Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Chiêu Đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Chiêu Đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

Tự Mừng Thượng Thọ



 Tự Mừng Thượng Thọ

Thấm thoắt nay đà tuổi chín mươi,
Trời ban đại thọ xuống cho ngươi.
Bạc tiền dẫu kém, so thiên hạ!
Tuổi tác thì hơn, sánh vạn người.
Ao ước một mai, tâm nguyện đạt,
Thoả nguyền bao buổi, chí khôn lười.
Mong lưu danh lại trong trời đất,
Từng bước đi, Ta mãi mỉm cười!

Danh Hữu
Paris, 11 juillet 2026
***
Các Bài Họa:

Chúc Mừng Thượng Thọ

Cửu tuần chín chục rõ mười mươi,
Mạnh khỏe kiện khang được mấy người?
Tiền bạc ngoại thân đâu trọng vọng,
Yên lành mới qúy chớ trêu ngươi.
Ước ao thỏa chí tâm không thẹn,
Tâm nguyện đạt thành chí chẳng lười!
Hậu thế lưu danh duyên phận đó,
An nhiên tự tại mỉm môi cười!

Đỗ Chiêu Đức

07-13-2026
***
Kính Mừng Khánh Thọ Thi Sĩ Trưởng Niên Danh Hữu

Kính mừng cụ Danh Hữu thêm mươi
Đúng chín chục Xuân chẳng dễ ngươi
Thiên hạ bốn phương đào lý bạn
Thi ca tám hướng chi lan người
Đã từng ngôn ngữ tao nhân trọng
Đâu chỉ văn chương mặc khách mời
Khánh thọ mười lần hơn tiếp chúc
Thân bằng quyến thuộc hi hoan cười …

Hawthorne 13 - 7 - 2026
Cao Mỵ Nhân
***
Chúc Mừng Thượng Thọ

Mừng anh thượng thọ chín lần mươi
Mẫn tuệ an nhiên hỏi mấy người?
Ngó xuống đàn em thương vạn kẻ
Nhìn ngang bè bạn tiếc bao ngươi.
Công trình hoàn hảo vui tâm nguyện
Tác phẩm thành danh thắng cái lười.
Cố giữ khiêm cung gương hậu thế
Ơn Trên cảm tạ vẻ vang cười!

Mailoc
July-13-2026

Mừng Thượng Thọ Thầy Danh Hữu 

Tinh thần minh mẫn tợ năm mươi
Kiến thức, người đời khó dễ ngươi
Tư tưởng lạc quan hơn lắm kẻ
Tâm hồn thoải mái vượt bao người
Thơ văn sáng tác không ngừng nghỉ
Biên khảo tham gia chẳng biếng lười
Tự tại an nhiên, lòng nhẹ nhõm
Chín mươi, khỏe khoắn nhoẻn môi cười.

Phương Hà

(15/07/2026)


Kính chúc Thầy Danh Hữu và các thi hữu thân khỏe, tâm an và luôn có mặt trong Vườn Thơ Thẩn.
Kính chúc mừng,

Trần Bang Thạch
***
Thầy kính.
Thưa thầy Danh Hữu,  lâu rồi em bận việc gia đình không không có vào email nên không hay hay được sinh nhật Thượng thọ của thầy, qua Kim Oanh em mới biết. 
Em xin kính chúc Sinh Nhật thầy vui khoẻ cùng gia đình luôn an lạc.

Kính

Quên Đi
***
Thầy kính,

Em kính chúc Thầy luôn dồi dào sức khỏe, thân tâm an lạc, ngày ngày mỉm cười với hạnh phúc. Thầy mãi là cội nguồn yêu thương và là tấm gương sáng cho con cháu.

Kính

Kim Phượng
***
Thầy Danh Hữu kính mến.

Em xin kính mừng thầy được 90 thượng thọ.
Kính chúc thầy sức khoẻ thật dồi dào, luôn an nhàn vui sống cùng gia đình thương yêu và thân hữu sáng tác
Happy Birthday thầy.

Kính mến.

Kim Oanh

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận: Đông Là Mùa Đông


ĐÔNG 冬 là mùa Đông, mùa cuối cùng trong năm sau mùa Thu và trước mùa Xuân của năm sau. Tính theo Âm lịch thì mùa Đông là các tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp trong năm, nhưng nếu tính theo Dương lịch thì là các tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Còn nếu ở Nam Bán cầu như các nước Úc, nước Tạn Tây Lan thì mùa Đông là các tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.
Theo Âm lịch thì trong mùa đông, có tất cả 6 KHÍ TIẾT 氣節 (Khí hậu về Thời tiết) được phân bố như sau:
* Tháng Mười có 2 Khí tiết là:
- Lập Đông 立冬 thường lọt vào ngày 7-8 tháng 11 Dương lịch.
- Tiểu Tuyết 小雪 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 11 Dương lịch.
* Tháng Mười Một có 2 Khí Tiết là :
- Đại Tuyết 大雪 thường lọt vào ngày 6-8 tháng 12 Dương lịch.
- Đông Chí 冬至 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 12 Dương lịch.
* Tháng Mười Hai có 2 Khí Tiết là :
- Tiểu Hàn 小寒 thường lọt vào ngày 5-7 tháng Giêng Dương lịch.
- Đại Hàn 大寒 thường lọt vào ngày 19-21 tháng Giêng Dương lịch.

Đặc biệt ĐÔNG CHÍ là ngày có thời gian ban đêm dài nhất trong năm ở Bắc bán cầu, trái với HẠ CHÍ là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm, như câu tục ngữ mà ông bà ta vẫn thường truyền tụng là:

Tháng Năm chưa nằm đã sáng, và...
Tháng Mười chưa cười đã tối.

Theo nghĩa mặt chữ thì ĐÔNG CHÍ 冬至 có nghĩa là "Mùa Đông đã đến rồi" và cũng có nghĩa là ngày tháng của năm cũ sắp hết, năm đã sắp tàn rồi; Nên Tiết Đông Chí 冬至節 cũng là một cái Tiết lớn ở cuối năm, mọi người có dịp gặp nhau để hàn huyên những chuyện của năm qua, cùng đoàn viên và cùng ăn chè ỷ, chè trôi nước (người Hoa gọi là Thang Viên 湯圓) nấu để cúng tế ông bà tổ tiên mừng cho một năm đã đi qua trong bội thu và bình an viên mãn. Cúng tế mừng Tiết Đông Chí cũng có nghĩa là mừng cho gia đình được đoàn viên để cùng đón mừng tuổi mới. Ăn chè ỷ của Tiết Đông Chí rồi là đã thêm được một tuổi mới rồi đó, nếu có qua đời thì cũng được đếm thêm một tuổi thọ nữa...


Nhớ hồi còn nhỏ, khi cô tôi giúp mẹ nấu một nồi chè ỷ, chè trôi nước thật lớn để mừng Tiết Đông Chí, cô đã nói với tôi là :"Năm nay cháu đã mười tuổi rồi, vậy là mừng tuổi năm mới cháu phải ăn 11 viên chè trôi nước". Tôi bèn cười nói với cô rằng :"Nếu cô ăn nổi 20 viên, thì cháu cũng sẽ ăn 11 viên cho cô xem". Anh tôi bèn chen vào nói :"Anh thì ăn nổi 15 viên rồi đó, còn ba má làm sao ăn nổi 50 viên, đừng nói chi đến ông nội tới 70 tuổi lận !" Trong niềm vui cuối năm cả nhà sum họp để cùng nấu cùng cúng và cùng ăn những viên chè tròn tượng trưng cho sự đoàn viên tròn trịa của cuối năm, thì cũng có người vì công danh, vì sinh kế mà phải tha phương cầu thực... Tiết Đông Chí mà chưa được về quê, một mình một bóng cô thân nơi xứ lạ quê người như bài thất ngôn tứ tuyệt "Hàm Đan Đông Chí dạ tư gia 邯鄲冬至夜思家" (Ở xứ Hàm Đan đêm Đông Chí nhớ nhà) của Thi Bá Bạch Cư Dị sau đây :

邯鄲驛裡逢冬至, Hàm Đan dịch lý phùng Đông Chí,
抱膝燈前影伴身。 Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân.
想得家中夜深坐, Tưởng đắc gia trung dạ thâm tọa,
還應說著遠行人。 Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân !

Có nghĩa:
Ở nơi dịch quán của đất Hàm Đan nầy lại nhằm lúc Tiết Đông Chí đến, ta cũng đành ngồi bó gối trước ánh đèn mà bầu bạn với cái bóng của mình mà thôi. Nhớ về quê nhà giờ nầy chắc mọi người đang quây quần đoàn tụ ngồi với nhau trong đêm... và chắc cũng đang nhắc đến ta, một kẻ đi xa không về nhà được trong lễ tiết cuối năm nầy.
Trông người lại ngẫm đến ta, nếu Tiết Đông Chí nầy ta có về lại được quê nhà thì cũng không tìm đâu ra người xưa cảnh cũ; Thời gian nửa thế kỷ biết bao là tang thương biến đổi, đã xóa hết những hình ảnh kỷ niệm của "Những ngày xưa thân ái" đi rồi !

Dịch quán Hàm Đan Đông Chí rồi,
Trước đèn bó gối bóng đơn côi.
Quê nhà sum họp ngồi tâm sự,
Chắc cũng xa vời nhớ đến tôi !

Lục bát:
Hàm Đan Đông Chí đến rồi,
Bên đèn bó gối đơn côi bóng mình.
Nhớ nhà đoàn tụ đêm thanh,
Chắc đang nhắc đến những thành viên xa!...

Nếu mùa thu làm cho cỏ cây hoa lá héo hon vàng úa, thì mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt vùi chôn tất cả hoa lá cỏ cây, tạo nên cảnh tiêu điều lạnh lùng tang tóc khắp nơi với ngập trời tuyết trắng, với bầu trời u ám buồn thương... như Jean. Leiba đã viết :

Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau...

và cụ thể hơn như trong bài thơ "Bốn mùa yêu thương" của ông:

Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều!

Mùa Thu là mùa của tình buồn, thì mùa đông là tình của những mối tình tan vỡ, xót xa... như trong thơ của Huyền Kiêu:

Đông xám lại chàng tới hỏi:
Em thơ, chị đẹp em đâu ?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu,
Đã ngủ trong lòng mộ tối!...

Gió thu xạc xào hiu hắt, còn gió đông thì se sắt lạnh lùng. Gió mùa đông là gió từ phương bắc thổi xuống. Bắc phương Nhâm Qúy thuộc Thủy, nên gió từ miền Bắc cực thổi xuống mang theo hơi nước giá lạnh của vùng tuyết băng khô khan lạnh lẽo. Hướng Bắc còn được gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong 北風 còn được gọi là SÓC PHONG 朔風 như trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Tòng Quân Hành 從軍行 (kỳ 4)" của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 đời Đường:

SÓC PHONG thiên lý kinh, 朔風千里驚,
Hán nguyệt ngũ canh minh. 漢月五更明。
Túng hữu hoàn gia mộng, 縱有還家夢,
Do văn xuất tái thinh ! 猶聞出塞聲。

Có nghĩa:
Ngàn dặm gió bấc thổi,
Năm canh trăng quê nhà.
Dẫu có mộng hoàn gia,
Còn nghe lời xuất tái!

Song thất Lục bát:
Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
Dẫu cho mơ được về nhà,
Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài!

Gió Bắc khô khan lạnh lẽo của mùa đông, còn được bà con ta gọi trại thành GIÓ BẤC, nên mới có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :

Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !
và...
Gió Bấc non thổi lòn hang dế,
Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !

Còn chàng thi sĩ Nguyễn Bính đa tình của thời Tiền Chiến, trong bài thơ "Mùa Đông Gửi cố nhân" đã rên rỉ:

Mưa phùn Gió Bấc, cố nhân ơi,
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi.
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa,
Với dùm trong nước lấy hồn tôi.

và trong bài "Mùa Đông Nhớ Cố Nhân" thì Nguyễn Bính lại nhắn gửi :

Mưa phùn đầy cữ chửa cho thôi,
Gió Bấc đêm nay buốt suốt giời.
Giường mộng con thoi còn chạy lẻ,
Hay là nàng đã dệt thoi đôi ?

Trong văn học cổ có một thành ngữ về mùa Đông là THU THÂU ĐÔNG TÀNG 秋收冬藏, có nghĩa là: Mùa Thu là mùa của thu hoạch nông phẩm ngày xưa, còn mùa Đông là mùa phải cất giữ lại những nông phẩm thu hoạch đó để chi dùng trong những tháng mùa đông lạnh lẽo giá buốt. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ sách《Sử Ký, Sử Thái Công Tự Tự 史记·太史公自序》với cả câu như sau : "Phù xuân sanh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thị thiên đạo chi đại kinh 夫春生夏长,秋收冬藏,是天道之大经" Có nghĩa : Phàm (vạn vật) mùa xuân thì sanh sôi nẩy nở, mùa hè thì phát triển trưởng thành, mùa thu thì thâu hoạch thành quả, mùa đông cất giữ (để chi dùng và để làm hạt giống cho năm sau), đó là cái lý lẽ lớn của đạo trời (chỉ sự tuần hoàn của vũ trụ và hoạt động trong đời sống con người). Các nông phẩm mang chữ ĐÔNG mà ta thường thấy thường dùng là :
- ĐÔNG QUA 冬瓜 (東瓜) là trái Bí Đao (tên khoa học là Benincasa pruriens), thường dùng để nấu canh và làm mức bí trong ngày Tết Nguyên Đán.
- ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải Hủ, dân Chợ Lớn gọi theo tiếng Tiều Châu là "Cải Tan-xại" dùng để chưng thịt cá hoăc làm gia vị cho Hủ tiếu Mì khi ăn.
- ĐÔNG TRÙNG THẢO 冬蟲草 còn gọi là Đông Trùng Hạ Thảo 冬蟲夏草 là một loại đông dược quý , được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng; Hiện đang là dược thảo thịnh hành khắp thế giới.
- ĐÔNG DUẪN 冬筍(笋)là Măng Tre mọc vào mùa đông, có tên là MĂNG MẠNH TÔNG 孟宗筍, có vị ngọt dòn ngon nhất trong các loại măng, có xuất xứ từ Truyện thứ 17 của "Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝" do Quách Cư Nghiệp 郭居業 (có sách ghi là Quách Cư Kính 郭居敬) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Câu truyện như sau :
MẠNH TÔNG 孟宗(?—271)tự là Cung Vũ, người đất Giang Hạ thuộc nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc nhỏ cha mất, mẹ thì thường hay đau yếu, khi bệnh mẹ trở nặng, thầy thuốc bảo ăn canh măng non thì bệnh sẽ khỏi, nên mẹ thường ao ước được ăn canh nấu bằng măng non. Khổ nỗi lại nhằm lúc mùa đông, măng non chưa mọc, Mạnh Tông bèn chạy ra rừng tre ôm những cây tre mà khóc, rồi mệt lả mà thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì đã thấy chỗ nước mắt rơi xuống có mấy mụt măng trổ đất mọc lên. Mạnh Tông cả mừng bèn bứng lấy đem về nấu canh măng dâng lên cho mẹ ăn. Quả nhiên hôm sau bà mẹ đã mạnh khoẻ trở lại. Vì có tiếng là hiếu thảo, nên chúa Đông Ngô vời ông ra làm quan đến chức Tư Không. Người đời sau có thơ khen rằng:

泪滴朔風寒 Lệ trích sóc phong hàn,
蕭蕭竹數竿。 Tiêu tiêu trúc sổ can.
須臾冬笋出, Tu vu Đông Duẩn xuất,
天意報平安。 Thiên ý báo bình an.

Có nghĩa:
Lệ rơi gió bấc lạnh lùng,
Lưa thưa vài khóm trúc rừng héo hon.
Phút đâu vài mụt măng non,
Chui ra từ đất trời còn thương nhau.

Về sau vào mùa đông có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, ăn rất ngon, được gọi là măng Mạnh Tông.
Trong chương trình cổ văn của lớp Đệ Thất (nay là lớp 6) ngày xưa, học sinh phải học hai tác phẩm "Lục Súc Tranh Công" và "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Cử Nhân Lý Văn Phức (1785-1849) diễn Nôm bằng thể Song thất Lục bát. Bài "MẠNH TÔNG KHÓC MĂNG" được diễn Nôm như sau :

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.

Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.

Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.

Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.


Đầu mùa Đông ta có Tiết Lập Đông 立冬 là thời điểm giao mùa giữa thu và đông, khi trời tàn thu bắt đầu chuyển lạnh để sang mùa đông rét mướt. Thi nhân cũng chuyển vận từ gió heo may hiu hắt sang gió tuyết lạnh lùng, tiêu biểu như bài lục ngôn thi LẬP ĐÔNG, là bài thơ 6 chữ hiếm hoi rất độc đáo của Thi Tiên Lý Bạch như sau đây :

凍筆新詩懶寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khan mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

Có nghĩa :
Bút cóng câu thơ biếng viết,
Lò lạnh rượu tốt thường hâm.
Say nhìn hoa mai trăng sáng,
Ngỡ rằng tuyết phủ đầu thôn.

Lục bát :
Bút lạnh biếng viết câu thơ,
Lò tàn lửa tắt hững hờ rượu hâm.
Say nhìn mai trắng trăng ngân,
Chập chờn như tuyết trắng ngần xóm xa !

Bài thơ của Thi Tiên làm cho ta nhớ đến hai câu thơ tả Hoa Mai Nở Sớm (Tảo Mai 早梅) của nhà sư Tề Kỷ 齊己 ở cuối đời Đường là :

Tiền thôn thâm tuyết lý, 前村深雪裏
Tạc dạ nhất chi khai. 昨夜一枝開。

Có nghĩa:
Xóm xa trong tuyết đêm qua,
Một cành mai sớm nở ra trắng ngần.

Và hai câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu cuối trong bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾" của Mãn Giác Thiền Sư 滿覺禪師 của Việt Nam ta là :

莫謂春殘花落尽, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
庭前昨夜一枝梅! Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Có nghĩa :
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

Năm Hội Xương thứ hai đời Đường Vũ Tông (842) Đỗ Mục 杜牧 đã 40 tuổi, vì tính cương trực nên bị Tể Tướng Lý Đức Dũ tâu với vua biếm đến đất Hoàng Châu, Trì Châu rồi Mục Châu... Khi bị đày đến làm Thứ Sử Mục Châu lại nhằm lúc vào đông, năm hàn tháng lạnh tha hương một thân một bóng, đêm đông lạnh lẽo ngồi uống rượu một mình đã cảm tác nên bài "SƠ ĐÔNG DẠ ẨM 初冬夜飲" (Đầu đông đêm uống rượu một mình) như sau :

淮陽多病偶求歡, Hoài Dương đa bệnh ngẫu cầu hoan,
客袖侵霜與燭盤。 Khách tụ xâm sương dữ chúc bàn.
砌下梨花一堆雪, Thế hạ lê hoa nhất đôi tuyết,
明年誰此憑闌干。 Minh niên thùy thử bằng lan can.

Thân ta nhiều bệnh tật như là Cấp Ảm 汲黯 Thái Thú của quận Hoài Dương vậy, nên đôi khi cũng tìm vui trong chén rượu. Người khách tha hương hai tay áo nhuốm đầy phong sương chỉ làm bạn với cái giá nến cô độc nầy mà thôi. Dưới thềm tuyết đã đùn lên trắng xóa như hoa lê; không biết là sang năm còn có ai ngồi tựa lan can nầy (để uống rượu một mình như ta nữa không ?)

Hoài Dương nhiều bệnh chợt tìm vui,
Tay áo phong sương bên nến côi.
Trắng xóa dưới thềm hoa lê tuyết,
Sang năm ai biết có ai ngồi !?


Cũng uống rượu trong đêm đông, nhưng Bạch Cư Dị 白居易 lại uống một cách thư thái nhàn nhã, với một vò rượu mới ủ, với một bếp than hồng nho nhỏ, trong khi ngoài trời tuyết lại sắp rơi, dám hỏi bạn rằng : Bạn có thể đến cùng tôi để chúng ta cùng uống với nhau một chén rượu trong đêm đông lạnh lẽo nầy hay chăng ? Thật nên thơ và thật nhẹ nhàng thi vị biết bao ! Ta cùng đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú "VẤN LƯU THẬP CỬU 問劉十九" (Hỏi chàng Lưu Thập Cửu) của Bạch Cư Dị sau đây nhé !

綠螘新醅酒, Lục nghĩ tân phôi tửu,
紅泥小火爐。 Hồng nê tiểu hỏa lô.
晚來天欲雪, Vãn lai thiên dục tuyết,
能飲一杯無? Năng ẩm nhất bôi vô ?

Có nghĩa:
Rượu vừa mới ủ xanh xanh,
Lò đất nho nhỏ cháy quanh lửa hồng.
Trời như muốn tuyết đêm đông,
Gặp nhau uống chén rượu nồng được chăng ?

Đọc bốn câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến bản nhạc "Về Dưới Mái Nhà" của nhạc sĩ Xuân Tiên với các câu...
... Người ơi ! Mau về đây,
Về bên bếp hồng tay cầm tay...

Mùa đông luôn rét mướt với cảnh vắng lặng của núi rừng không một bóng chim chóc vãng lai; Trên các nẻo đường cũng vắng bóng người qua kẻ lại; Hoạ hoằn lắm mới thấy được một ông câu khoát chiếc áo tơi buông câu trên dòng sông tuyết băng lạnh lẽo... như trong bài "GIANG TUYẾT 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元, một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" như sau :

千山鳥飛絕, Thiên sơn điểu phi tuyệt,
萬徑人蹤滅。 Vạn kính nhân tông diệt.
孤舟蓑笠翁, Cô chu toa lạp ông,
獨釣寒江雪。 Độc điếu hàn giang tuyết !

Có nghĩa:
Ngàn núi chim bay hết,
Muôn nẻo bóng người tuyệt.
Áo tơi một lão ông,
Buông cần trên sông tuyết!

Câu "Vạn kính nhân tông diệt" làm ta nhớ đến câu "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" của cụ Tam Ngyên Nguyễn Khuyến nhà ta ...

Nói đến mùa đông là nói đến hoa mai và tuyết trắng. Trong cảnh đông hàn lạnh lẽo, khi các cỏ cây hoa lá khác đã héo tàn thì hoa mai lại ngạo nghễ vươn lên trong tuyết lạnh với màu trắng tinh khiết và hương thơm nhẹ thoảng một cách cao nhã chẳng khuất phục trước thiên nhiên khắc nghiệt của thời tiết. Thôi Đạo Dung 崔道融 một thi nhân ở cuối đời Đường, mặc dù chỉ là một viên Huyện lệnh nhỏ nhoi nhưng lại tự hào với nhân cách cao khiết của mình qua bài ngũ ngôn luật thi MAI HOA 梅花 như sau :

數萼初含雪, Sổ ngạc sơ hàm tuyết,
孤標畫本難。 Cô tiêu họa bổn nan.
香中別有韻, Hương trung biệt hữu vận,
清極不知寒。 Thanh cực bất tri hàn.
橫笛和愁聽, Hoành địch hòa sầu thính,
斜枝倚病看。 Ta chi ỷ bệnh khan.
朔風如解意, Sóc phong như giải ý,
容易莫摧殘。 Dung dị mạc thôi tàn !

* Có nghĩa :
- Mấy đài hoa xanh còn đọng tuyết ôm ấp lấy mấy cánh hoa vừa mới nở...
- Cô đơn ngạo nghễ vươn lên, khó mà vẽ nên được cái thần thái vốn có kia
- Trong mùi thơm thoang thoảng có cái phong vận đăc biệt riêng,
- Vẻ thanh tân đến cùng cực nên không xem cái lạnh vào đâu cả.
- Khúc sáo "Mai hoa lạc" hòa vào sự buồn thương của người nghe,
- Với cành nhánh nghiêng chao trong tuyết giá trông như đang bệnh.
- Gió bấc kia nếu như hiểu được cái ý tình của hoa mai, thì xin...
- Chớ dễ dàng mà nổi cơn cuồng nộ làm cho hoa mai phải tàn tạ tả tơi !

* Diễn Nôm:
Mai Hoa

Đài hoa điểm tuyết trắng ngần,
Thanh cao ngạo nghễ khó phần vẽ nên.
Trong hương phong vận không tên,
Thanh tân hết mực nên quên lạnh hàn.
Sáo ai sầu khúc mai tàn,
Nghiêng chao cành nhánh nhẹ nhàng tợ đau.
Bắc phong điêu nghệ chút nào,
Chớ đem buốt giá lao đao nhánh cành !

Còn Tể Tướng Vương An Thạch đời Tống thì nhẹ nhàng, bình dân và đơn giản gãy gọn hơn với bài ngũ ngôn tuyệt cú sau đây :

牆角數枝梅, Tường giốc sổ chi mai,
凌寒獨自開。 Lăng hàn độc tự khai.
遙知不是雪, Dao tri bất thị tuyết,
為有暗香來。 Vị hữu ám hương lai !

Có nghĩa :
Gốc tường mấy cành mai,
Lạnh lẽo vẫn nở hoài.
Xa trông nào phải tuyết,
Vì hương thoảng mũi ai !

Lục bát :
Góc tường nọ mấy cành mai,
Lạnh tràn vẫn cứ nở hoài không thôi.
Xa trông chẳng phải tuyết rơi
Vì làn hương nhẹ khắp nơi thoảng mùi !


Có MAI có TUYẾT rồi còn phải có THƠ nữa thì mới đủ "Bộ Ba" nhã hứng của thi nhân ngày xưa. TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đẽ đặc sắc của buổi đông hàn giá buốt. Mời tất cả cùng đọc và thưởng thức...

其一 Kỳ Nhất
梅雪爭春未肯降, Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
騷人擱筆費評章。 Tao nhân các bút phí bình chương.
梅須遜雪三分白, Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
雪却輸梅一段香。 Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

* Chú thích :
- Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.
- Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.
- Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.
- Bình Chương 評章 : là bình phẩm về văn chương thi ca.
- Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.
- Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.

* Nghĩa bài thơ :
- Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.
- Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.
- Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...
- Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.

* Diễn Nôm :
Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,
Thi nhân gát viết phí lời suông.
Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,
Tuyết lại thua mai một thoáng hương !

Lục bát :
Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,
Thi nhân gác bút hết đường cân phân.
Mai thua Tuyết trắng ba phần,
Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !


其二 Kỳ Nhị
有梅無雪不精神, Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,
有雪無詩俗了人。 Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.
日暮詩成天又雪, Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,
與梅並作十分春。 Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !

* Chú thích :
- Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.
- Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.
- Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...
- Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.

* Nghĩa bài thơ:
- Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.
- Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.
- Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...
- Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười rồi !

* Diễn Nôm :
Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,
Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.
Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,
Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...

Lục bát :
Có Mai không Tuyết tầm thường,
Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.
Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,
Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

Ta thấy...
Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí nên thơ của buổi tàn đông và đầu xuân lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách vô cùng nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để tả vẻ đẹp thuần khiết trong trắng và cao quý của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

MAI cốt cách TUYẾT tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười !

Không phải chỉ có Hoa Mai là nở trong mùa đông, ở Việt Nam ta còn có HOA CÚC nữa. Mặc dù hoa Cúc là loài hoa tiêu biểu tượng trưng cho mùa thu, nhưng vào đông Cúc vẫn cứ nở rộ rực rở như đang tranh đẹp với hoa Mai vậy. Ta hãy đọc bài thất ngôn tứ tuyệt "ĐÔNG CÚC 冬菊" sau đây của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ rõ:

一種延年館裡栽, Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。 Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚, Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。 Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai ?!

Có nghĩa :
- Có một loài hoa được trồng quanh năm trong nhà trong quán;
- Có một mùi hương độc đáo về đêm thường hướng vào trong tuyết mà nở.
- Chớ cười là cùng tranh thơm một cách qúa muộn màng.
- Trước khi mùa xuân đến, há chịu nhường cho một cành mai hay sao ?!
(Có nghĩa là trong mùa đông nầy hoa cúc ta vẫn còn đẹp còn thơm lắm, chẳng có thua gì hoa mai kia chút nào cả !)

Loài hoa trồng tỉa suốt năm dài,
Đêm xuống hương thơm dựa tuyết khai.
Chớ bảo tranh thơm đà qúa muộn,
Trước xuân há dễ chịu nhường mai!

Lục bát :
Suốt năm trồng tỉa quanh nhà,
Đêm đông tuyết xuống hương xa dịu dàng.
Tranh thơm chớ bảo muôn màng,
Trước xuân há chịu nhượng nàng mai kia!


Nhân nhắc đến CÚC và MAI lại nhớ đến bốn câu cuối trong bài THẦN ĐỒNG THI 神童詩 của Uông Thù 汪洙 đời Tống là:

春游芳草地, Xuân du phương thảo địa,
夏賞绿荷池。 Ha thưởng lục hà trì.
秋飲黄花酒, Thu ẩm hoàng hoa tửu,
冬吟白雪詩。 Đông ngâm bạch tuyết thi.

Có nghĩa :
Xuân du trên thảm cỏ non,
Hè thì thưởng ngoạn sen tròn trên ao.
Thu nhâm nhi rượu cúc đào,
Đông ngâm thơ tuyết thú nào hơn ta !

Lại nhớ đến năm xưa, khi theo học lớp Đồng Ấu, thầy giáo đã cho học bài Học Thuộc Lòng (trong "Quốc Văn Giáo Khoa Thư"?) như sau :

Mùa xuân ấm áp khỏe người,
Hè thời nóng bức lửa trời nấu nung.
Mùa Thu gió mát trăng trong,
Mùa Đông rét mướt cho lòng xót xa.
Kẻ giàu mớ bảy mớ ba,
Người nghèo biết lấy chi mà che thân !

"Mớ bảy mớ ba" vì nằm trong nệm ấm chăn êm, còn trong đêm đông vẫn lang thang không nhà sống đời cô lữ, thì làm sao mà "mớ bảy mớ ba" cho được ! Để kết thúc bài viết "ĐÔNG là Mùa Đông" nầy, xin mời tất cả cùng lắng lòng với lời hát trong bản nhạc Thời Tiền Chiến "ĐÊM ĐÔNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác vào năm 1939 của thế kỷ trước qua tiếng hát độc đáo của nữ ca sĩ Thanh Lam :
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận:Những Nhạc Khúc Mùa Hè Trước 1975


... Rồi chiều nay Hè trở lại đây
Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy
Lại cách xa nhau chín mươi ngày
Hay là một thế kỷ dài
Mà lòng ai đang khóc ai...

Tiếng hát cao vút như réo gọi, như nhắc nhở, như nức nở của ca sĩ Hoàng Oanh với lời ca bản nhạc Mùa Chia Tay của nhạc sĩ Duy Khánh như làm sống lại những mùa hè của năm mươi năm trước. Tội nghiệp cho tuổi trẻ của các thập niên 60-70 của Thế kỷ trước, học hành dang dở vì bị lôi cuốn một cách bất đắc dĩ vào vòng chiến tranh ý thức hệ giữa Nam Bắc Việt Nam. Những mùa hè là những "Mùa Chia Tay" có khi không bao giờ còn gặp lại, vì...

Đời trai chinh chiến ngang trời,
Súng gươm là bạn... và...
Bút nghiên là... cố nhân thôi !

Giọng hát lanh lảnh làm xao xuyến lòng người của nữ ca sĩ Thanh Tuyền lại như réo gọi ta trở về với quá vãng xa xưa:

Người ơi, thắm thoát niên học hết rồi
Chúc đi cạn lời giây phút ly bôi.
Ngày mai tan trường mình không chung lối,
Thương nhau nhiều biết gởi về mô,
Kỷ niệm cũ tan vào hư vô...

"Ba Tháng Tạ Từ" của nhạc sĩ Thanh Sơn đã âm thầm nói lên sự "Tạ Từ" không phải là "Ba Tháng" mà có khi mãi mãi sẽ không còn gặp lại nhau nữa:

Rồi đây có những khi buồn não lòng,
Cố nhân biền biệt có nhớ nhau không ?
Ngoài kia, hoa phượng rụng rơi tơi tả,
Dư âm làm sống lại đời ta...
Dù ngăn cách nhớ hoài ngày qua !...

Nhắc đến nhạc sĩ Thanh Sơn cũng không thể không nhắc đến "Nỗi Buồn Hoa Phượng". Một bài ca nói lên mỗi niềm chung của lứa tuổi học sinh trong ba tháng nghỉ hè, lại vừa là tâm sự thật của nhạc sĩ với cô bạn cùng lớp có tên là "Nguyễn thị HOA PHƯỢNG", là một "Tiểu Thư" con nhà công chức ở chốn thành đô theo cha về học ở vùng lục tỉnh Sóc Trăng xa xôi, làm cho chàng thư sinh tỉnh nhỏ nghe xao xuyến tâm hồn như những vầng thơ rất nên thơ của nhà thơ Huy Cận thời Tiền Chiến:

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ
Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư

Đến khi nàng tiểu thư con công chức về lại xứ thành đô hoa lệ, bỏ lại chàng thư sinh nhạc sĩ miền quê, lúc chia tay chàng hỏi "Nếu mình nhớ nhau thì làm cách nào?". Nàng đã trả lời rằng : "Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà!". Nhưng từ đó hai người không còn gặp lại nhau nữa.

Mười năm sau ngày chia tay cô gái mang tên Hoa Phượng, vào mùa hè năm 1963 tại Sài Gòn, một lần tình cờ đi ngang qua một ngôi trường học và nhìn thấy hoa phượng nở đỏ rực, ông bỗng nhớ lại người xưa, cảm xúc ùa về để ông hoàn thành ca khúc "Nỗi Buồn Hoa Phượng", trong tên bài hát có tên của người xưa để cho...

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn !...
Khi biết rằng:

... Ta từ là hết người ơi!
Càng thổn thức hơn với:
... Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
Biết ai còn nhớ đến ân tình không ?!...
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
Những chiều hẹn nhau lúc đầu...
Giờ như nước trôi qua cầu !...

 

Và nhạc sĩ Thanh Sơn cũng cho biết thêm rằng nhờ sáng tác bản nhạc "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà mỗi tháng ông nhận được sáu ngàn đồng tiền tác quyền (năm 1963 với hối đoái 1 đô-la Mỹ bằng 60 đồng VN lúc bấy giờ) Vừa thoát được cảnh nghèo túng, ông còn mua được nhà, xe để đi lại. Tất cả cuộc sống ấm no sung túc đều nhờ vào "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà có cả ! Nhưng người xưa thì vẫn biền biệt phương trời, để cho...

Màu hoa phượng thắm như máu con tim,
Mỗi lần hè thêm kỷ niệm,
Người xưa biết đâu mà tìm !...

Không tìm được người xưa, nên đến năm 1967 Thanh Sơn lại cùng nhạc sĩ Song Ngọc sáng tác nhạc phẩm "Phượng Buồn" để hoài niệm đến người xưa. Lời ca da diết u buồn trong tiếng hát lanh lảnh cao vút của nữ ca sĩ Thanh Tuyền như xoáy vào lòng người nghe :

Nếu ai một lần trong cuộc vui
Xa vắng người thương nghe mặn môi
Trách gì loài hoa kia còn rơi
Tôi đi người về hai lối
Ngậm ngùi ai nói không nên lời !...

Đến năm 1974, nhạc sĩ Tuấn Hải cũng cho ra đời một bản "Phượng Buồn" rất được giới mộ điệu ưa thích, do nữ ca sĩ Hoàng Oanh thu thanh đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh. Nhưng trong tất cả các băng nhạc và đĩa nhạc của khoảng thập niên 1990 - 2000, đều ghi tên tác giả của Phượng Buồn là nhạc sĩ Thanh Sơn. Vì sao lại có sự nhầm lẫn trái khoái nầy ? Sau đây là lời giải thích của nhạc sĩ Tuấn Hải được tìm thấy trên mạng :

Bài này tôi viết năm 1974 tại Sài Gòn và đã sắp xếp Hoàng Oanh hát đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh tại phòng thu của một người Hoa ở số 13 đường Bùi Hữu Nghĩa (trước cửa chợ cá Hòa Bình, quận 5 Chợ Lớn cùng trong năm ấy). Đến năm 2004 tôi về Sài Gòn gặp lại một số bạn cũ trong đó có các nhạc sĩ: Ngọc Sơn, Đài Phương Trang, Dzoãn Bình và Vinh Sử. Rồi chúng tôi có cuộc hẹn đi uống bia tại quán Hội Nghệ Sĩ...
Sau khi tặng Vinh Sử một CD Phượng Buồn thì người bạn này nói liền: "Xin lỗi anh, em có làm một chương trình có bài Phượng Buồn nhưng gặp khó khăn về việc kiểm duyệt tác giả ở nước ngoài nên đã để tên anh Thanh Sơn cho dễ dàng và tiện việc thanh toán bản quyền..." Ngay lúc đó tôi không thấy gì phiền hà vì việc đã rồi. Hơn nữa Thanh Sơn sau này có chút gì vui vui... Thế là vấn đề thông qua.
Sau đó bài Phượng Buồn lần lượt được nhiều trung tâm sử dụng nên việc " tam sao thất bản" càng lan tràn theo tỉ lệ thuận...

Phượng Buồn của Thanh Sơn, Thanh Tuyền hát:

"Phượng Buồn" của nhạc sĩ Tuấn Hải gần đây được rất nhiều ca sĩ hát và được nhiều người yêu thích, với âm điệu du dương và lời ca gợi cảm, chân thật, nhẹ nhàng đánh động lòng người nghe:

Trong tiếng hát ve phượng hồng là hoàng hậu đó
Phượng buồn vì tình ta tan theo sóng biển nổi trôi
Ngàn năm trong tôi, tình này không phai phôi
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Cảm xúc biết bao khi nghe hát câu...
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Dù sao thì sự nhầm lẫn giữa tên của hai tác giả đều có sáng tác bản nhạc "Phượng Buồn" cũng tạo nên một giai thoại trong làng tân nhạc cận đại một cách rất nên thơ và không kém phần thú vị! Điều đáng nói là cả hai bản nhạc đều hay, đều gợi cảm, đều du dương và đều làm cho người nghe không khỏi bâng khuâng nhớ về thời áo trắng với hoa phượng đỏ thắm trong sân trường mỗi độ hè về.

Bây giờ tóc đã bạc, mắt đã mờ, răng đã... giả hết rồi, nhưng "Mỗi năm đến hè, vẫn thấy Lòng man mác buồn", khi nghe lại "Lưu Bút Ngày Xanh" với lời ca réo rắc...

Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi
Nhắc lại câu chuyện buồn...
Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
Nơi kỷ niệm êm ái...

Lớn lên trong mùa ly loạn, xếp bút xếp nghiên, hổ lều hổ chỏng, học hành dang dở... Kỷ niệm thời tuổi trẻ chỉ còn lại nuối tiếc của những mùa hè với hoa phượng đỏ thắm sân trường; Rồi lại phải lao vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng. Chiến tranh chấm dứt thì lại phải làm thân lưu vong nơi xứ lạ quê người. Những "Mùa Chia Tay" cứ mãi tiếp nối nhau, biết đến bao giờ mới tìm lại được "Những Này Xưa Thân Ái" cũ ?! Như lời ca của "Thương Ca Mùa Hạ"...

Một ngày biệt ly trăm ngày nhớ nhau...
Nuối tiếc cuộc vui ân tình phút đầu
Nếu ai đã từng rung cảm
Đôi lần nhặt màu hoa thắm
Lòng bâng khuâng biết mình đã yêu ...

Tuổi trẻ là tình yêu của lứa tuổi học trò, vào đời với tình yêu gia đình, yêu cuộc sống, yêu non sông, yêu Tổ quốc... Giờ lại phải đành gởi thân nơi chân trời góc bể nầy để ngậm ngùi nhớ tiếc cho những tháng ngày hoa mộng đã qua. Cám ơn nhạc sĩ Thanh Sơn với Nỗi Buồn Hoa Phượng, với Ba Tháng Tạ Từ, với Thương Ca Mùa Hạ, với Lưu Bút Ngày Xanh... Cám ơn nhạc sĩ Tuấn Hải với Phượng Buồn, Cám ơn nhạc sĩ Duy Khánh với Mùa Chia Tay...

Nhạc sĩ Thanh Sơn lúc trẻ và khi về già

Những ca khúc bất hủ của mùa hè, sống mãi và theo mãi gót chân lưu vong của người Việt đi khắp năm châu bốn bể...

Hẹn bài viết tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức



Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Đôi Điều Tâm Sự: Lễ Mẹ Nhớ Má Má - Đỗ Chiêu Đức


Tôi là người Việt gốc Tiều Châu, nên gọi MẸ là MÁ MÁ Trong bài thơ "NHỚ TÙA HIA" làm để điếu tang để nhớ và kỷ niệm lúc Ba tôi mất (2013), tôi có giới thiệu chi tiết : Má Má tôi là cháu gái của bà chủ chành lúa. Đó là Chành Khổng Hưng Phát của thập niên 1940, ở phía bên kia cầu sắt bắt qua sông ngang nhà lồng chợ Cái Răng, là chành lúa lớn nhất Thị Trấn Cái Răng lúc bấy giờ, nên Má Má tôi cũng thuộc dạng Tiểu Thơ, mặc dù ở trên Ba Láng thuộc miệt vườn, nhưng vẫn được ông bà ngoại cho đi học chữ Hoa, nên cũng biết chút đỉnh chữ Nho, và theo nề nếp cổ xưa, nên cũng học đủ các thứ Công Dung Ngôn Hạnh...của một cô gái vùng đồng bằng sông nước của Nam kỳ Lục tỉnh; nên mặc dù là một "Tiểu thơ miệt vườn" Má MÁ tôi vẫn giúp mẹ chăm lo cho em út, quán xuyến việc nhà như gánh nước tưới rau, tưới cải, tưới trầu, giặt giũ quần áo... vì Má Má là Chị Hai ở trong nhà.

1947                             1955            1956                   1960                           1962

Mỗi lần Tết nhứt hay nhà có đám giỗ đám tiệc, thì các "Tiểu thơ miệt vườn" cũng ra sức trang điểm các món ăn cho đẹp mắt, nhất là các loại dưa và cải chua được khắc thành những chữ Nho như : Phước, Lộc, Thọ, Khang, Ninh 福,祿,壽,康,寧... Các Hương Sư, Hương Quản thường để mắt xem xét xà khen con gái xứ Ba Láng biết chữ Nho. Ngoài ra trên các mặt bàn hoặc màn treo còn được các cô thêu đủ loại bông hoa chim cá cảnh và chữ Nho, như Gia Đình Hạnh Phúc 家庭幸福, Diên Niên Ích Thọ 延年益壽, Như Hoa Mỹ Quyến 如花美眷, Hoa Hảo Nguyệt Viên 花好月圓... v.v. và v.v...

Nên...
Má Má tôi cũng là một tay thêu rất đẹp, rất khéo, tất cả các mặt gối ở nhà nằm đều do một tay bà thêu ra cả ! Còn tôi, theo thị hiếu của gia đình, tôi thay "Tùa Hia" (Ba tôi) làm "chuyên gia" tạo mẫu và "can-kê" các mẫu thêu lên vải cho Má Má tôi thêu. Sau nầy, lớn hơn, vẽ khéo tay mà lại viết chữ đẹp, tôi còn vẽ và chế tác các mẫu thêu mới cho Má Má tôi nữa.

1963                  1964                          1968                            1971                       1973

Vì gia đình đông anh em, tôi có tới 8 đứa em, năm gái ba trai; Nên mỗi đứa đều phải có một cái gối thêu theo tuổi của mỗi đứa. Vì vậy mà tôi phải tìm mẫu để thiết kế cả 12 Con Giáp cho gối của đứa nào thì ra đứa nấy mà không lộn xộn giành giựt nhau mỗi tối!
Trong quá trình tìm mẫu thiết kế cho 12 con giáp thật là vất vả: Ví dụ như : Tuổi Dần, tuổi Thìn, tuổi Ngọ thì rất đễ dàng tìm mẫu con Cọp, con Rồng, con Ngựa thật đẹp để làm mẫu thêu. Còn như "Tuổi Tý là con chuột nhà, bắt vịt bắt gà khoét lổ đào hang" hổng lẽ vẽ hình con chuột mỏ nhọn lĩu thì thêu lên coi sao được, nên tôi đã phải mượn hình tượng của con MICKEY MOUSE để làm mẫu thêu cho đẹp. Cũng như Tuổi Thân con khỉ thì mượn hình tượng của Tề Thiên Đại Thánh, tuổi Hợi con Heo thì mượn hình tượng của Trư Bát Giới...

Rồi...
Không lẽ chỉ vẽ có cái hình mà thôi, còn phải có chữ nữa chớ! Cái nầy mới rắc rối đây, phải tìm chữ nào cho phù hợp với cái mặt gối nằm ngủ mà còn phải có ý nghĩa và "ăn với cái hình" thì mới được. Ví dụ như : Mặt gối hình con Ngựa tuổi Ngọ thì viết bốn chữ MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG 馬到成功, hình Tề Thiên con Khỉ tuổi Thân thì viết 4 chữ THÔNG MINH DĨNH NGỘ 聪明颖悟, hình Trư Bát Giới con Heo thì hạ 4 chữ CAO CHẨM VÔ ƯU 高枕無憂, có nghĩa : Ăn no ngủ kỷ không lo lắng gì cả !... Có nhiều con liên quan đến Thành Ngữ Điển Tích như con Gà tuổi Dậu, thì tôi viết câu Thành Ngữ VĂN KÊ KHỞI VŨ 聞雞起舞 (là Nghe Gà gáy thức dậy múa may luyện võ ) lấy tích của ông ....
TỔ ĐỊCH 祖逖 (chữ nầy còn được đọc là THÍCH), người đời Tấn, từ nhỏ đã có chí lớn, ngoài việc học văn, mỗi sáng cứ nghe gà gáy là ông thức dậy luyện võ, trở thành người văn võ song toàn. Sau làm đến chức Trấn Tây Tướng Quân. Nên thành ngữ "Văn Kê Khởi Vũ" sử dụng cho hình con gà thì không còn gì thích hợp hơn.

Có nhiều con rất khó tìm câu chữ cho thích hợp, như con Chuột, con Rắn... thì trên mặt gối chỉ thêu thêm 2 chữ "Good-night" hoặc 晚安 (Vãn An nghĩa như Good-night) mà thôi.
Một hôm, tôi đang tạo mẫu cho tuổi Tuất, vẽ xong hình con Chó nằm dưới khóm hoa ngẩn đầu lên nhìn trăng, còn đang băn khoăn chưa biết phải hạ chữ gì, thì thời may có ông Cậu đến chơi. Ông Cậu nầy cũng là Cậu Chủ của Ba tôi ngày xưa, nên giỏi cả cầm kỳ thi họa, ông gợi ý và nhắc cho tôi về điển tích giữa Tô Đông Pha và Tể Tướng Vương An Thạch, rồi sẵn cây viết Nguyên Tử ông khoanh luôn cho tôi 5 chữ : HOÀNG CẨU NGỌA HOA ÂM 黄狗卧花陰 để hoàn tất mẫu gối thêu "Tuổi Tuất là con chó cò, nằm khoanh trong lò lổ mũi lọ lem!".

Về Điển Tích giữa Tô Đông Pha và Vương An Thạch như sau...
Vương An Thạch 王安石 là Tể Tướng đương triều thời Bắc Tống, chẳng những giỏi văn thơ mà còn giỏi về chính trị nữa (Vương An Thạch Tân Pháp, là cải cách chính trị nổi tiếng của ông lúc bấy giờ, ở đây, ta chỉ nói về văn chương). Tô Đông Pha là một quan Hàn Lâm, rất giỏi văn thơ (Trong Đường Tống Bát Đại Gia, ngoài Vương An Thạch ra, thì cha con Tô Đông Pha chiếm hết 3 ghế rồi) và có lẽ vì thế mà ông cũng hơi hợm mình, nên mới cả gan sửa thơ của Tể Tướng, vì ông cho Vương An Thạch đã nhầm lẫn, khi viết 2 câu thơ sau :

Minh nguyệt đương đầu KHIẾU, 明月當頭叫,
Hoàng cẩu ngọa hoa TÂM . 黄狗卧花心.

Có nghĩa:
Trăng sáng Kêu ngay ở trên đầu, và Con chó vàng Nằm giữa lòng hoa.

Ông cho là Tể Tướng đã lẫm cẫm nên nhầm, mới sửa lại là:

Minh nguyệt đương đầu CHIẾU, 明月當頭照,
Hoàng cẩu ngọa hoa ÂM. 黄狗卧花陰.

Có nghĩa:
Trăng sáng Soi ngay trên đĩnh đầu, và Con chó vàng Nằm dưới bóng hoa.

Vương giận, mới đày ông xuống miền Mân Nam (Vùng Phúc Kiến, Quảng Đông ngày nay). Một hôm, Tô Đông Pha đi dạo trong làng để thăm hỏi dân tình thì thấy một con chim lạ rất đẹp, mới hỏi thăm dân làng đó là con chim gì ? Dân làng đáp rằng : Đó là con chim Minh Nguyệt !. Tô nghe nói giật mình. Dân lại nói tiếp là, loài chim nầy chuyên tìm ăn loại sâu bọ màu vàng nằm giữa lòng hoa. Tô hỏi là loại sâu gì ?, thì dân bèn tìm ngắt một đóa hoa thật đẹp, nhưng ở giữa nhụy hoa có một con sâu màu vàng nằm cuốn tròn, mõm dài và mình đầy lông trông như một con chó con bé xíu, dân bảo con sâu đó tên là Hoàng Cẩu !. Tô bèn thở dài và chép miệng : "Thật đáng kiếp !". Ông trách cho sự dốt nát và hợm hĩnh của mình. Từ đó, mới chịu phục Tể Tướng là giỏi....

Thì ra hai câu thơ của Tể Tướng là để nói về 2 loài vật nầy:

Con chim Minh Nguyệt đang hót ở trên đầu, và...
Con sâu Hoàng Cẩu nằm rút mình giữa nhụy hoa.

Trở lại với...

Má Má tôi, bà có đôi mắt rất tinh tường và đôi tay khéo léo, không chút run rẫy khi cầm kim thêu, mặc dù đã trên 60 tuổi rồi. "Bà xã" và các cô em gái của tôi đều là "học trò" về thêu thùa của bà. Nhớ có lần, "bà xã tôi" thêu cái mỏ chim hơi to, các em đùa là "Cái mỏ chim bị xỉ mủ"; Lại có lần, một đứa em gái tôi thêu cái hàng rào màu đỏ và màu hường. Mấy đứa khác xúm nhau cười nhạo, thì cô em lại nói ngang rằng : "Hàng rào thì người ta muốn sơn màu nào thì sơn chớ, cười cái gì !". Mãi cho đến hơn 70 tuổi Má Má tôi mới thôi không còn thêu nữa.

Trong cuộc đời thêu thùa của bà, ngoài việc thêu các mặt gối cho người nhà nằm, bà còn thêu tặng cho các bà con em cháu khác... Nhớ một lần, cô Ba của tôi sanh em bé nhằm năm Tuất, bà bèn thêu cái mặt gối có con chó và câu "Hoàng Cẩu ngọa hoa âm" để tặng. Mấy hôm sau, Bà Nội tôi ghé nhà nhắc nhở Má Má tôi, sao tặng cái mặt gối "KỲ QUÁ VẬY!". Má tôi mới chợt nhớ ra rằng, dượng Ba của tôi là Thầy Thuốc Bắc họ HUỲNH (Hoàng) 姓黄. Câu "Hoàng Cẩu ngọa hoa âm" khác nào gọi con của cô dượng Ba là "Con Chó Vàng nằm dưới bóng hoa"!. Vỡ lẽ ra thì việc đã rồi, nên đành phải nín thinh luôn, may mà cô dượng Ba cũng không có để ý mà bắt lỗi gì hết, thiệt là hết hồn ! Nên... Nhiều khi không phải mình cố ý, hảo ý nữa là đằng khác, nhưng cũng làm ra những chuyện dễ "Giựt Mình"!...

2010                     2018                   2021                2024                2025                2026
Suốt một cuộc đời vất vả với chồng con, Má Má tôi vẫn kiên trì "Tướng phu giáo tử 相夫教子 : Giúp đỡ chồng và nuôi dạy con cái. Vừa làm dâu, vừa làm vợ, vừa làm mẹ trong gia đình bên chồng, lại phải vừa làm chị quan tâm giúp đỡ cho các em còn nhỏ dại khi bà Ngoại mất còn ông Ngoại thì đi về Tàu lúc các dì và cậu hãy còn chưa tới tuổi dậy thì...
Những tưởng Má Má sẽ đi trước "Tùa Hia" là Ba tôi, nào ngờ bà lại sống thọ hơn những 13 năm (2013-2026). Giờ thì "Ông Bà" đã gặp gỡ và đoàn tụ nhau rồi. Chúc cho Pá Pá Má Má sẽ luôn luôn hạnh phúc bên nhau trong cõi vĩnh hằng!

Nay nhân ngày LỄ MẸ, lại nhằm lúc MÁ MÁ mới vừa nhắm mắt ra đi, con xin chân thành ghi lại mấy hàng vội vả nầy. Như một nén hương lòng nguyện cho hương hồn của Má Má sẽ mãi mãi được thanh thản nơi miền cực lạc.

Má Má

 

Má Má là mẹ tuyệt vời,
"Tiểu thơ Ba Láng" thuở đời còn xinh.
Theo chồng vất vả linh đinh.
Cái Chanh buôn bán một mình sớm hôm.
Cái Răng tần tảo nuôi con,
Trở vế Ba Láng gót son rạng ngời.
Nội ngoại đồng loạt đổi đời,
Trưởng thành con cháu khắp nơi đạt thành.
Má Má nét mặt hiền lành,
Thọ niên chín tám mới đành ra đi.
Bao la lòng mẹ nói gì...
Chúng con chỉ biết khắc ghi trong lòng.
Má là biển rộng mênh mông !...
Đỗ Chiêu Đức
Kính tưởng nhớ nhân ngày

LỄ MẸ 2026

Thay mặt cho bà xã và các em, các con, các cháu...
Con trai đầu lòng của Má Má

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


Má Má (Đỗ Chiêu Đức) - Mẹ( Sông Thu)

 

Má Má

Má Má là mẹ tuyệt vời,
"Tiểu thơ Ba Láng" thuở đời còn xinh.
Theo chồng vất vả linh đinh.
Cái Chanh buôn bán một mình sớm hôm.
Cái Răng tần tảo nuôi con,
Trở vế Ba Láng gót son rạng ngời.
Nội ngoại đồng loạt đổi đời,
Trưởng thành con cháu khắp nơi đạt thành.
Má Má nét mặt hiền lành,
Thọ niên chín tám mới đành ra đi.
Bao la lòng mẹ nói gì...
Chúng con chỉ biết khắc ghi trong lòng.
Má là biển rộng mênh mông !...

Đỗ Chiêu Đức
Kính tưởng nhớ nhân ngày
LỄ MẸ 2026
***
Cảm Tác:

Mẹ

Tình thâm mẫu tử cao vời
Như hoa, như gấm muôn đời đẹp xinh
Tấm lòng nhân ái đinh ninh
Hy sinh chẳng quản thân mình mỗi hôm
Sớm khuya vất vả vì con
Bôn ba tần tảo lòng son sáng ngời
Lo toan suốt cả một đời
Dù nơi đồng ruộng hoặc nơi thị thành
Dạy con điều tốt, việc lành
Nhắc con ghi nhớ trên từng bước đi
Trên đời chẳng có thứ gì
Quý hơn tình mẹ mãi ghi đáy lòng
Dạt dào như nước dòng sông...

Sông Thu
(09/05/2026)

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Má Hồng Đổi Ngựa Truy Phong (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風)

Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh

Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇東坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là : Giang Thành Tử 江城子 như sau:

十年生死两茫茫, Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
不思量,自難忘。 Bất tư lương, nan tự vương.
千里孤墳,無處話凄凉。Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê lương.
縱使相逢應不識, Túng sử tương phùng ưng bất thức,
塵满面,鬓如霜。 Trần mãn diện, Mấn như sương !


夜来幽梦忽還鄉, Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
小軒窗,正梳妆。 Tiểu hiên song, chính sơ trang.
相顧無言,惟有泪千行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ thiên hàng.
料得年年腸斷處, Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
明月夜,短松崗。 Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.

Có nghĩa:
Mười năm sống chết hai nơi,
Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
Gặp nhau biết có nhận ngay,
Phong trần đầy mặt tóc dài như sương!

Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
Năm năm ruột đứt nơi nầy,
Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa!

Vương Nhuận Chi qua điện ảnh

Bài từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn; Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王閏之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王朝雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼朝雲" và bài từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西江月·梅花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cỏi tiên:

玉骨那愁瘴霧, Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
冰姿自有仙風。 Băng tư tự hữu tiên phong.
海仙時遣探芳叢。 Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
倒掛綠毛幺鳳。 Đảo quải lục mao yêu phụng.

素面翻嫌粉涴, Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
洗妝不褪脣紅。 Tẩy trang bất thối thần hồng.
高情已逐曉雲空。 Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
不與梨花同夢。 Bất dữ lê hoa đồng mộng!

Có nghĩa:
Cành ngọc nào ngại mù sương,
Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.

Mặt ngọc chê phấn son phai,
Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
Tình nồng mây sớm mênh mang,
Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung!

Vương Triêu Vân qua điện ảnh

Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮夢龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情史類略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" như sau :
Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn luyện phó sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng : Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây ? Tô đáp : Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là : Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không ? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau:

不惜霜毛雨雪蹄, Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
等閒分付贖娥眉。 Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
雖無金勒嘶明月, Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
却有佳人捧玉卮。 Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi !

Có nghĩa :
Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
Lại vui chén ngọc với giai nhân.

Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng :

春娘此去太匆匆, Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
不敢啼聲在恨中。 Bất cảm đề thanh tại hận trung.
只為山行多險阻, Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
故將紅粉換追風。 Cố tương hồng phấn hoán truy phong.

Có nghĩa:
Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
Chẳng dám than van oán ngập lòng.
Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
Mới đem má phấn đổi truy phong!

"Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng :"Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng : Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng :

為人莫作婦人身, Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
百般苦樂在他人。 Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
今日始知人賤畜, Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
此生苟活怨誰嗔? Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?

Có nghĩa:
Làm người chớ chọn làm thân gái,
Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
Nay biết người không bằng súc vật,
Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!

Hồng Phấn Hoán Truy Phong

Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...


Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮夢龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻世明言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警世通言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒世恒言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...

Phùng Mộng Long qua điện ảnh

Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... Nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅粉換追風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司空李紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司空見慣渾閒事,斷盡蘇州刺史腸!"Có nghĩa:"Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa !(Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba ?" của ĐCĐ).

Tô Đông Pha qua Điện Ảnh

Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
Thầy Mạnh Tử dạy rằng:“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !

Hẹn bài viết tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức