Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Vu Lan Mùa Báo Hiếu

 
 
Thơ & Thơ Tranh: Tạ Quang Tuấn

Chưa Là Màu Trắng

 

Mẹ truyền hơi thở
Ấm trái tim con
Vòng tay mẹ ôm
Tràn ngập tình thương
Lòng mẹ bao la
Chan hoà bao bọc
Ru con ngủ say
Võng chạy êm đềm
Mẹ là nguồn sống
Cho con luôn vui
Giờ tóc mẹ bạc
Tay mềm chân yếu
Con vẫn cần mẹ
Bên con ngày đêm
Mình đi du ngoạn
Nơi cảnh thần tiên
Nhạc thánh thót rơi
Chim hót nắng cười
Núi mây trùng trùng
Suối đèo róc rách
Mẹ ơi hãy cứ
Cùng con vui hưởng
Hoa hồng con đeo
Chưa là màu trắng

Diệm Trân
27/8/2026

Công Cha Nghĩa Mẹ

 
 Trình Bày: Hoàng Thục Uyên


Người Mẹ Thành Đạt

 

Mẹ mặc váy áo thời thượng ra đường,
Đi dự tiệc tùng những nơi sang cả,
Mỹ phẩm lừng danh, ví tay đắt gía,
Mẹ sẽ là ngôi sao sáng đêm nay.

Mẹ bước vào xã hội chẳng thua ai,
Là giám đốc, là kỹ sư, bác sĩ
Dưới quyền mẹ có nhân viên kính nể,
Trong sở làm có bè bạn tin yêu.

Mẹ là doanh nhân thành đạt tiền nhiều,
Là khoa học gia bay lên vũ trụ,
Mẹ đọc diễn văn, mẹ làm chính trị,
Về nhà vẫn là người mẹ đời thường.

Mẹ gây dựng nên nhà cửa cao sang,
Mẹ hào nhoáng và cũng đầy bản lĩnh
Từ hai bàn tay và từ tim óc,
Người phụ nữ trẻ thành công đường đời.

Nhưng sau khi xong công việc bên ngoài,
Sau những xã giao lụa là khoe sắc,
Mẹ trở về nhà với điều đơn giản,
Với hạnh phúc là mẹ của các con.

Ở trong nhà mình mẹ chẳng chức danh,
Ngoài hai tiếng bình thường “Người mẹ”,
Mẹ không thể thuê ai làm điều đó,
Không ai yêu con bằng mẹ yêu con.

Người giúp việc chỉ bồng bế, chăm nom,
Hay nấu cho con bữa cơm ngon miệng,
Nhưng khi con buồn, khi con đau ốm,
Mẹ mới là người lo lắng xót xa.

Nếu phải đánh đổi những lợi danh kia,
Những địa vị mà người đời ngưỡng mộ,
Để con khôn lớn vào đời tử tế,
Mẹ vui lòng làm người mẹ không tên.

Mẹ trí thức hay mẹ bán hàng rong,
Mẹ thành thị hay mẹ quê chân đất,
Mẹ đại gia hay mẹ nghèo xơ xác,
Tình mẹ sông dài biển rộng như nhau.


Nguyễn Thị Thanh Dương.

Vườn Bắp Sau Nhà Ba Mẹ Cho Tôi Trở Về Tuổi Thơ


Sáng nay, một buổi sáng tưởng chừng rất bình thường, nhưng lại "không bình thường"... 

Bảy giờ rưỡi, tôi lái xe đến Costco để thay lốp. Sau khi giao xe lại cho người ta, tôi không vội vàng gọi Uber hay người nhà đến đón mà thong thả đi bộ về nhà ba mẹ. Từ Costco về đến nhà ba mẹ khoảng 30 phút đi bộ. Một đoạn đường không quá xa, nhưng sáng nay lại vô tình trở thành một chuyến đi “ngược dòng thời gian.”

Có những lúc trong cuộc đời, chúng ta không cần một chuyến đi thật xa để tìm lại những điều đã qua. Đôi khi chỉ cần một con đường quen, một mùi hương cũ, hay một hình ảnh rất đỗi bình thường cũng đủ mở cánh cửa ký ức, đưa ta trở về với những năm tháng tưởng chừng như ngủ quên trong ta.

Về đến nhà ba mẹ, trong lúc chờ xe thay lốp, tôi bước ra vườn, phía sau nhà. Vườn nhà ba mẹ mùa này với những luống rau, những cây trái như mướp, khổ qua, bí đao... và những điều thân thương mà chỉ cần nhìn thấy thôi cũng khiến lòng người dịu lại. Rồi, tôi đi qua những hàng bắp đã già với những ngọn bông (cờ) thẳng tắp.

Không hiểu vì sao, hình ảnh những trái bắp nằm nép mình sau những chiếc lá xanh lại khiến lòng tôi chùng xuống. Tôi đưa tay bẻ từng trái bắp, và ngay lúc ấy, một khoảng trời ký ức bỗng nhiên ùa về.

Tôi thấy lại mình của những năm tháng xa xưa, một mình đứng giữa miền ký ức, nơi những cánh đồng, những rẫy bắp và những con đường đất của Lương Sơn, Cát Lợi bỗng hiện về rõ ràng đến lạ. Có những kỷ niệm tưởng rằng đã ngủ yên theo năm tháng, vậy mà chỉ cần một hình ảnh, một mùi hương hay một thoáng nhớ về những trái bắp luộc nóng hổi, cả một khoảng trời tuổi thơ lại ùa về, nguyên vẹn như chưa từng cách xa.

Tôi sinh ra ở thành phố biển Nha Trang, nơi có biển xanh, cát trắng và những con đường đầy nắng. Nhưng sau năm 1975, cuộc sống gia đình tôi có nhiều thay đổi. Mẹ tôi bị nhà trường cách chức vì có chồng là sĩ quan “ngụy”. Từ một người làm việc trong ngành giáo dục ở thành phố, mẹ bị đưa ra Lương Sơn làm “chị nuôi”, lo việc bếp núc, nấu ăn cho các thầy cô giáo nội trú từ thành phố ra dạy học. Gia đình tôi vì thế cũng gắn bó với vùng đất Lương Sơn, một vùng quê khi ấy còn nghèo, yên tĩnh và có những con đường đất chạy dài qua những ruộng bắp, nương rẫy.

Những năm tháng ấy, tôi còn là một cậu học trò nhỏ. Áo quần đơn sơ, chân thường đi đất… chúng tôi không có điện thoại, không có những trò chơi điện tử, không có những hàng quán đầy ắp thức ăn như trẻ con ngày nay. Sau giờ học, điều chúng tôi mong chờ nhất đôi khi chỉ là được chạy nhảy cùng bạn bè, được đạp xe thật xa, được khám phá một nơi nào đó và, đặc biệt, được tìm một thứ gì ngon ngon để ăn.

Tôi nhớ nhất những ngày học lớp 7. Sau buổi học cuối ngày, khi tiếng trống trường vừa vang lên, tôi cùng hai người bạn là thằng Phúc và thằng Thiên lại rủ nhau đạp xe từ Lương Sơn ra Cát Lợi.

Ba đứa chúng tôi khi ấy chẳng có gì đáng giá ngoài những chiếc xe đạp cũ và một tình bạn vô tư. Chúng tôi cứ thế đạp xe trên những con đường quê, gió thổi lồng lộng, bụi đường bay lên phía sau bánh xe. Có những đoạn đường nắng chang chang, cả ba đứa vừa đạp vừa nói chuyện, cười đùa. Có lúc mệt thì dừng lại bên đường nghỉ một chút, rồi lại tiếp tục đi.

Không biết từ bao giờ, những chuyến đi bẻ bắp ấy trở thành một “cuộc phiêu lưu” đối với chúng tôi. Khi đến nơi, ba đứa nhìn những hàng bắp xanh um, những trái bắp nằm nép dưới bẹ lá. Chúng tôi lựa những trái vừa tới, bẻ xuống rồi ôm về. Những trái bắp còn tươi nguyên, bên ngoài có mùi của lá, của đất và của nắng.

Đó đâu phải là một bữa ăn sang trọng. Chẳng có thịt cá, chẳng có bánh kẹo, chẳng có nước ngọt. Chỉ là mấy trái bắp mới bẻ được mang về luộc lên. Vậy mà khi nồi bắp vừa chín, hơi nóng bốc lên thơm phức, cả ba đứa cứ ngồi quây quần bên nồi, đứa nào cũng háo hức.

Có lẽ cái ngon của trái bắp ngày ấy không chỉ đến từ vị ngọt của bắp. Nó ngon bởi vì chúng tôi đã cùng nhau đạp xe một quãng đường dài, cùng nhau bẻ bắp, cùng nhau chờ đợi và cùng nhau chia sẻ. Một trái bắp trên tay bạn bè có khi ngon hơn bất kỳ món ăn nào mà sau này chúng tôi từng được thưởng thức.

Phúc và Thiên, những người bạn của năm lớp 7, có lẽ chẳng bao giờ biết rằng những buổi chiều đạp xe về Cát Lợi năm ấy đã trở thành một phần rất đẹp trong ký ức của tôi.

Sang lớp 8, tôi lại có một người bạn khác là thằng Bảo. Một hôm, Bảo rủ tôi về nhà nó, ở phía sau đường ray xe lửa tại Lương Sơn.

Tôi vẫn nhớ cái cảm giác háo hức của những buổi chiều được bạn rủ đi chơi. Chỉ một câu “về nhà tao chơi” cũng đủ khiến chúng tôi vui cả buổi. Thế là sau giờ học, tôi theo Bảo đi qua khu vực đường ray, rồi về phía nhà nó.

Những con đường ngày ấy khác xa bây giờ. Không gian còn thưa thớt, yên tĩnh. Tiếng xe lửa chạy qua đôi khi làm rung cả một vùng. Đối với những đứa trẻ chúng tôi, mọi thứ chung quanh đều có vẻ rộng lớn và đầy những điều để khám phá.

Và rồi, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về… những trái bắp.

Bảo rủ tôi đi bẻ bắp. Chúng tôi lại tìm những trái bắp vừa ăn được, mang về nhà rồi luộc lên. Có lẽ tôi đã ăn bắp rất nhiều lần trong những năm tháng ấy, nhưng lần nào cũng thấy ngon.

Chúng tôi ngồi cạnh nồi bắp, vừa chờ vừa trò chuyện. Những câu chuyện của tuổi học trò thật đơn giản. Khi thì chuyện thầy cô, chuyện bài vở, chuyện bạn bè; khi thì chẳng có chuyện gì quan trọng cả mà vẫn cứ cười. Đôi khi chỉ cần có một người bạn ngồi bên cạnh là đủ.

Nhìn lại bây giờ, tôi mới hiểu rằng điều chúng tôi cần khi ấy không phải là một món ăn ngon, mà là cảm giác được ở bên nhau.

Rồi đến năm lớp 9, lại có một người bạn khác là thằng Tuấn Pha rủ tôi về nhà nó.

Lúc ấy, tôi đã lớn hơn một chút. Những trò chơi trẻ con bắt đầu ít dần, chuyện học hành cũng nhiều hơn. Nhưng tình bạn thì vẫn vậy. Sau giờ học, chỉ cần một lời rủ rê là chúng tôi lại lên đường.

Tuấn Pha cũng rủ tôi đi bẻ bắp. Tôi không nhớ chính xác chúng tôi đã bẻ bao nhiêu trái, đã đi bao xa hay hôm ấy trời nắng hay mưa. Những chi tiết ấy theo thời gian có thể đã phai mờ. Nhưng tôi vẫn nhớ cảm giác của những ngày ấy: thật tự do, thật bình yên và thật vui.

Tôi có ghi lại câu chuyện bẻ bắp với thằng Tuấn Pha trong cuốn truyện Những Người Bạn Trong Lớp 9AB. Mỗi lần đọc lại những dòng này, tôi như được trở về một buổi chiều xa xưa, khi chúng tôi còn là những cậu học trò lớp 9, hồn nhiên bước đi trên những con đường quê, chẳng nghĩ ngợi gì về tương lai, chỉ biết vui với những gì rất đỗi bình thường chung quanh mình.

Xin được trích lại câu chuyện:

Chúng tôi theo lối mòn nhỏ, đi xuống con dốc. Vừa xuống con dốc nhỏ, một cơn gió nhẹ tạo ra những tiếng rì rào khi cơn gió đi xuyên cánh đồng bắp. Từng hàng bắp đứng thẳng tắp, lá rũ xuống. Những trái bắp thò ra từ các nhánh, tôi tưởng như những khuôn mặt trẻ thơ đang chơi trốn tìm hay những đứa bé đang khép nép sau lưng mẹ. Tia nắng ấm áp chiếu bên vườn bắp, soi rõ khung cảnh xung quanh. Những tàng cây xanh rợp bóng di chuyển từng hồi theo các đám mây trên không. Hai bên đường, ven lối đi, những bụi cỏ mắc cỡ có chùm hoa tím tí xíu cũng tranh thủ khoe với đàn bướm trắng nhởn nhơ. Tôi nghịch chân, đá vào những cánh lá xanh. Chúng xếp lại nằm im khi tôi chạm vào.

Khi đi qua khỏi cánh đồng bắp, chúng tôi đến một cái giàn với rất nhiều trái bầu, trái mướp, treo lủng lẳng. Phía sau giàn mướp giàn bầu là căn chòi nhỏ có cái võng và cái giường tre. Tuấn gọi lớn vào trong:
- Bố ơi... Bố...
Không thấy tiếng trả lời. Tuấn lẩm bẩm:
- Chắc bố đi ra suối.
Tuấn nói với tôi:
- Chắc bố tao ở ngoài suối. Ði theo tao.
Tôi đi theo sau Tuấn, đến bên con suối nhỏ. Nước suối trong veo thấy cả những viên đá cuội dưới lòng suối. Tuấn đưa mắt nhìn quanh con suối tìm bố, nhưng không thấy ai. Tuấn lại lẩm bẩm:
- Không có trong chòi, cũng không có ngoài suối. Không biết bố đi đâu nhỉ?
- Hay là có khi nào bố mày ngoài đám bắp không? Hồi nãy tao nghe má mày nói bố mày bẻ bắp để chiều đem ra chợ bán.
- Ờ... Chắc vậy. Thôi mình đi qua đám bắp bên kia.
Bên rẫy bắp, một người đàn ông mặc áo dài tay, đội mũ tai bèo đang bẻ bắp bỏ vào gùi. Thấy người đàn ông, Tuấn gọi:
- Bố...
Người đàn ông nghỉ tay, quay lại nhìn chúng tôi. Tuấn chỉ qua tôi rồi giới thiệu:
- Thằng Nam, bạn của con. Còn đây là bố mình.
- Dạ con cháu chào chú.
- Chào cháu.
Ông quay sang Tuấn nói:
- Phụ bố hái ngô để bố đốn cho sạch...
- Dạ.

Chúng tôi phụ bố của Tuấn bẻ bắp, bỏ vào gùi. Trước khi rời khỏi vườn bắp, Tuấn bẻ vài ngọn cờ bắp khô, dùng làm phao để tí nữa chúng tôi câu cá rô. Tuấn vác gùi bắp lên vai đi về căn chòi.

(Những Người Bạn Trong Lớp 9AB, trang 145-146)

Có lẽ tuổi thơ là như vậy. Hạnh phúc đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao, chỉ là một trái bắp nóng trên tay, một người bạn bên cạnh và một buổi chiều vô tư, không phải bận tâm đến ngày mai. Ngày ấy, chúng tôi sống trong những năm tháng còn nhiều thiếu thốn, chẳng có những cửa hàng tiện lợi, những món ăn vặt đủ loại hay những thức quà dễ dàng mua được như trẻ con hôm nay. Cái nghèo hiện diện trong từng căn nhà, từng bữa cơm và cả trong những bộ quần áo đơn sơ của chúng tôi. Thế nhưng, chính giữa những thiếu thốn ấy, chúng tôi lại tìm thấy những niềm vui rất đỗi giản dị. Những trái bắp vừa bẻ ngoài rẫy, nồi bắp luộc thơm phức, chiếc xe đạp cũ, con đường đất đầy nắng và những người bạn cùng trang lứa…

Đối với chúng tôi khi ấy, những trái bắp chẳng khác gì một món cao lương mỹ vị. Một trái bắp ngọt cũng đủ làm cả đám trẻ cười nói vui vẻ, còn một nồi bắp nóng hổi có thể trở thành một bữa tiệc nhỏ của tuổi thơ. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu rằng chúng tôi đâu chỉ ăn những trái bắp, chúng tôi đã cùng nhau tận hưởng cả một phần tuổi thơ; những buổi chiều tự do, những tiếng cười trong trẻo, tình bạn vô tư và những ngày tháng chưa biết đến khoảng cách, chia ly hay những đổi thay của cuộc đời.

Phúc và Thiên của năm lớp 7, Bảo của năm lớp 8, Tuấn Tuấn Pha của năm lớp 9, mỗi người đến với tôi trong một khoảng thời gian khác nhau, nhưng tất cả đều để lại một dấu ấn không thể phai mờ. Có thể hôm nay mỗi người đã đi một con đường riêng, những khuôn mặt và câu chuyện năm nào có thể đã dần xa khỏi trí nhớ, nhưng những buổi chiều đạp xe, những rẫy bắp xanh ngát và những nồi bắp luộc nóng hổi thì vẫn còn nguyên trong tôi.

Ký ức thật lạ, nó không giữ lại tất cả những gì đã xảy ra mà chỉ âm thầm cất giữ những hình ảnh rất nhỏ bé… con đường quê, rẫy bắp, chiếc xe đạp cũ, tiếng bạn gọi tên mình, một nồi bắp đang sôi và một buổi chiều đã cách xa hàng chục năm. Chính những điều tưởng như bình thường ấy, khi nhìn lại, lại trở thành những điều quý giá nhất của một đời người.

Ngày ấy, chúng tôi đâu biết mình đang sống trong những tháng ngày đẹp nhất. Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ nghèo, vô tư tìm niềm vui trong những gì cuộc sống ban tặng. Chúng tôi cũng không thể biết thời gian sẽ trôi nhanh đến thế, rằng rồi sẽ có ngày những con đường quen thuộc đổi thay, những rẫy bắp ngày xưa không còn nữa, và những người bạn từng cùng mình rong ruổi mỗi buổi chiều sẽ trở thành những cái tên nằm sâu trong ký ức.

Bởi giờ đây tôi đã hiểu, có những điều khi còn nhỏ chúng ta tưởng là rất đỗi bình thường, nhưng sau cả một đời mới nhận ra đó chính là những điều quý giá nhất. Những trái bắp của ngày xưa đã không còn, những con đường tuổi nhỏ có thể cũng đã đổi thay, nhưng tình bạn, tiếng cười và những mùa bắp của tuổi thơ vẫn còn ở lại trong một góc sâu thẳm của tâm hồn.

Con người thường kỳ lạ như vậy. Khi còn nhỏ, ta mong lớn lên thật nhanh để thoát khỏi những khó khăn. Khi trưởng thành, ta lại quay về tìm kiếm những hình ảnh của ngày xưa. Ðó không phải vì muốn trở lại cái nghèo, mà vì nhớ sự bình yên, nhớ sự chân thành, nhớ những niềm vui nhỏ bé mà cuộc sống hiện đại đôi khi đã làm ta quên mất.

Hôm nay, tôi lại bẻ bắp. Nhưng lần này, tôi không còn là cậu bé 12 tuổi ngày nào nữa. Tôi đã là một người đàn ông đi qua nhiều chặng đường của cuộc đời, đi qua bên kia ngọn đồi (sắp 50 rồi đó nha). Tôi đã hiểu rằng giá trị của một món ăn không nằm ở giá tiền của nó, mà nằm ở câu chuyện phía sau….

Tôi bẻ khoảng một chục trái bắp, đem vào nhà luộc để ăn cùng ba mẹ. Trong lúc chờ bắp chín, chúng tôi ngồi trò chuyện. Những câu chuyện chẳng có gì lớn lao, chỉ là những chuyện đời thường, những chuyện gia đình, những chuyện hôm nay và chuyện ngày xưa. Nhưng chính những giây phút giản dị đó lại là những món quà quý giá nhất.

Mùi thơm quen thuộc của bắp chín lan ra trong căn bếp. Tôi cầm trái bắp nóng trên tay, cắn từng miếng chậm rãi. Tôi ăn một lúc ba trái, bụng no căng mà lòng lại thấy nhẹ nhàng, vui vẻ.

Tôi không chỉ ăn những trái bắp của ngày hôm nay. Tôi đang tìm lại hương vị của tuổi thơ. Tôi đang tìm lại hình ảnh những buổi chiều năm cũ, khi mấy đứa trẻ nghèo chạy trên con đường quê, khi niềm vui chỉ đơn giản là có được vài trái bắp mang về chia nhau. Tôi đang nhớ những người bạn năm xưa, nhớ vùng đất Cát Lợi, nhớ một thời tuy khó khăn nhưng đầy ắp tình người.

Cuộc sống hôm nay đã khác rất nhiều. Chúng ta có nhiều hơn những gì ngày xưa từng mơ ước. Nhà cửa to hơn, rộng rãi hơn, phương tiện đầy đủ hơn, thức ăn phong phú hơn… Nhưng đôi khi, (giữa những bộn bề của cuộc sống,) chúng ta lại đánh mất khả năng cảm nhận niềm vui từ những điều rất nhỏ. Một bữa ăn sáng bên cha mẹ. Một cuộc trò chuyện không vội vàng. Một trái bắp vừa hái từ vườn. Hay một ký ức bất chợt trở về... Những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy lại chính là những viên ngọc quý mà thời gian càng trôi qua càng trở nên vô giá.

Ăn xong, mẹ chở tôi trở lại Costco lấy xe. Rồi, tôi lái xe đến chỗ làm, tiếp tục công việc thường ngày...

Thành phố Richmond vẫn đông đúc, dòng xe vẫn hối hả, cuộc sống vẫn tiếp tục trôi. Nhưng trong lòng tôi hôm nay có thêm một niềm vui rất riêng; đó là những trái bắp nếp dẻo nho nhỏ đã mang tôi trở về một vùng trời ký ức.

Hôm nay, khi đã đi qua biết bao chặng đường của cuộc đời, tôi mới hiểu rằng điều quý giá nhất không phải là những gì đã mất, mà là những điều vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức. Vườn bắp ấy không chỉ là một góc vườn của ba mẹ, mà còn là một phần tuổi thơ, một phần quê hương và cũng là một phần cuộc đời tôi. Chính từ những cảm xúc lặng lẽ ấy, bài thơ "Vườn Bắp Sau Nhà Ba Mẹ" được viết như một lời tri ân dành cho quê hương, cho gia đình và cho những năm tháng hồn nhiên không bao giờ có thể trở lại.

Vườn Bắp Sau Nhà Ba Mẹ

Sáng nay về đến vườn nhà,
Thấy hàng bắp cũ, thấy ta thuở nào.
Lá xanh khẽ chạm lao xao,
Gọi về ký ức ngọt ngào tuổi thơ.

Mười ba tuổi, chuyện ngày xưa,
Cùng Thiên và Phúc buổi trưa học về.
Đạp xe qua những triền đê,
Bẻ vài trái bắp đem về luộc ăn.

Ngày xưa thiếu thốn khó khăn,
Dăm ba trái bắp sánh bằng cao lương.
Tuổi thơ nghèo khó đoạn trường,
Biết bao kỷ niệm yêu thương thuở nào.

Ngày nay tuổi cũng đã cao,
Tóc pha sương trắng, biết bao đổi dời.
Nhìn hàng bắp cũ bên đời,
Nghe bao ký ức gọi mời tuổi thơ.

Sau nhà vườn bắp đơn sơ,
Cho tôi gặp lại giấc mơ một thời.
Dù mai đi khắp muôn nơi,
Trong tim vẫn giữ một trời quê hương.


Y Thy Võ Phú
080426-Richmond một chiều mưa

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Vu Lan Tìm Bóng Mẹ - Thơ: Lê Nguyễn Nga - Giọng Ngâm: Yên Sơn

Thơ: Lê Nguyễn Nga
Giọng Ngâm: Yên Sơn

Nhớ Mẹ

 

Con lớn lên trong vòng tay mẹ,
Mẹ nghẹn ngào, nước mắt tiễn đưa!
Làm trai giữa lúc gió mưa,
Kề vai chung gánh trong mùa chiến chinh.

Chiều nay giữa đồi núi chênh vênh,
Lá rừng xào xạc, bước chân ngậm ngùi!
Phương trời… mây gió xa xôi,
Con nhìn thấy MẸ đang ngồi song thưa.

Mẹ ơi, nước mắt chiều mưa,
Tóc mây mẹ đã ĐỔI sang màu hoa râm.
Nhớ thương, tim mẹ thì thầm,
Mong con trả nợ NGHĨA ÂN cho đời!

Nơi đây, rừng sâu, hố thẳm chơi vơi,
Đèo heo hút gió, nhớ lời mẹ khuyên!
Quê nghèo, cực khổ truân chuyên,
Con càng vững dạ, LỜI NGUYỀN khắc ghi!

Bước chân đi sỏi đá thầm thì,
Nhạc rừng réo rắt, suối đèo bạn thân!
Đại dương sóng vỗ ẵm bồng,

Trường sơn ve vuốt, xóm thôn reo hò!

( Tấm lòng Quân Lính VIỆT NAM nhớ MẸ)
Tô Đình Đài

Công Đức Sanh Thành

( Ảnh: Tác Giả)

Chẳng phải một ngày nhớ Mẹ Cha
Ngàn năm tưởng niệm Mẹ cùng Cha
Áo cơm bữa bữa gầy thân Mẹ
Đèn sách đêm đêm mỏi mắt Cha
Giáo dục vuông tròn công đức Mẹ
Răn đe mẫu mực tấm lòng Cha
Non cao biển rộng làm sao sánh
Ơn Nghĩa sinh thành của Mẹ Cha.

Nguyễn Thành Tài

Trăng Rằm Vu Lan



(Nhị Thủ-Thủ nhất thanh)

TRĂNG Rằm Tháng Bảy sáng nơi đâu
TRĂNG dõi duyên xưa lại vọng cầu
TRĂNG chứng tình cha như biển rộng
TRĂNG lồng nghĩa mẹ tợ sông sâu
TRĂNG soi rọi thức thêm huyền diệu
TRĂNG giữ gìn tâm tựa phép mầu
TRĂNG lắng nghe lời con khẩn nguyện
TRĂNG đang khuyên nhủ dứt ưu sầu

TRĂNG xưa hạnh phúc có còn đâu
TRĂNG rực vầng quang dưới bến cầu
TRĂNG đợi Ngưu Lang hồn trống vắng
TRĂNG chờ Chức Nữ mắt thâm sâu
TRĂNG vàng tưởng Mẹ môi phai sắc
TRĂNG sáng thương Cha tóc ngã màu
TRĂNG chở dùm con ngàn nỗi nhớ
TRĂNG Vu Lan chiếu chỉ thêm sầu

ThanhSong ntkp


Lễ Vu Lan Chùa Thiên Trúc


Ngôi Chùa Thiên Trúc tiệc chay
Vu Lan lễ hội đẹp ngày nắng tươi
Hoa sen nở rộ tâm người
Lòng nghe thanh thản nụ cười từ bi.

Vu Lan nhớ những điều gì
Mục Kiền Liên tỏ hiếu vì mẹ yêu
Bài kinh thấm đẫm những điều
Nhắc mình phụng dưỡng đến nhiều song thân.

Công ơn dưỡng dục cao tầng
Hy sinh vất vả muôn phần vì con
Để dành các thức ăn ngon
Con đau người thức mỏi mòn đêm thâu.

Đội mưa phơi nắng dãi dầu
Không nề gian khổ nhiệm mầu tình thương
Mẹ là bóng mát che đường
Là vòng tay ấm thơm hương sữa ghiền.

Cài hoa tưởng nhớ mẹ hiền
Dầu người đã bước về miền tịnh an
Bài ca dâng hát lời vàng
Tri ân phụ mẫu nhẹ nhàng đầu thu.

Gặp bè gặp bạn đồng tu
Vui cùng ánh đạo xóa mù lầm mê
Hoàng hôn tuổi hạc gần kề
Sắc Không, Không Sắc lối về thênh thang.

Minh Thúy Thành Nội
Tháng 8/16/2026


Nợ Trần - Một Chữ Hiếu Viết Giữa Cali Ngày Hè


Nhân mùa Vu Lan báo hiếu

Tôi gặp người con gái đó vào một ngày tháng 7 năm 2017 ở Cali. Giữa hè mà buổi trưa hôm ấy vẫn còn ẩm ướt hơi mưa từ đêm hôm trước.

Em có hai bằng đại học, đều tốt nghiệp loại ưu (honor). Em có thể chọn một con đường khác, rực rỡ hơn rất nhiều ở nước Mỹ. nhưng em đã chọn ở nhà để chăm sóc Mẹ suốt 20 năm dài đằng đẵng.
Mẹ em sau một cơn cao huyết áp đã không còn nói được, không còn tự chủ được mình. Hỏi bà biết ai không, bà chỉ gật hay lắc. Và người duy nhất trên đời này đọc được cái gật, cái lắc đó là con gái của bà
Khi nhìn cuộc đời em mòn dần đi với thời gian, lòng tôi đau quặn lại. Tôi đã xúc cảm viết trong bài thơ của mình:

Anh khép những yêu thương xin làm kẻ khất hành
Đọc như thuộc những câu kinh để đổi thay số phận
Để đau khổ này mong lấy bớt cho em
Đánh đổi lại cho em thêm hạnh phúc

Lúc đó, tôi chỉ muốn mình được làm một kẻ hành khất, đi xin, đi đổi, đi đọc kinh cầu nguyện, để đánh đổi lấy cho em một chút hạnh phúc. Vì cuộc đời em nhìn từ bên ngoài vào thật quá đau thương.
Nhưng sau này tôi mới hiểu, tôi đã lầm.

Em cảm thấy thật sự hạnh phúc khi được báo hiếu cho mẹ. Đó là lựa chọn của em không phải là gánh nặng ai bắt buộc. Trong 20 năm ấy, ngoài mẹ ra, em không hề yêu ai khác được nữa. Tất cả Tình yêu em đã dành trọn cho người Mẹ thân yêu.
Có một điều làm tôi xót xa đến tận bây giờ, khi em mất vào tháng 12 , đúng vào mùa Noel năm đó, em từng mơ ước được làm chiếc lá phong đỏ trên cây thông. Em ra đi mà chưa một lần nếm mùi trái cấm tình yêu. Em chưa từng được ai yêu, và cũng chưa từng cảm thấy yêu ai ngoài mẹ.

Một người phụ nữ trinh nguyên suốt cuộc đời, trong cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong trắng vì chưa từng yêu ai, và trong trắng vì đã dâng trọn cuộc đời mình cho chữ Hiếu.

Vì một chữ mà bản thân em còn vướng:
"Nợ trần này... em biết trả sao anh?"

Chữ đó là chữ HIẾU. Em đã trả nó không phải bằng nước mắt, mà bằng hạnh phúc của chính mình. Em đã thật hạnh phúc khi được trả.

Em đã giấu cả mùa đông vào trong tóc
Để mái tóc dài vội sớm điểm sương

20 năm mùa đông đó, em không hề thấy lạnh. Vì em được sưởi ấm bằng tình thương dành cho mẹ.

Rồi bàn tay chai sần lại giấu sâu vào vạt áo
Sợ anh nhìn thấy, anh lại xót xa thêm..

Em đã che giấu đi, không phải vì khổ, mà vì sợ người khác xót xa cho mình. Em vẫn chỉ nghĩ cho người khác đến tận phút cuối cùng.
Trước lúc mất, em nói em muốn làm lá phong đỏ mãi trong cây thông Noel. Một giấc mơ quá nhỏ bé , rất giản dị và thật dễ thương. Nhưng làm sao thực hiên được ? và em đã ra đi...
Tôi đành viết cho ước mơ của em:

Nếu có kiếp sau xin được làm chiếc lá
Rụng xuống vai anh... hết lạnh... hết buồn...

Nếu kiếp này em đã là một chiếc lá trinh nguyên, chưa từng đậu lên vai ai, thì xin kiếp sau, em vẫn cứ là một chiếc lá, nhưng được một lần rụng xuống vai một người yêu thương em, để biết thế nào là được yêu, và tình yêu sẽ sưởi ấm cho em hết lạnh, hết buồn.
Em mất tháng 12, bác gái cũng mất 2-3 tháng sau đó. Hai Mẹ con đi cùng nhau, như món nợ trần đã trả xong.

Tháng 7 Vu Lan lại về. Người ta nói nhiều về báo hiếu. Nhưng có mấy ai hiểu, báo hiếu đôi khi không chỉ là mâm cao cỗ đầy, mà là dám sống một cuộc đời như em, một cuộc đời tất cả dành cho Mẹ, ngoài mẹ ra không còn ai khác nữa.

Xin thắp một nén nhang cho em với giấc mơ lá phong đỏ, người đã có niềm hạnh phúc theo sự hy sinh cao cả và đẹp nhất mà khó ai có thể làm theo được.

 


Nợ Trần
(Nguyên văn bài thơ)

Em đã giấu cả mùa đông vào trong tóc
Để mái tóc dài vội sớm điểm sương
Và em giữ những thổn thức ở trong tim
Làm trái tim em đập nhanh hơn người khác

Anh sống bên em lặng lẽ tháng ngày
Nhìn người phụ nữ mình yêu mòn dần với thời gian
Lòng đau quặn như mỗi khi trở gió
Sao có thể chắn cho em bóng xế đêm về

Em đã hy sinh tất cả bản thân mình
Đếm bằng những sợi tóc rụng dần khi chải
Vì một chữ mà bản thân em còn vướng:
"Nợ trần này... em biết trả sao anh?"

Anh khép những yêu thương xin làm kẻ khất hành
Đọc như thuộc những câu kinh để đổi thay số phận
Để đau khổ này mong lấy bớt cho em
Đánh đổi lại cho em thêm hạnh phúc

Có những chiều em soi mình trong gương
Thấy mắt sâu quầng, nhuộm bởi đau thương
Tự hỏi rằng người con gái năm xưa hồi ấy
Đã bỏ em đi tự... lúc nào

Em đã thôi mơ về những chân trời
Chỉ ước được một chiều ngồi yên tĩnh lặng
Rồi bàn tay chai sần lại giấu sâu vào vạt áo
Sợ anh nhìn thấy, anh lại xót xa thêm..

"Thôi anh ạ, nợ này em phải trả,
Bằng chính chênh vênh phần số của em
Nếu có kiếp sau xin được làm chiếc lá
Rụng xuống vai anh... hết lạnh... hết buồn..."

Tuấn Đặng
Viết cho một người rất quí mến ở Cali - Tháng 7/2017

Thơ: Kim Vũ, Phối Nhạc & Trình bày: AI


Bông Hồng Cài Áo Mùa Vu Lan 2026


(Xin chúc mừng những ai còn Mẹ. Xin được chia sẻ với những ai không còn Mẹ)

Tháng Bảy, năm 2008. Tôi về Sài Gòn thăm mẹ tôi đang bệnh nặng. Lần này, tôi cố gắng dành thời giờ đi thăm nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Ông là một nhạc sĩ mà tôi ngưỡng mộ qua các bài hát của ông sáng tác như : Bóng Mát, Đan Áo Mùa Xuân, Nắng Lên Xóm Nghèo, Những Ngày Xưa Thân Ái, Tóc mây, Trăng Tàn Bên Hè Phố…

Tôi chưa một lần gặp mặt nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Tôi chỉ được nghe tên ông thôi! Phải mất hơn hai ngày tôi mới tìm ra nhà của ông, sau khi đã thăm hỏi nhiều nơi. Đó là một căn phòng nhỏ, nằm trên lầu một, phòng P11, thuộc Cư Xá Vĩnh Hội, Quận Tư.

Nhìn ông nằm trên giường bệnh, dáng điệu uể oải, mệt mỏi. Tôi thấy xót xa vô cùng. Tôi hỏi thăm cô giáo Trần Thị Lý, là vợ nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ “nguyên nhân nào đã khiến ông bị như thế.!” Cô cho biết là nhạc sĩ bị stroke tất cả ba lần. Từ đó một phần cơ thể bị liệt. Ông nằm một chỗ từ lâu rồi và việc chữa trị rất tốn kém. Cô hỏi: Tôi có quen nhạc sĩ trước không? Tìm nhà có dễ không?”Tôi nói với cô là tôi rất yêu thích các nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sáng tác. Đặc biệt, một bài hát về Mẹ rất quen thuộc thường được hát trong dịp lễ Vu Lan và Mother’s Day. Đó là Bông Hồng Cài Áo, phổ từ ý thơ của Thầy Nhất Hạnh được nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sáng tác khoảng năm 1963-1964. Vì thế bằng mọi cách, tôi phải tìm gặp cho bằng được Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ để thăm ông.

Hôm nay, may mắn có cơ duyên gặp được nhạc sĩ. Một điều hạnh phúc lớn cho tôi. Tôi ngỏ ý xin phép cô Lý được chụp hình chung với nhạc sĩ, để làm kỷ niệm. Sau vài phút đắn đo suy nghĩ. Cô Lý đã đồng ý. Cô nói với tôi “Từ khi nằm trên giường bệnh đến nay, nhà tôi chưa bao giờ chụp hình với ai lần nào!” Tôi cảm ơn cô đã cho phép. Tôi nghĩ, có lẽ đây là một trường hợp ngoại lệ dành cho tôi, một người từ phương xa, chưa hề có quan hệ thân quen với nhac sĩ? Tôi chỉ là một người hằng ái mộ ông, giống như bao nhiêu người khác.

Ngày 16 tháng 01, năm 2009. Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ đã ra đi vĩnh viễn ở tuổi 79, sau những năm tháng triền miên bệnh hoạn. Khi nhận được tin ông mất, lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Thôi! cũng xong một kiếp người.

Ông đã trở về cõi vĩnh hằng, thoát những cơn đau hành hạ về thể xác, để nhìn thấy Nắng Lên Xóm Nghèo, nơi đó có Bóng Mát của Những Ngày Xưa Thân Ái và những Bông Hồng Cài Áo rực rỡ vào mùa Vu Lan dành cho những ai hạnh phúc, còn có MẸ ở trên đời.

Xin nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ nhận nơi đây lòng trân quý của tôi, một người may mắn gặp ông và có được hình chụp chung với ông, trước khi ông đi về miền miên viễn.
Xin vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ trong vô vàn thương tiếc. Cầu chúc ông được an nghỉ nơi chốn bình an. Nơi không còn những phiền muộn, khổ đau của thế thái nhân tình.

Trần Đình Phước
(San José, California)

Xin mời nghe bài hát “Bông Hồng Cài Áo”
Ý Thơ : Thầy Nhất Hạnh - Nhạc: Nhạc Sĩ Phạm Thế Mỹ - Hát:Trần Đình Phước


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Kiếp Sau Xin Vẫn Làm Con Ba - Ý Văn: Tố Kim - Nhạc & Hướng Dẫn AI: Võ Tá Hân

Thơ Tố Kim
Nhạc Võ Tá Hân

Hoài Niệm Vu Lan

 

Miền đất đó cơ hồ đã định
Một lần thôi miên viễn lìa xa
Bụi trần phủ lấp thiên thu đã
Cô tịch nội đồng năm tháng qua

Báo hiếu Vu Lan mùa rộn rã
Thiên đường kia mở ngõ bình yên
Nghiêng mình che lệ vùi tang tóc
Nắng xế tìm đâu bóng dáng hiền

Hoa trắng đó thay lời tiễn biệt
Cơi đèn khuya thắp nén tâm hương
Nghìn thu sau vẫn y niềm nhớ
Hoài niệm nẻo về bước viễn phương


Kim Phượng
Vu Lan 2026

Đẹp Sao!

 

Tình Cha nghĩa Mẹ đẹp sao
Mẹ thao thức hát ca dao canh tàn
Gian lao khổ nhọc Cha mang
Mong con hạnh phúc vô vàn giấc say!
Vu Lan con có từng ngày
Công ơn dưỡng dục con hoài khắc tâm
Nguyện cầu theo nến hương trầm
Lời con tha thiết thì thầm đêm nay!

Kim Oanh
Vu Lan 2026

Lời Cho Ba

 
 
Dù Ba trẻ hay già
Muôn đời Ba của con
Tình cao như núi non
Con ngàn đời kính trọng

Tình thương trãi mênh mông
Chỉ thấy qua hành động
Ít bày tỏ tấm lòng
Cả một đời sáng trong

Vẹn trung với non sông
Trọn hiếu với từ thân
Với bà con xa gần
Luôn ân cần hòa nhã

Ba vất vả một đời
Cho mái ấm an ngơi
Để gia đình hạnh phúc
Nghĩa tình quá ba ơi

Cám ơn ba thật nhiều
Ba yêu của chúng con
Nhớ thương và hãnh diện
Được làm con của Ba

Kim Trúc
 

Ngày Của Cha



Hôm nay ngày của Cha
Cảm ơn vợ hiền đã cùng ta
Chăm sóc đàn con khôn lớn
Lớn thì có lớn
Nhưng khôn… chưa chắc đã khôn!
Trong cảm xúc ngậm ngùi,
Nhớ về người Cha quá cố,
Trên bước đường đời gian khổ
Giữa biển cả mênh mông
Ta mới hiểu rằng
Lòng Cha lòng Mẹ
Sâu thẳm hơn cả biển Đông!

Bá Dĩnh
(21.6.2026) 
 

Vu Lan Nhớ Mẹ

 

Mùa vu lan con nhớ Mẹ hiền
Cùng trời cuối đất cõi non tiên
Hai mươi ba năm Mẹ xa vắng
Mà hình bóng Mẹ mãi trong tim.
Con nhớ ngày xưa mắt Mẹ buồn
Đà Lạt sương mù gió mưa tuôn
Một đời vất vả nuôi con trẻ
Không một lời than, chẳng tiếng hờn
Tám mươi lăm tuổi Mẹ ra đi
Rừng thông già cúi mặt sầu bi
Sương giăng kín nẻo vườn hoa cũ
Con không về - bạt cánh chim di
Chiều nay giá buốt lạnh qua thềm
Cánh hồng màu trắng cài lên tim
Nghe chuông chùa vọng con thầm ước
Ngồi ngắm dung nhan dáng Mẹ hiền

Mẹ ở cao vời - cõi tịnh không
Con hằng lạc lối giữa mênh mông
Vẫn thấy ngày nào nơi đất lạnh
Mẹ ngồi hong tóc nắng vàng hanh
Con nay tóc bạc trắng mây trời
Thấm sâu tình mẫu tử Mẹ ơi
Muốn nói một lời thương Mẹ quá
Nhưng Người đã khuất nẻo xa xôi
Chiều nay con thắp nén tâm hương
Dâng Mẹ nơi xa chốn Phật đường
Cầu hương linh Mẹ hằng thanh tịnh
An nhiên tự tại hết sầu vương
Câu thơ gửi Mẹ mùa vu lan
Nhờ gió mang lên chốn mây ngàn
Tịnh độ niết bàn dâng cho Mẹ
Vơi niềm khắc khoải lúc thu sang…

Phong Châu
Vu Lan 2026

Chuyện Người Cha Nhân Mùa Báo Hiếu


Mùa Thi

Ngày tôi thi tú tài, ba đạp xe hơn chục cây số, chờ tôi ngoài trường thi cả buổi, cốt để hỏi:
– Con làm bài tốt không?
Sợ ba nhọc lòng, tôi nói:
– Ba chờ ngoài này, có khi con lại lo, không làm bài được.
Buổi thi cuối, ra cổng không thấy ba, hỏi chú Bảy còi:
– Ba con có đến không?
Chú đưa tay chỉ cây bàng phía xa mươi mét bảo:
– Ổng ở đằng kia, tao biểu đến ổng không chịu.

Hai Ngàn

Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi. Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba…
Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi: “Có dư đồng nào không con?”. Tôi đáp: “Còn dư bốn ngàn ba ạ.” Ba nói tiếp: “Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa.” Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng…
Do một người Bạn Sưu Tầm

Nặng Gánh Đời Ba

Cả đời ba dông ruổi
Tất tả kiếp ngược xuôi
Giọt mồ hôi tuôn rơi
Chắc thêm lớp da Người
Để đàn con thơ dại
Được ấm áo no cơm...
Nước mắt ba từng chảy
Trong ê chề nhẫn nhục
Cho cả nhà hạnh phúc...
Máu ba bao lần đổ
Đổi lấy sự an lành
Trong loạn lạc chiến tranh...
...và chúng con đã lớn.
Những gánh nặng Ba ơi
Công ơn tựa biển trời
Chúng con khó thể quên
Nay mùa vu lan đến
Ngậm ngùi ngồi nhớ ba
Nén nhang với lòng thành
Từ cõi trên vô định
Ba mãi mãi an bình...

Huỳnh Hữu Đức


Mẫu Tử Tình Thâm


Thời gian nhuộm mái tóc má, giờ trắng phơ như mây trời. Tháng năm xóa đi sự tươi trẻ, làn da nay in đậm những dấu ấn nhăn nheo. Đôi mắt má không còn trong như lúc thanh xuân mà đã mờ nhạt màu mây. Mình đau xương nhức, đi đứng liêu xiêu…

Mỗi lần nói chuyện với má, ánh mắt má xa xăm diệu vợi như lạc vào cõi hư vô. Giờ má nói chuyện như một cái máy thâu sẵn, nhớ đâu nói đó, chuyện nọ xọ chuyện kia. Căn bệnh mất trí nhớ của người già đã làm cho má không còn ý thức được nội dung câu chuyện. Má chỉ nói theo ký ức còn lưu giữ trong tâm thức. Dường như tất cả những người già đều sống nhiều với dĩ vãng hơn là hiện tại. Má cũng thế, kể cũng lạ, chuyện trước mắt thì không nhớ mà chuyện từ xa xăm lại không quên. Điều này chứng tỏ bệnh lú lẫn của người già không thể xóa hết những ký ức cũ, ký ức cũ chính là “chủng tử” lưu trong A lại da thức. A Lại Da thức còn được gọi là hàm tàng thức, nghĩa là cái kho cất giữ lưu chứa tất cả những niệm của con người, có thể là niệm của một đời, niệm nhiều đời. Cái kho ấy chứa tất cả những hạt giống thiện, ác, trung tính của mỗi con người.

Khoa học nói: “Năng lượng không tự sinh ra và cũng không mất đi mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Ví như điện có trong than đá, dầu lửa, nước, gió…Con người chế ra những máy móc để “bắt” được nguồn điện và dùng điện vào sản xuất hay sinh hoạt của đời sống. Dòng điện khi được xài thì nó sẽ chuyển thành nhiệt năng, cơ năng… chứ nó đâu có mất đi. Con người ta cũng thế, khi thân xác này tan hoại nhưng những ký ức từ A lại da thức đâu có mất đi, nó sẽ chuyển biến từ dạng thức sống này sang dạng tức sống khác, hình tướng khác…cũng như dòng điện chuyển từ dạng này sang dạng khác. Dòng điện vốn không có sẵn nhưng vẫn hiện hữu trong gió, nước, than đá. Sự sống sanh ra nhưng thật là không sanh, sự sống mất đi nhưng thật chẳng mất mà chỉ chuyển từ thân này thành thân khác. Cơ chế hoạt động của tâm thức rất vi diệu, khoa học hiện đại cũng không làm sao biết được cho dù có dùng đến những phương tiện máy học hiện đại như điện não đồ hay các loại máy móc tinh vi nhất. Khoa học chỉ có thể nói mất trí nhớ là do những tế bào thần kinh chết đi mà những tế bào mới sanh ra không bù đắp được. Không thể biết trước khi về già ai sẽ minh mẫn đến phút cuối hay ai sẽ bị bệnh mất trí nhớ.

Mới một năm trước, má còn khỏe mạnh và minh mẫn, vậy mà giờ như thế này! Thân xác tiều tụy, tinh thần trống vắng, nhớ nhớ quên quên. Thời gian xây dựng nên rồi thời gian tàn phá đi tất cả. Căn bệnh mất trí nhớ chẳng phụ thuộc vào giới tính, chủng tộc hay đẳng cấp xã hội. Tổng thống Ronald Reagan vốn là một tài tử nổi tiếng, một tổng thống hùng mạnh. Ronald Reagan là người cực phẩm nhân gian ấy vậy mà khi về già cũng bị mất trí nhớ suốt mười năm cuối đời.

Má giờ nhớ nhớ quên quên, lãng đãng như mây mù, như sương khói. Má không còn cảm giác buồn, vui, sướng, khổ… vậy là hết khổ chăng? Không, chính sự không còn biết khổ ấy cũng là một nỗi khổ của kiếp người, cái khổ của bệnh già, bệnh mất trí nhớ. Má đang chịu sự khảo nghiệm của cái già, cái bệnh…thân thể bị bào mòn bởi sự chuyển dịch vô thường, tâm trí mờ nhạt dần vì quy luật sanh – diệt. Má đang ở vào giai đoạn cuối của quy trình sinh – lão – bệnh – tử. Con thương má, thương nhiều lắm nhưng cũng chẳng thể làm được gì hơn, thật sự bất lực trước sự đau khổ của má. Má với con không chỉ khổ vì sanh – lão – bệnh – tử mà còn khổ vì ái biệt ly. Hơn mấy mươi năm sống xa cách nhau, thỉnh thoảng mới có dịp được về ôm má một cái rồi lại ra đi. Nửa vòng trái đất là một khoảng cách ngăn trở vô cùng lớn, nhất là đối với những người kém phước như má và con. Con thương má, muốn báo hiếu nhưng hoàn cảnh như thế này thì không làm gì được. Con ước mơ nhỏ nhoi mỗi chiều dắt má đi dạo một quãng đường cũng không làm được. Con vẫn luôn nghĩ về má, nhớ má, thương má vô cùng!

Ngày xưa con nằm trong bụng má chín tháng mười ngày. Ngày xưa má cho bú mớm, nuôi dưỡng, chăm lo ăn học đến hai mươi năm ròng…vậy mà giờ má già, má bệnh thì con ở tận chân trời xa diệu vợi không thể gần gũi chăm nom má. Thế mới biết “Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng/con nuôi cha mẹ tính tháng kể ngày”.

Con đọc sách, viết sách nên ít nhiều cũng biết về chữ hiếu, ấy vậy mà giờ con là kẻ bất hiếu! Thế mới biết từ lý thuyết đến thực hành có một khoảng cách rất xa. Con vốn bất tài vô tướng, sinh ra chỉ là một bị thịt, tháng ngày vất vưởng chẳng làm nên trò trống gì, không báo hiếu được cho ba má. Ngày ngày lễ Phật, Vu Lan lên chùa lễ Phật, ấy vậy mà Phật tại nhà là cha mẹ thì con ở quá xa, thật trớ trêu thay! Nhân duyên quả báo thế nào không biết, con cũng như mọi người đều chỉ là những con rối trong cuộc đời. Nghiệp lực giật dây, lôi kéo và điều khiển những con rối múa may quay cuồng với những buồn – vui, vinh – nhục, được – mất…Chỉ có những vị cắt ái từ thân, ly gia đoạn dục thì mới có cơ may một kiếp nào đó thoát ra khỏi sự giật dây hay sự điều khiển của nghiệp lực.

Má với con không chỉ là tình mẫu tử trong kiếp này, ắt hẳn là đã có nhân duyên sâu dày nhiều đời nhiều kiếp. Cái thân vật chất này sẽ thay đổi, sẽ hoại, sẽ mất… nhưng tình mẫu tử không mất đi dù cho cái thân này đã chuyển từ dạng này sang dạng khác như dòng điện trong than đá, dầu, nước, gió…

Con luôn nghĩ về má mọi lúc mọi nơi. Hình bóng má in đậm ở trong tim con, in sâu trong A lại da thức. Con không mang thân xác má theo cuộc sống của con nhưng đi đâu và lúc nào cũng mang theo hình bóng má trong tâm. Mai này hết kiếp chắc chắn vẫn mang theo những ký ức về má.

Má giờ như ngọn đèn sắp tàn bấc cạn dầu. Con thương má, nhìn thấy thế nhưng không thể làm được gì hơn. Không có một phép màu nào, không có một thế lực thần thánh siêu nhiên nào có thể thay đổi được. Nhân đã như thế thì quả phải như thế, đời sống này cái tính như thế, cái tướng như thế nên không thể nào khác được. Thân thể con người, các mối quan hệ… đều là duyên hợp, khi hết duyên thì nó sẽ tan, đã có hợp thì phải có lúc tan! Thân này không thể cầu cho nó như thế này hoặc đừng như thế kia. Thân này không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã ta. Tất cả chỉ là duyên hợp và tan, duyên vốn không có tự tánh, tất cả là không vậy sao ta lại đau khổ hay hạnh phúc? Phải chăng đau khổ và hạnh phúc cũng là giả tướng? Chỉ là sự chuyển biến từ những ký ức từ trong tâm thức? sự giao thoa, khởi dụng giữa những ký ức cũ và những tướng trạng ngay hiện tại?

Má ơi! Mỗi ngày qua đi thì sự sống giảm dần như nước trong ao cạn kiệt. Con với má cũng như tất cả mọi người đang tiến đến cái điểm cuối của kiếp người. Má giờ không biết buồn – vui, tuy đó cũng là nỗi khổ nhưng má tạm không biết đó là khổ. Vậy thì cũng có chút an ủi là má không còn bận tâm về tiền bạc, con cái, bệnh tật, ân oán ghét thương, môi trường chung quanh…

Thế gian này ngôn ngữ của con người không thể nào nói cho hết được cái ơn, cái tình của người mẹ. Vậy thì chữ nghĩa của con càng không thể viết cho tận nghĩa tình, vô phương để tỏ bày hiếu đễ. Thế giới này có bao nhiêu chủng tộc thì có bấy nhiêu tiếng nói, người dù trí hay ngu, học cao hay thấp , nhiều khác biệt nhưng đều có chung một điểm là tiếng nói đầu tiên vẫn là tiếng kêu má, chữ đầu tiên biết là chữ viết má. Tiếng kêu trìu mến nhất, thấm đẫm ân tình nhất, sâu lắng nhất chính là tiếng gọi: Má ơi!

Con người có bao nhiêu tôn giáo khác nhau để phụng hiến, có bao nhiêu thần tượng khác nhau để tôn thờ nhưng với má thì tất cả mọi người đều kính yêu và thôn thờ. Người ta có thể tạo ra những pho tượng kỳ vĩ nhất để tôn thờ nhưng hình bóng má lại khắc sâu trong tâm khảm mỗi con người. Tượng có thể vỡ hoặc hư hoại. Tranh ảnh có thể rách nát, phai mờ. Sách có thể đốt. Chữ có thể bôi xóa…nhưng hình bóng má trong tâm thì không thể nào làm cho hư hoại được! Thế gian này không có gì chắc chắn hay vĩnh viễn, thế nhưng tình mẫu tử thì vĩnh viễn muôn đời.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0726


NGÀY NÀO CHO MÁ

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất, lúc bấy giờ họ đem cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ…ra đấu tố). Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỹ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Hoặc là:

Con người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn

Rất hiện thực, rất chí tình, mình không phải từ trời rơi xuống hay từ đất nẻ trồi lên. Mình từ trong bụng mẹ mà ra. Không có ông bà cha mẹ thì làm sao có mình? Công ơn cha mẹ chắc không cần phải nói nữa, ai ai cũng biết rồi, chỉ có điều là đền đáp như thế nào thôi! có thể nói rằng không thể nào đền đáp đủ công ơn cha mẹ. Núi Thái kia lớn lắm, nước trong nguồn mát trong và không bao giờ cạn, lòng mẹ “như biển Thái Bình”…thì con làm sao báo đáp cho đủ đầy được!

Người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn minh Trung Hoa, bởi vậy nhiều trường hợp hiếu theo kiểu Nho giáo như: Cung bái cha mẹ trong lễ cưới hỏi, thượng thọ, tang chế…nhưng đó là hình tướng, hình tướng nghi thức không quan trọng, nhiều khi chỉ làm màu vì sợ tiếng đời. Quan trọng của hiếu để là phụng dưỡng cha mẹ, làm cho cha mẹ an vui, làm sao cho cha mẹ hướng về việc phước thiện…Bởi vì con người ta không chỉ có một đời này. Tích đức làm thiện là cách tạo tư lương cho thời gian sắp tới, cho những kiếp luân hồi mai sau. Con người ta khi sống thì chung đụng và có thể san sẻ cho nhau, nâng đỡ nhau, còn một khi cách ấm thì “độc sanh độc tử độc khứ độc lai”. Lúc bấy giờ chẳng ai giúp ai được, chỉ có những thiện nghiệp của bản thân mới có thể giúp cho mình. Ông bà, cha mẹ, con cái thương nhau ra rít nhưng khi hết số chẳng ai cứu được ai, phước ai nấy hưởng, nghiệp ai nấy gánh, người thân chỉ có thể làm việc phước thiện và hồi hướng công đức mà thôi! Việc hồi hướng là phụ và rất hạn chế dù con cháu hết lòng hiếu thảo. Vì vậy thương cha mẹ thì nhất định phải giúp cha mẹ hướng về việc phước thiện, tích đức!

Những năm gần đây, văn hóa phương Tây lan tỏa mạnh nhờ vào các mạng xã hội. Giới trẻ nhanh chóng tiếp thu những nét mới như: Tổ chức lễ sinh nhật, lễ tình nhân, lễ Halloween, lễ mẹ, lễ cha…Tuy nhiên có nhiều điều cần phải nói là sự tiếp thu và bắt chước một cách thiếu hiểu biết, thiếu cái nền văn hóa cơ bản. Có những bà mẹ quê mùa lam lũ, cả đời vất vả mưu sinh, giờ con cháu bắt ôm bó hoa hồng tướng mừng sinh nhật, mừng lễ mẹ…để chụp hình đăng mạng xã hội. Rồi còn nói toàn những lời khách sáo, bóng bẩy chẳng ăn nhập với bà mẹ của mình. Thật tội cho những bà mẹ bị đem ra “diễn”, cái cung cách “phù diễn tắc trách” những tưởng vậy là hiếu, là theo văn minh hiện đại nhưng thật sự là đem mẹ ra làm trò cười. Rất nhiều những trường hợp như thế, đầy trên mạng xã hội, nó vừa kệch cỡm, rởm đời, rất thô…Nó chẳng cho thấy hiếu đễ chi cả, chỉ là sự bắt chước, sự khoe khoang thiếu hiểu biết.

Người phương Tây đặt nặng vấn đề tự do cá nhân. Người phương Tây sống trong nền văn hóa phát triển cao, văn minh công nghiệp tân tiến nên phong cách rất khác với văn minh nông nghiệp lúa nước của mình. Mình tiếp thu cần có chọn lọc, có cải biên cho phù hợp chứ cứ nhắm mắt bắt chước rập khuôn thì rất kệch cỡm. Những bà mẹ Việt phần lớn đều từ nông thôn, cả đời lam lũ nâu sồng, vất vả mưu sinh…giờ tự dưng cầm dao cắt bánh sinh nhật, thổi nến, ôm bó hoa hồng lộng lẫy, mở hộp quà… rất thô kệch, nặng hình thức, trông phản cảm và lố bịch lắm.

Người Âu – Mỹ họ có những ngày lễ rất thiết thực trong đời sống, rất nhân văn, sâu sắc ý nghĩa. Chẳng hạn như: Ngày lễ mẹ, ngày lễ cha, ngày lễ tình nhân…Còn xứ mình đầy những ngày lễ chiến thắng, tấn công hoặc sự kiện nào đó của mấy ông kẹ bà chằn…May thay Phật giáo đã đem lại cho chúng ta một ngày lễ đầy ý nghĩa, rất nhân văn ấy chính là lễ Vu Lan vậy. Có thể xem lễ Vu Lan như ngày hội hiếu, ngày lễ mẹ, lễ cha, lễ ông bà…vì ngày lễ Vu Lan đâu chỉ riêng cho mẹ mà còn mở rộng đến cửu huyền thất tổ. Đó cũng chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Mỗi người trên thế gian này tuy khác nhau về ngôn ngữ, tiếng nói nhưng đều có chung tiếng gọi đầu đời: Má, mama, mamma, maman, mom, mother…Người việt còn phong phú hơn: Má, mẹ, mẫu, mợ, me, bầm, bủ, vú…Tiếng nói và ngôn từ khác nhau nhưng đều chỉ chung cho người mang nặng đẻ đau, người vất vả nuôi ta ăn học từ sơ sinh đến lúc trưởng thành. Người quan hoài theo dõi từng bước đường đời mà ta đi qua…

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học mẹ thi trường đời

Đời này không có mẹ thì không có ta. Những bước đường đời của ta cũng nhờ mẹ cha lót đường, mẹ dắt đi từ khi còn tấm bé cho đến ngày hôm nay. Những thành công hay cuộc sống bình thường của ta cũng nhờ mồ hôi và nước mắt của mẹ. Với người mẹ thì những đứa con có thành công hay thất bại, trí hay ngu, thanh hay trọc…cũng đều là những đứa con yêu mà bà mang nặng đẻ đau.

Những bà mẹ Việt suốt chiều dài lịch sử chịu bao nhiêu khổ nạn thương đau. Chiến tranh giặc dã liên miên, hết tiễn cha, chồng rồi lại tiễn con, cháu ra trận hết lượt này đến lượt khác. Những bà mẹ bồng bế con cái chạy giặc không ngớt. Hai trăm năm Trịnh – Nguyễn Phân tranh. Hai mươi mốt năm nội chiến con ta giết con ta. Cải cách ruộng đất con ta giết cả ta. Ngay cả bây giờ cũng thế, những đứa con tranh danh đoạt lợi truy sát tru diệt lẫn nhau. Những đứa con tàn nhẫn triệt đường sống, bách hại những đứa con khác dám lên tiếng vì tự do – dân chủ - nhân quyền. Mẹ Việt Nam ơi! Kiếp nạn này bao giờ mới hết? những đứa con của mẹ Việt Nam không biết thương nhau thì làm sao biết thương người!

Ngày lễ Vu Lan, cửu huyền thất tổ, ông bà quá vãng có siêu sanh hay không cũng nhờ một phần ở sự thương nhau của những đứa con. Những đứa con còn truy sát tru diệt thì có cầu chi cũng vô ích. Những bà mẹ Việt còn khổ đau, còn vất vả mưu sinh, còn đứt ruột vì những đứa con không biết thương nhau thì có ôm bó hoa hồng kiêu sa hay cắt cái bánh sinh nhật sang cả cũng chẳng phải là hiếu đễ. Màu mè để huyễn hoặc mình, dối người, lòe đời hay khoe khoang trên mạng xã hội không thể đánh đồng với hiếu đễ được!

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0826
NGUYỆN CẦU PHẬT LỰC TỪ BI




Mọi thứ từ từ rời bỏ má: Những đứa con lớn lên rời đi xa, những đứa cháu lên thành học và làm việc, những tế bào thân xác hao hụt không sao bù lại được, những ký ức trong trí nhớ cũng dần vơi…
Nhờ Facetime để nói chuyện với má mỗi ngày, nhìn má tiều tụy mà lòng xót xa không sao ngăn được nước mắt chảy vào trong. Đôi mắt má thất thần vô cảm, không còn nụ cười hay sự vui mỗi khi má con gặp nhau. Ánh mắt má lạc vào cõi xa xăm nào đấy chứ không nhìn vào thực tại. Má nói giống như một cái máy, nói mà dường như không biết nói gì, nói lộn xộn lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia. Chưa đầy một năm, kể từ ngày về gặp má ấy vậy mà giờ má khác đến độ không thể nhận ra: Thân xác gầy hao xơ xác, trí nhớ sa sút một cách không tin nổi, đành rằng cái lý vô thường là vậy, nhưng sao ở má mọi sự suy sụp nhanh như thế? Ngoài lẽ tự nhiên ra, còn có phần do tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư chăng? Chúng đã tàn phá sức khỏe và tâm trí má.
Má ơi! Thương má mà không làm sao được, con sống xa vạn dặm, muốn cầm tay má, ôm má, chăm sóc má mà không thể.
Thời gian dựng nên rồi thời gian phá hủy đi, giở cái lý thuyết thành – trụ - hoại – không hay sanh – trụ - dị - diệt ra để mà tự an ủi. Má đang trên đà hoại diệt, tuy nhiên cái quá trình này xảy ra quá nhanh đối với má. Nhiều cụ già khác còn lớn tuổi hơn nhưng trông phương phi khỏe mạnh và minh mẫn, có lẽ vì nhờ phước báo lớn hơn. Con người sinh ra là quả đã chín nghiệp thành, việc tác ý – nói năng – hành động trong hiện tại sẽ cho cái quả mai sau, cái quả hiện tại do cái nhân quá khứ thì phải chịu thôi chứ không có thể thay đổi được nữa. Đừng nói rằng má hay con mà bất cứ ai cũng thế thôi, ngay cả đức Phật và các vị A La Hán cũng không khác được.
Ung thư hay mất trí nhớ là nghiệp, những lý do như: Căng thẳng thần kinh, ô nhiễm môi trường, thức ăn nhiễm hóa chất độc hại, đột biến gene…chỉ là duyên. Bằng chứng là cùng một môi trường sống như thế nhưng chỉ có một số ít người bị. Có những người cực giàu sang, thượng lưu sống trong môi trường tốt nhất thế gian vẫn bị ung thư hay mất trí nhớ. Cựu tổng thống hùng mạnh nhất của Mỹ là ông Ronald Reagan vẫn bị mất trí nhớ trong thời gian dài suốt mười năm cuối đời…Má dính vào căn bệnh ung thư và giờ trí nhớ dần dần mất đi. Má giờ chẳng còn nhận thức ung thư là gì, thậm chí cảm giác buồn vui cũng nhạt nhòa. Trí nhớ của má suy giảm hàng ngày, nghiệp lực chăng? Cuộc đời này quả là đau khổ. Người mất trí nhớ không còn biết sướng khổ vậy là hết đau khổ? Không, chính cái sự không biết đau khổ ấy cũng là nỗi khổ đau.
Ông Phật nói những cái khổ: sanh – lão – bệnh – tử - thương phải chia lìa – ghét phải chung đụng – thân và tâm giày vò trong sự mong cầu và chịu đựng, nói chung là thế, nếu phân tích chia chẻ ra thì có đến muôn ngàn nỗi đau khổ, bao nhiêu là khổ sở. Sự mưu cầu, sự thèm khát chính là cái gốc đau khổ, bởi vậy Phật mới dạy buông bỏ, ghét buông xuống đã đành mà thương cũng cần buông nốt, tuy nhiên mức độ thực hành được bao nhiêu là tùy vào năng lực và quyết tâm của mỗi cá nhân, nhìn chung là đại đa số không buông nổi.
Má già yếu, bệnh tật lòng con tràn ngập khổ đau, dù lý thuyết là thế nhưng làm con, làm người thì làm sao không khổ đau? Buông là lý, còn sự thế nào vẫn cứ hành. Con nguyện gánh bệnh thay má nhưng không thể thay được. Biết má già, má bệnh con đau khổ vì thấy má đang khổ đau, mà không làm gì hơn được, chỉ chấp nhận, cầu nguyện và làm việc phước thiện hồi hướng cho má. Đành rằng nghiệp ai nấy mang nhưng trong công nghiệp vẫn ảnh hưởng qua lại nên mới hồi hướng được.
Ngày xưa má mang con trong bụng chín tháng mười ngày, nghĩa là mang cả cục nợ nặng nề chừng ấy thời gian. Khi vượt cạn lại một lần đau như xé thân, rồi những năm tháng vất vả mưu sinh để nuôi con cho đến trưởng thành. Đâu đã hết khổ, dựng vợ gả chồng, rồi ngay cả những thị phi của các cuộc hôn nhân của con đem lại cho má thêm phiền não và khổ đau. Con cái trưởng thành những tưởng bớt khổ đau nhưng chính con cái lại bồi thêm khổ cho má. Công lao sức lực một đời của má con chẳng làm được gì để đền đáp, chưa một ngày báo hiếu.
Má ơi! Con thương má nhưng cũng chưa một lần nói thương má, tệ như thế này thì ngôn từ nào bao biện được?
Sức khỏe và trí nhớ của má đang suy sụp từng ngày. Má giờ đi đứng liêu xiêu, ngơ ngác bần thần tâm trí. Bây giờ tiền bạc, của cải cũng chẳng còn ý nghĩa gì với má, nếu ngày trước mong cầu, cất giữ thì giờ má dửng dưng xem như chẳng có giá trị gì. Trí nhớ của má đã nhạt nhòa, tâm trí biểu hiện ra thế, còn sâu trong tạng thức thì không làm sao biết được.
Đời sống một con người vô cùng ngắn ngủi, quanh quẩn vài mươi năm là tàn, bởi vậy đức Phật mới nói là mạng trược. Mấy mươi năm qua cái vèo như một giấc mộng nhưng thời gian mộng đẹp thì ngắn mà thời gian ác mộng thì dài. Trong mấy mươi năm ấy, nếu kẻ hạnh phúc muốn dài thêm thì chẳng được mà người bất hạnh muốn rút ngắn cũng không xong.
Má của con già yếu suy hao, trí nhớ suy giảm, cái may vẫn còn là má còn nhớ mặc áo tràng lên điện Phật niệm Phật mỗi buổi tối. Câu Phật hiệu và Phật vẫn còn trong tâm trí má. Điều này là sự may mắn đáng mừng nhất, một mai má bỏ xác thân thì thần thức có thể tái sanh vào một cảnh giới tốt đẹp và an lành hơn.
Má ơi! Con thương má, sống xa ngoài vạn dặm trùng dương nhưng trong tâm con lúc nào cũng nhớ má, lúc nào cũng có má. Con bất tài vô dụng không làm được gì cho má, chẳng chăm sóc hay đỡ đần gì cho má… Đất trời chứng giam, quỷ thần biết!
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má sống những ngày tháng tuổi già bóng xế an lạc.
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má những ngày tháng sắp tới.
Cầu nguyện ba đời mười phương Phật gia hộ má một mai má ra đi.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0626



Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Thảo Kính Cha Mẹ "Song Ngữ" - Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi

 Nhac: Alpha Linh - AI Phục Hồi 

Chín Chữ Cù Lao


 
Chín Chữ Cù Lao mãi nhớ hoài
Tình thương Phụ Mẫu khó mờ phai.
Sinh thành nghĩa trọng, thời dìu dắt
Dưỡng dục ân sâu, thuở mớm nhai.
Cha dạy trí khôn người hữu dụng
Mẹ truyền đức hạnh kẻ thành tài.
Song thân khuất núi đà siêu thoát
Hồng Trắng, con dâng trước vị bài.



Duy Anh
Vu Lan 27/8/2026


Trăng Thu Nhớ Mẹ

 

Tuần Phật Đản mẹ thân yêu ngã té
Bốn giờ liền lạnh lẽo dưới nền hoa
Lời thống thiết mẹ kêu gào cứu mạng
Đến tàn hơi thiên hạ chẳng ai qua !

Cửa then gài người ta không vào được
Hay bởi lòng người chẳng có từ tâm
Sợ tai họa làm ngơ không cứu giúp
Mang hình người mà ...tâm địa dã nhân...

Sáu hôm sau mẹ ly biệt cõi trần
Vào giờ Ngọ đúng ngày rằm Phật Đản
Mẹ ra đi chắc lòng không thanh thản
Bao thâm tình còn vương ở thế gian

Suốt một đời khổ cực mẹ đa mang
Cao niên kỷ ..mẹ võ vàng thân xác
Chẳng gấm lụa, chẳng xa hoa đài các
Ngày lẫn đêm một dạ nhất tâm tu

Kiếp con người ôi một kiếp phù du
Thân tằm nhả sợi...kén tơ cho đời !
Nuôi con khôn lớn nên người
Chữ hiếu con trả là vui tất lòng

Nhưng khi con trẻ thành thân
Mẹ còn đâu nữa.!. hiếu phần con lo !!!
Đêm nay, rằm Vu Lan con nhớ Mẹ
Bốn chục năm dài vắng bóng từ thân

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu hiền nhân

Mẹ yêu đã vĩnh biệt cõi trần ...còn đâu ???

nguyễn phan ngọc an
 Vu Lan 2025

Mẹ Ơi, Vĩnh Biệt



Mẹ ơi, con về không kịp
Giấc dài mẹ đã hôn mê
Đôi mắt thân yêu đã khép
Mẹ đâu hay biết con về!

Con đi đầu non, cuối bể
Mấy mươi năm, mẹ vẫn chờ
Giờ sao lạnh lùng quá thể
Gọi hoài, mẹ vẫn trơ trơ!

Mẹ ơi, lòng đau như cắt
Chuyến phà đêm chở xác về
Có một tinh cầu vừa tắt
Lạnh lùng sông chảy dòng khuya…

Sáng nay, người ta khâm liệm
Áo quan đóng nắp lại rồi
Từ đây muôn đời, vĩnh viễn
Đâu còn thấy nữa, Mẹ ơi!

Thân xác vùi trong lòng đất
Mẹ nằm giữa một đồi hoa
Mẹ ơi, mộ vừa mới lấp
Từ đây đất lạnh là nhà!

Từ đây tuyệt vô hy vọng
Quê hương mất dấu thiên đường
Mẹ mang theo niềm vui sống
Lấp cùng dưới đáy mồ chôn!

Mẹ ơi, xác thân yêu dấu
Vùi trong đất lạnh đời đời
Hồn con không nơi nương náu
Biết tìm đâu nữa, Mẹ ơi!

Lặng nhìn bàn thờ nghi ngút
Di ảnh mờ trong khói hương
Thấm nỗi đau buồn tang tóc
Còn gì mà tiếc, mà thương!

Mẹ ơi, tử sinh chia biệt
Một lần cho đến thiên thu
Nghĩa là muôn đời, muôn kiếp
Hết mong gặp Mẹ nhân từ!

Lãm Thúy
9/10/11


Thương Nhớ Song Thân

 

Thương Nhớ Song Thân

Mùa Vu Lan sắp đến
Mùa báo hiếu lại về
Thương Cha và nhớ Mẹ,
Ngày buồn dài lê thê.

Vu Lan con đến Chùa
Mang theo cả tình thương
Vào bên trong Chánh điện
Thắp những nén Tâm Hương

Nén Hương dâng Trời Phật
Một nén dâng Song Thân
Không ngăn được xúc động
Nước mắt chảy trong Tâm

Thêm một nén Tâm Hương
Dâng giọt lệ tình thương
Công Cha và Nghĩa Mẹ
Mãi.. mãi đầy yêu thương.


Hoàng Thục Uyên
Trích trong bài thơ:
Vu Lan Lệ Chan Hòa
***
Thơ Cảm Tác:
Sinh Thành Dưỡng Dục Nghìn Đời Nhớ Thương

Sinh thành dưỡng dục nghìn đời
Công ơn cha mẹ biển trời trăng sao
Không còn cha mẹ khổ đau
Ngày đêm cầu nguyện lệ trào nhớ thương...


MD.08/04/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Vu Lan Nhớ Cha Mẹ"
của TVS đa tài hoa thật quý Hoàng Thục Uyên


Tưởng Nhớ Cha(Yên Sơn) - In Memory Of My Father(Thanh Thanh)

 

(Thành kính dâng hương hồn Cha yêu quý)

Con lên phi cơ bay về vùng biển
Bỗng nhớ thương cha nước mắt tuôn tràn
Tháng Tư nào khi quốc biến gia tan
Con bỏ xứ lái tàu bay về biển

Con xa mẹ lìa cha vì cuộc chiến
Bao nhiêu năm sương gió dạn dày
Ðể đau thương tràn khắp một ngày
Con đâu biết đó là lần vĩnh biệt

Con nào biết! Cha ơi con nào biết
Cha soát từng giọt máu trở về tim
Bao nhiêu năm qua mòn mỏi trông tìm
Vẫn thấp thỏm “con đã đền nợ nước”

Cha ơi cha! Một ngày không quên được
Nhận hung tin cha lìa bỏ cõi đời
Con chết lịm trong lòng mà lệ không rơi
Con muốn khóc sao bật cười hoang dại

Mười tám năm sau không lần trở lại
Nợ quê hương chưa trả nổi đến bây giờ
Ðất khách quê người lạc lõng bơ vơ
Ngày tiếp nối ngày chỉ vì cơm áo

Cha ơi cha! Lòng con giông bão
Những lời cha khuyên bện lại thành vòng
Quấn chặt tim con, tỳ vết trong lòng
Ðể nhiều lúc bặm môi rướm máu

“Ðất nước điêu tàn làm trai phấn đấu
Cố trở nên người hữu dụng cho đời
Ngẩng cao đầu làm trai Việt con ơi
Gương đảm lược của tiền nhân còn đó”

Cha ơi cha con vẫn hằng trăn trở
Sống lưu vong nuôi hy vọng quay về
Nhưng năm qua tháng lại ê chề
Tóc đã bạc mà trùng dương vạn lý

Cây bật gốc một phần tư thế kỷ
Thân cây héo khô trồng ở xứ người
Có quê hương mà chẳng có một nơi
Không có lối cho con trở về trú ẩn

Con lên phi cơ bay về biển
Về Atlanta mà ngỡ xuống Vũng Tàu
Con bàng hoàng nén chặt cơn đau
Sợ bật khóc máu sẽ trào theo lệ thảm

Yên Sơn
***

In Memory Of My Father

(Reverently dedicated to my dear Dad's spirit)

Whilst boarding the aircraft to fly towards the ocean
I suddenly pitied my father, tears flowing out of emotion.
When that April national calamity forced me to flee
I left our country piloting my plane to the sea.

Parted from parents because of the bloodshed,
So many years in high wind and heavy rain overhead
And finally came flooded with distress one day
I did not know it was the last goodbye for ever to say!

Oh, dear Dad, how could I know, on your part
You wished each drop of blood to return to your heart.
So many years you had desperately inquired after me
Anxiously fearing a "killed in action" notice to see.

Oh, dear Dad! I shall never forget that bad day
I learned the sad news that you had passed away:
I became numb with grief, tears unable to stream;
I wanted to cry but burst into mad laugh and scream.

For eighteen years afterwards, I have not once returned
And have neither fulfilled citizen obligations so yearned.
In this foreign land how I feel an unsuitable location:
Days after days only to think of means of sustentation.

Oh, dear Dad! innermostly a tempest arises; it boils;
Your precious admonition has since spinned into coils
To tie tightly around my heart, imprint in my mind,
So that times I compress my lips blood to ooze to bind.

"The country is in ruins! To strive to be a worthy man
You must try to become useful through your life's span!
Hold your head up, my son! to be a Viet youth, an heir
To our ancestors' heroic examples that are still there!"

Oh, dear Dad! I have always pondered on my concern
About living in exile but nurturing the hope of return.
However days passed and months elapsed, shamefast,
My hair has turned grey but the ocean is still vast.

Like a tree for a quarter of a century uprooted already
Now replanted in a foreign region, how hard to steady!
Having a homeland but not having a space
For me to get back to find a sheltering place!

I boarded the plane to head towards the waves
To go to Altlanta but felt as to Vung Tau that craves...
I was staggered and tried to restrain my pain
For fear of bursting into tears mixed with blood stain.

Thanh Thanh