Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Lương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Lương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

Trùng Kiến Gia Hương 重 見 家 鄉 - Trần Văn Lương


Dạo:

Hồn ma lặng lẽ trở về,
Thấy toàn sói dữ, làng quê đâu còn.

Cóc cuối tuần:

重 見 家 鄉

五 十 餘 年 宿 墓 中,
陰 魂 一 早 想 鄉 鐘.
悤 悤 忽 忽 登 歸 路,
故 土 狂 狼 戲 冷 風.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Trùng Kiến Gia Hương

Ngũ thập dư niên túc mộ trung,
Âm hồn nhất tảo tưởng hương chung.
Thông thông hốt hốt đăng quy lộ,
Cố thổ cuồng lang hí lãnh phong.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Thấy Lại Quê Nhà

Hơn năm chục năm ở yên trong mộ,
Âm hồn một sớm nhớ tiếng chuông làng (xưa).
Hoang mang vội vã lên đường trở về (quê),
(Chỉ thấy) nơi chốn cũ (bầy) sói dại đùa với gió lạnh.

Phỏng dịch thơ:

Thấy Lại Quê Nhà


Năm chục năm nằm đáy mộ hoang,
Hồn quay quắt nhớ tiếng chuông làng.
Hoang mang vội vã về quê cũ,
Chỉ thấy sài lang hú gió vàng.

Trần Văn Lương
Cali, 10/2026

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:


Từ Thức về làng, tuy cảnh đã khác và người xưa không còn,
nhưng ít ra ông còn gặp được người.
Nhưng, than ôi, vong hồn này xa quê chỉ mới có mấy chục năm
mà lúc trở lại chỉ thấy toàn lang sói!
Hỡi ơi!
--- ⁕ ---
HCD: Ấy mới hay
Đất cũ còn đây, người xưa đâu tá? Một tiếng chuông ngân, muôn trùng cách biệt;
Hồn xưa trở lại, quê nhà hóa lạ! Nửa đời ly loạn, một kiếp tang thương.


Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Trì Để Nguyệt 池 底 月 - Trăng Đáy Ao (Trần Văn Lương)

 

Dạo:
      Chỉ cần gió lặng, sóng yên,
Thì trăng kia vẫn nằm nguyên đáy hồ. 
 
Cóc cuối tuần:
 
         池 底 月
寒 風 深 夜 忽 狂 飛,
明 月 黃 光 散 滿 池.
失 道 最 終 由 幻 辯,
亡 羊 畢 竟 為 多 歧,
趙 州 柏 樹 人 難 會,
靈 鷲 心 花 祖 獨 知.
不 久 風 停 池 照 舊,
月 輪 水 底 又 圓 煕.
                陳 文 良
 
Âm Hán Việt:
 
Trì Để Nguyệt

Hàn phong thâm dạ hốt cuồng phi,
Minh nguyệt hoàng quang tản mãn trì.
Thất đạo tối chung do ảo biện,
Vong dương tất cánh vị đa kỳ.
Triệu Châu bách thụ, nhân nan hội,
Linh Thứu tâm hoa, Tổ độc tri.
Bất cửu phong đình, trì chiếu cựu,
Nguyệt luân thủy để hựu viên hi.

Trần Văn Lương
 
Dịch nghĩa:
 
Trăng Đáy Ao

Đêm sâu, con gió lạnh bỗng bay như điên cuồng,
Ánh sáng vàng của vành trăng sáng tản ra khắp (mặt) ao .
Chung cuộc mất đạo vì (lo) biện luận huyền ảo, (1)
Mất dê cuối cùng vì đường nhiều ngã rẽ. (2) 
Cây bách của Triệu Châu, người khó ngộ được, (3)
Đóa hoa Tâm (trên núi) Linh Thứu, chỉ có Tổ (Ca Diếp) một mình biết. (4)
Chẳng bao lâu gió ngừng, (mặt) ao (trở lại yên) như cũ,
Vầng trăng dưới nước lại tròn và sáng.
 
Chú thích:
 
(1) Bich Nham Lục , tắc 4:  Đức Sơn Hiệp Phức
      (bản dịch của Thiền sư Thích Mãn Giác)

Đêm ấy (Đức Sơn) vào phòng của Long Đàm đứng hầu mãi đến khuya. Long Đàm nói, “Tại sao Thầy chưa lui đi?” Đức Sơn chào rồi vạch màn bước ra, thầy bên ngoài trời tối bèn quay vào nói, “ Bên ngoài tối quá”. Long Đàm bèn thắp đèn giấy rồi đưa cho Đức Sơn, Đức Sơn vừa tiếp lấy, Long Đàm thổi tắt đèn. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ.Lập tức cúi lạy. Long Đàm nói, “Ông thấy được gì mà ông cúi lạy vậy?” Đức Sơn nói, “Từ rày trở đi kẻ hèn này không còn giám nghi ngờ những gì các lão hòa thượng trong thiên hạ nói nữa.”
Hôm sau Long Đàm thượng đường nói, “Trong các ông có một gã răng như rừng kiếm, miệng như bát máu, dù có lấy gậy đập đi nữa cũng không quay đầu. Ngày sau gã sẽ lên đỉnh cao mà lập đạo ta ở đó.” Đức Sơn bèn đem sớ sao ra trước Pháp đường, dơ cao ngọn đuốc lên nói, “Nghiên cứu các biện luận huyền ảo, thật ra cũng chẳng khác gì đặt một sợi lông vào hư không; xét tận các quan kiện cốt yếu, lại chỉ giống như nhỏ một giọt nước vào thung lũng lớn.” Rồi đốt hết đi.
 
(2)  Đa kỳ vong dương (mất dê vì nhiều nẻo), theo sách Liệt tử, thiên Thuyết Phù:
...
Người hàng xóm của Dương Tử (Dương Chu) mất một con dê. Ông ta dẫn một nhóm đi tìm và cũng nhờ người nhà của Dương Chu đi theo. Dương Chu nói: "Ôi! Mất một con dê sao lại đi nhiều người vậy?" Người hàng xóm đáp: "Đường nhiều ngã rẽ quá." Khi trở về, Dương Chu hỏi: "Đã tìm thấy dê chưa?" Hàng xóm đáp: "Lạc mất rồi." Lại hỏi: "Sao lạc mất?" Người hàng xóm đáp: "Vì có quá nhiều nẻo, tôi không biết đi ngã nào nên quay về."
 
(3) Vô Môn Quan, tắc 37: Đình Tiền Bách Thụ
     (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)
 Công án:
Một ông Tăng hỏi Ngài Triệu Châu:
- Ý Tổ sư sang Đông là gì?
Sư đáp:
- Cây bách ở trước sân.
 
(4) Vô Môn Quan, tắc 6: Thế Tôn Niêm Hoa
     (bản dịch của Trần Tuấn Mẫn)
Công án:
Thế Tôn xưa tại pháp hội núi Linh Sơn cầm cành hoa giơ lên trước chúng. Bấy giờ mọi người đều làm thinh, chỉ có ngài Ca-diếp rạng mặt mỉm cười. Phật dạy:
- Ta có nhãn tạng chính pháp, diệu tâm Niết-bàn, tướng thực không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập thành văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao ông Ma-ha Ca-diếp.
 
Phỏng Dịch Thơ:
Trăng Đáy Ao

Đêm sâu gió lạnh thoắt ào ào,
Rắc vụn trăng vàng khắp mặt ao.
Xa đạo vì lao nhao biện luận,
Mất dê bởi luẩn quẩn bôn đào.
Pháp môn Linh Thứu nào ai thấy,
Thiền thất Triệu Châu mấy kẻ vào,
Sóng gió lao xao dần tĩnh lặng,
Trăng chìm vẫn chẳng khác trên cao.

Trần Văn Lương
Cali, 6/2026
-----
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:    
Phật tính con người ai cũng có. Than ôi, chỉ vì vọng tưởng và lăng xăng kiếm tìm kiến giải cùng những biện luận huyền ảo nên nó đã bị che lấp.
Nhưng một khi được thiện tri thức khai ngộ, không nghĩ thiện không nghĩ ác (*), thì bỗng nhiên cái "bản lai diện mục" của mình sẽ hiện ra, chẳng khác gì lúc gió lặng sóng yên thì sẽ thấy mặt trăng vẫn còn nằm nguyên trong đáy nước như trước.
Lão tăng nói gì vậy?  
Ối dào, lại mở mắt chiêm bao.
Hỡi ơi!
 
Ghi chú:
 
(*) Pháp Bảo Đàn Kinh, bản dịch của Hòa thượng Thích Duy Lực:
"...
Khi ấy đại chúng mới biết, nên có mấy trăm người đuổi theo để đoạt y bát, trong đó có một Tăng tên tục là Trần Huệ Minh ngày trước làm Tứ Phẩm tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng bỏ y bát trên tảng đá nói rằng:
Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? Liền ẩn mình trong đám cỏ. Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích được, liền kêu: Hành giả! Hành giả! Tôi
vì Pháp đến, chẳng vì Y đến. Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói:Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.
Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ,

***
Bóng Trăng Trên Mặt Ao

Đêm khuya giá lạnh trổi cuồng phong, 
Lấp lánh ao sâu rợn ánh vàng.
Lạc đạo vì lăng nhăng biện luận,
Mất dê bởi lắm lối nhiều đường.
Triệu Châu cây bách ai người ngộ,
Linh Thứu hoa tâm một kẻ tường.
Sóng gió rồi tan, ao tĩnh lặng
An nhiên mặt nước lại tròn trăng.

Mùi Quý Bồng
(phóng tác)
06/25/2026

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Dạ Khách 夜 客 - Trần Văn Lương

 

Dạo:

Thoảng nghe tiếng gõ bên thềm,
Phải chăng định mệnh trong đêm đến tìm.

Cóc cuối tuần:

夜 客

黑 月 輕 輕 叩 閉 窗,
敲 聲 慢 慢 透 孤 房.
老 翁 倚 杖 開 門 看,
隻 葉 辭 枝 伴 冷 風.

陳 文 良.

Âm Hán Việt:

Dạ Khách

Hắc nguyệt khinh khinh khấu bế song,
Xao thanh mạn mạn thấu cô phòng.
Lão ông ỷ trượng khai môn khán,
Chích diệp từ chi bạn lãnh phong.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Người Khách Đêm

Mặt trăng đen nhè nhẹ gõ cánh cửa sổ (đang) đóng,
Tiếng gõ chầm chậm lọt vào trong căn phòng đơn lẻ.
Ông già chống gậy mở cửa để nhìn,
(Chỉ có) một chiếc lá cô độc từ giã cành (để) làm bạn với gió lạnh.

Phỏng dịch thơ:

Người Khách Đêm

Cửa đóng, trăng đen gõ nhẹ nhàng,
Tiếng vang len lỏi vượt hành lang,
Hoang mang ông lão lần ra ngõ,
Chỉ gió lạnh đưa xác lá vàng.

Trần Văn Lương
Cali, 11/2025

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Có trăng màu đen thật ư? Và trăng biết gõ cửa ư?
Than ôi, phải chăng là Thần Chết hóa trang?
Chiếc lá cô độc lìa cành bị cơn gió lạnh mang đi.
Buồn thay!
Có lẽ nào đó là số phận của ông lão đêm nay?
Hỡi ơi!

***
Người Khách Trong Đêm

Trăng đen gõ nhẹ cửa cô phòng
Âm thanh lãng đãng lọt vào trong
Chống gậy, lão ông ra hé cửa
Lá vàng theo gió lạnh quay vòng.

Động tâm, ông tự hỏi, bần thần:

Trăng gõ cửa? mặt trăng sẫm đen?:
Than ôi, có phải chăng Thần Chết?
Thân phận ta tựa chiếc lá vàng?

Mùi Quý Bồng
(phóng tác)
11/13/2025
***
Khách Đêm

Trăng tối gõ hờ kín cửa song
Âm vang chầm chậm thấu cô phòng
Lão ông chống gậy ra ngoài thấy
Lá chiếc lìa cây gió lạnh lùng!

Phi Dã Thiền Sư than:

Trăng đen thật? gọi người cũng biết?
Phải chăng là thần chết hóa trang
Lạnh lùng lá chiếc gió mang
Lẽ nào phận lão lên đàng tối nay?
Ơi hỡi, buồn thay!

Lộc Bắc
(Phỏng dịch)
Nov25

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2025

Lời Tạ Tình



Dạo:
Đã gần về với tổ tiên,
Hãy thôi nói chuyện tình duyên nợ nần.


Cóc cuối tuần:

Lời Tạ Tình

(Dựa trên lời tâm sự của một người)

Này em hỡi, anh nhiều đêm mất ngủ,
Từ khi nghe em thủ thỉ một câu,
Rằng dù cho hai đứa đã bạc đầu,
Em vẫn muốn mình cùng nhau chung sống,

Rằng em sợ tuổi hoàng hôn lả bóng,
Phải một mình chèo chống giữa trùng khơi,
Nên chỉ mong hai đứa được thảnh thơi,
Vượt qua chặng cuối đời, quên khốn khó.

Anh đau đớn ôm mối sầu vợ bỏ,
Em không may mang nỗi khổ góa chồng,
Hai mảnh gỗ long đong,
Trời run rủi cho giữa dòng gặp gỡ.

Sau phút đầu tở mở,
Lo sợ bỗng chập chùng.
Nghĩ kỹ càng về đề nghị sống chung,
Anh nhận thấy cuối cùng mình không thể.

Thân vất vưởng khi tuổi đời đã xế,
Tiền bạc không, và tài nghệ cũng không.
Nếu chẳng may em vớ phải làm chồng,
Em suốt kiếp sẽ nghe lòng rướm máu.

Anh vốn có nhiều thói hư tật xấu,
Lấy nhau rồi, làm sao giấu được đây,
Nên chẳng chóng thì chầy,
Hai đứa cũng phải có ngày cấu xé.

Khi vẫn còn riêng rẽ,
Mình thấy toàn điều đẹp đẽ của nhau,
Nhưng một khi hai thớt ngựa chung tàu,
Làm sao tránh khỏi ôm đầu nhức nhối.

Trong tình duyên chắp nối,
Phút gần cuối cuộc đời,
Ai nấy đều đã mỏn sức mòn hơi,
Đâu thể kéo dài trò chơi vất vả.

Rồi kết cục, mỗi người đi mỗi ngả,
Lòng không còn được thong thả như xưa.
Với đắng cay, với chua xót dư thừa,
Mình sẽ tựa cánh chim vừa trúng đạn.

Sao mình chẳng chỉ xem nhau là bạn,
Luôn sẵn sàng lúc hoạn nạn giúp nhau.
Vì cho dù mình thân thiết đến đâu,
Ai cũng có những nhu cầu khác biệt.

Nếu hai đứa vẫn cố tình chẳng biết,
Thì chỉ càng thêm tội nghiệt mà thôi,
Khiến trong chặng cuối đời,
Phải đếm lá buồn rơi trên lối nhỏ.

Anh tin chắc, tuổi này em đã rõ,
Tình yêu toàn gây khốn khó xót xa,
Là đồng tiền mặt ngửa được bày ra,
Mà mặt sấp, than ôi, là thù hận.

Chuyện chồng vợ, anh vừa qua một bận,
Vết thương lòng còn đậm nét chưa phai,
Nên chẳng dám cùng ai,
Tính đến chuyện sánh vai về chung lối.

Anh muốn gửi đến em lời tạ lỗi,
Dù đau lòng, phải từ chối tình em.
Thà một lần cùng nhau rõ trắng đen,
Hơn là mãi chong đèn ngồi hối tiếc.

Trần Văn Lương
Sicily, 10/2025


Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2025

Phế Địa 廢 地 - Trần Văn Lương 陳 文 良

  

Dạo: 

 Quê nhà giờ đã tan hoang,
Còn đâu chỗ để phượng hoàng dừng chân.

Cóc cuối tuần:

廢 地
(懷念永亡的故土)

春 風 久 渡 江,
祖 廟 早 成 荒.
獄 室 肝 腸 折,
家 鄉 血 淚 滂.
泥 中 蟠 赤 子,
殿 裏 據 豺 狼.
搬 撤 梧 桐 樹,
焉 能 住 鳳 凰.
陳 文 良

Phế Địa

(Hoài niệm vĩnh vong đích cố thổ)

Xuân phong cửu độ giang,
Tổ miếu tảo thành hoang.
Ngục thất, can tràng chiết,
Gia hương, huyết lệ bàng.
Nê trung bàn xích tử,
Điện lý cứ sài lang.
Ban triệt ngô đồng thụ,
Yên năng trụ phụng hoàng.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Đất Bị Bỏ Hoang

(Để nhớ về một quê cũ đã vĩnh viễn mất đi)

Gió Xuân đã (bỏ đi) qua sông từ lâu,
Đền thờ Tổ đã thành hoang phế.
(Chốn) ngục tù, ruột gan tan nát.
(Ngay) quê nhà, nước mắt máu tràn đầy.
Trong bùn lầy, bách tính nằm co quắp,
Trong cung điện, lũ sài lang chiếm cứ.
Cây ngô đồng đã bị mang bỏ hết đi chỗ khác,
Làm sao chim phượng hoàng có thể đến ở. (*)

Ghi chú:
(*) Cây ngô đồng và chim phượng:
1. - Trang tử Nam Hoa Kinh, thiên Thu Thủy:
"夫鵷鶵,發於南海而飛於北海,非梧桐不止,
非練實不食,非醴泉不飲."
Âm:
Phù uyên sồ, phát ư nam hải nhi phi ư bắc hải,
phi ngô đồng bất chỉ, phi luyện thực bất thực,
phi lễ tuyền bất ẩm.
Nghĩa:
Cho nên Uyên Sồ (một tên khác của chim phượng)
đi từ biển Nam tới biển Bắc, không phải cây ngô đồng
thì không đậu, không phải hạt luyện (bamboo fruit hay
bamboo rice) thì không ăn, không phải suối ngọt thì không uống.

2.- Ngụy Thư, Bành Thành Vương Hiệp Truyện (魏書,彭城王勰傳):
"鳳凰非梧桐不棲"
Âm:
Phượng Hoàng phi ngô đồng bất thê.
Nghĩa:
Chim phượng hoàng không phải ngô đồng thì không đậu

Phỏng dịch thơ:

Mảnh Đất Bỏ Hoang

(Nhớ về một quê hương đã mất)

Gió Xuân đã bỏ làng,
Xã tắc cũng tan hoang.
Ngục thất, can tràng nẫu,
Gông cùm, máu lệ loang.
Điêu tàn thân bách tính,
Rủng rỉnh túi sài lang.
Vắng bóng tàng cây đợi,
Về đâu hỡi phượng hoàng?

Trần Văn Lương
Madeira,Portugal, 9/2025

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Than ôi!
Giang san cẩm tú cha ông để lại đã và đang bị tàn phá tan hoang. Nền văn hóa, luân lý, đạo đức của con người cũng không còn nữa.
Chim phượng hoàng dù có muốn ghé qua cũng chẳng tìm đâu ra cây ngô đồng để đậu.
Hỡi ơi!

***

Đất Hoang

(Để nhớ về quê cũ đã mất)

Gió xuân thôi qua sông.
Đền thờ Tổ bỏ hoang.
Ngục tù lòng tan nát.
Quê hương lệ máu tràn.
Bùn đất vùi trăm họ.
Cung điện dậy sài lang.
Cây ngô đồng tróc gốc.
Tìm đâu tổ phượng hoàng?


Mùi Quý Bồng
(Phóng tác)
09/11/2025
***
Đất Hoang

(Nhớ về quê hương đã mất)

Gió xuân bỏ xa phương
Đền Tổ lắm đoạn trường
Ngục tù tâm nhừ nát
Lệ máu nhuộm quê hương
Bùn lầy dìm trăm họ
Cung điện giặc nhiễu nhương
Cây ngô đồng gục ngã
Phượng Hoàng biết đâu nương?


Kim Oanh
 
(Phỏng Dịch)
Melb. 18.9.2025

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2025

Dây Dưa Nỗi Nhớ



Dạo:

Đêm dài nỗi nhớ
Cắc cớ về thăm.
Xơ xác thân tằm,
Gối chăn lạnh lẽo.


Cóc cuối tuần:

Dây Dưa Nỗi Nhớ


Sân sau, bụi chuối nổi khùng,
Hầm hè đuổi gió ra vùng đất hoang.
Sương khuya trắng trộn trăng vàng,
Trên khung trời vắng trễ tràng mây giăng.
Đau lòng ai có biết chăng,
Môi tê lời đắng, mắt căng lệ hồng.
Một đời cách bến xa sông,
Có nghe tiếc nuối gì không hỡi lòng?
Ngập ngừng dế gáy bên song,
Tưởng bài ca cũ về hong bóng sầu.

Phải xưa em chịu gật đầu,
Thì hai đứa vẫn chuyến tàu về chung.
Anh giờ đời đã đóng khung,
Mỏi mòn thân xác, lạnh lùng gối chăn.
Một mình trăn trở trở trăn,
Ăn năn chẳng biết ăn năn tội gì.
Tham sân si, chỉ còn si,
Cúi xin Trời Đất cất đi cực hình.
Khư khư ôm mãi chữ tình,
Long đong số phận, linh đinh bước đời.
Ngậm ngùi đếm giọt đêm rơi,
Âm thầm nhớ đến một thời xa xưa.
Nhớ trò vụng dại đón đưa,
Nhớ ngày nắng sớm chiều mưa thất thường,
Nhớ khi lóng ngóng bên đường,
Nhớ lần quýnh quáng sân trường chạm vai,
Nhớ ba tháng hạ kéo dài,
Nhớ niên học cuối bóng ai mịt mù.

Thế rồi thu tiếp nối thu,
Mấy mươi năm thoắt vù vù qua nhanh.
Giờ đây lá sắp xa cành,
Dây dưa nỗi nhớ năm canh thì thầm.
Bên ngoài giả điếc giả câm,
Bên trong vẫn mãi ngấm ngầm xót xa.
Bể tình may mắn thoát qua,
Ngu si chẳng lẽ là quà Trời ban.
Thôi đừng than thở thở than,
Cũng đừng trách móc phàn nàn gì nhau.
Từ nay cho đến ngàn sau,
Trầu xanh vĩnh viễn với cau khác đường.
Canh dài trằn trọc vấn vương,
Ánh trăng đã tắt đầu giường nào hay.

Trần Văn Lương


Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

Lãnh Tuyết Sầu 冷 雪 愁 - Trần Văn Lương



Dạo:

Đông qua, Xuân ấm trở về,
Sao con tim vẫn não nề giá băng.

Cóc cuối tuần:

冷 雪 愁


獨 步 帶 愁 到 雪 山,
冷 花 飄 落 滿 巖 磐.
林 中 溪 水 號 蠻 曲,
冰 下 墓 碑 憶 舊 顏.
舉 足 登 壇 遊 遠 地,
回 頭 洒 淚 泣 鄕 關.
縱 然 冬 盡 陽 溫 盛,
亡 國 之 心 永 凍 寒.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Lãnh Tuyết Sầu

Độc bộ đái sầu đáo tuyết san,
Lãnh hoa phiêu lạc mãn nham bàn.
Lâm trung, khê thủy hào man khúc,
Băng hạ, mộ bi ức cựu nhan.
Cử túc đăng đàn du viễn địa,
Hồi đầu sái lệ khấp hương quan.
Túng nhiên đông tận, dương ôn thịnh,
Vong quốc chi tâm vĩnh đống hàn.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Nỗi Sầu Tuyết Lạnh

Một mình mang nỗi buồn đến núi tuyết
Hoa lạnh rơi (phủ) đầy đá núi.
Trong rừng, nước suối gào khúc nhạc man rợ,
Dưới nước lớp đá, mộ bia nhớ đến dung nhan cũ.
Cất bước bắt đầu đi thăm đất xa lạ,
Quay đầu nhỏ lệ thương khóc quê nhà.
Cho dù mùa đông hết, hơi ấm mặt trời hưng vượng,
(Nhưng) con tim (kẻ) mất nước vĩnh viễn lạnh cóng.

Phỏng dịch thơ:

Nỗi Sầu Tuyết Lạnh


Bước lẻ gánh sầu vượt đỉnh cao,
Thạch bàn, hoa tuyết lượn xôn xao.
Nhôn nhao, nước suối trào tung tóe,
Lặng lẽ, mộ bia bể nghẹn ngào.
Chốn lạ, chân nhôn nhao rộn rã,
Quê xưa, hồn vật vã lao đao.
Lưu vong dù có bao Xuân ấm,
Lòng vẫn giá băng tự thuở nào.


Trần Văn Lương
Cali, 5/2025
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Chân vui đất lạ sao lòng dạ vẫn xốn xang.
Phong cảnh thì đâu đâu cũng chẳng khác biệt
gì nhiều nhưng tâm tình lữ khách thì chắc gì
ai đã giống ai.
Trên quê người mùa Đông rồi sẽ đi qua và
mùa Xuân với nắng ấm lại về, nhưng lòng người
mất nước sao vẫn mãi lạnh căm.
Hỡi ơi!

***
Sầu Tuyết Lạnh

Núi tuyết đơn côi, trĩu nặng lòng
Cánh hoa lạnh giá rớt mông lung
Suối reo cuồng loạn nhạc man rợ
Nước chẩy bâng khuâng bia tưởng dung
Cất bước ngẩn ngơ thăm đất lạ
Quay đầu lệ đẫm nhớ quê hương
Đông tàn, nắng chói trời hưng phấn
Tìm kẻ tha hương mãi giá băng


Mùi Quý Bồng
(05/01/2025)


Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2025

Dạ Du 夜 遊 - Trần Văn Lương



Dạo:

Người trần thế, kẻ u minh,
Mấy ai biết được chính mình là ai?


Cóc cuối tuần:

夜 遊
月 隱 雨 雰 雰,
路 邊 一 古 墳,
孤 身 無 墓 誌,
墳 裏 是 何 人?

陳 文 良
***
Âm Hán Việt:


Dạ Du

Nguyệt ẩn, vũ phân phân,
Lộ biên, nhất cổ phần,
Cô thân vô mộ chí,
Phần lý thị hà nhân?

Trần Văn Lương
***
Dịch nghĩa:

Đi Chơi Đêm


Trăng trốn, mưa lả tả,
Bên đường, một nấm mồ xưa,
Trơ trọi một mình không có mộ bia,
Trong mộ là người nào?

Phỏng dịch thơ:

Đi Chơi Đêm


Trăng khuất, gió mưa bay,
Nấm mồ cũ lất lây,
Mộ bia rày chẳng có,
Nằm đó chính ai đây?

Trần Văn Lương
Cali, 6/2024

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:


Thực ra, ai là người cần đến câu trả lời:

- Người đi chơi đêm ư?
- Người dưới mộ ư?
- Cả hai ư?
- Không ai cả ư?

Hỏi người là ai, sao bằng hỏi chính mình là ai!
Than ôi, ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng,
thọ giả tướng... làm sao bỏ được đây!
Hỡi ơi!


Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2025

Sầu Ca - 愁 歌 - Trần Văn Lương


Dạo:

Lời xưa trối lại còn đây,
Sao ta vô dụng thế này, hỡi ơi!

Cóc cuối tuần:

愁 歌

悲 文 鎖 石 碑,
遺 命 永 難 移.
勵 志 惟 紅 淚
依 前 漬 爛 衣.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Sầu Ca


Bi văn tỏa thạch bi,
Di mệnh vĩnh nan di.
Lệ chí, duy hồng lệ
Y tiền tí lạn y.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Khúc Ca Sầu


(Bài) văn buồn khóa chặt bia đá,
Lời (người xưa) trối lại vĩnh viễn khó thay đổi.
(Dù) gắng sức (nhưng) chỉ có lệ máu
Thấm (ướt manh) áo rách như trước.

Phỏng dịch thơ:

Khúc Ca Sầu


Hằn bia đá vết sầu dâu bể,
Di mệnh buồn há dễ đổi thay.
Trọn đời dẫu cố loay hoay,
Trên manh áo rách lệ nay vẫn hồng.

Trần Văn Lương

Cali, 7/2023

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2025

Trường Lộ Thán 長 路 嘆 - Trần Văn Lương


Dạo:

Quê nhà thăm thẳm nơi nao,
Ai còn mài miệt lao đao đường dài.

Cóc cuối tuần:

長 路 嘆

日 沉 煙 起 晚 天 暝,
鳥 騎 殘 暉 別 短 亭.
月 散 寒 光 爭 冷 霧,
雲 乘 黑 夜 覆 孤 星.
伶 仃 老 步 家 還 遠,
眷 戀 悲 心 淚 已 晴.
霜 浸 愁 聲 催 憊 腳,
行 人 瘠 弱 勉 登 程.

陳 文 良
***
Âm Hán Việt:

Trường Lộ Thán

Nhật trầm, yên khởi, vãn thiên minh,
Điểu kỵ tàn huy biệt đoản đình.
Nguyệt tán hàn quang, tranh lãnh vụ,
Vân thừa hắc dạ, phú cô tinh.
Linh đinh lão bộ, gia hoàn viễn,
Quyến luyến bi tâm, lệ dĩ tình.
Sương tẩm sầu thanh thôi bại cước,
Hành nhân tích nhược miễn đăng trình.

Trần Văn Lương
***
Dịch nghĩa:

Lời Than Đường Dài

Mặt trời chìm, khói nổi lên, trời chiều tối ám,
Chim cưỡi nắng tàn từ giã đoản đình (trạm dừng chân)
Trăng rải ánh sáng lạnh (để) đấu với sương mù lạnh,
Mây nương đêm đen (để) che trùm ngôi sao cô độc
Bước già lẻ loi, nhà vẫn còn xa.
Tim đau thương bịn rịn, (nhưng) nước mắt đã khô.
Sương thấm ướt âm thanh buồn bã thúc giục (đôi) chân mệt mỏi,
Người lữ hành gầy còm yếu đuối gắng gượng lên đường.

Phỏng dịch thơ:

Đường Dài Than Thở

Khói đùn bóng tối ngập trời cao,
Chim cưỡi nắng tàn giã biệt nhau.
Sương lạnh lau nhau vờn ánh nguyệt,
Mây đen mải miết át màu sao.
Nghẹn ngào bước lão, quê đà mất,
Héo hắt lòng đau, lệ hết trào.
Giá buốt cung sầu luôn thúc bách,
Đường dài, lữ khách bước lao đao.

Trần Văn Lương
Armenia, 5/2024
***
Thân Nỗi Đường Dài

Khói nổi, trời chìm, chiều tối đen
Thẫn thờ chim cưỡi nắng bay lên
Trăng buồn quyện với sương khuya lạnh
Mây xám che mờ sao lẻ đơn
Nhà cửa còn xa, chân bước nặng
Đau thương vẫn đó, lệ khô dần
Âm thanh buốt giá luôn thôi thúc
Lữ khách già nua, lê lết thân

Mùi Quý Bồng
05/16/2024

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Mạt Lộ Thương Ca 末 路 傷 歌 - Trần Văn Lương



Dạo: 
Dù cho đến cuối chặng đường,
Nỗi buồn mất nước vẫn vương vấn lòng.


Cóc cuối tuần:

末 路 傷 歌

匆 匆 歲 月 若 飛 虹,
轉 眼 離 鄉 五 十 冬.
日 短 夜 長 充 冷 霧,
山 高 地 窄 聚 寒 風.
孤 蹤 故 里 逢 辛 苦,
獨 步 他 方 遇 困 窮.
年 盡 心 中 愁 更 大,
國 讎 猶 在 永 難 忘.
 
陳 文 良

Âm Hán Việt:


Mạt Lộ Thương Ca

Thông thông tuế nguyệt nhược phi hồng,
Chuyển nhãn, ly hương ngũ thập đông.
Nhật đoản, dạ trường, sung lãnh vụ,
Sơn cao, địa trách, tụ hàn phong.
Cô tung cố lý phùng tân khổ,
Độc bộ tha phương ngộ khốn cùng.
Niên tận, tâm trung sầu cánh đại,
Quốc thù do tại, vĩnh nan vong.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:


Bài Ca Buồn Chốn Đường Cùng
Thời gian vội vã đi qua như ráng trời bay,
Chớp mắt xa quê đã năm mươi mùa đông.
Ngày ngắn, đêm dài, sương lạnh đầy,
Núi cao, đất hẹp, gió rét tụ lại.
Vết chân đơn độc ở quê nhà gặp nhiều đau khổ đắng cay,
Bước lẻ ở đất người gặp cảnh khốn cùng.
Năm hết, nỗi sầu trong tim lại càng lớn,
Thù nước còn đó vĩnh viễn khó quên.

Phỏng dịch thơ:

Bài Ca Buồn Cuối Nẻo

Tuế nguyệt xoay vần tựa ráng bay,
Năm mươi đông đã thoát tầm tay.
Đêm dài, ngày ngắn, sương thành vũng,
Đất trũng, non cao, gió họp bầy.
Quê mẹ, chốn tù đày vất vưởng,
Xứ người, đường mộng tưởng loay hoay.
Năm tàn tháng tận rày trăn trở,
Thù nước, lòng luôn nhớ chẳng khuây.

Trần Văn Lương

Cali, 1/2025
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:
Than ôi, đã năm mươi năm biệt xứ rồi ư?
Thù nhà chưa trả, nợ nước chưa đền, đường cùng đã đến!
Biết làm sao đây?
Hỡi ơi!

***
Buồn Cuối Năm

Năm tháng qua đi như bóng mây.
Xa quê nửa thế kỷ rồi đây!
Đêm dài, ngày ngắn, màn sương lạnh.
Đất hẹp, núi cao, ngọn gió quây.
Quê mẹ, chân đơn, bao khổ ải.
Đất người, bước lẻ, những chua cay.
Cuối năm, sầu não trào tim óc.
Hận nước, ngàn đời há dễ khuây?


Mùi Quý Bồng
01/16/2025


Thứ Hai, 18 tháng 11, 2024

Vấn Nguyệt 問 月- Trần Văn Lương

 
(Tranh: Họa Sĩ Đặng Can)

Kính gửi quý vị trưởng thượng và quý anh chị con cóc cuối tuần.

Dạo:

Trăng già gửi xác tha phương,
Vì sao phải bỏ quê hương năm nào?


Cóc cuối tuần:

問 月

海 底 沈 遷 月,
黄 光 源 慢 竭.
汝 何 別 故 鄉,
到 此 方 生 滅?

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Vấn Nguyệt


Hải để trầm thiên nguyệt,
Hoàng quang nguyên mạn kiệt.
Nhữ hà biệt cố hương,
Đáo thử phương sinh diệt?

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Hỏi Trăng


Con trăng di cư chìm trong đáy biển,
Nguồn ánh sáng vàng dần khô cạn.
Nhà ngươi vì sao (phải) bỏ quê cũ
Đến phương này (để) sống chết?

Phỏng dịch thơ:

Hỏi Trăng


Trăng lưu lạc biển sâu chìm lỉm,
Ánh sáng vàng tắt lịm đau thương.
Sao người phải bỏ quê hương,
Để rồi sống chết cuối đường nơi đây?


Trần Văn Lương
Sydney, 11/2024
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Than ôi!
Con trăng kia tại sao phải bỏ quê hương, mang theo ánh sáng vàng đến phương này để rồi lụi tắt?
Tìm hạnh phúc ư? Tìm tự do ư? Để được sống xứng đáng là con người ư?
Hỏi tức là trả lời vậy!    

***
Dạo:

Quê hương trăng sáng ngàn nơi,
Dẫu xa vạn dặm không nguôi lòng này.


故鄉月           Cố Hương Nguyệt

故鄉懷舊月, Cố hương hoài cựu nguyệt,
異國猶難竭。 Dị quốc do nan kiệt.
我輩尋自由, Ngã bối tầm tự do,
天崖心不滅! Thiên nhai tâm bất diệt!

杜紹德             Đỗ Chiêu Đức

Nghĩa bài thơ:

- Nhớ mãi vầng trăng xưa ở quê nhà. Nên dù ở nơi...
- Nước lạ quê người vẫn khó mà cạn lòng mong nhớ.
- Lũ chúng ta dù mãi mê đi tìm tự do, nhưng...
- Nơi chân trời góc bể lòng vẫn canh cánh khôn nguôi...

Diễn Nôm:

Trăng Quê Hương

Trăng quê nhà mãi nhớ,
Đất khách vẫn không quên.
Đeo đuổi tự do đó,
Góc trời lòng vẫn bền!

Lục bát:

Nhớ vầng trăng cũ quê nhà,
Tha hương xứ lạ không nhòa ánh trăng.
Tự do mê mãi truy tầm,
Góc trời lòng vẫn âm thầm nhớ quê!


Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2024

Gia Đình Quốc Gia Hành Chánh Nam Cali Với “Những Tình Khúc Mùa Thu”


Tạp ghi viết vội
ngày 19 tháng 10/2024

Cali đã vào Thu, mặc dù không có gió heo may hay những chiếc lá vàng rơi và cũng chẳng có con nai vàng nào ngơ ngác, mà không khí dường như lại còn nóng lên với mùa bầu cử đang gay go trước mặt. Vậy mà, chiều nay, có một nơi duy nhất tràn ngập mùa Thu, đó là Hội Trường Hội Việt Học, nơi quý huynh trong gia đình QGHC Nam Cali và một số thân hữu đang mang không khí Thu về với “Những Tình Khúc Mùa Thu”.

Đúng với tinh thần QGHC, chương trình bắt đầu đúng 3 giờ 00 chiều theo thông báo, khi hội trường đã chật kín chỗ ngồi, có một số khá đông phải đứng phía sau hoặc ngồi ngoài hành lang để chỉ được nghe tiếng hát.

Ai cũng biết Học Viện QGHC/VNCH đã đào tạo những tham sự, đốc sự tài năng, sau này đảm trách hầu hết các chức vụ cao cấp trong chính quyền, từ phó quận, phó tỉnh, trưởng ty cho đến thứ, bộ trưởng. Có người đã trở thành dân biểu, nghị sĩ, thủ tướng.

Sau tháng 4/1975, tất cả đã phải cùng trầm luân theo vận nước, chết chóc, tù đày, vượt thoát bỏ nước ra đi, nhưng cuối cùng những vị còn sống sót may mắn gặp lại nhau trên đất Hoa Kỳ, người bạn đồng minh ngày nào đã đành lòng bỏ rơi ho trong đớn đau tức tưởi. Đất khách gặp nhau chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao
Đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng
Lạc loài trên chính quê hương
Thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

Với trình độ sẵn và kinh nghiệm sẵn có ngày xưa, hầu hết đều sớm thành đạt trong việc học hành và sự nghiệp trên quê hương mới. Nhưng nếu không có mặt trong buổi chiều hôm nay, có lẽ nhiều người không biết rằng, hầu hết những vị cựu QGHC đều rất đa tài và nặng tâm hồn nghệ sĩ. Bởi ngoài khả năng về chính trị, hành chánh, quản trị, họ còn là những nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ và cả ca sĩ tài hoa nữa..
Các vị trong Ban Tổ Chức
Các vị trong Ban Tổ Chức
(từ trái: Trần Văn Lương – Nguyễn Văn Sáu – Ngô Ngọc Vĩnh – Nguyễn Phú Hùng –
Đặng Mạnh Hùng – Nguyễn Đức Tín)

Chương trình “Những Tình Khúc Mùa Thu” hôm nay được thực hiện với những vị đa tài như thế. Điều hợp chương trình là anh Nguyễn Văn Sáu, một người luôn hết lòng làm chiếc cầu nối giữa các đồng môn lưu lạc trên khắp địa cầu. Phụ trách và điều khiển chương trình văn nghệ là hai anh Đặng Mạnh Hùng và Ngô Ngọc Vĩnh. Anh Đặng Mạnh Hùng tốt nghiệp Khóa 13 ĐS, là đứa con của quê hương Hành Thiện (Nam Định), nơi nổi tiếng hiếu học. Ngày xưa có nhiều vị thi đỗ tiến sĩ, cử nhân, nên cũng có nhiều người làm quan nhất nước. Anh có giọng đọc rất chuẩn mực, ấm áp, dễ làm say đắm người nghe. Anh Ngô Ngọc Vĩnh tốt nghiệp Khóa 18 ĐS, vì tùng sự tại Tòa Hành Chánh Phú Bổn trước ngày mất nước, nên trở thành một chiến sĩ dung cảm, chiến đấu để sống còn trong cuộc di tản đẫm máu kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B vào giữa tháng 3/1975. Lúc nào trông anh vẫn cứ còn trai trẻ, làm như thời gian chẳng có nghĩa gì đối với “nhan sắc” của anh. Mới gặp lại anh ngoài hành lang, tôi đã nhầm anh với anh Trần Bạch Thu, ông phó tỉnh Kontum, vùng đất khói lửa mà tôi cùng đơn vị đã từng sống chết với chiến trường trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Anh Thu có lẽ là ông phó tỉnh trẻ tuổi nhất nước, bây giờ là một trong những cây bút nổi danh của QGHC.

MC Đặng Mạnh Hùng

Chương trình dự trù trong 3 tiếng đồng hổ. Với 22 tiết mục, nhưng đến giờ chót thấy tất cả mọi người tham dự vẫn ngồi yên tại hội trường, nên được Ban Tổ Chức bonus thêm tiết mục đặc biệt, do một cựu QGHC rất tài hoa trình bày tác phẩm do chính anh sáng tác.

Cả hội trường im lặng, phảng phất hơi Thu và dường như đang được nhuôm vàng với những nhạc phẩm mùa Thu: Anh Đã Quên Mùa Thu (của Tùng Giang & Nam Lộc),Giấc Mơ Mùa Thu (của Võ Thiện Thanh), Đâu Phải Bởi Mùa Thu (của Phú Quang phổ thơ Giáng Vân), Tình Khúc Mùa Thu, Gọi Mùa Thu Mơ (của Phạm Anh Dũng), Buồn Tàn Thu (của Văn Cao), Con Thuyền Không Bến (của Đặng Thế Phong, Mùa Thu Paris (của Ngô Thụy Miên),Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu ( nhạc ngoại quốc, lời Nam Lộc), Hoài Cảm, Thu Vàng (của Cung Tiến)

Đặc biệt các nhạc phẩm Lá Vàng, Từ Đó Mùa Thu do Cựu QGHC (Cao Học 8) Trần Văn Lương sáng tác và nhạc phẩm Em Có Nghe Gì Không của cựu QGHC (Khóa 17 ĐS) Chính Mung sang tác. Ngoài ra có tác phẩm Bây Giờ Tháng Mấy của NS Từ Công Phụng cũng là một cựu QGHC.

Thành phần ca sĩ khá hùng hậu gồm các chị Kim Loan, Phương Thảo, Bích Thủy, Ngọc Hoa, Ana Xuân Vũ và các anh Bùi Khanh, Vương Đức Hậu, QGHC Trần Văn Lương, QGHC Phú Hùng (Khóa 11 ĐS). Đặc biệt có sự tham gia của bác sĩ/ nhạc sĩ Phạm Anh Dũng và ca sĩ tiền bối Vũ Anh, truớc 1975 từng là ca sĩ có tiếng của Quân Chủng Hải Quân, thường góp tiếng hát trên các đài phát thanh Quân Đội, Sài gòn thuở ấy.

Toàn ban hợp ca nhạc phẩm Thu Vàng, kết thúc chương trình

Cựu QGHC có nhiều sáng tác cũng như trình diễn nhiều ca khúc nhất là anh Trần Văn Lương (Cao Học 8), Anh là tác giả của hơn 250 ca khúc và cũng là một nhà thơ nổi tiếng với bài “Hãy Chụp Giùm Tôi” từng được phổ biến rộng rãi khắp thế giới có cộng đồng người Việt. Gần như tuần nào bạn bè cũng nhận được một bài thơ “Cóc Cuối Tuần” của anh. Đó là những bài thơ hay mang nhiều ý nghĩa, phản ảnh một sự kiện chính trị, một thế thái nhân tình, một nhân sinh quan hay một hoàn cảnh phức tạp, đau lòng mà anh muốn nói hộ cho một hay những người trong cuộc. Thơ anh hay, rất đặc thù, gây nhiều cảm xúc. Và dường như thơ chỉ là hơi thở của anh. Đang đi du lịch xa, thấy nơi nào đó gợi nhớ quê hương, anh viết vội mấy bài thơ. Nhìn thấy một người bạn đang đau buồn vì mất vợ, mất con, hay mất người tình, anh viết hộ nỗi niềm. Biết ai đó có tình duyên trắc trở anh cũng thở ra mấy vần thơ chia sớt. Nhưng có lẽ anh có nhiều bài thơ trước những điều trái tai gai mắt, hoặc để nói với những “khúc ruột ngàn dặm” mà vẫn thường ca ngợi Việt nam bây giờ có nhiều chùm khế ngọt nên thường xuyên áo gấm trở về. Những bài thơ đau đến tận tâm can. Lại là một người có khiếu về ngôn ngữ, nên nhiều khi bài thơ được anh viết bằng cả mấy thứ tiếng: Hán. Nôm, Latin, Anh, Pháp và thi thoảng có cả tiếng Nhật, Tây Ban Nha!

Trần Văn Lương đang hát một ca khúc của anh

Người viết vội mấy dòng này có cái diễm phúc được anh cho là bạn, khởi đi từ đồng môn thời còn dưới mái trường trung học ở thành phố biển Nha trang, và phu nhân của anh lại là bạn cùng niên khóa, nhưng chị bạn lại học Ban B để sau này làm cô giáo dạy Toán của trường Bùi Thị Xuân, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, còn tôi là đấng nam nhi mà lại dốt Toán nên hoc Ban C, và chẳng đến đâu nên phải ắc ê vào lính!

Ông bà bạn của tôi còn là những trưởng Hướng đạo, trông coi cả một Liên Đoàn Hướng Đạo Việt Nam. Hằng năm vào các Hội Tết do Tổng Hội Sinh Viên VN Nam Cali tổ chức, Liên Đoàn Hướng Đạo do anh chị phú trách đã đóng góp rất nhiều trong các sinh hoạt về lịch sử, truyền thống, phong tục của quê hương. Riêng anh còn mở một gian hàng có tên Ông Đồ, viết và dạy các em, các cháu về các câu đối, bởi anh rất thông thạo chữ Hán. Do đó, bạn bè vẫn thương gọi anh là ông Đồ Lương, để được nhìn thấy anh cười.

Người bạn đa tài này thường không muốn ai đó nói lời ca ngợi mình. Nhưng hôm nay, trong buổi chiều đầu Thu, nghe những Tinh Khúc Mùa Thu của chính anh sáng tác và được anh hát với giọng hát khi trầm ấm, thiết tha khi thanh thót như dòng suối của mùa Thu trên Cao nguyên trong thời chinh chiến, gây cho tôi thật nhiều cảm xúc để càng thêm cảm phục người bạn tài hoa, nên trộm viết vội mấy dòng này. Mai này, gặp nhau, nếu có bị anh vỗ vai rầy một tiếng, tôi cũng chỉ mĩm cười, chẳng thèm nói một lời xin lỗi. Bởi với tinh thần Hướng Đạo “có sao nói vậy người ơi!”

Xin phép được ca ngợi và đa tạ các huynh QGHC, đã cho những người không còn nhiều cơ hội ngắm mùa Thu, nghe hơi Thu, tỏ tình trong mùa Thu như tôi, được sống lại một buổi chiều thật êm ả thi vị với Những Tình Khúc Mùa Thu cùng với những giọng hát thiết tha như cứ còn đọng mãi trong hồn.

Phạm Tín An Ninh
(một khán giả thân hữu)
Ghi chú: Ảnh của QGHC Ngô Ngọc Trác (Khóa 13 ĐS & Cao Học 8)



Thứ Năm, 10 tháng 10, 2024

Một Số Bằng Hữu Đọc Giúp Hai Câu Đối Trên Trong Tấm Ảnh Ngày Xưa


Kính thưa quí bạn

Hôm nay gởi các bạn vài chuyện đời thường, một cho quí bà và một cho quí ông biết cũng tốt.

Một số bằng hữu đọc giúp hai câu đối trên trong tấm ảnh ngày xưa.

Huỳnh Chiêu Đẳng
-----===o0o===-----

Nhờ các bạn đọc dùm hai hàng chữ nầy, mất chữ đầu và cuối

Thưa các bạn học giả Nguyễn Duy Chính đã đọc các hàng chữ trên như sau:

From: Chinh Nguyen <duychinh@
Date: 10/3/24 10:37 AM (GMT-08:00)
Subject: Câu đối chữ Hán 

Lão huynh kính

Câu đối có mấy chữ mờ nên tiểu đệ suy đoán đọc như sau:

巍上顯蘆? (慶) 長昭神妙術
蕩上伄瞻如見佛眞心

Nguy thượng hiển lô trường chiêu thần diệu thuật
Đãng thượng điếu chiêm như kiến phật chân tâm

Nếu đệ đoán không lầm, đây là câu đối ở cái miến/đền nào thờ cả thần lẫn Phật chứ không phải ở chùa.

Nếu lão huynh có hình nào rõ hơn thì dễ đọc.

Kính

Nguyễn Duy Chính

HCD: Cảm ơn anh Chính nhiều lắm,
Anh quả là bậc thầy, máy không đọc được mấy hàng chữ này. Thông thường thì chữ nước nào máy cũng đọc được hết, nhưng với những hàng chữ này thì máy chịu thua tôi không rõ lý do.
Anh Chính nói đúng rồi thấy trong hình có vẻ là một cái miếu hay là một cái đền gì đó không phải là chùa.

-----===o0o===-----

Sau đây là email của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Đạt

From: Dat Nguyen <nguyenvdat
Sent: Saturday, October 5, 2024 3:49 CH
Subject: Câu đối chữ Hán


Thưa anh Đẳng, anh Tâm, và anh Khuân:
Em nghĩ, hai câu đối nầy đấy đủ ý nghĩa, không thiếu chữ đầu và chữ cuối.
Theo em, nếu viết cho rõ ràng hơn thì là như thế này:

陽上师磨長昭神妙術
蕩上伄瞻如見佛眞心

Em không biết phiên âm thế nào cho đúng tiếng Hán Việt.
Tuy nhiên, em nghĩ, một cách đại khái, ý nghĩa của hai câu đối nầy là:

Cố công xem xét sẽ nhận ra nghệ thuật thần diệu của Triệu Thường
Ngẩn cao chiêm ngưỡng sẽ thấy được tấm lòng chân thật của Đức Phật

Chú thích: Triệu Thường (Zhao Chang) là một họa sĩ tài ba nổi tiếng thời nhà Tống:

Xin anh Tâm và anh Khuân giúp giải thích giùm:

1. Chữ Hán phía trên có đúng với tấm hình phía dưới không.
2. Phiên âm tiếng ra tiếng Hán Việt như thế nào cho đúng.
3. Ý nghĩa của hai câu đối trong hình dưới đây là gì.

Cám ơn các anh,

Nguyễn Văn Đạt

HCD: Cám ơn Đạt
-----===o0o===-----

Phần góp ý của Giáo sư Phí Minh Tâm.

From: Tam Phi <pmtdna@
Sent: Saturday, October 5, 2024 5:59 CH
Subject: Re: Câu đối chữ Hán

Anh Đạt,
Tôi không đọc và hiểu được chữ Hán, nên chi dùng tự điển. Câu Việt ngữ cũng xác nghĩa lắm. 


Cố công xem xét sẽ nhận ra nghệ thuật thần diệu của Triệu Thường
Ngẩn cao chiêm ngưỡng sẽ thấy được tấm lòng chân thật của Đức Phật

Phí Minh Tâm

HCD: Cám ơn Giáo sư Phí Minh Tâm.
-----===o0o===----

Thưa các bạn Tiến Sĩ Trần Văn Lương đã tìm được nguồn gốc cái video và hai câu đối trên:

From: Tran V Luong <tranvluong@
Date: 10/7/24 5:33 PM (GMT-08:00)
Subject: Re:  

Kính anh Đẳng,

Đây là nguồn gốc của bức hình đó, kèm theo lời giải thích bằng Anh ngữ tại:

Hai câu chữ Hán như sau:

巍巍顯應長昭神妙術,
蕩蕩布瞻如見佛真心

Âm:

Nguy nguy hiển ứng trường chiếu thần diệu thuật,
Đãng đãng bố chiêm như kiến phật chân tâm.

Ghi chú:

Cái chữ thứ 2 của mỗi câu trông giống như chữ "thượng ( 上)" nhưng không phải.
Đó là dấu hiệu lặp lại cái chữ trước đó, thay vì phải viết lại nguyên chữ đó, đây là cách thông dụng các cụ ngày xưa hay viết trong trường hợp chữ kép gồm 2 chữ? trùng nhau?, để khỏi viết lại nguyên chữ trước (các cụ cũng biết lười ).

Lương

P.S. Xin chép lại lời giải thích từ cái website đó bằng Anh ngữ:

The wife and daughter of French governor throwing coins to local children,1899, though the couplets on the wall is in Chinese, but this is not in China, is in French Indochina (today Vietnam), Vietnam used Chinese characters until the beginning of the 20th century.
An excerpt from a short film by the Lumiere brothers filmed in Vietnam and shown in 1901.
Someone said that it is an old tradition of throwing coins to small children after a baptism was practiced in France during the same time period.
The Chinese couplets displayed at the two sides of the gate, from right to left, it said 巍巍顯應長昭神妙術,蕩蕩布瞻如見佛真心。(”See the majestic manifestation of the God’s divine power and feel the true heart of Buddha with a devotion in the millions“),so it‘s a Buddhist temple

HCD: Cám ơn anh Lương đã tìm đúng ngay mấy câu đối do tác giả cái video post.
Thưa các bạn, đa số chúng ta biết anh Trần Văn Lương là một thi nhân, tác giả nhiều bài thơ hay. Tôi biết thi sĩ Trần Văn Lương qua bài thơ “Hãy Chụp Dùm Tôi” từ lâu lắm rồi lúc bài thơ mới sáng tác. Sau nầy do duyên may đưa đẩy tôi tình cờ được gặp và làm quen với anh Lương, chuyện trên mươi năm trước.

Một điều thú vị là đa số chúng ta không biết anh Lương là một vị Tiến Sĩ (tốt nghiệp tại Mỹ). Anh có bằng Tiến Sĩ về electrical engineering, bộ môn nầy toàn là tính toán khô khan chớ đâu có thơ mộng phải không. Tuy nhiên anh Lương lại rất am tường Hán Học.
Các bạn còn nhớ email trước học giả Nguyễn Duy Chính đã đọc dùm mấy hàng chữ Nho. Có nhiều bằng hữu không biết anh Chính cũng là một vị Tiến Sĩ (tốt nghiệp tại Mỹ).
Anh Chính, anh Lương nầy cũng như anh Vũ Xuân Hoài rất kín tiếng, còn nhiều vị Tiến Sĩ trong email MTC, có dịp sẽ tiết lộ.
Quên nữa anh Hoài cũng còn là võ sư nữa.

-----===o0o===-----
From: Nhac Tran <nhac.tran@
Sent: Tuesday, October 8, 2024 6:18 SA
Subject: Re:

"....đây là câu đối ở cái miếu/đền nào thờ cả thần lẫn Phật chứ không phải ở chùa."

Xin góp thêm một ý kiến sơ sài:

Tấm hình có vẻ chụp cái cửa của một cái đền hơn là của một cái chùa, tương tự như đền Voi phục ở Hà nội. Các câu đối thường được viết trên các tấm bảng sơn mầu trắng.
Thông thường, cửa đi vào chánh điện của một cái chùa thì có mầu nâu xậm quen gọi là mầu gụ (gỗ gụ) hoặc mầu vàng tương ứng với mầu áo cà sa của các vị sư.

Hơn nữa đền thờ thì không thờ Phật , chỉ thờ các ông Thánh hay Thần

Vài thí dụ :

Đền Voi Phục Hà Nội
Đền thờ đức thánh Trần Hưng Đạo, Tân Định, Sàigòn

Trần Ngọc Nhạc

HCD: Cám ơn anh Trần Ngọc Nhạc

-----===o0o===-----

Đây là email góp ý của anh Đỗ Chiêu Đức, tôi để nguyên layout

From: Chieu Duc <chieuduc15@
Sent: Tuesday, October 8, 2024 2:35 CH
Subject: Re:

Kim Oanh thân mến,

Theo anh Đức thì đôi câu đối đó được đọc như thế nầy:

巍巍顯應,長昭神妙術; Nguy nguy hiển ứng, trường chiêu Thần diệu thuật;
蕩蕩仰瞻,如見佛眞心。 Đảng đảng ngưỡng chiêm, như kiến Phật chơn tâm.

* Sau từ 巍 Nguy và sau từ 蕩 Đảng đều có dấu HAI CHẤM, có nghĩa là lặp lại chữ đứng trước đó.


... Nếu là chữ THƯỢNG thì phải viết Ba Chấm hay như sau đây:


Còn về ý nghĩa: Như người đưa hình ảnh đã nói: Đôi câu đối thiếu mất một chữ đứng đầu. Theo anh Đức suy đoán (mò)... thêm vào hai chữ đầu thì câu đối đó sẽ như sau:

崛巍巍顯應長昭神妙術;Quật nguy nguy hiển ứng, trường chiêu Thần diệu thuật;
坦蕩蕩仰瞻如見佛眞心。Thản đảng đảng ngưỡng chiêm, như kiến Phật chơn tâm.

* Chú thích:

- Quật nguy nguy 崛巍巍 : là "Vượt lên cao vòi vọi" có xuất xứ từ một câu trong bài CẦM PHÚ 琴赋 của Kê Khang 嵇康, một trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn, là:

邈隆崇以極壯, Mạc long sùng dĩ cực tráng;
崛巍巍而特秀。 Quật nguy nguy nhi đặc tú.

Có nghĩa:

- Cao xa ngất ngưỡng mà vô cùng hùng tráng,
- Vượt lên cao vòi vọi mà đặc biệt đẹp

Nên ...

Quật nguy nguy 崛巍巍 : là "Vượt lên trên cao vòi vọi".


- Thản đảng đảng 坦蕩蕩 : THẢN là Bình thản, là Bằng phẵng. ĐẢNG là lay động không ngừng. Nhưng THẢN ĐẢNG ĐẢNG có nghĩa là : Làm việc gì đó một cách Quang Minh Lỗi Lạc. Có xuất xứ từ một câu trong chương Thuật Nhi trong sách Luận Ngữ《論語.述而》của Khổng Tử : Quân tử Thản Đảng Đảng, Tiểu nhân trường thích thích「君子坦蕩蕩,小人長戚戚。」 Có nghĩa : "Người quân tử thì quang minh lỗi lạc, Còn kẻ tiểu nhân thì ke re cắc rắc (tính toán từ chút một).


Nên, câu đối trên có nghĩa...

- Sự hiển linh và ứng nghiệm vượt lên cao vòi vọi, cho thấy pháp thuật ảo diệu của thần linh luôn luôn chiếu sáng rõ ràng.
- Sự ngưỡng mộ và chiêm bái một cách quang minh lỗi lạc, như làm cho ta như thấy được tấm lòng chân thật của Đức Như Lai.

Anh Đức tra cứu biết được bao nhiêu thì nói bấy nhiêu thôi. Đoán già đoán non theo ý riêng của mình. Còn mong các tiền bối chỉ điểm thêm những gì còn sai sót!

Chúc KIM OANH luôn được VUI VẺ, KHỎE MẠNH!

Thân mến,
Anh Đức (Đỗ)

HCD: Cám ơn anh Đỗ Chiêu Đức

Huỳnh Chiêu Đẳng Biên Soạn


Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2024

Mùa Thu Trong Thơ Văn Cổ ĐiểnTrung Hoa (Phần 2)

Nói đến mùa thu mà không nhắc đến trăng thu là một điều thiếu sót lớn.Trăng thu nhắc nhở đến sự ly biệt, đến sự cô đơn của người lính thú, đến cảnh về già của một lão tướng hết thời, đến nỗi buồn của người cung nữ bị thất sủng... Trăng thu thật là buồn:

Thiêm sầu ích hận nhiễu thiên nhai.
Chiếu tha kỷ hứa nhân trường đoạn.

添 愁 益 恨 绕 天 涯。
照 他 幾 許 人 腸 斷 。
(Bạch Cư Dị 白居易 , Trung thu nguyệt 中秋月, câu 2,7)

(Nghĩa: thêm sầu, thêm hận khắp gầm trời,
Trăng đã soi bao nhiều người đứt ruột)

và lòng người lữ khách xa nhà:

Vị tất Tố Nga vô trướng hận,
Ngọc thiềm thanh lãnh quế hoa cô.

未 必 素 娥 無 怅 恨,
玉 蟾 清 冷 桂 花 孤。
(Án Thù 晏殊, Trung thu nguyệt 中秋月, câu 3-4)

(Nghĩa: Hằng Nga chưa chắc dã không buồn khổ,
Cóc ngọc và cây quế đều thê lương lạnh lẽo)

Và đây là trăng cô đơn của Đỗ Phủ:

Thu nguyệt nhưng viên dạ,
Giang thôn độc lão thân.

秋 月 仍 圓 夜,
江 村 獨 老 身 。
(Đỗ Phủ 杜甫, Thập thất dạ đối nguyệt, 十七夜對月câu 1-2)

(Nghĩa: Đêm trăng thu vẫn tròn,
Xóm bên sông chỉ có một thân già)

Núi thu cũng không làm cho lòng người vui hơn. Hãy nghe Bạch Cư Dị tả cảnh ông lên chơi núi sau một cơn đau dài:

Sơn thu vân vật lãnh,
Xứng ngã thanh luy nhan.
Nhân sinh vô kỷ hà,
Tâm hữu thiên tải ưu,
Thân vô nhất nhật nhàn.

山 秋 雲 物 冷,
稱 我 清 羸 顔。
人 生 無 幾 何 。
心 有 千 載 憂,
身 無 一 日 閑。
(Bạch Cư Dị 白居易, Thu sơn, 秋山câu 3-4, 9, 11-12)

(Nghĩa: Núi mùa thu mây và mọi vật đều lạnh,
Thiệt xứng với nét mặt xanh gầy của ta.
Đời người có gì đâu.
Lòng có mối lo ngàn năm,
Thân không có được một ngày nhàn nhã).

Núi thu cũng nhắc nhở đến sự chia ly, xa cách quê hương. Vi Ứng Vật nơi đất lạ gặp lại người bạn cũ đã từng sống tại Lương Châu, mừng mừng tủi tủi hàn huyên.Đến khi người bạn hỏi tại sao lâu rồi không về thăm quê, tác giả chỉ biết ngậm ngùi nhìn vào ngọn núi thu lờ mờ ẩn hiện trên sông Hoài:

Hà nhân bất quy khứ,
Hoài thượng đối thu sơn.

何 因 不 歸 去,
淮 上 有 秋 山。
(Vi Ứng Vật 韋應物, Hoài thượng hỉ hội Lương châu cố nhân  淮上喜會梁川故人 , câu 7-8)

(Nghĩa: Hỏi tại sao không trở về quê,
Chỉ biết trỏ vào núi thu trên sông Hoài)

Cũng gần một hoàn cảnh, Lý Ích được gặp lại người em họ sau bao nhiêu năm ly loạn. Tác giả lại bùi ngùi nghĩ đến ngày mai người em họ lại phải lên đường đi nơi khác:

Minh nhật Ba lăng đạo,
Thu sơn hựu kỷ trùng.

明 日 巴 陵 道,
秋 山 又 幾 重?
(Lý Ích 李益 ,Hỉ kiến ngoại đệ hựu ngôn biệt , 喜見外弟又言別 câu 7-8)

(Nghĩa: Ngày mai lên đường về Ba Lăng,
Núi thu lại cách mấy trùng)

Khi nhắc đến sông thu, một số thi sĩ Trung hoa cổ điển đều nghĩ ngay tới sông Ngân, nơi có Ngưu lang Chức nữ, có lẽ vì dòng sông và hai ngôi sao này biểu hiện cho sự chia lìa của tình yêu đôi lứa. Và điểm này hơi đặc biệt, nó cũng làm cho họ nghĩ đến thân phận người cung nữ bị bỏ rơi. Và đó là một đề tài quen thuộc được biết đến dưới tên cung oán. Trong Cung từ, Cố Huống diễn tả cảnh người cung nữ ngồi một mình nhìn về phía lầu ngọc nơi vua và các cung nữ được sủng ái đang vui chơi, ca hát và nàng thấy bức màn thủy tinh được cuốn lên như đến tận Ngân hà:
Thủy tinh liêm quyển cận thu hà.

水 晶 簾 卷 近 秋 河。
(Cố Huống 顧況, Cung từ 宮詞, câu 4)
(Nghĩa: Màn thủy tinh cuốn lên tận sông thu)

Đỗ Mục tả tâm tình người cung nữ đêm thu ngồi một mình buồn ngắm sao, giọng văn tương đối nhẹ nhàng, phải nhìn kỹ lắm chúng ta mới thấy được một chút "oán" thật kín đáo trong dòng thơ:

Ngân chúc thu quang lãnh họa bình,
Khinh la tiểu phiến phác lưu huỳnh,
Thiên giai dạ sắc lương như thủy,
Tọa khán khiên ngưu chức nữ tinh.

銀 燭 秋 光 冷 畫 屏,
輕 羅 小 扇 撲 流 螢。
天 階 夜 色 涼 如 水,
坐 看 牽 牛 織 女 星。
(Đỗ Mục, 杜牧 Thu tịch 秋夕)

(Nghĩa: Đêm thu ánh đuốc bạc chiếu bình phong lạnh,
Dùng quạt lụa đánh đuổi con đom đóm.
Trên thềm đá sắc đêm trong như nước,
Ngồi nhìn 2 sao Ngưu lang và Chức nữ)

Mùa thu có khả năng gợi hứng cho thi nhân, nhưng cũng mang cho họ niềm nhung nhớ khôn nguôi. Ngoài việc tả cảnh vợ nhớ chồng như đã nói ở trên, thi nhân lại có một sự nhớ nhung khác: nhớ bạn. Người xưa rất coi trọng tình bạn, và trong lịch sử Trung hoa chúng ta đã thấy qua nhiều tình bạn rất vĩ đại và cảm động, chẳng hạn như Đỗ Bá và Tả Nho, Quản Trọng và Bảo thúc Nha, Kiển Thúc và Bá Lý Hề, Bá Nha và Tử Kỳ, ba anh em Lưu Quan Trương v.v...

Mạnh Hạo Nhiên một mình ở đất Tần (tức Kinh đô Trường An của nhà Đường) nhớ bạn là Tuệ Viễn thiền sư, đã làm một bài thơ nhớ bạn, trong đó hai câu cuối nghe thật là thê lương:

Nhật tịch lương phong chí,
Văn thiền đản ích bi.

日 夕 涼 風 至,
聞 蟬 但 益 悲。
(Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然, Tần trung cảm thu ký Viễn thượng nhân 秦中感秋寄遠上人 câu 7-8)
(Nghĩa: Ngày đêm gió lạnh thổi,
Nghe tiếng ve chỉ thêm buồn)

(Ở đây xin mở một dấu ngoặc nhỏ. Ở xứ mình, tiếng ve thường dính liền với mùa hạ, trong khi ở đây, nó lại được nhắc đến ở mùa thu. Chúng ta cũng đã nghe Tống Ngọc nhắc đến ve sầu trong đoạn văn về mùa thu trích dẫn ở trên).

Một thi nhân khác trong đêm thu đi bộ một mình cũng nhớ đến bạn mình, tình cảm thật nhẹ nhàng:

Hoài quân thuộc thu dạ,
Tản bộ vịnh lương thiên,
Không sơn tùng tử lạc,
U nhân ứng vị miên.

懷 君 屬 秋 夜,
散 步 詠 涼 天。
空 山 松 子 落,
幽 人 應 未 眠 。
(Vi Ứng Vật 韋應物, Thu dạ ký Khâu viên ngoại 秋夜寄邱員外)

(Nghĩa: Đêm thu tôi nhớ bạn,
Trời mát đi bộ ngâm thơ.
Núi vắng, quả tùng rơi,
Tôi đoán bạn giờ này cũng chưa ngủ)

Nếu người bạn đã chết, thì tình cảm lại càng thê thiết. Vương An Thạch một thời làm Tể tướng chủ trương cải cách và đứng đầu Tân phái. Ông gặp được một người tuổi trẻ tài năng trác tuyệt là Vương Phùng Nguyên, tưởng rằng người trai trẻ này có thể kế thừa mình. Nhưng không may Vương Phùng Nguyên lại mất sớm, để cho Vương An Thạch thương tiếc khôn cùng. Bài thơ thứ nhất trong ba bài thương tiếc Phùng Nguyên bắt đầu bằng hai câu nghe thật bi thảm:

Phùng cao kim nhật tưởng phân phi,
Trủng thượng thu phong hựu nhất suy.

蓬 蒿 今 日 想 紛 披,
冢 上 秋 風 又 一 吹。
(Vương An Thạch, Tư Vương Phùng Nguyên 王安石思王逢原(bài 1 trong 3 bài), câu 1-2)

(Nghĩa: Cỏ dại hôm nay tưởng đã mọc đầy,
Trên gò mả gió thu lại thổi)

Nỗi nhớ em của Đỗ Phủ cũng thật là da diết:

Thú cổ đoạn nhân hành,
Thu biên nhất nhạn thanh.
....
Hữu đệ giai phân tán,
Vô gia vấn tử sinh.
Ký thư trường bất đạt,
Huống nãi vị hưu binh.

戍 鼓 斷 人 行,
秋 邊 一 雁 聲。
…
有 弟 皆 分 散,
無 家 問 死 生。
寄 書 長 不 達,
況 乃 未 休 兵。

(Đỗ Phủ 杜甫, Nguyệt dạ ức xá đệ 月夜憶舍弟, Câu 1-2, 5-8)

(Nghĩa: Tiếng trống ngưng bước người,
Mùa thu nơi biên giới, một tiếng nhạn kêu.
....
Có em mà đều bị chia ly,
Không nhà để hỏi chuyện sống chết.
Thư gởi lâu không tới,
Huống chi binh lửa còn chưa hết)

Trời thu tự nó đã buồn, nhưng nếu thi nhân gặp được một cổ tích đổ nát thì tấm lòng hoài cổ lại bùng dậy. Và do đó, xuất hiện một đề tài gọi là điếu cổ hay hoài cổ. Bà Huyện Thanh Quan của Việt nam là một tay cự phách về đề tài này (Thăng long thành hoài cổ ). Lưu Trường Khanh khi đi thăm tàn tích của Ngô công đài (tại Giang Tô Giang đô huyện ngày nay) đã viết nên bài ngũ ngôn bát cú sau:

Cổ đài diêu lạc hậu,
Thu nhật vọng hương tâm.
Dã tự nhân lai thiểu,
Vân phong thủy cách thâm.
Tịch dương y cựu lũy,
Hàn khánh mãn không lâm.
Điêu trướng Nam triều sự,
Trường giang độc chí kim.

古 台 搖 落 後,
秋 日 望 鄉 心。
野 寺 人 來 少,
雲 峰 水 隔 深。
夕 陽 依 舊 壘,
寒 磬 滿 空 林。
惆 怅 南 朝 事,
長 江 獨 至 今。
(Lưu Trường Khanh 劉長卿, Thu nhật đăng Ngô công đài thượng tự viễn diêu 秋日登吳公台上寺遠眺)

(Nghĩa: Đài xưa đã điêu linh tàn tạ,
Ngày thu lòng nhớ quê.
Chùa quê ít người lại,
Núi cao nước sâu cách trở.
Nắng chiều vẫn nương nhờ đài cũ,
Tiếng khánh lạnh bao phủ đầy rừng.
Việc cũ của Nam triều điêu tàn,
Chỉ có Trường giang là còn đến ngày nay)

Lưu Vũ Tích cũng có những câu thơ hoài cổ não lòng người khi ông viếng thăm Tây tái sơn (tại Hồ Bắc Đại Dã huyện):

Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự,
Sơn hình y cựu chẩm hàn lưu
Tùng kim tứ hải vi gia nhật,
Cố luỹ tiêu tiêu lô địch thu.

人 世 幾 回 傷 往 事,
山 形 依 舊 枕 寒 流。
從 今 四 海 爲 家 日,
故 壘 蕭 蕭 蘆 荻 秋
(Lưu Vũ Tích 劉禹錫, Tây tái sơn hoài cổ, 西塞山懷古câu 5-8)

(Nghĩa: Người dời bao lần thương chuyện cũ,
Núi vẫn như cụ gối trên sông lạnh.
Kể từ bây giờ bốn biển một nhà,
Thành xưa mùa thu lau lách tiêu điều)

Nhiều lúc không cần phải có thành quách cũ, mà chỉ cần một buổi chiều thu trên dòng sông Tương cũng đủ khơi dậy lòng hoài cổ nơi thi nhân:

Viên đề Động đình thụ,
Nhân tại mộc lan châu.
…
Vân trung quân bất kiến,
Cánh tịch tự bi thu.

猿 啼 洞 庭 樹,
人 在 木 蘭 舟。
…
雲 中 君 不 見,
竟 夕 自 悲 秋 。
(Mã Đái , 馬戴Sở giang hoài cổ , 楚江懷古câu 3-4, 7-8)

(Nghĩa: Vượn kêu trên cây ven Hồ Động đình,
Người ở trên thuyền bằng gỗ mộc lan.
Không thấy ông thần mây,
Đêm xuống lại buồn thương thu một mình)

Trương Thuyết thời sơ Đường khi đến ngang Nghiệp đô, là nơi Tào Tháo và con cháu (nhà Ngụy) đóng đô thuở xưa, đã cảm thấy một nỗi bi thương vô hạn khi thấy gió thu về (đây là khoảng thời gian ông bị biếm trích đi Dương châu):

Thí thượng Đồng đài ca vũ xứ,
Duy hữu thu phong sầu sát nhân.

試 上 銅 台 歌 舞 處,
惟 有 秋 風 愁 殺 人。
(Trương Thuyết 張說, Nghiệp đô dẫn, 邺都引câu 11-12)

(Nghĩa: Thử lên Đồng tước đài, nơi ca hát,
Chỉ có gió thu buồn chết người)

Đối với người dân bị mất nước, mùa thu lại còn buồn thêm. Đời Nam Tống, một nửa nước Trung hoa về phía Bắc bị quân Kim chiếm đóng. Dân chúng sống dưới ách cai trị của quân Kim ngày ngày trông ngóng cứu binh từ miền Nam lên, nhưng than ôi!... Cảm thương tình cảnh này, trong một đêm thu ra khỏi nhà hóng mát, Lục Du đã viết lên:

Di dân lệ tận Hồ trần lý,
Nam vọng vương sư hựu nhất niên.

遺 民 淚 盡 胡 塵 裏,
南 望 王 師 又 一 年。
(Lục Du陸遊, Thu dạ tương hiểu xuất ly môn nghênh lương hữu cảm, 秋夜將曉出籬門迎涼有感câu 3-4)
(Nghĩa: Dân bị bỏ sót ở miền Bắc nước mắt đã chảy hết vào trong bụi của xứ Hồ,
Lại mất thêm một năm nữa hướng về phương Nam mong mỏi lính của vua lên Bắc để cứu).

Đến đây, chúng tôi xin được ngưng phần trích dẫn các bài thơ nói về thu để đề cập tới hai tác phẩm lớn, mặc dù không có chủ ý tả thu, nhưng mỗi tác phẩm lại có được hai câu văn (mà chúng ta có thể gọi là thơ) tuyệt tác có chữ thu ở trong đó.

Trước hết là bài Đằng Vương Các tự (滕王閣序) của Vương Bột (王勃). Bài này được xem là một tuyệt tác của văn học Trung hoa, được viết một hơi trong một bữa tiệc, mà tác giả lúc đó mới 19 tuổi. Truyền thuyết về gốc gác bài này như sau.

Đô đốc Hồng châu là Diêm Bá Dư đãi tiệc ở Đằng Vương các, mục đích là để khoe tài văn chương của người con rể. Ông bảo con rể làm sẵn một bài tự, rồi trong bữa tiệc ông lại mời các văn sĩ dự tiệc mỗi người làm cho một bài. Mọi người hiểu ý ông nên không ai dám viết. Chỉ có Vương Bột lúc đó mới 19 tuổi, xin giấy viết để làm. Diêm Bá Dư tuy trong bụng không bằng lòng nhưng vẫn phải miễn cưỡng cung cấp giấy bút , và sai người đứng bên cạnh, hễ Vương Bột viết được câu nào thì sao chép lại cho ông đọc. Được mấy câu ông đã thầm phục, và khi Vương Bột viết xong 2 câu tuyệt tác (câu 57-58) thì ông phải nhận rằng Vương Bột là thiên tài, và không dám đưa bài của chàng rể ra nữa. Hai câu đó là:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.

落 霞 與 孤 鹜 齊 飛,
秋 水 共 長 天 一 色。

(Nghĩa: Ráng chiều với con cò đơn độc cùng bay,
Nước thu và trời dài cùng một màu.)

Vương Bột sau này đi thuyền qua Giao chỉ thăm cha, bị chết đuối ở Nam hải, lúc đó ông mới 27 tuổi. Vin vào sự kiện này và sự nổi tiếng của hai câu thơ, hậu thế tạo nên một câu chuyện giả tưởng như sau. Họ nói rằng Vương Bột thích hai câu thơ này lắm, nên sau khi chết đuối, những đêm trăng thanh gió mát, ông lại hiện lên để ngâm hoài hai câu đó. Cho đến một ngày có một văn sĩ đi ngang, chê là mỗi câu thừa một chữ: câu trên thừa chữ dữ và câu dưới thừa chữ cộng, thì tiếng ngâm mới dứt hẳn. Đây chỉ là chuyện bịa đặt cho vui mà thôi.

Hai câu thơ tuyệt tác khác có chữ thu là của La Quán Trung (羅貫中), được viết trong tác phẩm bất hủ Tam Quốc diễn nghĩa (三國演義). Hai câu thơ này tả cảnh Lã Bố bắn kích ở Viên môn để giải nguy cho Lưu Bị (hồi thứ 16). Câu chuyện như sau:


Lã Bố trấn thủ Từ châu, một thành lớn, binh hùng tướng mạnh. Trong khi đó, Lưu Bị chưa gặp thời phải tạm đồn quân ở Tiểu Bái, với số lượng binh sĩ dưới tay chỉ 5 ngàn người. Viên Thuật (em Viên Thiệu) muốn đem quân đánh Lưu Bị nhưng ngại Bố giúp Bị, thành ra sai người đem dâng cho Bố 20 vạn hộc lương để Bố án binh bất động trong khi Thuật đánh Bị. Bố nhận lời. Thuật bèn sai đại tướng Kỷ Linh đem 10 vạn quân đi. Thấy thế nguy, Bị cầu cứu Bố. Bố, trong bụng cũng muốn giúp Bị, bèn bày ra một kế để giảng hòa hai bên (và nuốt gọn 20 vạn hộc lương). Bố đặt tiệc, gọi cả Kỷ Linh và Lưu Bị đến dự tiệc. Bố khuyên hai phe giảng hòa, nhưng một bên Kỷ Linh không chịu, một bên Trương Phi phùng mang trợn mắt chỉ muốn đánh nhau. Bố nổi giận, thét quân hầu đem cây Phương Thiên Họa Kích của mình ra cắm ngoài Viên môn cách xa bàn tiệc khoảng 150 bước và bảo với hai bên rằng bây giờ Bố sẽ bắn cây kích, nếu trật thì hai bên cứ việc đánh nhau, Bố sẽ không can thiệp, còn nếu Bố bắn trúng thì hai bên phải bãi binh, nếu bên nào không nghe thì Bố sẽ hiệp binh với bên kia đánh cho một trận. Kỷ Linh thấy cây kích xa đến 150 bước, trong bụng nghĩ rằng không ai có thể bắn trúng được, bèn nhận lời. Lưu Bị chẳng đặng đừng cũng đành chấp nhận. Lã Bố sai đem cung ra, lắp tên và chỉ một phát đã bắn trúng cái chạc nhỏ của cây kích. Kỷ Linh đành phải rút quân về. Đó là sự tích Lã Phụng Tiên xạ kích. Và đây là hai câu thơ tuyệt tác tả cảnh Lã Bố bắn cung (trong đó có chữ thu):

Cung khai như thu nguyệt hành thiên,
Tiễn khứ tự lưu tinh lạc địa.

弓 開 如 秋 月 行 天,
箭 去 似 流 星 落 地。

(Nghĩa: Cánh cung mở như trăng thu đi ngang trời,
Mũi tên bay như sao băng rơi xuống đất.)
Quả thật là thiên cổ kỳ văn.

Để kết thúc bài phiếm luận về mùa thu này, xin gởi đến quý độc giả một bài thơ Đường nói về mùa Thu. Bài thơ làm theo thể ngũ ngôn bát cú và được viết vào mùa thu đầu tiên của thế kỷ 21:


Âm Hán Việt:

Thu Đáo

Hàn sương thiết thụ chi,
Thu hựu đáo hà vi.
Điệp oán khai hoa thiểu,
Lâm sầu khiếu điểu hi.
Tán vân hoài cố thổ,
Viên nguyệt vọng cô trì.
Tạc dạ kim phong khởi,
Thùy tri lạc diệp bi.
(Trần Văn Lương)

Nghĩa:

Mùa Thu Đến

Sương lạnh như cắt xé cành cây,
Mùa thu đến nữa làm gì.
Bướm oán trách chuyện hoa nở ít,
Rừng buồn chuyện chim hót hiếm hoi.
Mây vụn nhớ quê cũ,
Trăng tròn ngóng trông cái ao cô độc.
Đêm qua gió vàng (gió thu) nổi lên,
Có ai biết nỗi buồn của chiếc lá rơi.

Phỏng Dịch Thơ 
(giữ nguyên thể):

Mùa Thu Đến

Sương rơi buốt cỏ cây,
Thu lại đến rồi đây.
Bướm trách hoa lười nở,
Rừng buồn nhạn ngại bay.
Mây tàn thương xóm cũ,
Trăng sáng nhớ ao gầy.
Đêm lá rơi theo gió,
Nỗi sầu ai có hay.

Trần Văn Lương

Ghi chú: Phần chữ Hán được bổ túc bởi BBT - Thạch Lai Kim.

Sách tham khảo:
Đường Thi Tam Bách Thủ, Trí Dương Xuất bản xã, 1999
Cổ Thi Quan Chỉ, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã, 1996
Cổ Văn Quan Chỉ (hợp đính bản) , Chính Triển Xuất bản Công ty, Đài Bắc, 2000
Đường Tống Thi Thưởng Tích, Văn Quốc Thư cục Xuất bản xã, Đài Nam, 1998
La Quán Trung, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Phong Hoa Xuất bản Sự nghiệp Công ty, 1991
Chi Điền Hoàng Duy Từ, Đường Thi tuyển dịch I,II,IV, California, 1984,1986,1989
Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Xuân Thu xuất bản, 1965
Lê Nguyễn Lưu, Đường Thi Tuyển Dịch, Thuận Hóa, VN, 1997