Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2025

Lệ Tinh Phai - Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh - Hòa Âm: Đỗ Hải - Ca Sĩ: Quốc Duy


Sáng Tác: Nguyễn Thanh Cảnh
Hòa Âm: Đỗ Hải
Ca Sĩ: Quốc Duy

Mẹ Ơi

 

Mẹ ơi…Mẹ ơi con chỉ muốn về
Thăm ngôi trường cũ thăm quê hương mình
Thăm đồng lúa chín đẹp xinh
Nhìn đàn cò trắng đậm tình Quê Hương.
Mẹ ơi cây trái đầy vườn
Có dòng sông nhỏ tình thương ngọt ngào
Bầu trời thơ ấu diều cao
Và dòng sữa mẹ đi vào đời con.
Mẹ ơi ngày ấy không còn
Từ khi cách biệt nước non nghìn trùng
Nỗi buồn xao xuyến nhớ nhung
Đêm buông giọt lệ đếm cùng thời gian.
Mẹ ơi mấy độ trăng vàng
Buồn trông theo gió con mang trong lòng
Quê nhà chắc vẫn đợi mong
Đón con viễn xứ trong vòng tay yêu.

Tạ Quang Tuấn
(Viết xong ngày 4 tháng 10 năm 2021)

Gió Thu Buồn

  

Gió ở bên trời mới thổi qua
Khiến hồn phiêu lãng mãi bay xa
Bâng khuâng gợi lại trong tình nhớ
Đẹp mãi thiên thu mãi mặn mà.

Bỗng dưng em đến tình Thu nở
Níu cả hồn tôi vào ước mơ
Tôi sợ lòng mình vương vấn lại
Biến kiêu sa thành thật ơ hờ.

Sao em cứ mãi làm ngăn cách
Để lỡ hồng nhan lỡ đợi chờ
Sợ tới Thu tàn Đông lại đến
Mỗi ngày tình đẹp mỗi phôi pha.

Tự nhiên tình đắm vào ngây dại
Không biết lòng ai cứ ngẩn ngơ
Nghe gió Thu vàng bay nhẹ nhẹ
Mà tình tha thiết vẫn như thơ.

Maryland, Thu 2025
Đăng Nguyên

Opera Sydney Và Vầng Trăng Máu Trong Đêm Nguyệt Thực Toàn Phần


Bức ảnh kỳ vĩ này ghi lại thời khắc trăng máu vươn lên phía sau Nhà hát Opera Sydney trong đêm nguyệt thực toàn phần, được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia Ethan Callaghan. Ánh đỏ rực như lửa của mặt trăng phủ trùm bầu trời, soi xuống làn nước lấp lánh, khiến công trình kiến trúc biểu tượng của nước Úc hóa thành một vũ đài siêu thực, nơi thiên nhiên và con người cùng tạo nên bản giao hưởng ánh sáng.

Để đạt được khoảnh khắc này, Callaghan đã áp dụng kỹ thuật telephoto compression, đứng ở khoảng cách xa và dùng ống kính dài tiêu cự 300–600mm. Nhờ đó, mặt trăng vốn nhỏ bé trong tầm nhìn bình thường được kéo lại gần, hiện ra khổng lồ ngay phía sau Nhà hát Opera, tạo nên hiệu ứng thị giác ngoạn mục. Bức ảnh không chỉ là kết quả của kỹ năng nhiếp ảnh, mà còn là sự kết hợp của tính toán tỉ mỉ, thời gian chính xác và sự nhẫn nại chờ đợi khoảnh khắc hiếm hoi.

Nguyệt thực toàn phần biến mặt trăng thành một quả cầu đỏ thẫm bởi ánh sáng Mặt Trời bị khúc xạ qua tầng khí quyển Trái Đất. Hiện tượng “Blood Moon” từ lâu đã đi vào thần thoại và văn hóa nhân loại như một điềm báo huyền bí, gợi cảm giác vừa thiêng liêng vừa bí ẩn. Khi mặt trăng ấy trùng khớp với một công trình kiến trúc mang tính toàn cầu, cảnh tượng trở thành sự giao hòa tuyệt đối: thiên văn, nghệ thuật và niềm tin con người gặp gỡ trong cùng một khoảnh khắc.

(Nguyễn Tuấn - Sưu Tầm)

Vũng Nước Nhỏ Và Đàn Nòng Nọc










K ể từ ngày chuyển sang căn nhà mới, cứ hai tuần một lần, vợ chồng chúng tôi lại quay về căn nhà cũ, nơi từng là tổ ấm suốt mười sáu năm, để dọn dẹp vườn tược trong lúc chờ người mua. Dù không còn sống ở đó, chúng tôi vẫn muốn giữ cho nơi ấy sạch sẽ, tươm tất.

Thế rồi ba tuần lặng lẽ trôi qua, chúng tôi không có dịp quay lại nhà cũ. Mọi thời gian đều bị cuốn vào guồng quay chuẩn bị cho năm học mới. Con gái sắp bước vào trung học, con trai lớn thu xếp hành lý lên đường nhập học đại học. Tôi thì tất bật soạn giáo án để chuẩn bị dạy tiếng Việt cho các em nhỏ tại trường Việt Ngữ Huệ Quang. Chúng tôi bận rộn đến mức gần như quên mất khu vườn cũ, nơi mà cỏ dại đang lặng lẽ phủ đầy, và sự sống nhỏ bé đang chờ một bàn tay chăm sóc.

Sáng thứ Bảy, khi ánh nắng đầu ngày vừa dịu dàng trải xuống mặt sân, hai vợ chồng tôi chất máy cắt cỏ lên thùng xe bán tải, rồi quay trở lại căn nhà xưa. Sau ba tuần không ngó ngàng, cỏ dại đã vươn cao gần tới đầu gối, len lỏi phủ kín cả lối đi. Hai hồ nước trong vườn; hồ sen ở phía sau và hồ súng nằm phía trước, gần garage, đều đã khô cạn, đáy hiện rõ những vết nứt loang lổ do nắng hạn kéo dài.

Vậy mà giữa lòng hồ súng khô cạn ấy, vẫn còn sót lại một vũng nước nhỏ, bám trụ yếu ớt giữa lớp bùn lầy nứt nẻ, mong manh như hơi thở cuối cùng của khu vườn từng một thời rộn ràng sức sống. Những vết đất khô loang lổ trông như da thịt của một sinh thể đang hấp hối giữa mùa nắng hạn. Tôi cúi xuống, và chợt sững người.

Một đàn nòng nọc đen nhánh, bé xíu như những dấu chấm sống động, đang chen chúc nhau bơi lội trong lớp nước cạn. Chúng quẫy đuôi liên tục, vùng vẫy chật vật trong không gian tù túng, cố ngoi lên mặt nước để thở. Cảnh tượng ấy khiến tim tôi thắt lại. Những sinh linh nhỏ bé ấy đang giành giật từng chút nước cuối cùng để sống sót,như thể đang cố nói điều gì đó bằng chính hơi thở cuối cùng của mình.

Chỉ cần vài ngày nữa thôi, nếu trời không mưa, nếu chúng tôi không kịp quay lại, thì mặt hồ này sẽ hoàn toàn khô cạn. Và cả đàn nòng nọc sẽ chết khô trong lặng lẽ như một lời từ biệt buồn bã giữa cái nắng gắt gao của mùa hè.
Tôi quay sang vợ, khẽ giục, lòng nóng như lửa đốt:
— Mình cắt cỏ nhanh rồi về lấy xô, lấy nước đổ vào hồ. Không thì tụi nó tiêu mất.

Không cần thêm lời nào nữa, cả hai chúng tôi bắt tay vào việc. Máy cắt cỏ gầm lên, bụi đất bốc mù. Cỏ dại được cắt gọn, cây cối được tỉa tót lại. Chỉ hơn một giờ sau, khu vườn cũ như được hồi sinh. Nhưng trong lòng tôi, vẫn canh cánh một nỗi lo: liệu đàn nòng nọc ấy có kịp chờ thêm một lúc nữa?

Chúng tôi quay lại nhà mới. Vợ tôi vội đi chợ mua giá, bò viên, gân bò... nấu phở, món khoái khẩu của con trai. Hôm nay cu cậu từ đại học JMU về thăm nhà sau hai tuần xa nhà. Còn tôi, chẳng chần chừ, chạy ngay ra garage, lấy ống nước và hai cái xô lớn, rồi quay trở lại căn nhà cũ một mình.

Mặt trời đã lên cao, nắng gay gắt, nhưng tôi chẳng thấy mệt. Từng xô nước được hứng đầy từ vòi, rồi mang ra đổ xuống lòng hồ. Một lần, rồi hai lần, rồi... tám lần… Cho đến khi mặt nước trong hồ ánh lên những tia lấp lánh đầu tiên, phản chiếu bầu trời trong xanh và giọt mồ hôi của tôi rơi xuống.

Bầy nòng nọc như được đánh thức. Chúng lập tức tản ra, bơi tung tăng trong làn nước mới. Không còn chen chúc, không còn vùng vẫy trong tuyệt vọng. Chúng nhẹ nhàng lướt đi như thể đang mỉm cười cảm ơn người vừa cho chúng thêm một cơ hội sống. Tôi đứng nhìn mà lòng vui lạ, một niềm vui rất đỗi bình dị nhưng trọn vẹn.
Trong khoảnh khắc ấy, một ký ức xa xôi chợt ùa về, mơn man trong trí óc tôi như một thước phim mờ nhòe.

Thuở nhỏ, tôi và các anh em từng mê mẩn việc nuôi cá. Nhưng nhà nghèo, chẳng ai có tiền để mua cá kiểng. Vậy là tụi tôi rủ nhau ra suối bắt cá về nuôi. Mỗi đứa một cái rổ nhựa, chạy dọc theo con suối nhỏ sau làng. Nhưng cá suối thì nhanh lắm, rổ chưa kịp úp xuống là chúng đã lẩn mất vào khe đá. Sau cả buổi mồ hôi nhễ nhại, thành quả chỉ là vài con nòng nọc bé tí teo.

Thế là chúng tôi đành nuôi nòng nọc thay cho cá cảnh. Chúng tôi thả chúng vào chậu nước, ngày ngày cho ăn, quan sát từng chuyển biến nhỏ: chúng lớn dần, mọc chân, rồi rụng đuôi. Và một sáng nào đó, khi vừa thức dậy, tất cả đã hóa ếch, và nhảy khỏi chậu nước ra đi. Chúng tôi ngẩn người, hụt hẫng, tiếc nuối … nhưng trong lòng vẫn có một cảm giác ấm áp lạ thường. Bởi chính tay chúng tôi đã chăm sóc cho sự sống ấy, đã đồng hành cùng chúng trên hành trình hóa thân đầu tiên.

Hôm nay, khi nhìn đàn nòng nọc bơi lội trong hồ nước được đổ đầy lại, tôi chợt thấy mình như đang sống lại tuổi thơ. Mọi cảm xúc, những vui buồn cũ kỹ, bỗng trở nên rõ ràng như vừa mới hôm qua. Trong nhịp sống vội vã, đôi khi chỉ cần một hành động nhỏ như, xách vài xô nước cứu một đàn nòng nọc, cũng đủ để khiến lòng người ấm lên, khiến những điều tưởng như đã mất đi trong đời sống hiện đại được khơi dậy.

Tôi biết mình không thể giữ đàn nòng nọc ấy mãi, cũng như năm xưa không thể giữ con nòng nọc nhỏ trong chiếc chậu sứ cũ kỹ. Nhưng tôi có thể trao cho chúng một cơ hội để tiếp tục lớn lên, để hóa thân, để trở thành tiếng kêu giữa đêm mưa hay tiếng gọi giữa đêm khuya thanh vắng.

Và có lẽ, trong cái vũng nước nhỏ bé ấy, không chỉ có sự sống được hồi sinh, mà còn có cả một phần ký ức của tôi, một phần tuổi thơ mà tôi tưởng chừng đã để lại rất xa phía sau, đang lặng lẽ trở về, lấp lánh dưới ánh mặt trời của một buổi trưa cuối hè.

Richmond, VA - cuối tháng 8, 2025
Y Thy Võ Phú

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2025

Niềm Nhớ Trên Sóng Nước - Nhạc & lời Nguyên Bích - Hòa Âm: - Ca Sĩ: Quốc Phú


Nhạc & lời Nguyên Bích
Hòa Âm:
Ca Sĩ: Quốc Phú

Vào Thu

 

Ngoài trời tháng Bảy Mưa Ngâu 
Giọt vương trên lá, giọt sầu rơi hoang 
Hoàng hôn che bóng chiều tàn 
Tiếng thu lay nhẹ buồn tan tác buồn! 

Yên Dạ Thảo 
Mùng 7 tháng 7 năm 2025

Hoa Thu


Hoa nép vào hoa trong nắng thu
Cùng nhau tỏa sau đuổi mây mù
Trời tháng chín chỉ se se lạnh
Hanh hanh đủ để má ửng hồng

Phố vẫn tưng bừng chào nắng trong
Gió đưa lá hát khúc nhạc lòng
Đổi màu vàng đỏ theo cung bậc
Xao xuyến tâm tư cũng phiêu bồng

Trúc Lan

Phế Địa 廢 地 - Trần Văn Lương 陳 文 良

  

Dạo: 

 Quê nhà giờ đã tan hoang,
Còn đâu chỗ để phượng hoàng dừng chân.

Cóc cuối tuần:

廢 地
(懷念永亡的故土)

春 風 久 渡 江,
祖 廟 早 成 荒.
獄 室 肝 腸 折,
家 鄉 血 淚 滂.
泥 中 蟠 赤 子,
殿 裏 據 豺 狼.
搬 撤 梧 桐 樹,
焉 能 住 鳳 凰.
陳 文 良

Phế Địa

(Hoài niệm vĩnh vong đích cố thổ)

Xuân phong cửu độ giang,
Tổ miếu tảo thành hoang.
Ngục thất, can tràng chiết,
Gia hương, huyết lệ bàng.
Nê trung bàn xích tử,
Điện lý cứ sài lang.
Ban triệt ngô đồng thụ,
Yên năng trụ phụng hoàng.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Đất Bị Bỏ Hoang

(Để nhớ về một quê cũ đã vĩnh viễn mất đi)

Gió Xuân đã (bỏ đi) qua sông từ lâu,
Đền thờ Tổ đã thành hoang phế.
(Chốn) ngục tù, ruột gan tan nát.
(Ngay) quê nhà, nước mắt máu tràn đầy.
Trong bùn lầy, bách tính nằm co quắp,
Trong cung điện, lũ sài lang chiếm cứ.
Cây ngô đồng đã bị mang bỏ hết đi chỗ khác,
Làm sao chim phượng hoàng có thể đến ở. (*)

Ghi chú:
(*) Cây ngô đồng và chim phượng:
1. - Trang tử Nam Hoa Kinh, thiên Thu Thủy:
"夫鵷鶵,發於南海而飛於北海,非梧桐不止,
非練實不食,非醴泉不飲."
Âm:
Phù uyên sồ, phát ư nam hải nhi phi ư bắc hải,
phi ngô đồng bất chỉ, phi luyện thực bất thực,
phi lễ tuyền bất ẩm.
Nghĩa:
Cho nên Uyên Sồ (một tên khác của chim phượng)
đi từ biển Nam tới biển Bắc, không phải cây ngô đồng
thì không đậu, không phải hạt luyện (bamboo fruit hay
bamboo rice) thì không ăn, không phải suối ngọt thì không uống.

2.- Ngụy Thư, Bành Thành Vương Hiệp Truyện (魏書,彭城王勰傳):
"鳳凰非梧桐不棲"
Âm:
Phượng Hoàng phi ngô đồng bất thê.
Nghĩa:
Chim phượng hoàng không phải ngô đồng thì không đậu

Phỏng dịch thơ:

Mảnh Đất Bỏ Hoang

(Nhớ về một quê hương đã mất)

Gió Xuân đã bỏ làng,
Xã tắc cũng tan hoang.
Ngục thất, can tràng nẫu,
Gông cùm, máu lệ loang.
Điêu tàn thân bách tính,
Rủng rỉnh túi sài lang.
Vắng bóng tàng cây đợi,
Về đâu hỡi phượng hoàng?

Trần Văn Lương
Madeira,Portugal, 9/2025

Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Than ôi!
Giang san cẩm tú cha ông để lại đã và đang bị tàn phá tan hoang. Nền văn hóa, luân lý, đạo đức của con người cũng không còn nữa.
Chim phượng hoàng dù có muốn ghé qua cũng chẳng tìm đâu ra cây ngô đồng để đậu.
Hỡi ơi!

***

Đất Hoang

(Để nhớ về quê cũ đã mất)

Gió xuân thôi qua sông.
Đền thờ Tổ bỏ hoang.
Ngục tù lòng tan nát.
Quê hương lệ máu tràn.
Bùn đất vùi trăm họ.
Cung điện dậy sài lang.
Cây ngô đồng tróc gốc.
Tìm đâu tổ phượng hoàng?


Mùi Quý Bồng
(Phóng tác)
09/11/2025
***
Đất Hoang

(Nhớ về quê hương đã mất)

Gió xuân bỏ xa phương
Đền Tổ lắm đoạn trường
Ngục tù tâm nhừ nát
Lệ máu nhuộm quê hương
Bùn lầy dìm trăm họ
Cung điện giặc nhiễu nhương
Cây ngô đồng gục ngã
Phượng Hoàng biết đâu nương?


Kim Oanh
 
(Phỏng Dịch)
Melb. 18.9.2025

Say

 

Mưa gió thôi đừng đến nơi đây
Rượu nào cho đủ nghĩa đắng cay
Ai mê ai tỉnh sầu nhân thế
Mây trắng mây xanh cũng đọa đày

Người đẹp nghìn xưa nhẹ bước về
Kinh thi tình sử vẫn đam mê
Mộng đầu mộng cuối đêm hoang lạnh
Chân thấp chân cao kiếp não nề

Có phải ban ngày hay ban đêm
Biết ai người lạ ai người quen
Áo bay hay lá bay thu muộn
Một chút trăng xưa rụng trước thềm

Tri kỷ tri âm đã mất rồi
Còn đây ly rượu đắng chia phôi
Chim trời cá nước đêm mờ mịt
Giọng nói giọng cười đã xa xôi

Tiếng hát liêu trai thuở học trò
Chỉ còn phố nhỏ nhớ mưa to
Đêm nay ai nhớ nơi hò hẹn
Hồn gưỉ gió mây bến nhớ đò

Tuồng hát cũ rồi nhưng vẫn hay
Tay buồn tay nhớ thương bàn tay
Mỗi chiều chờ đợi mà không gặp
Áo trắng bay đầy trong mắt cay

Vì nghèo nên vẫn thích mộng mơ
Tỉnh quá nên hay muốn giả vờ
Say rượu để quên đời đen bạc
Nhưng không quên được nỗi bơ vơ

Giông bão tràn ly tay rụng rời
Mây bay gió cuốn lá hoa trôi
Nghìn trùng sóng biển xa mờ mịt
Mấy kiếp rong rêu một cảnh đời

Đã muộn quá rồi nẻo phù sinh
Thuyền sầu tan rã lối vô tình
Ai say ai tỉnh ai thương tiếc
Một cánh chim bay mỏi mắt nhìn

Rượu đã hết rồi ly vỡ tan
Người điên gào thét vỡ cung đàn
Đêm nào đom đóm bay đầy ngõ
Trời đất quay cuồng tiếng khóc than

Người xưa say chết ôm vầng trăng
Hồn có theo tiên đến cung hằng
Hay vẫn bơ vơ sầu vạn cổ
Nghìn sau hương rượu có còn chăng

Người bỏ ta rồi ta cần say
Bao nhiêu rượu quí dành cho ai
Tiễn đưa là chết mà không biết
Lá rụng bơ vơ lạnh dấu giày

Áo hồng áo tím áo thiên thanh
Còn áo trắng sao chẳng để dành
Cố ngược thời gian vào lớp cũ
Trường xưa ngơ ngác dấu rêu xanh

Giông bão nghìn xưa chuyển lạnh về
Đường làng nước ngập bước chân quê
Bờ tre già cháy khô cành lá
Cánh én bơ vơ lỗi hẹn thề

Người đã đi rồi tim nát tan
Mà lòng vẫn lạnh mắt hoang mang
Muốn say mà vẫn không say được
Sao rụng sương sa lệ bỗng tràn

Đốm lửa đêm đông le loi chi
Đau lòng thì cũng phải biệt ly
Trần gian có lối nào còn sáng
Thôi để dành cho kẻ khác đi

Trăng sao hò hẹn chỉ dở dang
Ai đi tìm mãi một cung đàn
Dây đã đứt rồi đàn đã vỡ
Từ ngày lưu lạc kiếp lang thang

Chữ nghĩa cạn rồi thơ hết rồi
Nghìn sau ngơ ngác lá hoa trôi
Ngọn nguồn vô tận lòng vô tận
Thân xác còn đâu để tiếc đời

Bỏ rượu bỏ thơ bỏ cuộc đời
Mặc ai thương tiếc mặc ai cười
Con đường thiên cổ mây theo gió
Chỉ thấy hoang vu chẳng thấy người…

MD 03/06/02
LuânTâm

(Trích trong Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh, Cơ Sở Hoài Bão Quê Hương xb ,CA , USA . 2005, trang 135-138)

 



Lấy Chồng Xa


Chim đa đa đậu cành đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Giờ đây cách trở quan hà
Trông về cố xứ, lụy sa hai hàng

Quê nội tôi là một làng nhỏ ở một vùng quê hẻo lánh ở miền Bắc, làng La Khê thuộc tỉnh Quảng Yên. Ông nội tôi làm nghề bốc thuốc và dạy chữ nho cho vài mươi đứa trẻ ở trong làng. Gặp buổi giao thời, những người học trò học chữ Hán lần lượt thôi hết để đổi qua học chữ Pháp, ông tôi chỉ còn nghề bốc thuốc, một cái nghề nhân đạo nhưng thâu nhập chẳng có là bao. Lợi tức chính của gia đình trông vào cửa tiệm tạp hoá do bà nội tôi phụ trách

Ông tôi có một đời vợ trước sinh được một trai là bác Cả. Khi bác Cả được sáu tuổi thì bà nội lớn bị chết trong một trận dịch tả. Ba năm sau, khi hết tang, ông tôi mới cưới bà nội tôi, lúc đó ông mới ngoài ba mươi, còn bà nội tôi thì đã băm sáu. Cha tôi tên Phúc ra đời hai năm sau đó, tiếp theo đến chú Đức kém cha tôi ba tuổi và cô Liên kém chú Đức hai tuổi, sau đó bà thôi không sanh nữa.

Tuy là anh em một nhà, nhưng vì tuổi tác chênh lệch quá xa, nên bác Cả sống gần như tách biệt với ba người em khác mẹ. Thuở nhỏ, cha tôi chơi thân với chú Đức, cho dù tính tình hai người hoàn toàn trái ngược, cha tôi củ mỉ, hiền lành, còn chú Đức năng nổ, hiếu động, cả hai chỉ giống nhau ở một điểm là lười học. Lúc nhỏ, chú Đức rất nghịch ngợm, năm lên chín tuổi, chú leo trèo thế nào mà bị té từ trên cây xuống, gãy chân. Dạo đó vào khoảng năm 1940, ở làng quê làm gì có nhà thương, một thày lang được mời đến, thế rồi chỉ với một nắm lá dấu, ông ta dùng mo cau và hai thanh tre làm nẹp để bó chân chú lại. Sau mấy tháng, vết thương cũng lành, nhưng chân chú thành tật, cứng đơ và phía dưới chỗ gẫy, thịt bị teo lại. Điều đó không là một trở ngại vì chú vẫn đi đứng như người bình thường, chỉ hơi khập khễnh, trời bù lại cho chú có một gương mặt rất sáng sủa, đẹp trai.

Chú Đức thích gảy đàn, thổi sáo, còn cha tôi thì mê vẽ, đi học về, ông chúi mũi vào một xó để ngồi vẽ. Chẳng ai chỉ bảo, nhưng tự nhiên ông có thiên khiếu về nghành họa, chỉ với một mẩu bút than, ông đã tạo ra nhiều bức tranh tuyệt đẹp, làm ngạc nhiên cả những người lớn. Nhưng ông nội tôi lại cau mặt, không bằng lòng và tìm cách ngăn cản, ông nói không muốn con mình lớn lên sẽ làm cái nghề bạc bẽo ấy. Kể ra ông cũng có lý, xã hội thời bấy giờ không trọng dụng nghệ sĩ, người ta mải lo kiếm sống, ít ai chú trọng đến nghệ thuật. Đa số những hoạ sĩ thời đó đều nghèo túng, có người cơm ăn không đủ no, chẳng ai có thể làm giàu nhờ nét cọ của mình. Vì lẽ đó, ông nội cấm cha tôi vẽ, mỗi khi bắt gặp, ông thường đánh cha tôi rất đau và xé nát hết các bức vẽ, để cha tôi bỏ ý định điên rồ là sau này sẽ trở thành hoạ sĩ.

Mặc dù bị cấm đoán, nhưng cha tôi vẫn không thể nào dẹp bỏ hết những đam mê. Hết trốn trên cái gác xép nóng như lò lửa để vẽ trộm, ông lại thức rất khuya, chờ lúc mọi người đi ngủ cả để được tự do sáng tác. Dụng cụ để vẽ của ông không có gì ngoài mấy hộp màu, vài cây bút lông và một xấp giấy vẽ mà ông đã nhịn tiền quà để mua. Khi lớn lên chút nữa, để thoát khỏi tầm mắt canh chừng của ông nội, cha tôi thường qua nhà bạn ở nhờ, nói dối là để học bài, có khi ông ở nhà bạn cả mấy ngày.

Vì đam mê thú nghệ sĩ, nên cả cha tôi và chú Đức đều chểnh mảng trong việc học, lệt bệt mãi vẫn mà vẫn còn quanh quẩn trong những lớp ở trường làng. Trong khi đó, bác Cả học rất giỏi, bác thi đậu vào trường Bưởi và được ra Hà Nội học, bác ở nội trú ngay trong trường. Đậu xong bằng tú tài, bác ra làm thông phán toà sứ và cưới người con gái bác yêu, một cô thiếu nữ tân thời, răng trắng, người Hà Nội. Ông nội tôi lúc đầu phản đối, nhưng sau đành nhượng bộ, ông vốn nể người con trưởng có địa vị làm rạng danh cho gia đình. Bác Cả là người có đầu óc tân tiến, theo mới và là một trong những người đi tiên phuông trong phong trào tự do luyến ái, ảnh hưởng rất nhiều đến cha tôi và chú Đức sau này. Tiếc thay, cuộc hôn nhân hạnh phúc của bác chỉ kéo dài được có bốn năm, khi bác gái sanh con đầu lòng, cả hai mẹ con đều chết vì sanh khó, đứa bé chết vì ngộp thở, còn người mẹ chết vì băng huyết. Hai cái tang đau đớn đó làm đảo lộn cả cuộc sống đang êm đềm của bác Cả, bác buồn lòng bỏ đi xa và nhất quyết không cưới vợ khác. Bác ra Hải Phòng học nghề lái tàu, rồi dốc hết vốn liếng dành dụm ra mua một cái tàu nhỏ, đi đây đi đó cho khuây khoả.

Thoạt đầu, bác chỉ có ý định tiêu khiển cho qua ngày giờ, nhưng mãi cũng chán, thêm nữa tiền bạc cạn dần, bác nghĩ ra cách làm ăn với chính cái tàu của mình. Bác học nghề lưới cá, với bản chất thông minh, lanh lẹ và với sức vóc khoẻ mạnh, chẳng mấy chốc bác trở thành một người đánh cá giỏi nhất vùng. Tiền bán cá thâu được khá nhiều, bác lại dành dụm mua thêm một cái ghe nữa, thuê người làm phụ. Rồi cứ đà tiến lên, bác sắm thêm nhiều ghe khác, thuê thêm nhiều người, và trở thành ông chủ. Chẳng mấy chốc, đoàn ghe của bác đã lên tới vài chục cái, nhưng toàn là ghe nhỏ, đánh cá dọc theo ven bờ nên chẳng được nhiều. Bác nghĩ ra cách làm ăn lớn nên liều bán hết, gom cả vốn liếng ra đóng một cái tàu lớn, trang bị đầy đủ những dụng cụ, máy móc hiện đại để có thể ra khơi đánh cá ở ngoài xa. Con tàu Trường Hải của bác trông đồ sộ chẳng kém những tàu đánh cá của người ngoại quốc, mỗi lần ra khơi luới được cả mấy tấn cá. Ngoài việc bán xỉ cho các bạn hàng chở đi các tỉnh lân cận, số cá còn lại được các hãng nước mắm mua hết, nên bác không gặp khó khăn gì trong việc tiêu thụ số cá đánh được. Công việc làm ăn phất, bác trở nên giàu có và vẫn cấp dưỡng tiền bạc để nuôi cả nhà.

Cha tôi và chú Đức học hành không mấy khá, thi mãi không đậu nổi cái bằng thành chung. Thấy con đường học vấn sao mà gập ghềnh khó đi, hai người quyết định rời ghế nhà trường, ra đi lập nghiệp, mỗi người đi theo con đường riêng của mình. Chú Đức đi theo gánh hát, làm nghề đờn ca. Cha tôi bỏ vô Nam, ông cương quyết đi xa để tránh cuộc hôn nhân do gia đình sắp xếp, buộc ông phải lấy một người con gái đảm đang nhưng quê mùa.

Vô Sài Gòn, cha tôi làm đủ mọi nghề để kiếm sống, tuy vất vả nhưng ông đã đạt được mục đích là được nhận vào trường Mỹ Thuật, theo học ngành hội hoạ ông vẫn hằng mơ ước. Chẳng mấy chốc, ông trở thành một hoạ sĩ giỏi, sau khi tốt nghiệp, ông được mời dạy luôn ở trong trường.
Trong thời gian này, ông gặp mẹ tôi, một thiếu nữ người miền Nam xinh đẹp, hiền lành, vì mê tài ông nên bằng lòng làm vợ một người hoạ sĩ nghèo, chưa có tên tuổi, sự nghiệp. Một đám cưới nho nhỏ diễn ra trong vòng thân mật của bạn bè và những người trong gia đình đàng gái. Ông bà ngoại lúc đầu không muốn gả con cho chàng trai khác xứ, nhưng sau vì thương con nên ép lòng cho cử hành hôn lễ mà trong lòng cứ lo lắng, không vui. Sau đám cưới, cha đưa mẹ lên Sài Gòn, thuê nhà ngay cạnh trường vẽ, ngày ngày đi dạy học, mẹ bán xôi chè để phụ thêm, cuộc sống tuy nghèo nhưng hạnh phúc. Tôi ra đời hai năm sau đó.

Năm tôi lên bốn tuổi, được tin ông nội mất, cha tôi đưa vợ con về chịu tang. Nhân dịp này, bà nội yêu cầu cha đừng đi xa nữa. Nhà lúc này neo người, không còn bóng dáng đàn ông, cô Liên vẫn chưa có chồng, bác Cả ở xa, chú Đức đi biền biệt không về, bà nội không được khoẻ, nay đau mai yếu… Thương mẹ già tóc bạc phơ, không biết sống chết lúc nào, cha tôi quyết định ở lại. Mẹ rất buồn vì phải xa quê, nhưng không phản đối, bà vốn là một người đàn bà hiền lành, chỉ biết tuân lệnh chồng. Quyết định này làm đảo lộn đời cha, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của hai mẹ con tôi sau này.
Bây giờ nói đến những ngày đầu về quê nội. Vì bác Cả không có con, tôi là đứa cháu nội duy nhất nối dòng, nên được cả nhà cưng chiều. Nhưng với mẹ tôi thì trái lại, bà không được xem như người ở trong gia đình. Mọi người đều nhìn mẹ tôi bằng những cặp mắt đố kỵ, soi mói, một phần là vì mẹ tôi gốc người miền Nam, phong tục tập quán, ngôn ngữ đều có hơi khác biệt. Nhưng nguyên do chính là vì họ coi thường cha tôi, bao năm bỏ xứ ra đi, giờ này trở về vẫn với hai bàn tay trắng.

Những ngày tiếp theo cha tôi vẫn theo đuổi nghiệp vẽ, nhưng ở cái làng quê hẻo lánh này, thật khó mà sống bằng những nét cọ của mình. Cha tôi cũng không thể kiếm ra việc làm, nên mọi việc chi tiêu trong gia đình đều phải trông vào cửa tiệm tạp hoá và tiền cấp dưỡng của các Cả. Bác lúc này giầu có lớn, tiền bạc dư dả nên xài sang, rộng rãi với tất cả mọi người, khiến ai cũng nể, kể cả bà nội. Trong lúc đó, cha tôi đang lâm vào thế bí, muốn trở lại Sài Gòn cũng không còn đuờng, chỗ ông dạy khi xưa đã có người thay thế.

Cha buồn rầu, chán nản, mặc cảm không nuôi nổi vợ con khiến ông trở nên lầm lỳ, ít nói, cả ngày ông vác giá vẽ đi đâu mất biệt, đến chiều mới về. Cha rút trong thế giới riêng của ông, để mặc mẹ lạc lõng bơ vơ giữa đám người xa lạ, tôi có cảm tưởng như chính ông cũng biến thành một người xa lạ. Thật tội nghiệp cho mẹ, bà giống như người lữ hành đi trong sa mạc một mình, không có bạn đồng hành. Mẹ cố thu hình cho nhỏ nhoi để tránh những đụng chạm, nhưng vẫn không khỏi phải nghe những lời chì chiết, đay nghiến của mẹ và em chồng. Bà nội vẫn còn mát mẻ với cha tôi về việc cãi lời ông bà học nghề hoạ sĩ mà bà gọi một cách khinh miệt là thợ vẽ, bà còn nói bóng nói gió xa xôi đến việc cha tôi từ chối cuộc hôn nhân do gia đình sắp xếp, mà tự ý cưới về một người đàn bà lạ chủng, không rõ gốc gác, nói năng trọ trẹ không ai hiểu…

Chỉ có bác Cả là thông cảm, mỗi lần về thăm nhà, nghe tiếng eo sèo, bác thường hay can gián bà nội:
- Thời buổi này, người ta tự do luyến ái, đâu còn như xưa? yêu ai thì cưới người đó mới là đúng lý. Chú thím Phúc đã có con với nhau rồi, thôi đừng bàn ra tán vào nữa, chẳng ích lợi gì.
Mẹ nghe thế thì cảm động, thường nhìn bác với cặp mắt biết ơn. Bác Cả ít khi về, nhưng ở trong nhà vẫn dành cho bác một phòng riêng. Căn phòng này vẫn để trống kể cả những lúc bác không có mặt, mẹ tôi thường phải vào để dọn dẹp, lau chùi. Hai mẹ con đứng ngẩn ngơ ngắm những đồ vật lạ mắt, hiếm thấy ở thôn quê thời đó: một bộ máy quay đĩa chạy bằng pin, có cái loa chạm trổ bằng đồng sáng loáng, những chồng đĩa hát bằng nhựa đen, hình tròn to bằng cái quạt mo, bìa in hình ông tây, bà đầm, những cái đồng hồ to nhỏ, đủ loại, phát ra những tiếng chim hót hoặc tiếng nhạc mỗi khi đổi giờ, những bức tuợng bằng đồng đen hoặc ngà voi, và đặc biệt hơn cả là một cái hộp gì hình chữ nhật, khi vặn lên có tiếng người nói hoặc hát, sau này tôi mới biết đó là cái radio. Toàn là những đồ quí bác mua từ Hà Nội hoặc mua lại của các thủy thủ tàu buôn.

Bác Cả thích căn phòng này lắm, mỗi khi về thường nghỉ ngơi ở trong đó, không ai được vào, kể cả bà nội. Một lần cô Liên lén vào lục lọi mấy cái đĩa hát, bị bác bắt được, mắng cho một trận nên thân, từ đó cô cạch, không dám bén mảng. Riêng đối với tôi, bác tỏ ra dễ dãi, bác thường gọi tôi vào phòng riêng để hỏi han:
- Ở nhà, mẹ cháu có bị mọi người bắt nạt không?
Tôi do dự một lúc rồi mới đáp:
- Thưa bác không ạ!
- Thế sao cháu lại ngập ngừng? Bác mỉm cười, sợ ai mà phải nói dối? Cứ cho bác biết sự thực đi! bác còn lạ gì bà nội với cô Liên…
- Cháu không biết phải nói thế nào, nhưng thiệt ra thì cháu chẳng thấy má cháu cãi nhau với ai bao giờ.
Kể ra thì tôi nói cũng không sai sự thật, mẹ im như thóc suốt ngày thì làm gì có chuyện cãi cọ? mẹ nhẫn nhục, chịu đựng, mở miệng ra chỉ để dạ thưa, vâng lời. Bà nội ít khi to tiếng, chỉ nhắc khéo mẹ những câu đại khái như:
- Tùy mợ coi sóc nhà cửa trong ngoài, sao cho người ta nhìn vào là biết ngay tôi có con dâu đảm hay đoảng.
Hoặc những câu mỉa mai:
- Thôi mợ đi nghỉ đi kẻo cậu ấy lại xót ruột. Còn nồi cám lợn chưa nấu, nhưng để tôi bảo con Liên làm cho, nó mà nhúng tay vào thì chỉ một loáng là xong, đợi mợ có mà lợn đến chết đói.

Mẹ tôi làm quần quật suốt ngày từ sáng đến tối như một người đầy tớ không lương. Có lần nhìn hai bàn tay mẹ nứt nẻ, cha xót xa thở dài, nhưng mẹ mỉm cười:
- Coi như bù vào phí tổn ăn ở của mẹ con em, vì mình đâu có kiếm ra tiền…
Thật ra chỉ là câu nói vô tình, nhưng lại làm cha đau lòng, nghe thấy thế, ông cúi gằm đầu, lặng lẽ bỏ đi chỗ khác, từ đó ông tìm cách lánh mặt mẹ.
Cô Liên vì mặc cảm ế chồng nên hay ghen với mẹ, cô thường chì chiết:
- Cha mẹ tôi chưa hề cầm trầu cau đi hỏi chị, vậy mà chị vẫn được vào làm dâu nhà này, thế là chị may mắn lắm. Gặp mẹ tôi dễ dãi, chứ người khác ấy à? họ thì tống cổ chị ra đường từ lâu rồi, cái thứ đàn bà gì mà không rõ gốc gác, gia thế, chẳng đợi nhà chồng cưới xin, đã xách gói theo trai. Anh tôi chắc bị bùa mê, thuốc lú nên mù quáng, thiếu gì nhà giàu gọi gả con, thế mà không chịu, lại đi ưng chị, đúng là chị tốt số…
Mẹ tôi không trả lời, tính bà vốn hiền lành, nhẫn nhịn. Trong suốt bẩy, tám năm sống trong gia đình nhà chồng, mẹ chịu bao nhiêu điều tủi cực, chẳng bao giờ thấy bà than van, nhưng nhìn ánh mắt u ẩn của mẹ, tôi biết bà rất buồn.

Còn cha tôi, tôi phải nói sao về ông đây? Đúng ra cha tôi là một người tốt, thương yêu vợ con, ông cũng là một hoạ sĩ có tài, nhưng sinh không nhằm thời, ở không đúng chỗ. Ở nhà quê, người ta chỉ thích những tranh lợn, gà, mấy ai hiểu được giá trị của những bức tranh nghệ thuật, thậm chí những bức vẽ khoả thân còn bị chê là nhảm nhí. Tranh ông vẽ không bán được bức nào, để chất đống trong nhà kho, làm bạn với những đồ vật cũ, cùng chung số phận bỏ thì thương, vương thì tội, tất cả đều phủ một lớp bụi mờ. Cha thất chí, nhưng âm thầm chịu đựng, không than thở cùng ai, cả với vợ con cũng vậy, giữa cha mẹ hình như đã có một lớp sương mù ngăn cách. Tôi không hiểu vì sao cha hay dấu giếm những ẩn ức mà đáng lẽ nếu chia xẻ với mẹ, có lẽ ông sẽ vơi đi nhiều. Bác Cả là người từng trải, hiểu được tâm sự của mẹ nên thường tìm dịp để an ủi:
- Sông có khúc, người cũng có lúc, chú ấy chưa gặp vận nên chưa khá lên được. Nhưng nếu là người khôn thì phải biết thức thời, mặc dù có tài, nhưng nếu cái tài ấy không nuôi sống mình thì phải xoay qua nghề khác chứ, cứ khư khư ôm cái mộng hão huyền, chẳng thực tế chút nào. Sao thím không khuyên chú ấy?
- Nhà em có bàn với em đâu? Thật ra em cũng không hiểu nhà em đang toan tính những gì trong đầu, vợ chồng ít khi nói chuyện…

Tới đây, như chạm đến mối thương tâm, mẹ kéo vạt áo lên lau mắt, bác Cả nhẹ nhàng đặt tay lên vai mẹ an ủi:
- Thím đừng buồn, tôi rất thông cảm hoàn cảnh của thím, có chuyện gì cứ nói với tôi, tôi sẽ có cách giúp đỡ. À, thím cầm ít tiền để may sắm cho hai mẹ con, từ dạo về đây, chả thấy thím có được cái áo mới nào.
Mẹ lắc đầu, từ chối:
- Em không dám đâu, mẹ hoặc cô Liên biết được mắng em chết.
Bác Cả nghiêm ngay nét mặt:
- Tôi đưa tiền cho thím để sắm sửa cho cháu, ai dám nói gì nào? À, thằng Trung đã bẩy tuổi rồi, phải cho nó đến trường. Tương lai của nó, thím để tôi lo, tôi không có con, những gì của tôi, sau này sẽ là của nó…

Mẹ cảm động dơm dớm nước mắt, tôi cũng thấy bác rất tử tế, bác thường hay bênh vực mẹ tôi mỗi khi bà nội hoặc cô Liên eo sèo mắng nhiếc. Bác lại cho phép tôi chơi những đồ vật mà bác rất quí, những thứ mà mọi người trong nhà không ai được rờ tới. Có lần cả nhà đi chùa, bác gọi hai mẹ con tôi vào phòng để vặn nhạc cho nghe, bác nói với mẹ:
- Ở trên tỉnh bây giờ văn minh lắm. Nhạc này là nhạc khiêu vũ, người ta mở nhạc để nhảy đầm với nhau, thím đã thấy người ta nhảy đầm bao giờ chưa?
Mẹ mỉm cười gật đầu, bác nói:
- Học khiêu vũ cũng dễ thôi, nếu thím muốn, tôi sẽ chỉ cho thím.
- Dạ không! Mẹ đỏ mặt, ai lại ôm nhau coi kỳ quá.
- Khiêu vũ là một nghệ thuật, không có gì là bậy bạ cả, chỉ tại người ta nghĩ bậy thì sẽ thành bậy.
Nhưng mẹ vẫn lắc đầu nguầy nguậy, bác cười:
- Tôi cũng chỉ nói đùa cho vui.
Dạo này bác có nhiều thay đổi, khác với trước kia mỗi năm chỉ về nhà đôi ba lần, dạo này tháng nào bác cũng về, ở chơi vài ba ngày, có khi cả tuần rồi mới đi, bác nói bác mới tìm được người phụ tá thạo việc nên không bận rộn như xưa. Lần nào về, bác cũng cho tôi kẹo bánh và những đồ chơi đắt tiền mua ở trên tỉnh. Bác là người quyền uy, nhưng lại rộng rãi, hào phóng, cư xử rất tốt với mọi người, mỗi lần bác về, cả nhà vui hẳn lên, thành thử ai cũng mong bác, cả mẹ con tôi cũng vậy.

Một lần cách đây không lâu, bác về thình lình lúc cả nhà đi vắng hết, gặp tôi đang thơ thẩn chơi một mình ngoài sân, bác nắm tay tôi dắt vào nhà. Mẹ đang băm bèo cho lợn ở trong bếp, thấy bác thì ngẩng lên chào, bác nói:
- Thím nghỉ tay lên đây, tôi cho xem cái này.
Bác mở va li, lôi ra một bộ quần áo phụ nữ bằng hàng lụa mỏng thật đẹp, đưa cho mẹ:
- Đây là quà tôi mua để tặng thím.
- Tặng em? Mẹ kêu lên ngạc nhiên.
- Ừ, tặng thím, mặc liền đi! xem có đẹp không? Thứ lụa này mát và không nhàu, màu vàng nhạt hợp với nước da trắng của thím, tôi gởi mua tận Sài Gòn cơ đấy.
Nghe hai tiếng Sài Gòn, mẹ đứng ngẩn ngơ, đã lâu lắm không nghe ai nhắc đến hai tiếng thân thương này, nỗi buồn xa xứ mẹ âm thầm dấu kín tận đáy lòng, chẳng biết tỏ cùng ai. Những đêm trằn trọc không ngủ được, nghe tiếng mẹ thở dài, tôi biết mẹ đang nhớ quê, nhớ dĩ vãng, nhớ thuở ấu thơ êm đềm, nhớ thời con gái mộng mơ, nhớ cuộc tình mê đắm mẹ bỏ xứ theo chồng... Bây giờ tất cả đã qua đi như một giấc mơ, cảnh xưa không còn nữa đã đành, người xưa cũng đã thay đổi, cha không còn là một chàng trai hiên ngang, đa tình, đầy nhiệt huyết, ông bây giờ chỉ là hiện thân của sự mệt mỏi, chán chường, thất chí không thiết đến sự đời, không thiết cả đến vợ con.

Mẹ thở dài, mân mê làn vải lụa mềm có những đường thêu mỹ thuật, áo này mặc vô chắc là đẹp lắm. Nhưng bà biết không nên nhận vì không muốn làm buồn lòng chồng, mặc cảm tự ái khiến ông từ chối tất cả mọi quà tặng cũng như tiền bạc của các Cả. Mẹ ngập ngừng:
- Em không dám nhận, thôi bác để dành làm quà cho cô Liên.
- Liên có phần của nó rồi, ai cũng có phần cả, áo này là tôi mua cho thím, thím không nhận tôi rất buồn. Thôi, thím đi thử đi coi có vừa hay không?
Tôi cũng thích được thấy mẹ ăn mặc sang trọng và đẹp nên nói thêm vào:
- Phải đấy, ít nhất mẹ cũng nên mặc thử một lần coi ra sao.
Vì nể quá, mẹ đành mang áo đi thử. Khi bà trở ra, cả tôi lẫn bác Cả đều ngạc nhiên, mẹ trông khác hẳn, bộ quần áo kiểu mới, hở cổ làm tôn nước da trắng mát, mái tóc hàng ngày vẫn buộc túm sau gáy, bây giờ để xoã xuống vai, trông mẹ như trẻ lại cả mười tuổi, và rất đẹp. Nhưng ngay sau đó, mẹ thay lại bộ quần áo cũ bằng vải thô, bộ quần áo đẹp mẹ không dám mặc, bà xếp lại, cất kỹ dưới đáy rương, thỉnh thoảng mới đem ra ngắm.

Trong lúc cha tôi mải mê với những mộng ước tưởng tượng, bác Cả để tâm lo cho tôi từ quần áo, đồ chơi, đến sách vở, cặp da để đi học, cả tiền quà bánh, hoặc thuốc men khi đau ốm. Năm tôi lên chín, học lớp ba trường làng, bác bảo tôi:
- Cháu chịu khó học cho giỏi, đậu xong tiểu học, bác cho ra Hà Nội học.
Được ra Hà Nội học là giấc mơ vĩ đại nhất của trẻ con ở trong làng thời bấy giờ, tôi nhìn bác bằng con mắt ngưỡng mộ và biết ơn. Có lần tôi buột miệng nói với mẹ:
- Ước gì cha cũng được như bác Cả, mẹ nhỉ?
Bà sợ hãi vội bịt miệng tôi lại:
- Đừng nói thế, cha con nghe được lại buồn.
Nhưng mẹ làm sao ngăn cấm được tôi có ý nghĩ so sánh giữa người cha quên bổn phận và người bác có lòng, chăm lo, săn sóc cho tôi từng ly từng tí. Nhiều lúc tôi tự hỏi, liệu trong lòng cha có còn hình bóng của mẹ con tôi? Dạo này ông đi biền biệt cả ngày, lúc về ít khi nói chuyện với vợ con.

Để có tiền tiêu vặt, cha phụ với bà nội và cô Liên trông coi cửa hàng tạp hoá, ông làm sổ sách chi, thu, tính toán những món hàng có lợi. Mỗi tháng một, hai lần, ông đi Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận để mua hàng về bán, đồng thời cũng đem những sản phẩm của nhà quê như bánh gai, bánh cốm đem bỏ mối ở trên tỉnh. Những lần đi xa như vậy giúp ông khuây khoả.

Một lần sau chuyến đi, ông dẫn về nhà hai người bạn, họ vào nhà kho đem những bức tranh ra ngắm nghía. Chẳng biết họ nói với nhau những gì, chỉ thấy cha vui lộ ra nét mặt, hy vọng thắp sáng trong ánh mắt. Nhưng chỉ một thoáng, cha trở lại thái độ khép kín, ông dấu giếm chuyện riêng, không nói với ai. Những ngày sau đó, ông chỉ ở nhà, cắm cúi lau chùi các bức tranh, tô vẽ lại những chỗ phai màu, làm khung cho vài bức mới… Mẹ hỏi, cha trả lời vắn tắt:
- Sửa soạn cho cuộc triển lãm.
Ông nói với giọng cố làm ra vẻ bình thản, nhưng nhìn vẻ mặt ông, mẹ biết ông hồi hộp lắm, có hoạ sĩ nào lại không hồi hộp lần đầu tiên mang những tác phẩm của mình đi triển lãm? Trước ngày khai mạc mấy hôm, cha thuê một chuyến xe ngựa, chất lên đấy toàn bộ những bức tranh của ông, đem ra bến xe, chở đi Hà Nội. Ông nói với mẹ:
- Anh vắng nhà vài tuần, em đừng chờ. Hy vọng lần này bán được tranh, sẽ có ít tiền cho mẹ con em.
Ông ngưng lại, nhìn mẹ, nói với giọng tự tin:
- Hai người hôm nọ là những nhà phê bình đứng đắn, họ khen tranh anh đẹp và anh có thể thành công…
- Hai ông đó cũng là hoạ sĩ à?
- Ừ, họ là những người bạn tốt đã hết lòng khuyến khích, giúp đỡ, thuê hộ phòng triển lãm… Họ khuyên anh nên thử thời vận một lần xem sao.
- Phải đấy, mẹ vui vẻ, bao giờ thì khai trương hả mình?
- Ngày mốt, nhưng anh phải đi sớm vì còn phải lo trưng bày và trang hoàng. Thôi, mình ở nhà, anh đi nhé.
- Khoan, đợi em một chút.
Mẹ nói xong chạy vụt vào nhà, một lúc sau trở ra, mẹ dúi cho ông tất cả số tiền dành dụm được:
- Mình cầm lấy mà tiêu, lên trên ấy lạ nước lạ cái, không có tiền khổ lắm.
Cha ngượng nghịu cầm tiền nhét vào túi:
- Anh sẽ trả lại cho mình, anh đi kỳ này về, mình sẽ có tiền.
Nói xong, ông cúi xuống hôn lên trán tôi, dặn dò:
- Trung ở nhà ngoan, hai mẹ con chờ bố về…
Ông nắm lấy tay mẹ xiết chặt, bịn rịn một hồi rồi mới quay bước. Đó là lần cuối cùng ông biểu lộ tình thương yêu với mẹ con tôi.

Hơn một tháng sau, cha mới trở về với nguyên đống tranh cao nghệu. Lặng lẽ không nói một câu, ông đem tranh chất trở lại trong nhà kho. Mẹ nhìn cha, không dấu được vẻ thất vọng, nhưng vẫn dịu dàng an ủi:
- Không sao đâu mình à, thua keo này ta bày keo khác…
Cha cúi gằm đầu, không trả lời. Không bao giờ tôi quên được nét mặt tuyệt vọng của cha lúc đó, nó biểu lộ một vẻ đau đớn, xấu hổ lẫn nhục nhã, thê thảm tới mức làm tôi rùng mình, linh cảm một chuyện chẳng lành sắp xảy tới. Quả vậy, mấy hôm sau, lựa lúc cả nhà đi vắng hết, ông khuân hết những bức tranh ra sân, chất thành một đống, châm lửa đốt.
Khi mọi người về đến nhà, bao nhiêu bức tranh tâm huyết cả một đời của cha chỉ còn là một đống tro tàn, còn cha thì biến mất cùng với một ít quần áo và những vật dụng cá nhân. Cha đã bỏ nhà ra đi biệt tích, không một lời từ biệt, ông đi luôn, không bao giờ trở về nữa.

Biến cố này làm mẹ đau khổ, mất hết niềm tin vào cuộc đời, mẹ cạn nước mắt khóc cho duyên kiếp bẽ bàng. Thời gian đầu, mẹ gắng gượng chờ đợi, sau biết là hoài công, mẹ ngỏ ý muốn đem tôi về quê ngoại, nhưng bà nội không bằng lòng:
- Mợ muốn đi đâu tùy ý, nhưng thằng Trung thì phải ở lại, nó là đích tôn của gia đình này.
Cô Liên nói với vẻ khinh miệt:
- Chị thì làm gì được để nuôi nó? lại không đói rã họng ra à? Đang yên ấm không muốn, lại cứ sinh chuyện… Chị ăn ở làm sao mà chồng cũng chán, đến phải bỏ đi? Thật đúng là không biết điều, cứ tưởng quí hoá lắm, chị đi đâu thì đi một mình.
Bác Cả cũng không đồng ý, tuy vẫn bênh vực mẹ:
- Con Liên chỉ được cái ác khẩu, đừng thèm chấp. Thím chẳng việc gì phải đi đâu hết, nhà này thím cứ việc ở, thằng Trung để tôi dạy dỗ, sau này nó sẽ thừa hưởng gia tài của tôi.

Mẹ thở dài, chẳng phải vì ham gia tài mà ở lại, nhưng mẹ không thể bỏ trốn khi không biết đường đi nước bước và trong tay không có một đồng xu, cắc bạc. Tội nghiệp mẹ, một người đàn bà yếu đuối, nhút nhát, từ dạo theo chồng về làm dâu nơi xứ lạ, mẹ chưa bao giờ ra khỏi cái lũy tre làng… Có những đêm hai mẹ con ôm nhau thủ thỉ, mẹ khóc, nước mắt mẹ rơi ướt tóc tôi, mẹ nói mẹ ước mơ được về quê ngoại, dù chỉ một lần, nhưng mẹ không đành rời xa đứa con duy nhất. Tôi thương mẹ, chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời và học thật chăm, mong một ngày nào đó có thể tự lập, tôi sẽ đem mẹ ra khỏi ngôi nhà không tình thương này.

Sau biến cố đó ít lâu thì chú Đức đột ngột xuất hiện, chú trở về nhà sau bao nhiêu năm phiêu bạt giang hồ. Chú Đức vẫn còn độc thân, nghe nói có dạo chú mê một cô đào hát, hai người ăn ở như vợ chồng một thời gian rồi rã đám, đường ai nấy đi. Tính chú vốn lãng mạn, bay bướm, không muốn bị cột chân, chú chỉ thích cặp kè nay người này, mai người khác...
Cảm tưởng đầu tiên của tôi, chú là một người đàn ông còn trẻ và rất đẹp trai, ngoài cái chân đi hơi khập khễnh, chú vui tính, ăn nói bặt thiệp, có duyên, đặc biệt chú có cặp mắt lẳng lơ, nhìn ai là như thu hút lấy người đó. Chú bây giờ là một soạn giả danh tiếng, chuyên viết tuồng cho gánh bầu Thành, đồng thời cũng là diễn viên chính trên sân khấu. Tuồng của chú ăn khách nên tuy không giàu có, nhưng chú kiếm được khá bộn bạc, chú mua quà cho cả nhà và biếu bà nội một số tiền lớn. Trong khi cha tôi bỏ nhà ra đi trong thất bại, thì chú trở về trong vinh quang, mọi người vui vẻ đón mừng, nhanh chóng quên đi con người kém may mắn là cha tôi.

Chú Đức về, đem theo một làn gió lạ, căn nhà từ trước vẫn lạnh lẽo, nay ấm áp hẳn lên với những tiếng nói cười rộn rã, tiếng đàn hát và những câu pha trò dí dỏm, có duyên. Chú Đức cũng là một người lịch lãm, hiểu đời, chú cảm thông hoàn cảnh trái ngang của mẹ, nên thường nhìn bà bằng cặp mắt trìu mến, xót thương. Dạo này mẹ hơi gầy đi, nét buồn tạo cho mẹ một vẻ đẹp não nùng. Từ ánh mắt đầu tiên của chú khi nhìn mẹ, tôi thấy bà hơi giật mình, à phải rồi, cặp mắt đa tình của chú Đức có những nét phảng phất giống cha. Mẹ cúi mặt trốn tia nhìn như có lửa làm bà nóng ran cả hai má, khi xưa, ánh mắt đắm đuối của cha cũng đã làm mẹ phải bối rối như thế. Với bản tính lãng mạn, ảnh hưởng của những tiểu thuyết tình đọc thời còn con gái, mẹ vẫn muốn sống lại cái thuở ban đầu. Nhưng đã từ lâu, ánh mắt nồng ấm của cha đã nguội theo với những thất bại trong cuộc đời của ông, mẹ thở dài, cố nén những khát vọng xuống tận đáy lòng. Tội nghiệp mẹ, mới hơn ba mươi tuổi đầu, ở tuổi này, người đàn bà nào cũng còn nhiều mộng mơ lắm.
Chú Đức và mẹ ít khi nói chuyện, thỉnh thoảng ra vào chạm mặt, chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi:
- Chào chị!
- Chào chú!
Có lần cao hứng chú thổ lộ với mọi người là chú đang sáng tác một vở tuồng mới có tên là Lấy chồng xa xứ, chú nói với mẹ:
- Chị là nguồn cảm hứng cho tôi sáng tác, chị giúp tôi diễn tả những cảm nghĩ của chị nhé?
Mẹ lắc đầu:
- Tôi thấy không tiện, tâm sự của tôi chú biết mà làm gì?
- Tôi hiểu, nhưng không sao cả, chị không nói tôi cũng có thể tưởng tượng được.

Là người sành tâm lý, chú hiểu rất rõ nỗi cô đơn của mẹ và chinh phục cảm tình của bà không mấy khó khăn. Hai người ngầm hiểu những ý nghĩ của nhau, tuy không ai nói ra, nhưng những ánh mắt lặng lẽ nhìn nhau đã nói lên một tình yêu câm nín. Mẹ làm việc quần quật suốt ngày, nhưng vẫn để ý săn sóc chú Đức một cách kín đáo, ngoài những món ăn hợp khẩu vị, phòng chú lúc nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp, quần áo được là ủi phẳng phiu.
- Tôi thấy chị vất vả quá! Chú nhìn mẹ ái ngại.
Mẹ cười buồn:
- Quen rồi, chú đừng lo cho tôi.
Nói xong, mẹ xoay lưng, đi thật nhanh ra khỏi phòng, chú Đức nhìn theo dáng đi liêu xiêu của mẹ, thở dài. Mẹ cố tránh gặp mặt chú, dường như mẹ sợ không chống lại được những cám dỗ, và mẹ cũng sợ cả điều ong, tiếng ve. Tôi còn nhỏ, không hiểu được những bão táp trong lòng mẹ, chỉ biết là mẹ rất buồn.

Chú Đức gởi tâm tư vào tiếng đàn, lời ca. Chú có làn hơi phong phú và giọng ca trầm ấm, ngọt ngào. Những đêm trăng, chú thường đem đàn ra gảy, tiếng đàn réo rắt quyện với lời ca, câu hò buồn nảo nuột:
Hò ơ… Chim xa rừng còn thương mây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi, hờ…
Chẳng thà không biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi ơ…ơ… thêm buồn
Giọng hò của chú trầm trầm ngân dài, loãng tan trong ánh trăng, nghe như tiếng thở than. Tôi ngồi im, thả hồn vào dĩ vãng, sống lại thuở nằm nôi, tiếng võng kẽo kẹt, tiếng mẹ ru ầu ơ ngọt ngào. Mẹ chảy nước mắt, quê mẹ miền Hậu Giang, làm sao mẹ quên được những tiếng hò trên sông nước?

Mùa hè qua nhanh, gánh bầu Thành sắp rời đi lưu diễn ở miền Trung, chú Đức phải đi theo đoàn, mẹ buồn, ra ngẩn vào ngơ. Ngày chú sắp sửa từ giã lên đường, hai người lén lút bàn nhau:
- Tôi có thể đưa chị và cháu đi nếu chị muốn.
- Rồi dư luận sẽ ra sao?
- Cần gì dư luận, tôi đi kỳ này sẽ không về nữa.
- Chú long đong nay đây mai đó, làm sao cưu mang được mẹ con tôi?
- Ta cứ liều đi trốn, tôi sẽ đưa chị về xứ.
- Tôi sợ lắm, rủi không đi thoát thì hậu quả sẽ không biết thế nào mà lường. Lại nữa nếu mai kia anh chú sẽ về…
- Chị chờ đến bao giờ? tuổi xuân qua mau, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ già.
Mẹ thở dài buồn bã:
- Đời tôi coi như bỏ đi, nhưng thằng Trung nó cần có cha… Bao lâu tôi cũng đợi.
- Chị quyết định như vậy là tùy ý chị.
- Dù sao cũng cám ơn chú, mấy tháng nay tôi đã rất sung sướng, như thế cũng đủ.
Nói xong mẹ gạt lệ quay đi. Sau cùng mẹ đã chọn, mẹ chọn sự hy sinh, mẹ không nghĩ đến thân mẹ, mà chỉ nghĩ đến tôi, mẹ chỉ vì tôi…

Nhưng sự việc không êm đẹp như ý mẹ mong muốn, và một thảm kịch đã xảy ra. Bác Cả tinh ý nhận thấy những thay đổi của người em dâu, nên một hôm gọi mẹ lên phòng tra gạn:
- Mấy lúc này thím buồn lắm, phải không?
Mẹ cúi đầu, cố tránh ánh mắt đầy quyền uy của người anh chồng:
- Anh tính từ ngày nhà em bỏ đi… Mẹ ngưng nửa chừng, nghẹn lời.
- Tôi hiểu, thím còn trẻ quá… Bác gật gù, nhưng đừng làm điều gì dại dột, có chuyện gì khó nghĩ, thím cứ nói với tôi, may ra tôi có thể giúp.
- Thưa anh, không có chuyện gì cả.
- Thế sao mấy đêm nay thím mất ngủ? nhìn cặp mắt thâm quầng của thím, tôi hiểu ngay. Thím coi chừng người nhà để ý, bàn ra tán vào không tốt.
Mẹ giật mình sợ hãi, cái lối nói như đi guốc vào bụng người khác chứng tỏ bác đã hiểu tất cả. Quả vậy, bác nở một nụ cười mang nhiều ý nghĩa:
- Chuyện đó cũng là sự thường thôi, tôi thông cảm, nhưng đừng đi xa hơn. Thím phải nghĩ đến tương lai thằng Trung, nó cần được học hành tới nơi tới chốn, nó thiếu một người cha, và từ lâu tôi vẫn xem nó như con. Người long đong nay đây mai đó, đâu có thể lo cho nó được?
Bác quay sang tôi:
- Trung, nói đi cháu! có phải cháu vẫn muốn được làm con bác, phải không?
Tôi ngập ngừng, trước đây tôi vẫn ao ước có một người cha như bác, nhưng bây giờ tôi đã lớn, biết suy nghĩ, tôi nhìn mẹ buồn rầu:
- Con biết là mẹ thương con, nhưng mẹ cứ chọn con đường nào mẹ thích.
Bác hơi cau mày rồi cười nhạt:
- Cái thằng bé này cần phải uốn nắn lại, hy vọng cháu không phải là một người bạc bẽo. Quay sang mẹ, bác nói tiếp, tôi không tin là thím ngu ngốc mà đi nhầm đường. Thôi được rồi, bây giờ thím đi ra đi, tôi để cho thím suy nghĩ, tương lai của thằng Trung tùy vào sự lựa chọn của thím.
Mẹ ôm mặt rên rỉ:
- Tại sao tôi lại phải chọn? Trời ơi! tôi chỉ muốn yên thân, sao mấy người không để cho tôi yên?
Mẹ lảo đảo đi ra, bà vấp ngã nơi ngưỡng cửa, bác Cả vội đưa tay ra đỡ, cả thân hình gầy gò của mẹ rơi gọn trong hai cánh tay của bác. Vừa lúc đó, cửa chợt mở toang, bà nội từ đâu xuất hiện, trước cảnh đó bà đứng ngây người vài giây rồi kêu rú lên:
- Mấy người làm gì thế kia? Trời ơi! sao lại có cảnh loạn luân như thế này xảy ra ngay trong nhà tôi hả trời?
Mẹ run rẩy, phải bám vào cánh cửa mới đứng vững, có trời mới hiểu được những oan khuất của mẹ. Tôi vội níu lấy áo bà nội, lắp bắp:
- Không phải đâu bà, mẹ cháu bị ngã…
Nhưng bà gạt tay tôi ra, quay sang mẹ, gằn từng tiếng:
- Mợ vào đây làm gì hả? Kìa, mợ nói đi chứ? nếu là người phụ nữ chính chuyên, sao mợ lại vào phòng một người đàn ông không phải là chồng mợ trong giờ này?

Nghe tiếng ồn ào, mọi người chạy cả lên, đứng lố nhố ngoài hành lang. Cô Liên liếc xéo mẹ, cười mỉa:
- Tôi tưởng chị mê anh Đức? thì ra tôi nhầm à? hay là chị định bắt cá cả hai tay? Hừm, đời thuở nào chồng mới đi vắng chưa đầy một năm mà chị đã dở trò chim chuột ở ngay trong nhà, thật là nhơ nhuốc, xấu hổ.
Câu nói đó như đổ thêm dầu vào lửa, bà nội mặt phừng phừng lửa giận, trỏ mặt mẹ, quát:
- Con đĩ rạc! nhà có ba người đàn ông, mày định lấy cả ba à? Thứ đàn bà lăng loàn như mày không thể để trong nhà, hãy cút ra khỏi nhà tao!
- Con sẽ đi… Mẹ tôi thều thào, nhưng lạy mẹ cho con đem theo cháu Trung, con không thể xa nó, con sẽ đưa nó về ngoại.
- Không được, thằng Trung là máu huyết của con trai tôi, chị không thể đem nó đi, tôi không muốn cháu tôi sống chung với người mẹ hư đốn là chị. Tôi kỳ hẹn ba ngày, chị phải rời khỏi nơi đây, nếu không tôi sẽ trình lý trưởng và làng nước sẽ gọt đầu bôi vôi chị.
- Van mẹ, đừng làm vậy, con chết mất.
Mẹ phủ phục xuống đất lạy, nhưng bà nội quay lưng, giằng lấy tay tôi kéo đi, tôi trì lại và gào lên, nhưng vô ích. Không bao giờ tôi quên được vẻ mặt thê thảm, tuyệt vọng, và ánh mắt ai oán của mẹ lúc nhìn theo tôi bị người ta kéo xểnh, lôi đi. Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà.

Tôi được gởi ở tạm nhà một ông chú họ, một tuần sau mới được về nhà. Nhưng về nhà là để đi đưa đám mẹ, bởi vì bà đã thắt cổ tự tử chết ngay đêm hôm đó. Người ta đưa tôi vào nhìn mặt mẹ một lần cuối cùng trước khi nắp quan tài được đóng lại. Mẹ nằm im lìm, mình mặc áo nâu, hai tay chắp lại để trước bụng, tóc mẹ xoã dài thành một dòng đen nhánh, mặt mẹ tím bầm, còn in những nét hãi hùng. Cho đến lúc chết, mẹ vẫn chưa nguôi được oán hờn. Tôi vuốt cặp mắt vẫn mở trừng của mẹ, thì thầm khấn vái mẹ ra đi bình yên, lạ lùng thay, mắt mẹ khép lại và nét mặt trở nên thanh thản. Tôi nằm bên quan tài, ở với mẹ suốt đêm hôm đó. Sáng hôm sau, tôi đưa mẹ ra mộ, ở ngoài đồng, trời lất phất mưa phùn, lạnh và rất buồn, theo sau hai con bò kéo xe tang, chỉ có tôi và vài người hàng xóm. Bà nội bị cơn đột quị nằm liệt giường không đi được, nhưng còn bác Cả giàu có, đầy quyền uy, còn chú Đức, con người lãng mạn đa tình, háo thắng, chỉ thích đi chinh phục, và người cha vô trách nhiệm của tôi, đâu cả rồi? Họ là những người trực tiếp và gián tiếp gây ra cái chết của mẹ tôi, bây giờ tất cả đều chạy trốn, không ai lãnh trách nhiệm cả, họ phủi tay trước cái chết đầy oan khuất. Thương cho mẹ một đời mệnh bạc, lúc chết lại phải gởi xương nơi xứ lạ.

Tôi bỏ nhà ra đi ngay ngày hôm sau, đem theo độc nhất có một tấm hình của mẹ. Qua bao nhiêu gian khổ, tôi lần mò tìm về quê ngoại. Phải mãi đến hơn mười năm sau, khi lớn khôn, tôi mới trở lại để thực hiện lời hứa cuối cùng trước quan tài mẹ là đem bà về quê. Ngủ yên nhé mẹ, bây giờ mẹ đã được về xứ rồi đó.

Phương Lan

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Tình Mẹ: Âm Thanh, Hình Ảnh Và Mùi Hương - Thực Hiện: Lê Diễm Chi Huệ & Nguyễn Minh Huy


MÙI CỦA MẸ 

Tác giả Nguyễn Văn Anh là một giáo viên, cư dân thành phố biển Nha Trang. Bài thơ được sáng tác trong những ngày mẹ ông bệnh nằm một chỗ, và ông là người tự tay tắm rửa cho mẹ sau những giờ đi dạy về. Đối diện với thân thể già nua bệnh tật của mẹ và cái mùi đi cùng nó, ông nhớ về mẹ mình với tất cả ký ức về cái mùi từ bi mà mẹ đã trút hết cho con, và bài thơ Mùi của Mẹ ra đời từ đó.

=======

Thời son trẻ
Mẹ thơm mùi con gái
Mùi tằm dâu rơm rạ quê nhà
Mùi bồ kết hương cau thơm lắm
Mùi thanh xuân đồng nội
Mẹ trao cho cha
Ngày vỡ ối con ra
Mẹ còn thơm mùi chăn gối
Mùi tro than hột muối củ gừng
Con bú mớm
Mẹ thơm mùi vú mọng
Con đi lẫm chẫm
Mẹ thơm mùi cơm nhão, cháo hoa
Con đến trường làng
Mẹ thơm mùi lúa rơm gạo mới
Con lên trường huyện
Mẹ thơm mùi cơm bới mo cau
Khi con ốm đau
Mẹ thơm mùi của Phật
À ơi…
Ôm con mùi Mẹ tỏa ra
Bệnh hoạn tiêu tán, tà ma phải lùi
Ngày nắng hạn Mẹ thơm mùi me đất
Tháng mưa dầm
Mẹ thơm mùi con cá chột nưa
Con xa nhà mang theo mùi của Mẹ
Đi đông đoài nam bắc
Là con đi đất bằng biển lặng
Là con đi chân cứng đá mềm
Ơi những kẻ đi xa
Có nghe thơm mùi của Mẹ
Mẹ thơm mùi bếp lửa quê nhà
Mùi của Mẹ là mùi rất thật
Ngày con thành gia thất
Mẹ thơm mùi treo cưới
Mùi áo khăn đèn rượu trầu cau
Ngày tháng qua mau
Thoảng chút hương đời con hể hả
Mẹ còn giữ một mùi dân dã như rơm
Đời con lận đận áo cơm
Mẹ là áo gấm, tám thơm, nồi đồng
Đời con mỏi gối chồn chân
Lạ thay Mẹ vẫn thơm mầm lộc non
Con mấy mặt con
Vẫn ngỡ mình bé dại
Vì nhà ta còn mùi Mẹ, mùi
Bà Mùi Bà – mùi cái vú da
Mùi cau trầu với mùi hoa mẹ trồng
Mẹ ơi
Mẹ mới đó Bốn mùa mặc áo the thâm
Sao nỡ vội già không trẻ mãi
Để vãn buổi chợ chiều tất bật đi mau
Vì biết cháu chờ gói kẹo cau đùm trong lá chuối
Ôi cục kẹo cau có hương bưởi hương ngâu
Có con cu kêu đầu hồi để thời gian qua chi vội
Bây giờ tội nghiệp Mẹ tôi Tám mươi ba tuổi xếp đôi cánh cò
Mùi của Mẹ quanh co giường chiếu
Mùi trần ai khô kiệt xác thân
Mùi da xương bên ướt
Mẹ nằm Để cả đời bên ráo con lăn
Khuya nay quỳ xuống ôm chân
Mẹ ơi đã lạnh toàn thân...Mất rồi!
Cây cau già ngoài sân chết đứng
Ngọn trầu không héo úng rụng rời
Gió khóc ngoài giậu mồng tơi
Tre trúc quờ quạng tìm hơi Mẹ già
Mẹ hiền đi chuyến chợ xa
Mùi Mẹ cánh Hạc bay ra cõi Trời
Con thành đứa trẻ mồ côi
Lặng chiều nhang khói tìm hơi Mẹ hiền!
Mẹ ơi...!

Tác giả Nguyễn Văn Anh
Phổ Nhạc, Đàn & Hát: Nguyễn Minh Huy
 

Nhớ Mẹ (1996)

 

Tuổi ấu thơ, con đà hiểu mẹ

Thiếu phụ quê nghèo, tần tảo nuôi con..

Đèn khuya một bóng mỏi mòn!

Võng đưa kẽo kẹt, làm con đau lòng!


Chiến tranh khói lửa lan tràn..

Làng thôn xơ xác, đường làng vắng teo!

Ruộng vườn, cây cối héo queo!

Thiếu cơm khát mắm, đói nghèo xót thương!


Đến khi Đình chiến Hòa bình..

Tim con rạo rực, theo dòng nước trôi.

Trồi lên hụp xuống, cọ xát với đời,

Lời khuyên của mẹ, một trời yêu thương!


Đủ lông, đủ cánh, con lại lên đường..

Vào Nam công-tác với tình thương mặn nồng!

Tuổi đời mẹ đã chất chồng,

Ra đi bỏ lại tháng năm ảo vời!!


Thế rồi long đất lở trời!

Thân con tù-tội, nổi trôi xứ người!

Bao năm sóng dập, gío dồi!

Mẹ tiễn con đến đất trời bình an..


Tô Đình Đài


Vầng Trăng Thu

 

Thoáng trông chiếc lá vào thu
Chuông chùa ngân. Nhớ mùa Vu lan về.
Chạnh niềm dặm khách trời quê
Sương mù giăng bóng chiều Lê thê buồn
Nắng vàng trôi khuất hoàng hôn
Tiếng chim ngày muộn gọi hồn sương đêm
Đời như chiếc lá bên thềm
Xa cảnh …là để đi tìm cội xưa
Giờ đây. Mùa lại giao mùa
Nát nguồn lệ cũ, sớm trưa…cung đàn
Đã đành thôi! Chiếc lá vàng, 
Đã đành thôi,Gió lên ngàn chiều nghiêng
Đã đành giữa cõi ưu phiền
Bến trầm luân. Trắng giọt triển miên rơi
Cánh chim thong thả chân trời
Đã không sương khói, không lời nước mây.
Thu xưa dưới ánh trăng này
Người buông tay giữa chợ ngày hợp tan
Thu nay cũng ánh trăng vàng
Kính thơm Huyền diệu theo ngàn cỏ thoa.

Nam Cali, Vu Lan 2025.
Mặc Phương Tử

Thu Hứng

 

Xướng:

Thu Hứng


Buổi sớm Thu về nắng chiếu vai
Còn tươi nét chữ mực chưa phai
Nhớ nhung nương gió về nơi ấy
Xao xuyến nhờ mây vẫn vãng lai
Những tưởng đã quên thời áo trắng
Nào ngờ ký ức mãi lưu hoài
Vẫn luôn chúc phúc thời xưa cũ
Cuộc sống đầy vơi nhẹ gót hài!

Lê Thế Hiển 
 Stamford, September 23/2018
***
Họa:

Thu Hứng

(Mùa Thu25 sắp tới, đáp ứng Thu Hứng /V.Le)

Dạo bước loanh quanh nện gót hài

Đường cư xá dốc mỏi chân hoài
Luôn nhung nhớ mùa Thu năm ấy
Mãi vấn vương thời trẻ chẳng phai
Không ý quên mau tà áo trắng
Có lòng xây sớm mộng tương lai
Tim ôm ước vọng về quê cũ
Ấp dấu môi hồng lúc sánh vai.

ChinhNguyên/H.N.T. ,
Cumming,Sept.6.25 


Đợi Chờ


…Vì người ấy luôn chờ một lời
Là hiến ta trọn cuộc đời
Thề ước đem tình sánh vai…

Khi tôi mới lớn lên, và đã có những ước mơ về tình yêu thì mấy câu thơ này trong bài hát Mộng Lành của Hoàng Trọng mang đến cho tôi biết bao là cảm khái… người con gái đón chờ một lời của người con trai để dâng hiến trọn cuộc đời…sao mà lãng mạn tha thiết thơ mộng đến thế. Và rồi dần dần tôi mới cảm thấy được cái đặc ân quá lớn mà Thượng Đế đã ban cho phái nam, không phải ở riêng xứ tôi mà trên cả thế giới!

Chúng tôi, phái nữ thường được những nước có nền văn minh tân tiến luôn ưu ái tặng cho danh hiệu … ladies first… nhưng họ lại dành cái quyền được quỳ nửa gối trước mặt người yêu để xin cầu hôn! Như thế, dù ở đâu chăng nữa, chúng tôi vẫn là những kẻ đợi chờ…Đợi chàng ngỏ những lời yêu thương… chờ gia đình chàng mang trầu cau đến xin cưới hỏi… chờ chàng tới mang chiếc hộp nho nhỏ xinh xinh có chiếc nhẫn để …dâng hiến cuộc đời!

Đâu phải là cứ đợi chờ mà thành công đâu, bởi vì các chàng cũng có những cảm nghĩ … khó nói khi muốn mở lời, và tùy theo cái… nam nhi chi trí, thiên thời địa lợi để mà có thể sánh vai cùng nhau đi hết cuộc đời hay là ôm mối tình dang dở khóc than cùng với gió trăng.

Tôi có mấy người bạn gái rất thân, học cùng lớp cùng trang lứa và chúng tôi thường chia sẻ những vui buồn về các chàng, dù là cây si hay không chăng nữa.
Và câu truyện tình cùng với sự đợi chờ của cô bạn thân nhất của tôi đã ghi đậm trong lòng tôi.

Trâm là một cô gái Bắc Kỳ, theo gia đình di cư vào Nam khi mới 5 tuổi. Trâm không đẹp lắm nhưng rất dễ thương và có nhiều đặc tính dễ làm các chàng xiêu lòng … Trâm có giọng nói rất thanh tao trầm ấm nhẹ nhàng, tụi tôi vẫn thường đùa “ chàng nào mà nghe mày nói qua điện thoại thì chỉ có… nước chết, và gặp rồi thì cũng ngất ngây vì sự duyên dáng tế nhị của mày đó Trâm ơi”.

Như chúng tôi ước đoán, chỉ sau nửa năm học ở Văn Khoa, cô nàng đã có một chàng theo sát nút. Anh chàng tên Đức này rất dễ mến, học năm thứ ba, khá cao và đẹp trai với cái cười có hai đồng tiền lún sâu. Trâm cũng rất thích Đức và đồng ý cho anh đến nhà thăm vì Đức cũng là người Bắc theo gia đình di cư khi 7 tuổi.

Khi Đức còn đi học thì thỉnh thoảng mới ghé thăm Trâm ở nhà, nhưng khi Đức xin được việc làm ở bộ Giáo Dục thì hầu như cuối tuần nào cũng đến thăm Trâm.
Mỗi đầu tuần, gặp nhau ở trường, chúng tôi nhau nhau hỏi Trâm xem anh chàng đã nói gì chưa, Trâm đều lắc đầu…
-Ngồi cả tiếng đồng hồ mà chỉ nói chuyện bâng quơ… hết học hành rồi qua việc làm. Ở phòng khách thì mấy đứa em tao đôi khi qua lại, phải nghiêm túc làm gương, không thì bị bố mẹ mắng. Ai hỏi gì thì mặt đỏ lên… cười má lúm đồng tiền… đẹp như … con gái! Người đâu sao mà nhút nhát quá.
Cúc, cô bạn cùng nhóm gợi ý
-Sao mày không rủ chàng đi dạo phố
Trâm trầm ngâm
-Tao cũng định tìm lý do nhờ chàng ta giúp tao đi mua cái gì đó, thì có dịp ra ngoài, nhưng lại không vì muốn để cho Đức chủ động mọi việc. Tao thích người đàn ông mạnh dạn, dám nói dám làm…
Tôi đồng ý
-Trâm nói đúng…hãy để anh chàng bình tĩnh và có cơ hội lộ ra cái nam nhi chi trí.
Thế rồi, chàng chưa có dịp nói những điều muốn nói thì phải lên đường nhập ngũ tòng chinh như tất cả thanh niên trong thời chiến.

Trước ngày đi, Đức có ghé thăm Trâm, tuy có xúc động và buồn nhưng Trâm tâm sự với đám bạn gái…tao cũng thấy cảm động, nhưng dường như chỉ là sự cảm động khi tiễn một người bạn thân lên đường.
Học hành thi cử làm Trâm quên đi việc chờ thư như Đức đã hứa, và cho đến ba tháng sau, nàng ngạc nhiên khi nhận được thư của Đức từ quân trường…anh hỏi thăm nàng và kể những nỗi khó khăn của chàng thư sinh khi tập tành làm lính chiến.
-Chỉ có vậy thôi ư?
Thu, cô nàng lém lỉnh nhất trong đám hỏi.
-Vậy là quý rồi, it ra thì hãy còn nhớ.

Tôi an ủi vì tuy nói thế nhưng bạn tôi vẫn có ý… đợi chờ những lời yêu thương…và rồi những lá thư đến thường xuyên hơn. Mấy tháng sau, với nét mặt đầy cảm động, Trâm khoe là Đức hứa sẽ về thăm Trâm khi mãn khóa và …mời Trâm đi ăn trước khi lên Pleiku nhận đơn vị.
Cả đám chúng tôi mừng cho Trâm và cùng cho rằng đời sống của quân nhân đã thay đổi cách sống của Đức.

Khi ra mở cửa cho Đức, Trâm gần như không nhận ra … trong bộ quân phục còn thẳng nếp là một chàng trai tóc húi với khuôn mặt rám nắng đen, lưng thẳng, gầy và cao …chỉ có nụ cười vẫn như xưa và đôi mắt nhìn nàng như đọng đầy thương nhớ…Ngay khoảng khắc đó… Trâm tâm sự… tao biết là tao đã yêu …không những thế, chàng nói tao xin phép mẹ tao để đưa tao đi Thủ Đức. Và trong buổi chiều tà bên quán ven đường, anh chàng … thổ lộ đã yêu tao từ ngày gặp mặt nhưng không dám ngỏ lời vì sợ bị từ chối và không được gặp tao nữa…thấy thương quá là thương đi tụi mày ơi…

Trước khi đi nhận đơn vị, Đức đưa Trâm đến nhà anh ở Thủ Đức để giới thiệu Trâm với mẹ và gái…mọi chuyện đến mau quá làm Trâm ngất ngây trong hạnh phúc…Đức nói tao chờ đến khi anh được biệt phái về bộ Giáo Dục thì sẽ nhờ mẹ xin hỏi cưới. Tao đợi chờ với hết lòng thương yêu hạnh phúc của tao. Tụi mày cùng cầu nguyện với tao nhé.

Thế rồi chúng tôi cùng chia sẻ những nỗi buồn vui của bạn…cùng chờ những lá thư từ vùng chiến tuyến gửi về…Hơn một năm sau, trong chuyến về phép thăm gia đình, Đức cho Trâm biết tin vui… việc xin biệt phái về bộ Giáo Dục của anh đã được chấp thuận, chỉ còn chờ thủ tục giấy tờ là anh sẽ về với Trâm…em không còn phải đợi chờ nữa…

Mấy tuần sau, Trâm kể… là những mong muốn của anh khi trở lại đời sống dân sự, không còn phải đối diện với cái chết hàng ngày và không biết Trâm sẽ ra sao khi không có anh bên nàng…làm Trâm càng nôn nóng chờ ngày anh được biệt phái…

Rồi hơn một tuần không có thư của Đức, Trâm không còn tâm trí để học nữa, ngày nào cũng đến trường với khuôn mặt ủ rũ mệt mỏi vì mất ngủ, vì đợi thư. Ba tuần sau, Trâm đến trường với khuôn mặt hốc hác đầy nước mắt…chúng tôi nắm tay bạn nhưng không ai dám hỏi… Trâm nghẹn ngào không nói được, chỉ đưa cho tôi một bức thư đã hoen ố vì nước mắt… chúng tôi cùng đọc trong yên lặng…

Kính gửi chị Trâm,

Em xin phép được gọi chị bằng chị cũng như mẹ em muốn được gọi chị bằng con vì chúng ta cùng phải cùng chia sẻ một tin buồn, một mất mát quá lớn: anh Đức đã vĩnh viễn đã ra đi, anh đã hy sinh trong ngày cuối trong trận chiến đẩy lùi cuộc tấn công của cộng sản vào mấy tỉnh miền cao nguyên. Anh Đức đã bỏ mình trong thung lũng núi Pleiku vì pháo kích của công quân khi lực lượng quân sự của chúng ta đã đầy chúng ra khỏi vùng núi.

Nhận được tin dữ, mẹ và em đã lên Pleiku để dự lễ lên lon cuối cùng của anh: Thiếu Uý Trần Duy Đức. Sau khi lo xong hậu sự cho anh, họ chuyển cho một túi đựng những vật dụng cá nhân của anh, qua những bức thư chị gửi cho anh của em, em có địa chỉ của chị và mẹ bảo em viết thư cho chị… mẹ bảo anh đã thưa với mẹ về chuyện của anh chị và mẹ đã bằng lòng. Chúng ta cùng chia sẻ những mất mát lớn nhất của cuộc đời.
Em mong chị đừng quá bi thương, để anh ra đi thảnh thơi vì anh đã làm xong bổn phận với tổ quốc

Em của chị
Trần thu Hằng

Chúng tôi cùng ôm bạn, cùng chia sẻ nỗi buồn với bạn trong yên lặng, lời nào tả được hết sự đau đớn và nỗi buồn khi mất người yêu và cả một cuộc đời hạnh phúc ngay trước mắt?
Thế rồi, sau khi người yêu của bạn tôi đã đền nợ nước, tôi lại cảm nhận thêm được những nỗi xót xa của đợi chờ… sự đợi chờ của những người thiếu phụ đã qua được cửa ải … có chàng đến hỏi, để rơi vào sự đợi chờ còn mòn mỏi và đau thương hơn nữa…

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi *
( Xưa nay chinh chiến mấy ai về)

Phải chăng sự đợi chờ luôn đi liền với chúng tôi, những người nữ đã sinh ra và trưởng thành trong khói lửa của chiến tranh?

Ý Nhi




*Lương Châu từ

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

Storytelling Songs: Người Đẹp Cầu Tàu - Beauty Of CauTau - Andy Bui Huu Anh Huy, Magnolia Cao Tran


Thực Hiện: Magnolia và Huy

Cành Hoa Trắng Vu Lan



Bốn mươi năm Mẹ về cõi Phật
Mộ phần lạnh lẽo giữa hoang sơ
Những đêm cô tịch trăng huyền ảo
Con nhớ vô cùng ...thuở ấu thơ ...

Ngày xưa mỗi độ chớm thu sang
Ngọn gió heo may rụng lá vàng
Tháng bảy ngày rằm mùa xá tội
Những linh hồn lạc giữa trần gian

Mẹ dắt con nghiêm trang áo trắng
Đường lên chùa cũ, dấu rêu mòn
Chấp tay trước Phật con cầu nguyện
Soi sáng tâm hồn kẻ sắt son ...

Trên ngực áo con một nụ hồng
Mẹ cười Mẹ hỏi có vui không ?
Mỗi năm vào dịp Vu Lan hội
Mẹ sẽ tặng con một đóa hồng

Thế rồi ...bốn chục mùa mưa nắng
Đằng đẵng bao trăng chết cõi lòng
Bóng Mẹ hiền trần gian khuất dạng
Hoa hồng đâu nữa ...để mà mong !

Tháng bảy Vu Lan lại đến rồi
Áo cài hoa trắng đời mồ côi
Con buồn nhớ Mẹ lòng ray rứt
Tủi phận bơ vơ ...giữa chợ đời!!!

nguyễn phan ngọc an 
Vu Lan 2025
 

Nhớ Sài Gòn

 

Vì công tác…phải xa nhà,
Được Mẹ dạy dỗ xông pha giúp đời.
Đến khi lở đất long trời,
Mẹ lại hướng dẫn tìm nơi an toàn!

Thân gầy khóe mắt long lanh,
Lần chót thăm Mẹ, phận đành xa quê!
Thấy con sầu héo tái tê!
Ôm con an ủi, chớ hề lo âu!

Sài thành trải lối quanh co,
Không kịp thăm hỏi, giã từ bà con.
Chợ đời còn lắm nhá nhem,
Tình thương của Mẹ, làm con yên lòng!

Phi-trường mờ ảo chiều đông,
Nửa mừng, nửa tuổi, sầu đong vơi đầy!
Nhìn quê xơ xác héo gầy,
Bao đêm trăn trở, tháng ngày xót xa!

Sài-gòn ơi, tình Mẹ bao la,
Sao ta nỡ bỏ Mẹ già xác xơ!
Mẹ ơi đẫm lệ sương mờ,
Tiếng phi cơ vang dội, ngẩn ngơ cúi đầu!

Hồn con uất nghẹn thương đau!
Trái tim của Mẹ nghẹn ngào trong con!
Lòng con tan vỡ héo mòn,
Sài gòn ơi, Mẹ hãy chờ con về…

Tô Đình Đài


Cõi Sầu

 

Rừng xanh thay lá còn đau,
Mà sao người nỡ thù nhau nặng lời.
Bóng vàng bỏ phố ra khơi
Người trên núi xuống khiến đời buồn hiu.
Bến xưa đổi gió dập dìu,
Trăm năm ai sẽ nâng niu ân tình?

Đỗ Bình



 

Cung Lan Tường Trình Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Lần Thứ 91( 2/9/2025-5/9/2025) Tại Krakow, Ba Lan


Tường trình của chủ tịch Cung Thị Lan về chuyến tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 2/9/2025-5/9/2025 tại Krakow, Ba LanTham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 tại Ba Lan có tất cả 3 hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại(VBVNHN) là:
– Cung Thị Lan – Chủ tịch VBVNHN
– Erlinda Thuỳ Linh – Phó chủ tịch VBVNHN
– Võ Ngọc Hoa – Thủ quỹ của VBVNHN Vùng Tây Nam Hoa Kỳ
Ông Pham Quang Hiệp tháp tùng với đoàn để chụp hình dùm.

Chúng tôi phải ghi danh tham dự trước ngày 1 tháng 8 năm 2025 và liên lạc với nhau để mua vé máy bay đến phi trường Krakow cùng ngày giờ.
Chủ Nhật ngày 31 tháng 8 năm 2025
Hai giờ rưỡi chiều 31 tháng 8, Anh Hiệp và tôi đến phi trường Dulles. Sau khi lấy vé và gửi hành lý xong, tôi gọi văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và được biết cô và văn hữu Võ Ngọc Hoa cũng đang gửi hành lý tại phi trường ở California.
Năm giờ bốn mươi lăm chiều chúng tôi lên đường. Máy bay đến Bỉ lúc 7 giờ sáng thứ hai ngày 1 tháng 9, 2025, sớm hơn lịch định 20 phút. Chúng tôi đợi đến chín giờ rưỡi sáng để đáp chuyến máy bay từ Bỉ đến phi trường Krakow.

Thứ hai ngày 1 tháng 9 năm 2025


Chúng tôi đến phi trường Krakow vào lúc mười một giờ bốn mươi phút sáng ngày 1 tháng 9. Tại đây chúng tôi lấy hành lý rồi chờ hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa. Trong khi chờ đợi, tôi đi đổi một ít Mỹ Kim sang tiền Ba Lan nhằm chi trả trong những trường hợp người ta không dùng credit cards hay thưởng tips cho các phục vụ.
Một giờ hai mươi lăm chiều (13:25) máy bay của văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa đáp xuống phi trường Krakow nhưng cả hai không tìm thấy hành lý của mình. Anh Hiệp đã giúp văn hữu Erlinda Thuỳ Linh vào chỗ thất lạc hành lý làm giấy báo cáo để nhân viên tìm dùm. Nhân viên cho biết hai hành lý vẫn còn ở Frankfurt vì thời gian chuyển máy bay khá gấp rút. Chúng tôi đành ghi lại số phone và email của anh Hiệp để cho họ dễ liên lạc rồi cùng nhau lấy xe taxi về khách sạn Park Inn, nơi đối diện ICE Krakow Congress Centre.
Sau khi lấy phòng ở khách sạn Park Inn, chúng tôi vệ sinh qua loa rồi gọi Uber đến quảng trường chính của thành phố Krakow để đến Potochi Palace (20 Rynek Glowny) để nhận bảng tên và gói thông tin về Đại Hội Văn Bút Quốc Tế (VBQT) lần thứ 91 tại Krakow, Ba Lan.
  
  

Chúng tôi chụp vài tấm hình ở Potochi Palace, nơi ghi rõ thành phố Krakow được Unesco công nhận; đồng thời là thành phố Văn Học của Ba Lan rồi tạt vào một tiệm ăn gần đó. Các món ăn có vị lạ nhưng ngon. Nhất là món bánh mì giòn với bơ. Đặc biệt nhất là món súp lạnh củ cải đỏ. Ai cũng nói lần đầu tiên mới ăn món ăn này.

  


Rời tiệm ăn, chúng tôi dạo quanh quãng trường chụp hình. Chẳng thú vị lắm vì những bộ đồ cũ từ ngày hôm trước. Trở về khách sạn, tâm trạng nặng nề đầy lo lắng, không hiểu hai chiếc va li của hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa đang chu du nơi nào và làm sao chúng tôi cùng mặc áo dài dự Đại Hội như dự định. May mắn thay, 9 giờ rưỡi nhân viên nơi thất lạc hành lý gửi email báo anh Hiệp sẽ đem vali đến khách sạn và hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa nhận hai chiếc hành lý trong trạng thái vui mừng khôn xiết.

Thứ ba ngày 2 tháng 9 năm 2025


Sáng nay, thứ ba ngày 2 tháng 9 năm 2025, ba chúng tôi trong ba chiếc áo dài xuống phòng ăn của khách sạn Park Inn để ăn điểm tâm rồi bước sang đường để đến ICE Krakow Congress Centre.

  

Năm (5) Ủy Ban của Văn Bút Quốc Tế ( gồm Ủy Ban Dịch Thuật và Quyền Ngôn Ngữ, Ủy Ban Nhà Văn Vì Hòa Bình, Ủy Ban Nhà Văn Trong Tù, Ủy Ban Nhà Văn Nữ và Uỷ Ban Các Nhà Văn Trẻ) đều có thời gian họp cùng một lúc trong buổi sáng hôm nay từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều trong lúc hai văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và Võ Ngọc Hoa đều muốn cùng tôi dự họp với Ủy ban nhà văn trong tù do chủ tịch Ma Thida đương nhiệm nên tôi đã nhờ anh Hiệp dự cuộc họp của Ủy Ban Nhà Văn Vì Hòa Bình để biết những tin quan trọng. Tôi rất tiếc vì không thể dự cuộc họp của Uỷ Ban Các Nhà Văn Nữ do Judith Hill đương nhiệm và cũng không thể ngưng dự phòng họp này đến phòng họp khác trong lúc chương trình của Uỷ Ban Các Nhà Văn Trong Tù liên tục có nhiều thông tin quan trọng.
Sau phần Chiếc ghế trống Gui Minhai (China), chúng tôi được nghe chủ tịch của Uỷ Ban Các Nhà Văn Trong Tù báo cáo. Tiếp đó là phần phát biểu của các diễn giả về đề tài Các Nhà Văn Lưu Vong do ông Helge Lunde giám đốc của chương trình Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ICORN(International Cities of Refuge Network) chủ tọa.

Tôi lấy làm thú vị khi nghe những câu chuyện kể của thi sĩ Kholoud Charaf, hội viên của Văn Bút Đức và nhà văn Rabigul Erkmen, thành viên cûa Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ICORN. Cả hai đều kiên cường và quả quyết trong việc diễn đạt tư tưởng qua các tác phẩm văn chương của mình, trốn thoát sự áp bức và phát triển kiến thức
Kholoud Charaf vừa là thi sĩ, vừa là nhà văn, nhà hoạt động người Syria và là thành viên của Văn Bút Đức. Cô đã xuất bản bốn cuốn sách, bao gồm tập thơ “Những tàn tích của con bướm”, viết về chiến tranh và cuộc sống ở Syria. Thơ của cô đã được dịch ra mười thứ tiếng. Cô đã nhận được học bổng văn học từ Ba Lan, Mỹ, Latvia, Thụy Điển và Đức. Cuốn tự truyện “Hành Trình Trở Về Núi” của cô đã nhận được Giải thưởng danh giá Muhammad Ibn Battuta của Maroc vào năm 2019. Cô được nhận học bổng chương trình Mạng Lưới Thành phố Tị nạn Quốc tế ở Krakow từ năm 2018 đến năm 2020

 

Rabigül Erkmen là nhà văn, nhà nghiên cứu, và người ủng hộ quyền con người và quyền phụ nữ, đặc biệt tập trung vào ngôn ngữ, văn hóa Duy Ngô Nhĩ và hoàn cảnh khốn khổ của người Duy Ngô Nhĩ(Uyghur.)ở Trung Quốc. Cô có bằng Tiến sĩ về Thổ Nhĩ Kỳ học tại Đại học Hacettepe ở Ankara. Luận án Tiến sĩ của cô đã phân tích các bản thảo tiếng Duy Ngô Nhĩ(Uyghurs.), một phần của Bộ sưu tập Gunnar Jarring tại Đại học Lund, Thụy Điển.
Rabigül đã hợp tác với các chuyên gia khác tập trung vào các vi phạm nhân quyền mà người Duy Ngô Nhĩ (Uyghurs.) ở Trung Quốc phải đối mặt. Báo cáo năm 2021 của cô ghi lại hàng loạt đàn áp của chính quyền Trung Quốc người Duy Ngô Nhĩ. Erkmen đã phải đối mặt với sự sách nhiễu liên tục từ chính quyền Trung Quốc vì cô vạch trần sự đàn áp cûa họ đối với người Duy Ngô Nhĩ (Uyghurs.)
Vào tháng 9 năm 2024, Rabigül Erkmen đến Warsaw, thủ đô Ba Lan và bắt đầu chương trình lưu trú ICORN đầu tiên tại thành phố này. Cô tiếp tục công việc nghiên cứu và vận động chính sách, đồng thời mong muốn hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu ở cả Ba Lan và Quốc Tế.

 

Tôi đã có cơ hội chụp hình kỷ niệm với hai người phụ nữ này trong giờ nghỉ dùng cà phê. Cũng cần ghi rõ phần này rằng không ai được phép chụp hình hay quay phim trong các cuộc họp để đảm bảo sự an toàn cho diễn giả. Chúng tôi chỉ có thể chụp hình khi xong các cuộc phát biểu và được đồng ý.
Sau phần nghỉ để dung cà phê và bánh ngọt là phần bàn luận về các giải pháp trong vấn đề tự do diễn đạt tư tưởng tại Hoa Kÿ, báo cáo cập nhật của các Trungtâm Văn Bút.
12:30 chúng tôi ăn trưa cho đến 13:30 P.m
Sau đó là phần báo cáo kết quả của sự vi phạm Nhân Quyền, thảo luận về các vấn đề Nhân Quyền và các giải pháp. Tôi vốn không thích phát biểu mà chỉ muốn nghe để học hỏi nhưng phầnGiải Pháp có nhiều điều cần cho Uỷ Ban nắm rõ như chuyện giúp đỡ gia đình các nhà văn bị tù khiến cho thân nhân của họ không an lòng. Tôi đã nên trường hợp Ban Chấp hành VBVNHN đã giúp đỡ gia đình nhà văn Phạm Đoan Trang và kinh nghiệm sau khi giúp đỡ tài chính. Trong phần thảo luận nhóm, văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và tôi cũng tham gia đóng góp ý kiến. Ngoài ra chúng tôi nhận thấy các đại biểu của Đài Loan, và Independent China hết lời phản đối chính quyền Cộng Sản Trung Quốc và thúc giục tìm giải pháp cứu những người bất đồng chính kiến ra khỏi nhà tù.

4 giờ chiều (16:00), các phòng họp của các Uỷ Ban đều chấm dứt. Chúng tôi tập trung trước cửa của Hội Nghị để được xe buýt đưa đến nhà hát Kino Kijow để dự buổi lễ Khai Mạc Đại Hội Văn Bút Quốc Tế Lần Thứ 91


Tại đây chúng tôi được ngắm các trình bày đầy mỹ thuật, các máy quay phim cổ điển, hình tượng giäi Oscar của diễn viên Ba Lan, được chụp hình, rồi nhận máy thông dịch khi bước vào rạp hát.
Ban Chấp Hành Văn Bút Quốc Tế đã khai mạc chào mừng với những lời đơn giản, ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Sau đó là cuộc phỏng vấn hết sức thú vị của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez và nhà văn nữ Olga Tokarczuk.


Olga Nawoja Tokarczuk là nữ nhà văn người Ba Lan đạt giải Nobel Văn học năm 2018.
Qua đối thoại của họ, tôi muốn mua vài cuốn sách của bà để biết được với những câu chuyện trong tiểu thuyết, hồi ký , truyện ngắn hay truyện thần thoại. Tuy nhiên khi rời rạp hát để đến quầy sách tôi không tìm thấy được cuốn sách tiếng Anh. Những cuốn sách còn lại chỉ là sách Ba Lan.
 

Rời nhà hát Kino Kijow chúng tôi theo định vị của Google tìm đường đi đến Krakow Townhall để dự buổi tiệc Chào Đón do văn phòng thị trưởng Krakow tổ chức. Được biết Krakow là thành phố lớn thứ hai của Ba Lan; đồng thời là thành phố được UNESCO công nhận; cho nên, được đến nơi đây là niềm vinh dự.


Tại đây chúng tôi được nghe những lời phát biểu của thị trưởng và chủ tịch VBQT Burhan Sonmez
phát biểu. Tất cả đều được thông dịch từ tiếng Ba Lan sang tiếng Anh và ngược lại. Chúng tôi được đãi rượu và các món ăn nhẹ. Đặc biệt nhất là chúng tôi được chụp hình với thị trưởng.

  

Chúng tôi về nhà khoảng mười giờ tối. Rất vui vì có một ngày trọn vẹn. Thời tiết ấm nóng đã tạo điều kiện cho chúng tôi mặc áo dài, ba chiếc áo dài với ba màu khác nhau. Điều này khá đặc biệt đến nỗi khách đến nhà hát cốt để nghe và gặpnhà văn nữ Olga Tokarczuk cũng muốn chụp hình với chúng tôi.Vì lẽ này, tôi cùng văn hữu Erlinda Thuỳ Linh và văn hữu Võ Ngọc Hoa đã bàn tính các màu áo khác nhau cho những ngày tới.

Thứ Tư ngày 3 tháng 9 năm 2025


Sáng nay trời mưa nên tôi đã mặc chiếc áo màu cam nhạt thay vì màu xanh lá mạ như bàn tính cũng bởi tôi sẽ che mưa bằng chiếc dù màu đỏ hồng.

 

Ăn sáng xong, chúng tôi đi bộ sang ICE Krakow Congress Centre.
Có thể nói đây là Hội Nghị lần thứ nhất của Đại Hội VBQT lần thứ 91 tại ICE Krakow Congress centre.
Đúng chín giờ sáng (9:00) hội nghị mở đầu bằng lời chào mừng của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez và chủ tịch Văn Bút Ba Lan (Văn Bút chủ nhà)
Sau phần Chiếc ghế trống lần thứ nhất là phần tưởng niệm các văn thi sĩ của Văn Bút Quốc Tế quá vãng kể từ sau Đại Hội 90 tại Oxford Anh đến ngày này. Tôi rất xúc động khi thấy tên văn hữu Hoàng Bạch Mai trên bảng Tưởng Niệm. Cuối cùng, sự kiên nhẫn của mình của đã thành công và tôi hy vọng hương linh của văn hữu Hoàng Bạch Mai hài lòng nơi miên viễn.
 

Sau phần Tưởng niệm là phần thông báo cách tiến hành của Đại Hội và lịch làm việc. Tiếp theo là phần tường trình của Giám đốc điều hành VBQT, Thủ quỹ của VBQT, và Quỹ khẩn cấp của VBQT.
Tiếp tục chương trình là phần báo cáo về chương trình Tự Do Diễn Đạt Tư Tưởng của Văn Bút Ba Lan. Sau đó là phần nghỉ để dùng cà phê.
Đúng 11 giờ (11:00) cử tọa bắt đầu phần Bầu Cử với các thuyết trình của các ứng cử viên với các trách vụ sau:
Tổng thư ký VBQT
Các thành viên trong Ban Chấp hành
Ban Bầu Cử Tiến Hành bởi Uỷ Ban Các Nhà Văn Bị Cầm Tù và Uỷ Ban Các Nhà Văn Trẻ.
Thành viên của Uỷ Ban Tra Cứu
Phó chủ tịch VBQT
Các ứng cử viên phát biểu rất hay đặc biệt là bài phát biểu của bà TienChi của văn Bút Independent Chinese PEN, người luôn đề cập đến sự nguy hại của chính quyền Trung Cộng và sự đề cử của chủ tịch VBQT Burhan Sonmez về ứng cử viên Olga Tokarczuk.

  

Theo tôi, khi Olga Tokarczuk giữ trách vụ Phó chủ tịch VBQT sẽ khiến Văn Bút Quốc Tế vẻ vang hơn nữa và khả năng là bà sẽ là chủ tịch VBQT trong tương lai.
Từ 1 giờ đến 2 giờ trưa (13:00- 14:00) là phần Ăn Trưa
Đúng 2 giờ chiều(14: 00) Đại Hội tiến hành Hội Nghị lần thứ hai:
Sau phần chiếc ghế trống lần thứ 2 là phần trình bày về các Tu Chính ( Sửa Đổi Hiến pháp và Điều lệ của Hiệp Hội)
3 giờ 40 chiều(15:40) là phần nghỉ để dùng cà phê cho đến 4 giờ chiều(14:00)
Đúng 4 giờ chiều là là phần thảo luận về đề tài Văn Học biết không Biên Giới. Tiếp đến là phần Ra Mắt Triển Lãm Kỷ Niệm 100 năm của Văn Bút Ba Lan. Vì phần này bắt đầu vào lúc 5 giờ 30 chiều (17:30), thời điểm các văn hữu khá mệt mỏi sau một ngày dự Đại Hội nên cử toạ vắng hơn trước đó. Hơn nữa, sự không chú tâm của cử toạ khiến một diễn giả khá bất bình, đề cập đến điều này. Biết được tâm lý của người tham dự, nôn nóng buổi họp sớm kết thúc để về chuẩn bị cho buổi họp ban tối, cô Magda Heydel người điều hành chương trình vội vã nói nhanh về chương trình tiếp theo của Văn Bút Ba Lan trong buổi tối hôm ấy để chúng tôi có thể rời trung tâm Đại Hội ICE sớm, thì tôi giơ tay xin phát biểu. Tôi đã tri ân các nhiếp ảnh gia và các nhà lưu trữ hình ảnh sinh hoạt của Văn Bút Ba Lan để giờ đây tôi có thể chụp lại những tấm hình quý giá mà họ đã ghi lại những sinh hoạt của trung tâm Văn Bút của họ trong buổi Triển Lãm. Đồng thời, tôi cũng đã cảm ơn Văn Bút Ba Lan từng giúp các nhà văn Việt Nam và nhà đấu tranh của Việt Nam thoát khỏi nhà tù Cộng Sản Việt Nam. Đáng kể nhất là trường hợp của nhà đấu tranh Đoàn Viết Hoạt năm 2018. Sau lời phát biểu của tôi, vài văn hữu của các trung tâm Văn Bút khác cũng phát biểu, và tri ân.

   

Chúng tôi nấn ná một lúc rồi vội quay về khách sạn. Thay đổi y phục xong chúng tôi gọi Uber để đến quảng trường Krakow tìm tiệm ăn tối sau đó đến International Cutural Centre để tham dự Sự Kiện của Văn Bút Ba Lan với đề tài Văn Bút Trong Thời Đại Âu Lo. Chương trình bắt đầu vào lúc 8 giờ tối( 20:00) cho đến 9 giờ 30 tối( 21:30)
Chúng tôi đã được nghe những lời phát biểu đầy ý nhị và thâm thuý của hai diễn giả: Tiến sĩ Volodymyr Yermolenko Chủ tịch Ukraine (Là triết gia, nhà văn tiểu luận, dịch giả, tiến sĩ nghiên cứu chính trị người Ukraine (Trường Nghiên cứu Cao cấp về Khoa học Xã hội: EHESS, Paris), nghiên cứu sinh khoa học triết học (Kiev, 2009), và giảng viên cao cấp tại Học viện Kyiv-Mohyla. Ông là người đoạt Giải thưởng Yurii Sheveliov (2018)[2] và Giải thưởng Petro Mohyla (2021) và nhà vănAdam Michnik ( Là nhà sử học, nhà tiểu luận, cựu nhà bất đồng chính kiến, trí thức người Ba Lan, đồng thời là người đồng sáng lập và tổng biên tập tờ báo Ba Lan Gazeta Wyborcza.


Sinh ra trong gia đình trung thành chủ nghĩa cộng sản, nhưng nhà văn Adam Michnik phản đối chế độ cộng sản Ba Lan vào thời điểm đảng này tiến hành thanh trừng người Do Thái năm 1968. Ông bị cầm tù sau Sự kiện Tháng Ba năm 1968 và một lần nữa sau khi thiết quân luật được áp đặt vào năm 1981. Ông được gọi là “một trong những tù nhân chính trị nổi tiếng nhất Ba Lan”. Ông đóng vai trò quan trọng trong các Cuộc đàm phán Bàn Tròn Ba Lan, kết quả là những người cộng sản đã đồng ý tổ chức bầu cử vào năm 1989, và Công đoàn Đoàn kết đã giành chiến thắng. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng và danh hiệu, bao gồm Huân chương Bắc đẩu Bội tinh và Giải thưởng Người Châu Âu của Năm)
Khi người dẫn chương trình tuyên bố buổi họp kết thúc, tôi vội vã đến chụp hình với nhà văn Adam Michnik vì biết ông phải rời ngay để đáp máy bay về Warsaw thủ đô Ba Lan dự họp còn tiến sĩ Volodymyr Yermolenko, chủ tịch Ukraine thường hay ngồi chung bàn với trung btâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trong Đại Hội thì tôi có thể chụp hình trong những ngày sau đó.


Thứ Năm ngày 4 tháng 9 năm 2025

 
 

Hội Nghị lần thứ ba:

Đúng 9 giờ sáng (9:00) chương trình bắt đầu phần Chiếc Ghế Trống
Kế tiếp là phần giới thiệu các trung tâm Văn Bút mới và phần thay đổi của một số trung tâm Văn Bút. Đây là phần rất quan trong vì một số đại biểu đã bất ngờ khi thấy trung tâm Văn Bút mình có tên trong Danh Sách bị loại. Qua các câu hỏi và trả lời, cử toạ đều rõ nguyên nhân các trung tâm Văn Bút “bị cho đi ngủ” hay “ bị loại” là do các trung tâm ấy không thường xuyên sinh hoạt, không liên lạc với Văn Bút Quốc Tế hay không đóng tiền niên liễm.

 

Tiếp theo là phần đọc của cựu chủ tịch VBQT Jennifer Clement về climate Manifesto rồi đến phần bàn thảo về Imagining Futures: PEN, Liturature and climate Reckoning (Hình dung tương lai: Văn Bút, Văn học và tính toán khí hậu)
12 giờ trưa chúng tôi được nghỉ dung cà phê 15 phút. Sau đó là phần bàn thảo các giải pháp
Từ một giờ rưỡi (13:30) đến 2 giờ rưỡi chiều (14:30) là phần ăn trưa
Buổi chiều được tự do nên chúng tôi đã dạo cung điên và trung tâm mua sắm của Krakow. Chúng tôi đã ghé vào một quán ăn Việt Nam ở đây. Thức ăn khá ngon.

 
B
Vì khá mệt sau một ngày lang thang đi bộ, chúng tôi không dự các chương trình buổi tối do Văn Bút Ba Lan tổ chức nhằm phát triển sự giao tiếp và thân quen ( Social gathering) tại Venue: Hevre ( Bar)


 
 
B
Thứ Sáu ngày 5 tháng 9 năm 2025

Hội Nghị lần thứ tư:

Từ chín giờ sáng đến một giờ trưa (9:00-13:00) chương trình có những mục sau:
Giới thiệu chiếc ghế trống lần thứ tư.
Phần thảo luận về sự Tự Do xuất bản: Sự kháng cự, rủi ro và trí tưởng tượng cấp tiến (The Freedom to Publish: Resistance, Risk, and Radical Imagination)
Phần thảo luận về sự Xóa Bỏ Văn Hóa (Cultural Erasure)
Một giờ trưa các đại biểu họp lại trước bục nói của khan đài để chụp hình chung. Sau khi chụp hình, tôi đã vào trang web của Đại Hội VBQT lần thứ 91 để bầu các trung tâm Văn Bút đang trong tình trạng giải quyết có còn tư cách hoạt động( Pending) và các chức vụ của các ứng cử viên, rồi đi ăn trưa.


Hội Nghị lần thứ năm:

Từ hai giờ rưỡi trưa đến bốn giờ rưỡi chiều (14:30-16:30) chương trình có những mục sau:
Giới thiệu chiếc ghế trống lần thứ năm
Thảo luận về vấn đề Đặt Văn học và Văn hóa Bản địa vào Trung tâm của các Cuộc đối thoại Toàn cầu (Centering Indigenous Literature and Culture in Global Conversations)
Công bố kết quả bầu cử
Bế mạc Hội Nghị
Rời ICE Trung Tâm Hội nghị Krakow, chúng tôi được xe buýt đưa đến Bảo Tàng viện Manggha. Nơi đây, đại diện của Văn Bút Quốc Tế đã trao hoa tặng cho các thành viên trong Ban Tổ chức của Văn Bút Ba Lan . Đồng thời Ban Chấp Hành của Văn Bút Ba Lan cũng trao tặng một số quà cho đại diện VBQT.

Chúng tôi được nghe chủ tịch Văn Bút Ba Lan phát biểu, được thưởng thức giọng ca vàng của ca sĩ Pervin Kaplan, được chiêm ngưỡng các tuyệt phẩm trong viện Bảo Tàng Manggha và được thưởng thức các món ăn nhẹ và rượu rất ngon.

 
 

Tình bạn của chúng tôi (các đại biểu của các trung tâm Văn Bút, khách mời và thiện nguyện viên) được mở rộng hơn qua những tấm ảnh chụp chung, những tiết mục văn nghệ và những câu nói bông đùa.
Buổi tiệc rượu (cocktail) do Villa Decius tổ chức đã chính thức kết thúc chương trình Đại Hội VBQT lần thứ 91.


Trước khi chờ xe buýt đưa về khách sạn, chúng tôi chụp hình với Sabrina người thường xuyên liên lạc email với tôi để thông báo các sinh hoạt của Văn Bút Quốc Tế.

 

Thứ Bảy ngày 6 tháng 9 năm 2025

Chúng tôi hẹn nhau dậy 3 giờ rưỡi sáng để chuẩn bị xe đón lúc 4 giờ đến Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau. Nhưng mới ba giờ sáng mọi người đã thức dậy bởi tiếng mưa khá lớn kèm theo sấm chớp vang dội. Dù đã khá mệt vì lo lắng chuyện tham dự Đại Hội đúng giờ, đi lại khá nhiều từ nơi này đến nơi khác, nhưng tất cả chúng tôi đều muốn đến xem tận mắt những di tích trong Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau. Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau (Memorial and Museum Auschwitz-Birkenau) là trại tập trung và trung tâm diệt chủng lớn nhất của Đức Quốc xã ở Ba Lan sau khi Đức chiếm đóng quốc gia này. Đây là nơi Đức Quốc xã đã tàn sát hơn một triệu người đàn ông, phụ nữ và trẻ em, chủ yếu là người Do Thái.
Xe đưa chúng tôi đi gần hai tiếng mới đến nơi. Sáu giờ sáng đã có một hàng người nằm đứng, ngồi, trong hàng dài để chờ đợi. Không khí đột nhiên lạnh hơn những ngày trước một cách dị kỳ. Chúng tôi đã phải dùng áo khoác dày để giữ ấm. Sau đó, phải mua áo mưa để di chuyển thuận tiện và không bị ướt.


Bảy giờ, nhân viên làm việc bắt đầu cho vào từng đợt. Các hàng người di chuyển khá chậm vì tất cả đều phải trình hộ chiếu. TRước khi đi Ba Lan, anh Hiệp cố gắng vào website để đặt mua vé nhưng bị từ chối vì hết vé. Khi đến quảng trường của thành phố Krakow trong ngày đầu tiên khi ăn chiều, anh hỏi thăm nơi quảng cáo nhận đưa đi tour Khu tưởng niệm và Bảo tàng Auschwitz-Birkenau, tưởng rằng họ đã có vé trước nhưng đến nơi mới biết hướng dẫn viên đưa đi rồi đến xếp hàng cùng mình để mua vé sau. Vì thế, khi lấy vé xong, chúng tôi phải chờ từ tám giờ đến một giờ rưỡi chiều mới có đợt vào tham quan.


Người mà tôi quan tâm lo lắng nhất là văn hữu Võ Ngọc Hoa. Những ngày dự Đại Hội chị đã đi bộ khá nhiều, lại còn có lúc thức khuya, dậy sớm; cho nên, đi một lúc tôi lại hỏi chị có đi được không. Lần nào chị cũng trả lời là đi được. Sau khi đi vòng 28 baracks của trại Tập Trung của Đức Quốc Xã, chúng tôi lại hỏi chị có thể đi tiếp không. Và câu trả lời vẫn là chị đi được. Ngày hôm ấy, chúng đi trong khu trại tập trung này gần 8 cây số. Vậy mà khi về lại thành phố Krakow chúng tôi còn đi lang thang trên những con đường dành cho khách đi bộ quanh thành phố trước khi ghé vào tiệm ăn.


Qua chuyến đi dự Đại Hội VBQT lần này, tôi thật sự nghiêng mình khâm phục sự cố gắng vượt bậc của Thủ quỹ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ (VBVNHN-VTNHK) văn hữu 83 tuổi Võ Ngọc Hoa. Chị đã tham dự đầy đủ các buổi họp và hết sức vui mừng khi biết VBVNHN giữ vai trò khá ổn định trong VBQT. Tôi chân thành cảm ơn Phó chủ tịch VBVNHN văn hữu Erlinda Thuỳ Linh đã giúp đỡ văn hữu Võ Ngọc Hoa tham gia chuyến đi, không cần dịch vụ xe lăn. Tôi chân thành cảm ơn anh Phạm Quang HIệp đã giúp chúng tôi có những bức hình đẹp, nhất là tấm hình chụp toàn thể đại biểu về dự họp Đại Hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 91 tại Ba Lan.

Riêng bản thân tôi, tôi đã thu thập và học hỏi rất nhiều vấn đề trong Đại Hội. Tôi sẽ chia sẻ những kinh nghiệm mà mình thực tế với các văn hữu hội viên trong những bức điện thư mà tôi đề cập vấn đề Bầu Cử Ban Chấp Hành VBVNHN nhiệm kỳ 2027-2029

Cung Thi Lan