Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đăng Trúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Đăng Trúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2023

Nhớ Nguồn - (Mối Tình Non Nước Và Ý Nghĩa Thi Ca) Nguyễn Đăng Trúc


Định Hướng Tùng Thư
Tái bản lần thứ hai
2005

NHỚ NGUỒN

Định Hướng Tùng Thư
13 g rue de l’ILL, Reichstett, France
ESBN 2-912554-33-0
Tái bản lần thứ hai
2005


Lời nói đầu

Đây không phải là một luận văn triết học, nhưng là tập hợp một số suy tư về một vài chủ đề nhất định được đăng trong Tập San Định Hướng. Các chủ đề xem ra rời rạc, nhiều ý tưởng lại được lặp lại nhiều lần; những hiện tượng đó đi ngoài quy ước của một tác phẩm triết học theo khuôn khổ cổ điển; nhưng chúng vẫn được cho ấn hành thành một quyển sách, vì xuyên qua những chủ đề đó tôi chỉ muốn đào sâu câu nói lạ thường của Martin Heidegger:

Điều làm cho chúng ta suy nghĩ hơn cả trong thời đại của chúng ta, một thời đại đang làm ta suy nghĩ, đó là chúng ta chưa từng suy nghĩ.(1)

Chúng ta chưa từng suy nghĩ, vì theo nhà tư tưởng này:" Có thể là con người truyền thống đã quá mải miết hành động và không mấy suy tư suốt qua bao thế kỷ ".(2)

Để hiểu thế nào là hành động theo quan điểm của Martin Heidegger, tôi xin ghi lại một cử chỉ đặc trưng của nhà tư tưởng này khi ông đề tặng cuốn sách của ông: " Kant et le problème de la métaphysique" tưởng niệm triết gia Max Scheler tạ thế bất ngờ vào năm 1924. Vào đầu năm ấy, Max Scheler định cho xuất bản cuốn "Anthropologie philosophique" (Nhân học triết học) nhằm khai triển vấn nạn "con người là gì, vị thế của nó như thế nào trong hữu thể ?". Max Scheler được biết đến như một triết gia đã có công truy cứu về bản tính con người, được gọi là nhân vị, kết dệt bởi các hành vi yêu thương và liên đới.

Martin Heidegger không chỉ trích Max Scheler về việc triết gia này đặt lại vấn đề con người như nền tảng của suy tư triết học, vượt qua những hệ thống duy lý truyền thống chỉ tập chú truy cứu các ý niệm trừu tượng. Nhưng Heidegger cảnh giác rằng những nội dung như nhân vị, yêu thương, liên đới...có nhảy vọt ra khỏi tiền kiến về cách đặt vấn đề căn bản về con người hay không? Tiền kiến đó ở trong câu hỏi khởi đầu của Max Scheler "Con người là cái gì ?". Chữ "cái gì" hàm ngụ một vật thể trụ vào bản chất của mình, không tương quan cần thiết với cái gì khác mình, đồng thời tiên đoán con người như một vật thể có khả năng am tường các bản chất đó. Suy tư biến thành hành động thu tóm toàn bộ các bản chất vật thể thành một tổng thể, một Đại Ngã đang hình thành.

Nhưng truyền thống của lối suy tư đó như lời của Gioan: " Suốt đêm, họ đã chẳng bắt được gì"(3) . Tất cả là đêm tối vì con người không phải là "cái gì", cũng không phải là toàn thể những cái gì cộng lại, nhưng mỗi người là một "ai".

Chữ "ai" không phải là thế giới của hành động qui về mình, nhưng là cảnh vực của Lời nói, để gọi tên mỗi người khác mình, lôi mình ra khỏi cơn mê của "chấp ngã" hành động.

Cả một truyền thống triết học đã hành động quá nhiều để mặc nhiên hay minh nhiên xây dựng cho cái tôi của thế giới vật thể; nên khởi đầu học lại suy tư không phải làm thêm một thế giới của một "cái gì" khác nữa; nhưng là tập lắng nghe âm vang của Lời ẩn kín giúp con người bước vào ngưỡng cửa của cảnh vực của Ai và những ai.

"Ai ?", một chữ mà mọi người đều đã sử dụng, nhưng ngay cả bậc thánh hiền cũng bất cập trước mầu nhiệm của con người khi nó là "một ai".

Reichstett, ngày 05 tháng 03 năm 1994
Nguyễn Đăng Trúc

1/M. HEIDEGGER, Qu'appelle-t-on penser ? bản dịch của Aloys Becker và Gérard Granel, PUF, Paris, 4è éd. 1983, tr. 24
2/M. HEIDEGGER, sd. tr. 23
3/Gioan 21. 3


Mối Tình Non Nước
Ý Nghĩa Thi Ca

Nói và làm

Thắc mắc về con người nếu không bị quên lãng, thì cũng chỉ được xem là một xa xỉ, một lãnh vực giải trí đứng bên ngoài những câu hỏi về các chương trình hành động được xem là đúng đắn và thực tiễn. Chúng ta không phải đã vượt qua thời đại của những thắc mắc "vô ích" đó để sống trong thời đại của hành động hữu hiệu hay sao? Chúng ta không phải đã sống trong thời điểm của ánh sáng do lý trí con người làm nên lịch sử chính mình hay sao? Phải chăng chỉ có kẻ mù mới không thấy thế giới "vinh quang" đó của con người? Thời "vinh quang" của con người không còn là thắc mắc, nói, nhưng là hành động, "biến sỏi đá thành cơm", và rốt ráo là "người làm nên người", không phải vậy sao?

Thực ra, nếu thời đại chúng ta, những kẻ chính thức và triệt để muốn làm nên một xã hội của con người "không nói", thì ý đồ căn cơ đó không phải là phát minh của xã hội tân kỳ ngày nay, nhưng nó gắn chặt với thân phận con người.

Văn hóa Do Thái, Kitô giáo gọi tên con người đó là Adam hái trái cấm; thi ca Hy lạp cô động trong các nhân vật Oedipe, Prométhée; kinh sách Trung Hoa đưa ra hình ảnh Bá Cổn, Tề Thiên, Trư Bát Giới, Sa Tăng; và Tây phương cận đại được Goethe mô phỏng qua nhà thông thái Faust bán hồn cho quỷ: Khởi thủy là hành động.

Hành động gọi là khởi thủy, không phải là làm việc này hay việc khác, nhưng biến ta thành một cái gì do tự ta và vì ta. Ngôn ngữ nhà Phật gọi hành (karma), có căn nơi chấp ngã. "Chấp" là đóng khung lại và biến thể "ngã" thành một cái gì tuyệt đối, bao trùm. Trong vị thế độc tôn của "ngã", không còn có ai, có kẻ nào khác để Lời nối kết mối tương giao. Hành động nguyên thủy đó biến tất cả "kẻ khác" thành dụng cụ làm nên "ngã"; và Lời bấy giờ đã bị biến thành phương thế cân đo, đong đếm phục vụ cho hành động "ta làm nên ta" này.

Đi tìm một trật tự mới cho xã hội con người, phải chăng chỉ là tổng hợp các yếu tố cũ nơi thế giới của Faust mà xã hội đang đeo đuổi, phác họa ra một kiếp hành động khác trong muôn kiếp đọa đày của karma – là bô lô, ba la thảo luận về các chương trình hành động trong khung cảnh của "chấp ngã" như thế?
Trước những đổ vỡ của trật tự cũ, vấn đề ưu tiên và then chốt có phải là tiếp tục nêu lên nhiều câu hỏi "phải làm gì ?"(4) hay dừng lại giây lát lắng nghe một lời của "Ai" nói, một âm vang làm nổ bung vỏ cứng của chấp ngã, để có được lời nói thật sự nối kết người với người, tạo nên hồn của cuộc sống xã hội?

Nhà tư tưởng Jean Brun trong cuộc hội thảo quốc tế về triết học tổ chức tại Roma năm 1978, đã mạnh dạn phát biểu:

    Làm gì?
- Không có gì để làm cả! Không có gì để làm vì không có vấn đề thêm một cái làm khác vào vô số cái làm đã đày đọa chúng ta. Vấn đề là "chân chất tính thể của mình (être) .(5)
Nói cách khác, trước tất cả mọi câu hỏi "làm gì ?", ưu tiên và nền tảng phải là thắc mắc "làm người".

   Hưng ư thi(6)

"Làm người" mà Khổng Tử gọi là Đạo Nhân tức là cuộc sống nối kết trời-đất-người, mà trí năng và hành động của chấp ngã đã biến thể thành phản ứng, tương quan vô hồn giữa vật này với vật khác. Tìm lại người và quê hương của nó cũng là tìm lại lời nói chân thật biểu lộ sự nối kết của Đạo Nhân.

Lời nói là nhà của Tính Thể. Những nhà tư tưởng và thi hào là những kẻ coi sóc chốn ấy (7)

"Lời nói", đơn sơ như thế, nhưng Khổng Tử phải dạy con là Bá Ngư:

Bất học Thi, vô dĩ ngôn
(Không học Thi, không có lời để nói)(8)

Vậy lời nói từ thi ca là gì, mà bậc thầy của nhân loại, một kẻ suốt đời dấn thân cải tạo xã hội như Khổng Tử đã đặt nó làm nền cho sinh hoạt con người?

Cũng mang nỗi lo âu cho tình trạng Nước Non đôi cảnh chia lìa, vì "hồn dân tộc" đã trốn thoát, kẻ sĩ Sảng Đình Nguyễn Văn Thích đã dạy cho ấu nhi của vườn trẻ Hương Linh do người sáng lập tại Huế bài đồng dao:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con luôn gìn giữ lấy
Muôn năm nhớ Nước Non Nhà

Cái nhà là nơi cư ngụ cho xã hội tình nghĩa cụ thể của con người, là nơi thể hiện tình Nước và Non.
Cái nhà của cuộc sống tinh thần con người là Lời, tức là tương giao vô vị lợi của Đạo Lý, tình nghĩa, là nơi mà cái tôi, như thánh Phanxicô Assisi nói, "đã chết đi" từ bao giờ: cha sống vì con, vợ sống vì chồng, chồng lao nhọc vì vợ, và con cái an tâm trong niềm tin vào cha mẹ.

Thi ca là cái nhà của lời con người, vì hồn thi ca không phát xuất tự mình, diễn tả sự khôn ngoan hay trí tưởng tượng của mình, nhưng là dấu tích của âm vọng từ Non Cao, của thần nhập từ bên kia bờ thế sự.

Hồn của Thơ và Tình Non Nước

Thơ là một lời nói, nhưng hình thức thô thiển nhất để phân biệt với lời nói thông thường là tiết điệu nhịp nhàng của thơ. Tiến xa hơn nữa, người ta đòi hỏi lời thơ phải đáp ứng những tiêu chuẩn đẹp đẽ của ngôn từ. Cũng còn được đánh giá thật sự là thơ khi lời thơ đủ sức tác động đưa người nghe, người ngâm, đọc, bước qua cảnh vực khác với thế giới đang sống . Từ tác động đó người ta phải nghĩ đến thơ là sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng cũng còn là trí tưởng tượng không sản xuất ra những ý niệm áp dụng vào hành động thực tiển, hay bị thúc bách bởi lợi ích của cuộc sống thực tiễn. Không gì ngượng ngùng, nếu không nói là xúc phạm với thơ hơn là phải nghe một bản vận văn ca tụng, nịnh hót một chế độ để cầu chức tước hay kiếm ăn. Cũng như không ai xếp những câu vè quảng cáo vào ngôn ngữ của thi ca. Những yếu tố sơ đẳng đó thường là những mẫu mực để những nhà phê bình văn học xếp loại và đánh giá thi ca .

Trực diện với cuộc sống xã hội ngày nay, trong tiềm thức sâu xa và tập thể của một con người gọi là văn minh, của các nhà thông thái, của một Faust đã dùng "bàn tay" tự tạo nên mình thay lời nói, thì Đông cũng như Tây hầu như đã không còn đoái hoài gì đến thi ca nữa. Nếu phía Đông đã chuyển thơ thành dụng cụ phục vụ bộ máy sản xuất, thì Tây cũng chỉ còn mấy câu nói xuôi tai dùng trong quảng cáo. Thi ca đã cáo chung không phải chỉ trong sách báo, mà ngay cả trong cuộc sống dân gian. Một hiện tượng văn học qua đi trong sự hững hờ, không nuối tiếc của ngay những kẻ gọi là làm văn hóa. Thi ca nếu còn được nhắc nhở thì cũng chỉ là một sinh hoạt tối thiểu của một thế hệ quá tuổi sản xuất, một trò giải trí lỗi thời. Đó là dấu chứng của một xã hội mang tiền kiến vô thức thu gọn Chân-Thiện-Mỹ vào hiệu năng của hành động. Hiện tượng vắng bóng thi ca không phải chỉ vì tâm thức con người không còn cảm nhạy về thơ vì đã mãi ưu tư hành động; nhưng trước đó, thực tế của văn học thi ca đã từng mất hồn sống của mình rồi.

Thơ mất hồn vì thơ chỉ được xem là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Nếu lấy ngôn từ của Kant để nói về trí tưởng tượng, thì trí tưởng tượng hướng đến nhận thức sự vật gọi là trí tưởng tượng sản xuất (l'imagination productive). Phải chăng khi trật lề không đóng khung được vào đối tượng nhận thức, ngôn ngữ bấy giờ trở thành đối tượng của ảo ảnh để tạo thành thế giới thi ca! Từ tiền kiến về thi ca là thế giới của không thực, sản phẩm của trí tưởng tượng mông lung, thơ trở thành một lối tự thoát, một hình thức đào ngũ trước thực tế.

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây(9)

Thơ như thế không phải là Lời đến với người, nhưng thơ là sản phẩm của trí tưởng tượng con người làm nên một thế giới ảo tưởng. Thơ ấy kỳ thực cũng chỉ là lời của một hành động con người: hành động sản xuất của giấc mơ. Nhưng hành động lại phải gắn liền với hiệu năng; trong khuôn khổ này, thơ không đáp ứng tiêu chuẩn của hành động là hiệu năng sản xuất, nên thơ tự mình đào thải chính mình.

Khi Khổng Tử nói "hưng ư thi", toàn nội dung của tư tưởng ngài không cho phép ta quan niệm được thi ca theo nghĩa vừa trình bày. Thơ hưng chấn tâm hồn, thơ tạo nền cho lời nói chân thật như Luận Ngữ đã diễn tả, thơ như thế hàm ngụ việc nghe và nhận. Trong quan điểm "hưng ư thi" đó, Khổng Tử nói rằng ngài thuật lại mà không làm ra.

Chỉ có thể thuật lại khi đã nghe và cảm nhận, khi ngộ được sức hưng chấn của thơ. Chúng ta hãy tạm quên quan niệm lịch sử hàng ngang, một cái nhìn quá tân thời đối với Khổng Tử để cập nhật ngôn ngữ thi ca của ngài khi ngài nói về thuở Nghiêu Thuấn. Nghiêu Thuấn cũng là thời của "Đại Ký Ức", không khác nội dung của Mnemosyne trong văn hóa Hy lạp mà Heidegger giải minh:

Nơi Hoelderlin, Mnemosyne là tên của một nữ thần, con Trời và Đất. Khi đính hôn với Zeus, Đại Ký Ức trở thành mẹ của thi hứng. Đùa chơi, nhảy nhót, thi ca được Đại Ký Ức cưu mang. Chữ đó ở đây hẳn nhiên nói đến một cái gì khác với khả năng được gọi là thuộc về tâm lý: tức là khả năng lưu trử hình ảnh của quá khứ trong lối biểu tượng thông thường. Đại Ký Ức tư tưởng về điều đáng được con người suy nghĩ. Nhưng tên của bà mẹ các niềm hứng khởi không có nghĩa là "trí nhớ" được hiểu như là một hành vi của tư duy hướng đến bất cứ một vật nào có thể tư duy. Đại Ký Ức ở đây là nguồn mạch tư tuởng, một khi tư tưởng quay về với điều người ta đã từng suy nghĩ trước đó, vì điều này luôn muốn được xem là tiên quyết . Đại Ký Ức là nguồn mạch làm ta suy tư đến điều phải lưu ý trước bất cứ một điều gì ... Đại Ký Ức, một kỷ niệm nằm trong ta buộc ta quay về với điều phải suy nghĩ, là vùng đất làm trào vọt lên thi ca.(10)

Qua lối minh giải đó Heidegger muốn nói lên rằng Đại Ký Ức là tiếng vọng khác lạ, một trái tim luôn khắc khoải (theo ngôn ngữ của thánh Augustinô) như đã có từ bao giờ khi con người là người. Tiếng vọng buộc ta phải suy nghĩ về một cái gì ngay cả trước sự suy nghĩ của ta. Một cái gì gần gũi với ta, nhưng là khác với ta, khác đến nỗi nó vượt lên trên tất cả các hình ảnh xa xưa nhất mà trí tưởng tượng và ký ức có thể mô phỏng. Huyền thoại Nghiêu Thuấn, một hình ảnh quá khứ nhưng như không thuộc về thời gian lịch sử, một Đại Mẫu Mực, một "nghĩa" của thân phận làm người và xã hội, khi "nghĩa" được hiểu là "cái phải là như thế". Thi ca cũng như tư tưởng không phải là sinh hoạt của tưởng tượng đẻ ra hình ảnh, nhưng là sự nhớ lại theo ngôn từ thi ca của Platon. Nhớ lại không được hiểu ngây ngô là quay về một thế giới trước khi con người là người; qua hình ảnh thi ca đầy ắp trong các tác phẩm của Platon, thế giới bên kia, trước đây, cũng là đây, trong tâm hồn con người. Trong tác phẩm Phèdre, ông viết:

Một loại nhập thần và xuất thần thứ ba là loại đến từ các Thần Thi, và khi nó đến với một tâm hồn đơn sơ, trong trắng, khi nó thức tỉnh và làm cho tâm hồn đó ngây ngất, trong nhịp điệu của ca nhạc cũng như trong tiết tấu của tất cả các loại thể văn, khi nó ca ngợi các kỳ công của người thuở trước, thì nó giáo hóa cho hậu thế! Ngược lại, ai không ngây ngất bởi thần thi mà chủ tâm đi vào thi ca, với xác quyết rằng bằng kiến thức kỹ thuật có thể đủ làm cho mình trở thành thi sĩ, kẻ đó hẳn chỉ là thi công bất toàn; trước thi ca của người đầy thi hứng, thơ của kẻ sáng suốt bình thường không "có gì là thơ cả (11)

Trong khuôn khổ của ngôn ngữ thi ca, nói đến hồn, Đại Ký Ức, nhập thần, xuất thần tưởng chừng như nói đến một cái gì khác với một chân trời sáng tỏ, mở toang của thế giới nhận thức thuộc lý trí. Đại Ký Ức như ở bên kia bờ của cuộc sống gọi là tự nhiên, với những thúc bách, nhu cầu, kể cả nhu cầu suy tư, tò mò hiểu biết của mình, cùng nhịp điệu với thời gian trôi chảy, thích ứng với những hoàn cảnh không gian, và môi trường sinh hoạt thăng trầm của xã hội. Thánh Phaolô gọi cuộc sống tự nhiên này là cuộc sống của thân xác, mang tất cả ưu tư thế sự, của một loài người có thể có những tài năng được xem là cao độ hơn các loài sinh vật khác; nhưng, chỉ thế thôi thì loài người đã mất hồn, vì "sống" đối với người không chỉ là trôi chảy với thời gian mà còn là khắc khoải về căn nguồn của mình. Thi sĩ Tản Đà nói:

Nước Non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi, không về cùng non(12)

Hai câu thơ tiếp theo, Tản Đà đưa ta vào cốt lõi của hồn thơ:

Nhớ lời nguyện Nước thề Non,
Nước đi chưa lại, Non còn đứng không

Hồn thơ là nhớ lại một lời nguyện thề, gắn Non với thân phận của Nước. Nhưng Nước mãi đi và Non vẫn đứng đấy một mình, như là không gì cả đối với Nước!

Quên Non, Nước mất hồn, và người mất lời nói. Sinh làm kiếp người, bơi vào dòng nước, nhập cuộc với đời, con người mang lấy nghiệp "quên"; văn hóa Kitô giáo gọi là tội nguyên tổ, tội của tự do làm người, vì con người là người. Thi hào Sophocle mượn hình ảnh của Oedipe để biểu tượng cho "kiếp người quên lãng", không hay biết nguồn gốc là Non, nên mãi nghĩ rằng thời gian luôn bung mở và nhận thức hiểu biết của con người là chân lý trọn đầy. Hoặc nói như Héraclite, Non vẫn nói bằng muôn nghìn cách, nhưng con người thế sự đầy ứ ưu lo cho mình mà thôi, nên nghe cũng chẳng hiểu gì :

Họ nghe mà không hiểu gì, không khác những người điếc. Cách ngôn áp dụng đúng trường hợp của họ: Họ hiện diện, nhưng kỳ thực đang vắng mặt(13)

Œdipe, trong kịch bản của Sophocle, có ngờ đâu khi nhập cuộc với thời gian thì cũng chính là lúc gươm của tự tay mình giết chết thân phụ mình là Laios. Ngập vào "Nước" là thời gian, con người đã nhúng tay vào tội nguyên tổ giết cha, tức quên Nguồn. Con người biết thật nhiều, nhưng không biết Cha, nên lầm lạc và mãi lầm lạc. Thi ca như kẻ mù, một sự đối nghịch của "ánh sáng" của thân xác-trần thế, qua hình ảnh người tiên tri mù Tirésias đến báo cho Oedipe hay rằng:

Bởi vì ông sỉ nhục tôi là kẻ mù, tôi sẽ nói cho ông hay việc này: Ông có hai mắt, nhưng ông không thấy ông đã rơi vào hố thẳm, ông không biết ông đang ở đâu và ăn nằm với ai. Ông có hay ai sinh ra ông không? Ông không hay chính ông là thù địch của người thân của ông, kẻ sống cũng như người đã khuất(14)

Cũng như người mù Tirésias, người điên (kẻ không bình thường theo khôn ngoan thế sự) của F. Nietzsche đã một lần nữa hét to:

Người điên có lúc cần phải hét to lên: "Thần đi đâu rồi? Tôi nói cho bà con hay, chúng ta đã giết thần rồi. Bà con cũng như tôi! tất cả chúng ta là những kẻ sát thần.(15)

Chúng ta giết Thần hay nói cách khác, Thần không đóng khung trong thế giới chỉ có mặt ta dưới bóng nước. Thần vô phương, vì không có một nơi nào ta định được cho Thần ở, dẫu Thần ở mọi nơi, như Trang Tử nặng lời nói Đạo ở ngay trong đống phân bò. Hồn thơ là Thần đến, nhưng Thần không cư ngụ trong lời hoa mỹ do tài con người xếp đặt. Một trăm thợ vẽ tài ba dẫu có sao lại tinh tế đến đâu một bức tranh nhỏ của Van Gogh, cũng không làm cho những bức họa đồ đó trào vụt lên cái thần của họa sĩ này.

Hồn thơ như một sức từ ngoài nhập đến. "Nhớ Lời", không phải do suy tư mà nhớ, do "ngã" được định vị từ trong giòng nước thời gian tự quay lại nhìn mình. "Nhớ Lời" của Tản Đà không có chủ từ rõ rệt đi trước, như đã mang âm hưởng câu nói bất hủ của đức Buddhaghosa:

Có khổ, nhưng không thấy người khổ
"Nhớ lời" là hồn thơ đến từ bờ bên kia.
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày. .

Thánh Augustinô trong cuốn Confessiones gọi nguồn của nhớ là "Misericordia", tức là "Đại từ tâm" của Non.
Nhớ như thế phải chăng là hồn thơ đã nhập vào lời trần, để lời trần không còn nhi nhô hoan lạc với thời gian mở rộng, nhưng vướng lấy âm hưởng của Non trong lối nói khác đời, tiêu cực, thiếu vắng. Augustinô đã hỏi trời, đất, cây cỏ, nhưng Thần không phải chúng. Những nhà đại thi hào muôn thuở của nhân loại đều nhập Thần để khai mở lối nói thi ca này. Tất Đạt Đa gọi nỗi nhớ đó là "khổ", Lão Tử gọi là "vô", Kinh Thư gọi là "Đạo tâm duy vi" không phải là đạo của tâm con người vốn là "duy nguy", Pascal trong Pensées cảm nhận hồn thơ nơi tâm thức về "thinh lặng miên viễn" (17).

Hồn thơ đến như một cơn đau, nỗi khổ vô tận của thời gian và kiếp làm người "hay quên", một cảm xúc thiếu vắng mà không một yếu tố chất liệu nào của trần gian lấp đầy được. Thi hào Hoelderlin gọi là nỗi "nhớ quê - nhớ nhà". Heidegger lấy lại hình ảnh này để nói lên cơn đau đó:

Nỗi nhớ nhà, nhớ quê là cơn đau mà sự gần gũi của cái gì thật xa vắng ập đến trên ta(18)

Cảm được sự gần gũi của Lời thật xa, của lời thề muôn thuở Non-Nước sẽ hưng chấn con người và cộng đồng huynh đệ thật sự, để lời nói không chỉ làm dụng cụ tính toán của hành động, nhưng còn là sự sống nối kết Đất-Trời-Người.

Lời thơ sẽ dẫn đưa lời trần thế, từ ưu lo khai thác, khám phá vật này vật kia đến cảnh giới tương giao giữa người với người, được nối kết với Non cao thật gần và thật xa.
Lời thơ sẽ tuyệt tác khi còn là tiếng vọng của Non cao "khuất mặt" để từ đáy lòng con người cảm nhận nỗi khắc khoải về quê nhà mình, cảnh vực của Nước-Non-Nhà để đón nhận cái "Khổ" cứu thoát.

Nguyễn Đăng Trúc
------------------

4/ GOE 4/ GOETHE, Faust- tập đầu - vần thơ 1237
5/ Jean BRUN - La Politique et le Mal radical, dans Religion et Politique, Actes du Colloque à Rome,1978, Montaigne, Paris, 1978,tr 144
6/ Luận Ngữ - VIII-8.
7/ M. HEIDEGGER, Lettre sur l'humanisme (bilingue), Aubier,tr 27
8/ Luận Ngữ ,XVI-13

9/ XUÂN DIỆU - Thơ Thơ
10/ M. HEIDEGGER - Essais et Conférences - Que veut dire "penser»? - Ed. Gallimard - 1958, tr 161
11/ PLATON, Phèdre 245 a
12/ TẢN ĐÀ, xb Tùng Văn, trang 47
13/ HÉRACLITE, câu 34
14/ SOPHOCLE, Oedipe-Vua, câu 400- 410 .
15/ F. NIETZSCHE – Le gai savoir - l'Insensé 125
16/ Visuddhimagga - Text Society -Londres - tr. 513
17/ cf: Le silence éternel de ces espaces infinis m'effraie.
18/ M. HEIDEGGER - Essais et conférences - Qui est Zarathoustra de Nietzsche? - Gallimard - 1958, tr 125).

(Còn Tiếp)

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

Paris Sinh Hoạt Văn Hóa Ngày 27/5/2023

GS Hoàng Đức Phương diễn thuyết về Văn Hóa

Paris vào hạ ngày 27/5/2023 trời nắng ấm. Tại nhà hàng Sài Gòn rất đông quan khách gồm Giáo sư, Tiến sĩ, nhà Khoa học và những người làm văn hóa... đến tham dự bữa cơm thân mật chia tay cựu chủ tịch CLBVHVN tại Paris. Sau khi gặp gỡ, trao đổi vui vẻ và dùng cơm trưa, MC Thái Hà giới thiệu 30 phút văn nghệ chủ đề do những ca nhạc sĩ và cũng là thành viên CLBVH trình bày như: thi nhạc sĩ Đỗ Bình, nghệ sĩ Thúy Hằng, ca sĩ Tuyết Dung, ca sĩ Kim Thu, ca nhạc sĩ Đình Đại và nhạc sĩ Phạm Đăng.

Mở đầu phần sinh hoạt chính, nhà thơ Đỗ Bình, chủ tịch CLB nói về những chặng đường đã qua của CLBVHVN tại Paris, ông ngỏ lời cám ơn sự giúp đỡ, ủng hộ tinh thần của bằng hữu xa gần để CLB có thể đứng vững và tồn tại hơn ba mươi năm. Sau thời gian điều hành với cả tâm huyết, nay vì lý do sức khỏe ông xin từ nhiệm, hy vọng tân ban chấp hành sẽ nối tiếp con đường ông đang đi để phát triển và bảo tồn văn hóa Việt. Ông phát biểu: “Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị trong thời gian qua đã đóng góp công sức trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc ở hải ngoại. Trong quá trình dài, chúng ta đã thực hiện được nhiều sinh hoạt như: Hội luận chuyên đề về Văn Hóa, Khoa Học, Tâm Linh, những buổi ra mắt các Tác phẩm của các tác giả nổi tiếng trong làng Văn Học người Việt ở hải ngoại, những chương trình Thi Nhạc thính phòng và ra mắt những CD Nhạc chủ đề, cũng như mới đây chúng ta đã thực hiện hai cuốn sách: Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN ở Paris, và cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN Hải Ngoại, nhằm vinh danh những người đã có công trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc. Trước khi dứt lời tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý Anh Chị Tân Ban Chấp Hành của CLB và xin gởi đến quý Anh, Chị lời cầu chúc tốt đẹp nhất.

Trân trọng

(BS Nguyễn Tối Thiện, Nhà văn, Trần trung Quân, Tu sĩ, nhà thơ Gia Trạng, Nhà thơ Đỗ Bình, BS Nguyễn Bá Linh, TS Nguyễn Thị Phượng Anh, Nhà hoạt động văn hóa Lê Thị Kim Lan...)

Thay mặt tân ban chấp hành, chủ tịch Nguyễn thị Phượng Anh có vài lời cám ơn cựu chủ tịch Đỗ Bình đã dìu dắt CLB đến ngày hôm nay với bao nhiêu tiếng thơm, đây là một việc làm rất khó không phải ai cũng làm được. Bà hứa sẽ cùng ban chấp hành hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. Tiếp theo lời phát biểu của bà Phượng Anh, phó chủ tịch Nguyễn Tối Thiện giải thích thế nào là văn hóa và tại sao chúng ta phải bảo tồn, không để bị mai một. Văn hóa và lịch sử rất cần thiết cho một dân tộc, nhà văn Trần Trung Quân, người giữ vai trò nghiên cứu sử đã nói lên sự quan trọng của việc gìn giữ lịch sử, vì nếu lịch sử mất, văn hóa cũng sẽ không còn! Ông và tân ban chấp hành mời nhà thơ Đỗ Bình làm cố vấn cho CLB.

Cuối chương trình là phần diễn thuyết của GS Hoàng Đức Phương, giới thiệu bộ sách "TÌM HIỂU CỘI NGUỒN ĐỂ XÂY DỰNG TƯƠNG LAI", công trình nghiên cứu trong vòng 37 năm. Dù đã cao tuổi nhưng GS luôn quan tâm và lo lắng cho sự tồn vong của ngôn ngữ Việt. Việc làm đó cao quý và ông là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ sau này.

Buổi lễ kết thúc lúc 18 giờ cùng ngày, mọi người ra về trong sự vui vẻ và chờ đợi những sinh hoạt thơ văn kế tiếp. Riêng tân ban chấp hành ít nhiều cũng có chút suy tư về chặng đường tiếp nối.

Ghi chú:

Sự phân chia trách nhiệm trong BCH chỉ có tính tượng trưng. Khi có một dự án được thực hiện, tất cả thành viên đều làm việc chung.
Một dự án chỉ khả thi, phải được đa số các thành viên đồng ý thực hiện.

Các diễn giả là thành viên CLB và thân hữu: 

GS Hoàng Đức Phương, GS Nguyễn Đăng Trúc, GS Lê Đình thông, GS Nguyễn Bảo Hưng, GS Trịnh Khải, GS Âm nhạc Nguyễn Thanh Vân, Nhà thơ Đỗ Bình, nhà văn Trần Trung Quân, Nhà văn Lucien Trọng, Nhà văn Chu Chi Nam, Nhà văn Từ Thức, Nhà biên khảo nguyễn Đức Tăng, TS Phạm Trọng Chánh.

(BS  Nguyễn Tối Thiện, BS Nguyễn Bá Linh, TS Nguyễn Thị Phượng Anh, Casị Tuyết Dung, Kim Lan...)
Tân Ban Chấp Hành:

Chủ Tịch: TS Nguyễn Thị Phượng Anh: Trách nhiệm tổng quát.
Phó Chủ tịch: BS Nguyễn Tối Thiện: Phụ trách tổ chức các sinh hoạt nội bộ và cộng đồng. (cùng với toàn BCH).
Thư Ký: Bà Lê Thị Kim Lan: Trách nhiệm liên lạc với các thành viên, thân hữu CLB. Ngoài ra còn chụp hình, ghi chép biên bản các sinh hoạt văn hóa của CLB để làm tài liệu lưu trữ cho CLB để viết sách, viết báo, trang nhà.
Phụ trách sinh hoạt văn học nghệ thuật: Nha Sĩ Thẩm Thái Hà Thơ Văn, Âm Nhạc. Làm MC cùng với Nguyễn Quang Huy trong những chương trình Chủ đề.

Những người trong nhóm Văn nghệ: Nghệ sĩ Thúy Hằng - Ca nhạc sĩ Đình Đại - Nghệ sĩ Huỳnh Mai - Ca sĩ Kim Thu - Ca sĩ Tuyết Dung - Ca sĩ Đình Thy - Ca nhạc sĩ Phạm Đăng - GS, Nhạc sĩ Nguyễn Thanh Vân - Nhạc sĩ Daniel Vĩnh Phước - Nhạc sĩ Bảo Lộc - DS, nhạc sĩ Đặng Mộng An - Nhạc sĩ, nhà văn Lucien Trọng - Nhạc sĩ Duy Thành - Nhạc sĩ Duy Hoàng - Nhà báo và Phóng sự Ca Dao - KS Trần Đình Quốc, quay những sinh hoạt văn học nghệ thuật làm tài liệu cho CLB.

Phụ trách Liên lạc: BS Nguyễn Bá Linh phổ biến những sinh hoạt văn hóa của CLB đến các diễn đàn cũng như tạp chí văn học nghệ thuật ở hải ngoại.
Phụ trách kỹ thuật điện toán, Trang Nhà Câu Lạc Bộ: ThS Nguyễn Mạnh Trí
Phụ trách nghiên cứu tài liệu lịch sử: Nhà văn Trần Trung Quân, nghiên-cứu gia Lê Huỳnh

Phụ trách dịch thuật: ThS Trần Thị Thanh Loan, TS Nguyễn Thị Phượng Anh, GS Nguyễn Thị Cung, GS Nguyễn Bảo Hưng, GS Nguyễn Ngọc Chân, Luật gia Đoàn Trần Thiều, Nha sĩ Thẩm Thái Hà.

Ban Biên tập:
Sẽ thực hiện những cuốn sách về CLBVHVNP bằng hình ảnh có lời giải thích bằng 3 ngôn ngữ Việt Pháp Anh. Và cuốn sách gồm những bài biên khảo về CLB...

Ban Tham Vấn:

GS Trịnh Khải, GS Minh Cầm, GS Nguyễn Thị Cung, Nhà thơ Từ Thạch, TS Trần Thị Thanh Loan, Nhà văn Nguyễn Vân Xuyên, Nhà văn Trần Trung Quân, GS Nguyễn Ngọc Chân, Nhà báo Lê Đức Thọ, KS Lê Minh Triết.

Ban Kế Hoạch:

TS Nguyễn Thị Phượng Anh, BS Nguyễn Tối Thiện, BS Nguyễn bá Linh, KS Lê Minh Triết, Nhà văn Trần Trung Quân, Nhà văn Nguyễn Vân Xuyên, Trần minh Răn, Luật gia Đoàn Trần Thiều.

Ban Chấp hành nghiên cứu soạn thảo. Nên mời thêm những người có khả năng khác, vào ban kế hoạch để có nhiều sáng kiến và dự án tốt cho các chương trình sinh hoạt văn hóa trong tương lai.


TS Nguyễn Thị Phượng Anh


Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2022

Tiếp Cận Tư Tưởng Việt Nam (Tư Tưởng Nguyễn Du Qua Đoạn Trường Tân Thanh) - Chương IV (Phần Cuối)

 

Chương IV

Yếu tính của tư tưởng

qua tác phẩm

Đoạn-Trường Tân-Thanh


Hình thức diễn tả của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh vay mượn lối văn chương tiểu thuyết. Phương thức dùng một câu truyện có tính cách tượng trưng xuyên qua các hình ảnh cụ thể trong cuộc sống của một cá nhân nhằm gợi lên những nội dung tư tưởng về thân phận con người nói chung, không phải là một sáng kiến độc đáo của Nguyễn Du; trong kho tàng văn hoá nhân loại, nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng hướng dẫn nếp sống con người cũng sử dụng hình thức diễn đạt nầy: Chẳng hạn các bản kịch của Sophocle, Eschyle; các bản văn Cựu ước như sách Sáng thế, sách Job; kịch bản Faust của Goethe; Tây Du ký của văn chương Trung Hoa; các tác phẩm tiểu thuyết cũa Dostoievski; quyển I của Lĩnh Nam Chích Quái...Nhưng trong hình thức diễn tả nầy, Nguyễn Du có được đặc sắc riêng là dùng phần dẫn nhập của Đoạn-Trường Tân-Thanh để minh nhiên nêu lên rõ chủ đề suy tư, và sắp đặt lại thành một hệ thống, dù rất cô động, trong phần tổng luận. Điểm đặc sắc nầy xích gần tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh với lối trình bày tư tưởng của các tác phẩm văn hoá ứng dụng lối văn chương hệ thống hoá có tính cách trừu tượng hơn, như Trung Dung, Đạo Đức kinh hoặc các luận văn triết học Tây phương.

Nhưng điểm quan trọng không phải ở trong lối hình thức văn chương, dù rằng nỗ lực nầy của Nguyễn Du là một công trình xuất sắc trong tiến trình văn học Việt Nam.

Điểm quan trọng mà chúng ta đã phân tích rõ trong phần dẫn nhập, là điểm khởi phát thiết định đâu là khung trời của tư tưởng. Nói cách khác điều gì đáng gọi là tư tưởng hay yếu tính của tư tưởng là gì ?

Tư tưởng bao giờ cũng là câu tra vấn cho đến cùng để có được câu trả lời về nền tảng tối hậu. Nhưng tra vấn về việc gì? Nếu lấy hình ảnh của một vụ án, chúng ta có thể đặt câu hỏi: có gì oan ức cần phải xử cho ra lẽ, nội dung nào cần được nêu lên để tra vấn?

Truyền thống triết học cho rằng nội dung thiết yếu của vụ án là thắc mắc về nền tảng thiết định bản chất của mọi sự hiện hữu. Mệnh đề nầy thoạt tiên xem ra như đã đạt được đến mức rốt ráo. Kỳ thực, đằng sau khởi điểm "thắc mắc" nầy còn có những vấn nạn nguyên sơ hơn nữa chưa từng được xác minh, mà truyền thống triết học nầy xem như đương nhiên, thường được gọi theo ngôn ngữ chuyên môn là tiên thiên (a priori), nghĩa là vốn đã như thế. Trong những vấn nạn đó, theo sách Job phải lưu ý đến lời chất vấn nầy của công lý, đó là vấn đề thân trạng của chủ thể đặt câu hỏi. Sách Job viết :


Ta sẽ chất vấn ngươi và ngươi cho ta hay. 

Ngươi đã ở đâu khi ta đã dựng nên trái đất ?

Hãy nói đi, nếu sự hiểu biết của ngươi minh bạch".


Nỗi khắc khoải về thân trạng nầy là thắc mắc nguyên sơ của bi kịch Hy lạp, đặc biệt trong các kịch bản của Sopocle (xem Oedipe vua), cũng như các tác giả truyện Bánh dày, Bánh chưng trong Lĩnh Nam Chích Quái. Lang Liệu hoang mang về thân trạng của mình trước ý định của cha. Lang Liệu đã nghe nhưng không hiểu. Trong sách Sáng Thế ký của Cựu ước, Adam và Evà đã hái trái hiểu biết để phân định tốt xấu, tráo đổi thân trạng của mình làm thân trạng của Giavê Thiên Chúa, nên đã sai lạc.

Ta sẽ thấy Triết học Tây phương khi nêu lên thắc mắc về nền tảng đã tiền kiến rằng câu hỏi nầy phát xuất do tự khả năng mình, theo ý mình. Trên bình diện hữu thể học, mọi sự như đã ở trong quyền lực của con người, từ nguồn gốc câu hỏi, sự kiện nêu lên câu hỏi (mọi sự hữu) và nền tảng của nó, đều đã được thiết định. Bước nhảy vọt ra khỏi thân trạng của mình như thế cũng là bước khởi đầu hay bình minh của tư tưởng triết học truyền thống.

Thực vậy, trước khi xác định nền tảng cho lối suy tư triết học nầy, trong Bài Ca Hữu Thể Parménide đã diễn tả bước nhảy vọt kỳ lạ trên đây một cách khá chi tiết. Trong giấc mơ, Thần thánh đã đưa con người lên trời xanh vượt qua ngưỡng cửa phân chia Đêm-Ngày để sống trong cõi hiểu biết đầy ánh sáng của Hữu thể. Trong cõi đó mọi sự đều ở trong chân lý, vì "Bất luận ta bắt đầu từ đâu, vì ta sẽ trở lại nơi đây" . Từ nay tư tưởng sẽ dựa trên nền tảng duy nhất có tính cách căn cơ về thân trạng nầy : "Hữu thể không phân chia, vì toàn thể hữu thể đồng nhất với chính mình" . Do đó có thể nói Hữu thể là Hữu thể, và Vô thể là Vô thể ; và tư tưởng thuộc về hữu thể nầy nên "tư tưởng và đối vật của tư tưởng trùng hợp nhau" .

Rồi tác giả còn nói thêm, đó là Định mệnh đã trói buộc như thế.

Có gì khác giữa bài ca hữu thể nầy và bi kịch Hy lạp đặc biệt trong bản kịch "Oedipe vua" của Sophocle ? Sophocle gợi ý rằng sự hiểu biết ngày là ngày, đêm là đêm của Oedipe hàm ngụ sự quên lãng một tương quan thiết yếu, nên đã tạo ra tình trạng cô độc của Oedipe. Oedipe đã giết cha mình là Laios, dành thân trạng của cha để ăn nằm với chính mẹ mình mà không hay. Bi kịch chính là nỗi oan của lạc lầm gắn với kiếp con người tại thế. Nên tư tưởng gắn liền với thảm kịch không khởi đầu từ sự hiểu biết ngày là ngày đêm là đêm; nhưng là nỗi khắc khoải khi nghe được tiếng gọi từ Đại-ký-ức thức tỉnh con người về thân phận lầm lạc mình đang sống, đồng thời cảm nhận tình trạng bất cập về mối tương giao với người cha Laios, mà mình đã giết mất rồi.

Ngược lại, điểm khởi phát của Triết học Truyền thống đã tiên liệu sự đồng nhất tính giữa Laios và Oedipe. Đây là hình ảnh để nói lên nguyên tắc đồng nhất hay tác động đồng nhất hoá. Nguyên tắc đồng nhất ấy hàm ngụ một sự vững chắc cô đơn của Hữu thể bất động tự đủ cho mình, đồng thời cũng hàm ngụ sự đồng nhất giữa tư tưởng và vật thể mình muốn biết. Ứng dụng nguyên tắc nầy vào sự trôi chảy của thời gian, người ta sẽ có tính hữu lý hay tất định của nguyên tắc nhân quả. Như thế Nguyên tắc đồng nhất được xem là nền tảng bất khả kháng và hiển nhiên đi trước cả câu hỏi về nền tảng của mọi sự hữu. Thắc mắc về nền tảng ở đây xuất lộ như là một thắc mắc giả tạo, qua lối đặt câu hỏi : Cái gì ? Tuy đấy là một câu hỏi, nhưng đã hàm ngụ một câu trả lời, hay nói cách khác buộc câu trả lời phải nằm trong chính cái nền mình đã có sẵn trước trong tay. Tại sao như thế ? Vì cái gì trong câu hỏi nầy phải được hiểu vừa là cái nền chung, lại vừa đồng hoá với khả năng con người nêu câu hỏi.

Nói cách khác "Cái gì" xuất lộ ra trong sinh hoạt con người vừa như một câu hỏi và đồng thời cũng tiên liệu được câu trả lời. Nói theo Parménide, tự nó, hữu thể dù ở đâu đâu đi nữa, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không thể phân chia, nhưng đồng nhất với mình, tự đủ cho mình. Nên từ nền tảng nầy mọi câu hỏi có thể đều được phát biểu như nhau : Thiên Chúa là gì ? Con người là gì ? Cha tôi là gì ? Củ khoai là gì ? Kỳ cùng tôi là gì?

Hữu thể học nầy chi phối vận mệnh của lối đặt vấn đề tư tưởng của truyền thống triết học Tây phương, từ Aristote cho đến nay.

Người ta thường nhắc đến Nietzsche như kẻ thù của tư tưởng truyền thống triết học, vì đặt ngược lại vấn đề, không phải Hữu mà là là nền tảng của Thiên nhiên và cuộc sống con người. Nhưng Vô của Nietzsche trong hư vô chủ nghĩa của ông lại đã nằm trong khung Hữu-Vô nầy.

Ông đã táo bạo nêu lên khả năng nói ngược lại: Hữu là Vô Vô là Hữu, nhưng hay Hữu của Nietzsche cũng tiền kiến tiêu chuẩn đặt vấn đề của Parménide. Nietzsche mặc dù đã quay lại truy cứu thời bi kịch Hy lạp, nhưng không vượt qua được tiền kiến hữu thể học của triết học truyền thống. Ông đã tìm ra nơi bi kịch, căn cơ Vô làm nền cho tư tưởng. Nhưng "" của Nietzsche, cũng như Hữu của Parménide đều là tính đồng nhất giữa khả năng con người và chân tính hay vô chân tính. Nietzsche chưa nhận ra cái khác về cách đặt vấn đề tư tưởng nơi bi kịch, ông chỉ nêu lên cái ngược lại trong khung trời Đêm-Ngày, Hữu-Vô của Oedipe lúc chưa tỉnh ngộ hoặc trong sự đối nghịch Hữu-Vô của Parménide. Heidegger nhấn mạnh rằng hư vô chủ nghĩa tự căn không phải nằm trong lối nói ngược lại với Hữu của hữu thể học truyền thống, nhưng hư vô chủ nghĩa là vận mệnh chung của toàn bộ hữu thể học, bao gồm việc nhấn mạnh Hữu hoặc Vô của nó :


Hư vô chủ nghĩa đúng hơn, nếu được suy nghĩ trong yếu tính của nó, là vận hành nền tảng của Lịch sử Tây phương" . 


Nói cách khác chữ "ai" gắn liền với cõi người ta chưa hề bao giờ được nêu lên thành câu hỏi.

Hư-vô phát xuất từ bước trật chân căn bản về thân trạng của câu thắc mắc về tư tưởng, do hành vi đồng-nhất-hoá đi trước nó như nghiệp chướng của thân phận con người tại thế. Đồng-nhất-hoá là một lối nói của nhà Phật về chữ Karma tạo ngã-chấp. Sách Sáng thế dùng hiện tượng bàn tay hái trái cây hiểu biết để đồng nhất hoá mình với Thiên Chúa. Từ lúc ấy mọi sự hiện hữu đều là cái gì, kể cả con người và Thượng đế.

Hư vô không phải là không thực hiện được cái gì trong viễn tượng của hữu thể học truyền thống. Lịch sử chứng minh con người đã dùng kiến thức của mình để hiểu biết nhiều chuyện, làm được những điều mình ước muốn một cách hữu hiệu. Con người đã từng nối dài cuộc sống, rút ngắn lại thời gian xa cách bằng các phát minh kỹ thuật giao thông, xoá bỏ ngăn cách không gian bằng kỷ thuật truyền thông điện tử...nhưng tất cả không giải thích được tại sao giữa ngày hội Đạp Thanh, muôn người chen chúc, Kiều lại không thấy bóng dáng một ai để tương giao ; và tại sao gần đến như vợ chồng, cùng giường mà xa cách vì khác mộng !

Gioan, một trong những nhà chép Kinh Thánh Tân ước đã nói về hư vô như sau :


"Họ đã ra đi, lên thuyền ; đêm đó, họ đã không bắt được gì" .


Họ không bắt được gì, vì toàn bộ nỗ lực của họ nằm ở trong khung của đêm đó. Toàn bộ có-không được Parménide cho là đã sáng tỏ trong cảnh ngày hoàn toàn khai mở : Người-Trời- Đất đã được đồng nhất hoá. Nhưng ngày đó là đêm cho chân tính, vì chân tính không là cái gì tự đứng một mình, dù là Trời, người hay Đất - Mà chân tính là tương quan, là sự sống đặc loại của con người.

Trở lại với lối đặt vấn đề tư tưởng của Đoạn Trường Tân Thanh

Thắc mắc nguyên ủy nêu lên trong phần dẫn nhập phát xuất không phải là ưu tư về sự hiểu biết bản chất của một cái gì ; nhưng từ đầu, khung của tư tưởng là "cõi người ta" của ai và những ai. Chữ ai gói gọn chân tính con người tại thế ngỡ ngàng về thân trạng mình, được đặt thành vấn nạn trong mối xung khắc tài-mệnh dấy lên trong mình, làm con người đau khổ, nhưng không biết do từ đâu đến. Con người đã nghe lời chất vấn gián tiếp qua Mệnh để thấy được rằng quê thật hay chân tính của mình là một tương quan ; nhưng thực trạng của thân phận tại thế của mình lại chìm vào "ngày của Tài", mà toàn bộ không có đường mở ra. Con đường duy nhất mở ra không phải do tự nơi Tài, vốn là ngã chấp luôn cố thủ đóng kín mình lại trong giấc mơ đầy an bình của riêng mình. Nhưng Mệnh là lời quấy rầy đến từ Chân tính, phủ định toàn bộ hư vô nơi Tài. Sự xung khắc khởi đầu cho thắc mắc về Chân tính, hay còn gọi là khởi đầu của tư tưởng, không liên quan gì đến xung khắc có-không, tinh thần-vật chất theo biện chứng pháp của Hegel - là xung khắc giữa hai đối cực trong khuôn khổ của Tài. Xung khắc Tài-Mệnh là cuộc vật lộn giữa nghiệp chướng đồng-nhất-hoá do ý chí quyền lực của ngã cô đơn, và chân tính thúc bách một sự mở ra để có tương quan ; giữa trật tự của các cái gìcõi người ta.

Nếu nền móng cho tư tưởng triết học truyền thống là nguyên tắc đồng nhất, hay đúng hơn là hành vi đồng nhất hoá (indentification), thì trong thân phận con người tại thế tư tưởng chỉ xuất hiện khi có lời chất vấn của chân tính, ta có thể nói là âm vọng của Đại-ký-ức, đến với con người, làm con người thấy hụt chân, hay thiếu vắng tương quan làm nền cho thân trạng của mình. Cảm thức thiếu vắng nầy, về phía con người, là điều kiện tiên quyết của tư tưởng. Cảm thức thiếu nền lại là nền cho tư tưởng. Ngôn ngữ tôn giáo gọi là lòng khiêm hạ, hay tinh thần nghèo (tâm hư = lòng trống rỗng).

"Phúc cho những kẻ nghèo trong thần trí" .Tư tưởng phát xuất từ cảm thức thiếu vắng, hàm ngụ niềm tin hay hy vọng Thời Chung Mãn trong đó Trời-Người sẽ nối kết. Bao lâu thân phận con người còn tại thế, chân tính của nó gắn liền với hữu hạn tính của "Thời tại thế nầy", được cảm nhận như cơn khát hay khổ căn nguyên làm sức mạnh đẩy con người vươn tới Thời Chung Mãn, vươn mãi lên đến tương giao Thái Hoà. Tương quan Trời-Người trong chánh nghiệp của con người có thân là khổ cứu độ, vọng lên từ "lòng ta", lòng của bất cứ ai là người.


Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.


Thiện cănChân tính, và nay là Phúc thật cho những ai lìa quê an bình giả tạo của Tài, để làm người lữ hành trên bước đường đầy thách đố của Đạo Tâm.

Nhưng, Duyên nào đây sẽ đưa người lữ hành trên bước đường lưu lạc, xa quê đến bến bờ thời chung mãn?


Phụ chú

_________________________


Kiều của NGUYỄN DU (1766-1820),

 một gia sản văn hóa nhân loại


Vĩ nhân không chỉ là người nắm bắt thời đại bằng tư duy của mình, mà còn giúp con ngời nơi cõi nầy đụng chạm đến vô tận.

Vì thế tự căn nét siêu việt trong tác phẩm và nơi cuộc sống người ấy cống hiến một tấm gương soi dẫn mọi thời đại, mỗi một người trong toàn thể nhân loại.    


Thi phẩm Kiều của Nguyễn Du là một lời được cảm hứng, một tư tưởng.

Vì là lời được cảm hứng, thi phẩm đó ở bên kia bờ của việc mô tả hay biện minh cho một thời đại hay một xã hội nào bất kỳ. Lời ấy không bị ràng buộc bởi những định chế và các giá trị đang chi phối nếp suy tư của xã hội, nhưng đặt vấn đề về ngay chính nền tảng của chúng nhân danh một quyền uy khác hơn quyền uy đương đại, đó là quyền uy của sự thật, của ý nghĩa về nhân tính con người. Vì vậy lời được cảm hứng không quan tâm đến việc mô tả những thực tại xã hội, những tập tục của một cộng đoàn, những sáng kiến, giấc mơ hay tình cảm của một nhân vật. Nhưng đưa tòan bộ thực tại con người, kể cả những nền tảng và định chế xã hội, trực diện với một câu chất vấn duy nhất và căn đế : chất vấn về ý nghĩa của nhân tính.

Con người là vấn nạn cho chính mình, đó là một câu chất vấn duy nhất gợi hứng cho đạo lý các thánh hiền, cho minh triết của những nhà tư tưởng đi tiên phong trong các nền văn hoá khác nhau của nhân lọai.

Khi tiếp cận được lời thi ca, lời vượt lên trên những kiến thức giới hạn của con người, hoặc khi cảm hứng được câu chất vấn đến từ bờ bên kia, các thánh hiền và các nhà tư tưởng chạm đến con tim con người bất cứ nơi đâu và bất cứ thời đại nào. Sứ điệp của họ được tiếp nhận như là gia sản văn hóa đối với toàn thể nhân loại và đi vào Đại Ký Ức của các dân tộc. 

Nếu gia sản văn hoá của nhân loại không chuyển đạt điều gì khác hơn là ý nghĩa về nhân tính, thì sứ điệp văn hóa ấy cũng hé lộ cho thấy thân phận con người tự căn vốn kỳ lạ và mâu thuẫn. Nét kỳ lạ ấy là dấu chỉ linh ư vạn vật của nhân tính buộc con người phải dấn thân vào Cuộc Chiến bi thảm, nhưng hào hùng để có thể chu tòan Mệnh làm người của  mình.

Dưới ánh sáng của lời được cảm hứng từ bên kia bờ, Cuộc Chiến ngoại thường nầy, văn hóa Hy Lạp xưa gọi là Khôn Ngoan về nhân tính (άνθρωπίνη σοφία) hay Đức Lý (Ήθος):  Cuộc Chiến vượt lên trên các hình thái đối nghịch của vũ trụ, trên các biện chứng tư duy và tranh chấp xã hội, trên mọi hình thức tự phủ định ý chí muốn sống hay con đường khổ hạnh để tu thân…, Cuộc Chiến mà thánh hiền Đông Tây chuyển đạt như là sứ điệp cao cả nhất, nếu không nói là duy nhất : 


  • Cuộc Chiến giữa Đạo sâu kín, chân thực, đối nghịch với những đạo giả tạo do trí năng con người tự vạch ra (xem Đạo Đức Kinh của Lão-tử, quyển 1, chương 1). 

  • Cuộc Chiến giữa nhân tính ảo tưởng đặt nền tảng trên Ngã đơn độc và tự mãn bên nầy bờ của bến mê và nhân tính đích thực (Phi Ngã) được soi dọi từ Ánh Sáng đến từ bên kia bờ, trong đạo lý Phật giáo.

  • Cuộc Chiến giữa Vương Đạo của chính nhân quân tử và Bá Đạo của tiểu nhân, theo Khổng giáo (xem Trung Dung).

  • Cuộc Chiến giữa Tài (Τέχνη) và Mệnh (Μοίρα) trong Bi Triết của Hy Lạp, đặc biệt trong Prométhée bị trói của Eschyle và trong Œdipe-Vua của Sophocle:


 Tài (Τχνη – giả tạo) có là gì trước uy quyền của Mệnh

Cuộc chiến vinh quang mang nguồn sinh lưc cho quê hương, xin Trời đừng dẹp tắt.


  • Cuộc Chiến (Πόλεμος) giữa Lời siêu việt (Λόγος) và lý lẽ con người trong tư tưởng của  Héraclite.

  • Cuộc Chiến giữa một bên là Đạo Công Chính và Chân Lý, Đạo được linh hứng bởi Thần Khí và được hướng dẫn bởi những ái nữ của Thần Mặt Trời , và bên kia là con đường bế tắc của mê lầm mà mọi người đang đi, không trừ một ai trong Thi Ca của Parménide.

  • Cuộc Chiến mà Socrate là một chứng tá sống động trong cuộc sống, trong cái chết bi thương nhưng vinh quang, trong lời giáo huấn ngược đời của ông.

  • Cuộc Chiến giữa nhân tính đặt nền tảng trên (Tài), trên lý của trí năng đo lường các sự vật, và một nhân tính siêu phàm được cảm hứng bởi « Lý của Con Tim » (Đạo Tâm) trong tư tưởng Pascal...


Chính cuộc chiến đấu bi hùng đó đã khơi nguồn cảm hứng cho tư tưởng gia-thi sĩ Nguyễn Du và được diễn đạt qua hai câu thơ đầu tiên của truyện Kiều:


Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau (Kiều, c. 1-2)


Toàn bộ thi phẩm Kiều là một sự triển khai trực giác độc đáo nầy.

Nhân vật Kiều thể hiện cuộc chiến giữa hai căn tính con người, một căn tính đặt nền tảng trên chữ Tài và căn tính kia trên chữ Mệnh, ở ngay giữa cuộc sống. 

Lời thi ca nơi Âm vọng Khổ Đau từ bờ bên kia (qua bóng dáng Đạm Tiên) thức tỉnh Kiều nhận ra một Kiều hồng nhan gắn liền với Nghiệp (Tài), và một Kiều chân thực bên trong (thanh cao) của Mệnh mà Giác Duyên sẽ khai mở, sau cái chết rốt ráo của Nghiệp nơi sông Tiền-Đường, giao thoa giữa Tài và Mệnh.

Con đường của Tài xuyên qua những hình ảnh tượng trưng như :


  • Sự tự vẫn, con đường vô sinh, vô cảm.  

  • Thúc Sinh, biểu tượng cho khóai lạc cá nhân và lòng trắc ẩn thường tình.

  • Con đường khắc kỷ ở trong một am thất,

  • Từ Hải, biểu tượng sự giải phóng xã hội...


Những con đường giải thoát ấy của Tài đều bế tắc.


Tuy nhiên Lời từ bên kia bờ không ngừng âm thầm nhắc rằng thế giới Ảo-tưởng của Tài sẽ tàn, và Con Đường khác của Mệnh sẽ hé lộ nhờ Giác Duyên :


  • Đạo của Mệnh, Đạo-Tâm tuyệt đối ở bên kia bờ của Tài và đòi hỏi cái chết tận căn của Tài : Kiều hồng nhan phải chết trên sông Tiền Đường để sống lại một Kiều được Giác Duyên khai mở.

  •  Đạo của Chữ Tâm là Đạo duy nhất của sự cứu rỗi, Đạo tuyệt hảo (Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài). (Kiều c.3252).


Từ hai thế kỷ nay, thi phẩm Kiều của Nguyễn Du đã cảm hứng tâm hồn và qui hợp con dân Việt-nam. Trong tương lai, hội ngộ nguồn cảm hứng tư tưởng thi ca của nhân lọai, thi phẩm Kiều hẳn sẽ cống hiến cho mọi dân tộc trên thế giới một lời mời gọi cấp bách để có thể nhận ra bí nhiệm vô tận, đó chính là CON NGƯỜI.


Một bí ẩn từ Truyện Kiều 

của Nguyễn Du


Trong gần hai thế kỷ, Truyện Kiều của Nguyễn Du đi vào Đại Ký Ức của người Việt.  Mỗi người, mỗi sinh hoạt tiếp nhận những lời thơ Kiều như một nguồn cảm hứng, một kho tàng tài liệu hay một lời biện minh.

 Nguồn sinh lực của Truyện Kiều khó mà cạn, vì đây là một lời thơ, một lời cảm hứng đến từ ‘Vô Phương’ bên kia bờ của không gian và lịch sử. Tuy nhiên điều đáng làm cho chúng ta hôm nay ngạc nhiên, đó là qua gần hai trăm năm, nguồn cảm hứng đến với Truyện Kiều của Nguyễn Du, nguồn cảm hứng còn được gọi là Lời-Mới-Làm-Đứt-Ruột - Đoạn Trường Tân Thanh - mà Đạm Tiên là hiện thân làm sứ giả truyền đạt cho Kiều, nguồn cảm hứng kỳ lạ ấy dường như không một bậc thức giả nào lưu ý. Mà nếu có nhắc đến, thì người ta cũng chỉ biết lặp lại lời của Vương Quan, một con người ở-bên-ngoài  cảm thức của nỗi-đau-làm-người mà Nguyễn Du muốn truyền đạt qua nhân vật Kiều. 

Trong Truyện Kiều, người nghe được từ miệng Đạm Tiên lời làm đứt ruột nhắc nhở ý nghĩa làm người, người hoàn thành cái chết của thế giới mê lầm do Tài đã được Đạm Tiên loan báo, người nhận ra Đạm Tiên là lời cứu độ khi gián tiếp cho hay Đạm Tiên cũng là Giác Duyên, người duy nhất ấy trong truyện Kiều không ai khác hơn là Kiều, kẻ hữu-tình-ta-lại-gặp-ta với Đạm Tiên.

Thế nhưng, Đạm Tiên, lời làm cho cổ nhân bên-kia-bờ miệt mài say đắm, nay con người bên-nầy-bờ đã đẩy lui vào dĩ vãng xa xăm, nếu không nói là đã biến lời âm thầm làm đứt ruột nầy - lời của lương tri, lời đạo nghĩa - thành một con điếm, một nấm mộ bị lãng quên bên lề đường. 

Hai trăm năm ca tụng mối tình Kim Trọng-Thúy Kiều đến độ quên tương-giao-hữu-tình-bên-trong giữa Đạm Tiên và Kiều; hai trăm năm tôn vinh Từ Hải hiệp nghĩa giang hồ khí phách đến độ quên đi cuộc-vượt-qua uy dũng từ cõi chết của Tài đến ơn cứu độ của Mệnh!  Phải chăng hai trăm năm đó cũng là nghiệp quên lãng của phận làm người ‘đã mang lấy nghiệp vào thân’ (Kiều, c. 3249)! 

Trước bỉ ẩn lịch sử nầy, thử hỏi có lời nào của Đạm Tiên giúp ta nêu lên hai vấn nạn nầy :


  • Kiều là gia sản văn hóa của dân Việt Nam và của nhân loại, phải chăng chỉ vì Nguyễn Du có công chọn được một truyện tình cảm xã hội của một tác giả người Tàu và đã chuyển được qua tiếng Việt một cách hết sức văn chương? 

  • Hay đã đến lúc chúng ta lại cần một « lới mới làm đứt ruột » để đọc lại Truyện Kiều và tiếp nhận được sứ điệp tư tưởng của nhà văn hóa Nguyễn Du?


Chữ Trời

trong Đoạn Trường Tân Thanh


Dựa vào chính từ ngữ chính xác được dùng : Trời hay chữ hán-việt Thiên, cũng như dựa vào một trong hai thành tố tương quan làm nền tảng cho yếu tính của con người tại thế, một bên là người và bên kia là trời (hoặc một thuộc tính của trời nầy mà cách gọi tên đổi thay tùy mức cảm nhận về mối tương giao đó, hoặc tùy hoàn cảnh làm xuất lộ một mối tương quan cá biệt), chúng tôi sắp xếp bản liệt kê sau đây :


A- Trời được nêu lên như một vật gì bao la làm khung cho vũ trụ, hoặc một hiện tượng thời tiết của vũ trụ thiên nhiên. Trời đây là đối tượng của nhận thức thường nghiệm


        Cỏ non xanh tận chân trời (câu 41)

       Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa (câu 484)


Chữ Trời nầy được dùng trong các câu : 140, 449, 546,899,910, 914, 1041, 1603,1637, 1639, 1876, 2062, 2248, 2251, 2441, 2550, 2628, 2924, 2943, 3049.


B- Trời được dùng như tĩnh từ, một đặc tính tự nhiên di nhiên, bẩm sinh (inné), hoặc vốn đã là như thế. Từ ngữ chuyên môn của triết học truyền thống gọi là tiên thiên hay tiên nghiệm (a priori).


      Thông minh vốn sẵn tính trời (câu 29).


      Xem các câu : 150, 494, 1065, 2239, 2922.


C- Trời còn chỉ về nhà vua, hàm ngụ một quyền lực tối thượng trong cuộc sống xã hội.


     Năm mây, bỗng thấy chiếu trời (câu 2947).


D- Trời trong tương quan với con người để kết dệt nên cõi người ta. Có lúc trời xuất hiện như một tài năng theo dự phóng của Tài dựa trên nguyên tắc nhân quả; có lúc Trời trời kia vượt trên khả năng vươn tới của con người, nhưng con người thấy cần để đặt nền cho tương quan chân thật của nhân tính.


"Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen (câu 6).

Phủ phàng chi mấy Hoá công (câu 85)

Khuôn xanh biết có vông tròn mà hay (câu 412)

Xưa nay nhân định thắng Thiên cũng nhiều (câu 420)

Ông Tơ gàn quản chi nhau (câu 449)

Oan nầy còn một kêu trời, nhưng xa (câu 596)

Trời làm chi cực bấy Trời ! (câu 659)

Trăng già độc địa làm sao ! (câu 688)

Rủi may âu cũng sự Trời (câu 817)

Tiếng oan đã muốn vạch Trời kêu lên (câu 892)

Nàng rằng : "Trời thẳm đất dày !" (câu 979)

Người dù muốn quyết, Trời nào đã cho ! (câu 998) 

Túc nhân âu cũng có Trời ở trong (câu 1018)

Trên đầu có bóng Mặt trời rạng soi (câu 1030)

Mà xem Con Tạo xoay vần đến đâu (câu 1116)

Hoá nhi thật có nở lòng (câu 1129)

Nàng rằng : "Trời nhé có hay" (1179)

Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong (câu 1340)

Bây giờ đất thấp, Trời cao (câu1817)

Chúa Xuân để tội cho mình cho hoa ! (câu 1946)

Không dưng chưa dễ mà bay đường Trời (câu 2100)

Chứng minh có đất, có Trời (câu 2125)

Tài tình chi lắm, cho Trời đánh ghen (câu 2154)

Biết thần chạy chẳng khỏi Trời (câu 2163)

Đội Trời, đạp đất, ở đời (câu 2171)

Đạo Trời báo phục chỉn ghê (câu 2309).

Nàng rằng : "Lồng lộng Trời cao ! (câu 2381)

Dễ đem gan óc, đền ghì Trời mây (câu 2416)

Chọc Trời, quấy nước, mặc dù (câu 2472).

Tấm lòng phó mặc trên Trời, dưới sông (câu 2634)

Trời làm chi đến lâu ngày càng thương (câu 2649)

Sư rằng : "Phúc họa đạo Trời (câu 2655)

Trời mà cũng có ta (câu 2657) 

Bán mình đã động hiếu tâm đến Trời (câu 2684)

Khi nên, Trời cũng chiều người (câu 2689)

Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không ! (câu 2694)

Tâm thành đã thấu đến Trời (câu 2717).

Hơn người trí dũng, nghiêng Trời uy linh (câu 2904)

Cõi trần mà lại thấy người Cửu nguyên (câu 3000)

Rằng : trong tác hợp Cơ Trời (câu 3063)

Dưới dày có đất, trên cao có Trời (câu 33086)

Trời còn để có hôm nay (câu 3121)

Ngẫm hay muôn sự tại Trời (câu 3241)

Trời kia đã bắt làm người có thân (câu 3242)

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa (câu 3250)


E- Và âm hưởng của Lời từ Trời trong Mệnh như Lời phủ nhận thế giới của Tài, cũng như tác động của Trời là Duyên bất ngờ đến cứu độ để mở ra tương quan Trời-NgườiThiện-căn, mà nhà của nó là Tâm.




Tài liệu tham khảo


Tài liệu Việt ngữ


Bùi Kỷ 

Trần Trọng Kim

Hiệu chính và chú giải Truyện Thúy Kiều, bản in thứ tám, Tân Việt, Sàigòn.

Dương Quảng Hàm

Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo dục, in lần thứ 10, Sàigòn 1968.

Đào Duy Anh

Việt Nam Văn Hoá Sử Cương, Quan Hải Tùng thư, Huế 1938.

Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan Hải Tùng thư, Huế 1943


Hiệu khảo, chú giải, xb. Văn Học, Hà Nội 1984

Đặng Trần Côn

Chinh Phụ Ngâm Khúc, Đoàn Thị Điểm diễn nôm, Văn Bình Tôn Thất Lương diễn giải, xb. Tân Việt, Huế 1950

Khuyết Danh

Đại Việt Sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, xb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1993

Lê Quý Đôn Toàn Tập

Khoa học Xã hội, Hà Nội xb, 1978.

Lê Ngọc Trụ, Bửu Cầm

Thư mục về Nguyễn Du, Sàigòn, Bộ Giáo dục, xb. 1965.

Lê Văn Hoè

Nho giáo và Truyện Kiều, Đời Mới số 39, 1953.

Lê Văn Siêu

Việt Nam Văn Minh Sử Cương, tái bản, Khởi Hành, Đức quốc 1990.

Lý Tế Xuyên

Việt Điện U Linh Tập, bản dịch Lê Hữu Mục, Sàigòn 1962.

Một nhóm Giáo sư

Kỷ niệm đệ II bách chu niên thi hào Nguyễn Du, trong Văn Hoá Nguyệt San, số đặc biệt, Sàigòn 1965.

Một số tác giả

Lịch sử Văn học Việt Nam, Khoa học Xã hội xb, Hà Nội, 1980.

Nguyễn Đăng Trúc

Văn Hiến, Nền Tảng của Minh Triết, Định Hướng xb, Reichstett, Pháp, 1996.

Nguyễn Khoa

Khảo luận Đoạn Trường Tân Thanh, Khai Trí, Sàigòn 1960.

Nguyễn Thạch Giang

Truyện Kiều, Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1973

Nguyễn Trãi Toàn Tập

xb. Khoa học, Hà Nội 1976

Ôn Như Hầu

Cung Oán Ngâm Khúc, dẫn giải, Văn Bính Tôn Thất Lương, Huế 1950.

Phạm Quỳnh

Truyện Kiều, trong Nam Phong, số 30, 1919

Phan Huy Chú

Lịch triều Hiến chương loại chí, 1821 tái bản.

Phan Bội Châu

Khổng Học Đăng, xb. Khai Trí 1973 Sàigòn.

Trần Thế Pháp

Lĩnh Nam Chích Quái, Vũ Quỳnh hiệu chính, Lê Hữu Mục dịch, xb. Khai Trí, Sàigòn 1960.

Trần Trọng Kim

Việt Nam Sử lược, tái bản, Institut de l’Asie du Sud-Est, Paris.

Nho giáo

2 quyển, xb. Bô Giáo dục, Sàigòn 1971.

Trần Văn Đoàn

Bản thể và Bản chất của Việt triết, trong Vietnamologia, số 2, Montréal 1996.

Viện Văn học

Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, xb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1971.

Vũ Đình Trác

Triết học Nhân bản Nguyễn Du, xb. Hội Hữu, California 1993.

Lão Tử Đạo Đức Kinh

Quốc văn chú giải, bản dịch của Hạo Nhiên Nghiêm Toàn, xb. Khai trí, Sàigòn 1970

Kinh Thư

Bộ Văn hoá Giáo dục Sàigòn 1965.

Khổng cấp Trung Dung

Bộ Giáo dục, Sàigòn 1972. 

Đại học

Bộ Giáo dục, Sàigòn 1972. 



Tài liệu ngoại ngữ


Alquié, Ferdinand

La nostalgie de l'être, Paris 1950

Aristote

La Métaphysique, (commentaire de J. Tricot), Nouvelle Ed. J. Vrin, 2 vol., Paris 1986.

Saint Augustin

Confessions, trad. A. Mandouze, Ed Seuil, Paris 1982.

Bachelard, Gaston

La dialectique de la durée, Paris 1936.

La terre et les rêveries du repos, Paris, 1948.

Bréhier, Emile

Histoire de la Philosophie, PUF, Paris, Nlle éd, 1981.

Brun, Jean

Les conquêtes de l’homme et la séparation ontologique, PUF, Paris, 1961.

Les Stoiciens, PUF, Paris, 1957.

L 'Europe Philosophe, 25 siècles de pensée occidentale, Ed. Stock. 1988.

Brunschvicg, Léon

Le progrès de la Conscience dans la Philosophie occidentale, 2 vol., Paris,1927.

Burnet, John

L’Aurore de la philosophie grecque, trad. Reymond, Paris, 1919.

Canguilheim, Georges

La connaissance de la vie, Paris 1952.

Chestov, Léon

Le pouvoir des clefs, trad. B. de Schloezer, Paris 1928

Childe Gordon

Crayssac, Réné

What happened in history, Ed. Harmondsworth, 8e Ed 1960.

Kim Van Kieu, le célèbre poème annamite de Nguyen Du, Ed. Lê Van Tan, Ha Noi, 1926.

Delacroix, Henri

Le Langage et la pensée, Paris 1924.

Descartes, René

Oeuvres, Ed. Adam, Tannery.

Diès, Auguste

La définition de l’être et la nature des idées dans le "Sophiste" de Platon, 2e éd, Paris 1932.

Dufrenne, Mike et Ricoeur Paul

Karl Jaspers et la Philosophie de l'existence, Paris, 1947.

Eliade, Mircea

Traité d’histoire des religions, Payot, Paris 1949.

Le mythe de l’éternel retour, Gallimard, Paris 1969.

Eschyle

Oeuvres, trad. Paul Mazon, Ed. Les Belles lettres.

Gilson, Etienne

L’être et l’essence, J. Vrin, 2e éd, Paris 1987.

Goethe, 

Jean Wolfgang

Faust, trad. Gérard de Nerval, Ed Flammarion, Paris 1964.

Gusdorf Georges

Mythe et Métaphysique, Paris, 1956.

Hegel, G.W.

La phénoménologie de l'esprit, trad. J. Hyppolite, 2vol. Paris 1939-1941.

Leçons sur l’histoire de la philosophie, trad. J. Gibelin, Paris 1954.

Heidegger, Martin

Être et Temps, trad. F. Vezin, Ed. Gallimard, Paris.

Kant et le problème de la métaphysique, trad. A. de Waelhens et W. Biemel, Ed Gallimard, Paris 1953.

Qu’appelle-t-on penser ? trad. A. Becker et G. Granel, PUF, Paris 1959.

Qu’appelle-t-on penser ? trad. A. Becker et G. Granel, PUF, Paris 1959.

Introduction à la métaphysique, trad. G. Kahn, Et. Gallimard, Paris 1967.

Chemins qui ne mènent nulle part, trad W. Brokmeier, Gallimard, Paris 1962.

Hölderlin, Friedrich

Hymnes, Elégies et autres, trad Guerne, Flammarion, Paris 1983.

Hyppolite, Jean

Etudes sur Marx et Hegel, Paris 1955.

Jaspers, Karl

La situation spirituelle de notre époque, trad. Paris, Louvain 1952.

Nietzsche et le Christianisme, trad. Jean Hersch, Paris 1494

Kant, Emmanuel

Critique de la raison pure, trad. Barni et Archambault. 2 vol. Paris 1934.

La philosophie de l'histoire, trad. Stéphanne Piobetta, Paris 1947.

Kierkegaard, Soren

Le concept d'angoisse, trad. P.H Tisseau, Paris 1935.

Riens philosophiques, trad. K. Ferlov et J. T. Gateau, Paris 1937.

Lévinas, Emmanuel

Difficile Liberté, Ed. A. Michel, Paris 1963.

Le temps et l'autre, PUF, Paris 1983.

Mallarmé, Stéphane

Divagations, Paris; s. d.

Marx Karl, 

Engels. Friedrich

Nietzsche 

S. Friedrich

L'Idéologie allemande, trad. H. Auger et autres, Ed. sociales, Paris 1976

La naissance de la tragédie, trad. Geneviève Bianquis, Paris 1938.

Ainsi parlait Zarathoustra, trad. M. Betz, Paris 1936.

Le Gai Savoir, trad. A. Vialatte, Paris 1950.

La volonté de puissance, trad. G Bianquis, 2 vol. Paris 1942.

Parménide

Le Poème, présenté par Jean Beaufret, PUF, Paris 1955.

Pascal, Blaise



Les penseurs grecs avant Socrate,


Pensées et opuscules, petite édition de L. Brunschvicg, lib. Hachette, Paris 1946.


trad. Jean Voilquin Flammarion, Paris 1964.

Philosophes taoistes

Lao-Tseu, Tchouang-Tseu, Lie-Tseu, trad. Liou Kia-Hway, ed. Gallimard, Paris 1980.

Platon

Oeuvres, trad. E. Chambry, Les Belles lettres.

Scheler, Max

Nature et formes de la sympathie, trad. M. Lefèbvre, Payot, Paris.

Le formalisme en éthique et l’éthique matériale des valeurs, trad. M.  de Gandillac, Ed Gallimard, Paris 1955.

Schuhl, P.M

Essai sur la formation de la pensée grecque, Paris 1934.

Sophocle

Oeuvres, trad. A. Dain et P. Mazon, 3 vol, coll. Belles Oeuvres.

Spenlé, Edouard

Novalis. Essai sur l’idéalisme romantique en Allemagne, Paris 1903.

Spengler, Oswald

Le déclin de L’occident, trad. M. Tazerout, 2 vol, Paris 1948.

Schopenhauer, Arthur

Du monde comme volonté et comme représentation, trad. A. Burdeau, PUF, Paris 1966.

Teilhard de Chardin, Pierre

Le phénomène humain, Ed, Seuil, Paris 1955.

Toynbee, Arnold

A Study of History, Ed. Oxfod University Press and, Thames and Hudson Ltd, London 1972.

Trần Đức Thảo

Phénoménologie et Matérialisme Dialectique, Ed. Gordon Breach Paris 1971.

Waelhens, A. de

Phénoménologie et Vérité, Paris 1953.

Wahl, Jean

Etudes Kierkégaardiennes, Paris 1938.

Walpola, Ruhaha

L’enseignement du Bouddha, du seuil, Paris 1961.

Whitehead, Alfred North

Symbolism, its Meaning and Effect, Cambridge 1929.


Nguyễn Đăng Trúc

(HẾT)