Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Xuân Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Xuân Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2026

Nhàn Thuyết 閒說 - Vương Kiến (Vãn Đường)

 
Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".

Lời phi lộ

Đầu đề của bài thơ là Nói lúc nhàn, nhưng độc giả lại hiểu là Ta Nói Cho Mà Nghe. Vậy thì hãy lắng nghe ông nói từng câu cho thấm thía.

Nguyên tác Dịch âm

閒說 Nhàn Thuyết

桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ qúi
王侯家為牡丹貧 Vương Hầu gia vi mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng mi tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân

Chú giải:

Châu: cồn, bãi sông.
Duyên: cơ duyên, nhân vì.
Vi: làm
Đầu: hàng đầu.
Biến: khắp cả.
Mấn: tóc mai.
Phân: chia ra.
Cổ động: khua động, nhộn nhịp.
Nhai: đường phố chính.
Thị: ấy là.
Câu 3: châu Tần Lũng chỉ quí vì có chim anh vũ.
Câu 4: Vương Hầu nghèo vì ham mê hoa mẫu đơn.

Dịch thơ

Nói lúc nhàn

Hoa đào vạn lá chẳng thành xuân.
Hạc sống ngàn năm cũng chửa thần.
Tần Lũng xưa vì anh vũ qúi.
Vương Hầu nay do mẫu đơn bần.
Bài ca điệu múa thay từng lúc.
Mái tóc chân mày đổi mỗi lần.
Diễu ngựa chật đường qúa nhộn nhịp,*
Gặp nhau một lũ học ngông cuồng

* Một câu (nguyên bản và câu dịch) có 6 chữ vần trắc để tả bọn ngông cuồng cỡi ngựa quần thảo ở giữa đường.

Lời bàn:

Theo đầu đề (Nói lúc nhàn) thì có vẻ một bài thuật chuyện nhưng thân bài (tất cả 8 câu) rõ ràng là châm biếm. Thử duyệt lại toàn bài xem sao nhé:
- Dù cây đào có trổ vạn lá cũng chưa làm nên mùa xuân.
- Dù con hạc có sống ngàn năm cũng chưa được gọi là thần.
- Đất Lũng Châu sở dĩ qúy vì có chim anh vũ (con vẹt).
- Nhà Vương Hầu chỉ vì mê hoa mẫu đơn nên trở thành nghèo.
- Bài ca điệu múa (muốn hay thì phải) thay đổi từng lúc.
- Mái tóc (tuy xanh), chân mày (tuy đẹp) nhưng sẽ xấu đi mỗi lần.
- Hỡi bọn cuồng ngông kia! Chúng bay diễu ngựa nhộn nhịp ở đây (học ngông cuồng) có biết những lẽ đó hay không?

Con Cò
***
Tán Gẫu

Trăm cánh hoa đào chẳng hóa xuân
Ngàn năm hạc nôi chửa nên thần
Bãi Tần quý bởi chim anh vũ
Dinh chúa nghèo vì đám mẫu đơn
Điệu múa, giọng ca thay lúc lúc
Nét mi kiểu tóc mới lần lần
Trống rung sáu nẻo ngựa phi xuất
Gặp gỡ học đòi thói ngạo nhân

Lộc Bắc
Fev26
***
Nhàn phiếm


Xuân thắm nào cần đào trổ bông
Uy nghiêm mặc kệ hạc nghìn hồng
Nhiễu nhương Tần Lũng vì chim quý
Vương tước thành nghèo bởi mẫu đơn
Ca hát múa may thay đổi chán
Tóc tai mặt mũi kiểu khoa trương
Trống vang kỵ mã từ muôn hướng
Tụ họp vui chơi thói sống cuồng


Thanh Vân
***
Đồng ý với anh Tâm là bài chữ Hán của anh Bảo sai từ cái đầu đề. Chữ đầu tiên là NHÀN, không phải VĂN.
Chữ thứ tư, câu 4 là VỊ, không phải VI.
Chữ thư tư, câu 6 là Tâm, không phải PHÂN.
Cám ơn anh Tâm đã cho biết Bách Diệp là loài hoa có nhiều cánh, không đẹp, không đại diện cho mùa xuân.
Còn hoa Mẫu Đơn là hoa gì thì anh Tâm và anh Giám cũng đã giải thích.

Theo truyền thuyết, thì vào mùa đông, Vũ Tắc Thiên đi dạo vườn thượng uyển, ra lệnh ngày hôm sau, các loài hoa phải nở. Quả nhiên, trăm hoa đua nở, trừ Mẫu Đơn, nên nữ hoàng ra lệnh đầy hoa này tới Lạc Dương. Năm sau, Mẫu đơn nở rất đẹp, bà giận quá ra lệnh đốt hết. Ngờ đâu, hoa không chết mà năm sau lại nở đẹp vô vàn. Theo Google, thì Mẫu đơn là Peony, là loài mà mình gọi là Phù Dung, bông lớn, nhiều màu tươi thắm.

Ngoài ra, còn vài chữ khó:
- Duyên là nguyên cớ, vòng quanh.
- Anh vũ là con vẹt. (phương thảo thê thê anh vũ châu)
- Nhai là con đường.
- Cổ là cái trống.

Tác giả Vương Kiến GIẢNG NHÀN mà sao vất vả, khổ sở quá, chẳng thấy nhàn đâu cả: Hoa chẳng thành xuân, hạc chửa thành thần, Tần Lũng đẹp vì vẹt, người giàu ham chơi hoa sang mà thành nghèo, ca vũ phải đổi luôn, trang điểm khác mỗi ngày cho thêm đẹp, tụi trẻ khua trống, cưỡi ngựa túa ra đường, toàn bắt chước vẻ điên cuồng, hợm hĩnh..

Giảng Nhàn

Đào hoa trăm cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống nghìn năm chửa biến thần,
Tần Lũng quý vì chim anh vũ,
Mẫu đơn thích quá khiến nghèo dần,
Giọng ca, điệu múa thường đổi khác,
Kiểu tóc, làn mi sửa mỗi lần,
Trống động sáu đường phi ngựa tới,
Thấy toàn một bọn học cuồng nhân.


Bát Sách.
(Ngày 05/03/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

閑說-王建 Nhàn Thuyết - Vương Kiến

桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
王侯家為牡丹貧 Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng my tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân

Bài thơ có mộc bản trong các sách:

Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司马集-唐-王建
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương 瀛奎律髓-元-方回
Hồi Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨

Dị bản:

Hán bản bên trên là nguyên tác chép từ sách Vương Tư Mã Tập của Vương Kiến. NĐTĐT đời Thanh cho 2 dị bản:
tựa là Văn Thuyết 聞說 thay vì Nhàn Thuyết 閑說
câu 6: phân 分 thay vì tâm 心

Giải nghĩa:

Nhàn thuyết: chỉ những cuộc nói chuyện bình thường, những lời nói vô nghĩa, và những từ không liên quan.

Bách diệp: loại hoa đào có nhiều lớp cánh (đào bích). Tác giả cho rằng loại hoa biến dị, phô trương này không đại diện cho cái thần thực sự của mùa xuân.
Vị thần: chưa phải là thần diệu, chưa đạt đến cảnh giới linh thiêng.
Tần, Lũng: một vùng địa lý, chỉ khu vực bao gồm các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc ngày nay. Tần chỉ lãnh thổ nước Tần cổ đại và khu vực tập trung quanh Thiểm Tây trong các thế hệ sau, trong khi Lũng chỉ vùng phía tây dãy núi Lũng Sơn (nay là phía đông Cam Túc và các khu vực khác). Hai vùng này liền kề nhau và thường được gọi chung là Tần Lũng, một thuật ngữ thường thấy trong các tài liệu lịch sử và văn bản địa lý.
Tần Lũng: các vùng đất phía Tây (nay thuộc Thiểm Tây, Cam Túc) là nơi có nhiều chim vẹt quý.
Anh vũ: chim vẹt. Ý nói vì vẹt quý mà vùng đất này bị chú ý và khai thác quá mức.
Mẫu đơn bần: nghèo vì chơi hoa mẫu đơn rất tốn kém. Theo anh Hoàng Xuân Thảo, hoa mẫu đơn chỉ được đem vào Trung Hoa vào cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất quý giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả.
Ca đầu: phần mở đầu của toàn bộ bài hát, có vai trò thiết lập giai điệu và dẫn dắt toàn bộ bài hát, và chủ yếu được nhìn thấy trong các tác phẩm cổ của Nhạc Phủ

Ca đầu vũ biến: các điệu nhạc, điệu múa trong cung đình hoặc phủ.
Hồi hồi biệt: mỗi lần mỗi khác, thay đổi xoành xoạch để chạy theo cái mới.
My tâm: giữa hai lông mày.
Mấn dạng my tâm: cách búi tóc và kẻ chân mày.
Lục nhai: sáu con đường chính ở kinh thành Trường An.
Học cuồng nhân: bắt chước những kẻ ngông cuồng, phóng đãng.

Dịch nghĩa:

Nhàn Thuyết Phiếm Bàn (Lời Nói Khi Nhàn Rỗi)
Đào hoa bách diệp bất thành xuân
Đào nhiều cánh không tạo ra vẻ đẹp tự nhiên của mùa xuân,
Hạc thọ thiên niên dã vị thần
Hạc sống ngàn năm nhưng cũng chưa hẳn đã có thần khí.
Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
Vùng Tần, Lũng vì có giống vẹt quý mà trở nên nhiễu nhương,
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Nhà vương hầu vì chơi hoa mẫu đơn mà hóa ra nghèo khó.
Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
Điệu hát khúc múa thay đổi liên tục chẳng lần nào giống lần nào,
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân

Kiểu tóc, dáng mày ngày ngày lại thay đổi theo mốt.
Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
Tiếng trống vang lên, người cưỡi ngựa từ sáu ngả đường tuôn ra,
Tương phùng tổng thị học cuồng nhân
Gặp nhau toàn là những kẻ đua đòi theo thói ngông cuồng.

Bình luận:

Bài Nhàn Thuyết của Vương Kiến là một bức tranh trào phúng, phê phán sự xa hoa phù phiếm và thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ.

Trong bài thơ Nhàn Thuyết, phong cách trào phúng của Vương Kiến không trực diện, ồn ào mà mang tính châm biếm ngầm, sâu cay qua việc quan sát những nghịch lý trong đời sống. Tóm lại, trào phúng của Vương Kiến trong bài này là kiểu trào phúng phong hóa (châm biếm thói đời). Ông không dùng những từ ngữ thô tục hay gay gắt, mà dùng sự đối lập giữa "cái danh" và "cái thực" để lột trần sự suy đồi của xã hội thời vãn Đường. Ông phê phán qua quan sát và nhận xét thói đời hơn là áp đặt các giá trị luân lý thông thường.

Bài thất ngôn bát cú luật thi, hoàn chỉnh về hình thức, đặc sắt là phần đối xứng trong luật thi về từ, thanh và ý:
Cặp câu 3 và 4:` Tần Lũng châu duyên anh vũ quý đối với:
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Cặp câu 5 và 6: Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt đối với:
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân

Dịch thơ:

Nhàn Phiếm

Hoa đào nhiều cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống ngàn năm không hóa thần.
Tần Lũng vẹt khôn nên khổ lụy,
Vương hầu thích mẫu phải đơn bần.
Điệu múa câu ca luôn đổi mới,
Chân mày búi tóc kẻ bao lần.
Sáu ngã trống dồn người ngựa ruổi,
Gặp nhau một lũ học cuồng nhân.

Việc dịch mẫu đơn bần thành mẫu…đơn bần, nhằm nhấn mạnh nghịch lý giữa sự sang trọng của hoa và sự khánh kiệt của chủ nhân.
Cụm từ học cuồng nhân được giữ nguyên trong bài dịch thất ngôn vì đây là linh hồn của bài thơ - mỉa mai sự đua đòi, bắt chước một cách mù quáng.

Translation:

Idle Talk by Wang Jian is a sharp social satire from the Tang Dynasty. The poet was famous for his "Palace Ballads," and here he uses his observant eyes to mock the superficiality of the elite.

A hundred-petaled peach bloom does not make a spring,
A thousand-year-old crane is not yet divine
The Qin and Long regions suffer because parrots are prized,
Princely houses grow poor from a love of peonies.
Song leads and dance steps change every single time,
Hair styles and eyebrow shapes are refreshed day by day.
As drums stir the six streets, they gallop out on horseback,
Only to meet others who are all busy acting like madmen.
Commentary on Satirical Style

Wang Jian's satire is observational rather than moralistic. He doesn't tell the reader that these people are "evil"; he simply shows the absurdity of their actions.

The phrase Learning from madmen (Học cuồng nhân) is the most biting part of the poem. In Chinese tradition, "madness" was often associated with genuine, unbridled genius (like the poet Li Bai). By saying people are "learning" it, Wang Jian exposes them as phonies—they are performing a role rather than living a truth. It is a timeless critique of "clout-chasing" that feels remarkably modern.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Bài ca điệu múa muốn hay phải thay đổi luôn luôn, cũng vậy dung nhan muốn đẹp thì bới tóc, kẻ lông mày cũng phải làm mỗi ngày.

Tần Lĩnh nằm giữa lưu vực hai sông Hoàng Hà và Dương Tử nổi tiếng vì có loài chim anh vũ, bây giờ thì nổi tiếng vì có loài gấu trúc. Hoa mẫu đơn chỉ được đem sang Trung quốc từ cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất qúy giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này thôi. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả, tượng trưng cho phú qúy và được gọi là “Thiên hạ chân hoa độc.” Thú cuồng hoa mẫu đơn, tranh nhau mua với bất cứ giá nào đã khiến nhà thơ Vương Cốc phải than trong bài thơ “Mẫu Đơn” rằng, “Mẫu đơn yêu diễm loạn nhân tâm/ Nhất quốc như cuồng bất tích kam/kim...” Mãi sang tới đời Tống thì thú chơi hoa này mới lan tràn cả trong dân chúng khắp nước và nơi trồng nhiều và có nhiều lọai hoa đẹp nhất là tại kinh đô Lạc Dương. Hiện nay tại Lạc Dương hàng năm vẫn có lễ hội Mẫu Đơn vào mùa xuân.

Hoàng Xuân Thảo
***

Huỳnh Kim Giám Góp ý:

閒說=Nhàn Thuyết

Tựa đề của bài thơ là Nhàn Thuyết, không phải Văn Thuyết (đã chỉnh lại, tk). Hai câu đầu của bài thơ đã biến thành một loại thành ngữ cho khái niệm ảo giác và vô thường của cuôc đời.

Âm nhàn có nhiều lối viết thời kim văn (không tìm thấy trong giáp cốt văn) và được viết với bộ 門=môn và dùng các chữ 月=nguyệt (nguyệt lai môn hạ nhàn), 夕=tịch (hội ý), hay 外=ngoại (hài thanh), với một dạng cổ 𨳢). Từ 聞=văn viết với bộ 耳=nhĩ nên dễ bị nhầm với 月 của 閒 cho dù hai từ dùng bộ khác nhau. Có phiên bản cho bài thơ dùng từ 閑=nhàn (cái lan can, không có nghĩa gì cả!). Người ni cũng khám phá rằng khi dùng Google translate, coi chừng việc AI “tự tiện” thêm vào nguyên tác (giải thích chẳng hạn) hay đổi nguyên tác 閒 thành 閑 vì chúng là những từ đồng âm!

Từ 葉=diệp trong 桃花百葉=đào hoa bách diệp không có nghĩa là lá mà là cánh hoa, vì 'lá' không đúng nghĩa. Cây đào có hàng trăm lá nhưng không hoa đầu xuân không có giá trị gì hết.

鹦鹉=anh vũ là một loài chim ồn ào với khả năng bắt chước tiếng người và học nói, nên hình tượng anh vũ trong bài thơ gợi ý châm biếm để chỉ những người tập tểnh học làm thơ. Người xưa nghĩ chim anh vũ xuất xứ ở Lũng Sơn (陇山), dãy núi bắc ngang Sơn Tây và Cam Túc, và tên cổ của vùng là Lũng châu. Vì Lũng châu thuộc nước Tần ngày xưa, nó còn có tên 秦陇=Tần Lũng như trong bài thơ.

Hai từ 王侯=vương hầu đầu câu 4 không nên viết hoa vì chúng không phải là danh từ riêng và câu 4 chỉ có nghĩa rằng các nhà quyền quý vẫn có thể nghèo cho dù có, hay vì có, trồng hoa mẫu đơn, nếu không nghèo vì nhu cầu học đòi làm sang. Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược (木=mộc và 火=hỏa) và từ thời Đường mẫu đơn là tên cho mộc thược dược. Có rất nhiều loài mẫu đơn với tên của các mỹ nhân danh tiếng hay các biểu tượng cho sự cao sang, quyền quý. Tại sao người Việt lại gọi hoa Dahlia là thược dược thì người ni không hay vì Dahlia xuất xứ từ Mỹ Châu và người Tàu chỉ chuyển âm qua tiếng hán thành 'đại lệ'.

***
@ý kiến của Phí minh Tâm:

Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược…

Anh Giám có thể xem lại loại hoa dahlia mà người Hoa gọi là Đại lệ hoa có thể nào là hoa mẫu đơn trong bài thơ của Vương Kiến hay không? Đại lệ hoa đến từ Nam Mỹ, nên sau thế kỷ 17, 18 người Âu Châu mới biết đến. Trong khi người Hoa đã có mẫu đơn từ thời Chu. Pmt

Huỳnh Kim Giám trả lời:

Dĩ nhiên Dahlia hay đại lệ hoa không phải là mẫu đơn và không thể là mẫu đơn. Tôi chỉ bàn 'lạc đề' về cái tên thược dược mà người Tàu dùng chung cho các loài mẫu đơn. Vì một lý do nào đó, người Việt cho dahlia cái tên thược dược cho dù hai loài hoa Dahlia và Gardaenia không bà con gì với nhau hết. Một lý do khả hữu là thế này: một tên Hán của Dahlia pinnata là 天竺牡丹 (Thiên Trúc mẫu đơn) cho dù dahlia xuất phát từ châu Mỹ! Đúng ra một tên tiếng Anh của dahlia là Indian peony với từ (red) Indian chỉ gốc thổ dân châu Mỹ chứ không phải gốc xứ Thiên Trúc huyền thoại, nhưng người Tàu đã lỡ dịch Indian thành Thiên Trúc từ lâu rồi.

Rất có thể rằng một người, Việt hay Nhật rành chữ Hán nhưng không rành thảo mộc học, biết mẫu đơn là thược dược trong tên tiếng Tàu nên cũng nghĩ Indian peony/Thiên Trúc mẫu đơn là thược dược. Điều này làm tôi liên tưởng tới chuyện trái cẳng ngỗng người Tây phương dịch Nho gia (儒家) thành Confucianism cho dù từ Nho có nghĩa là thuật sĩ-nhà chuyên môn chứ không dính dáng gì với Khổng Tử.

Huỳnh Kim Giám thắc mắc:

Không biết anh Tâm tìm ra giải thích "đào bích" cho cụm từ "bách diệp" ở đâu ra vậy. Google và Wiktionary chỉ cho hai nghĩa cho "bách diệp, một là cái lá sách, một phần của bao tử bò, hai là tàu hủ ky để làm đồ chay giả thịt. Bách diệp cũng nằm trong tên của một loại mành mành che cửa

@ Phí Minh Tâm trả lời:

Theo Google: Bách diệp (百葉): Tức là hoa đào nhiều cánh (đào bích).
Đào phai và đào bích là hai loại hoa đào Tết khá phổ biến và được nhiều người yêu thích.
Tự điển 国语辞典 Trang Sưu Vân cho 6 nghĩa, trong đó có:
百叶 拼音:bǎi yè 1.花瓣或枝叶重叠。
bách diệp bính âm :bǎi yè 1. hoa biện hoặc chi diệp trọng điệp 。
百叶 (bǎi yè) 1. Cánh hoa hoặc lá xếp chồng lên nhau.

@ mirordor viết thêm:

Thay vì tìm đào hoa bách diệp, nếu tìm 'bách diệp đào hoa" thì Google cho chúng ta Hàn Dũ thay vì Vương Kiến:

"百葉桃花" : 主要指代唐代文學家韓愈創作的七言絕句《題百葉桃花》,描寫花瓣繁複的桃花在晚春時節愈發紅艷、玲瓏,帶有擬人化的親切溫情。此詞亦指花瓣數量極多(重瓣)的桃花觀賞品種,常見於園林中,花朵較單瓣桃花更為豐腴、鮮豔。 "bách diệp đào hoa" chủ yếu chỉ Đại Đường đại văn học gia Hàn Dũ sáng tác đích thất ngôn tuyệt cú《 Đề Bách Diệp Đào Hoa》, miêu tả hoa biện phồn phức đích đào hoa tại vãn xuân thì tiết dũ phát hồng diễm, linh lung, đái hữu nghĩ nhân hóa đích thân thiết ôn tình。 thử từ diệc chỉ hoa biện sổ lượng cực đa (trùng biện) đích đào hoa quan thưởng phẩm chủng, thường kiến ư viên lâm trung, hoa đóa giác đan biện đào hoa canh vi phong du, tiên diễm.

Bài thơ 題百葉桃花 của Hàn Dũ như thế này:

百葉雙桃晚更紅 bách diệp song đào vãn canh hồng
窺窗映竹見玲瓏 khuy song ánh trúc kiến linh lung
應知侍史歸天上 ứng tri thị sử quy thiên thượng
故伴仙郎宿禁中 cố bạn tiên lang túc cấm trung

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

Tình Chân Vạc - Tự Trào - Hài Tội Chẩm Tá Nhân

 

Tình Chân Vạc

(Tặng các đồng nghiệp làm thơ, riêng gửi Mùi Quý Bồng)

Ba tròng một cổ, tội chưa?
Nàng Y người bạn, Nàng Thơ người tình.
Nghiệp dư, nghiệp quả lằng nhằng
Bỏ thương, vương tội, buồn lòng Nàng Hoa.

Vừa xem mạch, vừa nhớ Nàng Thơ.
Quên mất Tú Xương vẫn dặn dò:
Ra toa đâu phải làm thơ phú!
Chớ có biên xằng, kiện bỏ cha!

Anh nào phải thứ trăng hoa
Nàng Y đồng hội, Nàng Thơ đồng thuyền.
Riêng Em mới thật người tình,
Là em, là mẹ, nửa mình của Anh.

Xưa mà biết thế kén chồng
Làm chi cũng được, đừng chồng làm thơ.
Đêm hôm hắn cứ lơ mơ,
Xác nằm ỳ đó, hồn bay đằng nào.

Sáng vừa sánh bước Nàng Y
Đã trưa hí hửng cặp kè Nàng Thơ.
Tối về hú hí em Hoa,
Cái thân ví xẻ làm ba họa vừa!

Mỗi bài thơ, một cái tội
Gối chăn càng lạnh, tội càng to.
Bao giò đoạn tuyệt Nàng Thơ hẳn
Họa có đường Em nối tóc tơ!

Kiếp sau chẳng lấy “Ông Thầy”
Sớm khuya phòng mạch, tối ngày nhà thương.
Nửa đêm hương lửa đang nồng,
Thoắt nghe “bíp...bíp” đành lòng bỏ đi!

Kiếp sau chẳng lấy nhà thơ.
Mãi ru với gió, mặc hoa héo gầy.
Mơ trăng, vơ vẩn cùng mây,
Bỏ thân ngà ngọc, kiếm vài vần thơ!

Tuy em chẳng quán Hà Đông
Tài ghen chẳng kém gì nàng Hoạn Thư.
Khuyên đừng tán tỉnh Nàng Thơ.
Nàng Y răn tránh, tối ngày quẩn quanh!


Hoàng Xuân Thảo
***
Tự Trào


(để đáp bài Tình Chân Vạc của Hoàng Xuân Thảo
và riêng tặng Bà Xã)

Nàng Y, Nàng Hoạ, Nàng Thơ,
Ba nàng, ba phía đứng chờ đợi ta.
Lại thêm Bà Xã ở nhà,
Và cô Nàng Báo xa xa thập thò.
Nghĩ mình gan quả là to,
Một anh, năm ả, không lo, chẳng phiền.
Cứ như Lưu Nguyễn gặp tiên,
Đông, Tây, Nam, Bắc, khắp miền xông pha.
May nhờ Lăng Bộ Vi Ba (1)
Nay đây, mai đó, năm nhà an vui.
Thế nhưng mệt toát mồ hôi,
Mất ăn, mất ngủ, tơi bởi xác thân.
Có than cũng chỉ than thầm,
Lỡ môi, trật miệng, Bà Đầm quát ngay:
“Thôi thì thôi nhé, từ nay
Bỏ Thơ, bỏ Hoạ, quăng ngay Báo dùm.
Bệnh nhân đợi, la um xùm,
Anh không lo, Xếp (2) làm rùm cho coi!”
Chẩm mệt, mặt vẫn tươi cười,
Dám đâu tỏ vẻ bồi hồi, rối ren.
Nàng Y, Bà Xã đều ghen,
Lại thêm ông Xếp rất ghiền “working”
Từ khi mới chớm bình minh,
Đến khi tối mịt vẫn “kinh” mọi bề.
Nhà thương, phòng mạch vừa về,
Cơm chưa kịp nuốt, đã “tề” viện “Psy.” (3)
Tề gia, trị “ hội” cũng tài,
Mang danh Hội Trưởng Suốt Đời (4) không ngoa.
Xếp thường bảo Chẩm: “Nghe moa.
Chịu cam, chịu khổ vài ba năm đầu,
Số mình sẽ hưởng về sau,
Cam đoan hậu vận tươi mầu nay mai!”
Chẩm theo Xếp, bước ngắn, dài.
Mười ba năm lẻ, vẫn nai lưng cầy.
Nàng Thơ theo gió mây bay,
Bàn tay Nàng Hoạ lấm đầy mầu sơn.
Nàng Báo biết phận thiệt, hơn.
Nửa năm mới dám một lần thăm nhau.
Nàng Y vẫn đứng hàng đầu,
Bởi chưng Bà Xã đằng sau giật thừng.
Chẩm biết nói chẳng đặng đừng.
Trên đe, dưới búa, vô cùng oái oăm.
Thôi thì giả điếc, giả câm,
Cắn răng chịu trận, cho êm cửa nhà.
Chẩm xưa nay vẫn xuề xoà,
Chót mang nghiệp dĩ, tự đầy đọa thân.
Cùng Hoàng Xuân Thảo tương lân,
Nối vần thơ, đáp tình thân đôi hàng.
Viết dù cả mấy trăm trang,
Cũng không hết ý, nên ngừng nơi đây.
Cùng Bà Xã, tay cầm tay,
Mặt nhìn mặt, hứa từ nay xin chừa.
Theo gương Vô Kỵ (5) ngày xưa
Bỏ Thơ, bỏ Báo, cho vừa lòng ai.
Nàng Y thì vẫn miệt mài,
Nhờ tay nàng Hoạ, mày ngài Anh tôi!


Chẩm Tá Nhân

1* Chẩm Tá Nhân được các danh sư Thế Am, Thế Các, Lệ Mai, Lệ Hồng dậy cho vài
đường khiêu vũ
2* Bạn thân của Chẩm, có tài “business”. Trong phòng mạch được tặng danh sưng
“Xếp”
3* Psychiatry
4* Ông Xếp là Đương Kim Hội Trưởng Hội YNDSVN/LA, nhờ tài ba, được gọi đùa (hay
thật?) là Hội Trưởng Trọn Đời
5* Trương Vô Kỵ, trong Cô Gái Đồ Long, bỏ hết công danh sự nghiệp, nguyện trọn đời
kẻ lông mày cho người yêu Triệu Minh.

***
Hài Tội Chẩm Tá Nhân

(thân tặng anh Chẩm Tá Nhân, tiếp theo bài Tự Trào của anh)

Một chàng bạch diện tài ba,
Văn thơ có hạng, bút hoa tuyệt vời,
Lại thêm báo bổ cũng nòi,
Chuyên nghề “tả chấm”, một thời vang danh (1)
Nên bốn ả tranh dành một gã,
Chẩm Tá Nhân thật quá đắt hàng,
Y, Văn, Báo, Hoạ, nghiệp chàng,
Tài hoa chi lắm, thêm càng khổ thân.
Có một bận Bà Đầm làm bếp,
Bỗng chuông reo, tới tấp, liên miên,
Biết rằng sẽ kẹt, sẽ phiền,
Bốn cô thị sự, ngang nhiên tới nhà.
Đành tắt bếp, tà tà mở cửa,
Thì một nàng ý nhị bước vào,
Vẻ sang, tà áo trắng phau,
Ông nghe lủng lẳng, sặc mùi ê-te (ether) (2)
Tự giới thiệu, nàng Y chính hiệu,
Còn ngờ gì, đúng điệu Bà Lang.
Thế rồi bà nói phăng phăng,
Đòi quyền chia chác mối duyên bẽ bàng.
Bà nại cớ: “Gia đình hạnh phúc,
Hỏi nhờ ai mới được hiển vinh?
Nhà cao, cửa rộng thông thênh,
Xe hơi láng coóng, “shopping” đều đều(3)
Mà nỡ bỏ “kẻ nhiều, người ít”
Mối tình kia ban phát quân bình,
Bên tám lạng, bên nửa cân.
Nếu không sẽ xúi bệnh nhân kiện liền.
Đền bạc triệu, bạc nghìn như bỡn,
Tiền bồi thường. Cho tởn đến già
Medicaid, Medicare, (4)
HMO, bảo hiểm, cũng là “cúp” luôn (5)
Thôi đi, cân nhắc thiệt hơn,
Mối tình chia sẻ, sẽ yên mọi đường!”
Bà Xã nghĩ thương chồng một cổ,
Mà mấy tròng, mình võ, xác ve,
Sức đâu phục vụ hai bề,
Bà bèn quyết giữ, chẳng cho, chẳng nhường.
Bà đáp lại: “Tiền rừng, bạc bể,
Có bõ công tất tả ngày đêm?
Cả khi chồng vợ ấm êm,
Cái “beeper” réo, cũng liền phải đi. (6)
Hỏi là họa, hay là hạnh phúc?
Mà kể công bổng lộc, bạc tiền?
Đổi sang nghề khác, chịu liền.
Chẳng qua nợ sách, nợ đèn đấy thôi!” (7)
Nàng Y thấy ý, lời chắc nịch,
Sự hiển nhiên, chẳng biết nói gì,
Phân vân nửa ở, nửa về,
Thì chuông lại réo tía lia ngoài thềm.
Lại mở cửa, vào liền hai ả.
Cốt cách người đầy vẻ thanh tao.
Miệng cười chúm chím nghiêng chào,
Lòng lanh khoé mắt biết bao duyên tình.
Một tự bảo chính mình Nàng Hoạ,
Còn ả kia đích thị Nàng Thơ,
Trông người điệu nghệ, dễ ưa,
Nét thanh quyến rũ, đặc thù như nhau.
Nàng Hoạ nói:”Chị sao chẳng hiểu,
Đấng lang quân danh nổi vì đâu?
Phải chăng mầu sắc mỹ miều.
Bức tranh tố nữ bấy lâu được người?
Không có Hoạ, ai nào biết tới?
Chị nỡ nào ngăn mối duyên xinh?
Bút hoa, sách, báo thêm tình
Bài văn, bản nhạc, có hình vẫn tươi!”
Bà Xã chẳng nghe lời đường mật.
Chớ dại gì chuốc nợ vào thân,
Bà bèn tạ sự phân trần,
Mối duyên văn nghệ phải ngăn bớt đà:
“Vẽ vời lắm, cửa nhà thêm bộn,
Khắp trong ngoài, lờm lợm mùi sơn,
Mà nào có được chi hơn,
Tốn công, tốn của, chẳng ăn giải gì!”
Nàng Thơ vội tỉ tê, kể lể:
“Vẫn cùng chàng khóc gió, than mây,
Chị ơi, em khổ thế này
Thương chàng, chẳng được đắm say cùng chàng!
Chị cho phép chia duyên với chị,
Mối tình chàng san sẻ cho em!”
“Cô này mới thật là điên!
Có yêu cũng phải kiếm tìm tuỳ nơi.
Thói lãng mạn, dại thời rán chịu.
Gặp chồng người ai bảo dính vào.
Thì ra Chẩm Tá hồi nào
Mê mê, mẩn mẩn, đăm chiêu, phải bùa!
Nói cô biết, nếu mà léng phéng,
Sẽ có phen biết đến tay này.
Khôn hồn cao chạy, xa bay,
Giả nguyên chồng chị, chị này tha cho!”
Đang léo xéo, thập thò ngoài ngõ,
Lại một nàng kiều nữa bước vào.
Nghênh ngang dáng dấp cao bồi,
“Micro”, máy ảnh khắp nơi, đầy mình. (8)
Như có súng cành cành bên háng,
Quái nữ này bạo dạn khác thường.
Thoạt trông Bà Xã đã run,
Gặp tay đối thủ đáng gờm, phải e.
Nàng xác nhận nàng là Nàng Báo.
Đệ tứ quyền, dân chủ, tự do.
Yêu đương thời mới như pha,
Đã yêu nào ngại chồng ta, chồng người.
Bà Xã thấy rụng rời, khó nghĩ.
Bỗng trong nhà, bầy trẻ hát lên:
Để Bà Xã đỡ sợ, đỡ run:
Hát rằng:
“Anh em ơi, đừng sợ cao bồi!
Nó có súng, mình có dao găm.
Nó bóp cò, mình nhẩy vô đâm.
Nó bắn “đẹt”, mình đâm cái “rụp!”
(theo một bài ca hè phố)
Bà lấy sức, nắm dao, chặn lối.
Quyết phen này chẳng chịu chào thua.
Nhưng rồi lại sợ nó “sue” (9)
Thà dùng mưu chước, nước cờ hay hơn.
Bà giả bộ cho con gọi bố
Chẩm Tá ra, tộp ngực, vặn tay.
Thôi thì cấu, véo đủ nơi,
Thử xem phản ứng bốn người ra sao.
Nàng Y thấy khổ đau ra mặt,
Động tim chàng, “heart attack” mất thôi. (10)
Nàng Thơ, Nàng Hoạ bồi hồi.
Bẻ tay thì biết vẽ vời làm sao?
Còn Nàng Báo phải nhiều thử thách.
Computer phá quách cho coi. (11)
Là thôi, hết cách in bài.
Quả nhiên Nàng cũng dịu lời van xin.
Nàng Y nói: “Điều đình với chị.
Xin từ nay em lấy ban ngày.
Nhà thương, phòng mạch đủ rồi.
Ban đêm chị giữ lấy người chị thương.!”
Nàng Hoạ bảo: “Chị nhường đôi chút.
Chỉ họa hoằn mới mượn bút hoa,
Xuân, Thu, hai độ báo ra, (12)
Thì em mới dám phiền hà anh thôi!”
Nàng Thơ khóc cho vơi tâm sự,
Hứa xin chừa, bớt nhớ, bớt thương,
Để chàng đừng quá vấn vương,
Bên tình, bên nghiệp, đôi đường yên vui.!”
Cô Nàng Báo vẫn ngồi năn nỉ:
“Biết lấy ai có thể thay vào?
Hội nhà trông cậy bấy lâu,
Làm sao thỏa mãn nhu cầu thông tin?”
Mấy đề nghị không xem quá đáng
Nên Bà Đầm đành rán hy sinh!
Thế là mọi sự chu toàn,
Năm nàng ôm Chẩm Tá Nhân, cùng cười!


Lương Thế Nam

1* Khám bệnh
2* Thuốc sát trùng ngoài da để giải phẫu
3* Đi mua sắm
4* Chương trình trợ cấp y tế tiểu bang và liên bang
5* “cắt” - HMO là cơ quan bán công bảo hiểm y tế
6* Máy vô tuyến để gọi thấy thuốc
7* Học Y Khoa ở Mỹ rất đắt, phải nợ ngân hàng cả trăm ngàn đô la. Lại còn
tiền lãi nữa
8* Đầu máy để phóng viên thu thanh khi phỏng vấn
9* Thưa kiện ra toà
10* Tộp ngực sợ làm cơn đau tim nguy hiểm
11* Máy điện toán
12* CTN là chủ biên Tập San Hội YNDSVN/LA, một năm ra hai số, mùa Xuân
và mùa Thu

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2025

Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng - Phí Minh Tâm Kính Gởi Hương Hồn Anh Chị Khôi


Kính gởi Hương Hồn anh chị Khôi bài tôi mới viết xong ngày hôm nay.
Tôi xem anh Khôi là người anh hùng trong truyện và nay, chị Khôi là mỹ nhân, mà tôi chắc anh Khôi cũng đồng ý.
Xin nhờ anh chị trong Nhóm chuyển đến các cháu con anh chị Khôi với lời thành kính chia buồn của tôi. 

Phí Minh Tâm.

Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng

Nhân đọc lại tiểu thuyết dã sử Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng của
Hoàng Xuân Thảo, Nguyễn Thanh Bình và Trần Xuân Dũng, tôi có dịp đọc lại và suy ngẩm thêm về hai câu thơ:

美人自古如名將 Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
不許人間見白頭 Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Nguồn gốc của hai câu thơ danh tiếng này từng được thảo luận chi tiết trên diễn đàn Việt Học, diễn đàn Mai Hoa Trang... hơn 20 năm trước đây. Các diễn đàn này nay không còn nữa. Thi Viện hiện còn có một số ý kiến về đề tài này, nhất là về bối cảnh trong đó hai câu thơ được viết ra.
Vào cuối thời Khang Hy nhà Thanh, Đồng Gia Lâu được xây dựng trên sông Vệ ở Thiên Tân 天津衛河. Đây là dinh thự của Triệu Diễm Tuyết 趙

豔雪, một phi tần nhà họ Đồng. Trong thời của Khang Hy, Ung Chính và Càn Long, người dân Thiên Tân rất ưa chuộng việc thờ cúng thần hoa.

Vườn Đồng Gia Lâu nổi tiếng với hoa hải đường. Triệu Diễm Tuyết giỏi thơ văn có làm bài Tiêu Hồn Hải Đường 消魂海棠 trong đó có hai câu thơ:

”Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”. Ý tưởng mới lạ này đã khiến bài thơ được lưu truyền rộng rãi, vì vậy người thời đó gọi Diễm Tuyết Lâu, và các thế hệ sau không còn nhớ cái tên ban đầu Đồng Gia Lâu nữa. Tôi không tìm được nguyên tác bài Tiêu Hồn Hải Đường.

Theo diễn đàn Việt Học trước đây, một quan điểm cho là hai câu thơ này được trích ra từ bài Tiêu Hồn Hải Đường của Triệu Diễm Tuyết 趙豔雪 như đã nói trên. Quan điểm khác cho là một bài thơ cũng của Triệu Diễm Tuyết đăng trong Tùy Viên Thi Thoại 隨園詩話 của Viên Mai 袁枚 mới là nguồn gốc của 2 câu thơ nổi tiếng này.

Mộc bản trong Tùy Viên Thi Thoại

Viên Mai đời Thanh chép lại những chuyện văn chương cùng thời mà chính tác giả mắt thấy tai nghe. Tra Vi Nhân 查为仁 (1695-1749) có làm một bài Điệu Vong Thi khóc vợ là Kim Chỉ Vân 金至云 chết vì bịnh. Triệu

Diễm Tuyết là thiếp của Đông Hoành 冬宏 người Thiên Tân天津, đồng hương với Tra Vi Nhân, có họa lại bài điệu vong này để an ủi và chia buồn.

Do đó bài Điệu Kim Phu Nhân 悼金夫人 còn có tựa là Họa Tra Vi Nhân
Điệu Vong Thi 和查为仁悼亡詩. Đáng tiếc là bài điệu vong của Tra Vi

Nhân không còn nữa.

Nguyên tác:           Phiên âm:

悼金夫人-趙豔雪 Điệu Kim Phu Nhân - Triệu Diễm Tuyết
逝水韶華去莫留 Thệ thủy thiều hoa khứ mạc lưu
漫傷林下失風流 Mạn thương lâm hạ thất phong lưu
美人自古如名將 Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
不許人間見白頭 Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

Bài tứ tuyệt rất chỉnh về niêm vận. Hai câu đầu miêu tả hiện tượng thiên nhiên phù du vô thường. Nước trôi cũng như tuổi thanh xuân không bao giờ trở lại. Sự an lành phút chốc trở thành đau thương với cái chết. Hai câu cuối tương phản hai câu đầu khi giai nhân và danh tướng không muốn biểu lộ sự tàn tạ của mình ở tuổi già.

Ghi chú:

Thệ thủy thiều hoa: nước chảy qua và hoa tốt đẹp, chỉ những năm tháng trôi qua của tuổi trẻ, và tuổi trẻ có nghĩa là những khoảng thời gian tươi đẹp.

Lâm hạ: dưới cây rừng, ban đầu chỉ nơi người phụ nữ sống sau khi kết hôn, ở đây nó chỉ cuộc sống ẩn dật hoặc tuổi già của người phụ nữ, nơi hẻo lánh yên tịnh.

Phong lưu: trong thơ cổ, nó không những chỉ tài năng xuất chúng, phi thường, tiết tháo, phẩm cách, phong độ, mà còn chỉ sự duyên dáng và quyến rũ.

Danh tướng: một vị tướng nổi tiếng trong lịch sử, ở đây có lẻ chỉ một người phụ nữ tài giỏi xinh đẹp. bạch đầu: chỉ tuổi già và tóc bạc.

Dịch nghĩa:

Thương Nhớ Bà Kim


Nước chảy hoa tươi đi qua tuyệt không ở lại
Đầy thương đau dưới rừng làm mất đi phong độ và tiết tháo của người mất.

Từ xa xưa, người đẹp được ví như danh tướng, Không hẹn để người đời nhìn thấy tóc bạc của mình.
Đây là một bài thơ ai điếu. Thi nhân là một người phụ nữ và đối tượng để tang cũng là một người phụ nữ.

Câu 1 nói lên sự vô thường phù du của thiên nhiên, tuổi trẻ hoa tươi đẹp như dòng nước chảy, không thể giữ lại ở yên một chỗ.

Câu 2, không cần phải quá đau buồn về sự mất mát của một người đẹp, phi thường trong khu rừng quyến rũ yên tỉnh.

Câu 3 và 4 tiếp nối ý trước và đưa ra lý do: Người đẹp cũng giống như danh tướng, trân trọng nhan sắc và danh tiếng của mình, không muốn thế gian nhìn thấy tuổi già của mình, nên họ thà chết sớm, và từ xưa đến nay vẫn vậy.

Câu 3 và 4 có thể hiểu nhiều cách khác nhau:

1. Người đẹp cũng giống như các danh tướng, thường có tuổi thọ ngắn và không sống đến tuổi già với mái tóc bạc. Đại ý tương tự như thành ngữ "Hồng nhan bạc mệnh" hay "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen", ”Chữ tài cùng với chữ tai một vần”...

2. Người đẹp cũng giống như danh tướng, được nhiều người yêu mến nhất khi còn trẻ, nhưng khi họ già nua, tóc bạc thì chẳng còn ai quan tâm nữa.

3. Người đẹp cũng giống như danh tướng, trân trọng tuổi trẻ và những năm tháng sung sức, không để người đời nhìn thấy tóc bạc và tuổi già của mình.

4. Trong mắt người đời, chỉ có mỹ nhân, tướng quân trẻ đẹp, tuấn tú, chứ không có mỹ nhân, tướng quân tóc bạc, mặt già nua.

5. Mỹ nhân cũng giống như danh tướng, không thể hứa hẹn với người đời là mình sẽ sống đến khi đầu bạc.

6. Mỹ nhân và danh tướng là những người hiếm có và để lại danh tiếng trên đời, nhưng cũng như đa số nhân gian, bất lực trước cuộc sống ngắn ngủi và  thất thường.

7. Cho dù một người phụ nữ có xinh đẹp đến đâu, giống như vị tướng tài ba đến đâu, danh tiếng và số phận cũng không chắc chắn trường tồn và đảm bảo cơ hội sống đến tuổi già tóc bạc.

Bốn câu thơ truyền đạt năm việc:

Vạn vật vô thường: sinh, trụ, dị, diệt
Ca ngợi người đã khuất là người có vẻ đẹp phi thường
Bày tỏ sự tiếc nuối trước cái chết đột ngột của bạn
An ủi người chồng và người thân đừng quá đau buồn
Người đẹp thường chết sớm, điều này đã có từ xa xưa.

Dịch thơ:

Sau đây là bài thơ tạm dịch trong sách Mỹ Nhân Tự Cổ Như Danh Tướng:
Thương Tiếc Bà Kim

Nước chảy Xuân qua chẳng ở lâu.
Xuyên rừng gió thoảng nhẹ thương sầu.
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Không để nhân gian thấy bạc đầu.

Dịch lại: 

Nước chảy hoa tươi chẳng ở lâu.
Mất đi phong cách quá thương sầu.
Xưa nay người đẹp như danh tướng,
Không để thế gian thấy bạc đầu.


Mourning Lady Kim by Zhào Yàn Xuě


Don & hold on to the fleeting youth,
Don’t be too saddened by the loss of an extraordinary beautifull person.
Since ancient times, beauties have been like famous generals.
The world is not allowed to be see their white hair.
This is an elegy. The poet is a woman and the object of mourning is also a woman.

The first sentence says that youth is like flowing water and cannot be retained. The second sentence says that there is no need to be sad about the loss of an extraordinary person under the charm of the forest. The third and fourth sentences follow up the previous text and give the reason: beauties, like famous generals, cherish their own beauty and reputation, and do not want the world to see their aging, so they would rather die early, and it has been like this since ancient times.

It seems that this poem has at least five messages:

1. Life is impermanent.
2. Praise deceased person as an extraordinary beauty.
3. Regret for the beauty's untimely death.
4. Comfort the deseased's husband and relatives not to be too sad.
5. Beautifuk and talented people are prone to die young, which has been the case since ancient times.

Phí Minh Tâm
19-7-2025

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2024

Áo Trắng Tình Hồng - Hoàng Xuân Thảo


Để ngưỡng mộ và tưởng niệm, một Văn Nghệ Sĩ đa diện, tài hoa "Hoàng Xuân Thảo"
Hôm nay sinh nhật của ông "Ngày 19 tháng 7"

"Tiểu sử do tác giả Nguyễn Thanh Bình viết"
(Tài liệu sưu tầm trong Google).

Kính mời quý anh chị thưởng thức. Và kính chúc tất cả vạn an.

(Dư Thị Diễm Buồn)

HOÀNG XUÂN THẢO
(1931- 2021)



Bác Sĩ Hoàng Ngọc Khôi, bút danh Hoàng Xuân Thảo, sinh ngày 19/07/1931 tại Bắc Ninh. Hồi trẻ, anh có một thời lang thang theo kháng chiến, sau đó anh gia nhập Quân Y hiện dịch khóa V, 1952-1958, và tốt nghiệp với bằng Y Khoa Bác Sĩ. Anh từng là Y Sĩ của binh chủng Nhảy Dù, và Y Sĩ Trưởng Quân Y Viện Trương Bá Hân ở Sóc Trăng. Anh là cựu giáo sư các trường Gia Long, Quốc Gia Sư Phạm, Khuyến Học, Hàn Thuyên. Dù nhiều công việc như vậy, anh còn lấy thêm 2 bằng Cử Nhân Luật Khoa và Văn Khoa. Với bút hiệu Hoàng Xuân Thảo, anh có những tác phẩm sau đây, đã xuất bản hay ấn hành:

* Thơ, có 4 tập: Niềm Đau Sáng Tạo. Khung Trời Quê Hương. Áo Trắng Tình Hồng.Tiếng Vọng Rừng Phong.

* Kịch: Sang Sông. Tiếng Pháo Giao Thừa. Nỗi Ám Ảnh Của Một Tấm Hình. Thức Tỉnh Lúc Hoàng Hôn. Người Tập Kết Trở Về.

* Biên khảo: Huyền Thoại Về Triều Đại Hồ Chí Minh, (dầy 1200 trang, với sự cộng tác của bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ). Xứ Cờ Lá Phong, Quê Tôi Cuối Đời (dầy 600 trang, với sự cộng tác của bác sĩ Từ Uyên).

* Dịch thuật: Của Chuột Và Người (of mice and men). Kẻ Ngoài Lề (l’étranger) Hai quyển này với sự cộng tác của tiến sĩ Nguyễn Phúc Bửu Tập.

* Video: Trình bầy 250 video về nhạc và thơ.

Anh Hoàng Ngọc Khôi đóng góp rất nhiều bài vở cho Tập San Y Sĩ của Hội Y Sĩ VN tại Canada và nhiều tạp chí khác. Tới đây thì ta thấy anh Khôi là người đa tài, có sáng tác trong nhiều bộ môn khác nhau. Anh là đàn chủ của diễn đàn Tmg19 (tức là Toronto medical group), và cố vấn tối cao của LT21, (tức Liêu Trai Chí Dị thế kỷ 21, do bác sĩ Nguyễn Văn Bảo làm đàn chủ). Tuy đa tài như vậy, nhưng anh Khôi lại rất khiêm tốn, hiền lành, lúc nào cũng vui vẻ, hòa nhã với anh em, và đưa ra những ý kiến vô cùng chính xác và hợp lý khi cần thiết. Anh Khôi còn là một bỉnh bút sáng giá và nhiệt thành. Tôi liên lạc mật thiết với anh Khôi qua thư từ, điện thư… Càng liên lạc với anh, tôi càng mến mộ anh hơn vì kiến văn quảng bác, tính tình khả ái.  

“Nhân Sinh Nhật 19/7 của anh Hoàng Xuân Thảo”. Tác giả Nguyễn Thanh Bình. (Tìm trong Google).


ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG


Nhờ duyên văn nghệ, tôi hân hạnh được quen biết và được tác giả Hoàng Xuân Thảo ký tặng thi tập “Áo Trắng Tình Hồng” vào ngày 9 tháng 1 năm 2001. Do sự giới thiệu của anh Thái Minh Kiệt (dạy Đại học Cần Thơ, thuở Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ) Đến xứ người, anh dạy Đại học Canh Nông Canada… 

Thái Minh Kiệt và tôi là đồng môn Trung học Phan Thanh Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Viết văn, anh có nghệ danh Nguyễn Văn Ba, là đồng điệu với tôi ở hải ngoại. Anh Thái Minh Kiệt nhỏ hơn tôi 1 tuổi nhưng học trên tôi 2 lớp. Bởi anh học giỏi thi năm nào cũng đậu, còn tôi vừa học dở vừa èo uột trên đường công danh, thi rớt lên rớt xuống, ạch đuội lắm, chậm hơn bạn bè... nhưng rồi cũng đến nơi.

Thuở Trung học, chúng tôi có chung trong nhóm bạn thân, có người là quân nhân có người công chức có người sinh viên... Sau 30 tháng 4 năm 1975 nhóm mất liên lạc. Ở Hải ngoại Thái Minh Kiệt và tôi cộng tác chung những nguyệt san, đặc san... trong và ngoài nước Mỹ... Vì cả hai đều dùng bút danh nên không biết nhau. Cho mãi đến mười mấy năm sau tôi mới được tin Thái Minh Kiệt tức là nhà văn Nguyễn Văn Ba đang ở Canada (nhờ người bạn ngày xưa trong nhóm, đang ở Úc cho biết).

Thường cuối tuần, chúng tôi điện đàm thăm hỏi nhau, kể chuyện ngày xưa thuở còn đi học và lúc mới vào đời... Giờ thì bạn bè mỗi đứa mỗi nơi kẻ còn kẹt trong bức màn tre, kẻ ra hải ngoại, người chết trong tù... Và chúng tôi ai cũng thành gia thất, con cái đùm đề. Vợ chồng tôi và anh chị Nguyễn Văn Ba rất tâm đắc và thường chuyện trò với nhau qua điện thoại. 

Lần đó anh khoe với tôi, và hỏi có quen với nhà thơ, nhạc sĩ... Hoàng Xuân Thảo không? Tôi trả lời không quen biết. Nguyễn Văn Ba đã ngầm giới thiệu để tôi được quen biết những Văn Nghệ Sĩ khác... Với ông Hoàng Xuân Thảo, anh còn nhẹ giọng êm đềm “đệm” thêm một câu nữa với tôi:

-  Bà chị DTDB ơi, nếu sau nầy có dịp nói chuyện với ông Hoàng Xuân Thảo thì làm ơn giữ lời nghe. Ông là nhà đại khoa bảng, là bác sĩ Hoàng Ngọc Khôi... Học trò của ổng nhiều người lớn tuổi hơn tôi và chị đó nghe...

Đầu dây điện thoại bên nầy (Mỹ) tôi cười nhẹ, chép miệng:

-  Nè Nguyễn Văn Ba, anh cũng biết ở quê nhà bạn anh là “dân ruộng” qua xứ người là “cu-li”. Chữ nghĩa gắn không đầy lá mít... viết chỉ là niềm vui là đam mê thôi... làm sao tôi dám quen biết với người tài giỏi như vậy! Ông Hoàng Ngọc Khôi là cây cổ thụ trong y giới. Ông Hoàng Xuân Thảo là văn nghệ sĩ tài hoa... giỏi như vậy sao giới thiệu cho biết tôi chi vậy trời à?

Bên kia đầu dây (Canada) Nguyễn Văn Ba lớn tiếng cười, bảo:

-  Sợ rồi sao, bởi tôi biết BS Hoàng Ngọc Khôi rất tế nhị, bình dân, vui vẻ, đôn hậu, đa tài. Về văn học nghệ thuật thì “Cầm, kỳ, thi, họa” môn nào ông cũng biết, cũng hay và cũng giỏi... Giới thiệu người tốt để có dịp chị làm quen mà học hỏi thêm đó mà...

-  Được rồi, cảm ơn nhã ý của anh. Nhưng tôi có phải là giảng viên Đại học như anh đâu! Đừng có để người ta tưởng tôi nghe đến bác sĩ thì sáng mắt... “Nghe người ta là Bác sĩ thì tươm tướp làm quen...” thì tội nghiệp Diễm Buồn tôi sẽ thành Diễm Khóc đó nghe Thái Minh Kiệt! 


Thật sự nó đúng như vậy! Trong bao nhiêu người vượt biển khỏi quê hương sau 30 tháng 4 năm 75 nơi vùng đất tạm dung, có lẽ gia đình tôi nghèo nhứt “nghèo rớt mồng tơi”. Mới đến xứ người, mấy tháng sau còn “chân ướt chân ráo” tôi mang thai, trong khi chưa có công ăn việc làm, còn ăn nhờ ở đậu với cô em... Chúng tôi như dân “Cái Bang” Trong truyện Tàu của Kim Dung. Thiệt là số vất vả trăm chiều mà! 

Cũng như đại đa số những kẻ chạy loạn bôn đào, vì chén cơm manh áo cho gia đình, chồng tôi đi làm cho nhà làng chúng tôi đang cư ngụ. Tôi sanh cháu bé được một tháng bảy ngày, thì đi làm cho một viện dưỡng lão ở làng bên. Các con cái mỗi ngày một lớn, và học hành... chúng tôi phải làm nhiều hơn, mỗi người hai việc (16 giờ mỗi ngày) tôi làm từ 6 giờ sáng cho đến 11giờ 30 đêm. Chàng làm từ 3 giờ chiều đến 7 giờ sáng hôm sau. Vợ chồng như cút bắt kẻ về, người đi... ít khi nghỉ trùng ngày nên ít gặp mặt nhau! Con gái tôi chưa đầy mười hai tuổi, phải trông chừng đứa em nhỏ hơn cháu một tuổi, và giữ đứa em (cho em ngủ, cho em bú bình, thay tã cho em, và giúp mẹ làm những việc lặt vặt lau nhà, rửa chén...).

Cho dù thời gian làm việc chiếm nhiều giờ, dù tôi phải đi chợ, nấu ăn (trong ngày nghỉ) cho cả gia đình ăn mỗi ngày. Nhưng tôi vẫn muốn viết, thích viết, và ưa đọc (lợi dụng thời gian trong giờ ăn và giờ nghỉ giải lao ở sở). Bởi với tôi viết và đọc là niềm vui, là sở thích là đam mê... phải có cho riêng mình!

Rồi anh Nguyễn Văn Ba qua đời vì bạo bệnh. Sau lần hò hẹn anh chị và chúng tôi gặp nhau ở đại hội cựu học sinh Trung học Phan Thanh Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Được tổ chức ở Toronto (Canada). “Tôi đã mất một đồng môn, một đồng điệu, một người bạn tốt mà chúng tôi vô cùng trân quý...”

Gia đình tôi định cư ở miền Trung Tây, (Chicago) tiểu bang Illinois là một trong những vùng lạnh nhất nhì nước Mỹ. Có bốn mùa, về mùa đông giá rét lạnh lùng, kéo dài hơn 6 tháng tuyết rơi ngập đường ngập lối... Chúng tôi sống ở đây tròm trèm 25 năm, và ba đứa con cũng lần lượt ra trường đại học, mới dời nhà về sống gần gia đình gần con gái (Từ Chicago Illinois, đến làng Yuba City, thành phố Sacramento thuộc tiểu bang California).

Thời gian trôi mãi trôi, cho đến mười mấy năm sau, một hôm tình cờ tôi nhận được những bức ảnh rải rác trên internet của ông Hoàng Xuân Thảo gởi ra... với nhã ý của tác giả “Xem tranh viết lời”. Tôi vui mừng liền hưởng ứng, nhưng hết sức dè dặt! Tôi bắt đầu viết cảm nhận của mình dưới những bức ảnh nhận được, nhưng không liên tục. Bởi khi nào gặp thì viết không thì thôi chớ tôi không tìm kiếm. 


XEM TRANH VIẾT LỜI


Viết cảm nhận về những bức ảnh

của ông Hoàng Xuân Thảo gởi. DTDB


Ảnh  20


Bao la nước trời

Không gian bàng bạc

Bên bờ biển khơi

Sống trong hốc đá

Sởn sơ cây bá

Nắng gội mưa rơi

Vẫn xanh cành lá

Thiên niên vạn đời



Ảnh 21


Một mình trong chiều vắng

Lá vàng ngập đó đây

Đường xưa nhòa nhạt nắng

Hương đất cỏ dâng đầy

Bầu trời thu êm ả

Dư âm ôi ngọc ngà

Thu ơi thương nhớ quá!

Dù đã qua... rất xa!



Ảnh 22

 

Dòng nước xanh xanh nhành lá xanh

Thuyền ai trên sóng nước mong manh

Trời trong đẹp nắng vầng mây trắng

Mong “chim liền cánh cây liền cành”


Ảnh 23


Long lanh em hứng hạt mưa rơi

Buồn, đau, sầu, nhớ... tỏa khung trời

Êm ả, mến thương hay hạnh phúc

Là do cảm nhận của người... ơi


Ảnh 26


Mỗi độ ngoài trời mưa rơi lả chả

Không gian ủ dột sắc lá pha vàng

Nắng héo úa hương cỏ cây êm ả

Ôi, có người thờ thẫn lang thang


Ảnh 27

 

(Thu Buồn - Họa Sĩ Nguyễn Sơn)


Chẳng đêm thu êm ả trăng trong

Chẳng nắng chiều rơi rớt mênh mông

Chẳng đáy nước gợn rong cá lội

Chỉ có tơ trời trên tầng không


Ảnh 29




Một tách trà thanh vạn lời thơ

Vàng lá chao bay lá hững hờ

Tâm tư réo gọi nàng thơ ẩn

Ghẹo gió heo mây khéo thẫn thờ


Ảnh 31


Tươi thắm đài trang khoe hương sắc

Trơ cành duyên dáng cành đơm hoa

Cả bầu trời hồn xuân gieo rắc

Xuân lồng lộng nhạc xuân ngân nga


Ảnh 32


Tàn đông Xuân đến hoa, nhiều hoa

Trời xanh mây trắng sắc chan hòa

Trong tay hai kẻ cùng thưởng thức

Ước vọng tương lai thật ngọc ngà



Hoa xinh khuya nở sáng tàn

Quỳnh hoa hương sắc bàng hoàng ngẩn ngơ...

Thơm tho chỉ được vài giờ

Sắc màu héo úa thẫn thờ kiếp hoa


Ảnh 40


Cả trời mơ... những dòng thơ...

Hỡi nàng duyên dáng thẫn thờ chi đây

Lệ buồn trên má hây hây

Vân vê gió ướm tóc mây buông dài


Ảnh 41


Nóng nắng hè cây héo đất khô

Lá hoa cằn cỗi mặt đất mô

Mầm non xào úa gay gắt gió

Thân cây gầy guộc cành chơ vơ


Ảnh 47


Em gái Sài Gòn ơi thấy thương
Ngồi xích-lô đạp sao trống trơn
Gió hốt lá khô đường tốc bụi
Gầm gừ sấm chớp mưa, mưa tuôn

Ảnh 48

Ác dịch cộng Tàu gây thảm não
Thế giới chung lòng chống dã man
Chẳng ngại màu cờ hay sắc áo
Đập nát âm mưu kẻ bạo tàn

Một hôm soạn lại tủ sách gia đình, tình cờ tôi tìm thấy thi tập “Áo Trắng Tình Hồng”... có tên tác giả cùng tên những hình ảnh nhận được để viết cảm nhận. Suy nghĩ một hồi tôi mới chợt nhớ mình có biết ông Hoàng Xuân Thảo, gần 20 năm trước do nhà văn quá cố Nguyễn Văn Ba giới thiệu.


Tôi chụp ảnh gởi đến ông Hoàng Xuân Thảo (bìa trước, và bút ký cùng thời gian ông đề tặng sách). Ông trả lời Email của tôi:

“...Thật là kỳ diệu.
Cảm ơn chị Dư Thị Diễm Buồn
vẫn còn giữ thi tập Áo Trắng Tình Hồng...”

Sau cùng tôi đã mạo muội cảm đề bài thơ “Những Kẻ Bán Hàng” của tác giả Hoàng Xuân Thảo, trước thời gian không lâu, ông vĩnh viễn từ giã cõi đời, ngày 6 tháng 2 năm 2021. Tôi đã giữ tròn bài thơ của ông trong hộp thư của mình, nhưng bị lạc mất gần hết bài! Chỉ có 4 câu đầu (thời gian đó tôi đã viết gởi đến bạn đọc và các Diễn Đàn mình cộng tác tìm dùm. Xin lỗi... đến khi sách phát hành vẫn chưa tìm được bài thơ của ông).

NHỮNG KẺ BÁN HÀNG

“.................
Mời quý vị mại vô kẻo hết
Tôi chỉ bán thôi một món hàng
Hàng tôi:Những vần thơ chống Cộng
Cho tới khi sức kiệt hơi tàn...
................” Hoàng Xuân Thảo

CÓ KẺ MUA HÀNG

Mạo muội cảm đề bài thơ
“Những Kẻ Bán Hàng” của tác giả
Hoàng Xuân Thảo. DTDB

Tin vui đến, nghe hàng anh rao bán
Có bao nhiêu, tôi xin hứa sẽ mua
Vì hàng không lỗi thời theo năm tháng
Vẫn tinh anh không đổi sắc theo mùa

Ngoài chợ đời trưng bày hàng đủ loại
Kiếp nhân sinh muôn vạn thứ bán mua
Con người, nhân cách, lọc lừa độc hại...
Hàng đổi, trao... có kẻ thiếu người thừa

Chuyện bán buôn thời nào, đâu cũng có
Nhưng ngộ nghĩnh là ở cõi quê Nam
Sau ba mươi tháng tư, bảy lăm đó
Bắc Cộng tràn vô... bán đủ thứ hàng

Bán bàn, giường, tủ, ghế, quần áo mới...
Bán tàu, xe, bán đất, bán cửa nhà...
Làm sao sống nỗi cực cùng ào tới...
Giặc vào cướp giựt... công khó ông cha

Chị không tiền thăm chồng tù Việt Bắc
Tận vùng biên giới, sát nước Cộng Hòa
Chướng khí rừng thiêng tấm thân héo hắt
Thuốc men chẳng có, có bãi tha ma!

Nhà không đủ no làm sao con học
Cha mẹ yếu già đau bịnh triền miên
Nửa đêm trăn trở sụt sùi chị khóc!
Nhắm mắt bán thân đổi lấy chút tiền

Đã mấy mươi năm ông làm thầy giáo
Chỉ còn vài tháng đến tuổi nghỉ hưu
Vợ bịnh liệt giường... đề thi đánh tráo
Đành bán lương tâm, dẫu phải tội tù

Những kẻ giả nhơn, bán dần dân tộc
Bảo tàng, tích sử, rừng, biển... Việt Nam
Bán đất đai, vườn, ruộng vàng lúa thóc
Dâng núi sông, Tàu Cộng giả mua hàng...

Còn anh rao bán những bài mình viết
Những bài chống Cộng, chống bọn xâm lăng
Với ẩn ý, đáy lòng đầy tâm huyết
Vắt máu tim thay mực kết thơ văn...

Tôi xin mua những vầng thơ, văn... đó
Của những ai chống Cộng cứu quê hương
Dẫu lời nhẹ nhàng... qua cây bút nhỏ
Mạnh hơn thiên binh, vạn mã... phi thường!

Thơ chống Cộng không mua bằng tiền bạc
Văn Chống Cộng không đổi của là xong
Là ý nghĩa... là thơ văn tuyệt tác
Trả bằng con tim, khối óc, tấm lòng...

Thật sự tôi không biết gì nhiều
về bác sĩ Hoàng Ngọc Khôi.
Trong tôi, ông:
“Hoàng Xuân Thảo
Là Một Văn Nghệ Sĩ Đa Tài Và Khả Kính”.
Thành tâm kính ngưỡng và tưởng niệm!

Trích trong tuyển tập“Bóng Thời Gian.2”-Phát hành tháng 1, năm 2024
Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
California những ngày cuối Đông
Dư Thị Diễm Buồn