Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

Noel Đã Về - Sáng Tác: Liên Bình Định - Ca Sĩ: LM Quang Lâm


Sáng Tác: Liên Bình Định
Ca Sĩ: LM Quang Lâm

Noel Hoài Cảm

 

Noel này
Em ở đâu?
Lòng ta luôn nặng vết thương sầu!
Nhớ khí đất mẹ rền bôm đạn
Tưởng lúc đời dân cháy bỏng đầu
Xao xác lá
Võ vàng cuộc sống
Lạnh lùng sương
Tê tái niềm đau!
Đêm nay quạnh quẽ bên thềm vắng
Nhịp gõ thời gian loạn dáng màu.

Saigon 1972.
Mặc Phương Tử

Một Mùa Đông Nữa

 

Hoa cúc đã tàn thu đã chết
Đông về thay áo trắng mù sương
Gió đông lất phất run cành liễu
Xõa xuống mặt hồ tình vấn vương

Đông về thiếu vắng vòng tay ấm
Chỉ thấy sương mù giăng lối đi
Với thoáng niềm riêng về lặng lẽ
Thổi buồn qua mắt thoáng phân ly

Một mùa đông nữa về em ạ
Nhỏ lệ rêu phong xuống cuộc tình
Ta vẫn chờ em dù tuổi muộn
Như rừng thông nọ đón bình minh

Bằng Bùi Nguyên

Khi Mùa Đông Đến

 

Thế là trời đã vào Đông
Ngoài kia tuyết trắng rơi bông đầu mùa
Đã về đâu đó vàng Thu ?
Cây khô nằm ngủ, mây mù trên cao
Phố mùa Đông gió lao xao
Đêm nay trăng cũng lạc vào trong mây
Mùa Đông làm lạnh trăng gầy
Tuyết rơi làm lạnh bàn tay tôi rồi
Nhìn màu tuyết trắng chơi vơi
Tưởng như giá rét trong tôi lần đầu
Người ơi, dù cách xa nhau
Đông về, xin hãy nguyện cầu cùng tôi
Trao nhau quà tặng: nụ cười
Nỗi buồn vơi bớt, niềm vui đẹp vời
Mùa Đông ơi, người thương ơi
Tôi xin ấm cả lòng người thế gian

Kim Loan

400 Năm Quốc Ngữ

Hôm nay là đúng 400 năm ngày giỗ ông tổ của chữ Quốc ngữ, Cha Francisco de Pina. Ngài là một tu sỹ dòng Tên sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha và đã dành 8 năm quan trọng nhất của cuộc đời mình ở Việt Nam (1617-1625)
Ngài qua đời vào ngày 15-12-1625 khi vừa tròn 40 tuổi trong một hoàn cảnh vô cùng xúc động. Ngài chết đuối khi đang cứu người. Chiếc Áo dòng của Ngài bị bị vướng vào chiếc thuyền thúng và bị đắm tại biển Cửa Đại, Quảng Nam.
Cha Francisco de Pina là nhà truyền giáo phương Tây đầu tiên có thể nói tiếng Việt một cách lưu loát và truyền giáo mà không cần thông dịch.
Đây là điều chưa từng có trước đó.

NGƯỜI LA TINH HÓA TIẾNG VIỆT

Cha Pina đã đặt nền móng cho việc Latinh hóa tiếng Việt. Cha nghiên cứu cấu trúc âm vị và thanh điệu của tiếng Việt sau đó ghi chép chúng bằng chữ Latinh. Những nỗ lực ấy trở thành cơ sở khoa học ban đầu cho hệ thống chữ Quốc Ngữ ngày nay.
Cha cũng đã mở trường dạy tiếng Việt tại Thanh Chiêm (Quảng Nam) để truyền đạt ngôn ngữ, dạy kỹ năng ghi chép tiếng Việt cho những tu sĩ khác, trong đó có Cha Alexandre de Rhodes, người sau này tiếp tục phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ rộng rãi hơn.
Năm 1651 Cha Alexandre de Rhodes đã tập hợp các ghi chép, biên soạn và làm bản thảo đưa sang Roma in 2 cuốn sách bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là: Phép giảng 8 Ngày và Từ điển Việt-Bồ-La và những ký tự đầu tiên là nhờ người thầy của mình là Cha Francisco de Pina.

HỘI NHẬP VÀ THỜ CÚNG ÔNG BÀ?

Những năm làm việc của Cha Franciso de Pina ở Việt Nam là sự hòa nhập sâu sắc vào đời sống người Việt. Ngài thực sự học hỏi và tôn trọng văn hóa địa phương, bền bỉ hòa giải giữa truyền giáo, văn hóa và ngôn ngữ.
Mặc dù không có tài liệu ghi lại chi tiết quan điểm của Cha đối với việc thờ cúng ông bà tổ tiên, nhưng tư tưởng truyền giáo của Dòng Tên ở thời đó đi theo hướng: Thay vì loại trừ những nét văn hóa địa phương như việc tôn kính tổ tiên, thì tôn trọng và chấp nhận nó.
Trong bối cảnh lịch sử tôn giáo thế kỷ XVII, nhiều dòng tu Công giáo châu Âu đã có những tranh luận nội bộ về cách đối xử với các nghi lễ tập quán như thờ cúng tổ tiên và lễ tục truyền thống, nổi bật nhất là Chinese Rites controversy (Tranh luận về Nghi lễ Trung Hoa) và Tòa Thánh phải can thiệp rất nhiều lần ở nhiều nơi.
Khi ấy những tu sĩ dòng Tên thường chủ trương cho rằng các lễ tục tổ tiên có thể được nhìn nhận như những nét văn hóa, không mâu thuẫn về bản chất với đức tin Kitô nếu được diễn dịch đúng cách.

MỘT NGÀY QUỐC NGỮ.

Tôi đang viết những dòng này, nhà báo đang gõ bản tin, luật sư viết bài bào chữa, thầy cô đang giảng bài, chính phủ đang truyền công văn, và em bé đang tập đánh vần chữ đầu tiên trong đời…..đều đang diễn ra trên một nền tảng là Chữ Quốc Ngữ.
Chúng ta đang sống, đang yêu, đang tranh luận bằng chính hệ chữ viết mà hơn 400 năm trước một người ngoại quốc đã kiên nhẫn lắng nghe và đặt nên cấu trúc.
Tên tuổi của Cha được tri ân cả ở Việt Nam và quê hương Bồ Đào Nha và việc tri ân Ngài không phải là một nghi thức của quá khứ mà là một hành động của hiện tại.
Cuối tuần vừa qua nhiều nhóm sinh viên và các Linh mục Công giáo tại Việt Nam đã tổ chức lễ giỗ và cầu nguyện cho Cha Francisco de Pina, đồng thời nhờ Ngài cầu bầu cho chữ Quốc Ngữ tiếp tục là sinh ngữ, sống, hiện diện và phát triển cùng dân tộc.
Tôi hy vọng rồi sẽ đến một ngày Việt Nam sẽ có "NGÀY QUỐC NGỮ" để vinh danh tiền nhân và nhắc nhở cho thế hệ mai sau cần phải giữ gìn và phát triển.
Nếu vậy, ngày 15/12 xứng đáng được chọn làm ngày đó để vinh danh một người đã có công tối quan trọng.

Ls. Lê Quốc Quân

Chuyến Xe Thời Gian

(Photo sưu tầm)

Thêm một mùa Đông đến là thêm một năm tôi được nhìn cảnh tuyết rơi, cảm giác vui, buồn, ấm áp kỷ niệm tràn ngập tim lòng tuy ngoài trời rất lạnh.

Nhớ lại mùa Đông đầu tiên tại một thị trấn nhỏ Midland, hai chị em tôi thật vui mừng khi nhìn cảnh tuyết rơi trên phố chiều, rồi cơn bão tuyết kéo đến từ hoàng hôn cho đến ngày hôm sau. Bên trong cửa sổ nhìn cảnh hoa tuyết rơi đầy trên màn không, tuyết trải đường phố thật đẹp, đẹp như những hình ảnh trong Postcards mùa Giáng Sinh.

Ðời sống nơi thị trấn nhỏ thật êm đềm từ Xuân Hạ đến Thu Đông, nhưng vì không nhiều hãng xưởng và cơ sở thương mại như nhiều tỉnh bang và thành phố lớn nên rất khó tìm được việc làm. Sau khi xong khóa English, tôi dời về Toronto vào mùa Xuân năm sau. Đời sống nơi phố thị dường như ai cũng “chạy” theo nhịp thời gian, tôi cũng không ngoại lệ
.
Suốt một quãng đường dài tất bật với cơm áo gạo tiền… nghĩ lại tôi thật mệt mỏi! Nhất là khi nhớ đến những ngày tuyết lạnh, những ngày trong bão tuyết, tôi và nhiều người trong xóm và xóm bên cạnh (có quen và có lạ) cùng đứng đợi những chuyến xe buýt để đến sở làm, tuy trên mình khoác áo mùa đông, khăn quàng, nón và găng tay nhưng ai cũng “co rúm” vì gió rét.

Thời gian đứng đợi xe trong những ngày tuyết đã qua sau khi tôi lấy được bằng lái xe, nhưng lòng nhiều xót xa mỗi lần lái xe đến sở làm khi ngang qua những trạm xe buýt, vẫn còn những người đồng cảnh ngộ như mình của bốn mươi năm trước trong ngày tuyết lạnh.
Mong sao những hoa tuyết êm ả rơi nhưng những cơn bão tuyết sẽ không kéo đến cho mùa đông năm nay.

Như Mai
22.11.2025

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

Rồi Cũng Già - Sáng Tác: Vũ Thành An -Trình Bày: Mã Thị Lợi


Sáng Tác: Vũ Thành An
Trình Bày: Mã Thị Lợi

Hoang Sơ Chiều

 

Em về với chút hoang sơ
Thả vào tôi chút ngẩn ngơ cuối chiều.
Tôi cười giỡn gió lêu bêu
Quờ tay nhẹ nhẹ khẽ khều nắng non
Em cười, nhí nhảnh gót son
Thẹn thùng tôi, rõ mắt tròn ngác ngơ...
Từ chiều đấy cứ vẩn vơ
Hoang sơ thả chút ngẩn ngơ với chiều.

Hà Nội, chiều 08 tháng 12-2022
Đặng Xuân Xuyến


Tan Dòng Sáng Thủy Tinh Mơ.

  

 

Chắc ngồi đây sẽ buồn lắm
Sầu về thấm cả mưa rơi
Hạt nào vừa vương khóe mắt
Cho đầy nỗi nhớ khôn nguôi

Chắc ngồi đây nhìn đáy hồ
Sóng chìm sao sáng đêm xưa
Thuyền buông tay chèo lạc lối
Mắt em lóng lánh sao thưa


Chắc đá chẳng vơi chờ đợi
Bước chân em mới hôm nào
Đây nụ môi hồng muôn thuở
Chợt hồn đá mãi xanh xao

Chắc má em hồng lắm nhỉ
Trưa nay nắng ngẩn ngơ hồn
Trời như đang im lặng gió
Sao trong ta những dập dồn

Chắc em hồn nhiên như biển
Miên man triền sóng xôn xao
Hương chiều biển xanh bát ngát
Mây còn phiêu bạt phương nao

Chắc đêm còn như chưa ngủ
Chập chờn tinh tú lắng nghe
Sóng sông hồn đang rạn vỡ
Tan dòng sáng thủy tinh mơ.

Lê Mỹ Hoàn
12/15/2021

Vĩnh Long Quê Hương Mến Yêu - Bác sĩ Phan Giang Sang

(Vĩnh Long 1966)

Về Miền Tây tất phải đi ngang vùng đất phì nhiêu, nổi tiếng là một trong những vựa lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long: đó là tỉnh Vĩnh Long.

Nó cũng là cái nôi đã dung dưỡng, un đúc tôi từ lúc mới sanh cho tới khi khôn lớn. Nó tồn trữ biết bao kỷ niệm thuở ấu thời của tôi. Nó ăn sâu cội rễ vào tâm khảm tôi, làm tôi không sao quên được mái nhà ấm cúng, mái trường thân yêu, khóm cây, ngọn cỏ, con sông nhỏ, cây cầu tre, vân vân … Nó luôn luôn sống lại trong lòng tôi.

Nó buộc tôi, với bất cứ giá nào, cũng phải cảm tử đeo xe đò, để về thăm nhà và sống với nó trong ba ngày Tết, vì nơi đó có mẹ già, cha yếu cùng những người thân thương đang nóng lòng chờ đợi. Thế mà gần 30 năm qua, tôi đành xa vắng, chưa có duyên trở về dù chỉ để ngắm nhìn lại quê hương mến yêu, có chăng chỉ còn trong tâm tưởng mà thôi!

Ðối với tôi, Vĩnh Long rất quyến rũ và xinh đẹp hơn bất cứ nơi nào, mặc dầu nó không phải là thành phố đẹp như An-Giang có Thất Sơn huyền bí, kho tàng Óc eo, hay hoa lệ như hòn ngọc Viễn Ðông: Saigon, hoặc thanh lịch như thành phố hoa lan Ðà lạt và dẫy đầy di tích lịch sử vua chúa như cố đô Huế. Thế nhưng tôi luôn luôn thương nhớ vì nó có cô gái quê hiền hòa, trong trắng, mỹ miều của đồng nội bao la xanh tươi, đội nón lá, chèo xuồng ba lá trên sông Cổ Chiên êm đềm, không cuồng loạn, gây tang thương lụt lội.

‘Tuy không đồi núi nhấp nhô,
Không làn suối bạc, chẳng hồ nước xanh.
Mông lung vài nét đan thanh
Vĩnh Long trông vẫn hữu tình đáng yêu…
(không rõ ai đã viết mấy câu nầy)
Thượng Tọa Giác Huệ đã tả:
‘Vĩnh long cảnh đẹp người xinh,
Quyện lòng du khách gợi tình nước non!

Từ bắc Mỹ Thuận vào tỉnh lỵ, đã cho tôi một không khí khả ái, êm ấm và trong lành. Bên vệ đường, gần mỗi cây cầu đều có một mái trường bằng lá xinh xắn, khang trang, trật tự với giàn hoa giấy rực rỡ làm cổng, còn vườn hoa nhỏ thì bao bọc xung quanh một cột cờ có lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay theo gió. Ôi nó đẹp đẽ, nó thơ mộng làm sao!

* Thành phố

(Sông Long Hồ)

Thành phố Vĩnh Long tuy nhỏ hơn Cần Thơ, nhưng nó lại xinh xinh, rất dễ thương. Nó không được chia ra rõ rệt làm hai khu: hành chánh và thương mại như Long Xuyên. Nhà phố khang trang, đường sá rợp bóng mát, tàng cây me rậm bóng giống y như đường Testard Trần Quý Cáp ở Sài gòn, có Trường Ðại Học Nha Y Dược năm nào.

Chúng tôi thích hái, chọi hay lượm me chua ăn. Chợ búa sầm uất chen lẫn với khu hành chánh, gom lại thành một khu phố lớn, bao quanh bởi sông ngòi, như một chiến lũy.

Nghe kể lại xưa kia nó được xây đắp bởi ông Thoại Ngọc Hầu, rồi sau đó ông Trương Văn Uyển tu bổ thêm. Các sông đó là: Cổ Chiên, Long Hồ, Cái Cá và kinh Công Xi.

Nó nối liền với khu dân chúng sinh sống bằng những cây cầu ván. Bây giờ, cầu xây bằng xi măng cốt sắt. Riêng cầu Thiềng Ðức người Pháp xây dựng trước đây, tuy bằng sắt nhưng lại lắc lư như răng bà già. Nó rung rinh, lắc lẽo như cầu tre kẽo kẹt. Âm vang chát chúa rền rĩ dưới bánh xe ngày nay khác nào tiếng gào thét, rên rỉ của người dân dưới chế độ…

Người dân không kêu chợ Vĩnh Long mà kêu chợ Vãng Long hay chợ Vãng, vì người ta húy kỵ chữ Vĩnh, trùng vào dòng vua như Vĩnh Thụy, Bảo Ðại, vân vân… Chữ Long là rồng hay vua vì xưa kia chúa Nguyễn Phúc Ánh bôn đào đây đó khắp miền Nam lại thường lui tới Vĩnh Long và Sa Ðéc. Hễ chỗ nào có vua đi qua, là người ta đặt tên có chữ long như: Vĩnh Long, Long Hồ, Long Châu, Càng Long vân vân…

Chợ được chia ra: khu trên bày bán hàng vải, thức ăn hoa mầu đầy thổ sản xanh tươi bổ dưỡng, ghe đò tấp nập, rộn rịp suốt ngày.
Nhà, villa, đẹp nhứt là dinh tỉnh trưởng, to lớn nguy nga, nhìn ra sông Cổ Chiên, trước có nhà thủy tạ để thủy phi thoàn ghé. Bên kia sông là cù lao An Thành tĩnh mịch, cũng là vườn cây trái tươi tốt nổi tiếng.
Bungalow, khách sạn sang trọng, nằm ngay ngã ba sông Cổ Chiên và Long Hồ. Kế bên là bến xe đò được dời về khu mới, có nhiều kiosques (kiosks) ngang tòa án, rồi về ngã ba Cần Thơ, nhường chỗ cho phòng thông tin. Tôi thường lai vãng xem và mua sách tại nhà sách Nam Cường, chủ tiệm gốc Chợ Lách có nhà xuất bản và tổng phát hành ở đường Kitchener Saigon.
Từ mé sông nhìn vô thành phố mới thấy cảnh đẹp nhờ có nhà thờ với mái ngói đỏ nhọn cùng thánh giá cao vút như ẩn như hiện, vượt lên sau hàng me, mông lung như Ðức Mẹ thánh thiện hiện về ban phép mầu!

Nhà lầu như: Hội đồng Bảo, Tòa Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục, bác sĩ Cổ Q. Gia, Quang, ông phủ Thành và nhiều nhà khác. Chỉ nhà ông phán Nuôi ở cầu Cái Cá là đồ sộ, có hàng rào sắt, bờ sông được đóng cừ bảo vệ chống đất lở. Sau năm 1945, Tây lấy cho lính Lê dương đóng quân. Ðức Cha Ngô Ðình Thục xây lại và lập trường Nguyễn Trường Tộ tại lẫm lúa.
Có cái villa xinh xắn tại cầu Bà Ðiều có rất nhiều chậu, bình bông bóng láng tuyệt mỹ mà tôi được ngắm lúc nhỏ, sau nầy đọc sách Vương Hồng Sển mới biết đó là đồ cổ rất quí.
Còn nhiều nhà rất kiên cố và rộng lớn ở ngoại thành bị Tây lấy làm đồn lính như bót thầy Thặng (phải chăng đây là Nguyễn Viết Thặng?), bót hội đồng Thông mà lẫm lúa bị hôi ba ngày chưa hết, hồi năm 1945 khi Việt Minh về. Việt Minh là chữ tắt của Việt Nam Ðông dương Ðồng Minh Hội. V C là chữ tắt của Việt Cộng, bắt đầu có tên vào khoảng thập niên 1960.

Cầu Lộ có nhà Ba Vinh với nhiều cây kiểng bonsai, với mả đá và bốn cây vú sữa trước nhà. Trước 45 nhà tôi ở giữa biệt thự: Ba Vinh và bà Thông Tiên. Nhà ông giáo Mười Hai, có người con là thầy Mai. Tôi thường chạy theo coi biệt tài bắn chim của thầy: Thầy bắn chim, chim rơi, bắn xoài, xoài rụng, vì thầy nhắm cuống mà bắn. Việt Minh tuyển thầy làm huấn luyện viên xạ thủ. Phía bên phải nhà Hội Long Châu có hòn non bộ rất lớn chiếm cả vách phố, trình bày cảnh trí khéo léo, thật dễ thương. Nhà Dược sĩ Nguyễn Viết Cảnh có sân quần vợt, để bà vợ đầm đánh banh. Ông rất hào hoa phong nhã và là mạnh thường quân của đội cầu Vĩnh Long. Nhờ đó mà đội nhà chiếm được giải Miền Nam và cung cấp rất nhiều cầu thủ cho đội Saigon, Gia Ðịnh. Mả ông phán Nuôi nổi tiếng to lớn, có đồng ruộng bao bọc xung quanh.

Học Ðường

Vĩnh Long thường làm sống lại trong tôi, tuổi thơ ấu còn cắp sách đến trường. Ðương ở trường lớn có sân quần vợt và hồ bơi, chúng tôi phải sơ tán: lúc ở chùa Ông bên Thiềng Ðức, lúc ở miếu Quốc Công ngang nhà Hội Long Châu, sau chuyển về dãy nhà lá phía sau Tiểu Chủng Viện tức Dưỡng đường Thánh Minh, cạnh bãi tha ma vì hết quân Nhựt chiếm năm 1945, đến Tây chiếm sau 1945.

Dưỡng đường được thành lập bởi y sĩ Thiếu tá quân y Pháp. Ông có rất nhiều thiện chí và muốn giúp đỡ kẻ nghèo khổ. Tên ông là Guy Lesage, ông có nhờ tôi tìm tên Việt Nam và đổi lại là Lê Sanh vì Lê Khôn có vẻ hách quá. Ông có viết cuốn sách nhỏ tựa là: ‘Le Việt Nam’. Tôi có gặp ông mấy lần ở Saigon sau 1975, rồi ông xin ở lại, nguyện sống chết với đất nước Việt Nam, với người dân cơ hàn. Nghĩ ra mình còn thua tinh thần hy sinh của ông ta.

 
(Ðây là ban giám học khóa I năm 1949, ngồi nghế từ trái sang phải: Các Ông: GT. Mẫn, GT…, GS Thoàn, TGT Nguyễn Văn Kỹ Cương, Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Kính, GS Nguyễn Ngọc Sương, GS Khiêm và GS Phạm Văn Tệt - Ảnh: Huỳnh Hữu Phước)

Thi xong bằng Tiểu học, tôi lại phải thi vô Trung học Cao Tiểu Collège de Vĩnh Long (1950), cách đó 50m và kế bên cây da Cửu Hữu. Trường được khai giảng năm 1949, do Ông Nguyễn Văn Kỉnh làm Hiệu Trưởng, dưới thời Thủ Hiến Trần Văn Hữu cũng là người Vĩnh Long. Trường đổi tên là Tống Phước Hiệp và dời về trường lớn.

Trường ốc là căn nhà gạch của sở trồng trọt trước kia. Mỗi năm nó được nới rộng thêm, bằng những gian nhà lá đơn sơ lót gạch Tàu, vách ván, sạch sẽ và mát mẻ. Những tia nắng ban mai rọi vào như khai hóa tâm trí cho những mái đầu non nớt của các thiếu niên ưu tú ba tỉnh Trà Vinh, Sa Ðéc và Vĩnh Long. Nữ sinh gói ghém trong chiếc quần dài đen, áo bà ba trắng rất thanh lịch, xinh xắn, hồn nhiên, trong sáng, đầu đội chiếc nón lá… chao ơi, nó mới dễ thương làm sao! Nam sinh thì gọn gàng trong chiếc quần ‘tà lỏn’ (culotte) đen hay quần tây cụt (short), chật vật trong chiếc áo sơ-mi (chemise) trắng cụt tay nhưng đơn sơ, tao nhã, chân đi guốc vông nện xuống đường lốp cốp như tiếng gõ mõ nhật tụng, nhắc nhở phải cố gắng học hành cho thành tài, hầu đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục, chín chữ cù lao.

Trò Chơi

Ðá dế


Không có đồ chơi thì ra đồng bắt dế: cứ dở rơm lên là dế nhảy lung tung, chỉ có chụp lấy một con đầy oai hùng, bỏ vào hộp quẹt có cọng giá hay miếng dưa leo cho nó ăn, rồi đem về cho nó đá nhau:
– Ðá đi con.
– Ê dế tao hả càng, xáp trận.
– Cắn! cắn đi con!

Thằng Năm coi mòi dế nó chịu không nổi. Không chịu thua nó nhổ sợi tóc, bắt dế ra quay cho nó bay vòng vòng, rồi nhanh nhẹn thả vào cho nó điên loạn, hả càng thiệt lớn nhào tới cắn bừa, nhưng đẩy không lại, đành bỏ chạy.

Dế tôi đắc thắng ré lên re-re.
Vui mừng tôi cũng ré lên “thắng rồi, dế tao thắng!”

Ðá gà


Ðá gà tre còn vui và hồi hộp hơn. Thấy tôi ham thích đá gà, má tôi mua cho tôi con gà tre. Tôi ôm nó đi đá gà của mấy đứa bạn. Thấy gà khác là con gà của tôi vỗ cánh, rướn cổ lên gáy rất thanh, trông rất oai vệ. Gà kia cũng không vừa: đầu hướng về phía địch thủ rồi hạ xuống, lông cổ dựng đứng, chân hơi cong thủ thế. Gà tôi cũng thủ thế, đầu nó thụt vô thụt ra, đưa qua đưa lại tìm cách tấn công. Bọn trẻ hò hét: vô! vô! đá đi. Thình lình gà kia nhảy tới mổ vào đầu nó. Nó né, rồi mỗ lại trúng đầu con kia, liền nhảy lên nạp. Con kia thủ thế, tấn công lại, bay nhảy đá qua đá lại mệt nhừ, con gà tôi chui vào cánh con gà kia, nó vô dĩa làm gà kia không tấn công được. Thật sự không con nào còn đủ sức để chiến đấu cho ra hồn nữa, vì chúng đã thấm mệt rồi.

Tôi thấy tội nghiệp cho hai con gà, như hai anh em một nhà, không thù, không oán mà đá nhau chí tử, chỉ vì sự cổ võ của bọn trẻ. Tôi ôm gà mình về, mặc cho đứa bạn phản đối, vì gà nó sắp thắng … và cũng từ đó, tôi không đá gà nữa.

Các trò giải trí khác


Có khi móc đất sét nắn con trâu, con chim, con cò hoặc làm còi thổi inh ỏi hay vò thành đạn phơi khô để bắn chim, thích lắm. Bị rầy la gì cũng không bỏ tật.

Bắn cu li, thảy lỗ hay chọi đáo. Ðu tàu chuối làm Tarzan té cái ạch, đau đít thấy mồ, có lúc làm Zorro bịt mặt, bắn súng bằng cọng chuối hay lấy ống trúc bỏ trái bố vô thụt đối phương.
Thật ra vào thời đó, ở nhà quê đâu có gì mà chơi, so với trẻ em ngày nay ở đây, có đủ thứ máy điện tử computer hay café internet. Có lẽ nhờ vậy mà trẻ con ngày nay khôn ngoan hơn xưa. Theo cuộc nghiên cứu mới thì chỉ số khôn IQ (do Bs A. Binet, Pháp) tăng 15 cho mỗi thế hệ.

Ngay cả binh sĩ, trong khi chờ lên xe ra trận đánh nhau, cũng chỉ biết chọi đáo vui tươi hồn nhiên, mặc cho số kiếp vô thường cái chết trước mặt. Thật đáng thương. Thảo nào mấy anh lính Úc cũng chỉ biết chẵn lẻ, chơi hình hay chơi chữ mà thôi.


Mê đá banh muốn chết, nhưng cũng không dễ gì có trái banh ba da (tennis ball) mà đá. Chỉ lượm cùi mớp gọt tròn đá ngoài lộ dưới mưa. Vui đáo để quý vị ơi! Ðá xong nhảy xuống sông lội. Phá làng phá xóm, bị la, bị đuổi. Mát ơi là mát! Không còn gì sung sướng bằng!

Các trận đá banh, hát cải lương, hát bội, cúng đình chỗ nào chúng tôi cũng ráng tìm cách vào coi cọp cho bằng được, vì đâu có tiền mà mua vé. Nếu không được, thì đành đứng ngoài, chờ lúc gần hết tuồng, họ thả dàn cho vào xem vậy.

Trẻ con ngày nay đâu biết những niềm vui nỗi khổ nghèo nàn, những hạnh phúc nhỏ nhoi như chúng tôi trong lúc ấu thời.

Vĩnh Long phát triển ra sao?

(Sân vận động)


Tỉnh Vĩnh Long thu mình trong một pháo đài chật hẹp, dễ phòng thủ nhưng không phát triển được. Chính vì vậy mà cả vùng ngã ba Cần Thơ cho tới qua cầu Tân Hữu tận Phước Hậu, Cầu Vòng được chỉnh trang thành:Phố xá, bến xe đò, trường Sư Phạm.
Nhà Thờ do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ, tọa lạc tại villa có sân quần vợt của Dược sĩ Nguyễn Viết Cảnh.
Trung Tâm Cần Lao Nhân Vị, một học thuyết chống lại Cộng Sản chủ nghĩa.
Sân vận động mới, quận Châu Thành mới dưới thời Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục và Tổng thống Ngô Ðình Diệm.

Xe đi Vĩnh Bình không chạy ngang chợ, bằng ngả Cầu Lầu (xưa) hay cầu Khưu Văn Ba mà chạy theo cầu Vòng, tới ngã ba hay cua (courbe) Long Hồ hay bót thầy Thặng.

Phải chăng cầu Vòng là do xưa kia lúc còn nhỏ chúng tôi gọi vòng nhỏ, đi từ chợ ngang dinh tỉnh trưởng, qua nhà thờ bị đất lở mất, rồi đi tới ngã ba ông Cảnh, xuống cầu Lộ. Cây cầu béton cốt sắt kiên cố và xinh đẹp mà Tây hãnh diện xây xong 1935-37, lại bị ông Kỹ sư có biệt danh Bác vật Lang gõ bâton thử xong, chê yếu sẽ sập, làm Tây phải sửa lại. Vậy mà đến thập niên 1960 nó sập thiệt.

(Cầu Lộ)

Xuống cầu quẹo tay phải, đi vòng cua tới ngã ba Công Xi quẹo tay trái, thẳng cầu Lầu trở về chợ. Vòng lớn là đi ngã ba Cần Thơ, theo cầu Vòng tới ngã ba thầyThặng rồi trở về chợ. Hồi tí teo tôi thấy ông Hương, mã phu chiều chiều thường đánh xe song mã đưa khách đi vòng nhỏ, vòng lớn.

Ðối diện ngã ba Cần Thơ, phía lăng Ông, thờ cá Ông của dân chài, nơi có Tịnh Ðộ Ngọc Xá đầu tiên của Tổ Sư Minh Ðăng Quang mà tôi mê thích, kính nể lối tu khổ hạnh khất thực:

‘Phật giáo hoằng khai kha khá mạnh
Nhất là Khất sĩ Minh Ðăng Quang
Ðầu tiên khai mở, sau lan rộng
Bến Hải Cà Mau rộn tiếng vang.
(T.T. Giác Huệ)


Từ Phú Quới trở đi tới Bình Minh, phía bên trái vệ đường có con kinh với cây cầu tre bắc ngang, thật nên thơ:

‘Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi.
Khó đi mượn chén ăn cơm,
Mượn ly uống rượu, mượn đờn khảy chơi…’

Bên kia kinh lưa thưa những mái nhà lá lụp xụp dưới gốc cây, bụi chuối, cạnh đó có vài con trâu thảnh thơi, nhai rơm. Phía sau nhà là đồng ruộng xanh um, lúa non mênh mông phất phơ gợn sóng theo chiều gió. Nó đơn sơ nghèo nàn, thiếu thốn trăm bề, nhưng nó nên thơ, nó mộc mạc và đẹp đẽ làm sao. Bức tranh đồng quê nghèo nàn nhưng tuyệt mỹ đó, đã ăn sâu vào tâm trí tôi mãi hoài không sao quên được.

* Phà

(Bắc Mỹ Thuận)


Vĩnh Long chi phối bởi sông Cửu Long với hai nhánh: Tiền giang và Hậu giang. Ngoài ra còn vô số sông ngòi, rạch và kinh chằng chịt như mạch máu trong cơ thể của chúng ta. Nó là huyết mạch miền Nam nằm về hướng Tây, nên mọi sự lưu thông đều nhờ vào nó. Hàng hóa vận chuyển từ đây hay từ Miên sang rồi lên Saigon hay ngược lại, mà không cần phải ra cửa biển.

Về Miền Tây bằng đường bộ phải theo quốc lộ 4 và qua hai phà: Bắc Mỹ Thuận và Bắc Cần Thơ, xưa kia gọi Bắc Bassac. Tôi đã ngắm nó, nhìn sự phát triển từ đò chèo tới đò máy nhỏ, rồi đò lớn chở cả chục chiếc xe hàng hoặc xe nhà binh GMC, với hai tầng mà tầng trên dành làm chỗ ngồi. Mấy chục năm qua, tôi đã đi qua những chiếc phà đó. Tôi chứng kiến sự biến đổi của nó cùng sự phồn vinh của bến đò.
Ðứng ở mũi phà hứng gió mát, lắng nghe tiếng sóng lô nhô vỗ vào mạn phà lách tách dễ thương, ngắm nhìn bông lục bình tím nhấp nhô nhảy sóng, trôi dạt xa xa tầm mắt, lung linh khi mờ khi tỏ xinh đẹp làm sao.
(Bắc Cần Thơ)

Tiếng ồn ào náo nhiệt, tiếng máy xe lấn áp tiếng đàn Mandoline và giọng ca bi ai của người thương phế binh, chiến đấu, gìn giữ đất đai cho ai đây, để rồi tàn phế, sống những chuỗi ngày lầm than với cây đàn. Người ta mãi chạy đuổi theo xe, theo danh lợi gì đó mà không hề để ý, nghe thấy người thương phế binh khốn khổ!
Tất cả cây trái Miền Tây đều tụ tập về đây. Còn nữa: nào gà, nào ếch, nào chuột đồng, nào chim sống xỏ xâu bán lềnh khênh. Ngon nhứt có lẽ là bánh mì cặp võ vẽ rô ti. Nhắc tới mà phát thèm.

Trước năm 1975, Nhựt đã tìm cách xây cầu Mỹ Thuận nhưng không thành công. Nay Úc đã xây chiếc cầu nầy y như cầuPyrmont Sydney, hay cầu ANZAC và được khánh thành ngày 21/05/2000, chắc nó đẹp và là thắng cảnh của miền Tây Việt Nam như cầu Golden Bridge của thành phố Cựu Kim Sơn?

(Cầu Mỹ Thuận)

Có chiếc phà lạ chưa từng thấy: bến phà là cái bãi, xe cứ chạy lên xuống phà luôn; phà qua sông không mái chèo, mà cũng không máy chân vịt. Nó qua sông bằng sức kéo dây cáp của phu phà. Ðó là chiếc phà cổ lỗ sĩ nhứt. Nó ở quê của nghệ sĩ cải lương mùi nhứt Miền Nam: Út Trà Ôn.

* Ruộng Vườn Cây Trái

(Dưa Gan)
Ðịa thế thiên nhiên ưu đãi làm cho Vĩnh Long phì nhiêu, bởi chất phù sa mang đến do hai nhánh sông Tiền giang và Hậu giang tiếp nối từ Châu Ðốc và Long Xuyên mỗi năm đổ xuống. Cũng nhờ nằm cận bờ biển Nam Hải mà nó thoát cảnh lụt lội tàn phá như An-Giang. Nó không bị nước mặn ngấm, như vài vùng ở Bến Tre. Cũng nhờ đó mà nó trù phú với các đồng ruộng mênh mông, cò bay thẳng cánh, lúa chín đòng đòng nặng trĩu, sản xuất ra những hạt gạo thơm ngon như nàng hương, nanh chồn. Còn gạo ngang hay tấm lẻ dùng nuôi gia súc.

Từ ngã ba đi Cần Thơ phải qua bắc Cần Thơ, cạnh theo quốc lộ số 4 là đồng ruộng bao la. Dưa gan, dưa hấu, dưa leo bà Cai (loại dưa lớn trái) trồng dọc theo vệ đường. Chiều chiều nam thanh nữ tú đạp xe tới đây, xuống ruộng mua dưa gan ăn với đường thốt lốt, ngọt ngào, đượm mùi đồng quê. Cái hương vị quê hương chan hòa trong gió chiều, trong lòng người dân hiền lành mộc mạc. Hình ảnh vui tươi hồn nhiên đó không sao tả được và nó luôn luôn sống lại trong tâm tưởng tôi suốt mấy chục năm qua.


Lúc lúa vừa ngậm sữa, bông lúa căng phồng nặng hạt ngả cong, nếu hái hột lúa gậm mấp, nó thơm và ngon ngọt đáo để. Cái hương vị của ‘hạt ngọc’ vô giá, là thành quả của bao công lao mồ hôi nước mắt của nhà nông chân lấm, tay bùn. Họ phải khó nhọc: cày bừa, gieo mạ, cấy trồng, bón phân, tát nước, gặt, vác, đập, xay, vân vân… để chúng ta có gạo ăn.

Thưởng thức chén cơm hàng ngày, mới biết công lao nhà nông, mới biết là gạo quí và bổ dưỡng, nuôi sống dân ta từ ngàn xưa nhờ Vua Thần Nông đã dạy cách cấy cày, trồng trọt mưu sinh.
Thỉnh thoảng có vài ruộng ấu lóng lánh dưới ánh ban mai, ấu non ăn rất ngon ngọt dòn. Ấu già luộc chín, bán ở các bến phà, ăn không ngon bằng.

(Ruộng u)

Năm 1945, gia đình tôi chạy giặc về quê bên kia bắc Cổ Chiên, sau nầy tôi mới biết đó bến Ðình Khao, nơi mà xưa kia có hai tu sĩ tử đạo: Thánh Minh và Thánh Lựu.
Tôi lấy làm lạ là sao chú Sáu lâu lâu mới đốn nứa (giống như trúc) đan rổ, nia, vân vân… còn kỳ thực là đi chơi la cà cả ngày. Không đất, không ruộng, ấy vậy mà nhà có bồ lúa mới lạ. Thì ra tới mùa gặt lúa, chú cứ đi lượm lúa gọi là mót lúa, cũng có cả bồ lúa dư dả ăn quanh năm. Chính nơi nầy, chiều nào tôi cũng ngồi mơ màng nhìn về thành phố. 

(Phà Đình Khao)

Tháng Ba 1978, tôi trở lại đây không còn thấy dãy nhà ở bến phà hay nhà cửa, vườn cây, vườn nứa xung quanh chi cả. Hỏi anh lái đò, anh cũng chả biết mô tê. Ngay ngã ba, phía bên chợ có gò mả cao, vì hoàn cảnh thời cuộc nên Bà Huyện Xây, nhũ danh Trần Thị Thọ được tạm chôn nơi đây, về sau được cải táng đưa về Tây Ninh, vì bà rất có công với Tòa Thánh và nổi tiếng mạnh thường quân giúp đỡ người nghèo khắp nước.

Triều đình Huế từng tặng cho bà:
‘Háo nghĩa khả gia’

Vườn cây trái ngon ngọt nhứt của Miền Nam như: vùng An Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Cái mơn, Mang Thít và vân vân… Nói tới măng cụt, chôm chôm người ta chỉ biết có Lái Thiêu, còn sầu riêng thì Bình Dương, Long Thành. Không ai ngờ rằng, chính tại Vĩnh Long lại qui tụ tất cả trái ngon của lạ, từ tứ xứ mang về.


Nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, không những uyên thâm nhiều ngoại ngữ mà còn là nhà thực vật, biết đem những cây trái ngon lạ xứ người về làm giàu cho đất nước như nhà bác học Alexandre Yersin. Chính ông đã mang chôm chôm Java, bòn bon, măng cụt từ Pénang về Cái Mơn khi ông du học ở Mã Lai (Theo Hứa Hoành: Vĩnh Long quê hương trong trí nhớ).

Thi sĩ Trần Hoan Trinh trong bài ‘Cửu Long Giang’ có đoạn nói về Vĩnh Long như sau:

‘Ðứng giữa cù lao nhìn về Vĩnh Long
Những vườn cây sai quả chĩu cành
Măng cụt, chôm chôm, thanh long, xoài tượng
Những trái sầu riêng múi ngọt thơm lừng…’

 

Chôm chôm tróc ngon ngọt hơn chôm chôm xưa, vừa chua lại vừa dính hột và rất chát, đã vậy vỏ dầy mà hột lại to. Sau người ta trồng giống mới, vỏ mỏng nhưng hột nhỏ gọi là chôm chôm nhãn. Bòn bon trái nhỏ, vỏ trăng trắng không như trái dâu, vừa lớn vừa chua. Nếu lột vỏ ăn liền sẽ bị chát chua vì còn mủ. Muốn ăn ngon phải xoa, mân mê trong tay… một hồi cho nó mềm mềm mới lột ra ăn. Bạn sẽ thích thú với trái cây nầy vì chỉ ngậm trong miệng sẽ có cảm giác thanh thao, thơm tho lạ kỳ. Không có trái cây nào như vậy cả.

Măng cụt chín màu rượu bordeaux bẻ hay cắt ra ăn mềm ngon ngọt, nhưng chưa có sành điệu. Ngon nhứt là lựa trái chưa chín, nhỏ, vỏ còn màu nâu. Ðể nó vô thau nước rồi mới cắt, cho mủ vàng vàng trôi đi mới ăn. Chu choa nó dòn ơi là dòn! Ngon đáo để!

 
                                   Vú sữa                                                        Mận Da Người

Vú sữa đỏ bordeaux hay trắng vàng bóng láng, óng ánh căng đầy nhựa sống, tòn ten trên cây, trông rất quyến rũ, ngó phát thèm, không sao chịu nổi. Quí vị có biết, Bác Hồ còn mê thích mà lị! Mê đến đỗi đem cây vú sữa ra Bắc, trồng trước chòi của bác ta để ngắm cho đỡ nhớ… Miền Nam.

Muốn ăn ngon không phải cắt ra từng mảnh như cái nóc nhà con sò tức Opera House, mà phải xoa bóp cho nó mềm, cho tươm sữa bên trong mới lấy cây dao con chó khoét vòng tròn nơi cuống rồi lấy bỏ đi. Kê miệng vào, tay bóp miệng nút. Ôi chu choa, nó ngon ngọt, nó thích thú làm sao đó, không tả nổi! Nên nhớ là: nếu sàm sỡ, hấp tấp, không khéo miệng sẽ dính mủ đấy. Rửa không ra. Muốn rửa phải lấy gạo chà lên cho nó dính cám, rồi gở ra giống như ăn mít.

Còn một thứ trái cây không thể quên được vì ngắm nhìn nó cũng lé mắt. Sao nó no tròn, mịn màng, óng ánh như làn da người con gái tuổi dậy thì: Mận da người Nha Mân phải biết:

‘Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân’.

Còn sầu riêng Cái Mơn, Man Thít thơm ngon đến đỗi người ta đồn rằng, các bà say mê. Không tiền mà ghiền sầu riêng, họ liền đem quần lãnh Mỹ A cầm hay bán lấy tiền mua cho được, thì phải biết.


Trái cốc ăn rất dòn. Cốc xanh chấm muối ớt hay mắm ruốc ngon hết xẩy. Chúng tôi không ăn như vậy. Lúc còn nhỏ, tụi tui lấy nạng dàn thung bắn rớt xuống, cốc non nhai ăn luôn hột, nên mới có câu “đau cổ họng nuốt hột cốc sẽ hết”. Cốc già, lớn phải đem đập xuống lộ cho bể (dao đâu mà cắt với gọt), ăn ngon đáo để.

Xoài tượng (trái to như voi) cắt lát mỏng chấm nước mắm đường thẻ bào, hay đường cát mỡ gà, chấm thêm vài trái ớt đỏ xanh ngon hết xẩy. Nhớ là sau khi ăn xong, xin đừng uống nước lạnh. Coi chừng Tào Tháo rượt! Xoài Vĩnh Long tuy thơm ngon như xoài cát, thanh ca nhưng vẫn thua xoài Cao Lãnh.

‘Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh,
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân’.

Còn nhiều cách ăn trái cây độc đáo nữa kể không xiết. Phải sống đó đây nơi nầy, nơi kia mới biết thưởng thức hết hương vị cây trái Vĩnh Long quá là ngon.

(Xoài tượng)

Cam quít rất nhiều, rất ngon ngọt. Vườn rộng sạch có tầm vóc nông trại đáng kể, là vườn thầy Bảo ở Chợ Lách. Xưa kia ông làm Tổng Giám thị Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Muốn gần nhà, ông xin chuyển về làm giám thị và dạy Sử Ðịa và chữ Hán:

‘Nhứt một gạch, nhị hai gạch.’
‘Nhơn chi sơ tánh bổn thiện’, cái miệng đòi ăn’.

Ý không phải, trật rồi. Lâu ngày chữ nghĩa cũng quên, xin trả lại thầy nha thầy. Sorry nha thầy!
Hưu trí ông lập vườn quít. Năm 1991, các cựu học sinh ở Úc có họp mặt với thầy tại Sydney, nhân dịp thầy qua Úc thăm con thầy.

Món ăn
  

An-Giang có canh chua bông điên điển, Cao Lãnh thì canh súng, Vĩnh Long độc đáo với canh chua bông so đũa. Ta tưởng so đũa chỉ để dê ăn như dương xa trong sử Trung Hoa. Tần Thủy Hoàng có mấy ngàn cung phi mỹ nữ, nên sau buổi chầu mệt mỏi lên ngồi xe dê, mặc cho nó kéo đi đâu thì đi. Có nàng Tăng Diệp xuất thân con nhà nông, biết ý dê thích ăn so đũa nên nàng rải nó tới tận phòng mình. Thế là dê ta cứ vừa đi, vừa ăn lần lần tới phòng nàng mà thôi. Thế là nàng tha hồ được ơn mưa móc.

Bông so đũa nấu canh chua tôm càng ăn hết xẩy, nhậu quắc cần câu, vì nước canh ngon ngọt kỳ lạ. Bông so đũa luộc chấm tôm càng kho Tàu, gạch tôm đỏ đỏ lơ lớ, vàng vàng, mặn mặn ngọt ngọt nó ngon đáo để. Ăn quên thôi. Chỉ có tôm Vĩnh Long mới ngon hơn nơi nào hết vì lớn và tươi rói.

Hình tàu Vĩnh Long, gia bảo của nội tổ anh M.Vương 60 năm về trước.

Ði tàu sà lúp (chaloupe) mà được ăn tôm kho Tàu, với cơm vắt đựng trong mo cau mới tuyệt cú mèo, no bụng nằm tòn ten trên võng đung đưa tới Saigon hồi nào không hay. Tôm càng nướng trui: đốt lửa than cho đỏ, bỏ tôm còn ngo ngoe lên, vỏ đỏ gạch, bị khét, mùi thơm ngon nồng nặc, lấy ra lột vỏ cuốn với rau thơm rau răm, chấm nước mắm tương ớt có tỏi. Ăn ngon quên thôi. Nhậu quắc cần câu, không say không về! Hủ tiếu tôm càng còn tươi rói, bỏ vô nước sôi còn ngo ngoe, nó ngon ngọt tuyệt diệu!


Ốc gạo Vĩnh Long rất nổi tiếng ngon nhờ không có cát. Ốc lể xong đem cuốn với dừa nạo, rau thơm, bánh tráng, chấm nước mắm chanh ớt. Ngon đáo để. Nhưng coi chừng Tào Tháo rượt…nhứt là chưa chích ngừa viêm gan A. Xin xem bài ” Ði Du lịch vui khỏe và an toàn” (tr 118) Quý vị phải tới Vĩnh Long để thưởng thức các món ăn nầy mới được!

Ðình, Chùa và Miếu

Vì đây không phải là bài nghiên cứu, mà là tạp ghi những gì mình biết, mình nhớ. Nếu có sai, xin quí bà con chỉ bảo, rất cám ơn.

Miếu Bảy Bà?


Ðây là một cái miếu nhỏ ngay chân gốc đa to trên mô đất cao chừng chục thước. Rễ to ngoằn ngoèo ôm lấy các cục gạch và đá. Chung quanh có con đường trải đá to lởm chởm. Khi màn đêm buông xuống, nó vắng tanh, nó âm u ghê lắm. Không ai dám bén tới đây chơi vì sợ … ma.

Miếu rất linh thiêng. Ai mà làm gì sai trái, không dám tới đây thề, vì sợ Bà cây da về bẻ cổ. Chúng tôi đi ngang phải cất nón chào. Miếu nhỏ nầy được hai vợ chồng ông Bảy từ, không con, có cái nhà nhỏ kế nhà thầy giáo Long, lo việc hương khói. Nhà thầy giáo Lai, phía trước bi-da Bảy Thế, kế bên là trường tư thục Long Hồ do kỹ sư Lê Minh Ký sáng lập.

Tục truyền nơi nầy là Cây da Cửa Hữu hay Cửu Hữu do Tổng Ðốc Trương Văn Uyển làm căn cứ, để phóng nhìn mọi chuyển động của đối phương. Sau trận thư hùng đẫm máu trong ba ngày 20, 21, 23/03/1862. Thất thủ, dân quân bị sát hại nhiều quá, Tây gom lại chôn thành nấm mồ tập thể. Dân chúng sau đó lập miếu thờ ở phía sau cây da.

Khi vào miếu, phá phách nổi tiếng như: nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò như chúng tôi cũng sợ ớn gáy, nhứt là phía sau chỗ có nấm mồ. Nó rất âm u, đượm mùi tử sĩ yêu nước chết oan ức bởi Tây bội ước tấn công, trong lúc cụ Phan Thanh Giản đang điều đình ở trên tàu với chúng. Chúng tôi đi lẻ tẻ, cũng ít dám đi ngang qua con đường nầy. Sau 1945, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ lập trụ sở nơi đây, các đạo hữu tề tựu xây nhà trên vũng sình lầy, trước trường Cao Tiểu.

Miếu Quốc Công


Miếu thờ ông Tống Phước Hiệp, khang trang sạch sẽ, có tường bao quanh, có chỗ thờ cúng, có rạp hát để cúng đình với dàn ghế và sân khấu hẳn hoi. Hằng năm chúng tôi đến để dự lễ phát phần thưởng, cho nam nữ học sinh tiểu học và trung học.

Ðình Long Ðức Ðông

Ðình biệt lập sát mé sông, giữa chợ và bắc Cổ Chiên. Nó ẩn mình dưới tàng cây sao cao ngất, bao quanh bởi ruộng lúa xanh tươi trên đường đi Cái Sơn. Các công thần được thờ nơi nầy.

Văn Thánh Miếu


Văn Thánh Miếu là di sản của nền văn học, đạo thánh hiền. Miếu thờ Ðức Khổng Tử và các bậc nho học của ta. Văn Thánh nằm ở miệt cầu Lầu, trên đường liên tỉnh đi Vĩnh Bình, gần đất bổn bang (bốn bang) hay nhị tì, mà hằng năm má tôi dắt tôi đi cúng Thanh minh và lễ Ðông chí.

Ðây là nhà lầu bằng cây, do cụ Phan Thanh Giản xây cất. Cụ Phan Thanh Giản cũng được thờ tại đây. Cụ là người Minh hương, cha là người Hải Nam làm quan thanh liêm bị hãm hại, phải trốn bằng ghe buồm vào Trung lập nghiệp. Cụ là người tài năng, thanh liêm, khí khái, đức độ, đáng được kính phục.

Trung Tâm Fatima


Trung tâm được xây vào thời Ðức Cha Thục, để hằng năm làm lễ hành hương. Từ đó, nó trở thành trung tâm du lịch.
Nhà thờ Chánh Tòa là một công trình nghệ thuật tuyệt mỹ, của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người từng lãnh nhiều giải thưởng ở Âu Châu.

Lược sử Vĩnh Long và Nam Kỳ Lục Tỉnh Năm 1698, Nguyễn phúc Chu, đặt toàn miền Nam là phủ Gia Ðịnh,
Năm 1732, chúa Nguyễn phúc Trụ, đặt dinh Long Hồ tại Cái Bè, năm 1780 đổi thành trấn Vĩnh Thành, trấn thủ là Thoại ngọc Hầu.
Năm 1802, Gia Long đổi lại là trấn Gia Ðịnh.
Năm 1808 lại chia ra làm 5 trấn: Phiên An (Gia Ðịnh),

Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Vĩnh Thanh gồm có Vĩnh Long và An Giang, tức Vĩnh Long,

Long Xuyên, Châu Ðốc, Sa Ðéc, Trà Vinh với dinh Long Hồ đặt tại Cái Bè sau dời về Vĩnh Long ngày nay. Cần Thơ được gọi là Tây Ðô chỉ có sau nầy thôi.

Năm 1832, vua Minh Mạng chia lại làm sáu tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Nam Kỳ Lục Tỉnh bắt đầu từ đây.

Ngày 20/03/1862, tướng Bonard tấn công Vĩnh Long, sau khi chiếm ba tỉnh miền Ðông. Tổng Ðốc Trương văn Uyển dàn binh chống trả nhưng đánh không lại.

(Nhà thờ Chánh Tòa)

Ngày 20/06/1867, Phó Đề đốc De La Grandière đem chiến thuyền tiến chiếm Vĩnh Long. Cụ Phan thanh Giản dùng thuốc độc tử tiết để lại danh thơm muôn đời, ngày 4 tháng 8 năm 1867. Cụ bảo gia quyến chỉ ghi là: ‘Ðại Nam hải nhai lão thơ sinh Phan công chi mộ’ (Mộ phần của người học trò già ở biển Ðại Nam) và bài thơ tuyệt bút như sau:

‘Thời trời, lợi đất, lại người hòa,
Há dễ ngồi coi phải nói ra.
Làm trả ơn vua, đền nợ nước,
Ðành cam gánh nặng ruổi đường xa.
Lên gềnh xuống thác thương con trẻ,
Vượt biển trèo non cam phận già.
Cũng tưởng một lời an bốn cõi,
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba.

Thi sĩ Nguyễn Ðình Chiểu đã khóc vị quốc vong thần như sau:

‘Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Dàu dàu mây trắng cõi Ngao châu,
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cang thường một gánh thâu
Trạm Bắc ngày chiều, tin điệp vắng
Thành Nam, đêm quạnh tiếng quyên sầu.
Minh sanh chín chữ lòng son tạc,
rời đất từ đây mặc gió thu’.

* Nhân tài

Trương Vĩnh Ký

Tỉnh Vĩnh Long hun đúc biết bao nhân tài cho đất nước từ trước và sau 30/04/1975. Xin kể ngắn gọn mà thôi.

Pétrus Trương Vĩnh Ký
Nhà bác học uyên thâm.

Trần Văn Hữu

Trần Văn Hữu

Ông là con của đại điền chủ đi du học bên Pháp và đậu bằng kỹ sư. Ông làm Thủ Tướng từ 1950-1952. Ông mang quốc tịch Pháp lại rất nhân từ, yêu nước lo cho dân. Nghỉ việc, ông sang Pháp sinh sống và qua đời ở đó.

Trần Văn Hương


Ông sanh trong gia đình nghèo ở khu kho xăng Văn Thánh trên đường đi Vĩnh Bình. Ông được mạnh thường quân giúp đỡ cho ăn học. Ông tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội, về dạy tại trường Collège Le Myre de Vilers, sau đổi tên là Nguyễn Ðình Chiểu.

Dầu làm chánh trị, ông vẫn là người có nghĩa khí, chánh trực. Ông làm rất nhiều chức vụ: Hai lần Đô trưởng Sàigòn, hai lần Thủ tướng (1965+1968), Phó Tổng thống rồi Tổng thống trong thời gian ngắn ngủi, bi đát nhứt lịch sử, ngày tàn của Miền Nam. Cứng rắn chống lại mọi áp lực ngoại lai không được, cụ đành miễn cưỡng trao quyền cho Dương Văn Minh, người học trò mà ông không bao giờ tin. Dầu ai mời cụ lưu vong, cụ cũng từ chối và nhứt quyết ở lại sống chết trên mảnh đất quê hương. Cụ đã mãn phần nhiều năm trước đây.

Nguyễn Văn Lộc


Ông sanh trong gia đình giàu có, tại làng Long Châu, sang Pháp học Luật, về nước hành nghề luật sư. Có một thời làm Thủ Tướng (1967-68). Ông làm Viện Trưởng Viện Ðại Học Tây Ninh. Ông từng đi học tập cải tạo và vượt biên sang Mỹ, sau sang Pháp và từ trần tại Pháp, năm 1991.

Kháng Chiến


Cụ Phan không quên khuyên ba người con của cụ là Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Ngữ, lập nghĩa quân chống Pháp. Sau khi cho hai thân tín là Ðỗ Hữu Phương rồi tới Tôn Thọ Tường làm tham biện để lấy lòng dân không xong, Pháp bổ Salicelli thay thế. Năm 1872, tên tham biện tức tỉnh trưởng Salicelli bị giết tại Cầu Vòng. Vũng Liêm nổi lên chống giặc Tây, Trần Bá Lộc được phái tới dẹp nghĩa quân. Ông ta tàn sát hết, đem chôn vô một cái hố, làm nấm mồ tập thể. Dân chúng Vũng Liêm và Tam Bình sôi sục thù hận và nổi lên chống thựïc dân Tây và bè lủ.

Ðây là cái nôi cách mạng Miền Nam, từng làm bọn Tây và tay sai khiếp đảm với những nhà yêu nước thương dân như:
– Trương Duy Toản cũng là soạn giả cải lương.
– Tống Phước Ðịnh, Huỳnh Hưng trong phong trào Ðông Du của vua Duy Tân.
– Huỳnh Quang Thành hết lòng cung phụng Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể tại đây, trong những ngày bôn ba hoạt động phong trào cách mạng Ðông Du, tìm đưa người sang Nhật học.

Còn rất nhiều nhà cách mạng khác nữa xuất thân từ Vĩnh Long. Sau 75, còn nhiều người lảnh những chức vụ cao cấp trong chánh phủ cũng xuất thân từ Vĩnh Long như Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt.

Có xa quê hương mới biết quê cha đất tổ là nơi tôi kính yêu. Lúc nào cũng nhớ tới Vĩnh Long thương mến, nhớ tới mái nhà thân yêu, mái trường, con sông, cây cầu, bạn bè…Ôi biết bao kỷ niệm ngày xanh, nó vẫn còn canh cánh trong lòng tôi! Tôi mơ ngày trở lại Vĩnh Long, để gặp lại bà con cô bác, để hồi tưởng lại một thời thơ ấu xa xưa. Và để thành tâm đốt nén hương, tạ tội trên mộ song thân mà tôi bất hiếu đã từ bỏ ra đi, và cho đến nay vẫn chưa có cơ duyên trở về!

‘Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia…
Dừng chân, ngoảnh lại: trời, non, nước.
Một mảnh tình riêng, ta với ta.’

(Bà Huyện Thanh Quan)

Bác sĩ Phan Giang Sang
(Trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

Dù Anh Chưa Đến - Thơ: Song Châu Diễm Ngọc Nhân - Phổ Nhạc:Nguyễn Văn Thành - Tình Bày:An Minh


Thơ: Song Châu Diễm Ngọc Nhân
Phổ Nhạc:Nguyễn Văn Thành
Tình Bày:An Minh

Người Xưa



Em vẫn là người xưa của anh.
Dù chẳng bao giờ em vương-vấn.
Dù thấy anh một mình thơ-thẩn.
Em vẫn hờ-hững như không.
Em vẫn là người xưa của anh.
Dù cuộc đời toàn cay-đắng.
Dù mưa nắng mình ở bên nhau.
Em vẫn coi anh như xa-lạ.
Năm mươi tám năm qua.
Bao lần hoa cỏ bạc mầu.
Mái đầu dần-dần điểm trắng.
Mỗi lần hoang-vắng trở về.
Lại thấy lòng mình tê-dại:
Tại sao nhớ mãi người xưa.

Hải-Vân Phạm-Văn-Hải


Trong Cõi Buồn Vàng



Khúc tình rụng xuống phôi phai
Dấu chân xưa cũng theo ai đi rồi
Thuyền quyên tôi một mình tôi
Trái yêu em rụng bên ngoài vườn mơ.

Ngón sầu lướt phím đường tơ
Còn đây kỷ niệm vu vơ quãng buồn.
Cánh chuồn theo gió ngàn phương
Tôi con trăng vỡ bóng nguồn dặm khơi

Áo xưa mơ ước một đời
Mười năm độc thoại với lời hư không
Thiết tha em một dòng sông
Dẫu bao giông tố dòng không đổi dòng

Tìm về bóng ngựa qua song
Ngã mình trên những chờ mong muộn màng
Lặng nghe trong nỗi buồn vàng
Hoàng hôn nhuộm tím bóng hoàng lan xưa

Bằng Bùi Nguyên

Đẹp


-NGƯỜI DÁNG DẤP BƠ VƠ CÙA BẦU TRỜI HẢI ĐẢO
TÓC BỒNG BỀNH TRÊN NẾP TRÁN ƯU TƯ-

Tròm trèm cũng đã gần ba phần tư thế kỷ, có lần ông Nguyên Sa, người từng thổi dạt hơi hướm sông Seine về giữa lòng Sài Gòn nóng bức, không biết đã cảm xúc tới mức nào mà làm một bài thơ đề tặng cho bạn mình, ông Hoàng Anh Tuấn, cũng là một bậc tài hoa đang qua lại giữa đời của thời đổi mới. Bài thơ dài 36 câu mà số chữ trong câu thì rõ ràng là phá vở mọi khuôn phép vốn đã ngàn năm trói buộc hồn thi nhân. Khi thì câu 7 chữ, lúc 8 chữ, rồi 9, rồi 10... và có lúc suông luôn một mạch 11 chữ! 

Đọc thơ mà tưởng chừng như đang thả mình theo con nước rong, lúc chèn khe đá, lúc tuôn ra sông rồi chảy ròng ròng ra biển. Làm như hồn thi sĩ có lúc lộn lạo như gió trở mùa, lúc vi vu như ve vuốt má hồng, lúc giựt ngược như quất ngựa truy phong. Thiệt là... có một không hai. Ngay giữa lúc mà hồn người còn đang loay hoay trong mớ khung cũ giáo điều, hoặc lơ mơ nửa tỉnh nửa mê với dòng thi ca tiền chiến êm ru như ru ngủ, bỗng như bị nhéo tai kêu dậy... Bài thơ có tựa ngắn ngủn, độc nhất một chữ: “ĐẸP”. Gọn bâng mà làm rúng động không ít hồn kẻ yêu thơ, nhất là cái đám nhóc mới lớn đang bập bẹ học đòi. Ngay từ câu thứ nhất.

Người dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo

Người dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo ! Trời, cả một hồn thơ văn đang thiêm thiếp ngủ của thằng con nít quen thói học đòi bỗng như rục rịch, cục cựa rồi bung ra như trận nổ hồng hoang... khi lần đầu chạm tới một vũ trụ thi ca quá đổi... bất thường. Rõ là bước đi không điểm đến. Là dáng dấp của một lữ khách trên những dặm hành vô định...

Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư

Phải vậy thôi đâu. Còn nữa... Còn mái tóc bồng bềnh... Trời, tóc mà bồng bềnh hẳn không khác gì mấy lượn sóng bấp bênh trên mênh mông đại dương ngày gió lớn. Hơn nữa, sóng mà dật dờ được là phải có gió đẩy gió đưa. Đằng này, rõ là bồng bềnh tự thân, chẳng nhờ vào đâu hết. Chút vậy thôi mà như cú thôi sơn dộng vào tự ái. Cả một thời làm-trai chưa kịp lớn cứ phải lảng vảng loanh quanh mấy cái tiệm hớt-gội-sấy-ép mà tóc cứ xụi lơ ( lắm khi còn phải xin tiền má lén mua brillantine o ép tới láng lẩy mà sợi nào sợi nấy cứ suông đuột, chết cứng như mấy sợi bún khô ). Rõ là tự ái... dởm. Dầu vậy, thơ đọc rồi dẫu chẳng biết bầu-trời-hải-đảo tròn méo ra sao cũng như những sợi tóc lượn lờ tới cõi nào, chỉ nội mớ âm vọng và thi ảnh bổng chốc làm hồn nó như bay bổng, vượt thoát khỏi cái tỉnh lỵ nhỏ xíu bị chặn cứng phía bên nầy bờ sông Mỹ Thuận.

Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợi

... từ đó là một cuộc lãng du vô tiền khoáng hậu, vừa miễn phí vừa được vỗ về cho hồn non bay vuột tới một cõi xa hơn tầm nhìn hai con mắt. Chẳng vậy còn xa hơn cả cái cõi đi về trong những giấc chiêm bao. Thiệt vậy, cõi lòng nhỏ xíu và thấp chủm dưng không rồi như cứ muốn vói tới... đâu đâu, đâu đâu chẳng biết ! Thử nghĩ coi suốt cả những năm trường vò võ chốn trường ốc với mớ sách giáo khoa đã mấy lượt ố vàng, chứa mớ văn thơ đã trở thành kinh điển... dẫu gì ít nhiều cũng đã kềm hãm mọi bốc đồng của lứa tuổi đang lưng chừng... lớn. Trải bao vật đổi sao dời, hết chữ Hán tới chữ Nôm rồi Quốc ngữ... rồi cũng bấy nhiêu luật lệ khuôn phép đó. Hết Tàu tới Tây rồi cũng bấy nhiêu mẫu mực đó. Vuông, tròn, hay méo xẹo gì... cũng chỉ mô tả mé mé vậy thôi. Làm như sợ chi tiết quá cả và thiên hạ nhận diện được ra nhau rồi văn chương bớt vẻ phù phiếm hơn chăng !

Nghĩ coi, cả ông Kim Trọng, người tình chung thủy nhất nhưng luôn đến sau của Thúy Kiều cũng chỉ được miêu tả một cách hững hờ trên một chiều dài hơn ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu thơ lục bát. Phong-tư-tài-mạo-tót-vời. Vào-trong-phong-nhã-ra-ngoài-hào-hoa. Rồi đến người chinh phu giả-nhà-đeo-bức-chiến-bào-thét-roi-cầu-Vị-ào-ào-gió-thu đọc lên mà thấy lòng hừng hực tới muốn trốn nhà... đi quân dịch. Vậy đó mà trớ trêu thay, dẫu chí thú tới đọc thuộc lòng như sáo sậu mà biểu hình dung mặt mũi vóc dáng mấy ổng ra sao cũng chỉ đành ú ớ. Phải nói là đến lần này, trong cái rậm rật của một xả hội đang hồi đổi mới, đã cùng lúc xóa hết ranh giới của những cuộc viễn mơ, bất ngờ được chạm mặt với một hình tượng con trai-đàn ông qua những nét chấm phá độc đáo, lạ lẫm và tuyệt kỹ như chưa từng. Dĩ nhiên đẹp-xấu còn tùy-người-đối-diện, tuy nhiên với ấn tượng ban đầu... người-đẹp-phe-ta ở đây không dễ gì bị lãng quên sau khi bất ngờ được... giáp mặt.

Người dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo
Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư
Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợi

Bốn câu thơ mở đầu của bài thơ mở toác hoác luôn cõi lòng con trẻ, vốn đã thấp thỏm từ khi lỡ nghe lóm nhạc rock dội lại tuốt từ bên Mỹ, dậm thêm hình ảnh thần tượng James Dean với tóc tai phủ ót, áo phạch ngực cùng với chiếc quần blue jean bạc phếch kiểu bất cần đời... Phải vậy thôi đâu, tin từ Paris vọng về đang nổi sóng với phong trào Đợt Sóng Mới từ khi Francoise Sagan viết Bonjour Tristesse khi mới có 18 tuổi đầu. Cùng lúc phong trào Hiện Sinh vốn trổi dậy sau những tàn khốc của cuộc đại chiến thứ hai như xúi dại tuổi trẻ sống xả láng tuổi trẻ mình. Thiệt là đúng thời đúng lúc. Con nít mới lớn ở tuốt miệt sông Tiền sông Hậu đâu có chịu bỏ lỡ dịp. Khai ra nghe có vẻ vọng ngoại nhưng nghĩ lại coi, bên kia biển lớn, lòng người thiên hạ đang sôi sùng sục với đủ thứ khám phá từ khoa học đến văn chương, triết lý, nghệ thuật... trong khi ở quê mình thì vẫn còn sật sừ sau những chìm nổi của gần hai ngàn năm lệ sử. Nếu nhớ không lầm thì cỡ đó, người ta đã lấp ló tới cung quảng tỏ rõ mặt chị Hằng chẳng lấy gì làm kiều diễm để mà mơ mộng. Thế giới đã vặn mình chuyển động. Người thiên hạ đang bừng con mắt dậy sau cơn đồng thiếp gọi là cổ điển... Vậy thì tội gì mà ru rú với đời xưa tích cũ. Chuyện Lan và Điệp thì dây chuông đã cắt đứt đoạn đành. Dũng với Loan cũng đã đoạn đành... đoạn tuyệt. Còn câu chuyện hận tình xưa bậc nhất ở xứ mình có đoạn trường cách mấy thì rồi Thúy Kiều cũng đã về ở lại với Kim Trọng dẫu Thúy Vân có buồn tủi hay không. Chuyện đâu đã vào đó. Ngó quanh ngó quất, mặt đời gần như nhẵn nhụi, còn có gì để mà mộng với mơ.

... Bởi vậy mà chớp được bài thơ mới, không-giống-ai, lòng trẻ cứ như thăng hoa, từ đó. Hết biết.
Đọc tới đọc lui...
...rồi mặc tình buông mình bay lượn tới một cõi người rất lạ... mà làm như rất quen.

ĐẸP

Người dáng bước bơ vơ của bầu trời hải đảo
Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư
Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợi

Hơi thở mới nguyên của đồng tiền mừng tuổi
Tôi nhìn người ngóng đợi mắt lên ba
Người về đây có phải tự trời xa
Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng?

Có phải tên người là âm thanh vô vọng
Nên mắt buồn le lói thoáng bơ vơ
Hay một đêm nao nước lụt Ngân Hà
Thượng đế đưa sao mang gửi về khóe mắt?

Người về đâu giữa đàn khuya dìu dặt
Hơi thở thiên thần trong tóc ẩm hương xưa
Người đi về trời nắng hay mưa
Sao để sương gió trầm tư thêu thùa má ướt

Mắt dịu ngọt đúc từ rừng ngọc bích
Hay linh hồn trăm phiến đá chân tu
Sao người về mang trọn một mùa thu
Với mây trắng lênh đênh của những chiều nguyệt tận

Là gió trăm cây hay là cồn nước đọng
Người không cười mà hoa cỏ gói trong tay
Đường áo màu viền trắng cổ thơ ngây
Màu sắc thời gian người thu tròn giữa áo

Bóng nhỏ xa đi trên lá vàng cổ đạo
Bước chân chìm theo mỗi phím đàn khuya
Tay trần gian tôi đếm ngón so le
Đã có phút âu lo đường về dương thế

Người về đâu mà đền đài hoang phế
Mang dáng người trên mỗi nấm bia phai
Trăm vạn đường mây xê dịch chân trời
Theo tiếng nhặt khoan của từng nhịp bước

Dù về đâu tôi xin đừng chậm gót
Để làm gì cho mỏi mắt trần gian
Có bao giờ tôi sẽ phải làm quen
Lời ngỏ ý sẽ là kinh cầu nguyện...

NGUYÊN SA

Thơ, mới nhìn bề ngoài đã thấy lạ lẫm, kiểu mấy tay... du đảng thời đó, quần áo bung thùa, bộ điệu ngang tàng trên những hẻm phố Sài Gòn. Thơ gì mà câu cú dài ngắn không đều, bất chấp mớ luật lệ của ông bà cố tổ. Có điều, khác với cái chuyện giải phóng... giả hồi năm một-chín-bảy mươi lăm, mấy câu thơ mới tinh đó phải nói là cách mạng hết cở. Bao nhiêu hồn thi nhân đang lớn hay sồn sồn hay đã cỗi bỗng như được cởi phăng sợi xích-thằng vốn đã buộc cứng mình vào cuộc hôn nhân với thơ, dẩu không từng cưới hỏi. Nội cái chuyện thay đổi liền liền số chữ trong câu làm cho tiết tấu bài thơ trở nên sinh động, phóng túng khác hẵn thứ nhịp nhàng khuôn khổ đến lờn tai. 

Rồi đến chuyện số câu trong bài. Chẳng có bốn-câu-bảy-chữ hay bảy-chữ-tám-câu gì ráo, kể cả từng cặp lục bát sáu-trên-tám-dưới, sáu trên tám dưới liền tù tì đọc mệt nghỉ suốt cả mấy ngàn năm qua. Không. Không điệu bằng trắc đúc khuôn. Không niêm luật tù túng. Câu cú rõ là chẳng lo ép uổng. Bài thơ là một cuộc rong chơi mặc tình của chữ nghĩa, tự tung tự tác, bất kể luật lệ, phiêu hốt như mây trời ngày gió lớn... Hết sẩy! Có điều dẫu thẳng tay phá vở cái khung cũ bó rọ đã ngàn đời, vần điệu vẫn còn nguyên vẹn là ... vần điệu. Những “trắc” “bằng” vẫn kết hợp với nhau theo một luật chơi riêng. Thơ vẫn là THƠ, y như tên gọi. Thơ vẫn là thơ chớ không phải là văn xuôi mạo hóa. Những câu những chữ nối nhau mà lượn lờ lảng lướt kiểu như tay chơi đang lúc bốc đồng, mặc tình nhún nhẩy quên cả khách má hồng đang cặp kè theo từng nhịp bước trong tay... Không lớn tiếng cũng không thủ thỉ. Không nhũn nhặn cũng không cao kỳ, chữ và nghĩa và vần điệu trong từng câu bay lượn thong dong mà như từng mũi kim châm, lặng lẽ xăm trổ vào lòng người từng dấu chữ kiêu sa.

Người về đâu giữa đàn khuya dìu dặt
Hơi thở thiên thần trong tóc ẩm hương xưa
Người đi về trời nắng hay mưa
Sao để sương gió trầm tư thêu thùa má ướt

Mắt dịu ngọt đúc từ rừng ngọc bích
Hay linh hồn trăm phiến đá chân tu
Sao người về mang trọn một mùa thu
Với mây trắng lênh đênh của những chiều nguyệt tận

Những câu thơ dài ngắn bất chấp, nối tiếp nhau êm xuôi như tiếng bồ bịch dỗ nhau khi tình chưa sóng gió. Dẫu vậy, ngọt ngào thì có nhưng xin xỏ thì không. Còn chữ nghĩa thì quả tình là bậc thầy lãng mạn. Chữ nối chữ như từng lượn sóng vổ tràn tình ý ra khỏi từng câu thơ. Cùng lúc, thi ảnh thoát ra lập lờ như trần thế với huyển mộng chỉ là một. Hết biết. Vậy đó mà tựa bài thơ chỉ độc nhất có một chữ, cụt ngủn, “ĐẸP”. Gọn bâng. Chắc nịch. Y như tiếng hô quân khi tập lính. Hổng chừng vậy mà khi lỡ nghe rồi là răm rắp tuân theo, cứ thả hồn như bèo bọt trôi sông, theo sóng trường giang cuộn mình ra biển lớn... Vậy đó mà mê mệt.

Thử nghĩ coi, thơ gì mà như phép tắc của mấy ông đồng bà cốt. Ngay lúc tuổi đời còn non xèo, vốn liếng chữ nghĩa chưa đầy cái lá mít mà cội nguồn của chữ nghĩa thì cỗi đã mấy đời cổ thụ, vậy mà vô tình đọc thơ rồi là y như bị hớp hồn, xua vào một cõi huyển mơ huyền ảo. Mà thực tình cũng chẳng biết là cõi gì. Chỉ chắc có một điều là không phải cõi mình đang hiện hữu. Được cái là dẫu ngu ngơ cũng biết tác giả đang tả dung nhan của một mỹ-nam-tử. Ngặt một nỗi vốn quen đọc Truyện Tàu của nhà xuất bàn Tín Đức Thư Xả mà người-đẹp-nam-phái vẫn thường được miêu tả như Phan An-Tống Ngọc, kiểu da-trắng-môi-son như con gái, làm như mụ bà đã lỡ tay nắn lộn. 
Bởi vậy, lần nầy, chạm mặt rồi là y như bị... coup-de-foudre không bằng. Hóa ra nam tử có cái đẹp khác. Không thu hút hồn người vào cái chỗ chật cứng bó rọ của thân xác, mối mai của đọa lạc. Mà ngược đời, làm như lại có lực ly tâm, đẩy ngược hồn người tới một cõi phiêu bồng, vượt bỏ hết mọi ranh giới của cõi lụy. Ở đó là một cái ĐẸP như thị, trần trụi, không điểm xuyết cũng chẳng y trang. Ở đó là cái THẬT, không ngụy tạo, hay lấp liếm... dễ làm hoa mắt thế gian, vốn vẫn được coi như một sự gian dối cần thiết. Nhất là, như một phát giác kỳ diệu, qua những câu thơ với giọng điệu trầm, lắng, đọng... mà lại làm toát ra những hình ảnh, vừa động vừa tĩnh, như trong động có tĩnh trong tĩnh có động. Thứ hình tượng có có không không làm thơ lung linh như một dụ ngôn ẩn mật. Từng thi ảnh như một sự phát tiết tự nhiên dù có chọn lựa mà không lộ ra kỹ xảo. Một cái đẹp-không cần làm điệu, không cần quảng cáo như thứ xun xoe hà rầm ngoài chợ đời nhí nhố. À há, cả một bài học về cái-đẹp-tự-thân, một sự khiêm cung... tuyệt diệu. Y như thứ chân lý đã bị che giấu tự ngàn đời: THẬT=ĐẸP.

Mắt dịu ngọt đúc từ rừng ngọc bích
Hay linh hồn trăm phiến đá chân tu
Sao người về mang trọn một mùa thu
Với mây trắng lênh đênh của những chiều nguyệt tận

Là gió trăm cây hay là cồn nước đọng
Người không cười mà hoa cỏ gói trong tay
Đường áo màu viền trắng cổ thơ ngây
Màu sắc thời gian người thu tròn giữa áo

Sự khiêm cung một-cách-ngang-nhiên đó hiển hiện trong cung cách của bài thơ. Dẫu câu dài ngắn bất kể y như hơi thở vô chừng mỗi khi đời trở chứng, thơ vẫn toát ra cái vẻ bình yên tĩnh lặng. Mỗi chữ phát một âm riêng, từ phù bình thanh chuyển qua trầm bình thanh. Và ngược lại. Chỗ đáng nói là dù cho “phù” hay “trầm”, âm độ của những chữ nối nhau không quá cách biệt làm câu thơ đọc lên nghe như tiếng rù rì rủ rỉ mình-nói-mình-nghe, kiểu như cách nói khéo làm-thơ-là-làm-cho-mình, sau đó mới tới phiên người-thiên-hạ. Dẫu có rao tặng ai kia đi nữa. 

Tiếng vọng của thơ nghe đều đều như tiếng kinh cầu. Âm trầm âm bổng không giống nhau mà không quá khác nhau. Từng âm nối nhau giữ nguyên nồng độ của cảm tính, như một khúc tự tình với chính mình. Đọc cho hết bài rồi sẽ thấy. Khi luật lệ đã bị phá vở, dứt bỏ hết mọi câu nệ thi pháp với mớ ngữ vựng thường tình và vần điệu khuôn khổ, thi ảnh thoát ra khỏi nhản quan quen thuộc với những thiên kiến, cảm nhận sẽ thoát ra khỏi cái khung cũ kỷ đã ghìm hồn người vào chỗ biếng lười, cái ĐẸP sẽ hiện ra lồ lộ tới độ... dẫu có cọ vẽ cũng không họa lại được từng nét chân dung. Một vẻ đẹp không-giống-ai phá vở mọi ước lệ vốn đã được lập đi lập lại tới phát nhàm. Không có những nét đột phá bất ngờ mà cũng không nhập nhòa tới nỗi khuất lấp. Rất an nhiên mà lại như toát ra hấp lực khó cưởng. Tuyệt vời từ đó. Đọc lên thành tiếng, âm vị nghe ra từ tốn không có tiếng sắt tiếng vàng chạm nhau, thi ảnh chập chờn làm lộ rõ bóng hơn hình... vậy mà sao tự trong thâm tâm, nơi riêng tư và thầm kín nhất, trung thực nhất sẽ vọng lại tiếng hối thúc, thứ hối thúc từ trong vô thức mà người ta không thể từ chối để xác nhận cái ĐẸP hiển nhiên, như thị. Hiển nhiên, như thị mà lại vô hình vô sắc. 
Đường cong nét gảy dẫu chỉ được mô tả một cách mờ ảo mà sắc diện tổng thể rốt lại như nhãn tiền. Nhãn tiền mà lại bất khả họa hình họa tướng. Chính vẻ huyền nhiệm đó tạo ra thứ hấp lực y như mặt trăng thúc hối thủy triều làm người đọc thơ thấy mình như hệ lụy. Những câu thơ bay lượn, lãng lướt họa hình người không rõ nét cũng không màu mè... vậy mà, ờ, sao như có sức cảm hóa, làm động đậy những con tim còn hơ hớ tuổi xuân. Gì thì gì cũng một tiếng chắc lưỡi thay cho một lời tán thán. Khi đó, lòng người có cơ hội mở ra thay vì khép kín. 
Vẻ đẹp của núi đứng thẳng chọc trời mà lại lấp lửng dáng cuồng lưu sắp sửa cuộn mình ra biển lớn. Một cái đẹp nam tính, tự tại không cần phải tỏ bộ hay làm dáng. Như mùi thơm của một đóa hồng. Hữu xạ tự nhiên hương. Cái đẹp nguyên thủy, tinh tuyền, không nhờ vả vào những đắp đổi phù du... làm cái đẹp trở nên một thứ chân lý, không cần biện bạch. Và từ đó, như một mầu nhiệm có sức phủ dụ, cảm hóa, xóa bỏ đối nghịch... Biểu tượng mới lạ đó là cõi đời vô biên, cõi lòng vô lượng, không tự cao nên không tạo ra tự ti, xóa bỏ mọi biện biệt nên không có tị hiềm, ganh ghét. Và như vậy chính cái đẹp tự thân đó là biểu tượng của lòng kiêm ái, sẽ là sức mạnh vô hình xóa bỏ hết mọi đối-đãi nơi cõi ngoài phiền trược.

Có quá đáng không khi nghĩ rằng chính CÁI ĐẸP có khả năng xoa dịu những buồn phiền cùng lúc nâng đở tinh thần của thế nhân, những khi đời trở chứng. Mỗi cái đẹp như là biểu tượng của một niềm hy vọng. Từ đó như vọng lại một tiếng gọi vô thanh nhắc nhở lòng khoan dung, sự độ lượng... Đó sẽ là liều thuốc tiên làm giảm bớt căng thẳng để gợi lên sự cảm thông, hóa giải những biện biệt, dung hòa những đối cực... Ít ra cũng làm cho bộ mặt của thế gian bớt phần cau có. Có lần Dostoïevski, nhà văn của nửa sau thế kỷ 19 đã viết trong tác phẩm L’Idiot rằng “ La beauté sauvera le monde “ Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại. Dĩ nhiên, câu nói của bậc văn hào có thể giải thích bằng nhiều diễn giải khác nhau, nhưng cần gì chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ. Trước một nụ quỳnh hoa vừa sực nở giữa vườn khuya, ai không thấy lòng thanh thản. Mọi hỉ, nộ, ái, ố phút chốc như tiêu tán. Còn nhớ không, có lần sư Mãn Giác, giữa cái tĩnh mịch của đêm lặng giao thừa, đã phán mấy câu thơ mà làm tỉnh thức cả và thiên hạ. Mạc-vị-xuân-tàn-hoa-lạc-tận-Đình-tiền-tạc-dạ-nhất-chi-mai. Chẳng có gì phải tuyệt vọng vì rồi ra, hoa còn nở thì đời còn đáng sống. CÁI ĐẸP sẽ cứu độ chúng sinh.

Hơi thở mới nguyên của đồng tiền mừng tuổi
Tôi nhìn người ngóng đợi mắt lên ba
Người về đây có phải tự trời xa
Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng?

Cả bài thơ rồi như một chiếc cầu vồng bắt ngang lưng trời ngay sau cơn giông bão. Như một hứa hẹn cho một lần nắng mới. Lòng người như bếp than riu riu được hà hơi, rồi sẽ bén lửa.

Chẳng những vậy thôi, hổng chừng cái đẹp còn có sức truyền nhiễm như cái đám virus thời nay vậy. Nhưng thay vì hại người, cái đẹp sẽ cứu vớt người qua từng cơn đọa lạc. Điều đó gần như đã được minh chứng qua lịch sử, nếu chịu hiểu ngược lại. Kiểu cái chuyện hăm he khi đem nhan sắc của quí bà quí cô ra hù dọa đám đàn ông con trai -Sắc bất ba đào dị nịch nhân, sắc đẹp (gái) không có sóng mà nhận chìm người ta (trai) như chơi. Rõ là cường điệu. Có điều từ chuyện người đến chuyện ta, chuyện lặt vặt đến sử tích đã minh chứng ít nhiều thứ vũ khí chết người đó. Mà nếu vậy, y như cuộc đời luôn có hai mặt, nếu cái đẹp đã đắm chìm được người thì cũng có thể cứu vớt người được vậy.

Dù về đâu tôi xin đừng chậm gót
Để làm gì cho mỏi mắt trần gian
Có bao giờ tôi sẽ phải làm quen
Lời ngỏ ý sẽ là kinh cầu nguyện...

Quả vậy, thử nghĩ lại coi trong cái cõi đời không lấy gì làm vui cho lắm này, nếu không nói là... buồn tênh, giả sử nếu không có những cuộc săn tìm CÁI ĐẸP mà thiên hạ gọi là NGHỆ THUẬT thì sẽ còn buồn biết mấy nữa. Và như vậy, từng ngày nối từng ngày, tháng tháng, năm năm... người ta lấy gì để mà sống với. Dĩ nhiên, không khí dù có ô nhiểm vẫn còn đủ để thở ra hít vô, gạo thóc, lúa mì, bo bo... couscous, quinoa... hay thịt cá... cũng chưa thiếu để làm đầy bao tử. Có điều, với bấy nhiêu đó dường như chưa đủ cho thiên hạ sống còn, nếu không có... một món phụ trội mà gần như là thiết yếu. Đó là thứ có thể coi như vô ích, vô dụng nhất... đó chính là Nghệ Thuật. Mà nghệ thuật chính là phương tiện đi tìm... CÁI ĐẸP. 
Nghĩ lại coi, thế giới này sẽ tẻ nhạt biết mấy nếu không có nụ cười ngàn năm không hở môi, La Joconde của Leonard de Vinci... không có búp sen e ấp trong sương mờ Giverny của Monet... không có những dạ khúc của Chopin hay mộ khúc của Schubert... không có đêm qua bến Tầm Dương nghe gảy tỳ bà của Bạch Cư Dị... những vần bằng-trắc ngọt ngây như đường phèn của lục-bát Nguyễn Bính, màu xanh lục trong tranh của Thái Thủy, những câu thơ bảy chữ như rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương, những câu văn xuôi ngược như nước lớn nước ròng của Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn... không có Trương Vô Kỵ đòi vẽ lại chân mày cho Triệu Minh của Kim Dung thì cái đám sinh viên ở Sài Gòn những năm 60-70 lấy gì mà thêu dệt với mấy cô nữ sinh Gia Long, Lê văn Duyệt... v.v... Và v.v... Và v.v... 
Nếu không có nghệ thuật điện ảnh, thiên hạ sẽ lấy gì viễn mơ nếu không có Star Wars của George Lukas, mấy bà mấy cô làm sao cười khóc hả hê nếu không có nghệ thuật cải lương hát xướng từng đêm để tạm quên đi mấy tờ giấy bạc cứ lo cắc củm từng ngày. Nếu không có... Nếu không có... Thế giới này hẵn sẽ buồn biết mấy. Mà cái buồn chính là loại độc dược... độc nhất trần ai, gần như không có thuốc chửa. Ngoại trừ mấy món thuốc an thần có tên gọi là “nghệ thuật” kể trên. Chính CÁI ĐẸP mà Nghệ Thuật đã trần thân tìm kiếm để đem về o bế lòng người, tạo ra những NIỀM VUI vẫn là món thuốc dưởng sinh cần thiết cho loài người đã quá ư già cỗi và mòn mỏi phong ba.

Vậy thì còn chờ gì nữa mà không vét cạn lòng tụng ca CÁI ĐẸP. Kiểu như bài thơ ĐẸP của NGUYÊN SA.

Nên chăng ?
........................

Dông dài cho đã rồi trở lại chỗ lẽ ra phải... bắt đầu. Rất lạ.

Nghĩ lại coi từ hồi xưa hồi xửa, từ lúc mà thiên hạ bắt đầu thơ... thẩn, thơ gần như “ngón nghề” của phái-thứ-nhất dành để tụng ca phái-thứ-hai. Từ bên Tàu qua tới bên Tây, cũng như ngay tại cái xứ ngàn đời giặc giã, từ ông thi sĩ đến anh học trò học đòi... mỗi lần con tim động đậy, thiệt giả bất phân, mà nổi hứng... làm thơ chín mươi chín phần trăm là bắt nguồn từ một mái tóc xõa, một nụ cười mím, lắm khi còn tục tử hơn nữa, chữ nghĩa phát cuồng chẳng qua chỉ vì mớ thịt xương trần tục. Nghĩa là đối tượng phải là ở phía-bên-kia, cái phía mà mới thoáng qua cứ tưởng phải là thù nghịch vì mọi thứ đều ngược ngạo, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài... Ấy vậy mà rồi thơ phú cứ bay ra nườm nượp để tô thêm son điểm thêm phấn, chăm chút tới từng sợi tóc rối, nắn nót tới từng khóe miệng cười, xum xoe tới từng vạt áo hồi xưa dài ngoằn rồi có lúc cắt ngắn theo kiểu... mini. Thiệt vậy, khỏi cần vắt tay lên trán cũng nhớ rõ như in. Trước như sau, gần như chín mươi chín rưỡi phần trăm, đàn ông con trai làm thơ là để gieo tình vào đám đàn bà con gái. Từ đó, hay dở bất phân, thơ như chất xúc tác cần-và-đủ để làm dậy lên thứ men tình bí hiểm. Mà cho dù, dẫu không xuất phát từ cơn khủng hoảng của con tim, thiên-hạ-đàn-ông làm thơ là cũng để mô tả hay ca tụng một nhan sắc nào đó, ở bên kia lằn ranh phái tính. Kiểu như Lý Bạch, người của ngàn ngàn năm trước đã vẽ vời vân-tưởng-y-thường-hoa-tưởng-dung khi chạm mặt với Dương Quí Phi. Hay gần gũi hơn như khi ông Đinh Hùng có lần đã chết-giữa-môi-hôn của Kỳ Nữ đến nỗi phải đặt-em-lên-ngôi-thờ-nữ-sắc... Mà thiệt, thử nghĩ coi, để xúc động đến nỗi phát tiết ra thứ chữ nghĩa tuyệt tận đến vậy thì đối tượng chẳng những phải là tuyệt thế, mà thiết yếu là phải nghịch đảo với chính mình mọi thứ, mới đủ sức đánh động con tim, khoáy xoáy bộ nảo làm bật tung ra thứ chữ nghĩa đáng-gíá-ngàn-vàng. Thói đời xưa nay vẫn vậy.

Vậy mà lạ ghê, quả một kỳ tích. Đây là lần đầu tiên mới có những vần thơ của một nam nhân đề tặng cho một... nam nhân. Mà thơ phải nói là... thơ vô cùng vô tận... thơ. Hẵn đã thân thiết còn hơn Bá Nha với Tử Kỳ. Mà đãi tri âm tri kỷ tới vậy xưa nay đã có mấy ai !

Chắc tại vậy, với bài thơ ĐẸP từ nãy giờ cứ dông dài mà dứt ra không được. Mà đọc lại cũng có thấy giải bình gì được đâu. Thơ của người vẫn là thơ của người. Người-đẹp trong thơ vẫn mờ ảo... liêu trai. Mắt mũi tay chân vẫn... hình sương bóng khói. Nếu bất ngờ gặp nhau giữa phố chắc mạnh ai nấy đi vì làm sao mà hồi ức cho kịp mớ đường nét quá ư là siêu thực. Cũng đành thôi. Cái đẹp nói chung vẫn mãi là một bài toán đố không có đáp số. Cái đẹp trong bài thơ là một thứ nhan sắc trong muôn vàn nhan sắc ẩn ẩn hiện hiện giữa cõi đời ô trọc này. Nhận cho ra cái đẹp đã là hạnh ngộ. Và là một sự tương tác kỳ diệu, không cần lời giải thích. Xuân Diệu. Ai-đem-phân-chất-một-mùi-hương. Vã lại, thêm một lời phê phán trần tục có phá vở mầu nhiệm đó chăng ! Có phải lẳng lặng mà chiêm ngưởng mới là thượng sách. Thôi, những lời đã lỡ thì cứ coi như gởi-gió-cho-mây-ngàn-bay. Chẳng qua, lắm khi cũng vung tay quá trán !

Ngắm nghía, ngâm nga, mà ngẫm nghĩ rồi phải ngỡ ngàng mà ngại ngùng thú nhận rằng... kẻ hậu sinh quả là không đủ chữ để bình thơ của một khách tài hoa... quá đỗi. Chỉ biết xin thêm một lời để ngậm ngùi than thở “... Sao Người bỏ đi chi sớm để THƠ nay không còn được như THƠ xưa... *

Cao Vị Khanh

* ông NGUYÊN SA mất ngày 18 tháng 4 năm 1998 .
-TÁI BÚT

Thiệt ra cái chuyện ĐẸP-XẤU xưa nay vẫn là đầu mối tranh cải dài dài khó mà dung hòa cho được. Chuyện đó hoàn toàn tùy thuộc vào thẩm mỹ quan của từng cá nhân một. Thẩm mỹ quan lại tùy thuộc vào bản chất mà bản chất lại tùy thuộc vào... ông trời. Trời đã biểu vậy thì đành vậy. Có thể thêm thắt, sửa đổi chút đỉnh từ giáo dục, từ xã hội... Có điều thứ ảnh hưởng ngoại lai rồi cũng chỉ là những đắp đổi như lớp verni mỏng dánh, cũng khó mà thay đổi hẵn đường nét màu sắc nguyên thủy. Bởi vậy nói chuyện ĐẸP-XẤU y như ngồi-buồn-vọc-nước-giởn- trăng... Có điều không nói thì chẳng lẽ lại cứ... ngồi-buồn... Thôi thì nói vậy thì hay vậy, tới đâu hay tới đó. Mà rồi sẽ cũng chẳng... tới đâu !!!