đã Khóc

Tôi đã khóc từ khi rời lòng mẹ
Sợ hay mừng đời đã tiếp nhận tôi
Và từ đó một hình hài nhỏ bé
Lớn khôn dần ngọt sữa mẹ thơm môi

Tôi đã khóc mẹ dãi dầu cơ cực
Vì cha còn nặng nợ bước chinh nhân
Nghĩa hy sinh trong tim người thắm rực
Dưỡng dục con còn lận đận nuôi chồng

Tôi đã khóc mẹ ra đi vĩnh viễn
Bởi giặc về cày nát xóm thôn
Những đạn pháo vô tình gây tai biến
Người đớn đau quằn quại trút linh hồn

Tôi đã khóc tối ba mươi hôm đó
Tháng tư buồn vụn vỡ bảy mươi lăm
Những con tàu vượt trùng dương sóng gió
Chở bao người mang thống khổ hờn căm

Tôi đã khóc được tin anh ngã gục

Trong trại giam cải tạo tận Miền Trung
Muời mấy năm, niềm tin không rã mục
Chí kiên cường khó lay động chuyển rung

Tôi đã khóc cảnh quê nhà điêu đứng
Mỗi địa danh mang chiến sử oai hùng
Đã bao đời ông cha ta gầy dựng
Nay còn chăng những hoang phế tàn vong

Tôi đã khóc suốt quãng đời lưu lạc
Khóc cho người và khóc cả cho tôi
Bao tang tóc, bao lầm than dân tộc
Đoạn trường này còn khóc mãi khôn nguôi

Dư Thị Diễm Buồn

***
Dịch Thơ:

I Have Cried


I began to cry on coming into this world here,
When life received me, anyhow for joy or for fear;
And thenceforth a small shape, this, has through skips
Grown up out of Mom’s sweet milk and scented lips.

I wept witnessing my Mom so poor and miserable
While my Dad was doing his soldier’s duty venerable.
Her sense of sacrifice she kept her heart warm to arouse,
Bringing up their kids and also catering to her spouse.

I then had to moan when my Mom passed away
As the enemy came to hamlets destroy and people slay,
The insensible bullets and shells to human bodies sever:
How she writhed in agony to part from us for ever.

I also sobbed that night, defeated by the hostile drive,
Of the broken April thirtieth, nineteen seventy five.
The frail boats crossed the windy and wavy ocean
To carry those souls with resentment-filled emotion.

I again mourned for my brother who deceased
In the Central Region’s prison, ill-treated like a beast;
Over ten odd years his belief had become perpetuation,
Thus had not been shaken by the adverse situation.

I have lamented seeing our homeland distressed,
Each place-name a majestic feat – They are so blessed.
Thru many generations our ancestors’ proud display
Now remains, alas! if not decline, mere decay!

I have bewailed all my adrift life – For them, for you,
I have cried for my compatriots and for myself too.
Deaths and grief aim at our people’s heart to rend,
In this poor plight I might continue to cry without end.

Translation by ,Thanh Thanh

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

Lở Chuyến Đò Ngang

 

Anh đứng đây bên bờ sông Mỹ Thuận
Nhìn ghe tàu xuôi ngược Cửu Long Giang
Nhớ bao lần lỗi hẹn em hờn giận!
Chẳng nói rằng, mắt đẹp buồn man man

Bến đò xưa... kế vườn cây liếp rẫy
Dòng sông dài ngăn hai tỉnh liền nhau
Nắng chiều buông lơi trên bờ lau sậy
Tiếng rì rào theo gió vút lên cao...

Chúng mình thân thuở tuổi xanh mộng đẹp
Mỗi sáng sang sông chung một chuyến đò
Học cùng lớp chung trường Tống Phước Hiệp
Bên kia sông là vùng đất Mỹ Tho

Chuyến đò ngang vẫn đông đầy hành khách
Em hôm nào cũng dành chỗ anh ngồi
Cậu học trò xưa biếng lười đáng trách
Vẫn thường ngày hay lỡ chuyến đò xuôi

Xong phần hai, anh chọn nghề lính chiến
Ngày tiễn đưa mắt em rưng lệ sầu...
Anh chợt nghe tâm hồn mình xao xuyến
Có vạn lời, không biết nói từ đâu

Và cứ thế, thư ngọt lời lưu luyến
Để cho em quay quắt nỗi chờ mong
Anh lận đận trên bước đường chinh chiến
Hồn rụng rơi khi nhận cánh thiệp hồng!

Con chim khách bay vụt qua ríu rít
Mừng kẻ về, hay thầm trách người xưa?
Hàng quán đây nhiều ổi, xoài, điều, mít...
Giờ còn chi... chiều phai phái nắng mưa

Cảnh quen thuộc sao tâm tư hụt hẫng
Thuở hồn nhiên bỗng nhớ lại trong lòng
Cây trứng cá cuối sân, ôi thờ thẩn!
Trường mới xây, em tưới nước, anh trồng

Mắt già băn khoăn, giọng buồn ông kể:
“...Anh lính ơi, gian khổ vạn muôn lần...
Những buổi chiều vàng trời nghiêng bóng xế
Nhớ chuyện ngày xưa, anh có bâng khuâng?

Nay cố quốc đà tang thương dâu bể...
Mấy mươi năm qua ai mất ai còn...
Nỗi thống hận đổi đời làm sao kể
Có bao người giữ được tấm lòng son!”

Thuở thanh xuân chuyến đò ngang đà lỡ
Giặc tràn vào anh cũng chẳng có chi
Dầu giải chông gai để rồi tan vỡ...
Thẹn với núi rừng, thẹn với chinh y...

Nhưng nếu kiếp lai sinh còn duyên nợ
Vẫn nguyện cầu làm dân tốt miền Nam
Đạo đức, nghĩa nhân... dù đời đau khổ
Kiên quyết, bền tâm trước chuyện đá, vàng

Hoàng hôn xuống nơi bến đò năm trước
Lòng bồi hồi thương nhớ thuở học trò
Chiếc đò ngang vẫn đông đầy xuôi ngược
Trên bến sông vẫn có kẻ lỡ đò!

Dư Thị Diễm Buồn

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2026

Nhóm Tri Kỷ Bốn Phương Mừng Sinh Nhật Anh Hai Trần Công 10/3/2026

 

Mười tháng ba (10/3) quá trăm năm
Sao quên được tiếng tăm người hùng.
Ngày xưa chiến sĩ vẩy vùng
Dọc ngang khắp ngã một lòng trung kiên!
Đúng là một đấng tôi hiền
Lỡ thời thua cuộc ngã nghiêng sơn hà.
Anh đành bỏ nước đi xa
Lòng đau khắc khỏai lệ nhoà mắt trông
Xứ người gửi nỗi hoài mong
Văn thơ gói trọn nỗi lòng hoài hương
Nghĩ mà thương thật là thương
Anh Hai đang bước trên đường lưu vong!

6-3- 2026
Hàn Thiên Lương

***
Minh Giang kính chúc anh Hai thêm một Sinh Nhật thật vui vẻ, hạnh
Phúc cùng gia đình và bằng hữu.

Anh Hai thượng thọ tuổi ngoài trăm
Thế sự nổi trôi thêm bốn năm
Bóng cả cao vời lưu hậu thế
Trải bao sóng gió vượt thăng trầm.

MinhGiang

***
Chúc Thọ Anh Trần Công

Đại Thọ mừng anh ngoại bách niên
Vui tươi anh có lắm bạn hiền
Em Tư Ngoc Hạnh xin cầu chúc
Anh Hai khỏe mãi chẳng ưu phiền

Cầu mong anh Cả luôn tinh tường
Thơ hay sáng tác như khi trẻ
Cháu con, bạn hữu đều yêu mến
Anh Hai mãi được mọi người thương


Kinh Chuc, ngày 4/2/26
Tư Ngọc Hạnh

***
Em Tám Nhà Quê đây anh Hai
Tháng Chạp vườn mình vàng hoa mai
Bưởi, cam, quít, xoài... hườm hườm chín
Mặc quần áo mới, tóc trâm cài...

Chiều Ba Mươi cúng rước Ông Bà
Tết, mừng sinh nhật với chúng ta
Anh Hai phúc thọ hơn trăm tuổi...
Đón Giao Thừa xong, sẽ mở quà

Dư Thị Diễm Buồn

***
Nhóm Tri Kỷ Bốn Phương gồm có:

Anh Hai Trần Công Tiền Giang Tử ( Lão Mã Sơn)
Chị Ba: Cao Minh Nguyệt
Chị Tư: Ngọc Hạnh
Anh Năm: Hàn Thiên Lương
Chị Sáu: Minh Hưng
Chị Bảy: Tiểu Thu
Chị Tám: Dư Thị Diễm Buồn
Chị Chín: Đỗ Thị Minh Giang
Chị Mười: Tuyết Phan
Em Út: Kim Oanh


Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2025

Sầu Tím Mắt Buồn

 

“Viết theo tâm sự DS Trần Nghĩa Đời”

Cứ mỗi lần hè về hoa phương nở
Nhớ thuở ngày xanh cấp sách đến trường
Tự trách mình sao mà hay mắc cỡ
Thì nói gì... chuyện đôi lứa yêu thương

Thuở mới lớn anh học trò Trung học
Mỗi tuần đôi lần em ghé nhà thăm
Em gái anh, bạn em thời tuổi ngọc
Hai đứa bên nhau thủ thỉ thì thầm...

Chuyện học hành chuyện thầy cô trong lớp
Chuyện ăn quà cóc, ổi... trước cổng trường
Chuyện đám nam sinh đi sau cười cợt:
“...Cái tụi vô duyên, khó ghét dễ thương!”

Con gái thiệt là lắm điều xí xọn
Cười nói huyên thuyên chẳng ngại chi ai
Nếu rầy, em anh cho là nhỏ mọn...
Con trai gì mà có tánh thày lay...

Từ vô tình nghe hai cô táng gẩu
Anh mỉm cười tình ý thoáng bâng khuâng
Làm bộ tảng lờ, ngại ngùng cố giấu...
Để tâm tư cứ xao xuyến âm thầm...

Thời gian qua mau đông tàn xuân đến
Hôm ghé thăm, em thò thập ngoài sân
Anh bước ra giấu miệng cười cảm mến
Mắt sáng ngời định cạn tỏ... làm thân

Bỗng khựng lại, bởi giọng cười hào sảng
Của con em trờ tới phía sau lưng
Anh hụt hẫng! Ngày qua... theo năm tháng...
Đến với anh dịp đó... chỉ một lần!

Mấy mươi năm sau tình cờ gặp lại
Trong mắt em vương vướng nỗi u buồn!
Dáng vẻ đoan trang nhuộm màu oan trái
Xứ người thanh thản... sao đượm sầu loang!

Em trách anh: “Ngày xưa sao không hỏi?
Nên tưởng rằng anh đã có người thương!
Là con gái làm sao em dám nói...
Lòng dặn lòng... nên lỡ mối tơ vương...

Nếu anh hỏi, biết đâu mình nên nợ...
Chuyện qua rồi... giờ cảm thấy tiếc thương
Dẫu biết vô duyên... chưa thành đã vở
Ray rứt tâm tư! Sầu tím mắt buồn...”

Xin lỗi em: “Nhân sinh đều có số...
Nay gặp lại vẫn không thể chung thuyền!
Thì em ơi sầu chi trong biển nhớ...
Bởi lẽ chúng mình không phải nợ duyên!

Nợ nước chưa xong tình nhà chưa trả
Ơn sinh thành dưỡng dục nặng đôi vai
Thôi em hãy để nhòa phai tất cả...
Nguyện ước thanh bình trở lại ngày mai!

...Chuyện ngày xưa... để xuôi theo định mệnh
Kiếp nhân sinh anh đã lắm phong trần
Xin giác ngọc thếp vàng lòng quý mến...
Nhưng kiếp người, chỉ là áng phù vân...

Nợ nhân sinh kiếp nầy chưa trả hết
Xin hẹn kiếp sau nếu có luân hồi
Nếu kiếp sau anh là người trần thế
Thì kiếp đời cũng là áng mây trôi...”


Dư Thị Diễm Buồn


Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

Mỗi Độ Thu Về

  

Cứ mỗi độ ngoài trời mưa rỉ rả
Nắng đìu hiu và mây tím giăng ngang
Chim xù lông rỉa cánh đậu từng hàng
Ánh chiều tắt, đèn chong vàng ngoài ngõ

Tôi chạnh nhớ quê nhà chiều lộng gió
Con đường mòn đưa vào xã Mỹ Ðông
Ven bờ đê xanh biếc khóm vông đồng
In bóng nước trong veo chùm bông đỏ

Cây cầu tre bắc ngang dòng kinh nhỏ
Tay gượng lung lay, cầu lắc khó qua
Áo tím, em thêm chất phác mặn mà
Như bông lục bình nở trên bến nước

Cặp ngỗng thả dòng rỉa lông trắng mượt
Nước phèn trong từ Ðồng Tháp chảy ra
Màu nâu hồng nước thấm quyện phù sa
Vào Cửu Long tẽ ra sông Cái Cối

Gió thoảng nhẹ đưa hương đồng cỏ nội
Nền trời xanh, vầng mây trắng lang thang
Ta tìm nhau qua bóng mát địa đàng
Thả mộng đến những chân trời hạnh phúc

Dòng Cái Cối có mùa trong mùa đục
Ðất quê em trải mấy cuộc thăng trầm
Ðể hẹn xưa trong dĩ vãng mù tăm
Thành kỷ niệm nhạt nhòa trên đất khách!


Dư Thị Diễm Buồn

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2025

Thơ: Nhóm Tri Kỷ Bốn Phương - Thực Hiện: Tuyết Phan


(Kính mừng Sinh Nhật 103 tuổi cuả Anh Hai Trần Công Tiền Giang Tử "Lão Mã Sơn" )

Thơ: Tri Kỷ Bốn Phương
Thực Hiện: Tuyết Phan 

Nhóm Tri Kỷ Bốn Phương gồm có:

Anh Hai Trần Công Tiền Giang Tử ( Lão Mã Sơn)
Chị Ba: Cao Minh Nguyệt
Chị Tư: Ngọc Hạnh
Anh Năm: Hàn Thiên Lương
Chị Sáu: Minh Hưng
Chị Bảy: Tiểu Thu
Chị Tám: Dư Thị Diễm Buồn
Chị Chín: Đỗ Thị Minh Giang
Chị Mười: Tuyết Phan
Em Út: Kim Oanh

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

Khi Rừng Chưa Thay Lá


Đã vào cuối mùa đông mà trời vẫn còn lạnh lắm. Gió có hôm trừ 40, 50 và thời tiết xuống trừ 9, 10 độ F. Mà 30 độ C thì nước đã thành nước đá rồi. Nên phải biết cái lạnh đến dường nào. Với chúng tôi thì không có gì lạ và thắc mắc, bởi đó là thời tiết hết sức bình thường vào mùa lạnh ở vùng thành phố Gió Chicago.

Gia đình chúng tôi thường hạn chế đi đó đi đây nhiều trong mùa đông giá buốt lạnh lùng, ngoài hai buổi đi làm, đi chợ và đưa rước các con đi học. Đồ ăn có thể giữ lâu ngày bán ở các tiệm Tàu, hoặc tiệm Việt Nam thì chúng tôi đã mua trữ từ cuối mùa thu. Thí dụ như là: gạo, tôm khô, lạp xưởng, thịt chà bông, tương, chao, khô... Còn thịt thà tôm cá tươi hoặc đông lạnh mua ở tiệm Mỹ thì lúc nào cũng có tươi, ngon, đôi khi hạ giá còn rẻ hơn ở các tiệm của người Á Đông nhiều.

Và cứ chiều thứ sáu thì tâm hồn những công nhân lao động như chúng tôi vui vẻ phơi phới. Đi làm về tấm ngân phiếu (check) còn ấm túi, ghé qua chợ mua sắm thịt thà, rau cải, trái cây về chất đầy tủ lạnh để chuẩn bị cho tuần tới. Và nhứt là tối thứ sáu cả gia đình từ lớn đến mấy đứa nhỏ tha hồ thức khuya xem phim, chơi gem (game), nghe nhạc, đọc sách, báo... Bởi mai còn là ngày cuối tuần đó mà.

Trên bàn viết cái điện thoại vô duyên, vô hồn nằm đó lạnh lùng bỗng lanh lảnh reo vang từng hồi. Vì cả nhà đang mê mẩn tâm hồn xem phim "Anh Hùng Xạ Điêu" tới hồi hấp dẫn. Mai Xuân Phong (không thấy đường) đang ngồi trên lưng Quách Tỉnh đánh chưởng với mấy ông thầy chùa thúi và Hoàng Vương Khang (Thái Tử Nước Kim, nhưng lại con người nước Tàu) Vì bọn nầy đã đốt lửa un khói ở ngoài miệng hang bay vào cố tính làm cho hai người họ (Quách Tỉnh và Mai Xuân Phong) chết ngộp...
Phu quân tôi và mấy đứa nhỏ đang nín thở chăm chú nhìn lên màn ảnh. Chẳng ai chịu đến giở điện thoại để nghe. "Làm lớn phải làm láo" Tôi phóng nhanh đến chụp ống nghe. Liếc đồng hồ, tôi thấy đã 12 giờ khuya rồi. Thiệt bực mình, không biết có chuyện gì, ai mà lại gọi trễ như vậy?


- Hello, hello...
Tiếng nói của đàn ông lạ bên kia đầu điện thoại:
- Thưa, có phải nhà của chị DTDB không?
- Dạ phải, tôi DB đây. Xin lỗi vị nào bên kia đầu dây vậy?
Giọng vui vẻ của người đàn ông:
- Tôi B H T ở Úc đây chị ơi. Xin lỗi chắc bên đó khuya rồi hả chị?
Thì ra đây là anh bạn đồng môn thường thư từ bằng E-mail, chớ chưa bao giờ gọi điện thoại viễn liên. Tôi vui vẻ:
- Dạ chào anh Trạng. Không sao đâu, vì sự chênh lệch giờ giấc của hai nước xa quá là xa mà anh. Gọi điện thoại viễn liên tốn kém lắm. Anh gác máy đi, có số điện thoại của anh đây. Tôi sẽ gọi lại cho anh liền...
Bên kia đầu dây giọng cười hề hề:
- Nhằm nhò gì chị ơi, nói đi, ai gọi cũng vậy mà, chị đừng có gọi đi gọi lại mắc công lắm...
Dân Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng tôi là thế đó! Hệch hạc, hề hà có sao nói vậy. Không trau chuốt, khách sáo, màu mè.
Tôi trả lời:
- Thôi cũng được. Vậy hôm nay anh gọi cho tôi chắc có chuyện gì quan trọng hả anh Trạng?
- Không hẳn đúng như vậy. Chủ yếu là gọi thăm anh chị cùng gia đình và hỏi lại anh chị có sẵn sàng lên đường qua đây chưa?
Tôi cười khẳng định:
- Thưa anh, chúng tôi đã chuẩn bị xong rồi, chờ đến ngày là đi ngay. Không có gì thay đổi cả anh ơi. Anh chị và các cháu khỏe chớ?
- Khỏe, bà xã tôi đang trông chị qua đó…

Tôi cảm thấy nôn nao trong lòng muốn gặp ngay vợ chồng người bạn hiếu khách, tốt bụng nầy mà chưa lần nào gặp mặt. Anh Trạng hỏi như vậy không phải là không có nguyên nhân. Bởi chiến sự của thế giới đang sụt sôi. Chiến tranh có thể xảy ra ở các nước bất cứ lúc nào. Mỹ đang đánh Iraq. Bịnh SARS đang hoành hành các nước, nhứt là ở Châu Á. Làm cho dân tình thế giới bàng hoàng sợ hãi.

Bạn bè và thân nhân thật lòng lo ngại cho chuyến đi xa nầy của chúng tôi. Các con tôi sợ cha mẹ tiếc tiền nên đề nghị:
- Ba má bỏ giấy máy bay đi, chúng con sẽ trả liền lại cho. Tình hình các nơi không được tốt, rủi kẹt lại ở nước nào đó thì khổ lắm. Thôi ba má đừng đi nghen…
Em gái tôi ở tiểu bang xa, cũng điện thoại khuyên:
- Tình hình chiến sự không biết sẽ đi về đâu? Anh chị nên hủy bỏ chuyến viễn du nầy đi. Có tiền thì lúc nào đi du lịch không được? Nghe nói chánh phủ Mỹ cũng khuyên, nếu không cần thiết thì không nên đi xa trong những ngày tháng nầy... Đang lúc hỗn độn, rối ren, anh chị đi như vậy thấy có đáng ngại lắm không?
Những người bạn thân biết chuyện cũng bảo:
- Nghe nói ông bà định đi xa hả, bộ hai người có học gồng sao? Nên gọi hãng máy bay dời lại dịp khác đi. Đang lúc nầy mà đi xa, thì ông bà có thấy là mạo hiểm lắm không?
Lòng tôi cũng nao núng trước những lời khuyên lơn, nhắc nhở… Tôi bàn với phu quân tôi:
- Sao ba sắp nhỏ, con cái, em út, bạn bè... thật lòng khuyên chúng ta không nên đi trong lúc nầy. Như vậy anh nghĩ thế nào? Có nên hủy bỏ chuyến đi không?
Phu Quân tôi trầm ngâm một hồi, bảo:- Em có sợ không? Đi thì đi chớ ngại gì? Con người đều có số cả. Ngọc Hoàng mà giũ sổ rồi thì ở đâu cũng không sao tránh khỏi…
Trong gia đình bé nhỏ của chúng tôi, thường thì tôi là xếp. Bởi các con tôi (trai cũng như gái) muốn mua sắm thứ gì, muốn xin cái gì cũng đều hỏi mẹ. Có hỏi ba chúng, thì ông cười hì hì bảo với đám nhỏ rằng:
- Các con hỏi mẹ trước, mẹ là xếp của mình...
Có lẽ ông nói vậy cho vợ mát lòng mát dạ. Chớ thật ra những chuyện lớn nhỏ trong gia đình, quyền quyết định tối hậu vẫn là của phu quân tôi.

Vạn dặm đường xa! Tôi mơ màng nghĩ phải ở thời xưa thật là xưa, Tề Thiên Đại Thánh chỉ cần nhún mình một cái, từ Mỹ sang Úc chỉ trong chớp mắt thì tới ngay thôi. Nhưng ở thế gian, trên một nước hiện đại ngày nay, chúng tôi đi từ phi trường O'hare (Chicago) đến Phi trường Los Angeles hết 4 giờ 15 phút. Đến sân máy bay Quốc Tế ngồi chờ đợi mất 2 giờ. Máy bay cất cánh 11giờ 30 phút đêm, chở chúng tôi và hành khách chung chuyến bay trên dưới khoảng 500 người, một lèo bay đến Úc. Bay không ngừng nghỉ, không ghé bất cứ một nước thứ ba nơi nào mà cũng phải mất hết 15 giờ. Eo ơi! Thiệt là ê ẩm cả tứ chi cho bộ xương già của tôi!


Đón chúng tôi tại phi trường Melbourne có vợ chồng anh Bùi Hữu Trạng, anh Huy, Anh Huỳnh Ngọc Minh (Dallas TX), Anh Dương Quốc Hồng (ba anh đồng môn, còn chị Bùi Hữu Trạng và anh Dương Quốc Hồng không phải đồng môn của tôi). Nhưng anh Hồng là bạn của chúng tôi từ mấy mươi năm trước ở cố hương.

Sau khi nhận đồ gởi theo trong chuyến đi. Ra đến bãi đậu xe ở phi trường mới hơn 9 giờ sáng. Hàng quán chưa nơi nào mở cửa. Anh Hồng gọi điện thoại về nhà và đưa chúng tôi về thăm chị Hồng cùng các cháu.
Anh chị Hồng đãi chúng tôi bữa ăn nhẹ điểm tâm. Sau đó chúng tôi từ giã anh chị Hồng về nhà anh Trạng để chuẩn bị cho buổi tiếp người phương xa do các anh chị đồng môn ở Melbourne đón tiếp anh Huỳnh Ngọc Minh và vợ chồng tôi ngay chiều tối hôm đó.
Anh Bùi Hữu Trạng trong ban tổ chức buổi tiếp tân đêm nay có nhã ý mời anh chị Hồng cùng các cháu đến tham dự. Vì anh Trạng biết anh chị Hồng là bạn lâu đời của chúng tôi.

Khi bắt đầu khai mạc buổi tiếp tân thì anh Hồng điện thoại cho biết không đến được vì trời mưa và rất bận rộn thu xếp mọi thứ để sáng hôm sau sang du lịch ở Mỹ. Đã hơn ba mươi mấy năm gặp lại, anh Hồng chúng tôi chỉ gặp nhau khoảng hai giờ đồng hồ thôi. Tôi cảm thấy buồn buồn vì không biết đến bao giờ chúng tôi mới gặp lại nữa? Và không ai có thể chắc chắn có còn gặp lại nữa không? Mọi sự việc trên thế gian nầy có thể thay đổi theo cái tích tắc của kim đồng hồ! Làm sao biết trước được chuyện của ngày mai! Vâng, không ai có thể ngờ và biết trước được!

Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh chị Bùi Hữu Trạng. Nhưng tôi cảm thấy quen quen nhứt là chị Trạng, như tôi đã gặp ở đâu rồi?
Tươi cười tôi hỏi chị Bùi Hữu Trạng:
Thấy chị Trạng quen mặt quá. Không biết chúng mình đã gặp đâu rồi phải không?
Chị Trạng vui vẻ trả lời:
- Mình tên là Ngọc Anh, mình thấy chị cũng quen lắm. Ngày xưa chị
Diễm có học trường nữ Trung học Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho không vậy?
Tôi cười vui:
- Dạ không, tôi học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ...
Thế là trên đường đi, mấy ông thì nói chuyện với mấy ông, còn tôi và chị Ngọc Anh tía lia kể cho nhau nghe từ thời còn Trung học đến lập gia đình, rồi đi làm việc. Và cuộc sống hiện tại của hai gia đình chúng tôi ở hai xứ tạm dung…
Tôi nói tiếp:
- Mình học xong cấp 3 trường nữ Trung học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Rồi đi học y tá và khi ra trường về làm ở Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Mỹ Tho. Còn chị thì sao chị Ngọc Anh?
Miệng chị Anh cười tươi tắn, để lộ hàm răng trắng đều, bảo:
- Mình hả? Học Sư phạm Cần Thơ. Ra trường dạy học ở đó rồi có chồng, mọc gốc mọc rễ bên Cần Thơ luôn. Làm việc ở Mỹ Tho, bồ ở đâu?

Chỉ chừng đó thôi, chúng tôi thấy như quen nhau từ lâu lắm rồi. Xưng hô với nhau loạn xạ lúc thì bồ, lúc thì mình, lúc bạn, lúc thì tui... Hai phương trời cách biệt nầy, nhưng có lẽ cùng hoàn cảnh, cùng tâm trạng, cùng nỗi buồn của người xa xứ. Chúng tôi lại cỡ tuổi nhau, học hành ngang nhau, cùng ở vùng Châu Thổ và nhứt là tấm chân tình của chị. Nên chúng tôi rất nhanh và dễ dàng hòa hợp ở mọi câu chuyện.

Chị Ngọc Anh nước da ngâm ngâm, dáng dấp người mảnh mai, tóc dài, tánh tình hòa nhã, ăn nói nhỏ nhẹ, mềm mỏng, cười hi hí và hay nói tếu (tếu ngầm). Rất dễ thương. Còn tôi thì “mình hạc xương cối đạp” giọng nói rôn rổn, cười rang rảng… khi nào hợp ý thì tôi cười ha hả thả cửa, cười hết ga… Mà có lần ông thầy bói tướng mù ở góc phố, nghe tôi cười đã nói trước mặt ba má tôi rằng:

Giọng cười hào sảng nầy mà thanh niên nào có thì chắc chắn sẽ được quyền cao chức trọng hiển vinh một đời! Còn ở phụ nữ thì lỗi số! Cho nên phái nữ mà có giọng cười nầy thì không lết bằng mo, bò bằng mủng thì cũng nghèo xác nghèo xơ, nghèo không gạo nấu, nghèo không trấu mà un...

Tôi ứa gan, và nguýt xéo ông thầy bói. Ba tôi với ánh mắt nghiêm khắc nhìn con! Còn má tôi quét cặp mắt trách móc vì đã bao lần cảnh cáo cô con gái cưng của bà phải sửa lại tiếng nói, giọng cười cho mềm mỏng dễ thương… Nhưng tôi quên thì chẳng bao giờ nhớ, bởi "Cha mẹ sanh con, trời sanh tánh" tôi bèn bắt chước trổ giọng Trung mà than rằng: "Ui chao, tui phải làm răng bây chừ?" Nhưng tội nghiệp cho ông thầy bói nầy. Đã không tự bói cho mình, hôm nay chắc ông hết thời rồi, nên mới dám chê bổn cô nương thậm tệ như vậy! Và từ đó về sau, ông thầy bói tướng mù ít khi đi qua con đường trước cửa nhà tôi. Bởi có một chiều đẹp nắng! Chị ba tôi và tôi lén ăn cắp cái mu rùa và manh đệm rách của ông ngồi coi bói, thảy xuống sông cho nước cuốn trôi đi! Đã mấy mươi năm rồi, bây giờ chợt nhớ lại tôi bật cười thành tiếng, khiến chị Ngọc Anh ngạc nhiên nhìn tôi lấy làm lạ.

Tôi lờ đi, cười cởi mở trả lời chị
- Tôi ở chợ Thạnh Trị (chợ Lò Heo), đường Trần Quốc Tuấn. Còn Mỹ Tho chị ở đâu, đường nào vậy chị Ngọc Anh?
Chị Ngọc anh mắt ngời sáng, tươi vui:
- Mình ở trong cư xá nằm phía sau Ty Điền Địa. Chị có biết chỗ đó không? Ba mình là ông... làm trong Ty Điền Địa mấy chục năm lận.
Tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng: gặp lại đồng hương, ở cùng phố:
- A, vậy là mình biết ba của chị. Thỉnh thoảng bác có ghé qua khám bịnh. Thì ra mình là láng giềng với nhau. Nếu chị ở trong cư xá Ty Điền Địa đến chợ Thạnh Trị phải đi vòng ra cửa chánh thì đi bộ hơi xa. Nhưng nếu chị chun hàng rào đi tắt ra chợ thì rất gần. Nếu chun hàng rào ra chợ thì bắt buộc chị phải đi ngang qua nhà mình vì chỉ có một con hẻm duy nhứt đó. Nhà mình cách cư xá chỉ có mấy căn nhà và cái hàng rào kẽm gai thôi.
Chị Ngọc Anh vui vẻ, cười nói:
- Đúng rồi, sáng sáng mình thường bưng rổ ra mua xôi mua bắp ở chợ cho mấy đứa em. Bữa nào trễ mình thường hay chun lỗ chó rồi đi qua ngang nhà chị. Mình nhớ nhà ai trong xóm đó có nuôi mấy con chó hết sức dữ dằn. Mỗi lần đi qua nó chỉ sủa thôi mà mình vẫn sợ gần chết...

Về đến nhà chị Trạng, chúng tôi tắm rửa thay đồ cho tỉnh táo. Còn anh Trạng thì chạy đi chợ mua thịt thà để chị Ngọc Anh ra tay nấu nướng cho buổi cơm trưa khoản đãi cho anh Huỳnh Ngọc Minh và vợ chồng tôi.
Thời gian xáo trộn, bên Úc đi trước Mỹ mười mấy giờ. Vùng tôi đang ở Chicago (Mỹ) chênh lệch giờ vùng anh chi Trạng ở Úc là 17 giờ. Mắt tôi thì mở thao láo nhưng trong óc cảm thấy cứng như cục đá, và lơ tơ mơ chẳng tỉnh táo chút nào cả.

Chị Ngọc Anh cười bảo chúng tôi:

Anh Minh, và anh chị Diễm hãy vào nằm nhắm mắt dưỡng thần đi. Đừng có ngại, chúng tôi biết đường sá xa xôi và giờ giấc chênh lệch quá. Quý vị rất mệt mỏi, cứ nghỉ ngơi, chừng nào anh Trạng về, nấu nướng xong, chúng tôi sẽ gọi quý vị. Hãy tự nhiên, đừng ngại chi cả nghen.
Chỉ chờ có thế, tôi chùi lên giường không biết trời trăng mây nước chi hết. Khi giật mình tôi nghe tiếng gáy khò khè của ông xã tôi. Rồi ông cũng trở mình thức giấc. Tôi chìm trong giấc ngủ say được hơn hai giờ thôi, mà tỉnh táo chi "lọa!" Bởi giờ giấc không quen nên khó có được giấc ngủ dài.
Ở nhà tắm bước ra, tôi thấy phu quân tôi áo quần tươm tất và ngồi trên ghế dựa ở phòng khách tự bao giờ. Ông nhìn tôi cười cười, và thuận tay chỉ:
- Kìa, xem kìa, món ruột của em đó.

Trên bàn một dĩa lớn đầy những miếng mãng cầu dai trắng ngần (mãng cầu dai ở đây trái to và dài như mãng cầu xiêm ở bên quê nhà) hột đen huyền chứng tỏ mãng cầu để già lắm hoặc chín cây mới hái. Chẳng e dè, tôi chộp ngay một miếng ăn liền. Ôi, mùi vị thơm tho ngọt ngào từ từ đi vào vị giác tôi. Rồi tôi lại ăn miếng thứ hai, miếng thứ ba, ăn không ngừng...
Ông xã tôi khều nhẹ, nhắc nhở:
- Còn phần anh Minh nữa đó.
Tôi cười mỉm chi cọp chẳng nói gì. Anh Minh ở phòng bước ra, gọn ghẽ trong bộ đồ mới thay. Áo trắng tay ngắn, quần xanh dương sậm, chỉnh tề như thuở còn là nam sinh Phan Thanh Giản. Anh cười chào chúng tôi:
- Chào anh chị Diễm, sao hai ông bà thức sớm vậy? Không ngủ thêm chút nữa?
Ông xã tôi cười:
- Chào anh Minh. Anh ngủ có ngon không? Chúng tôi chỉ thức sớm hơn anh một chút thôi.
Tôi lớn tiếng mời:
- Anh Minh ăn mãng cầu dai đi. Mãng cầu tươi và và ngọt lắm. Của chủ nhà đãi đó, chớ không phải của tui đâu nghen…
Anh Minh vui vẻ:
- Chị ăn đi. Ở đây trái cây ngon lắm, vì họ trồng trong nội địa. Năm nào tôi cũng qua Úc, vì dòng họ tôi sống rải rác một vài tiểu bang. Chị mà đến Sydney thì còn nhiều thứ trái cây ngon khác nữa.
Tôi mở to mắt ngạc nhiên. Vì trong lòng tôi cứ tưởng các loại trái câyÁ Châu từ Thái Lan, Tàu, hay các nước khác được nhập vào nước Úc.
Tôi mở cờ trong bụng rồi nhoẻn miệng cười tươi như hoa, mạnh miệng hỏi thêm lần nữa:
-Anh Minh, bộ anh không ăn mãng cầu hả?
Anh Minh cười:
- Không, chị ăn đi…
Tôi lật đật bưng dĩa mãng cầu lên, vừa cười vừa nói:
- Vậy thì tui không khách sáo đâu đó nghen anh Minh.

Ngoài hiên nhà tiếng chim kêu ríu rít. Lá xanh cành nặng hoa, nặng trái. Trên nền trời ngọc thạch rải rác từng cụm mây trắng mỏng thong dong từ tốn nhè nhẹ bay theo hướng gió. Vì Úc châu đã vào chánh mùa xuân. Trong buổi ăn trưa của chúng tôi ngồi quanh bàn gồm có anh chị Trạng, hai cặp vợ chồng hai cô con gái cùng cậu con trai còn độc thân của anh chị, anh Minh và vợ chồng tôi. Trên bàn có nhiều món ăn do anh chị Bùi Hữu Trạng làm hỏa đầu quân.
Anh Trạng mời mọc:
- Mời quý vị ăn thử món thịt con kangaroo. Đến Úc mà không ăn mónnầy thì thật là thiếu sót, coi như chưa đến Úc. Hôm nay chúng tôi cố tình mua món nầy để đãi quý vị đó.

Anh Minh cười khiêm nhường:
- Cảm ơn chú thiếm Trạng nhiệt tình với chúng tôi quá. Mong có dịp được tiếp đón chú thiếm ở Mỹ. Nhất là ở Dallas vùng tôi đang cư ngụ.
Ông xã tôi tiếp lời anh Minh:
- Phải đó, anh chị sắp xếp Mỹ du một chuyến đi. Nếu đến vùng giá băng Chicago thì ở nhà chúng tôi. Để chúng tôi có dịp được tiếp đón anh chị.
Chị Ngọc Anh và hai cô con gái để thịt kangaroo lên bếp điện nướng ngay trên bàn ăn. Thịt xèo xèo trên bếp nóng. Mùi thịt ướp gia vị tỏi, hành... bay lừng theo làn khói tỏa thơm phưng phức. Chị Trạng gắp miếng thịt vừa chín để vào dĩa tôi, mời:
- Thử đi chị Diễm, xem vừa ăn không, nếu lạt thì có nước chấm đây.
Thịt bò, thịt heo, thịt dê, thịt thỏ... Nhiều thứ thịt đã được ăn qua, tôi chưa thấy thịt nào đậm đà, ngọt, mềm như thịt kangaroo. Cộng vào tài ướp thịt của chị Trạng nên món thịt nướng kangaroo quả thật là tuyệt quá đi! Tôi và chị Anh vừa ăn vừa nói về các món ăn khác với hai cô con gái và hai chàng rể trẻ của chị. Thỉnh thoảng chúng tôi nhắc về một vài địa danh ở quê nhà với bao niềm thân thương luyến nhớ…
Còn mấy ông thì nhấp nháp đôi chai bia. Không ai uống thả ga vì còn phải để dành bụng chiều nay uống ở nhà hàng. Tôi đang ăn ngon trớn, không biết đã đến miếng thứ mấy thịt nướng của con kangaroo? Bỗng dưng tôi khựng lại, dội ngược bởi hình ảnh con kangaroo nhảy nhảy rồi dừng lại ngồi bên kia bờ suối. Trong túi trước bụng của nó có hai ba con nhỏ. Cả mẹ lẫn con mắt mở to ngơ ngác hiền lành nhìn tôi mà năm rồi tôi đã gặp trong lần viếng thăm vườn bách thú!

Chiều hôm nay mưa rơi tầm tả! Ngồi trên xe nhìn mưa rơi qua làn kiếng trong, tôi nhớ đến năm Đệ nhị, nhớ con nhỏ bạn mắc toi Lê Thị Huỳnh Hương của tôi bị bồ lỡ hẹn vì trời mưa. Nhỏ chờ hoài mà chàng không đến, về khóc râm rức với tôi. Xúc cảnh sinh tình của bạn, tôi viết tặng nó bài thơ trong đó có mấy câu trên. Giờ đây, nơi phương trời xứ lạ, nơi tôi tạm cư và những nơi tôi đã được đi qua: Mỹ, Âu, Úc, Á... Tôi cố tình tìm kiếm người bạn đồng môn Đoàn Thị Điểm ngày xưa nhưng vẫn bóng chim tăm cá!

“...Chiều thứ bảy mưa rơi anh không đến,
Băng đá kia trơ trẻn đợi chờ ai?
Nơi công viên không buồn đó gót hài
Ai đưa về, ai vẫy tay lưu luyến?
………………………………..”

Buổi tiếp đón đồng môn có mười bàn và mỗi bàn trên dưới khoảng mười người. Sau phần nói về ý nghĩa buổi họp mặt hôm nay là phần giới thiệu thầy cô, bạn đồng môn. Ở Mỹ qua. Đêm nay còn có anh chị Châu Minh Hoàng ở San Jose (miền Bắc California ở Mỹ) anh Minh ở Texas và vợ chồng tôi, còn lại là thầy cô và các đồng môn ở địa phương.
Trong buổi dạ tiệc có phần văn nghệ bỏ túi. Tôi biết được ngoài công việc điều khiển chương trình khéo léo cho buổi tiếp tân đêm nay, anh Việt (em trai của anh Bùi Hữu Trạng) còn là người hát hay, đờn giỏi và nhứt là ngâm thơ tao đàn thật tuyệt!
Phần văn nghệ vui nhộn và hấp dẫn vô cùng với những giọng hát hay không bằng hay hát của trai thanh gái tú của dâu, rể (già) cựu học sinh trường Trung học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm ở miền Nam nước Việt năm xưa, đang lưu lạc tạm cư ở địa phương nầy.
Dưới chân đồi nhìn lên, ngôi nhà ngói đỏ kiến trúc theo lối của người Á Đông. Tôi hỏi chị Ngọc Anh:
- Kiến trúc sư nước nào vẽ họa đồ cất ngôi nhà nầy vậy?
- Mình không biết chính xác. Ngôi nhà nầy mình mua lại của một gia đình người Nhật.
Tôi nói tiếp:
- Mái nhà lợp bằng ngói âm dương màu đỏ. Cất theo triền đồi, cao, trung và thấp. Có sân trước, vườn sau... Ngôi nhà kiến trúc xinh xắn, đẹp, hợp với phong cảnh đồi cây xanh lá, suối nước róc rách. Ông bà thật khéo chọn vị trí khung cảnh ngôi nhà ở nơi rất thi vị nầy. Và chị Anh biết không? Sáng nay thức dậy vừa bước ra cửa, tôi bỗng nghe ai chào "hello! hello!...", tôi tưởng mấy người đi bộ ngang qua chào. Một hồi lại nghe nữa, thì ra hai con két của anh chị nuôi trong chuồng đặt bên hàng giậu gần cửa sổ.

Sáng hôm đó, cháu Thiện, trưởng nam anh chị Trạng chở đến nhà anh chị Huy để rước hai ông bà cùng chuyến du ngoạn với anh chị Trạng, anh Minh và chúng tôi. Anh chị Trạng đã cụ bị những thức ăn, nước uống, những thứ cần thiết cho chuyến đi chơi này từ ngày hôm qua. Chị Huy cũng mang theo nào táo, cam, nho, bánh ngọt... Anh Trạng ngồi trước xem bản đồ để chỉ đường cho tài xế. Phu quân tôi và anh Minh thì nhắm mắt để đó như đang ngủ, nhưng chúng tôi nói chuyện gì hợp gu thì hai ông góp ý ngay.
Anh Huy người cao lớn, ít nói, hay cười hì hì khi ai kể chuyện gì anh thích. Chị Điệp bà xã anh Huy người Bạc Liêu, xinh đẹp, vui vẻ, thật tình. Ba mụ đàn bà chúng tôi thì lúc nào cũng có chuyện để nói. Sau khi kể chuyện gia đình con cái học hành, thì đến những chuyện trên trời dưới đất hồi lúc còn đi học, rồi những chuyện mới xảy ra... Chúng tôi trào lòng theo từng câu chuyện vui buồn, tiếu lâm lẫn lộn.

Tôi bạo miệng hỏi:
- Anh Huy à, anh ngày xưa ở Cần Thơ. Còn chị Điệp thì ở Bạc Liêu làm sao anh gặp mà cưới chị vậy?
Nghe nhắc đến chuyện tình từ thuở đôi mươi của mình, anh Huy mừng quá tỉnh ngủ ngay:
- Ngày xưa tôi đi lính ở Bạc Liêu.
Chị Anh xen vào góp chuyện:
- Như vậy chưa đủ, anh phải kể nguyên nhân nào và hoàn cảnh nào hai người quen nhau?
Tôi cười phụ họa:
- Đúng rồi đó, chị Điệp tài như vậy, đẹp như vậy, thì cớ làm sao? Tình tiết nào? Mà anh rù quến được người ta vậy "hè"?

Chị Điệp là cô giáo dạy chữ Việt, người Tàu lai, chân thật, dễ thương. Chị cười ngất bảo:
- Hai chị biết không? Ngày xưa tôi ghét ổng hết chỗ nói, ổng dê sao mà dê đạo lộ, dê quá chời hà!
Anh Minh (bạn học rất thân từ nhỏ với anh Huy) và ông xã tôi cười ngất, nói:
- Chết mầy rồi Huy ơi, vậy mà thuở đó mầy giấu tao há...
Anh Huy làm bộ không nghe, miệng cười chúm chím, mắt hướng ra cửa sổ xe nhìn trời hiu quạnh! Tôi và chị Anh cười ha hả, tấn công:
- Sao chị Điệp, chị ghét cay ghét đắng ảnh mà sao lại ưng ảnh vậy?
- Ờ, sao vậy chị Điệp?

Chị Điệp cười vui:
- Thì có gì đâu, ngày nào mình đi học ngang qua nhà ổng ở trọ thì ổng ra đứng ngó…
Anh Huy lật đật xen vào:
- Còn thiếu, đi theo sau lưng nữa! Mấy năm trời mới làm quen được với bả. Bả khó khăn vô cùng! Theo bả riết rồi bả chịu không nổi, bả bực mình bảo đừng theo bả nữa để bả theo tui để trả thù...
Tôi và chị Anh cười muốn vỡ kiếng xe. Tôi chêm tiếp:
- Nghe thiên hạ đồn rằng: Giờ ra nước ngoài, và dạo nầy anh Huy hay đi chùa lắm phải không?
Anh Huy mở to mắt chưng hửng, hỏi:
- Sao chị biết?
- Nồi ơi, anh quên sao, ông xã tôi tên Biết, thì làm sao tôi không biết?

Chị Ngọc Anh cười lớn rồi hỏi:
- Anh vào chùa để tắm mát tâm linh phải không?
Anh Huy nhướng nhướng mắt về phía vợ, cười mím chi cọp:
- Tại bà Điệp nhà tôi hiền lành và tốt bụng quá, khi chết bả sẽ được lên sống ở đất Phật. Tôi bây giờ lo đi làm công quả cho chùa, tu tâm dưỡng tánh để sau nầy cũng được lên ở chung với bả.

Ba mụ đàn bà chúng tôi ngồi băng trên, ba ông đàn ông ngồi băng dưới. Chị Điệp đưa tay quơ quơ xuống phía dưới, với đánh chồng mình. Mắt chị trợn to và miệng chị vừa cười vừa nói lớn:
- Không à! Không được à! Mấy chục năm nay đủ rồi, tôi không cho ông theo tôi nữa đâu nghe...
Ai nấy cười no bụng. Chúng tôi quên mất thời gian đã đi bao lâu và bao xa rồi. Dọc theo đường chúng tôi đi rừng xanh thăm thẳm xe vẫn tiến đều trên con đường nhỏ đưa vào vùng quê thưa nhà, xa chợ… Càng đi xa, cảnh vật hai bên đường càng vắng vẻ, và cây cối càng sầm uất hơn.

Trong lòng áy náy lo sợ, tôi khều bà Anh kề tai nói nhỏ: "Sao đường vắng vẻ quá? Có đi lạc không?". Chị Anh mau miệng hỏi con:
- Sao đi lâu quá rồi mà chưa tới vậy con? Bộ lạc rồi hả?
Cháu Thiện trả lời:
- Ba xem bảng đồ, ba bảo chạy đâu thì con chạy theo đó theo ý ba. Chỗ chúng ta đi thăm hôm nay, con chưa đến lần nào...
Chị Anh lo ngại hỏi chồng:
- Bộ lạc đường rồi sao mà đi hoài không tới vậy ông?
Anh Trạng cười tồ tồ:
- Lạc đâu mà lạc, phải nói là đi sai đường chớ đừng có nói đi lạc đường. "Đường nào cũng đến thành La Mã" sai đường thiệt, nhưng yên tâm đi, sắp tới rồi.


Chúng tôi dừng xe lại đi thăm mười hai ngọn núi mọc lên từ bãi biển, mà dân địa phương đặt tên là "Twelve Apostles" Người ta đồn rằng nơi đây rất linh thiêng, ai có lòng thành cầu gì sẽ được nấy...
Chúng tôi được đưa đi thăm vài di tích lịch sử khác. Khi về đến nhà anh chị Lâm Hữu Lộc đã hơn 9 giờ tối. Mâm bàn đã sẵn sàng chờ chúng tôi vào tiệc.
Nơi đây tôi gặp anh chị Thể, anh chị Việt, anh Phúc... Đã rửa mặt mấy lần mà đầu óc tôi chìm trong giấc ngủ, trong khi hai con mắt vẫn mở trừng trừng. Ăn xong chén cháo bào ngư (nước Úc là nơi sản xuất bào ngư tươi ngon có tiếng), tôi như uống được thuốc khỏe. Cơn buồn ngủ biến mất, tươi tỉnh và bắt đầu góp chuyện với các chị chung bàn.

Vừa ăn xong ở nhà anh chị Lộc thì chúng tôi sang nhà anh chị Đức gần 11 giờ khuya. Ôi, cơn ngủ lại quay quắc trở về với tôi. Ngồi nghe Karaoke trong giấc ngủ chập chờn. Anh Đức có giọng hát chẳng kém ca sĩ Duy Trác chút nào. Anh là người hát liên tục mấy bài trong đêm tiếp tân. Anh và các anh chị đồng môn khác cùng chúng tôi lên hát bản "Anh Đi Chiến Dịch" mà không ai thuộc lời ca. Đến gần 12 giờ hai vợ chồng Bác sĩ Dung đến thăm, sau khi phu quân BS Dung hát hai bài thì từ giã ra về vì bận việc nhà. Tôi giựt mình ngơ ngác khi tiếng vỗ tay rầm rộ và mọi người đang ôm bụng cười bò lăn sau khi chị Ngọc Anh đơn ca bản "Khi Rừng Chưa Thay Lá".
Tôi khều chị Châu Minh Hoàng hỏi nhỏ:
- Làm gì mà mấy anh chị cười vui quá vậy?
Chị Châu Minh Hoàng hỏi lại:
- Chị không nghe chị Ngọc Anh hát sao?
- Không! Tôi ngủ nên có nghe gì đâu?!
- Thế là chị mất dịp thưởng thức một bài hát hay.
Trước khi rời nhà anh chị Đức, chúng tôi còn ăn mỗi người một tô cháo nấu với tôm mực tươi thật ấm lòng.

Sáng hôm sau, anh Bùi Hữu Trạng chở chúng tôi đi thăm đại sư huynh Nguyễn Thành Các (sư huynh Thành Các là bào đệ của Nguyễn Thành Lễ, sơn mài Thành Lễ nổi tiếng của Việt Nam). Đại sư huynh Các lớn tuổi, nên tay chân hơi yếu nhưng mặt mày hồng hào, trí nhớ minh mẫn. Huynh nói với tôi: "Đặc san trường mình năm rồi ở Mỹ, Cảm ơn Diễm Buồn có nhã ý viết bài thơ tặng huynh".
Ngoài việc gặp gỡ các đồng môn sống ở địa phương, chúng tôi đến thăm Nhạc sĩ Văn Giảng - Thông Đạt. Ông là tác giả những bài hùng ca được hát trong các quân trường miền Nam Việt Nam thời Cộng Hòa. Ông cũng là tác giả bản nhạc bất hủ "Ai Về Sông Tương" Và tôi rất hân hạnh được ông phổ nhạc 24 bài thơ của mình.

Chúng tôi đáp chuyến bay đêm đến Brisbane 11 giờ đêm. Tại phi trường có anh Thiệt và hai nàng Tiên là Thủy Tiên và Trúc Tiên (ái nữ anh Thiệt) ra đón đưa chúng tôi về nhà anh chị Hạnh (gia đình vợ chồng người em gái ruột của chị Ngọc Anh).
Khoảng thời gian ở đây, chúng tôi được anh chị Hạnh tiếp đãi nồng hậu như người thân trong gia đình. Chị Hạnh đưa chúng tôi thăm vườn ổi, rẫy, vườn trồng rau cải và những loại trái cây khác. Trong dịp chị Hạnh đi mua hàng về bán. Bởi chị có mấy cửa hàng thực phẩm Việt Nam, bán cho đồng hương, Phi, Tàu, Đại Hàn...
Chúng tôi đi chợ trái cây, thấy có chợ bán toàn là chuối già xanh vỏ. Mà dân địa phương nhất là những người da đen mua rất nhiều, chở cả xe như xe ba bánh. Tôi hơi lấy làm lạ? Chị Hạnh cho biết, có một số dân ngoài đảo ăn chuối như chúng ta ăn cơm.
Lâu lắm rồi, từ rời quê hương đến nay, tôi chưa được ăn nhiều thứ rau, bánh, trái… chỉ ở quê nhà mới có. Bên vùng chúng tôi tạm cư Chicago thuộc tiểu bang Illinois (Mỹ) cũng chưa thấy bán, dù có cũng không được tươi ngon, mùi vị lại khác nhiều.


Một hôm, tôi và chị Anh vào tiệm mua đồ. Mắt tôi sáng rỡ nhìn chằm chặp dĩa bánh tráng ướt ngọt nhưn dừa đậu xanh có rắc muối mè bên ngoài. Tôi chợt cảm thấy lòng sủng buồn nhớ ngay đến bà ngoại đến má tôi. Vào những ngày cận Tết tráng bánh tráng, thế nào cũng có một thau dừa rám nạo và đậu xanh cà bỏ vỏ nấu chín để làm nhưn cho bánh tráng ngọt ướt. Trưa nắng mà ăn cái bánh ướt, uống nước trái dừa xiêm thì tuyệt vời, không mơ bánh Tây, bánh Mỹ, bánh Tàu… nào nữa cả!
Chị Anh mua hai dĩa bánh tráng ướt. Bụng không đói nhưng tôi lại muốn mở ra ăn liền. Thuận tay, tôi chộp hai lon nước dừa sô-da trên kệ kế bên. Trả tiền xong tôi và chị Ngọc Anh tình tang ra xề ngồi nơi cột đèn vừa ăn, vừa nói cười vui vẻ mà quên thiên hạ sự! Chúng tôi chẳng buồn để ý chút nào đến cảnh vật chung quanh! Khi ăn xong, đứng dậy tôi mới phát hiện hai đứa đang ngồi giữa sân chợ. Bao quanh là hàng quán của người Việt… và người trong hàng quán đang đổ xô mắt nhìn về phía chúng tôi! Có lẽ họ vừa lấy làm lạ, vừa ngạc nhiên bởi hai mụ lạ mặt nầy tóc đã hoa râm mà ngồi dưới cột đèn ăn uống nói cười rổn rảng không ý tứ chi cả? Chúng tôi hơi ngượng, nhìn nhau cười cầu tài.

Tôi nói:
- Chị có thấy tụi mình kỳ quá không? Họ đang nhìn và cười đó.
Chị Hạnh cũng cười:
- Nhầm nhò gì, họ cười thì đưa mười cái răng.
Tôi bật cười thành tiếng, cùng chị rời chỗ. Vừa đi tôi vừa bào chữa:
- Mình không ở đây! Ngày mai chúng mình rời chốn nầy ai còn thấy bọn mình nữa đâu mà sợ đúng không! Chị có hai cô gái gả chồng rồi, mình có một đứa cũng gả xong, thì ngại chi ảnh hưởng của mẹ mà chúng ế chồng… chị Anh nhỉ?
Chị Anh biểu đồng tình:
- Chị hay lắm! Sự thật thì nó đúng như vậy!
Hai đứa chúng tôi vui vẻ đi dưới nắng mai hồng, trong khung cảnh an bình tự do của bầu trời Úc Châu. Chúng tôi qua từng cửa hàng, từng chợ bán trái cây sầm uất của khu chợ đông người Á Đông nhứt là người Việt Nam.

Chiều hôm đó, chúng tôi được chị Hạnh chở đến nhà bác Tám mua rau càng cua về trộn giấm để ăn với thịt bò. Mua bông điên điển, bông so đũa để mai nấu canh chua với cá duồng.
Vợ chồng bác Tám vui vẻ tiếp đãi chúng tôi nơi bàn gỗ tạp ở hậu viện nhà, với ly sữa đậu nành ướp lạnh và dĩa khoai lang dương ngọc trồng ở vườn nhà. Bác gái là người đàn bà hoạt bát, lanh lợi.
Bác vui vẻ hỏi tôi:
- Cô Diễm về Việt Nam mấy lần rồi?
Tôi cười buồn trả lời:
- Dạ thưa bác, cháu chưa về lần nào hết.

Bác trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, sửng sốt! Tôi không thấy lạ cho lắm, vì cử chỉ nầy đây tôi đã gặp nhiều lần rồi. Đa số những người Việt trốn chạy khỏi nước để tị nạn Cộng Sản làm thân chùm gởi nơi xứ người bằng mọi hình thức... Nay họ trở về quê hương như một phong trào, như một cái "mốt thời đại". Họ lấy làm sung sướng, hãnh diện, tự hào và say sưa khi kể cho mọi người nghe khoản chi tiêu vung vít tiền bạc như bươm bướm bay của họ trong thời gian du lịch ở Việt Nam, như là đãi tiệc người thân, bạn bè, tặng quà, xây nhà, làm từ thiện, bao xe đi thăm thắng cảnh, đi phòng trà, vũ trường v.v.... Thậm chí có người còn mướn thâu phim đem về để có tiệc tùng trong nhà, hay khách đến thăm thì lấy ra chiếu lại cho mọi người cùng thưởng thức thời gian về thăm cố hương…

Bác Tám qua giây phút vẫn còn ngạc nhiên, hỏi tôi:
- Trời đất! Cô ở Mỹ bao lâu rồi mà chưa về lần nào hết vậy?
- Dạ thưa bác, cháu ở Mỹ tròm trèm 24 năm.
Vẫn với thái độ ngạc nhiên không ngờ, bác lại hỏi:
- Tại sao cô không về? Việt Nam bây giờ họ làm cầu, cất nhà cửa, đẹp, và vui lắm cô ơi! Bộ cô không nhớ quê hương mình sao?
Tôi hỏi lại bác:
- Gia đình, dòng họ bác được bác giúp đỡ, cháu biết họ khá lắm phải không? Còn những người hàng xóm của bác, không có thân nhân ở nước ngoài thì thế nào, họ ra sao thưa bác?
Bác chân thật trả lời, chẳng chút đắn đo:
- Ờ, thì những gia đình nào có thân nhân là Việt kiều, được giúp đỡ thì sung sướng lắm rồi. Còn dân trong làng xã thì nghèo khổ lắm cô ơi! Tôi nghĩ ở Việt Nam mà không được Việt Kiều tiếp tay thì sẽ chết khô! Mấy thằng cha giặc đó nghen, chỉ giỏi tài ăn hối lộ và nói láo thôi cô à. Cô nên về một chuyến cho biết...

Tôi cười lạt! Lòng thốn đau, vì trước ngày sang Úc, tôi được thư cô cháu gái có đoạn kể lại nỗi khốn khó tột cùng của những gia đình tôi được quen biết trong làng. Tôi cảm thấy ngậm ngùi nhớ về thuở ngày xưa, vùng quê Nam nổi tiếng nước ngọt cây lành, ruộng vườn, lúa thóc, cá tôm phong phú, dân sống an lành tươm tất. Đó cũng là nơi tôi chôn nhau cắt rún, và sống suốt thời tuổi thơ đề huề với gia đình vào hai thời Cộng Hòa… trước ngày giặc Cộng tràn vào cưỡng chiếm. Ngay sau khi miền Nam rơi vào tay giặc, chúng đã cày tan nát đất nước mến yêu cả rồi! Còn đâu thanh cảnh, an bình của ngày xưa nữa mà về? Có còn chăng chỉ trong hồi tưởng dấu yêu của người xa xứ mà thôi!

Chúng tôi được chị Hạnh hướng dẫn đi tàu trên sông ngắm thành phố Brisbane. Chúng tôi đi dự tiệc nhà chị Thu gặp rất đông thầy cô và bạn bè từ các nơi trên nước Úc đổ về để dự đại hội đêm mai.
Chúng tôi đi thăm biển Queensland. Một vùng biển có khí hậu ôn hòa, thời tiết ấm mát quanh năm. Bờ biển Queensland của Úc Châu nổi tiếng đẹp nhất nhì thế giới. Nhìn ra biển nước trong, xanh biếc, sóng vỗ chập chùng từng đợt, từng đợt… nối tiếp nhau muôn đời không dứt... Tôi cảm thấy lòng mình nao nao và buồn da diết chợt đến đã đưa tôi về các vùng biển: Nha Trang, Vũng Tàu, biển Rạch Giá, Hà Tiên, Hòn Chông, Hòn Trẹm... của quê hương! Ôi, nhớ ơi là nhớ!

Buổi đại hội cựu học sinh Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Úc Châu năm 2003 được tổ chức trong nhà hàng khang trang thanh lịch. Có khoảng trên dưới 20 bàn. Ban tổ chức tháo vác nhiệt tình điều động buổi đại hội thành công mỹ mãn nhờ sự tiếp tay của con gái con rể và con trai con dâu của hai trường từ tiếp tân, ẩm thực đến văn nghệ.
Nhứt là phần văn nghệ của đại hội năm nay đã tắm mát hồn tôi trong những bài ca quê hương qua những giọng ca trầm ấm của các anh các chị. Trong buổi đại hội nầy tôi quen được thêm các sư huynh, sư muội, sư đệ đồng môn nhỏ tuổi học trước và sau tôi. Quen được anh Phước, anh Trị, anh Quang, anh Huỳnh Anh, anh Quới, chị Châu, Sơn, Vân... Quen được các đại sư huynh Huỳnh Khương Lạc đã học xong và ra trường Phan Thanh Giản khi tôi chưa chào đời.
Buổi tiệc tàn, chúng tôi bịn rịn chia tay như thuở nào trước sân trường Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm mà trong tôi còn bùi ngùi âm vang câu hát "Mỗi năm đến hè lòng mang mát buồn...chín mươi ngày qua chứa chan tình thương..." Brisban đêm nay trăng không tròn, ánh trăng vẫn cao ngạo lộng lẫy trải dài trên cỏ cây hoa lá. Cơn gió đêm vùn vụt lồng lộng vào cửa sổ xe. Anh Trạng làm tài xế, phu quân tôi ngồi cạnh xem bản đồ để chỉ đường khi cần thiết. Nhưng ông xã tôi cứ chỉ lộn chiều hoài vì ở Úc cũng như nước Anh, Hồng Kông... tài xế lái xe bên đường trái. Anh Minh, chị Ngọc Anh và tôi yên lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ của mình.

Bỗng chị Ngọc Anh hỏi tôi:
- Bộ ngủ rồi hả bà Diễm?
Tôi cười nhẹ trả lời chị và hát nho nhỏ vì lòng tôi hãy còn vương vướng nỗi buồn không tên:
- Ngủ đâu mà ngủ! Chỉ nghe buồn vì ngày mai phải từ giã chốn nầy, giã từ các đồng môn và anh chị. "Mai anh đi rồi, làm sao tôi ngăn được, thà vui đi cho hết đêm nay...”
Có lẽ vì sợ tôi buồn thêm, chị Ngọc Anh cười đánh trống lãng:
- Mấy ông tổ chức hôm nay theo lẽ phải hỏi các phái đoàn ở xa tới có muốn trình diễn văn nghệ thì mời người ta lên. Như vậy mới vui, biết đâu những người nầy có những màn trình diễn vui tươi, trẻ trung để thay đổi bầu không khí? Chị thấy có đúng không?
Tôi ngồi thẳng lưng lên, chồm tới trước, biểu đồng tình:
- Ờ há, như vậy mới vui chớ. Rồi chị sẽ hát bài "Khi Rừng Chưa Thay Lá" cho cả hội trường cười no bụng chơi phải không? Mà chị Anh nè, bài đó hát sao? Tôi chưa được nghe. Tối hôm ở nhà anh chị Đức lúc chị hát thì tôi đang ngủ gục nên chẳng nghe gì ráo. Thức dậy là bị giật mình vì tiếng cười rộ và vỗ tay của mọi người thôi.
Chị Anh mau mắn, trả lời và cất giọng ngân nga trong trẻo hát theo điệu bài "Khi Rừng Chưa Thay Lá":
- Vậy hả? Thì nghe đây: "Khi anh ra đi... rừng em chưa thay lá... Ngày anh về... rừng em lá sum sê... Và bây giờ... rừng em lá xác xơ..."

Thật, khi tiếng hát chị vừa dứt thì một tay tôi bụm miệng, một tay tôi ôm bụng cười muốn nghẹt thở!
Bỗng anh Trạng cằn nhằn:
- Thôi từ rày sắp tới bà đừng có hát bài nầy nữa đi. Bộ hết bài để bà hát rồi sao? Cứ đem bài đó ra hát hoài, nghe kỳ cục quá!
Chị Ngọc Anh cười ngất tỉnh bơ, trả lời:
- Xời ơi, tầm bậy không hà! Tại mấy ông mấy bà nghĩ sa đà rồi cười ầm ầm lên, chớ ai có hát gì bậy bạ đâu mà ông càm ràm. Chị thấy có phải không chị Diễm?
Tôi gật gật đầu, cố đè nén cái miệng mình đừng phát ra tiếng cười, nhưng lòng vẫn còn sôi sụt!

Thời gian như thoi đưa. Tôi trở về Mỹ với nếp sống thường nhật. "Mỗi ngày như mọi ngày" với ngần ấy sinh hoạt của kẻ tha phương. Nơi thừa vật chất, nhưng luôn có khoảng trống len lỏi nỗi ai oán nhớ thương héo hắt trong tâm hồn, từ ngày tôi đào thoát khỏi quê hương, đến sống trên mảnh đất tạm dung tự do nầy. Và từ đó mỗi lần bất chợt nhớ đến chuyến đi Châu Úc vừa qua. Mà những hình ảnh, những tình cảm ấm nồng thân thiết, chân thật đong đầy của thầy cô, của các bạn đồng môn... đã dành cho chúng tôi.
Tôi cũng không làm sao quên được bài "Khi Rừng Chưa Thay Lá" của chị Ngọc Anh (đổi lời) cất giọng hát vang vang, trong khoảng thơi gian chúng tôi viếng thăm nước Úc… Những lời hát đó, âm thanh đó, cảnh sắc đó… đã khiến tôi bật cười thành tiếng khi nhớ đến dù trong lúc tâm tư tôi có muộn phiền.


Trích trong tuyển tập truyện ngắn
“Những Chặng Đường Tôi Đã Đi Qua”

Phát hành năm

Dư Thị Diễm Buồn

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

Cung Chúc Tân Xuân - Nhóm Tri Kỷ Bốn Phương

 

Cung Chúc Tân Xuân

Trước thềm năm mới Rắn Hổ Mang(Ất tỵ)
Thành Tâm cầu chúc cho quý bạn
Nhóm “ Bốn Phương Tri Âm, Tri Kỷ”
Sức Khoẻ dồi dào vạn sự an

Trần Công/ Lão Mã Sơn(Anh Hai)
***
Xuân về gửi gắm tình thương
Đến mười tri kỷ văn chương hội đoàn
Dù cho xa cách dặm ngàn
Tri âm một thuở quyển vàng khắc ghi


Cao Minh Nguyệt

***
Tri kỷ anh em khắp bốn phương
Vạn dặm cách xa nhưng mến thương
Cầu chúc cả nhà luôn hạnh phúc
An lạc thân tâm dù tha hương

Ngọc Hạnh
Tết Ất Tỵ (tháng 1/2025)
***
Tri kỷ nhà ta khắp bốn phương
Trọn tình thân ái trọn lòng thương
Cùng chung một kiếp đời vong quốc
Quyết trọn chí thành với cố hương

Hàn Thiên Lương

***
Đong cho đầy Hạnh phúc
Gói cho tròn Lộc tài
Giữ cho mãi An khang
Chúc năm mới Bình an
Cả nhà đều Sung túc

Tiểu Thu
***
Bốn phương tri kỷ nhóm văn chương
Có tâm nhân ái có tình thương
Hành trang một kiếp hờn vong quốc!
Vững dạ tâm thành … với cố hương

Dư Thị Diễm Buồn
CA, Chiều 29 Tết (1-28-2025)
***
Xuân về giá rét phủ muôn phương
Tri kỷ tri âm đậm nét thương
Nghìn dặm xa xôi ta cùng hội ngộ
Bao giờ hết kiếp sống tha hương.

Đỗ Thị Minh Giang
***
Ất Tỵ thương về Nhóm Bốn Phương
Tìm đâu Tri Kỷ lạc miên trường
Xuân về lặng lẽ buồn trăn trở
Tết đến âm thầm nhớ cố hương.

Phạm Thị Minh Hưng
***
Tri Kỷ Anh Em khắp Châu phương
Vẹn toàn tình nghĩa vẹn yêu thương
Xa quê mạc vận sầu vong Quốc
Giữ trọn một lòng với Cố Hương


Tuyết Phan
Belgique Sáng Mồng một 2025
***
Xa xôi cách trở bởi hai phương
Ý hợp tâm đầu mãi trọn thương
Ất Tỵ chúc nhau tình tri kỷ
Xuân này vẫn thắm dẫu ly hương

Kim Oanh
Melbourne Xuân 2025

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2025

Mộng Vườn Xuân

  

“Mạo muội cảm đề bài “Mắt Biếc”
của Phạm Quang Long”. DTDB

Thuở mới lớn, tâm hồn như ngọc thạch
Anh học trò yêu em gái nữ sinh
Giữa vườn xuân ngập ánh nắng bình minh
Có bướm hoa có chim ca rộn rã...

Mái tóc thề che nghiêng vành nón lá
Lôi mắt nhung nhìn e thẹn ngỡ ngàng
Để lòng tôi niềm xao động mơn man
Và đắm đuối dưới đáy sâu giếng mắt

Tôi bỡ ngỡ ngượng ngùng... vờ quay mặt
Nhưng trong lòng đang nỡ rộ niềm vui
Bờ bên kia khúc khích tiếng em cười
Nhìn trêu tôi bước qua cầu suýt té...

Gió mát rượi cánh én xuân lướt nhẹ
Bóng dáng em dần khuất tận cuối đường
Áo lụa mềm, phơ phất tợ màn sương
Tôi ngây ngất hồn dõi theo bóng nắng

Nước đầm trong lá xanh, sen hồng thắm
Quen được em trưa câu cá ngoài ao
Diều đứt dây, diều băng tít rơi mau
Em tiếc nuối tóc bồng theo gió lộng

Tiết xuân chan hòa trái cây chín mộng
Ta rủ nhau bẻ khế, hái ô môi...
Bắt bướm cỏ, ngắt hoa dại xinh tươi
Đem ép vào tập giấy hồng lưu niệm

Quà em tặng 
cánh hoa khô ép tím
Khẽ bão rằng: "màu sáng nhớ, chiều thương"
Tôi bận học thi năm cuối ra trường
Thoáng nhớ thương qua từng trang lưu bút...


Dư Thị Diễm Buồn

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2024

Con Đường Xưa Mưa Bay


 

Một mình trong chiều vắng
Lá vàng lác đác bay
Hương gió mưa trong nắng
Hương đất mẹ dâng đầy
 
Những giọt mưa thanh khiết
Theo gió rời chân mây
Long lanh làn mắt biếc
Lấp lánh tợ sương mai
 
Mưa rơi trên phiến dá
Lộp độp trên mái nhà
Âm thanh êm ái quá
Rào rào tiếng mưa sa
 
Mưa xanh đồng lúa mạ
Mưa kết trái đơm hoa
Đêm thu mưa rỉ rả
Man mác vào hồn ta
 
Mưa rơi trên tóc mướt
Hôn nhẹ đôi má hồng
Tà áo em tha thướt
Lên mắt buồn mênh mông
 
Gió lâng lâng êm ả
Tiếng lòng tiếng mưa sa
Tâm tư thanh thản quá
Mưa ơi, mưa ngọc ngà
 
Làm sao mà chẳng nhớ
Đường rợp bóng me xưa
Ta dìu nhau qua phố
Qua những con đường mưa
 
Một mình trên đường vắng
Những chiều trắng mưa sa
Em ơi anh vẫn nhớ…
Dù đã qua rất xa!
 
Dư Thị Diễm Buồn

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2024

Những Ngày Xưa Thân ÁI

 

“Hồi tưởng về bạn cũ trường xư: Trung học
Phan Thanh Giản"Đoàn Thị Điểm. Cần Thơ”

Thời niên thiếu vẫn âm thầm thương nhớ
Đẹp ngút ngàn trong hồi tưởng dấu yêu
Gío hiu hiu mát rượi bến Ninh Kiều
Phượng hong nắng sân trường Đoàn Thị Điểm
Tuổi xanh ơi, sao no tròn ngọt lịm!
Vườn Ổi, Chợ Bà, Tham Tướng, Cái Răng...
Ngày rong chơi, đêm ngắm bóng chị Hằng
Ánh trăng sáng trải trên dòng "Bắc-sắc"
Bên kia xóm Chài hiền hòa say giấc
Trong ảo mờ le lói bóng xuồng câu
Nhạn kêu sương lặng lẽ lướt về đâu?
Lòng êm ả trước sông dài vắng lặng
Các nam sinh của trường Phan Thanh Giản
Tuy học trò mà quỉ quái tinh ranh
Nữ sinh bọn tôi quen nếp ngoan lành
Chăm sách vở nơi trường Đoàn Thị Điểm
Rồi cao hứng đám nam sinh đánh tiếng
Gởi thư mời dự lửa trại trường nhà
Họ còn ra điều thách đố ba hoa:
“Bọn trường nữ ai dám qua họp bạn...?”
Chúng tôi ghét! Liền ghi tên trước hạn:
“Phan Thanh Giản cứ tưởng bở! Đừng hòng!
Chúng tôi đông, trăm gió góp thành dông
Sẽ uy mãnh thổi bay phường rắn mắc…”
Đêm lửa trại có liên trường góp mặt
Trung học Long Xuyên, đại học Y khoa
Vĩnh Long, Mỹ Tho, Rạch Gía, Biên Hòa
Sa Đéc, Vĩnh Bình, Bến Tre, nhiều nữa...
Vỗ tay hát hò, nhảy quanh đống lửa
Đố vui, ăn uống, kể chuyện học hành
Thầy cô chuyên cần dạy dỗ tuổi xanh
Để chim nhỏ vững bay vào bão lộng
Trời Tây Đô như chuyển mình rung động
Cánh đại bàng từ Trà Nóc vút lên
Hỏa châu rơi vàng úa khắp trời đêm
Tuổi ngà ngọc sớm nhuốm màu chinh chiến!
Đêm lửa trại tàn, chia tay lưu luyến
Bạn mới thêm, bạn cũ vẫn keo sơn
Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm hết hờn
Tôi biết viết thư tình từ dạo đó...
Chiến tranh dằng dai... quê hương vẫn nhớ!
Đã bao năm không có dịp trở về...
Thương người thân, thương bè bạn, thương quê
Thương lớp học, sân trường, hoa phượng thắm...

Dư Thị Diễm Buồn

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2024

Nhạc Sĩ Thông Đạt - Văn Giảng

Vợ chồng nhạc sĩ Văn Giảng chụp năm 1949

Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng sinh ngày 12, tháng 5, năm 1924 tại Huế. Ông là Giám Đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Trưởng phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Huế và các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật. Năm 1970 ông được huy chương vàng giải Văn Học Nghệ Thuật (Âm nhạc loại A) của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng là tác giả những bài hành khúc hùng tráng và là tác giả nhạc phẩm bất hủ “Ai Về Sông Tương”

“Ai có về bên bến sông Tương/ Nhắn người em gái tôi thương/ Bao ngày ôm mối tơ vương...” Đó là một đoạn ngắn trong bản nhạc tình bất hủ “Ai Về Sông Tương” của nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng đã đi vào lòng người mộ điệu Việt Nam qua nhiều thế hệ.


Cũng như bao nhiêu học sinh, sinh viên ở thời tuổi ngọc dưới Chánh thể Cộng Hòa. Tôi vẫn nhớ là thuở đó người Việt sống trong miền Nam hoàn toàn tự do, tự do làm theo sở thích của mình. Tự do yêu, hận, ghét, thương... Miễn sao đừng làm phiền người khác và phạm pháp. Có những bản nhạc của nhạc sĩ ba tôi và tôi thích nghe mà đôi khi còn hát theo những ca sĩ tài danh trong radio, trong băng nhựa (cassette)“Ai Về Sông Tương” đó là bản nhạc của nhạc sĩ “Thông Đạt-Văn Giảng” Bài “Trăng Mờ Bên Suối” của nhạc sĩ “Lê Mộng Nguyên”. 

Riêng nhạc phẩm“Chiều Lên Bản Thượng” của nhạc sĩ “Lê Dinh” tôi không thể nào quên được. Vì đó là bài hát đệm cho bọn nam nữ học sinh chúng tôi gồm có 8 đứa, múa biểu diễn trong ngày mãn khóa học năm Đệ tứ (lớp 9) trước mấy trăm phụ huynh học sinh và chánh quyền tham dự. Và tôi còn thích rất nhiều, rất nhiều những bản nhạc bát ngát tình người, tình lính, tình quê... của những nhạc sĩ khác.

Vận nước nổi trôi, sau 30 tháng 4 năm 1975 nước Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay quỷ dữ! Theo đoàn người chạy loạn, gia đình tôi bôn ba đến xứ người được vào Mỹ đầu năm 1980, và khi nếp sống gia đình tạm thời yên ổn trong một nước tự do, vợ chồng đi làm, con cái đến trường... Thì lúc đó tâm trí tôi mới trở lại với chính mình là thèm muốn những riêng tư phải có cho sự đòi hỏi của tâm hồn. Tôi thèm nghe nhạc, thèm đọc sách, và nỗi đam mê viết lách bắt đầu âm ỉ ngún ngòi!

Ở thập niên 80, không biết vùng tôi tạm cư Chicago (Illinois) có bao nhiêu người Việt tị nạn Cộng sản, và bao nhiêu du học sinh miền Nam trước năm 1975. Nhưng chỉ có một tiệm duy nhứt của người Việt lai Tàu bán những vật dụng và gia dụng Á Đông (có các thứ của Việt Nam). Nhà tôi đến chợ nầy phải mất một giờ lái xe. Hôm đó tôi vô cùng mừng rỡ, mằn mò từ kệ hàng nầy qua kệ kia mới tìm được 6 băng cassette nhạc Việt Nam, thu đâu hồi năm ngoái kỳ xưa ở Sài Gòn.

Xin quý vị đừng cười cho “Bà Tư Kẹo” (đó là cái tên cúng cơm do các chị, em đặt cho tôi) mà mấy mươi năm rồi, giờ tôi mới chợt nhớ! 
Mèn ơi, bởi khi ra tính tiền những băng nhạc tôi tá hỏa tam tinh 7$/1 cassette (7 đô la một băng)! Trong khi quý vị à, tôi làm có 3$15 cắc/1giờ, ngoài chợ Mỹ bán thịt đùi heo 19 cắc/1lbs, 12 trứng gà /10cắc, thịt gà đùi 14cắc/1lbs... Tôi xót xa trong bụng, 6 băng nhạc nhiều lần cầm lên rồi để xuống... Phu quân tôi nhìn thấy biết vợ cái mặt méo xẹo vì tiếc tiền! Chàng tỏ ra tự nhiên hào sảng, bảo nhỏ: “Em thích thì mua về nghe đi...”

Tôi nhìn chồng biết ơn và e dè như người có tội, mua 3 cái, trả lại ba cái mà lòng đầy tiếc nuối. Nhưng eo ơi, có lẽ vì băng thu lại lâu đời, dùng nhiều nên về nhà 3 băng nhạc, chỉ có 1 băng hát nghe đỡ một chút, còn hai cái kia cái bị cà lăm, cái bị rè không nghe được...

Thuở đó được đồng hương trong vùng cho mượn sách, tập truyện, báo cũ... Việt ngữ thì quý và vui mừng lắm. Rồi dần dà tìm được địa chỉ một vài nguyệt san ở Nam, Bắc California... tôi chắt mót gởi mua sáu tháng, một năm... thì chủ báo gởi nhiều lắm là hai ba, lần... rồi mất tiêu luôn... Hoặc gởi tiền đi nhưng báo không bao giờ đến, gọi hỏi tòa soạn không ai trả lời...

Nghe tôi láp dáp cằn nhằn mấy tờ báo đời đó, phu quân tôi cười khì:

- Thôi bỏ đi, đền hoặc thưa gởi ai bây giờ? Đã mất tiền còn buồn bực làm chi cho mệt, ở đời người ta thiếu mình sướng hơn, chớ đừng để mình thiếu người ta... mang tội!

Bị dối gạt mất tiền. Lòng còn đang hết sức bực bội mà nghe ổng xã mình nói chuyện huề vốn thấy mắc ghét! Tôi hấy ổng con mắt có đuôi như dao cạo râu, rồi bỏ ra ngoài sân nhìn trời hiu quạnh cho thoải mái tâm hồn!

Trong dịp tình cờ, năm đó tôi đọc được bài của nhạc sĩ Lê Dinh viết về nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng trên nguyệt san Nghệ Thuật (của nhạc sĩ Lê Dinh). Từ lâu tôi đã cảm mến về nhạc của ông, giờ đây đọc được bài viết về ông, khiến tôi càng kính phục về người nhạc sĩ tài hoa Thông Đạt-Văn Giảng nhiều hơn.

Nhờ nhạc sĩ Lê Dinh cho địa chỉ, tôi mạo muội gởi tặng ông Thông Đạt-Văn Giảng hai thi tập của mình để làm quen. Sau tháng gởi thi phẩm tặng, tôi nhận được thiệp cảm ơn của ông, và trong thiệp ông có hỏi “Chị còn có thi tập nào nữa không...?” Tôi mừng húm, lật đật gởi tiếp ông 4 thi tập còn lại! Bởi theo thiển nghĩ của tôi: “Viết ra là mong tác phẩm của mình được đến tay người đọc... Có độc giả càng nhiều càng tốt, văn thơ được đi xa, xa tít khắp năm châu bốn biển càng hay... Và được có người cảm nhận văn thơ mình thì tôi sung sướng hạnh phúc vô cùng...”

Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng ở nước Úc, chúng tôi ở nước Mỹ, hai Châu khác nhau. Trên bản đồ thế giới hai nước cách xa hơn nửa vòng trái đất, một biển Thái Bình Dương bao la, các múi kinh tuyến, các tầng vĩ tuyến. Phải mất khoảng 16 giờ máy bay không ngừng nghỉ từ Hoa Kỳ mới đến Úc Đại Lợi.

Vào năm 2003 du lịch ở Úc, có đi qua vùng Melbourne nơi nhạc sĩ tạm cư. Chúng tôi điện thoại đến, xin được ghé qua thăm ông. Và kể từ sau lần thăm, tôi gọi ông bằng bác (ông cùng tuổi với ba tôi)

Bác Thông Đạt-Văn Giảng tôi gặp năm đó có vóc dáng cao ráo, ốm, khuôn mặt phúc hậu, nước da trắng xanh. Nét mặt nghiêm trang, giọng Huế của bác nhỏ nhẹ, ôn tồn, ấm áp... Bác lắng nghe người đối diện nói nhiều hơn bác nói. Bác khiêm tốn, có phong cách phương phi, điềm đạm của một nhà mô phạm hơn là một nghệ sĩ...

Chúng tôi vì phải theo đoàn du lịch qua tiểu bang khác trong ngày, nên dừng lại thăm bác chỉ một giờ thôi. Bác đãi chúng tôi tách trà mai quế hoa với bánh “phục linh” (loại bánh in nhỏ bằng ngón tay cái, để vào miệng không cần nhai mà bánh thao ra) ngọt đường, béo nước cốt dừa và phảng phất hương lá dứa. Bánh có màu xanh nhạt, màu hồng phấn và màu lá cẩm đặt trên chiếc dĩa kiểu mạ vàng trên vành.

Nhân dịp đến thăm, tôi tặng bác món cổ ngoạn nhỏ để bàn, đó là tượng phật Quan Âm bằng ngọc thạch nhân tạo, có vân xanh da trời và trắng màu mây. Mấy năm trước du lịch tôi đã mua trong một ngôi chùa bên khu Tam Giác Vàng (Nơi đây có ba dòng sông của ba nước: Thái Lan, Lào, và Burma) nhập lại.

Đưa chúng tôi ra cửa, bác nhẹ giọng:

- Chúc thượng lộ bình an, cảm ơn anh chị đến thăm, và tặng món cổ ngoạn... Từ rày thỉnh thoảng gởi sách, hoặc thơ chị viết cho tôi đọc là quý lắm rồi... Tôi không nhận quà nữa nghe...

Cuối năm đó, tôi vui mừng sung sướng nhận được những bài thơ của mình được bác phổ nhạc... Và thật cảm động có kèm theo lá thư dưới đây là nguyên văn và bút tích của bác:


“.....Nhận được mấy thi tập của nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn gửi tặng đầu năm 2001. Tôi nghĩ rằng một nhà thơ chưa quen biết mà gởi tác phẩm tặng, có lẽ muốn mình phổ nhạc. Nếu không phổ một bài nào e mình thiếu lịch sự! Nên tôi bắt đầu đọc thơ của Dư Thị Diễm Buồn để kiếm một bài phổ nhạc làm quà quen biết với nhà thơ, người có ý tốt hâm mộ tôi. Tôi đã chọn được bài thơ “Nhớ” phổ theo âm hưởng Huế làm món quà văn nghệ ban sơ... Mấy ngày sau tiếp tục đọc kỹ thì thấy có nhiều bài hay, ý tứ súc tích, từ ngữ phong phú, mộc mạc, chất phác, tình cảm đậm đà, nhất là chất nhạc dồi dào rất gợi cảm cho người phổ nhạc. Do đó tôi viết thêm bài thứ hai, thứ ba và tiếp tục từ bài nầy đến bài khác... Tôi ngâm nga lời thơ để viết nhạc một cách lý thú... Tôi có thói quen khi viết được khúc nhạc nào cảm thấy hay hay, thì thường hát cho vợ con nghe, đặc biệt câu nào thích nhứt trong bài, tôi thường hát lập đi, lập lại nhiều lần để tự mình và những người thân trong gia đình thưởng thức. Thỉnh thoảng tôi hỏi họ: Đã nghe... câu ấy chưa, được không?” Khi họ trả lời: “Nghe hay, dễ nhớ...” Lúc đó tôi mới hạ bút viết thành nhạc... Khi phổ đến bài thơ thứ năm, tôi thấy cũng đủ rồi, ngưng là vừa... Thế rồi lật tập thơ khác ra đọc tiếp, thì cảm hứng dấy lên tôi muốn phổ nhạc thêm... Như vậy đủ thấy thơ Dư Thị Diễm Buồn thật là phong phú tình cảm, nhạc tính dồi dào dễ rung động người đọc.

Tôi có ý định phổ thơ cho đủ chị làm một CD... Cuối cùng tôi đã thực hiện xong ý mình, và tôi lại tiếp tục phổ nhạc thơ của Dư Thị Diễm Buồn nhiều hơn đã định...”
Melburne, ngày 12 tháng 4 năm 2001
Văn Giảng-Thông Đạt
(Trích trong tập nhạc của ba nhạc sĩ: Văn Giảng-Thông Đạt, Võ Tá Hân, và Hiếu Anh)

Thỉnh thoảng tôi điện thoại thăm bác một lần, hoặc gởi bác cái thiệp vấn an. Sách nào, văn cũng như thi tập, CD ngâm thơ tao đàn nào khi phát hành tôi cũng gởi tặng bác... 

Có lần bác bảo:

- Chị có định ra CD nhạc chưa?

- Kính bác, cháu có hỏi thăm những nhà làm nhạc thu vào CD ở California. Họ bảo trung bình làm một CD gốc, ca sĩ thường hát nghe được thì từ 7000$ (bảy ngàn đô la Mỹ còn những ca sĩ hát hay nổi tiếng phải từ 12000$ (mười hai ngàn đô la) đó bác ạ... Cháu chưa có khả năng... 

Bác từ tốn bảo:

-  Ờ nhiều tiền quá hả? Thôi thì cứ để đó đi... Khuyên chị đừng gởi về bển thâu rồi họ sửa đổi bậy bạ... Tôi viết nhạc lâu nên chẳng ngại chi cả, còn chị là cây viết trẻ... có cái cớ để bị chụp mũ thì nhiều phiền phức lắm!
Tôi “Vâng, dạ…” mà cả thấy lòng buồn hiu. Rồi một năm, hai, năm qua những bài nhạc bác phổ cho thơ tôi vẫn còn nằm yên đó. Có một hôm tôi gởi tặng bác CD nhạc của anh Lê Quang Diệp (sư huynh đồng môn Trung học Phan Thanh Giản& Đoàn Thị Điểm) thời xa xưa tặng, vì trong đó có bài thơ tôi được anh phổ nhạc.

Nghe xong CD, bác bảo:

- Bây giờ chị có thể gởi những bài nhạc tôi phổ thơ về bên ấy, cho họ soạn hòa âm, và làm CD được rồi... Và nhớ yêu cầu những ca sĩ đã hát trong CD chị cho tôi, hát cho CD mới nầy của chị nghe...

Thế là: Tình khúc thơ phổ nhạc CD 1“Con Đường Xưa Mưa Bay” thơ Dư Thị Diễm Buồn, nhạc Thông Đạt-Văn Giảng được hiện hữu trên thế gian nầy vào mùa xuân California ngày đẹp nắng.

  Nhờ sự chiếu cố của thính giả, năm sau tình khúc thơ phổ nhạc CD 2 “Ướp Hồng Tuổi Ngọc” Nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng phổ thơ Dư Thị Diễm Buồn, được ra đời.

Mỗi lần nghe tôi sắp ra CD bác rất vui. Bác chăm chút sửa chữa lại chỗ nào chưa ưng ý, sắp xếp bài nào hát trước, bài nào hát sau, và đặt cho CD cái tên đẹp! Khi ra CD xong tôi hỏi bác muốn bao nhiêu cái để tôi gởi qua. Bác cười hiền: “Chị gởi cho tôi xin 10 CD để tặng... con cháu”


Chúng tôi trở lại Úc, nhân dịp trường xưa tổ chức “Đại hội cựu học sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Thế Giới Năm 2010” ở Victoria. Và sau ngày tới vùng Melbourne, tôi gọi điện thoại xin được đến thăm bác Thông Đạt-Văn Giảng. 

Phòng khách của bác giản dị, và tượng ngọc thạch Quan Âm tặng bác năm nào vẫn còn trên bàn viết. Bác vui vẻ đón tiếp chúng tôi... 

Trong lúc trà đàm, tôi hỏi thăm:

- Thưa bác cháu thấy nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như bác thường hay lên truyền hình, hay DVD trong những trung tâm băng nhạc lớn... Và cháu có nghe nhạc bác luôn trong DVD họ phát hành... vậy họ có trả tác quyền những bản nhạc của bác không, thưa bác?

Bác cười nhẹ:

- Chỉ có Trung tâm Asia, mặc dù tôi không đòi hỏi nhưng họ có gởi tặng chút tiền uống trà. Họ cũng có mời sang bên đó... nhưng tôi từ chối, vì tuổi tác lớn rồi, đi đứng khó khăn và đường quá xa xôi.

- Hàng ngày ở nhà rảnh rỗi, bác làm gì, và còn viết nhạc nữa không?

- Hôm nào trời nắng ráo, tôi đi vòng quanh những con đường nhỏ gần nhà để giãn gân cốt... Con tằm phải nhả tơ mà chị, tôi vẫn thường viết nhạc đạo. Hơn 20 năm rồi tôi không có viết nhạc tình, gần đây chỉ phổ nhạc thơ của chị thôi... và về sau nầy tôi sẽ chuyên viết nhạc đạo...

Lần đó tôi có mời bác đến dự Đại hội trường tôi, nhưng bác từ chối:

- Từ sang đây đến giờ tôi không có tham dự lần nào hội họp, hay lễ Tết ở bên ngoài. Cảm ơn anh chị có nhã ý mời, xin thông cảm cho...

Anh bạn thân đưa chúng tôi đến thăm bác Văn Giảng là một nhà văn và chủ của một tờ báo lớn ở Úc, nhưng đưa chúng tôi đến đó thì đi chớ anh không vào. Lần đến thăm nầy tôi mang từ Mỹ qua tặng bác gói thanh trà nguyên chất, và hộp kẹo sô-cô-lat hiệu See’s

Thời gian không chừa một ai lão hóa! Bác Văn Giảng trông già hơn lần chúng tôi đến thăm lần trước nhưng bác khỏe mạnh nét mặt phương phi và vẫn điềm đạm trong phong cách của một người đứng tuổi. Đến thăm bác chừng một giờ chúng tôi cáo từ.

Chúng tôi có hẹn trước, nên phu quân tôi gọi nhờ anh bạn đưa lúc nãy đến chở chúng tôi về nhà. Bây giờ trên xe ngoài vợ chồng tôi còn có anh Bùi Hữu Trạng (Úc) Huỳnh Ngọc Minh (TX, Hoa Kỳ) Anh bạn lái xe nhìn tôi như dò xét rồi chân tình, dè dặt bảo:

- Hỏi thiệt chị chớ nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng phổ nhạc thơ chị ổng lấy bao nhiêu tiền một bản vậy?

Tôi ngạc nhiên, mở to mắt hỏi lại anh:

- Bộ bác Thông Đạt phổ nhạc thơ cho người ta ăn tiền hả? Không anh, tôi không có trả cho bác đồng nào, bác cũng chưa hề nhắc hay đề cập với chúng tôi vấn đề tiền bạc... Thật ra khi nhận được thư, tôi mới biết những bài thơ mình được bác phổ nhạc.

Thấy anh cười cười như không tin, tôi bảo tiếp:

- Ra CD, tôi chỉ tốn tiền trả cho ca sĩ, ngâm sĩ ở Việt Nam làm cho tôi bản gốc nhạc, hoặc ngâm thơ Tao Đàn thôi. Khi được những bản gốc rồi tôi gởi xuống trung tâm làm CD ở Nam California nhờ họ in ra... Giá cả tương đối, có thể chịu được, không cao ngất trời xanh đâu... Chớ nhiều tiền quá chúng tôi sẽ không làm sao kham nổi... Anh cũng biết, sách, nhạc, thơ... phát hành sẽ tặng nhiều hơn là được ủng hộ. Các nhà văn nhà thơ lớn thì có thể bán được nhiều tiền, còn tôi là tép rong tép rêu trong ao đìa... viết in thành sách, và làm CD với tâm tình ưa thích và đam mê văn nghệ thôi. Tôi cũng không phải là người nổi tiếng, vả lại “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” mà! Ờ, tại sao anh lại hỏi tôi như vậy?

Anh bạn tôi vừa lái xe vừa trả lời:

- Người ta đồn cụ Văn Giảng-Thông Đạt rất nghiêm khắc, khó tánh lắm. Cụ sống âm thầm ít giao tiếp bên ngoài, tôi ở đây mấy chục năm rồi chưa bao giờ thấy cụ đi dự các hội họp, lễ, Tết... cộng đồng, đoàn thể, đảng phái, hay cựu quân nhân... chi cả. Cũng không thấy bài vở, nhạc... của cụ mới viết gởi đi trên cách sách báo Việt ngữ hay các diễn đàn điện tử... Và rất nhiều người như tôi ở đây lâu cũng chưa hề biết mặt cụ... Hôm nay nếu không chở anh chị đến thăm, tôi cũng chưa biết chính xác cụ ở đâu... Tôi cũng chưa nghe bản nhạc nào cụ phổ nhạc thơ người khác... Nhưng thấy 2 CD nhạc của cụ phổ thơ chị, nhiều quá nên tôi tò mò hỏi thôi...

Tôi lí lắc cười hì hì, trả lời anh:

- Đó là nhờ cái duyên văn nghệ của Dư Thị Diễm Buồn. Cũng có lẽ bác thấy tôi là con nhỏ có cái mặt bơ bơ, quê mùa khờ khạo, chân chưa sạch phèn ở vùng sanh tôi ra và lớn “Con cá gô, bỏ chông gổ nhẩy gồ gồ” thật tội nghiệp đó mà!

Hai ông anh đồng môn trên xe cười ồ, ồ... chọc ghẹo tôi:

-  Thôi đủ rồi nghe chị Diễm ơi, khiêm nhường vừa vừa thôi chớ...

Nhìn bầu trời Úc nắng chang chang, nóng muốn la làng nếu trong xe không có máy lạnh đang chạy rè rè. Vì vào cuối mùa hè của nước Úc, lại là cuối mùa đông nối tiếp đầu mùa xuân ở nước Mỹ.

Tôi cười nhẹ nói tiếp:

- Bác Thông Đạt-Văn Giảng khó tánh đâu tôi không biết. Nhưng mấy anh cũng thấy, tôi là một đứa nói cười tự nhiên hỉ, nộ, ái... hiện rõ trên nét mặt, và trong cử chỉ của mình. Nhưng trước cái từ tốn, hiền lành, nghiêm trang, thâm trầm của bác... đã khiến tôi phải chùn lại! Để mỗi khi điện đàm với bác, hay nói chuyện trực tiếp với bác tôi phải lựa lời, và cười phải đúng chỗ... chớ không dám chí chóe, tía lia nữa. 

Xe vẫn bon bon trên đường về, trên xe yên lặng không ai nói lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Nền trời Melbourne hôm nay trong như lọc, vẫn còn sao nắng chấp chóa thấy được ngoài kiếng xe... Anh bạn tôi tế nhị mở CD nhạc “Con Đường Xưa Mưa Bay” của bác Văn Giảng-Thông Đạt đã phổ nhạc thơ tôi cho cả xe cùng nghe.

Anh ta vẻ mặt an nhiên, bảo:

-  Nghe nhạc êm dịu của nhạc sĩ Thông Đạt-Văn Giảng, khiến người ta cảm thấy tâm hồn lâng lâng, nhẹ nhàng dễ chịu làm sao...

Trong xe không ai có ý kiến gì qua lời nhận xét của anh. Nhưng không một người Việt nào mà không thừa nhận, bác Thông Đạt-Văn Giảng là một nhạc sĩ có tài, có đức độ… Chỉ nghe tên bác cũng khiến cho nhiều người ngưỡng mộ và kính phục... 


THÔNG ĐẠT-VĂN GIẢNG

(1924-2013)

Hôm nay thời tiết nước Mỹ đã vào chánh mùa xuân, thì ở nước Úc vào đông. Hai phương trời bên hai bờ Thái Bình Dương khác biệt từ thời gian, khí hậu chuyển sang mùa...

 Tôi bàng hoàng xúc động, tin từ các diễn đàn điện tử: “Nhạc sĩ Việt Nam Thông Đạt-Văn Giảng vừa vĩnh viễn ra đi” Bác ra đi để lại buồn thương tiếc nuối cho gia đình, và mất mát lớn cho nền Âm nhạc Việt Nam! Dẫu biết rằng sanh lão bệnh tử là kiếp con người trên trần thế, kẻ trước người sau không ai tránh khỏi. Nhưng lòng tôi cảm thấy ưu hoài thương tiếc bác một nhạc sĩ tài hoa ngưỡng phục. 

“...................................
Tin bác ra đi bàng hoàng xao xác!
Xuân Ca-li mây nhòa nhạt xám giăng
Để chiều nay nhìn mây tím băn khoăn 
Tôi nghe vẳng thơ nhạc lòng ai hát...

Bác an bình trên bầu trời ấm mát
Chốn hồng trần là cõi tạm mông lung...
Lòng xót xa và kính ngưỡng vô cùng
Hương tưởng niệm thắp cho người quá cố

Nguyện hương linh bác về miền vĩnh độ
Mảnh u hồn sẽ trở lại cố hương
Thăm làng xưa và viếng lại miếu đường
Hưởng nhang khói trong đêm rằm tháng Bảy...”


Trong lòng tôi bác là một người thầy đức độ, một người cha hiền, một nhạc sĩ tài hoa khả kính. Tôi nhớ ơn bác đã bỏ công sức phổ nhạc cho tôi hơn hai mươi bài thơ vào CD. Dòng nhạc êm dịu du dương của bác ru hồn bao nhiêu người ái mộ, và dòng nhạc hùng ca của bác trong các quân trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa… đã đi vào Quân sử, và nhạc sử Việt Nam.


Tích từ tuyển tập 

“Bóng Thời Gian.2” phát hành năm 2024


Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

Dư Thị Diễm Buồn