Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Văn Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Văn Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Songkhla Dậy Sóng


Tại Quán Biển Xanh của Thị Trấn Songkhla, Thi Thi một mình đứng dựa vào lan can, mắt dõi nhìn ra phía biển xa xa. Bán Ðảo Malay nhô dài ra phía biển, xanh rợp những hàng dừa trông tựa như mũi của một con cá sấu. Buổi chiều, từng đoàn ghe, tàu ra vô làm cho cửa biển thật chộn rộn nhưng Thi Thi thì cứ vẫn đứng yên như thể tâm hồn phiêu bạt nơi đâu. Với kiến thức và suy tính của nàng, nàng nghĩ rằng việc tìm kiếm tông tích mẹ dù khó khăn nhưng không phải không hy vọng. Nhưng đến nay thì nàng cảm thấy tình thế hầu như tuyệt vọng cho nên hai giọt lệ tự nhiên lăn dài trên khóe mắt. Xót xa nghĩ đến mẹ, nàng nhắm nghiền đôi mắt và… ký ức kinh hoàng của chín năm về trước một lần nữa lại hiện về.

…..Năm 1978, Thi Thi còn là một cô bé mười hai tuổi theo cha mẹ vượt biên ở cửa biển Vũng Tàu – Bà Rịa. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu của Thi Thi gặp hải tặc Thái Lan và một màn cướp bóc dã man diễn ra. Mẹ Thi Thi bị hải tặc dẫn đi cùng với mấy cô gái khác. Sau khi ăn hàng xong, bọn hải tặc bỏ đi và thuyền của Thi Thi mấy ngày sau may mắn tắp vào được Đảo Bi Ðông. Vì quá nhớ thương vợ, hơn thế nữa ông bị kiệt lực vì chuyến vượt biển đầy gian nan, sóng gió, hãi hùng, ba của Thi Thi lâm bệnh và qua đời trên đảo. Ông được đồng bào chôn ông ở trên một mỏm núi đá nhìn xuống bãi biển. Thi Thi trơ trọi một mình, hằng tuần đều đến thăm mộ ba. Thi Thi lượm lặt những hòn sỏi, những vỏ ốc nằm chơ vơ trên cát về dát lên trên mộ thành hình những đóa hoa rồi thì thầm nói chuyện với ba như những lúc ba còn sống. Thi Thi không bao giờ nghĩ rằng ba đã chết… mà ông chỉ nằm yên nghỉ ở đây để chờ một ngày gặp lại mẹ Thi Thi – người yêu quý nhất đời ông.

Trong thời gian Thi Thi còn tá túc ở trại chuyển tiếp Sungei Besi – Mã Lai thì tại một khu ngoại ô của thành phố Los Angeles – California, ông bà Brown đang chăm chú đọc một bản tin của cơ quan USCC kêu gọi các nhà hảo tâm Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ các gia đình tị nạn Ðông Dương mệnh danh là Boat People. Ông Brown là kỹ sư trưởng của một hãng điện tử, còn bà Brown là giáo sư tại một Ðại Học Cộng Ðồng. Năm ấy ông bà khoảng bốn mươi tuổi. Ông bà rất chú ý đến trường hợp của Thi Thi bởi hai lý do: Ông bà lấy nhau đã mười năm nay mà không có con cái gì. Ngoài ra ông còn là một cựu chiến binh trước phục vụ tại Việt Nam. Năm 1967 phi cơ của ông bị bắn rớt ở Bình Long nhưng ông được một bé gái trạc tuổi Thi Thi chỉ đường cho ông chạy trốn ra quốc lộ cho nên ông còn sống sót tới ngày nay. Nhìn hình ảnh Thi Thi trong bản tin của cơ quan USCC, ông nhớ lại kỷ niệm xưa và có ý muốn nhận nuôi Thi Thi để đền ơn một cô bé Việt Nam nào đó mà ông không bao giờ biết tên tuổi.

Vừa nhận bảo trợ, vừa nhận làm cha mẹ nuôi Thi Thi, hai ông bà lại có hai quan niệm khác nhau về cách xây dựng cuộc đời cho Thi Thi. Bà Brown thì muốn Thi Thi sớm quên đi quá khứ đau buồn để hội nhập vào xã hội mới và dĩ nhiên tạo lập cuộc đời mới trên quê hương mới cho nên bà muốn Thi Thi trở thành một bác sĩ. Còn ông, ông lại có quan niệm và một chủ đích khác. Ông muốn Thi Thi đừng đánh mất bản sắc của mình vì Việt Nam cũng là mảnh đời khó quên của ông. Vả lại, mẹ Thi Thi dù bị hải tặc bắt đi nhưng chưa chắc đã chết… may đâu? Cho nên khi Thi Thi tốt nghiệp trung học ông đã thuyết phục bà cho Thi Thi học ngành báo chí tại U.C.LA. Khi Thi Thi được hai mươi mốt tuổi và cũng là lúc nàng tốt nghiệp bằng Cử Nhân, do sự quen biết ông xin cho Thi Thi làm phóng viên của tờ Los Angeles Tribune. Năm sau, đích thân hai ông bà đến gặp ông tổng biên tập, trình bày về trường hợp của Thi Thi, cái gì xảy đến cách đây chín năm và xin tờ Los Angeles Tribune đứng ra bảo trợ cho một cuộc tìm kiếm người đàn bà xấu số… tức mẹ của Thi Thi. Sự việc được trình lên Hội Ðồng Quản Trị và Ban Quản Trị nhận thấy đây vừa là vấn đề nhân đạo vừa là dịp điều tra sâu rộng về những hành vi tàn bạo của cướp biển Thái Lan nên đã đồng ý bảo trợ.

Tuy nhiên sắp xếp cho chuyến đi không phải chuyện dễ dàng. Nếu sơ hở, sinh mạng người đi điều tra lâm nguy đã đành mà cướp biển có thể thủ tiêu người đàn bà để phi tang. Cuối cùng thì người ta đã đồng ý với nhau về một kế hoạch. Tờ Los Angeles Tribune loan tin bảo trợ cho một cuộc khảo cứu sinh vật học dưới biển ở Thái Lan và cần tuyển một người cho công tác này. Bài báo loan đi được nửa tháng thì một thanh niên tới trình diện. Chàng tên Peter, tốt nghiệp Hải Dương Học và đang phục vụ tại Ðại Học Stanford. Năm nay chàng hai mươi bốn tuổi, đẹp trai, thông minh, khoẻ mạnh, hoạt bát, thích phiêu lưu mạo hiểm nhưng chưa có dịp. Sau cuộc phỏng vấn, Peter được gặp Thi Thi để nghe nàng nhớ lại, kể lại tất cả những gì đã xảy ra cho gia đình mình cách đây chín năm. Sau hơn một tháng tập lái tàu, nghiên cứu phong tục tập quán, bờ biển các khu vực đánh cá trong Vịnh Thái Lan nhất là khu vực Songkhla. Ðể an toàn cho chuyến đi, Peter và Thi Thi được đưa qua Sydney rồi mới đáp máy bay đi Bangkok như thể một cặp tình nhân đến từ Úc Châu.

Tại Bangkok, Peter có người cậu làm tùy viên văn hóa của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Peter đến thăm cậu và nói rõ mục tiêu của chuyến đi. Nghe xong câu chuyện ông cậu rất xúc động nhưng cũng khuyên cháu nên hết sức cẩn thận vì hành tung của cướp biển Thái Lan lúc ẩn lúc hiện và khi bọn chúng đã ra tay thì hết sức tàn bạo. Ông giới thiệu cho Peter một một thám tử tư người Thái Lan tên Surat trước đây vốn sinh trưởng ở vùng Songkhla cho nên không một ngõ ngách nào của Songkhla mà Surat không biết. Sau khi nghe trình bày sự thể, Surat vui vẻ nhận lời cộng tác vì theo anh bản tính dân Thái Lan vốn hiền hòa, cướp biển chỉ là thiểu số đi ngược lại bản tính đó và làm hoen ố danh dự của dân tộc Thái Lan. Surat năm nay ngoài ba mươi tuổi nói tiếng Anh rất lưu loát. Surat da nâu nâu, thân hình khỏe mạnh có bộ râu mép giống Clark Gable và lúc nào cũng vậy – do méo mó nghề nghiệp anh ta luôn luôn mang kính đen và khẩu súng lục trong người. Do tính chất nguy hiểm của chuyến đi, Surat khuyên Peter nên đem theo súng và anh ta đã dùng giấy phép của hãng thám tử tư của chính anh để cấp giấy đeo súng cho Peter.
Là người kinh nghiệm, tế nhị và cũng để thử tài Peter trong chuyến “hành hiệp”, trước tiên Surat để Peter quyết định về kế hoạch hành động. Peter bàn với Thi Thi và Surat là nên đến Hội Ngư Phủ Songkhla để dò la tin tức. Qua sự thông dịch, Surat giới thiệu với ông Chủ Tịch Hội Ngư Phủ, Peter và Thi Thi là hai nhà nghiên cứu Hải Dương Học muốn tìm hiểu về tiềm năng đánh cá của vùng Songkhla, nhất là những con tầu thường đánh cá ở Vịnh Thái Lan. Peter lý luận rằng theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì các con tàu tham dự vào các chuyến cướp biển đều là tàu gỗ, có khả năng đánh cá xa bờ khoảng 100 hải lý, làm ăn theo lối gia đình, ít mướn nhân công bên ngoài. Nếu nắm được danh sách này thì ít ra cũng có tài liệu để lần ra manh mối. Còn Surat thì giới thiệu mình là thông dịch viên trước có du học ở Úc Châu. Là người hiếu khách, ngay tình, ông chủ tịch đưa ra một danh sách dài dằng dặc bao gồm tên chủ tàu và các con tàu hiện gia nhập hội của ông. Cầm bảng danh sách này trên tay Peter hỏi làm sao phân biệt được tàu gỗ hay tàu sắt? Ông chủ tịch nói cái đó cũng dễ thôi vì mỗi loại tàu đều có số mã riêng. Ðêm đó Peter ngồi một mình với bản danh sách trong phòng riêng.

Sáng hôm sau chàng thú nhận với Thi Thi rằng cái danh sách này tựa như một đám rừng chỉ làm chàng đau đầu thêm cho nên chàng đề nghị một kế hoạch khác. Theo Peter thì khi hải tặc bắt được đàn bà, con gái nếu không bán đi để làm gái điếm thì chúng cũng dấu trên các hoang đảo để làm “áp trại phu nhân”. Do đó nếu dò thám các hoang đảo may đâu chẳng tìm ra manh mối? Theo đúng đề nghị của Peter, cả ba đến gặp ông Giám Ðốc Hàng Hải Songkhla để hỏi thăm tin tức, sưu tập bản đồ của những hòn đảo nằm quanh khu vực. Ba người có lúc đi chung, có lúc đi riêng để dò la các hòn đảo, mệt nhoài cả người nhưng cũng chẳng thêm chút ánh sáng nào.

Thấy hai kế hoạch của Peter không đem lại kết quả – cảm thấy đã đến lúc trổ tài, Surat lý luận: Mục tiêu của đám cướp biển là cướp vàng bạc vì chúng biết rằng người tỵ nạn Việt Nam khi vượt biên đều mang theo tài sản vì họ cho rằng không bao giờ họ còn có cơ hội quay lại Tổ Quốc nữa. Một khi tóm được vàng bạc, có khi là vàng lá, kim cương, nhẫn vàng, khuyên vàng… bọn chúng có thể đem bán cho các tiệm vàng ở Thị Trấn Songkhla để lấy tiền chi dùng, ăn nhậu hoặc để bao gái nhất là để đánh bạc. Do đó Surat đề nghị hai người tạm nghỉ ở nhà để Surat đi xuống khu Trung Tâm của Songkhla. Tại đây Surat tìm đến một người bạn tên Sok, sau khi cha về hưu, anh ta hiện nối nghiệp cha làm chủ một tiệm vàng. Sau khi tốt nghiệp trung học tính ra có đến mười mấy năm hai người không gặp nhau. Tối đó Sok rủ Surat đi nhà hàng để hai bên ăn nhậu, hàn huyên cho thỏa thích. Trong lúc rượu đã ngà ngà, Surat hỏi Sok xem cách đây khoảng chín, mười năm Sok còn nhớ tên chủ tàu nào đến đổi chác vàng bạc ở tiệm không? Sok cho biết đám dân chài lưới mỗi lần trúng mùa họ thường mua sắm vàng bạc, nữ trang, ăn nhậu dữ lắm còn chuyện đem vàng bạc đi bán là chuyện bất thường, chỉ khi nào họ liên tiếp thất bại một, hai mùa cá. Tuy nhiên, theo Sok thì có một trường hợp mà anh ta nhớ mãi là cách đây khoảng chín, mười năm, chủ tàu Lươn Biển đã bán cho cha anh một mớ nữ trang rất lớn mà theo anh không phải là loại làm ở Thái Lan. Bắt được tin này, Surat hí hửng về thông báo cho Peter và Thi Thi hay. Sau đó Surat quyết định để ra một tuần lễ liền, dùng ống nhòm quan sát cùng la cà khắp bến cảng nhưng chẳng thấy bóng dáng con tàu Lươn Biển đâu cả. Như thế là sau hai tuần lễ vất vả, cả ba vẫn chưa phăng ra một chút manh mối nào về hải tặc và dĩ nhiên sự việc đó đã gieo vào lòng Thi Thi nỗi niềm chua xót, hoang mang lẫn thất vọng.
* * *
Trong khi Thi Thi đang thả hồn mình về với quá khứ bi thương như thế thì Peter từ trong quán bước ra. Nhìn thấy Thi Thi, chàng dừng lại. Chàng không muốn làm kinh động, vừa để tôn trọng những giây phút riêng tư của nàng… mà cũng để ngắm nhìn. Sau gần một tháng đi chung, ăn uống chung và làm việc chung chưa bao giờ Peter thấy Thi Thi đẹp như vậy. Chưa bao giờ hình ảnh của Thi Thi lại thu hút tâm hồn chàng đến như vậy. Nắng và gió biển làm da Thi Thi đậm hơn một chút. Chiếc áo sơ-mi tay dài và chiếc quần Jean càng làm tăng thêm vẻ đẹp khỏe mạnh của nàng. Mái tóc dài bay lòa xòa trước gió bao phủ lấy khuôn mặt Ðông Phương nhưng thanh thoát làm Peter liên tưởng đến sự thủy chung – nền tảng của hạnh phúc gia đình mà chàng đọc được nơi sách vở. Chính sự ngưỡng mộ và khát khao đó lại là động cơ thúc dục chàng nhích chân đi tới. Nghe tiếng động ở sau lưng, Thi Thi giật mình ra khỏi vùng hồi ức. Nàng quay lại và không ngạc nhiên khi thấy Peter. Tuy nhiên nàng vẫn đứng bất động và mắt như nhìn vào cõi xa xăm. Peter chầm chậm tiến đến gần, đứng yên một hồi lâu rồi mạnh dạn nắm lấy tay Thi Thi. Chàng nói:
- Anh hiểu nỗi khổ đau của em. Nhưng anh linh cảm rằng chúng ta sẽ thành công. Em sẽ gặp lại mẹ em trong chuyến đi này. Ðừng để tình cảm làm suy yếu nghị lực của chúng ta. Nói xong chàng kéo tay Thi Thi và hai bước tản bộ dọc theo bến cá.

Trong khi hai người đang sánh bước bên nhau thì Surat ngồi rầu rĩ bên ly bia đã cạn. Anh toan lên tiếng gọi thêm chai nữa thì từ ngoài cửa hai thanh niên bước vào. Nhìn vóc dáng, cách ăn mặc, cách nói năng ai cũng phải nhận ra họ là dân chài lưới. Sau khi lớn tiếng gọi rượu và đồ nhậu, họ ăn uống rất dữ tợn. Phút chốc họ đã ngà ngà và đúng là… rượu vào lời ra. Một gã trong bọn nói:
- Mày có biết không trên đời này nhiều khi bố con giết nhau cũng chỉ vì một con đàn bà! Một con đàn bà… Việt Nam mới tức cười chứ!
Gã kia, sau khi dằn ly bia xuống bàn, lè nhè hỏi:
- Mày nói lại tao nghe. Cha con giết nhau hả? Ðứa nào ngu vậy cà? Ð.M. có nói dóc không mày?
Sau khi cầm ly bia uống ực một hơi, gã lên tiếng đầu tiên nói tiếp:
- Thì cha con thằng cha chủ tàu… chủ tàu Lươn Biển chứ ai!
Nghe đến đây thì Surat như bị điện giật. Anh ta vội vã kêu thêm một chai bia nữa uống để câu giờ và vểnh tai nghe. Khi hai gã đã dứt tiệc nhậu, lảo đảo bước ra ngoài và chia tay ở trước quán thì Surat theo bén gót gã lên tiếng đầu tiên mà sau này y xưng tên là Thom. Surat theo chân Thom đến tận nhà và mua chuộc Thom bằng hai lạng vàng để được biết tung tích con trai lão chủ tàu Lươn Biển.

Theo tin tức của Thom thì Uthai – con lão chủ tàu Lươn Biển, hiện y đang chỉ huy con tàu Sóng Thần. Tàu của y thường lênh đênh nửa tháng trời ngoài biển và có lẽ vài ngày nữa sẽ trở lại bến Songkhla để xuống cá. Sau khi xuống cá y có thói quen ăn nhậu và kiếm gái ở Quán Giang Hồ. Sau khi thu lượm được tin tức bằng vàng này, Surat hối hả quay trở lại khách sạn để cùng Peter và Thi Thi lập kế hoạch bắt cóc Uthai vào lúc chạng vạng tối.
Theo đúng dự trù. Thi Thi ăn mặc giả làm “cô gái bán hoa” quanh quẩn ở quán Giang Hồ. Khi Uthai mặt đỏ gay, lảo đảo bước ra ngoài thì Thi Thi bước tới… liếc mắt đưa tình. Chính Uthai cũng hết sức ngạc nhiên không hiểu tại sao bến Songkhla hôm nay lại có một đóa hoa tươi đẹp như vậy cho nên y mê mẩn cả tâm thần và đưa tay ôm đại lấy Thi Thi. Mặc dù giận căm gan và nhiều lúc muốn nôn oẹ vì mùi rượu nồng nặc từ miệng Uthai thở ra. Thi Thi cũng phải cắn răng chịu đựng cho gã ôm ấp rồi dìu gã vào một ngõ tối là nơi mà Peter và Surat đã phục sẵn. Khi gã còn đang lảm nhảm mấy tiếng Thái có lẽ là “Anh anh…, em em” thì bằng quả đấm thôi sơn ngay cằm, Peter quất gã quay lơ trong khi đó Surat nhanh tay chụp lên mặt gã một chiếc khăn tẩm thuốc mê rồi hai người dìu nách gã xuống tàu như thể hai người đang đưa một người bạn ăn nhậu say về nhà.

Dưới con tàu sắt mà ba người đã thuê, có trang bị đầy đủ Radar lẫn hệ thống thông tin với Sở Cảnh Sát và Lực Lượng Duyên Phòng Songkhla, Uthai bị trói gô vào một chiếc ghế sắt. Y khoảng ngoài ba mươi tuổi có khuôn mặt vều lên như cái mâm, da mặt sần sùi như vỏ quýt. Uthai mặc một bộ đồ jean, cánh tay xâm trổ. Cả con người y tỏa ra một cái gì đó hết sức thô lỗ, hiếu sắc và tục tằn. Khi tỉnh dậy, Uthai ngạc nhiên khi thấy y bị trói thúc ké. Vài giây sau, có lẽ đã nhớ lại những gì xảy ra tại Quán Giang Hồ, y trở nên vô cùng tức giận. Y quắc mắt hỏi:
- Các người là ai? Tại sao lại bắt ta?
Nói xong y gầm gầm, gừ gừ khiến bộ mặt sần sùi đen đủi của y càng thêm hung dữ. Như một tay thẩm vấn nhà nghề cần ra tay trước để thị uy, Surat xáng cho y một quả đấm ngay sống mũi khiến phải mất vài giây sau mới có thể hoàn hồn. Ðợi cho y đã tỉnh táo, Surat chìa ra trước mặt y một tấm hình bán thân cỡ 8×10 rồi gằn giọng hỏi:
- Mày có biết người này là ai không?
Uthai rõ ràng sửng sốt khi nhìn thấy tấm hình nhưng vẫn lắc đầu:
- Tôi không biết!
Tấm hình mà Surat đưa ra trước mắt Uthai không gì khác hơn là tấm ảnh bán thân được rọi lớn của mẹ Thi Thi – một kỷ vật mà Thi Thi lưu giữ chín năm qua. Trước cử chỉ ngang bướng của Uthai, Surat đưa mắt nhìn Peter như để xin chỉ thị. Peter khẽ gật đầu. Một chiếc thùng nước được lôi ra và Surat nhanh tay nắm lấy tóc Uthai nhận xuống. Chỉ ít giây sau thì cái đầu của Uthai quậy lên dữ dội nhưng bàn tay cứng như sắt của Surat vẫn cứ ấn xuống cho đến khi Uthai gần ngất xỉu thì Surat giật ngược đầu của y lên, quắc mắt hỏi lần nữa:
- Bây giờ mày có biết người này là ai không?
Tới mức này thì bộ mặt thiểu não của Uthai khẽ gật gật. Thấy vậy Peter hỏi và Surat thông dịch ra tiếng Thái:
- Mày có biết cha mày hiện giờ ở đâu không?
Uthai dư sức thông minh để hiểu rằng nếu y nói “không” thì chắc chắn y sẽ được cho “đi tàu thủy” một lần nữa cho nên lặng lẽ gật đầu. Thấy vậy Peter liền nói:
- Bọn tao kỳ hẹn cho mày trong hai ngày. Nếu không tìm thấy tàu của cha mày thì mày sẽ được gửi đi “thăm Hà Bá” biết chưa?

Nói xong Peter chỉ vào quả tạ bằng sắt thật lớn có sợi dây xích nằm ở một góc. Sau đó con tàu được nổ máy tiến ra cửa. Khi tàu đã ra khỏi cửa biển thì Uthai được điệu lên boong và bị trói chặt vào cột tàu. Theo lời khai của Uthai thì cha y hiện đang đánh cá tại toạ độ X. Ðánh cá xong tàu của cha y mới quay trở về bến Songkhla cho nên đó cũng là lý do tại sao Surat dò xét khắp nơi mà cũng chẳng thấy con tàu Lươn Biển đâu cả.
Kể từ khi nhúng tay vào những vụ cướp biển và bắt được mẹ Thi Thi thì Kamphaeng – cha của y đổi kế hoạch với mục đích giữ kín tung tích mẹ Thi Thi. Thay vì cùng đánh cá chung rồi cùng về, Kamphaeng đổi sang lối đánh cá xen kẽ. Khi con tàu của y sắp vào cửa thì con tàu của Uthai được lệnh ra khơi. Khi hai tàu gặp nhau ở ngoài cửa thì mẹ của Thi Thi được chuyển qua tàu của Uthai. Do đó khi tàu cặp bến với số người đông đảo lên xuống cá, hoặc nếu có thanh tra kiểm tra tàu thì cũng chẳng có ai nhìn thấy bóng dáng người đàn bà Việt Nam ấy cả. Do đó mà Kamphaeng đã sống an toàn với mẹ Thi Thi suốt chín năm qua. Kamphaeng năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi. Mặt mày y đen đủi, tóc quăn cháy, thân hình to lớn và tỏa ra một cái gì rất man rợ. Y thường xuyên cửi trần, quấn chiếc xà-rông màu đỏ và đeo lủng lẳng bên mình dao quắm cho nên trông y dữ tợn như một hung thần.

Nhưng cũng chính vì cách dấu người như thế cho nên Uthai đã có cơ hội gần gũi người đàn bà và dần dần trở nên say mê bà vì tính ra tới năm nay bà mới khoảng bốn mươi lăm tuổi và bà trở nên một vương hậu giữa đám thổ dân đánh cá đen đúa, xấu xí. Mới đầu thì lão hải tặc không biết. Nhưng sau thì người của lão báo cáo là “đứa con bất hiếu” đã gian díu với “phu nhân” của lão cho nên lão giận điên người và đã có lần rút dao chém Uthai đúng như câu chuyện mà Surat đã nghe lén được ở Quán Giang Hồ. Kể từ đó đến nay hai cha con trở thành hai kẻ tử thù và đều muốn tránh mặt nhau.
Cũng theo lời khai của Uthai thì đã nhiều lần mẹ Thi Thi tìm cánh trốn lên boong để lao mình xuống biển tự tử để sớm dứt cuộc sống nhục nhã nhưng đều bất thành. Kể từ đó lão già hải tặc cấm không cho bà rời khoang tàu. Và cứ như thế cuộc sống khổ đau của bà – khi thì phải “làm vợ” lão hải tặc, khi thì phải “làm vợ” Uthai kéo dài đã chín năm trời qua. Nghe Uthai kể đến đây thì Thi Thi khóc như mưa gió vì thương mẹ. Còn Peter và Surat thì nghiến răng trèo trẹo vì căm giận loài cướp biển.
Theo đúng lời khai của Uthai, con tàu ra khơi đã được một ngày và một đêm nhưng không thấy bóng dáng của con tàu đánh cá nào lảng vảng chung quanh. Ðã có lúc Surat nóng nảy đề nghị quăng tên quỷ sứ này xuống biển cho rồi nhưng Peter khuyên Surat nên kiên nhẫn thêm chút nữa.

Bây giờ thì trời đã hừng đông và mặt biển đẹp tuyệt trần. Tàu chạy khoảng hai tiếng đồng hồ nữa thì một chấm đen xuất hiện ở hướng Ðông Bắc. Uthai nói:
- Có thể đó là con tàu của cha tôi. Nếu đúng thì nó sơn màu đỏ đen và trên có lá cờ hình con lươn biển.
Nghe nói vậy tất cả đều nai nịt và ở tư thế sẵn sàng. Thi Thi trao ống nhòm cho Peter. Duới sự điều khiển của Peter, Surat gia tăng tốc độ hướng mũi tàu về phía con tàu Lươn Biển. Trong đầu Peter lúc này nảy ra một kế hoạch thật táo bạo: Uthai được chụp lên đầu một tấm vải do đó khi hai con tàu tiến đến gần nhau thì phía bên kia sẽ không nghi ngờ gì cả. Khi hai con tàu đã áp sát vào nhau thì Thi Thi có bổn phận giữ tay lái, còn Surat lanh lẹ giật giây trói và đẩy Uthai qua phía bên kia. Kế hoạch diễn ra đúng như dự liệu. Trong khi đám người trên con tàu Lươn Biển còn đang reo hò, vẫy gọi vì tưởng đó là con tàu thân thiện thì tàu của Peter áp nhanh vào cạnh sườn. Sau khi giật dây trói cho Uthai, Surat quát lớn:
- Nếu mày không chạy qua tao bắn nát óc ngay!

Trước tình thế nguy nan đó Uthai nghĩ nhảy qua con tàu Lươn Biển may đâu y còn có cơ hội sống sót vì cha y có thể không nỡ xuống tay cho nên y phóng mình qua như một con chim. Khi thấy một bóng người bất thần nhảy qua, định thần nhìn kỹ lại thì lão hải tặc nhận ra đây là “đứa con quý tử” của lão. Vả lại trong lúc sự việc xảy ra quá nhanh, lão nghĩ rằng thằng con phản phúc đã rước cảnh sát đến đây bắt lão cho nên lão gầm lên một tiếng:
- Ðồ thằng con bất hiếu!
Và lão vung con dao quắm chém xuống. Từ bên thành tàu nhảy qua, chưa kịp giữ thăng bằng thì Uthai lãnh đủ nhát dao chém vào bả vai và y gục xuống trên vũng máu.
Trong khi đó thì Peter và Surat đã phóng qua với hai khẩu súng lăm lăm trên tay và một khung cảnh hỗn loạn diễn ra trên boong. Thấy tình thế nguy cấp lão hải tặc tháo chạy xuống khoang và Peter bám sát theo lão. Vì không quen đường lối xuống khoang tàu cho nên khi Peter xuống tới bậc thang cuối cùng thì lão hải tặc đã biến mất ở cuối buồng cho nên chàng phải dừng lại, dò từng bước, súng chĩa thẳng phía trước. Nhưng khi Peter vừa mới tiến được vài bước thì một tiếng quát dữ dội vang lên:
- Bỏ súng xuống nếu không tao cắt cổ con mụ này!

Cùng với tiếng quát lão hung thần xuất hiện, một tay ôm ghì lấy người đàn bà để làm khiên che đạn, còn tay kia lăm lăm chiếc dao quắm kề sát cổ. Người đàn bà đang bị kiềm chế đó không ai khác hơn là mẹ Thi Thi. Khi Peter còn đang lưỡng lự thì một tiếng quát thứ hai vang lên. Peter hiểu rằng nếu còn chần chừ thì sinh mạng của người đàn bà có thể lâm nguy cho nên chàng đành làm theo lời lão hải tặc. Khi thấy chàng đã quăng khẩu súng, lão hải tặc kéo sền sệt người đàn bà tiến về phía đó. Nhưng vì lão chỉ có hai tay, một tay đã cầm dao quắm, một tay bận níu chặt người đàn bà cho nên khi cúi xuống nhặt khẩu súng lão buộc lòng phải chuyển con dao qua cánh tay kia. Giữa giây phút tử sinh quyết định này – có lẽ mẹ Thi Thi quyết liều thân với tên cướp biển cho nên bà bật tung cánh tay của y ra để chạy về phía Peter. Do bản năng, lão già nhoài người ra để túm lấy mẹ Thi Thi. Quả đây là cơ hội bằng vàng cho nên Peter nhào tới đá văng khẩu súng sang một bên. Thấy tình thế bất lợi, lão già chém đại một nhát rồi phóng vội lên boong tàu. Khi Peter lượm lại được khẩu súng, leo được lên boong thì Surat đang vật lộn với một tên cướp biển còn Thi Thi cũng đã leo qua được thành tàu bên này. Nhưng khi nàng vừa đứng yên trên hai chân thì lão hải tặc đã từ xa phóng tới. Thấy lão, nàng kinh hãi rú lên một tiếng rồi lao mình phóng chạy. Nhưng khi chạy tới đuôi con tàu thì nàng hoàn toàn tuyệt lộ. Thi Thi không còn đường nào khác hơn là hai tay ôm lấy mặt để chờ đợi lưỡi dao chém xuống. Nhưng khi lưỡi dao vừa dơ lên thì Peter đã xuất hiện ở sau lưng lão hải tặc. Chàng đưa súng lên và bóp cò. Người ta chỉ thấy lão kêu rú lên một tiếng, quăng con dao quắm lên trời rồi lảo đảo ôm lấy bả vai nhưng vẫn hung hãn lao về phía Thi Thi đang ngồi co rúm, lưng dựa vào thành tàu. Rồi do đà hụt hẫng và cũng do tình cờ một con sóng mạnh ào tới làm đuôi tàu hơi tròng trành cho nên lão già té nhào xuống biển. Khi Peter chạy tới thì Thi Thi như người chết đi sống lại, nàng ôm chầm lấy Peter. Giây phút sau nàng vừa thở hổn hển vừa hỏi:
- Có gặp mẹ em không? Mẹ em có sao không?

Peter gật đầu và lấy tay chỉ về phía cầu thang. Khi hai người chạy tới thì Surat cũng đã hàng phục được tên cướp biển và từ dưới khoang tàu một người đàn bà nhô lên. Ðó là một khuôn mặt Việt Nam nhưng lại quấn một chiếc xà-rông và mái tóc đã phai màu sương khói. Vừa đặt chân lên tới boong tàu bà hít một hơi dài rồi quỳ xuống, ôm mặt kêu rống lên:
- Trời Phật ôi! Bao năm qua con mới được nhìn thấy ánh mặt trời!
Trong khi người đàn bà còn đang quỳ lạy như thế thì Thi Thi nhào tới ôm chặt lấy bà rồi nghẹn ngào thốt lên:
- Mẹ ơi! Con là Thi Thi! Thi Thi là con đây!
Dường như hai tiếng Thi Thi là hai tiếng quá thân thương với bà cho nên sau vài giây ngơ ngác bà ôm chầm lấy Thi Thi rồi khóc nức nở như một đứa trẻ. Rồi bà vừa khóc vừa nói:
- Con là Thi Thi của mẹ đó hả? Tôi mơ hay tôi tỉnh đây? Thi Thi! Mẹ là mẹ của con đây! Ba của con đâu rồi Thi Thi?
Nói vừa dứt câu đó, vì quá xúc động bà ngã ra bất tỉnh.
* * *
Sau khi Surat liên lạc vô tuyến với Sở Cảnh Sát và Duyên Phòng Songkhla đến để nhận con tàu Lươn Biển và còng tay đám cướp biển đã bị hai người hàng phục, con tàu sắt trên đó có chở theo mẹ của Thi Thi rẽ sóng quay trở lại bến cảng Songkhla. Ngày hôm sau bốn người đáp máy bay trở về Bangkok và được xe của Tòa Ðại Sứ Mỹ đón tận phi trường. Ðêm đó Peter và Thi Thi gọi điện thoại báo cho ông Tổng Biên Tập tờ Los Angeles Tribune là chuyến công tác đã thành công.
Tuần lễ sau, do lời yêu cầu của mẹ Thi Thi, dưới sự giúp đỡ của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, ba người giã từ Surat rồi đáp máy bay đi Kuala Lumpur. Rồi từ Kuala Lumpur ba người lại đáp máy bay đi thị trấn Terengganu nằm ở đông bộ Mã Lai. Chờ đợi ở đây một ngày, ba người được một giới chức Mã Lai hướng dẫn xuống con tàu Blue Dart là con tàu duy nhất chở thực phẩm, tiếp tế cho đồng bào tỵ nạn trên Đảo Bi Ðong.

Trên đường trở về đảo cũ, Thi Thi không nén được xúc động. Nàng luôn miệng kể cho mẹ và Peter nghe đoạn đường luân lạc mà nàng đã trải qua. Khi ba người đặt chân lên đảo thì trời đã về chiều, cơn nóng nhiệt đới đã giảm dần và bầu không khí dìu dịu. Nhìn những em bé gái mười một, mười hai tuổi tức tuổi của Thi Thi cách đây chín năm đang xếp hàng lấy nước, đang đứng ngơ ngác hoặc lấy tay vẫy khi có phái đoàn lạ viếng thăm đảo, Thi Thi không cầm được nước mắt vì biết đâu trong số này chẳng có những em mà cha mẹ đã bị hải tặc bắt đi. Cứ từng chặng, nàng lại chạy tới ôm hôn mấy em bé và cho các em kẹo. Sau chín năm nhà cửa trên đảo Bi Ðông đã tiều tụy đi nhiều nhưng Thi Thi vẫn còn nhớ con đường dẫn ra nghĩa trang nằm trên một mỏm núi nhìn xuống bãi biển. Khi tiến tới trước một nấm mồ, sau khi quan sát kỹ Thi Thi nói với mẹ:
- Ðây là mộ ba!
Khi Thi Thi vừa nói dứt câu thì Peter lanh lẹ đặt lên đó một bó hoa mà ba người đã mua ở chợ Terengganu, còn mẹ của Thi Thi thì quỳ xuống và bà gục mặt khóc trước nấm mồ. Không sao kiềm chế được xúc động, Thi Thi cũng vừa ôm chặt lấy mẹ vừa bật khóc. Trước giờ phút linh thiêng này Peter cũng lặng lẽ quỳ xuống bên cạnh hai người.

Không hiểu thời gian qua đi đã bao lâu. Khi cơn xúc động đã dịu dần, Thi Thi dìu mẹ đứng dậy. Giờ đây đảo Bi Ðông đã về chiều và những cơn gió mát rượi từ ngoài khơi lồng lộng thổi về. Trong khi mẹ Thi Thi đang lo nhổ mấy ngọn cỏ dại và đắp lại mấy vỏ ốc đắp trên nấm mồ đã bị mưa gió làm trôi đi, Thi Thi sau một ít phút tư lự, nàng nhìn vào đôi mắt Peter nói:
- Giờ đây bao nhiêu hiểm nguy đã qua. Anh có muốn cùng em về để phụng dưỡng mẹ già không?
Trước đề nghị quá bất ngờ của Thi Thi, mặt Peter từ từ sáng rỡ lên như một đứa trẻ rồi chàng nắm chặt lấy tay Thi Thi nói:
- Ðó là niềm khao khát, là giấc mơ của anh. Em đã làm tròn bổn phận với cha mẹ. Anh rất sung sướng được sống suốt đời bên người con gái hiếu thảo như em!
Nói xong chàng ôm chặt lấy Thi Thi. Giây lát sau chàng xoay người Thi Thi ra mé biển rồi xúc động nói tiếp:
- Anh xin cám ơn em! Qua chuyến đi này anh đã học được một bài học mà không một sách vở nào có thể nói hết đó là: chính khổ đau chứ không phải hạnh phúc đã làm cho tình cảm con người lớn lên. Chính thảm kịch Biển Ðông kia đã là một thử thách về nhân cách của con người. Cuối cùng thì nhân cách của con người đã thắng Thi Thi ạ!
* * *
Trên con đường từ khu nghĩa trang quay trở về, mẹ Thi Thi đi trước rồi Thi Thi và Peter theo sau. Gió chiều vẫn thổi lồng lộng và mặt biển lấp lánh như một hồ nước đẹp tuyệt trần. Nó trông tựa như một vòm sân khấu diễm lệ mà tất cả mọi vở kịch vui buồn có thể trình diễn trên đó. Xa xa một vài con thuyền nhỏ nổi bật trên mặt nước xanh thẳm. Có thể đó là chiếc du thuyền chở một cặp tình nhân trong thời kỳ trăng mật. Ðó cũng có thể là một con tàu đang chộn rộn đánh cá để mưu sinh. Và sau hết nó cũng có thể là con tàu tỵ nạn đang liều chết tiến vào đây để tìm nơi nương náu, để tìm chút tình thương nơi hòn đảo nhỏ bé này.

Đào Văn Bình
(Trích trong tuyển tập truyện ngắn Hương Xót Xa xb năm 1998)

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Chuyện Anh Chàng Hoài Nghi


(Truyện xã hội, tâm linh giả tưởng)

Đại Nghi là một kỹ sư trẻ, chuộng khoa học, luận lý, lại đọc quá nhiều tư tưởng, triết học Đông-Tây, rồi bị tiêm nhiễm cho nên có tật là hoài nghi tất cả mọi chuyện trên đời. Chẳng hạn đối với người đang hăng say hoạt động thì anh cho rằng biết đâu đó chỉ là kẻ háo danh, lấy cớ ”phục vụ cộng đồng” để thủ lợi riêng hoặc chuẩn bị ra “ứng cử”. Còn đối với kẻ nhiệt tâm, nhiệt tình quyên góp tiền bạc của đồng bào cho công tác thiện nguyện, dự án này, chiến dịch nọ, thì chàng lại nghi ngờ cho rằng, tiền quyên góp một nửa sẽ chui vào “túi áo khỉ”. (1) Quan niệm của anh chàng là “Thời buổi bây giờ làm gì có thánh nhân. Tất cả đều vì cơm áo, gạo tiền, danh vọng nhưng che giấu bằng những mỹ từ thánh thiện, cao đẹp”.

Đấy là về mặt con người. Còn về mặt tư tưởng, triết lý thì anh cũng có quan niệm thật quái dị. Chẳng hạn đối với kẻ đang bị mọi người căm ghét thì Đại Nghi lại bảo “Chưa chắc. Biết đâu anh ta chẳng là người dễ thương?” Còn đối với kẻ đang được mọi người thán phục, ngưỡng mộ thì Đại Nghi lại cho rằng “Biết đâu vài ba năm nữa thiên hạ chả lại xúm chửi ông ta như tát nước vào mặt ?” Còn đối với chuyện mà cả thế giới cho là đúng thì anh chàng lại bảo “Coi chừng chỉ vài ba năm nữa thôi bà con mới thấy nó trật lấc!”Chẳng hạn như chuyện cả thế giới đều tin chắc Ông Saddam Hussein cất giấu một kho vũ khí hóa học và hủy diệt hàng loạt khiến nhân loại nguy tới nơi rồi. Thế nhưng sau khi Mỹ đem quân tiến vào phá tan tành đất nước Iraq thì chẳng có gì cả. Với đầu óc hoài nghi và thái độ “ba phải” như vậy cho nên Đại Nghi chẳng bao giờ thương ai hay ghét ai, chẳng bênh phe này chống phe kia, chẳng lao vào những biến động thương-ghét om sòm cả trời đất và dĩ nhiên chẳng hại ai, dù làm rụng một sợi lông chân.

Tuy nhiên trong những lúc vắng lặng tâm tư, Đại Nghi tự hỏi chẳng lẽ trên cõi đời này không có chân lý? Bất cứ chuyện gì trên cõi đời này cũng phải có người đúng người sai chứ? Từ nỗi dằn vặt đó chàng ta quyết tâm tìm cho ra chân lý. Với ý tưởng khá “ngông cuồng” này, Đại Nghi dành dụm một số tiền, xin nghỉ giả hạn không lương một năm rồi trang bị giống như mấy “Ông Tây ba-lô”, lên đường đi tìm chân lý với quyết tâm của một người lên đường “tầm sư học đạo”.

Bắt chước Thiện Tài Đồng Tử trong Kinh Hoa Nghiêm, chàng không dám khinh thị một ai mà lần mò, tìm tòi, vấn hỏi tất cả mọi người vì chàng tin rằng chân lý phải nằm ở khắp mọi nơi. Nếu chân lý nằm ở người này mà không nằm ở người kia, chỉ nằm ở chỗ này mà không phổ cập ở chỗ kia thì chỉ là “chân lý dỏm”, chân lý phải có tính phổ quát.

Trước tiên chàng tìm đến một ông chủ tịch hội đồng quản trị của một hãng chế tạo vũ khí khổng lồ. Sau khi giới thiệu thân thế và khát vọng của mình, chàng lễ phép hỏi:
-Thưa ông chủ tịch, trên đời này có chân lý không và chân lý nằm ở đâu ạ?
Ngồi dựa ngửa ra đằng sau chiếc ghế da, ông chủ tịch mỉm cười đáp:
-Chân lý có chứ. Chân lý nằm ở kẻ nào có nhiều hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, tàu ngầm, máy bay không người lái, vũ khí nguyên tử và máy bay ném bom chiến lược tàng hình, chẳng hạn như B-2, B-52. Chính vì muốn nắm giữ chân lý cho nên họ mới tìm đến chúng tôi. Không có chúng tôi thì họ đâu còn chân lý. Cho nên có thể nói các nhà chế tạo vũ khí hay nói nôm na là “các lái súng” sẽ nắm giữ chân lý.

Nghe trả lời thế, Đại Nghi kinh hãi cảm tạ vị chủ tịch rồi hối hả đáp máy bay qua Nữu Ước để xin gặp một ông tỷ phú nổi tiếng khắp thế giới về chứng khoán, tài chính và địa ốc. Sau hơn một tuần lễ thấy chàng kiên trì chờ đợi, có lẽ thấu hiểu khát vọng của người tuổi trẻ, ông chủ tịch cho gặp mặt. Vừa thương vừa ái ngại, ông nhìn người tuổi trẻ, hỏi:
-Cậu tìm tôi có việc gì?
-Dạ thưa, cháu đi tìm chân lý nhưng không biết chân lý có hay không?
-Chân lý có chứ. Nó nằm ở đây này…
Nói xong ông chủ tịch với tay mở chiếc tủ sắt sau lưng. Cánh cửa sắt bật mở, bên trong là những cọc đô-la xếp gọn ghẽ. Mùi tiền mới tỏa ra thơm phức. Lấy một cọc ném lên mặt bàn, ông chủ tịch nhún vai nói:
-Tiền là chân lý! Tiền làm thay đổi tình cảm con người. Tiền có thể phá vỡ mọi giá trị trên cõi đời này. Tiền khiến cha con, anh em, chồng vợ chia lìa. Tiền làm người ta mờ mắt cho nên thấy đúng thành sai, thấy sai thành đúng. Cậu không nghe người ta nói “Tiền vào pháp đình công lý đội nón ra đi” sao? Cả thế giới bây giờ đang bị sai khiến bởi đồng đô-la cho nên có thể nói tiền không những chỉ là chân lý mà nó còn đẻ ra chân lý. Cho nên muốn có chân lý phải có tiền. Không đô-la thì đừng nói tới chân lý.

Nói xong ông dang hai tay ra phía trước, giơ lên cao rồi nhún vai, một cử chỉ rất phổ thông ở Mỹ để diễn tả câu nói“Nó như vậy đó”.

Nghe ông tỷ phú nói thế, Đại Nghi rầu rĩ, nói lời cảm ơn rồi lui ra. Nhân tiện ở cùng một thành phố, chàng chợt nảy ra ý định vào tòa nhà Liên Hiệp Quốc để vấn hỏi, chắc chắn sẽ có lời giải đáp. Người mà chàng xin tiếp kiến là ông cựu tổng thư ký. Mặc dầu đã hết nhiệm kỳ nhưng do uy tín, ông này vẫn được trọng dụng và thỉnh thoảng được cử làm đặc sứ để làm “con thoi” trong những trong những vụ khủng hoảng của thế giới. Chàng nồng nàn đặt câu hỏi:
-Thưa ngài, là nơi đưa ra những quyết định trọng đại ảnh hưởng đến sinh mệnh của loài người, phải chăng đây là lương tâm của nhân loại và là biểu tượng của chân lý cho toàn thế giới? Thưa ngài, chân lý có thực không? Nếu có, phải chăng Liên Hiệp Quốc chính là cơ quan thi hành và thể hiện chân lý đó?

Khẽ thở dài, ông cựu tổng thư ký nói:
-Cậu cũng biết đó, cơ quan này không phải do chúng tôi lập ra, mà do thế giới đóng góp. Nếu mai đây người ta không góp tiền nữa thì Liên Hiệp Quốc đóng cửa và chúng tôi chỉ còn nước về nhà đuổi gà cho vợ. Vì do thế giới đóng góp cho nên nước nào có nhiều tiền thì tiếng nói của họ mạnh. Khi họ mạnh thì chân lý “nghiêng” về phía họ. Đôi khi Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra những quyết định có vẻ như “biểu tượng của chân lý”. Sở dĩ có được những quyết định như vậy là vì nó phù hợp với quyền lợi của năm ông ủy viên thường trực của Hội Đồng Bảo An. Chỉ cần một ông phủ quyết là chân lý chết, nếu chân lý sống thì cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Nói tóm lại chân lý “có” khi nó phù hợp với quyền lợi của các đại cường. Chân lý là “không” và nhiều khi trở nên nghịch lý khi nó phản lại quyền lợi của các nước lớn. Do đó chân lý không nằm ở đây. Chúng tôi chỉ là phát ngôn viên, nói đúng ra là đào kép trên sân khấu, còn đạo diễn thì đứng sau hậu trường. Khi không có “tuồng” để diễn thì đào kép thất nghiệp. Cậu không thấy Liên Hiệp Quốc nhiều khi im lặng như tờ, nhân viên rảnh rỗi ngồi đọc báo, tán gẫu, xem truyền hình hoặc vào mạng lưới“chat” (2) cho đỡ buồn sao?

Nghe ông cựu tổng thư ký nói thế Đại Nghi buồn khôn tả. Chàng nói lời từ giã rồi không một chủ định, chàng lang thang trên hè phố rối lạc bước tới Times Square (3) lúc nào không hay. Ngửng đầu lên, chàng thấy tấm bảng hiệu bằng đèn nê-ông của một hãng truyền hình. Đây là một tổ hợp truyền thông khổng lồ, chủ nhân của rất nhiều tờ báo, đài phát thanh, truyền hình địa phương. Tin tức của đài này truyền đi không phải chỉ ở Mỹ mà cả thế giới theo dõi. Có thể nói đây là trung tâm có thể uốn nắn đầu óc, lề thói suy nghĩ của nhân loại. Cũng giống như những lần trước, sau khi điền đơn xin tiếp kiến, chờ đợi cả tuần lễ, chàng được ông tổng biên tập cho gặp mặt. Ông là một nhân vật đầy quyền thế, lương khoảng hai chục triệu đô-la mỗi năm. Dưới ông có cả chục nhân viên phụ tá, cả trăm “producer” đặc trách chương trình, phụ trách quảng cáo, chuyên viên nghiên cứu, văn khố, thu hình, biên tập viên, phóng viên có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới. Ông là linh hồn của tập đoàn. Ông toàn quyền quyết định việc cắt xén tin tức, cái nào cho “đi”, cái nào vứt vào thùng rác, chiến thuật loan tin, hình ảnh nào cần đưa lên… hoàn toàn do ông quyết định. Ngồi dựa ngửa ra đằng sau, hai chân gác cả giày lên bàn - lối ngồi của các Sheriff (4) trong các phim cao-bồi, của các “tay tổ” hay của tổng thống Mỹ như Tổng Thống Obama ngồi trong Tòa Bạch Ốc trong các phiên họp với các cố vấn. Nhìn chàng tuổi trẻ mặt mũi cao ráo, dáng vẻ trí thức nhưng lại có vẻ ngây thơ, ông tổng biên tập hỏi:
-Cậu gặp tôi có chuyện gì? Xin việc hả?
- Dạ, cháu không xin việc mà muốn đi tìm chân lý. Theo cháu biết nơi đây là kho chất chứa tài liệu, lịch sử, hình ảnh của toàn thế giới. Tiểu sử, thành tích, kể cả các hành vi bê bối của các lãnh tụ, các chính trị gia đều nằm ở đây. Không một chuyện gì mà ông không biết. Không một bí mật nào - dù bí mật quốc phòng, bí mật ở Toà Bạch Ốc mà ông không biết, biết một cách tường tận và cả “bề trái” của nó nữa. Vậy thì theo ông chân lý có không và chân lý nằm ở đâu?

Sau giây phút ngạc nhiên về người tuổi trẻ, ông phá lên cười ngặt nghẽo, rồi nói:
-Này, nói đùa thôi nhé. Tuổi trẻ không lo xây dựng sự nghiệp, lấy vợ, sinh con đẻ cái mà đi tìm chân lý thì đầu óc hơi có “vấn đề” đấy. Nhưng trông cậu có vẻ thành thật nên tôi thấy cần nói cho cậu rõ. Chân lý là cái gì thì tôi không biết nhưng tất cả mọi Sự Thực, Cái Đúng, Cái Sai, cái gọi là Chính Nghĩa, hoặc Lý Tưởng Cao Cả đều nằm ở ngay đây, ở ngay chúng tôi. Tất cả đều do chúng tôi nhào nặn ra.

Há hốc miệng vì ngạc nhiên, Đại Nghi hỏi:
-Theo cháu biết cơ quan truyền thông chỉ làm công việc thông tin, có nghĩa là thấy sao nói vậy. Vả lại tôn chỉ của ngài là “Fair and Balance” tức “Công Bằng và Quân Bình” tại sao ngài lại nói ngài có thể bóp méo tin tức và chân lý?
Sau một hồi cười ngặt nghẽo, ông tổng biên tập nói:
-Cậu ngây thơ quá! Tất cả những cái đó chỉ là quảng cáo. Cứ thử nhìn vào đời mà xem có công ty, ngân hàng, luật sư nào mà không nói “tận tân, tín nhiệm, bảo vệ quyền lợi của thân chủ”. Có ông ứng cử viên tổng thống nào mà không hứa hẹn trăm điều tốt đẹp? Nhưng cuối cùng thì sao? Chẳng lẽ chúng tôi trương bảng hiệu “Thiên Vị và Bên Trọng Bên Khinh”?
Tới đây thì Đại Nghi ngắt lời ông:
-Thưa ông tổng biên tập. Thế nhưng làm cách nào ngài có thể bóp méo tin tức để nhào nặn chân lý?
- Cái đó dễ lắm. Nó không phải là thủ thuật của riêng chúng tôi mà của bất kỳ cơ quan truyền thông nào khi họ thiên vị. Nguyên tắc là khi chúng tôi bênh ai thì những cái xấu của họ chúng tôi ỉm đi mà chỉ nói về những cái tốt. Nghe tin tức và bình luận mãi như thế quần chúng tin rằng đây là kẻ tốt nhưng sự thực hắn ta là kẻ xấu. Chẳng hạn đối với một cuộc chiến tranh xâm lược, muốn tạo chính nghĩa cho cuộc chiến, chúng tôi tìm cách bôi bẩn kẻ thù, ngụy tạo ra những bằng chứng để rồi cuối cùng quần chúng và dư luận thế giới đứng về phía chúng tôi. Khi đó chúng tôi nắm ngọn cờ đại nghĩa “thế thiên hành đạo”. Chúng tôi có thể nhào nặn cuộc bầu cử tổng thống bằng cách ngụy tạo kết quả của những cuộc thăm dò. Ngoài ra, cậu tưởng chúng tôi sống vì lý tưởng hả? Xin thưa chúng tôi chỉ là một cơ sở thương mại. Chúng tôi sống vì tiền. Không có tiền thì lấy đâu trả lương cho tôi và mấy trăm nhân viên? Chúng tôi phải tìm đủ mọi cách để kiếm tiền. Cậu thử nhìn lại xem cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi hai ứng cử viên quyên góp được khoảng hai tỉ đô-la. Tiền ấy chạy đi đâu? Thưa ngài nó chạy vào túi các cơ quan truyền thông ạ. Hễ ông nào có nhiều tiền thì “mua” được truyền thông. Truyền thông mạnh thì làm tổng thống. Truyền thông yếu thì thua. Ở nước Mỹ này truyền thông là vua. Truyền thông nắm cả cán cân công lý!

Nghe ông tổng biên tập nói vậy, Đại Nghi choáng váng cả mặt mày. Chàng không ngờ nghề làm truyền thông giống như thằng Mõ của Việt Nam ngày xưa, cầm cái mõ đi quanh làng, gõ lốc cốc để loan báo tin tức mà quyền thế ghê gớm như vậy. Chỉ tội nghiệp người dân bị xỏ mũi từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không hề hay biết.

Vừa buồn vừa chán nản, Đại Nghi nói lời từ giã. Bước ra ngoài, chàng lang thang trên đường phố rồi lạc bước tới khu Brooklyn lúc nào không hay. Đây là khu của người Da Đen và đủ loại sắc dân thiểu số Âu, Á, Ấn Độ, Phi Châu, Nam Mỹ nghèo nhất Nữu Ước, nổi tiếng với những khu ổ chuột ghetto. Tại thành phố này, hầu như không một bức tường nào, không một xe vận tải nào mà không bị vẽ bậy (5) làm thành phố trở nên nhơ bẩn và xám xịt. Dường như để tô điểm thêm vẻ độc đáo - là hình ảnh của những người vô gia cư lang thang, ngủ gà ngủ gật trên hè phố, các trạm xe điện ngầm mà chính quyển chỉ báo động nhưng không sao giải quyết được. Năm nay ông thị trưởng thông báo số lượng người vô gia cư tăng thêm 34%. Theo thống kê, tại New York cứ 2688 người dân là có một người vô gia cư. Nhìn các ông bà vô gia cư Da Trắng và Da Đen sát bên nhau hoặc mơ màng nhìn trời nhìn đất hoặc nhìn vào cõi hư vô một cách yên bình và bất cần đời…Đại Nghi chợt ”ngộ” ra rằng có lẽ ở tận cùng đáy địa ngục con người dễ dàng cảm thông với nhau và không còn phân biệt màu da, chủng tộc, thân thế. Rồi trong đầu chàng lóe lên một ý tưởng: Phải chăng chỗ nào không còn “phân biệt” thì chỗ ấy chân lý hiển lộ? Và rõ ràng các ông bà vô gia cư kia còn có gì để “phân biệt” nữa đâu? Vậy thì chân lý phải nằm trong họ chứ? Chẳng lẽ chân lý không có hoặc không đến với những người hiện đang sống thừa bên lề xã hội? Nghĩ được như thế chàng nảy ra ý định làm quen với một người vô gia cư để tìm hiểu chân lý. Thế nhưng đến với các ông bà vô gia cư không phải chuyện dễ. Với hình dáng bình thường như thế này, các ông bà đó tưởng mình là cảnh sát chìm hoặc nhân viên xã hội tới điều tra thì họ bỏ đi hoặc ngậm miệng không nói gì. Do đó cần phải cải trang.

Đã tới giờ ăn trưa, Đại Nghi ghé tiệm McDonald’s mua hai phần ăn, tìm một bãi tập trung rác cũng gần đó. Chàng bới trong mấy thùng và tìm được một chiếc áo áo khoác đã rách nhưng vẫn còn mặc được. Chàng cởi chiếc áo khoác của mình, gói trọn vào một bao ny-lông rồi khoác chiếc áo đó lên người. Mùi hôi của chiếc áo làm chàng buồn nôn. Bới thùng rác thứ hai, Đại Nghi móc ra được một chiếc mũ nhàu nát và đội lên đầu. Nhìn quần áo và mũ đội thì chàng trông có vẻ như một người vô gia cư nhưng còn bộ mặt và đôi bàn tay sạch sẽ như thế kia thì rõ ràng là một ông vô gia cư giả. Thu hết can đảm, chàng thò tay xuống đất, quét mấy đám bụi đường rồi trét lên mặt và mu bàn tay của mình. Một tay ôm chiếc bọc ny-lông, một tay ôm hai phần ăn trưa, chân cố tình đi lảo đảo, miệng nói năng lảm nhảm, Đại Nghi bước dọc theo Fulton Street là con đường chính của thành phố. Đi một đỗi, chàng thấy trên vỉa hè, chỗ có mái hiên thụt vào bên trong của một cao ốc, có lẽ đã bỏ trống vì làm ăn thua lỗ, một ông vô gia cư đang ngồi đó. Ông ta trông giống như một quái nhân thời cổ hay một thị dân nghèo khổ chui rúc ở những khu ổ chuột của thời Âu Châu bắt đầu công cuộc kỹ nghệ hóa. Râu tóc ông ta để dài và vì không tắm gội, chải chuốt cho nên nhuốm màu đất. Vì khuôn mặt bị phủ khuất bởi mái tóc, qua chòm râu xồm, rất khó đoán tuổi của ông ta. Có thể ông ta ở tuổi bốn mươi, năm mươi, sáu mươi hoặc bảy mươi không biết chừng. 
Ông ta ngồi dựa vào bức tường dưới mái hiên, tay trái tựa trên chiếc ba-lô nhơ bẩn. Chiếc ba-lô căng phồng, không biết trong đó chất chứa những gì. Tay phải ông ta đặt lên lưng một con chó vàng. Đại Nghi đứng cách ông ta khoảng năm, sáu bước, quan sát một hồi rồi ngồi xuống. Có lẽ ông già vô gia cư cũng chẳng để ý chi đến sự xuất hiện của Đại Nghi nhưng người chú ý trước tiên lại là con chó. Con chó vàng nằm úp mặt xuống vỉa hè, chiếc mõm của nó dài theo mặt đất, đôi tai nó cúp xuống. Nó giương đôi mắt buồn bã nhìn Đại Nghi rồi giống như chủ, nó lại cúi xuống nhìn lòng đường. Thỉnh thoảng nó lại giương đôi mắt nhìn Đại Nghi như thế nhưng không phản ứng gì. Khuôn mặt của nó rất buồn. Hình như nó hiểu được thân phận của nó. Cũng như chủ, nó không có một mái nhà để chạy nhảy vui chơi, để vẫy đuôi mừng khi chủ nó về, được ăn những món ăn ngon mà chủ nó mua từ những siêu thị. Nó chỉ là một con chó vô gia cư. Một con chó vô gia cư cũng biết buồn và biết tủi thân. Ngồi như thế khoảng dăm ba phút, Đại Nghi mạnh dạn nhích lại gần, chỉ còn cách ông ta khoảng một thước. Tới đây thì Đại Nghi phân vân không biết phải khởi đầu như thế nào. Ngôn ngữ của giới vô gia cư chắc chắn phải khác ngôn ngữ của người bình thường, thô tục, gắt gỏng, cộc lốc hay thế nào đó… chàng hoàn toàn không rõ. Cuối cùng thì Đại Nghi chìa cái hộp đựng đồ ăn về phía người đàn ông rồi lựa chọn một cách nói có vẻ như của kẻ vô gia cư:
-Ăn không?
Lão già mắt vẫn nhắm nghiền, ngồi bất động, không nói một lời. Lặng ngắm lão già, Đại Nghi nói tiếp với giọng kẻ cả hơn:
-Này, có ăn không thì bảo?

Giây lát sau, lão già từ từ mở mắt, nhìn Đại Nghi không nói gì, rồi chìa tay trái đỡ lấy hộp đồ ăn. Lão cẩn thận mở hộp ra, bẻ phân nửa chiếc Big Mac cho con chó. Còn lão thì ăn phân nửa còn lại và khoai tây chiên. Con chó được chủ cho ăn, nó mừng rỡ nhỏm dậy. Trong khi nhai, thỉnh thoảng nó ngước mắt nhìn Đại Nghi. Lão già ăn rất từ tốn như không có vẻ đói lắm và cũng chẳng thèm đưa mắt nhìn hay nói năng gì với Đại Nghi. Lúc này Đại Nghi có cơ hội ngắm lão. Khuôn mặt lão xương xương chứ không bì bì như những dân vô gia cư nghiện rượu và tỏa ra một cái gì đó thanh thoát, hiểu biết. Ăn xong lão lấy mấy tờ giấy napkin (5) có sẵn trong chiếc hộp, chùi miệng rồi lấy tay vỗ về con chó. Giây lát sau lão cất tiếng:
-Tại sao cho đồ ăn?
Đại Nghi vội vã đáp:
-Vì thấy đằng ấy dễ thương.
-Dễ thương sao được? Một thằng homeless (6) lang thang trên đường phố thì có gì dễ thương đâu? Nói dóc!
Để chiều lòng lão già, Đại Nghi nịnh tiếp:
-Đằng ấy trông có vẻ hiền!
Lão già lại đốp chát:
-Mẹ kiếp! Một thằng vô gia cư không hiền thì dữ với ai?

Nghe lão già nói thế Đại Nghi bí và không biết nói thêm gì nữa. Nhưng may mắn làm sao, giây phút sau lão nói:
-Tại sao mày lại lang thang như tao?
Đại Nghi bịa chuyện:
-Tớ bị vợ đá ra khỏi cửa!
Nghe trả lời thế lão già phá lên cười nhưng tiếng cười vụt tắt rất nhanh. Lão gục đầu xuống một hồi rồi ngửng đầu lên, giọng nghẹn ngào:
-Tao cũng bị vợ đá như mày.
Tới đây thì dường như hố ngăn cách giữa hai người không còn nữa. Đại Nghi thành thực nói:
-Ông kể cho nghe được không?
Bằng giọng vừa mỉa mai, bi thương vừa khôi hài, lão nói như trong cơn mơ:
-Tao là quản lý cho một công ty, lương trăm ngàn một năm. Tao lấy một con vợ mặt mũi cũng khá xinh xắn. Cuộc sống của tao là niềm mơ ước của khá nhiều người. Con vợ tao nói nó yêu tao, nhưng không hiểu sao, có thể do Trời sinh, tính tình nó rất quái dị. Tao làm cái gì nó cũng nói sai, nó làm cái gì cũng đúng. Tao nói cái gì cũng sai, nó nói cái gì cũng đúng. Tao mua cái gì nó cũng chê đắt, nó mua cái gì cũng OK. Quan điểm, sở thích của nó về mọi vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội…đều đúng, còn của tao đều bậy. Tao cố nhịn nhục cho yên cửa yên nhà nhưng cuối cùng sức người có hạn, tức quá tao xáng nó một bạt tai. Thế là nó gọi cảnh sát đến còng tay tao rồi nạp đơn xin ly dị.Cuối cùng tao bước ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Vì chán ngán, vì hận đời tao tìm lãng quên qua những chai rượu và lang thang trên vỉa hè như thế này đây.

Tới đây, lão già ngưng lại rồi nói tiếp với giọng như muốn khóc:
-Cho mày hay. Đàn bà là Ông Trời! Cãi nó là chết. Nhớ nghe con. Đàn bà là chân lý. Đừng bao giờ cãi lại đàn bà nghe con!
Nghe lão già nói thế, Đại Nghi thất kinh hồn vía. Là người chưa có vợ, chỉ bồ bịch đi chơi, ăn uống, chiều đãi nhau qua lại, Đại Nghi chưa biết sức mạnh của người vợ, người đàn bà. Nay nghe lão già nói “đàn bà là chân lý” chàng chán nản vô cùng. Sau khi đối đáp một vài lời vu vơ, từ giã lão già, chàng tiếp tục lang thang trên hè phố, đầu óc suy nghĩ miên man và rối mù. Cuối cùng chàng suy luận rằng có thể có hai loại chân lý: Chân lý giữa cuộc đời đầy tương tranh đố kỵ, tỵ hiềm này và một thứ chân lý khác vượt lên trên tất cả. Mà vượt lên trên tất cả những thứ ô trược này chỉ có tôn giáo mà thôi. Nghĩ được như thế chàng quyết định mua vé máy bay qua Rome.

Do sự giới thiệu của một vị linh mục, chàng được gặp một Đức Ông quyền cao chức trọng nay đã về hưu đang sống trong viện dưỡng lão của giáo hội. Vì đã về hưu, tối ngày rảnh rỗi, chăm lo cầu nguyện cho nên Đức Ông vui vẻ tiếp chuyện chàng tuổi trẻ. Đức Ông nhẹ nhàng hỏi:
-Con gặp ta có chuyện chi?
-Dạ thưa Đức Ông, con muốn biết trên cõi đời này chân lý có thật không và chân lý nằm ở đâu? Có thể nào chân lý thuộc về đàn bà không?
Chàng vừa nói dứt lời, mở to mắt vì ngạc nhiên, vị Đức Ông nói:
-Sao con lại hỏi thế? Đàn bà tạo ra từ cái xương sườn của đàn ông. Nếu nắm giữ chân lý thì phải là đàn ông chứ sao là đàn bà.
-Thế nhưng ông già vô gia cư nói…
-Cái thằng cha đó nó uất ức nên nói bậy đó. Chân lý nằm ở Thượng Đế. Thượng Đế là chân lý. Thượng Đế sáng tạo ra chân lý. Không có chuyện gì qua khỏi bàn tay của Thượng Đế cả.
-Nhưng…

Đại Nghi ngắt lời vị Đức Ông và định nói thêm về những thứ chân lý mà quý ông chủ tịch hội đồng quản trị hãng chế tạo vũ khí, ông tỷ phú, ông tổng biên tập tổ hợp truyền thông, ông cựu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vừa “dạy bảo” chàng. Nhưng Đức Ông đã chặn ngay:
-Không “nhưng nhị” gì cả. Con cứ về đọc lại Thánh Kinh và cầu nguyện. Cầu nguyện và tin tưởng vào Thượng Đế con sẽ thấy đâu là chân lý.

Đại Nghi hiểu rằng đối với các bậc tu hành trọng vọng như thế này, điều tốt nhất là vâng lời, không nên tranh luận, cãi vã. Chàng mau mắn vái chào vị Đức Ông, nói lời cảm tạ rồi sau đó đáp máy bay đi Mecca xin diện kiến một giáo sĩ Hồi Giáo. Vị này dành cả cuộc đời để nghiên cứu về Kinh Koran đang là giảng sư của một trường giảng dạy Thánh Kinh cho các giáo sĩ trẻ. Thấy chàng là người gốc Á Châu từ Mỹ tới, vị giáo sĩ vui vẻ tiếp chuyện. Sau khi lắng nghe nguyện vọng của người tuổi trẻ, vị giáo sĩ nghiêm trang nói:
-“No God but Alah”. Không có Thượng Đế gì cả. Chỉ có Đấng Allah! Thánh Kinh Koran là lời của Đấng Allah. Đó là chân lý. Không có một thứ chân lý nào khác ngoài Kinh Koran.

Nghe trưởng lão nói thế, cũng giống như lần gặp vị Đức Ông trước đây, chàng kính cần vái chào, nói lời cảm tạ rồi từ giã. Lang thang ở Thánh Địa Mecca một ngày, đầu óc rối bời bởi những gì vị Đức Ông và Giáo Trưởng nói, chàng quyết định đáp máy bay tới Thành Phố Allahabad bên bờ Sông Hằng để tìm gặp các vị Lạt Ma Tây Tạng đang sống lưu vong ở bắc Ấn Độ.

Vào mùa này, khoảng 10 triệu dân Ấn Độ đang quy tụ dọc theo Sông Hằng - con sông linh thiêng - để tắm gội hầu rửa sạch tội lỗi. Nhìn cả rừng người, đông như kiến cỏ, quần áo có, trần truồng có, lao xuống dòng sông với vẻ mặt hân hoan, thánh thiện, Đại Nghi tự hỏi không biết dòng sông này có khả năng gì để rửa những tội mà con người phạm phải như trộm cướp, hiếp dâm, chuyển vận xì ke ma túy, buôn bán nô lệ, tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, hủy diệt văn hóa và dân bản địa v.v…Cho dù có rửa được đi nữa thì sử sách nhân loại vẫn còn ghi, làm sao tẩy xóa được? Tại đây có khá đông người dân Tây Tạng cùng các vị Lạt Ma vượt thoát chế độ áp bức của Hoa Lục sinh sống như những người tỵ nạn. Sau khi dò hỏi dân địa phương, chàng được tiếp xúc với một vị Lạt Ma. Sau khi nghe xong khát vọng của người tuổi trẻ, vị Lạt Ma không nói gì mà pha một bình trà. Sau tuần trà đầu, dường như thấy sự im lặng đã vừa đủ để những cảm xúc nồng nàn của Hoài Nghi lắng xuống, vị Lạt Ma nhẹ nhàng hỏi:
-Con muốn tìm hiểu về chân lý hả?
-Dạ.
-Này ta hỏi con, trước khi loài người xuất hiện ở thế gian này, chân lý có không?
-Dạ không có.
Vị Lạt Ma hỏi tiếp:
-Thế sau khi con người biến mất trên cõi đời này, chân lý còn không?
-Dạ, chân lý cũng chết theo.
Vị Lạt Ma nói tiếp:
-Vậy thì chân lý không phải là một chủ thể độc lập có tự tánh mà nó cộng sinh với con người, nó từ cuộc sống này đi lên, nó tùy thuộc vào con người và biến đổi theo tham-dục của con người.

Chậm rãi châm tuần trà thứ hai, đợi cho chàng tuổi trẻ uống xong, vị Lạt Ma nói:
-Con người có thể đạt tới trình độ hiểu biết ngang nhau nhưng khát vọng và tham-dục của con người thì không bao giờ giống nhau. Người ta có thể đồng ý với nhau rằng một kẻ nào đó giết người nhưng tìm cách đối phó với kẻ sát nhân thì hoàn toàn khác biệt. Kẻ thì phong thánh, gắn huy chương, kẻ thì lên án đòi tử hình, kẻ bài bác án tử hình đòi đối xử nhân đạo. Hiện nay kẻ nắm giữ chân lý của loài người chính là kẻ nắm được số đông hoặc sức mạnh quân sự, tài chính hoặc truyền thông. Thế nhưng thế giới không phải cứ như thế mãi. Khi số đông suy giảm hay một siêu cường thứ hai, thứ ba xuất hiện, chân lý cũng sẽ khác đi, loài người lúc đó sẽ sống trong một trật tự mới. Đôi khi chân lý là tương quan lực lượng mà kẻ yếu hoặc thiểu số thường cam chịu.

Nghe vị Lạt Ma nói thế, Hoài Nghi hỏi:
-Thưa Lạt Ma, như vậy con phải quan niệm chân lý như thế nào?
Vị Lạt Ma hiền từ đáp:
-Nhìn trăng đáy nước. Khi nào con nhìn chân lý như nhìn mặt trăng đáy nước thì tâm địa bình ổn và không còn thắc mắc gì nữa. Lát nữa đây, khi con từ giã ta, đến một nơi nào khác, lại có một sự biện giải khác về chân lý. Nhưng tất cả đều như trăng đáy nước mà thôi. Chân lý nằm ở tất cả mọi nơi, đầy khắp vũ trụ và nó không thuộc về ai cả. Người nắm giữ chân lý cũng giống như người giữ nắm cát trong tay. Đôi khi kẻ khăng khăng giữ chân lý, không cho ai chia xẻ một chút chân lý khác…lại là kẻ làm khổ người ta không biết chừng.

Nghe vị Lạt Ma nói thế chàng ngạc nhiên, hỏi:
-Là giáo chủ của một tôn giáo vĩ đại mà Đức Phật không nắm giữ chân lý, cũng như không tạo ra một thứ chân lý cho riêng tôn giáo của mình sao?
-Đúng vậy. Đức Phật không sáng tạo ra chân lý và cũng không nắm giữ chân lý. Lời dạy của Đức Phật chỉ có mục đích giúp chúng sinh vơi bớt khổ giống như ông bác sĩ chữa bệnh. Ông bác sĩ không tạo ra bệnh cũng như không nắm giữ bệnh. Lời biện giải về chân lý nếu có của Phật cũng giống như lời ông bác sĩ giải thích cho con bệnh biết nguyên do của bệnh và phương pháp chữa lành bệnh mà thôi.

Nghe vị Lạt Ma nói thế, Đại Nghi không hỏi thêm gì nữa. Chàng khẽ nhắm mắt lại rồi mở mắt ra rồi chợt thấy nhẹ nhõm trong người. Chàng nói lời cảm tạ rồi bước ra ngoài.

Giờ đây dọc theo bờ Sông Hằng đoàn người đông như kiến cỏ vẫn đang cuồng nhiệt lao xuống dòng sông tắm gội với vẻ hân hoan, thành kính lạ thường. Nhưng khác với khoảnh khắc trước đây, tâm địa chàng trở nên bình ổn, không còn thắc mắc, không còn hoài nghi, tra vấn về chân lý nữa. Dường như tất cả những gì đang diễn ra trước mắt chàng đều “như thị và như thị” và “như trăng đáy nước”. Chàng đưa tay vẫy tay chào đoàn người đông như kiến cỏ đó rồi lặng lẽ bước đi. Ngày mai đây chàng sẽ đáp máy bay về Mỹ và sống một cuộc đời rất bình thường và không còn hoài nghi về bất cứ chuyện gì trên cõi đời này.

Đào Văn Bình
(Trích Phong Thái Thiền sắp xuất bản)
(1) Lừa đảo: Mới đây tại Hoa Kỳ, Quỹ Ung Thư Mỹ (Cancer Fund of America), dịch vụ hỗ trợ ung
Đào Văn Bình
(Trích Kinh Hạnh Phúc Của Tôi sắp xuất bản)
(1) Lừa đảo: Mới đây tại Hoa Kỳ, Quỹ Ung Thư Mỹ (Cancer Fund of America), dịch vụ hỗ trợ ung thư (Cancer Support Services) và người đứng đầu hai tổ chức này – James Reynolds đã lừa đảo các nhà hảo tâm lấy tiền giúp đỡ người bệnh ung thư.
(2) Tán gẫu trên diễn đàn
(3)Khu thương mại, kịch nghệ, giải trí lớn nhất nước Mỹ nằm ở ngã tư Broadway và đường Seventh St. và được coi như ”Giao Lộ Của Thế Giới “ (The Crossroads of the World)
(4) Cảnh sát trưởng Mỹ trong các phim Cao Bồi.
(5) Graffiti : Nạn vẽ bậy lên tường, cửa hiệu, xe cộ đang là thảm họa của các nước văn minh kể cả Việt Nam.
(6) Khăn ăn bằng giấy.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Học Khôn Xứ Người

 

Con ơi mẹ bảo con này,
Trải bao gian khổ có ngày định cư.
Tiếng Tây, tiếng Mỹ, tiếng u,
Mẹ không có biết như mù mà thôi.
Nhưng may họa cũng nhờ Trời.
Văn hóa xứ Việt ngàn đời chẳng quên.
Cho nên mẹ có lời khuyên.
Mai con góp sức xây nền Việt Nam.

Con cần giữ mái tóc đen.
Ấy là bản sắc dịu hiền của ta.
Con đừng học thói kiêu sa,
Tóc đen nhuộm đỏ ấy là ngoại lai.
Dân Việt có chiếc áo dài,
Thướt tha bồ liễu, khoan thai lạ lùng.
Con đừng học thói lố lăng,
Khoe lưng, hở ngực dân mình chẳng ưa.
Khôn ngoan gái Việt có thừa.
Lịch sự duyên dáng là vua trên đời.
Học tính thẳng thắn con ơi!
Lắng nghe người nói, lựa lời hòa vui.
Đừng phóng túng, đừng ham chơi.
Ăn bám xã hội người người cười chê.
Học dân chủ, học lắng nghe.

Mai sau có dịp trở về giúp dân.
Học trách nhiệm, học canh tân.
Kỹ thuật tiến hóa mình cần phải theo.
Học kinh tế, học bang giao.
Giữ yên bờ cõi, đề cao nước nhà.
Con đừng học thói bê tha.
Rì-nô, Vê- gát mồ ma tiêu tùng. (1)
Học thiện nguyện, nhớ góp công.

Giúp người nghèo khó, phụ cùng quốc gia.
Học tiết kiệm, học đầu tư.
Buôn gian bán lận không tù cũng tiêu.
Học nhân ái, học tin yêu.
Thương người hoạn nạn là điều nhập tâm.
Học quản trị, học thương dân.
Không ghen đối lập, không ngầm hại nhau.
Không chụp mũ, không thù dai.
Thượng tôn luật pháp chẳng ai là Trời.
Đi đúng giờ giấc con ơi!
Dân Việt đi trễ người người đều than!

Mẹ già tóc đã điểm sương,
Mai sau giúp nước là đường của con.
Tạ ơn xứ đã cưu mang.
Nhớ nguồn gốc cũ trăm đường chẳng nguôi.
Xứ Mỹ (2) đẹp lắm con ơi!
Dầu sao thì cũng xứ người mà thôi.
Quê mẹ rách nát tơi bời!
Mà sao mẹ cứ thương hoài ngàn năm?

Đào Văn Bình

(Trích Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển xb năm 2002)
(1) Reno và Las Vegas là hai sòng bài lớn tại Hoa Kỳ
(2) Úc, Pháp, Đức, Gia Nã Đại…

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Tháng Ba Hoa Thủy Tiên Nở


(Cho Ngọc Nga)

Tháng Ba Hoa Thủy Tiên Nở
Người giao hàng vừa bình phục sau một cơn cảm cúm.
Những đóa hoa hồng phải giao trong ngày Valentine đã héo tàn.
Chàng ân hận vì đã không kịp gửi những đóa hoa tình yêu đến cho một người ở Beaverton!

Trong vườn,
Những đóa hoa thủy tiên vừa nở,
Vàng rực cả một góc trời.
Chàng nghĩ rằng tình yêu nào rồi cũng phải thêu dệt bằng hoa.
Cho nên trong buổi sáng hôm đó.
Bằng chuyến bay tốc hành,
Chàng đã gửi kịp những cánh thủy tiên đến Beaverton.
Để chuộc lại lỗi lầm,

Vì đã không gửi kịp những đóa hoa hồng đúng vào ngày hội của đôi lứa.

Câu chuyện thật cảm động,
Vì sự tận tụy của người giao hàng.
Nhưng nếu là ông ta.
Và em là người ở Beaverton.

Lãng mạn hơn,

Vào buổi sáng hôm đó.
Anh sẽ gửi những con bướm vàng.
Những cánh bướm sẽ bay thật nhanh.
Đến đậu trên khung cửa sổ nhà em.
Bướm sẽ gom thành ngàn cánh hoa vàng óng.
Chập chờn trong nắng.
Vì nắng rất lung linh!

Tháng Ba hoa thủy tiên nở,
Và tình anh cũng nở như là đóa hoa.

Đào Văn Bình
(12-3-2001)


Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Kẻ Hợm Mình ( Bản Dịch: Đào Văn Bình) - The Snob (Morley Callaghan )

 
 
Đôi Lời Giới Thiệu:

Morley Callaghan sinh tại Toronto, Canada năm 1903. Ông theo học St. Michael’s College, University of Toronto từ 1921-1925. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân về nghệ thuật tổng quát và cũng học thêm rất nhiều những môn học khác. Ông cũng làm việc bán thời gian cho tờ Toronto Star Weekly và gặp văn hào Hemmingway tại đây và Hemmingway đã trở thành người hướng dẫn cho Callaghan lúc ban đầu. Mặc dù tốt nghiệp luật khoa năm 1928 nhưng Callagha lại mê viết văn.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên Strange Fugitive của Callaghan xuất hiện năm 1928. Năm 1929 ông ký kết với một nhà xuất bản ở New York để xuất bản một tuyển tập truyện ngắn nhan đề A Native Argosy. Ông lấy vợ và đáp tàu sang Pháp và tại Paris, ông làm bạn với Hemmingway, F. Fitzgerald và James Joyce. Trong một trận đấu quyền Anh giao hữu, ông hạ đo ván Hemmingway và tình bạn giữa hai người không còn được như trước nữa. Morley Callaghan chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các nhà văn theo Trường Phái Tự Nhiên của Hoa Kỳ. Những tác phẩm của ông xuất bản năm 1932, 1935, 1936 & 1937 với đặc điểm bàn luận về chủ đề thần học Thiên Chúa Giáo, mô tả nhân vật phức tạp, giải quyết những mâu thuẫn trong tình yêu theo kiểu nước đôi đã khiến ông trở nên một khuôn mặt lớn trong giới văn chương Bắc Mỹ. Ông được khá nhiều giải thưởng văn chương. Ông mất năm 1990 tại Toronto. Hai truyện ngắn nổi tiếng của ông là The Snob và Luke Balwin’s Vow.

Truyện ngắn The Snob của Callaghan dưới đây cho chúng ta thấy tình cảm rất phức tạp của chàng sinh viên Harcourt ở thập niên 1930 trong một đất nước giàu có, thanh bình Canada. Những tình cảm phức tạp đó có thể đưa tới xung đột, nếu không khéo sẽ gây đổ vỡ. Kính mời quý vị thưởng thúc.

Kẻ Hợm Mình
The Snob

Tại quầy bán sách của khu thương xá, chàng sinh viên trẻ John Harcourt thóang nhìn thấy cha mình. Trong đám đông xô đẩy nhau dọc lối đi, mới đầu chàng không tin chắc lắm, nhưng có những cái mà chàng biết rất rõ - đó là cái màu phía sau cổ của ông già, chiếc mũ nỉ bạc màu. Harcourt đang đứng với một người con gái mà chàng yêu mến để mua sách cho nàng. Suốt buổi chiều chàng đã nồng nàn nói chuyện với nàng nhưng cũng đầy rụt rè và xao xuyến như thể trong chàng vẫn còn ngõ ngàng tự hỏi tại sao nàng lại có thể thật sung sướng khi được đi bên cạnh chàng.

Dưới chiếc mũ rơm rộng vành, khuôn mặt của nàng thật đẹp, mạnh khỏe và tỏa ra dáng vẻ đầy tự tin, thường quay qua nhìn chàng và mỉm cười mỗi khi chàng nói điều gì. Hai người thường nói chuyện với nhau như thế và chưa bao giờ dám bạo dạn bày tỏ hết tình cảm của mình. Harcourt cũng vừa mua sách xong, và cũng vừa thọc tay vào túi với một dáng vẻ tự nhiên và sẵn sàng như thể chàng vốn có thói quen mua sách cho các cô - thì ông già đầu bạc với chiếc mũ nỉ bạc màu đang đứng ở đầu quầy chợt quay nửa mình về phía chàng và chàng biết rất rõ mình chỉ còn cách ông cụ có vài thước.

Giọng nói lưu lóat thường nhật của chàng thanh niên bỗng ấp úng rồi trở nên thều thào như thể chàng sợ người chung quanh nghe thấy. Trong chàng dậy lên một một nỗi bực dọc khôn tả, chàng linh cảm thấy một cái gì đó thật quý giá mà chàng đang nắm giữ dường như sắp đổ vỡ. Cha chàng đang đứng thẳng thốn ở quầy trả tiền, ông cụ trầm ngâm lật đi lật lại cuốn sách trên tay. Rồi ông cụ lấy ra cặp kính lão từ cái bao da đã sờn, sửa đi sửa lại trên sống mũi rồi cúi nhìn cuốn sách. Chiếc áo khoác (manteau) bỏ ngỏ, còn chiếc áo vest thì hai chiếc khuy không cài nút, tóc ông cụ quá dài còn bộ quần áo luộm thuộm khiến ông cụ trông như dân thợ, có lẽ một ông thợ mộc thì đúng hơn. Một nỗi bất bình dậy lên trong chàng khiến chàng muốn đau khổ kêu lên “Tại sao ông cụ lại ăn mặc như thể trong đời chưa bao giờ có một bộ quần áo tốt đẹp? Ông cụ chả để ý gì đến thế giới này đang nghĩ gì về ông cụ. Ông cụ chẳng để ý gì cả. Mình đã nói cả trăm lần là bố phải ăn mặc đàng hòang khi ra đường. Mẹ cũng đã nói như vậy. Ông cụ chỉ nhe răng cười. Và giờ thì Grace có thể thấy ông cụ. Grace có thể gặp ông cụ.”

Vì thế mà chàng Harcourt đứng yên như tượng đá, đầu gục xuống và linh cảm thấy một cái gì đau đớn sắp xảy đến. Chàng xao xuyến liếc nhìn Grace lúc này đã quay đầu lại quầy tính tiền. Trong số khách hàng mặt đỏ gay, người nào người nấy tỉnh bơ, dùng cả cùi chõ, xô đẩy nhau để dành lối đi, Grace nổi bật lên với vẻ đẹp lộng lẫy. Con người nàng tỏa ra một dáng vẻ rất tự tin về sự giao tiếp với mọi người, với mấy người bán hàng, với sách vở nằm trên kệ và với tất cả mọi thứ chung quanh nàng. Đầu vẫn cúi xuống, chàng nhích lại gần nàng thì thào với giọng thật lo lắng, “Mình kiếm chỗ khác để uống trà đi Grace.”

“Chút xíu nữa anh,” nàng đáp.

“Mình đi ngay bây giờ đi.”
“Chút xíu nữa mà anh,” nàng lơ đãng nhắc lại.
“Ở đây ngột ngạt quá. Mình đi ngay bây giờ đi.”
“Sao anh nóng ruột quá vậy?”
“Ở đây chẳng có gì cả ngòai mớ sách cũ trên kệ.”
“Có thể có một số mà em rất cần trong cuộc sống của em,” nàng vừa nói vừa mỉm cười tươi tắn và không hề nhận biết mối lo âu trên khuôn mặt của Harcourt.

Chính vì thế mà Harcourt phải tiến lại phía sau nàng do đó mỗi lúc chàng càng đến gần ông cụ hơn. Có lúc chàng ngửng đầu lên, liếc nhìn qua một bên với vẻ lơ đãng, Còn cha chàng, với khuôn mặt hồng hào, phúc hậu, vẫn yên lặng đọc sách nhưng lúc này dường như trên khuôn mặt của ông cụ có dáng vẻ tự lự như thể trong sách có cái gì làm ông cụ xúc động cho nên ông cụ quyết định đứng lại đó đọc tiếp.

Ông già Harcourt có dư thời gian để vui thú bởi ông đã nghỉ hưu sau khi làm việc cực nhọc suốt cả đời. Ông gửi chàng vào đại học và ước mong chàng rạng rỡ với người ta. Mỗi tối khi trở về nhà, dù sớm dù khuya, chàng thường vào phòng bố mẹ, bật đèn lên để chia xẻ với song thân những gì hay đẹp trong ngày. Cả hai lắng nghe chàng nói và chia xẻ với chàng về một thế giới mới mà chàng đang ngụp lặn trong đó. Cả hai ngồi dậy trong bộ quần áo ngủ, mỗi khi mẹ chàng hỏi điều gì, cha chàng đều chăm chú lắng nghe, đầu nghiêng qua một bên, mỉm cười hoặc chau mày. Tất cả những hình ảnh đó hiện rõ trong tâm trí chàng lúc này thế nhưng có một niềm khát khao và một nỗi đau đớn mỗi lúc cứ đè nặng lên chàng khi chàng sợ hãi liếc nhìn cha mình, nhưng chàng bướng bỉnh cho rằng, “Mình không thể giới thiệu ông cụ với Grace. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu ông cụ không nhìn thấy hai người. Phải mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Như thế hợp lý hơn. Gặp Grace chỉ làm cho ông cụ thêm lúng túng.”

Vào lúc này thì Harcourt biết mình đang xấu hổ, nhưng chàng biện minh cho sự xấu hổ của mình với lý do cha của Grace là người có phong thái lịch sự và tự tin vì suốt đời sống trong một xã hội giàu có và thành công. Thỉnh thỏang khi ghé vào nhà Grace lễ phép nói chuyện với mẹ nàng, chàng không khỏi suy nghĩ về vẻ đơn sơ của nhà mình, về giọng nói tiếng cười xuề xòa, mộc mạc của cha mẹ và chàng quyết định phải làm sao để gia đình Grace nể mặt.

Chàng thận trọng ngước nhìn lên vì hai người chỉ còn cách nhau khỏang ba thước, nhưng vào ngay lúc đó, ông cụ cũng ngửng đầu lên nhưng ánh mắt của Harcourt lại tránh qua một bên, nhìn về phía lối đi, về phía quầy tính tiền, làm bộ như không thấy gì cả. Khi đôi mắt xanh và bình thản của ông cụ chú mục qua cặp mắt kính, có một lúc dường như hai người đã nhìn thấy nhau. Không biết rõ là ai, nhưng khi chàng Harcourt quay lưng và hối hả nói với Grace thì chàng biết rõ là cha chàng đã nhìn thấy chàng. Chàng biết chắc như vậy vì vẻ bình thản trong đôi mắt xanh của ông cụ. Niềm xấu hổ trong chàng trào dâng và nó làm chàng đau khổ khi chàng đứng đó bất động, không biết làm gì cả.

Cha chàng quay lui, đi dọc theo hành lang, bước đi thẳng thốn trong bộ quần áo đã sờn cũ, đôi vai ông cụ giang rộng và không quay đầu nhìn lại. Rồi ông cụ bước xuống đường với dáng vẻ trầm tư mà chàng biết chắc mỗi lúc mỗi trở nên sâu nặng và nghiêm trọng.

Chàng trẻ tuổi Harcourt đứng bên cạnh Grace, khẽ cọ vào đôi vai mềm mại của nàng và thoang thỏang ngửi thấy mùi nước hoa mà nàng dùng. Đó, đứng sát bên mình, nàng là tất cả những gì mà chàng khát khao ôm chặt lấy, nhưng giờ đây chàng chỉ còn thấy một nỗi thù hận ghê gớm khiến chàng ủ rũ cúi mặt và đứng bất động.

“Anh nói đúng đó John,” giọng nàng nhỏ nhẹ và hơi ề à. “Vào ngày nóng nực như thế này ở đây khó chịu thật anh ạ. Giờ mình đi. Nè, có bao giờ anh nghĩ rằng đứng ở khu thương xá lâu như thế này có khi mình trở nên ghét người ta không biết chừng?” Nhưng vừa nói nàng vừa mỉm cười cho nên Harcourt biết chắc rằng nàng chẳng ghét ai cả.

“Em ghét người ta có phải không?” chàng gặng hỏi.
“Ghét người ta? Mà người ta nào? Anh nói gì vậy?”
“Anh muốn nói,” chàng bực tức nói tiếp, “em không thích những người mà em gặp ở đây chẳng hạn.”
“Đâu phải vậy. Mà ai ghét? Anh nói gì vậy?”
“Thiên hạ đều biết rằng em không, “ chàng nói bừa với tất cả sự bực tức để tấn công nàng. “ Anh muốn nói em không thích những người bình dị, chân chất là những người mà em gặp ở khắp thành phố này.”

Chàng thốt ra những lời nói này như thể chàng muốn chọc giận nàng nhưng trong thâm tâm thật sự chàng muốn nói, “ Em không thích gia đình anh. Tại sao anh không muốn đưa em tới nhà để ăn cơm tối với cha mẹ anh? Em sẽ có thái độ khinh khỉnh bởi vì bố mẹ anh không có tính tự phụ, kiêu căng. Ngay khi cha anh nhìn thấy em, ông cụ biết rằng em không muốn gặp ông cụ. Cứ nhìn cách ông cụ bỏ đi là anh biết mà.”

Cha chàng đang trên đường về nhà và chàng biết rằng trong bữa cơm tối nay cả nhà sẽ gặp lại. Mẹ chàng và em gái chàng sẽ nói mau mắn hỏi đủ chuyện nhưng còn cha chàng thì ông cụ sẽ không nói gì với chàng, không nói gì với mọi người. Rồi trong ký ức của chàng sẽ nổi lên hình ảnh của cha chàng với cái nhìn đăm chiêu qua đôi mắt xanh và cả nỗi đau đớn của ông cụ mà chàng biết rất rõ khi ông cụ bỏ đi.

Khi hai người bước qua hiệu sách, Grace ngắm nhìn khuôn mặt sầu thảm của Harcourt và nàng hiểu rằng Harcourt đang giận dữ trong lòng cho nên sự bực tức và nỗi bất bình trong nàng lại dâng lên, nàng nghiêm nghị nói, “Theo em nghĩ anh có quyền bực tức trong một buổi chiều nóng nực như thế này, nhưng còn em, nếu em không thích chỗ này thì em có quyền không thích. Anh cũng muốn đi chỗ khác cơ mà. Có ai thích đứng lì ở đây trong một buổi chiều nóng nực như thế này đâu? Nói cho anh biết, em bắt đầu không ưa những người lố bịch đụng vào người em, tất cả những ai gần em. Như vậy thì có sao không?

“Thì em là kẻ hợm mình.”
“Em mà là kẻ hợm mình à?” nàng tức giận hỏi lại.
“Rõ ràng em là kẻ hợm mình,” chàng nói.

Lúc này hai người đã ra ngòai cửa và sửa soạn bước xuống đường. Trong ánh nắng chan hòa, giữa dòng người đang tản bộ dọc theo con phố, khi hai người sánh bước bên nhau, Harcourt cố tìm cho ra những câu nói để diễn tả hết ý nghĩ thầm kín của mình đối với Grace, “ Anh biết rất rõ cảm nghĩ của em đối với những người không thích hợp với lối sống của gia đình em,” chàng nói.

“Anh đúng là kẻ lố bịch,” nàng nói. Lúc này mặt Grace đỏ gay và vì không biết làm cách nào để diễn tả hết cơn giận dữ, cho nên nàng ngửng cao đầu và bước thẳng.

Chưa bao giờ hai người nói với nhau như thế nhưng giờ đây thì cả hai sẵn sàng tấn công để làm tổn thương nhau. Sau một thôi một hồi, nàng bắt đầu tranh luận với Harcourt rồi nàng trấn tĩnh lại, nói, “ Nghe đây John, tôi nghĩ rằng anh không còn muốn đi với tôi nữa. Uống trà với nhau làm gì thêm vô ích. Tôi nghĩ chúng mình chia tay ngay bây giờ tốt hơn.”
“Được lắm,” Harcourt nói. “ Chào em.”
“Chào anh.”
“Chào em.”

Nhưng khi nàng bỏ đi, bước đi khỏang hai bước thì Harcourt run sợ, vội vã nắm chặt lấy tay nàng, năn nỉ, “ Đừng bỏ đi Grace à.”

Tất cả nỗi bực dọc và căm tức giờ đây biến mất trong chàng và chỉ còn lại một niềm khát khao và xao xuyến qua giọng nói,” Xin Grace tha thứ cho anh. Anh không có quyền nói với em như thế. Không hiểu tại sao anh lại thô lỗ như vậy hoặc có cái gì đây. Anh lố bịch thật. Anh lố bịch quá em à. Xin em tha thứ cho anh. Đừng bỏ anh.”

Harcourt chưa bao giờ nói ấp úng như thế và nói bằng cả khối chân tình cho nên Grace bắt đầu xúc động. Trong khi lắng nghe chàng nói và hiểu được tấm lòng thương mến của chàng, do sự xung đột lúc vừa rồi, dường như họ xích lại gần nhau hơn lúc nào hết và Grace bắt đầu cảm thấy e thẹn. “Em không hiểu tại sao như vậy anh ạ. Em nghĩ cả hai chúng ta đều bực bội trong mình. Có lẽ tại thời tiết nóng quá,“ nàng nói. “Nhưng em không giận anh đâu.”

Harcourt đau khổ gật đầu. Chàng nồng nàn nói cho Grace biết là chắc chắn cha chàng sẽ quý mến nàng, nhưng chưa bao giờ trong đời chàng cảm thấy đau khổ như thế. Chàng nắm chặt lấy tay Grace như muốn ghì chặt lấy cái gì thân thương nhất trong đời như sợ nó có thể vuột khỏi tầm tay… và trong đầu chàng lại hiện lên và còn tiếp tục hiện lên hình ảnh cha chàng đã lặng lẽ bỏ đi và ông cụ không quay đầu trở lại./.

Cước chú: Quý vị, quý bạn có thể vào Google rồi đánh máy The Snob Morley Callaghan để đọc nguyên tác bằng tiếng Anh.

Đào Văn Bình

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

Ðọc “Thiên Nga Giữa Cõi Người” của Tâm Thanh


Ngô Thanh Tâm tức Tâm Thanh (Na Uy) cựu sinh viên Cao Học Hành Chánh Khóa II vừa cho trình làng tập truyện ngắn Thiên Nga Giữa Cõi Người do Văn Học xuất bản và Nguyễn Mộng Giác viết lời tựa. Tuyển tập dầy 196 trang gồm 13 truyện phần lớn có chung hai bối cảnh: Việt Nam và Bắc Âu. Văn anh nhẹ nhàng dễ hiểu, không làm người đọc nhức đầu đó cũng là một ưu điểm để dẫn truyện đi tới.

Nhưng điều đó không có nghĩa là truyện không có chiều sâu triết lý. Một đặc điểm tôi nhận thấy nơi Tâm Thanh là anh có đầu óc khôi hài bóng bảy làm cho chúng ta cười, cười ra nước mắt. Những nỗi đau xé ruột đã được anh giảm nhẹ đi khiến tác phẩm trở nên không bi thương và nặng nề quá. Thiên Nga Giữa Cõi Người nói về những khổ đau chung của kiếp người trong đó nỗi khổ đau của người Việt chúng ta nổi bật lên như một điển hình của hậu bán thế kỷ 20 song cũng có những chuyện tình cảm rất đẹp, rất nhẹ nhàng như truyện Lông Hồng, Túp Lều Của Chị Tôi, Con Bọ Mắt. Sau đây tôi xin giới thiệu một số truyện:

Mây: Mô tả câu truyện của Huyến – một nhiếp ảnh viên, chụp ảnh cho người thì dễ, chụp ảnh cho“ Bác Hồ” thì khó ! Vào tù vì tấm ảnh chụp “ Bác” phương phi béo tốt đi thăm đám dân đen đang bị nạn lụt, mặt mũi hốc hác, gầy ốm tả tơi. Dù bức ảnh đã được đăng trên báo Nhân Dân nhưng vẫn bị kết tội phản động rồi bị tống vào trại cải tạo. Ra tù hóa điên rồi chết như một con chó ghẻ dưới gầm cầu ở Hà Nội.

Phấn Thông: Nói về mối giao tình của Quân với một ông bạn già hàng xóm người Na Uy. Sau mùa Ðông dài, Quân qua nhà ông để báo cho ông biết sẽ chặt cây thông để chiều theo ý của ông. Nhưng được cô cháu gái tỉnh bơ cho biết “ ông ngoại chết rồi”. Cái chết bất ngờ của ông bạn già làm Quân nhớ tới cái chết của bà má vợ ở Việt Nam, chàng xúc động ứa nước làm cô cháu gái sững sờ không hiểu tại sao cái thằng cha hàng xóm bá vơ này khéo dư nước mắt đến thế ? Ðộc giả có thể hiểu được kết luận luận của tác giả khi biết rằng tại thế giới Tây Phương bây giờ chủ nghĩa cá nhân đã phát triển tới cao độ khiến con người chỉ còn sống được với chó mèo và thương có chính mình ! Người “bạn” cuối đời của ông hàng xóm già là một con chó già… thì cũng đã chết.

Hai Mẹ Con: Mô tả cái chết bi thảm của Chuân vào giữa đêm giao thừa Tết Tây tại Munchen (Munich) của Ðức. Cái chết đã gây chấn động cả thành phố vì có dư luận cho rằng cậu thanh niên Việt này đã tự thiêu vì tuyệt vọng sau khi bị cơ quan di trú Ðức “xù” từ chối không cho định cư ! Thế nhưng qua bức thư tuyệt mệnh khám phá sau đó thì Chuân đã quyết định từ giã cõi đời vì mẹ cậu còn ở Việt Nam đã tự tử vì không muốn thấy cậu phải khổ, vì quá vất vả gửi tiền về cho bà để ghép thận. Hay tin mẹ chết Chuân thấy cuộc đời mình không còn ý nghĩa nữa và đã chọn cái chết để được gặp mẹ bên kia thế giới.

Ðôi Giày: Ðây là chuyện có thể xảy ra trong bất cứ gia đình nào. Khi chúng ta có con cái, chúng ta muốn nó sống một đời sống thật thánh thiện. Nhưng muốn sống thánh thiện thì phải coi thường của cải vật chất, chẳng bon chen với đời và chấp nhận nhiều thua thiệt …một cách không giống ai ! Và chính khi đó, con cái chúng ta có thể trở thành nguồn khổ đau cho cả gia đình và nhiều lúc bực quá ta muốn nó chết đi cho rảnh nợ. Tác giả đã hư cấu truyện Ðôi Giày để minh họa tư tưởng triết lý này qua nhân vật Thằng Nhàn thông minh đĩnh ngộ nhưng sống bất cần đời và hay triết lý vụn: Trước hết nó có cô bạn gái ngưòi Tàu tên Ruth xinh đẹp như tài tử Hongkong. Nó dẫn con gái nhà người ta đi ta bà thế giới thế mà khi cha mẹ hỏi tại sao mày không cưới nó thì nó nhe răng cười nói “Con với nó chả có gì !”. Sau đó nó bỏ học, cha mẹ nó kiếm cho nó công việc cắt cỏ của thành phố lương cũng khá nhưng… tuần lễ sau nó nghỉ với lý do nó nhường công việc đó cho một chú Việt Nam đang thất nghiệp ! Sau đó thì nó bỏ nhà đi biền biệt, may mà nó bắt chuyện được với một ông đang canh đống rác và kiếm được việc làm cũng như ăn ngủ tại đây. Trong lúc nó bỏ đi như thế thì đài phát thanh loan tin có một vụ giết người trong rừng mà nạn nhân là người Á Châu hao hao giống nó. Cho nên ông bà mới quýnh lên và nhờ cảnh sát đi kiếm. Khi nó dẫn xác về tới nhà thì ông bà mừng hết lớn ! Và kể từ đây thì hai ông bà xin chừa. Nó sống làm sao cũng được….

Trích Tiên: Truyện kể về cô gái Quỳnh Hương có tên Nga là Natasja - một nghiên cứu sinh ban Tiến Sĩ do Hà Nội gửi đi du học. Sau khi Ðế Quốc Sô-Viết xụp đổ, mọi cấu trúc và giá trị của thiên đường cộng sản đổ vỡ theo. Cô ta mỗi tuần phải trốn qua Na Uy để làm gái điếm, bị cảnh sát Na Uy bắt và thẩm vấn qua sự thông dịch của Thân, một thanh niên Việt Nam tỵ nạn từ Miền Nam, sinh sống ở Na Uy. Bố Quỳnh Hương đã phải tự sát chết ở Hà Nội để không muốn con bị gọi về nước theo áp lực của cộng sản. Quỳnh Hương lấy vị giáo sư đỡ đầu của mình. Ông này đã ly dị vợ để cưới Quỳnh Hương. Nhưng ông chồng của Quỳnh Hương là một người nghiện rượu thường xuyên đánh đập nàng. Quỳnh Hương đã ba lần bị anh họ chồng, em chồng và cả bố chồng cưỡng hiếp. Chịu không nổi, nàng bỏ đi và rớt vào cạm bẫy của Mafia Việt và phải sống bằng nghề làm gái điếm. Cảm động vì câu chuyện đời và vẻ đẹp của Quỳnh Hương, Thân yêu nàng say đắm và tìm cách cứu nàng ra khỏi đống bùn nhơ và đặt tên cho nàng là Trích Tiên.

Kết luận: Trong 13 truyện, tác giả đã dùng tryện Thiên Nga Giữa Cõi Người để làm tựa đề cho tác phẩm. Truyện này nói về cái chết phi lý của con chim thiên nga trống – hậu quả của tính quá độ của nền văn minh gọi là nhân bản nhưng duy lý (ưa lý luận) của Phương Tây. Nhưng tôi, tôi lại thích truyện Cổ Thành hơn. Trong truyện này tác giả đã mô tả một cách hấp dẫn mối tình học trò khi tác giả còn là học sinh Ðệ Ngũ ở trường Văn Hóa, Nha Trang với cô bạn cùng lớp tên Phương Thi. Ðọc những đoạn văn này ai trong chúng ta ( bọn con trai) ai cũng thấy rộn ràng sống lại những kỷ niệm của thời còn là những cậu học sinh cả ngố thế mà đã biết mơ mộng, biết yêu. Và những hình ảnh đẹp này đã sống mãi trong tác giả tới ba mươi năm sau. Khi nhận được những cánh thư không đề tên, từ nhiều thành phố gửi tới… chỉ với” mật hiệu “ Cổ Thành (một địa danh của Nha Trang là nơi Phương Thi ở) tác giả nhận ra ngay người yêu bé nhỏ năm xưa. Thế rồi thị xã loan tin một đoàn hát Múa Rối Nước do Hà Nội gửi tới sẽ tới đây trình diễn trong tờ chương trình có in tấm hình của một phụ nữ đứng tuổi với cái tên Biên Ðạo Hoài Trang. Qua những dấu nét đặc biệt, tác giả nhận ra ngay đây chính là cô bé Phương Thi năm xưa. Tác giả háo hức đặt mua hai vé và mời cả bà xã đi xem. Bà xã cũng thông cảm với mối tình học trò vớ vẩn ngày xưa nên cũng chẳng ghen tuông gì. Nhưng trước hôm đi xem trình diễn một ngày, tác giả mơ thấy một cơn ác mộng trong đó “một bà già giết giặc” VC đang chĩa súng vào tác giả trong khi đó thì một người đàn bà - chính là vợ chàng đang khóc lóc để xin tha mạng cho chồng. Mà “bà già giết giặc” đó không ai khác hơn là Phương Thi. Sáng hôm sau chàng quyết định bỏ vé không đi xem nữa! Ðây là quyết định khôn ngoan: Thứ nhất là kiếm điểm với bà xã. Ði xem về biết đâu bão tố chẳng nổi lên trong gia đình ? Ðàn bà nói không ghen là là ghen đó. Thứ hai để cho Cổ Thành sống bất diệt trong lòng hai đứa trẻ. Vì thực tế sẽ xóa đi tất cả những giấc mơ đẹp.

Với những nhận xét đó tôi xin trân trọng giới thiệu tập truyện Thiên Nga Giữa Cõi Người của Tâm Thanh tới toàn thể quý vị và quý bạn đồng môn.

Ðào Văn Bình
(California ngày 16/1/2006) 
(*) Tác giả Tâm Thanh đã qua đời cách đây hơn mười năm tại Na Uy

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

Mười Hai Tháng Của Em

  

Mười Hai Tháng Của Em

(Cho các bé thơ Việt Nam)


Tháng Giêng trời mát lạnh.

Tuyết rơi đẹp tuyệt vời.

Ngồi trong xe trượt tuyết.

Em mong tuyết còn rơi.

 

Tháng Hai trời vẫn lạnh.

Cho đẹp Lễ Tình Yêu. (1)

Rồi cùng nhau chờ đón.

Tết Việt đến vui nhiều.


Tháng Ba trời lộng gió.

Ngày nghỉ Ái Nhĩ Lan (2)

Thả diều bay theo gió.

Càng nhìn em càng ham.


Tháng Tư mưa sùi sụt.

Nhưng nắng đến bất ngờ.

Mong sao trời vẫn đẹp.

Cho em dệt vần thơ.


Tháng Năm mùa Phật Đản (3)

Mẹ bảo đi lễ chùa.

Em nghe lời Phật dạy.

Em chẳng thích hơn-thua.


Tháng Sáu nhớ công cha. (4)

Chẳng mấy chốc đến Hè.

Tạm biệt thầy và bạn

Một năm học lại qua.


Tháng Bảy Lễ Độc Lập. (5)

Em mê ngắm pháo bông.

Cùng mẹ cha du lịch.

Niềm vui rộn trong lòng.


Tháng Tám trời vẫn nóng.

Hoa phượng thắm sân trường.

Tiếng ve kêu rộn rã.

Em chơi rước đèn lồng.


Ngày tựu trường đã tới.

Tháng Chín lá đổi màu.

Nhớ thương thầy bạn cũ.

Kỷ niệm Hè qua mau.


Tháng Mười Ha-lô-win (6)

Em mặc áo Bà Tiên.

Cùng bạn bè xin kẹo.

Em trông thật dịu hiền.


Tháng Mười Một bắp chín.

Là tháng tạ ơn đời. (7)

Em biết ơn tất cả.

Trời lạnh nhưng em vui.


Tháng Mười Hai Giáng Sinh. (8)

Đường phố ngập thông xanh.

Bao gói quà xinh đẹp.

Là tháng của yên lành.

 

Đào Văn Bình


1. Valentine‘s Day
2. Saint Patrick’s Day
3. Vesak
4. Father’s Day
5. Independence Day
6. Halloween
7. Thanksgiving’s Day
8. Christmas

 

My Twelve Months


(For Vietnamese children)

 

January is cool.

The snow is falling beautifully.

Sitting in a sleigh.

I wish the snow would still fall.

 

February is still cold.

For a beautiful Valentine's Day. (1)

Then we'll wait together.

Vietnamese Tet is coming, lots of fun.


March is windy.

Irish holiday (2)

Flying kites in the wind.

The more I look, the more I want to.


April is drizzling.

But the sun comes unexpectedly.

I wish the sky is still beautiful.

Let me weave poems.


May is Buddha's birthday (3)

Mom told me to go to the temple.

I listen to Buddha's teachings.

I don't like to win or lose.


June remembers father's work. (4)

Summer is coming soon.

Goodbye teacher and friends

Another school year has passed.


July Independence Day. (5)

I love watching fireworks.

Traveling with my parents.

Joy is in my heart.


August is still hot.

Royal poinciana flowers bloom in the school yard.

Cicadas chirp loudly.

I play with lanterns.


School starts again.

September leaves change color.

Missing old teachers and friends.

Summer memories pass quickly.


October Halloween (6)

I wear a Fairy costume.

Asking for candy with friends.

I look so gentle.


November the corn is ripe.

It's a month of thanksgiving. (7)

I'm grateful for everything.

It's cold but I'm happy.


December Christmas. (8)

The streets are full of green pine trees.

Beautifully wrapped gifts.

It's a month of peace.

 

Đào Văn Bình

 

1. Valentine's Day

2. Saint Patrick's Day

3. Vesak

4. Father's Day

5. Independence Day

6. Halloween

7. Thanksgiving's Day

8. Christmas