Hiển thị các bài đăng có nhãn Phí Minh Tâm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phí Minh Tâm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Phế Trạch 廢宅 - Ngô Dung (Vãn Đường)


(Ngô Dung 吳融 tự Tử Hoa 子華, người Sơn Âm, Việt Châu, đỗ tiến sĩ năm Long Kỷ thời vãn Đường)

Ngô Dung không tả cái nhà hoang mà chỉ muốn tả nhà Đường đang suy sụp và nước Tàu đang rơi vào móng vuốt của Rợ Hồ. Bài này cùng một tiêu đề với bài Kim Kiều Cảm Sự.

Ngô Dung

Nguyên tác Dịch âm

廢宅 Phế trạch

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngoã vũ tồi viên,
卻有鄰人與鎖門 Khước hữu lân nhân dữ toả môn.
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú,
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn.
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ,
棲燕梁空雀自喧 Thê yến lương không tước tự huyên.
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự,
咸陽一火便成原 Hàm Dương nhất hoả tiện thành nguyên.

Dịch nghĩa

Nhà Hoang

Gió thổi bay ngói xanh mưa làm sụp tường
Nhờ có người hàng xóm khép cửa giùm
Mấy cây hoa đẹp đứng nhàn nhã suốt ngày
Cỏ thơm đầy sân giống như trời tối
Ao thả cá đã cạn, ếch nhái tranh nhau tụ lại
Xà nhà nơi én ở trống không, chim sẻ kêu ồn ào
Không phải cảnh trước mắt mới thê lương
Thành Hàm Dương chỉ một mồi lửa cũng biến thành cánh đồng lạnh


Dịch thơ

Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc mưa hư tường,
Hàng xóm thương tình khóa cửa giùm.
Mấy khóm hoa tươi lười biếng đứng,
Ngập sân cỏ úa tợ hoàng hôn.
Ếch kêu inh ỏi ao không cá,
Vắng yến xà nhà sẻ véo von.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương một mối lửa tiêu luôn.

Lời bàn: 
Ngô Dung dùng thể tỷ, mượn cảnh nhà hoang để nói về nhà Đường đang suy xụp (6 câu đầu). Hai câu kết dùng nửa thể tỷ nửa thể phú để kết luận rằng chỉ một mồi lửa cũng đốt 

Con Cò
***
Nhà Hoang.

Ngói xanh gió rập, vách mưa pha,
Lối xóm thương giùm khép cửa nhà.
Mấy khóm hoa thơm nhàn nhã đứng,
Đầy sân cỏ héo nắng chiều tà.
Cá không ao cạn ếch tranh tụ,
Yến vắng xà nhà sẻ náo la.
Chẳng những thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương đốm lửa cũng tiêu ma.

Mỹ Ngọc.
Jul. 18/2026.
***
Ngôi Nhà Sang Trọng Bỏ Hoang

Gió mưa đổ ngói quý, tường nhà
Hàng xóm đóng giùm khóa cửa ra
Hoa đẹp nở chi ngày vắng lặng
Cỏ hoang hiu hắt ánh chiều tà
Ao khô cá chết giờ nhiều nhái
Chim yến bỏ đi sẻ hót ca
Không chỉ nơi đây buồn áo não
Hàm Dương một lửa hóa tha ma

Thanh Vân
***
Nhà Hoang

Gió bay ngói biếc bão xiêu tường
Nhờ có xóm giềng khép cổng xuông
Dăm cội hoa xinh ngày lặng lẽ
Đầy sân cỏ dại sớm chiều buông
Cá đi ao cạn ếch tranh chỗ
Én tổ xà không sẻ réo cuồng
Đâu chỉ thê lương bày trước mắt
Hàm Dương một lửa hóa thành nương

Song thất lục bát:

Mưa đổ tường, gió bay ngói biếc
Nhờ xóm giềng hờ khép cổng thay
Hoa dăm cội, lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ dại sớm bày hoàng hôn
Ao cá cạn ếch luôn sống khỏe
Xà én không lũ sẻ réo cuồng
Cảnh trước mắt gợi thê lương
Chỉ một mồi lửa, Hàm Dương hóa đồng!

Lộc Bắc
Jul26
***
Nhà Hoang

Mái đổ tường nghiêng mưa gió bay
Cậy nhờ hàng xóm khép cửa thay
Hoa xinh chi lặng lẽ ngày
Đầy sân cỏ héo nắng phai chiều tà
Ao cạn cá đi nhái tụ lại
Xà hoang én lặng sẻ inh tai
Cảnh buồn trước mắt riêng ai
Hàm Dương một lửa thiên tai hóa đồng.

Kim Oanh
***
Cám ơn anh Bảo chọn bài hay, và hai anh Giám, Tâm đã góp ý rất sớm. Bài của anh Tâm thật đầy đủ, giải thích rõ ràng làm BS học hỏi được rất nhiều, và không còn chỗ để ba hoa…
Bài thơ rất hay, câu thứ 3 làm BS nhớ tới hai câu trong bài Sơn Phòng Xuân Sự của Sầm Tham:
Đình thụ bất tri nhân khứ tận,
Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.
Cây cỏ vô tình, đâu hiểu được những tang thương của nhân thế.

Nhà Hoang

Mưa gió xiêu tường, ngói biếc tuôn,
Đóng cửa nhờ hàng xóm trông nom,
Mấy cây hoa đẹp nhàn nhã sống,
Khắp sân cỏ dại ẩn hoàng hôn,
Ếch tranh nhau tới, ao không cá,
Xà nhà hết én, sẻ kêu om,
Chẳng phải thê lương ngay trước mắt,
Hàm Dương mồi lửa đốt tiêu luôn.

Bát Sách.
(Ngày 23/07/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

廢宅-吳融 Phế Trạch - Ngô Dung

風飄碧瓦雨摧垣 Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
却有鄰人與鎖門 Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
幾樹好花閑白晝 Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
滿庭荒草易黃昏 Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
放魚池涸蛙爭聚 Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
棲燕梁空雀自喧 Tê yến lương không tước tự huyên
不獨淒涼眼前事 Bất độc thê lương nhãn tiền sự
鹹陽一火便成原 Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Bài thơ luật thất ngôn bát cú có mộc bản trong các sách:

- Đường Anh Ca Thi - Đường - Ngô Dung 唐英歌诗-唐-吴融
- Hậu Thôn Thi Thoại - Tống - Lưu Khắc Trang 后村诗话-宋-刘克庄
- Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
- Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
- Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨
- Sách Ngô Dung cũng như các sách chữ Hán khác viết chữ 却tức. Thời Đường không có chữ giản thể nên tức không phải là giản thể của 卻khước vào thời đó.
- Sách của Huyền Diệp cho 4 dị bản trong các câu 2, 4, 5 và 8 cho các chữ: 與dữ/為vi, 易dị/自tự, 聚tụ/鬧náo, 便成tiện thành/變寒biện hàn.
Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7

Giải nghĩa chữ khó:

- Bích ngõa: Ngói tráng men màu xanh lá cây thường được sử dụng trên mái của các tòa nhà sang trọng của vương công đại thần hoặc nhà quyền quý ngày xưa như: cung điện, đền thờ…với những cánh cổng màu đỏ son và gạch xanh, rực rỡ và lộng lẫy. Màu sắc tươi sáng của chúng làm nổi bật sự hùng vĩ của kiến trúc.
- Tồi viên: Bức tường thành hoặc tường bao bị đập phá, làm sụp đổ, đổ nát.
- Lân nhân: Những người sống gần đó, hàng xóm.
- Tỏa môn: Đóng và khóa kín cửa.
- Hảo hoa: Những bông hoa đẹp, nhiều màu sắc, một phép ẩn dụ cho việc không tận tụy với cảm xúc của một người.
- Bạch trú: Ban ngày, khoảng thời gian từ bình minh (sau khi mặt trời mọc) đến hoàng hôn (trước khi mặt trời lặn).
- Nhàn bạch trú: Nở ra một cách uổng phí vì ban ngày vắng vẻ, nhàn rỗi, không người qua lại thưởng thức.
- Hoàng hôn: thời gian sau khi mặt trời lặn, trước khi trời tối hoàn toàn; một ẩn dụ cho tuổi già hoặc những năm chạng vạng, đại diện cho các giai đoạn sau của cuộc đời; một phép ẩn dụ cho một thời kỳ suy tàn, thường được sử dụng để mô tả sự kết thúc của một chế độ, tổ chức hoặc sự vật.
- Dị hoàng hôn: Dễ chìm vào cảnh chiều tà bóng xế; hoàng hôn như buông xuống nhanh hơn khi đối diện với bãi cỏ hoang tàn.
- Phóng ngư trì hạc: Ao thả cá cạn khô nước.
- Oa tranh tụ: ếch tụ tập lại với nhau (một loại náo loạn)
- Lương không: Xà nhà trống rỗng, không còn người ở, không còn tổ yến.
- Tước tự huyên: Chim sẻ tự kêu ồn ào.
- Bất độc: Không chỉ riêng, không chỉ đơn thuần
- Thê lương: Nỗi buồn, một môi trường hoặc phong cảnh cô đơn hoang vắng, môt trạng thái tinh thần, cô đơn và buồn phiền của một người, một bối cảnh bi thảm và khó khăn, gợi lên sự đồng cảm.
- Nhãn tiền: Trước mắt, không gian trước mặt, khoảng thời gian hiện tại
- Hàm Dương nhất hỏa: một trận lửa ở Hàm Dương. Điển cố lịch sử, khi Tây Sở Bá Vương Hạng Võ đánh vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, ông đã phóng hỏa đốt cung A Phòng, ngọn lửa cháy suốt ba tháng trời không tắt.

- Tiện thành nguyên: Liền biến thành bãi hoang, thành đồng trống.

Dịch nghĩa bài thơ:

Phế Trạch Ngôi Nhà Bỏ Hoang

Phong phiêu bích ngõa vũ tồi viên
Gió thổi bay những viên ngói xanh, mưa làm sụp đổ bức tường bao quanh,

Tức hữu lân nhân dữ tỏa môn
Thế nhưng vẫn có người hàng xóm tốt bụng đến khóa hộ cánh cửa lại.

Kỷ thụ hảo hoa nhàn bạch trú
Mấy cây hoa đẹp đẽ nở ra một cách uổng phí giữa ban ngày,

Mãn đình hoang thảo dị hoàng hôn
Cả sân đầy cỏ hoang làm cho cảnh chiều tà càng dễ gợi vẻ sầu muộn.

Phóng ngư trì hạc oa tranh tụ
Ao thả cá đã cạn khô, lũ ếch nhái tụ tập tranh nhau,

Tê yến lương không tước tự huyên
Xà nhà nơi chim yến từng đậu nay trống rỗng, chỉ còn lũ chim sẻ tự ríu rít ồn ào.

Bất độc thê lương nhãn tiền sự
Nào phải chỉ riêng chuyện trước mắt này mới đáng buồn thương u sầu,

Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên
Hãy nhìn xem kinh thành Hàm Dương năm xưa, chỉ một mồi lửa của Hạng Võ cũng biến thành đồng cỏ hoang vu.

Bình luận:

Nhà thơ Ngô Dung (850–903) sống vào giai đoạn Vãn Đường – thời kỳ triều đình thối nát, khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào nổ ra, và các phiên trấn đánh giết lẫn nhau làm cho đất nước tan hoang. Bản thân Ngô Dung từng giữ chức quan (Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang) nhưng liên tục phải sống trong cảnh lưu vong, chứng kiến kinh thành Trường An bị tàn phá nhiều lần. Bài thơ này được sáng tác khi ông nhìn thấy dinh thự của một đại thần quyền quý trước đây nay chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn. Bài thơ dùng phế cảnh để gợi phế vận. Ngô Dung không than trực tiếp, mà để cảnh vật tự nói.

phế trạch = nhà hoang = xã hội mục nát.
hảo hoa nhàn bạch trú = hoa đẹp nở trong ngày vắng = cái đẹp lẻ loi giữa thời loạn.
trì hạc – lương không = ao cạn – xà trống = sinh khí tiêu tán.

Dịch thơ:

Thể thất ngôn luật thi:

Ngôi Nhà Hoang Phế

Gió cuốn ngói xanh, mưa phá tường,
Khóa nhà hàng xóm đầy tình thương.
Vài cây hoa nở ngày thanh vắng,
Cỏ dại đầy sân dục tối buông.
Ao cạn cá đi, nhái tụ tập,
Xà trơ yến vắng, sẻ nhiễu nhương.
Cảnh buồn trước mắt nào riêng xót,
Một lửa phế tiêu thành Hàm Dương

Ruined/Abandoned House by Wu Rong

Wind blows the emerald blue tiles away and rain destroys the crumbling surrounding walls,
Yet some kind neighbor still comes to lock the broken door.
A few beautiful flowers bloom in vain during the empty daylight,
While wild weeds fill the courtyard, hastening the gloomy dusk.
The fish pond has dried up, where frogs now gather and fight,
The rafters are bare; no swallows roost, only noisy sparrows cry,
Not only these desolate sights before my eyesthat brings sadness,
For even great Hanyang, once set aflame, turned wholly into barren wasteland.

Phụ đính:

Hàm Dương nhất hỏa 咸陽一火 là một điển cố văn học bắt nguồn từ một sự kiện biến cố trong lịch sử Trung Hoa: Tây Sở Bá Vương Hạng Võ phóng hỏa thiêu rụi kinh đô Hàm Dương của nhà Tần vào năm 206 TCN.

Nguồn gốc lịch sử: Mồi lửa của Hạng Võ

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước chư hầu, ông đã dốc tài lực, nhân lực của cả giang sơn để xây dựng kinh đô Hàm Dương (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) thành một siêu đô thị tráng lệ bậc nhất. Nơi đây không chỉ có cung Hàm Dương bề thế, mà còn tập hợp các kiến trúc tinh hoa của lục quốc, nổi bật nhất là cung A Phòng – một công trình vĩ đại với quy mô có thể chứa hàng chục vạn người. Năm 206 TCN, vương triều Tần sụp đổ. Lưu Bang là người tiến quân vào Hàm Dương trước, nhưng vì nể sợ thế lực của Hạng Võ nên đã rút quân ra đóng ở Bá Thượng. Khi Hạng Võ dẫn đại quân Tây Sở tràn vào kinh thành, sự phẫn nộ tích tụ của một quý tộc nước Sở bị diệt vong đã biến thành một cuộc thảm sát và hủy diệt tàn khốc:

Hạng Võ hạ lệnh giết vua Tần hàng phục là Tử Anh.
Ông cho quân lính vơ vét toàn bộ vàng bạc, châu báu và bắt các cung nữ nước Tần đem về phương Nam.

Để nhổ tận gốc biểu tượng quyền lực của triều Tần, Hạng Võ đã cho phóng hỏa đốt toàn bộ cung điện tại Hàm Dương. Theo sử sách ghi lại (đặc biệt là trong Sử ký của Tư Mã Thiên), ngọn lửa hung tàn ấy cháy rực trời suốt ba tháng trời mới tắt hẳn, biến kinh thành nguy nga bậc nhất thành một đống tro tàn, một bình nguyên trống trải hoang vu.

Quy mô "Nhất hỏa" và tranh luận khảo cổ ngày nay:

Trong văn học, "nhất hỏa" (một mồi lửa) nghe có vẻ nhanh chóng, nhưng trên thực tế, đó là một đợt hủy diệt có hệ thống.
Tuy nhiên, các cuộc khai quật khảo cổ hiện đại tại di tích kinh đô Hàm Dương cũ đem lại góc nhìn rất thú vị:
Cung Hàm Dương thực sự bị cháy: Các nhà khảo cổ tìm thấy lớp tro than dày và dấu vết gạch ngói bị nung chảy tại khu vực trung tâm triều đình nhà Tần, chứng thực cho ghi chép của sử sách.

Bí ẩn cung A Phòng: Trái với truyền thuyết văn học cho rằng cung A Phòng bị Hạng Võ thiêu rụi, các cuộc dò tìm khảo cổ cho thấy phần nền móng của cung A Phòng chưa hề có lớp tro cháy. Điều này chứng minh cung A Phòng thực chất chưa bao giờ được xây dựng hoàn thiện dưới thời Tần, nên Hạng Võ chủ yếu là đốt cung điện Hàm Dương và các kiến trúc xung quanh. Dù vậy, quy mô tàn phá của ngọn lửa năm đó vẫn là một thảm họa văn hóa khủng khiếp, thiêu rụi vô số sách vở, tư liệu lịch sử quý giá mà nhà Tần lưu giữ.

Ý nghĩa văn học và triết lý của điển cố:

Khi đi vào thơ văn, "Hàm Dương nhất hỏa" không còn đơn thuần là một sự kiện quân sự, mà nó trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa:

Biểu tượng của quy luật Thịnh – Suy và "Vô thường" Trong bài thơ Phế trạch của Ngô Dung, điển cố này được dùng ở câu kết để đẩy cảm xúc lên đỉnh cao. Từ một ngôi nhà hoang nát trước mắt, nhà thơ nhìn rộng ra cả một triều đại. Nhà Tần từng dùng bạo lực dẫm đạp lên lục quốc, xây điện đài nguy nga tưởng như "vạn thế" (muôn đời), nhưng cuối cùng tất cả vinh hoa ấy cũng chỉ cần "một mồi lửa" là trở về cát bụi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi, mỏng manh của quyền lực và vật chất.

Tiếng thở dài trước sự tàn phá của chiến tranh Mỗi khi các nhà thơ Trung Hoa hay Việt Nam đi qua những kinh đô cũ đổ nát (như Trường An, Lạc Dương, Thăng Long, Huế), họ thường mượn ngọn lửa Hàm Dương để ám chỉ sức tàn phá khủng khiếp của binh đao loạn lạc. Của cải, công sức của hàng triệu người trong hàng chục năm có thể bị xóa sổ chỉ trong vài ngày bởi lòng thù hận và tham vọng của các thế lực phong kiến.

Bài học về lòng dân và sự cai trị Ngọn lửa của Hạng Võ bùng cháy dữ dội như vậy là do nó được tiếp tay bởi sự oán hận ngút trời của trăm họ đối với chính sách bạo ngược của nhà Tần. Biến Hàm Dương thành đống tro tàn vừa là tội ác của Hạng Võ, nhưng cũng là quả báo của nhà Tần. Do đó, điển cố này còn mang tính răn đe chính trị sâu sắc đối với các tầng lớp thống trị đời sau: "Mất lòng dân thì vương triều dù kiên cố đến đâu cũng sẽ bị thiêu rụi".
Cháy rụi cả thành Hàm Dương (chỉ một bọn giặc cỏ cũng cướp nổi ngôi nhà Đường).

Phí Minh Tâm
***
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:

Ngoài các trang chữ Hán cho một số phương ngôn, chỉ có thêm hai trang Wikipedia tiếng Nhật và Pháp cho Ngô Dung. Sử liệu không ghi rõ năm sinh, tử của Ngô Dung nhưng các nhà nghiên cứu suy rằng ông sinh năm 850, đi thi lần đầu năm 15 tuổi thời Hy Tông nhưng chỉ đỗ tiến sĩ 24 năm sau thời Chiêu Tông, khi đã gần 40 tuổi. Vì tính tình chính trực, triều chính thối nát, và vì việc Chiêu Tông bị hoạn quan Hoàn Tán Hối (韓全誨) bắt cóc, hoạn lộ của Ngô trắc trở; ông qua đời trong khoảng năm 903 khi đang giữ chức hàn lâm thừa chỉ (翰林承旨). Ba năm sau thì nhà Đường chấm dứt.

咸陽一火便成原=Hàm Dương nhất hỏa tiện thành nguyên

Câu cuối của bài thất ngôn bát cú này là câu then chốt giúp người đọc hiểu rằng đây không phải là một bài thơ tả cảnh nhà hoang (废宅=phế trạch) mà là thơ tả cảnh Tràng An thời Đường mạt vì điển tích Hàm Dương nhất hỏa nhắc đến việc Hạng Vũ dẫn quân vào kinh đô Hàm Dương năm 206, tàn sát gia đình vua Tần và phóng hỏa đốt cung A Phòng (阿房宫). Nhà Tần chấm dứt từ đó.

Nhà hoang (廢宅=phế trạch) có nghĩa là nhà không còn người ở và vì thế mà láng giềng qua đóng cửa giùm (鄰人與鎖門=lân nhân dữ tỏa môn), vườn đầy cỏ dại (荒草=hoang thảo) và suốt ngày không ai hái hoa (好花閑白晝=hảo hoa nhàn bạch trú), hồ cá cạn nước (放魚池涸=phóng ngư trì hạc) và ếch nhái tụ tập dành nhau chiếm chỗ (蛙爭聚=oa tranh tụ), và chim sẻ thay chim én sống ồn ào trên xà nhà (放魚池涸蛙爭聚=thê yến lương không tước tự huyên). Các câu mở đầu này cho ta biết rằng bài thơ ra đời năm 901 sau khi Chu Toàn Trung (朱全忠) tiến quân đến Tràng An và các hoạn quan ép Chiêu Tông dời đô qua Phượng Tường (鳳翔).

Ta có thể xem bài thơ này như lời tiên tri của Ngô Dụng về số phận nhà Đường.

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

1. Rất đồng ý với nhận xét của anh Giám. Bài Phế Trạch của Ngô Dung mượn cảnh một ngôi nhà hoang phế để phản ánh sự suy tàn của vương triều Đường vào giai đoạn cuối. Bài thơ là một kiệt tác thất ngôn luật thi, dùng phế cảnh để gợi phế vận, nói lên quy luật thịnh suy của lịch sử và giáo lý duyên sinh “Sinh trụ hoại diệt” của Phật giáo.

2. Mộc bản trong sách của Ngô Dung, cũng như các sách chữ Hán khác, xài chữ 却 tức=tức là trong câu 2, không phải chữ 卻khước=từ giã, lùi về... Không phải giản thể của chữ 卻 khước ngày nay (Thời Đường chỉ có chữ phồn thể, đâu có chữ giản thể).

3. Chữ 棲 trong câu 6 có thể phiên âm là tê hay thê. tê sẽ không trùng với thê trong câu 7.

@ mirordor trả lời:

Theo 卻 vs. 却 - 異體字字典 (từ điển cho dị thể của bộ giáo dục Đài Loan):

「却」為「卻」之異體字。tức vi khước dị thể; [tức là dị thể của khước] và trang này giải thích rằng lối viết của 卻 đã thay đổi theo thời gian, từ dạng 却 trong tiểu triện qua dạng 卻 trong lệ thư nhưng chữ viết trên các bia đá thì là 却. Các nghĩa 'rồi', 'được', 'đang', 'vẫn' của 卻=khước hợp với câu thơ hơn các nghĩa của 却=tức (thì, liền).

Huỳng Kim Giám

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Quy Tín Ngâm 歸信吟 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)


Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.


Thơ ông chứa đựng nhiều nước mắt khi nói về tử mẫu và hiền phụ

Nguyên tác Dịch âm

歸信吟 Quy Tín Ngâm

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân.

Dịch nghĩa

Khúc ngâm gửi thư về

Mực hoà nước mắt viết thành thư*
Gửi đến người thân xa vạn dặm
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng chốc chỉ còn trơ lại thân này.

Dịch thơ
Khúc ngâm gửi thư về


Mài mực bằng nước mắt
Ngàn dặm gởi người thương.
Thư gởi hồn cũng gởi,
Còn lại xác vô thường.


Quản Mỹ Lan & Con Cò


Lời bàn thêm của Con Cò

*Người Tàu mài cục mực đen với nước trong cái nghiên. Vai chính trong bài thơ này là người nữ, đã dùng lệ thế nước để mài mực viết thư (lệ của người nam ít lắm, không đủ để mài mực). Yếu tố này không thực mấy cho nên không hợp với thơ Đường; có lẽ vì vậy mà có vài thi sĩ đương thời cho rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo).

Gửi Thư Về Ngâm Khúc.

Mục hòa lệ viết thơ,
Gửi tới người xa mờ.
Hồn cũng theo đi mất,
Còn thân ta thẫn thờ.

Lục Bát.

Lệ hòa mực viết thành thơ,
Gởi người yêu dấu xa mờ dậm muôn.
Hồn theo cánh gió đi luôn,
Thân ta bỗng chốc u buồn ngẩn ngơ.

Mỹ Ngọc.
May 28/2026.
***
Gởi Thơ Cho Người

Viết thư nước mắt mực hòa
Gửi người yêu dấu cách xa vạn đèo
Thư đi hồn cũng đi theo
Bỗng nhiên cảm thấy đìu hiu phận mình!

Thanh Vân
***
Khúc Ngâm Gửi Thư Về

Mực hòa nước mắt, viết tờ thư,
Gửi người muôn dặm, chốn xa mờ,
Thư đi, hồn cũng đi theo mất,
Còn lại một mình, dạ ngẩn ngơ.

Bát Sách.
(Ngày 03/06/2026)
***
Khúc Ngâm Thư Về

Lệ tưới mực thành thư
Vạn dặm gởi người thân
Thư gởi hồn cũng gởi
Ngẩn ngơ trống rỗng thân.

Song thất lục bát

Cánh thư viết, lệ rơi hòa mực
Gởi người thân xa ngút dặm ngàn
Thư đi hồn cũng đi hoang
Ngẩn ngơ cảm thấy thân tàn rỗng không!

Lộc Bắc
***
Khúc Ngâm Thư Về

Mực hoà mắt đẵm viết lời thư
Gởi đến người xa chốn mịt mờ
Thư đi hồn phách thẫn thờ
Xác thân trống rỗng ngẩn ngơ một mình

Kim Oanh
***
Mực Hoà Nước Mắt 

Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

歸信吟-孟郊 Quy Tín Ngâm – Mạnh Giao

淚墨灑為書 Lệ mặc sái vi thư                  Nước mắt đẫm mực nhoà,
將寄萬里親 Tương ký vạn lý thân           Gởi người vạn dặm xa.
書去魂亦去 Thư khứ hồn diệc khứ          Thơ đi hồn nối gót,
兀然空一身 Ngột nhiên không nhất thân Trơ trọi một thân ta.

Nguyên tác chép từ sách của thi nhân: 诗词 孟郊 归信吟
Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao 孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Thi Phẩm Hối - Minh - Cao Bính 唐诗品汇-明-高柄
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa các từ khó:

Quy tín: thư gửi về nhà, thư báo tin quay về.
Ngâm: một thể thơ cổ, thường dùng để ngâm nga, bộc lộ tình cảm, nỗi lòng.
Lệ mặc: nước mắt làm ướt thỏi mực, hòa lẫn với mực.
Sái: vẩy, rảy, nhỏ xuống, thấm đẫm.
Tương ký: đem gửi, chuẩn bị gửi đi.
Vạn lý thân: người thân ở nơi xa cách vạn dặm.
Ngột nhiên: ngơ ngác, thẫn thờ, bất động như khúc gỗ.
Không nhất thân: thân xác trống rỗng, trơ trọi một mình.

Dịch nghĩa:

Quy Tín Ngâm Khúc Ngâm Khi Gởi Thơ Về Nhà

Lệ mặc sái vi thư Hòa nước mắt vào mực viết thành bức thư,
Tương ký vạn lý thân Để gửi cho người thân đang ở xa vạn dặm.
Thư khứ hồn diệc khứ Thư gởi đi rồi thì hồn cũng đi theo luôn,
Ngột nhiên không nhất thân Chỉ còn lại thân trơ trọi, thẫn thờ một mình.

Dịch thơ:

Gởi Thơ Về Nhà

Thể ngũ ngôn:

Mực lệ viết thành thơ,
Gởi người muôn dặm chờ.
Thơ đi hồn cũng mất,
Thờ thẩn thân bơ vơ.

Thể lục bát:

Lệ hòa vào mực viết thơ,
Gởi người muôn dặm mong chờ tin ta.
Thư đi hồn cũng bay xa,
Thẫn thờ trơ trọi thân già cô đơn.


詩囚:孟郊、賈島 。Thi tù: Mạnh Giao, Giả Đảo.
元好问《放言》称 “长沙一湘累,郊岛两诗囚”. 诗作多写世态炎凉, 民间苦难, 反映了唐朝从鼎盛时期走向衰落的士人心态.

Nguyên Hảo Vấn "phóng ngôn" xưng “ Trường Sa nhất Tương lũy, Giao Đảo lưỡng thi tù ”. Thi tác đa tả thế thái viêm lương, dân gian khổ nan, phản ánh liễu đường triêu tòng đỉnh thịnh thì kì tẩu hướng suy lạc đích sĩ nhân tâm thái.

Trong bài thơ Phóng Ngôn (Nói thẳng), Nguyên Hạo Vấn đã nhận định: "Trường Sa chỉ có một Tương lũy; còn Giao và Đảo là hai kẻ tù thi ca." Thơ ca acủa hai ông thường khắc họa những thăng trầm của thế sự cùng nỗi thống khổ của tầng lớp dân thường, qua đó phản ánh tâm thế của giới sĩ phu thời Đường trong giai đoạn chuyển giao từ đỉnh cao thịnh trị sang thời kỳ suy thoái.

Bình luận:

Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 4 câu 20 chữ nhưng dồn nén cảm xúc nhớ thương quê hương và gia đình, đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật biểu cảm nhờ những điểm đặc sắc sau đây:

Câu đầu tiên mở ra một hình ảnh đầy ám ảnh. Tác giả không chỉ khóc, mà nước mắt rơi lã chã hòa cùng dòng mực trên giấy. Bức thư không viết bằng mực thường, nó được viết bằng nỗi đau và sự nhớ thương đọng lại thành giọt lệ. Thực tế không ai lấy nước mắt mài mực viết thơ, mà ta cần xem như một ẩn dụ của sự đau khổ chia ly trong nhiều tháng năm và cả cuộc đời.

Hai câu cuối là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Thông thường, thư đi là đã xong. Nhưng với Mạnh Giao, toàn bộ tâm can, linh hồn, tình yêu thương của ông đã đặt hết vào phong thư đó để gởi về người thân. Khi bức thư rời tay, ông cảm thấy phần "hồn" của mình như đã đi theo thư, vượt vạn dặm đường dài.

Thư khứ hồn diệc khứ đối xứng và tương phản mạnh mẽ với Ngột nhiên không nhất thân. Sự trống rỗng của thân xác (như một khúc gỗ vô hồn) nhấn mạnh cái giá của nỗi nhớ. Người viết thư đã rút cạn kiệt năng lượng sống và tinh thần của mình để gửi vào trang giấy.

Bài thơ không dùng từ ngữ hoa mỹ nhưng có sức nặng ngàn cân. Nó lột tả một cách trần trụi và đau đớn tình cảm gia đình, nỗi cô đơn của những người con ly hương trong xã hội ngày xưa.

Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ ra đời trong thời gian xa gia đình, ông dồn toàn bộ tâm trí và tình cảm để viết một lá thư gửi về. Hàn Dũ từng nhận xét về Mạnh Giao: Trời đất dường như cố tình làm cho ông ấy nghèo khổ, bế tắc để ông ấy dồn hết tinh huyết vào thơ ca.

Tô Thức trong bài "Đọc thơ Mạnh Giao" từng nhận xét về thơ Mạnh Giao như sau: Thơ từ phế phủ ra, ra liền sầu phế phủ. (Thơ từ ruột gan viết ra, viết ra lại làm sầu muộn ruột gan).

A Song of the Home-Bound Letter by Meng Jiao

Tears and ink blend, splashing onto the page to make a letter,
To be sent to my loved ones ten thousand miles away.
As the letter departs, my soul departs with it too,
Leaving behind only a dazed, hollow frame of a man.

Phi Minh Tâm
***
@ Ý kiến của Huỳnh Kim Giám:

...rằng thơ của Mạnh nhạt nhẽo.

Chỉ một bài từ tuyệt 20 chữ thôi mà mỗi người có một ý kiến!

書去魂亦去 thư khứ hồn diệc khứ
兀然空一身 ngột nhiên không nhất thân.

Hồn đi theo lá thư rồi thì chỉ còn lại xác không hồn, nghĩa là người viết chết theo thơ. Đây không phải là khái niệm vô thường trong Phật học mà phản ảnh tâm tình của người kể chuyện.

Tô Thức viết thế này về thơ Mạnh Giao trong 《讀孟郊詩》"Độc Mạnh Giao thi"; “詩從肺腑出,出輒 愁肺腑” “ thi tòng phế phủ xuất, xuất triếp sầu phế phủ", có thể hiểu là lời thơ xuất phát từ cõi lòng, nỗi buồn cũng đi theo ngay lúc đó.

肺腑=phế phủ (phổi, bộ đồ lòng) là một khái niệm người Tàu dùng để nói đến tình cảm sâu đậm, chân thật từ đáy lòng. Nếu Tô Đông Pha hiểu thơ họ Mạnh như thế thì làm sao mà nghĩ nhạt nhẽo? Nhưng thôi, người đọc không phải là Tô Thức thì hiểu bài thơ như thế nào?

歸信吟=Quy tín ngâm nghĩa là gì? Tín là thư, quy là trở về và quy tín có nghĩa là thư viết về nhà. Viết cho ai? Từ 親=thân cuối câu nhì cho người đọc hiểu rằng đây không phải là thư tình mà là thư cho thân nhân, gia dình. Nếu người đọc tò mò hỏi AI " 歸信" là gì thì sẽ bị đưa đến một khái niệm tôn giáo có lẽ chưa có thời Đường! Thi nhân đi đâu, làm gì mà phải buồn đến độ mực hòa với nước mắt? Mạnh Giao chưa hề bị đi đày nên người ni chỉ có thể đoán là nhà nho lại thi rớt lần nữa! Nếu bối cảnh của bài thơ là như thế thì có nên nói rằng tâm lý của một nhà nho thất chí nhạt nhẽo ?!

@ ý kiến của Phí Minh Tâm:

Bài thơ nhạt nhẽo với ngay hai chữ đầu tiên của câu 1. lệ mặc nghĩa đen là lấy nước mắt mài mực hoặc nước mắt hòa vào mực. Do đó cần nhiều nước mắt mà phải người nữ mới có đủ. Thực tế thì có ai mà làm thế bao giờ! Lấy nước mắt hòa mực phải có đồ hứng. Đây là một bài thơ nặng ký dù chỉ có 20 chữ, nên ta phải có cách hiểu khác cho hợp lý hơn.

Lệ mặc là một ẩn dụ có thể hiểu theo hai cách khác nhau. hoặc là những giọt nước mắt làm ướt thỏi mực, hoặc chính những giọt nước mắt ấy đóng vai trò như mực viết. Động từ vãi diễn tả dòng lệ tuôn trào vô tận. Ở đây thi nhân đã dùng phép cường điệu lấy nước mắt thay thế cho tình cảm của mình. Tình cảm dâng trào khi bắt đầu viết và không sao kìm hãm được trong lúc viết nên như hóa thành nước mắt hoà vào mực trôi vài chữ.

Trong hai câu kết thi nhân, cho biết đã để hết tâm tình vào thơ. Thơ đi rồi chỉ còn lại thân xác không hồn. Để hiểu vì sao tình cảm của thi nhân với gia đình lại nhiều đau khổ như thế. Ta nên biết qua về cuộc đời lận đận của ông. Thi đậu lúc đã già, chức vụ nhỏ việc nhàm chán, nghèo không phụng dưỡng được mẹ già, 3 con chết yểu vì thiếu thốn, chết trên đường đi nhậm chức mới vợ không có tiền làm đám ma, phải nhờ bạn bè (trong đó có Hàn Dũ người quý mến và giúp đỡ ông) cho tiền chôn cất…pmt

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Tái Thượng Ký Gia Huynh 塞上寄家兄 - Cao Biền

Cao Biền

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cầm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

Nguyên tác Dịch âm

塞上寄家兄 Tái thượng ký gia huynh

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy,
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y.
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn,
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi.

Chú giải:

Lệ ngạc: Hoa cây đường lệ. Thơ "Đường lệ" trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi, "Mao thi" nói là nhạc do Chu Công Đán sáng tác để yến ẩm với anh em, nên sau thi nhân dùng điển này nói về anh em.

Hồ: Từ chỉ chung các dân tộc thiểu số ở phương Bắc như Khang Cư, Đột Quyết, Hung Nô, Hồi Ngột... cũng đặc biệt chỉ Hung Nô. Hung Nô là tên một bộ tộc ở miền bắc, sống du mục, chúa của họ gọi là Thiền Vu (phiên âm theo tiếng Mông Cổ). Từ Hán, Đường trở về sau, Hung Nô mới trở thành ngoại hoạn (hoạn bên ngoài) lớn nhất của Trung Quốc.

Dịch nghĩa

Ngoài ải gửi anh trai

Anh em mình cách xa nhau, tin tức vắng
Bao nhiêu nước mắt nhớ quê làm ướt áo trận
Tiếng kèn hồ chưa dứt hồn đã đứt
Trời Hồ muôn dặm không có bóng chim bay

Dịch thơ

Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Cách biệt anh em đã bấy chầy
Nhớ quê áo trận lệ rơi đầy
Khèn Hồ chưa dứt lòng đã đứt
Vạn dặm trời Hồ vắng chim bay

Con Cò
Ít khi thấy một võ tướng đa cảm như Cao Biền
***
Ngoài Ải Gửi Anh Trai.

Anh em cách biệt đã lâu ngày,
Áo trận nhớ quê thấm lệ hoài.
Chưa đứt tiếng kèn hồn đã dứt,
Trời hồ vạn dặm én không bay.

Mỹ Ngọc.
Jun. 13/2026.
***
Biên Ải Gửi Anh Trai

Anh em cách biệt chẳng thơ chi
Mắt lệ thương quê đẫm chiến y
Kèn ải chưa ngưng lòng đã đứt
Trời Hồ muôn dặm vắng chim di

Lộc Bắc
Jun26
***
Góp ý:

Như anh Tâm và anh Giám đã nói, Cao Biền không có anh theo sử sách. Cao có người anh kết nghĩa là Chu Bảo, và hai người cháu là Cao Kiệt và Cao Tầm. Tầm nổi tiếng hơn, nên khi được về triều, Cao Biền đã tiến cử Tầm làm Tiết Độ Sứ Tĩnh Hải Quân thay mình và được triều đình chấp thuận.

Trong loạn Hoàng Sào, vì Cao chần chừ không chịu đánh giặc nên bị tướng nhà Đường là Chu Ngạn giết chết ở Dương Châu, vậy chuyện mả Cao Biền ở Việt Nam chỉ là truyền thuyết.

Tựa bài thơ là ký gia huynh, mà Cao không có anh nên mình thắc mắc là gửi cho ai.
Bài thơ ngắn, không có chữ khó, trừ chữ Lệ Ngạc thì Thi Viện đã giảng rồi.

Tâm sự của một chinh nhân trấn thủ nơi biên tái nghe cũng thảm lắm, làm Bát Sách nhớ tới lính VNCH, ngày xưa, trấn giữ nơi tiền đồn hẻo lánh, đau khổ không kém, nhưng Việt Nam, trong rừng, còn có chim ca hót…

TRÊN QUAN ẢI, GỬI ANH TRAI.

Anh em xa cách, ít được tin,
Áo chiến bao lần nước mắt in,
Tiếng kèn chưa dứt đà đứt ruột,
Vạn dặm trời Hồ không bóng chim.

Bát Sách.
(Ngày 25/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:

塞上寄家兄-高駢 Tái Thượng Ký Gia Huynh - Cao Biền

棣萼分張信使希 Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
幾多鄉淚濕征衣 Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
笳聲未斷腸先斷 Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
萬里胡天鳥不飛 Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi

Bài thơ có đăng trong sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 万首唐人绝句-宋-洪迈
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Giải nghĩa chữ khó:

Tái thượng: Nơi biên cương, vùng biên giới xa xôi phía Bắc.
Lệ ngạc: Hoa thường/đường lệ và đài hoa. Trong văn học Trung Hoa, cụm từ này là điển tích tượng trưng cho tình anh em ruột thịt thắm thiết. Điển tích này bắt nguồn từ Kinh Thi trong bài thơ Thường lệ (常棣) phần Tiểu Nhã. Bài thơ này ca ngợi tình anh em ruột thịt với những câu mở đầu:

Thường lệ chi hoa, ngạc bất vi vi? Phàm kim chi nhân, mạc như huynh đệ. (Hoa thường lệ xum xuê, đài hoa không rực rỡ nâng đỡ hoa sao? Lòng người ngày nay, chẳng ai bằng anh em). Từ hình ảnh hoa và đài hoa thường lệ, người đời sau đã đúc kết thành điển tích Lệ ngạc để nói về tình anh em.

Lệ ngạc phân trương: Hoa và đài hoa bị xé rách, lìa nhau. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đau khổ. Anh em ruột thịt vốn cùng một gốc sinh ra, nay người ở quê nhà, người nơi biên ải xa xôi, giống như một bông hoa bị tước đi đài hoa của nó, trái với quy luật tự nhiên.

Tín sứ: Người đưa thư, sứ giả chuyển tin tức.
Chinh y: Áo mặc khi đi chinh chiến, áo lính.
Già/Hồ già: Một loại kèn của các dân tộc phương Bắc ngày xưa, âm thanh trầm buồn, thường gợi nỗi nhớ nhà.

Hồ: Vào thời cổ đại, người Trung Nguyên (Hoa Hạ) dùng từ "Hồ" để chỉ chung các dân tộc thiểu số, du mục sinh sống ở vùng biên cương phía Bắc và phía Tây Bắc Trung Hoa (như người Hung Nô, Đột Quyết, Khiết Đan...). Cách gọi này mang tính phân biệt chủng tộc của người Hán đối với các tộc người ngoại bang. Khi đi vào thơ ca, đặc biệt là Thơ Biên Tái, viết về vùng biên cương, chiến trận như bài thơ này của Cao Biền, từ "Hồ" được dùng như một tính từ hoặc danh từ để chỉ tất cả những gì thuộc về hay đến từ vùng đất hoang vu, lạnh giá, xa xôi này như: Hồ mã 胡馬, Hồ cầm 胡琴, Hồ tiêu 胡椒, Hồ đào 胡桃, Hồ sàng 胡床 …

Hồ thiên: Bầu trời vùng đất Hồ (vùng biên cương phía Bắc, nơi các dân tộc thiểu số sinh sống).

Dịch nghĩa:

Tái Thượng Ký Gia Huynh Gởi Anh Trai Từ Biên Ải

Lệ ngạc phân trương tín sứ hy
Anh em chia cách, tin tức hiếm hoi
Kỷ đa hương lệ thấp chinh y
Biết bao giọt lệ quê hương đã thấm đẫm chiếc áo chinh chiến
Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn
Tiếng kèn Hồ chưa dứt mà khúc ruột đã đứt trước
Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi
Dưới bầu trời đất Hồ muôn dặm, đến chim muông cũng không buồn bay

Bình luận:

Bài thơ là một kiệt tác thơ biên tái, thể hiện sâu sắc nỗi lòng nhớ thương quê hương và gia đình của người lính nơi biên thùy xa xôi. Một bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp nhưng đượm buồn, kết hợp hài hòa giữa tình cảm cá nhân, nỗi nhớ nhà và không gian biên giới hùng vĩ, khắc nghiệt.

Cao Biền không dùng ngôn từ mạnh bạo của một vị tướng, mà dùng tiếng lòng của một người em, một người con ly hương. Nỗi đau trong thơ gia tăng theo từng câu: từ cái "hiếm hoi" của tin tức, đến cái "ướt đẫm" của chinh y, và cao điểm là tiếng kèn làm "đứt ruột". Câu cuối cùng Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi là một nét vẽ xuất thần. Không gian mở ra vô tận nhưng lại đóng băng mọi sự sống. Đến cánh chim, biểu tượng của tự do, cũng không thể bay nổi dưới bầu trời ấy, càng tôn lên nỗi cô đơn của con người trước thiên nhiên vùng biên ải.

Dịch thơ:

Gởi Từ Biên Ải

Thể thất ngôn:

Anh em ly tán nhận tin thưa,
Lệ đẫm chiến bào tợ gió mưa.
Tiếng địch chưa ngưng lòng đã đứt,
Dưới trời rộng lớn cánh chim thưa.

Thể lục bát:

Anh em xa cách lâu ngày,
Bặt tin buồn nhớ lệ đầy y trang.
Kèn chưa dứt, lòng nát tan,
Trời Hồ muôn dặm chẳng màng chim bay.

Sending a Poem to My Brother from the Frontier by Gao Pian

Separated like flower and calyx, letters from home are rare,
Countless tears for my homeland have soaked my battle coat.
Before the mournful sound of the nomad flute even fades, my heart breaks,
Across ten thousand miles of the northern sky, not a single bird flies.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Cao Biền sinh năm 821 và sử liệu không nói ông ta có anh em gì chăng, nhưng thời đang còn làm tướng lãnh của Thần Sách Quân - một loại cấm quân được thành lập để chống lại người Thổ Phồn - ông quen thân Chu Bảo (周寶, sinh năm 814) và hai người kết nghĩa huynh đệ. Về sau Chu thay Cao làm tiết độ sứ ở vùng Thanh Hải, Cam Túc ngày nay. Vùng này là cứ địa của người Đảng Hạng (党項) và sự nghiệp của Cao bắt đầu trỗi dậy khi ông ta thành công trong việc trấn áp người Đảng Hạng trong năm đầu (859) thời Đường Ý Tông rồi được phái xuống La Thành năm sau để chống việc xâm lăng của Nam Chiếu. Tình bạn giữa Cao và Chu sứt mẻ dần về sau vì tranh giành quyền lực rồi hai người ra mặt tranh chấp nhau để rồi cuối cùng chết cách nhau một năm (887-888).

Nếu gia huynh (家兄) trong tựa đề bài thơ là Chu Bảo thì sự đời nghĩa cũng ... buồn! Họ Cao khóc vì nhớ bạn hay vì buồn thân phận ở xứ Hồ lúc đã gẩn 40 tuổi. Phải chăng đây là một bài thơ nữa thổ lộ việc muốn có cơ hội tiến thân ở triều đình?
棣萼 Lệ ngạc

Ngạc là đài hoa; lệ là tên tắt của lệ đường hoa (棣棠花-Kerria japonica). Đây là một loài hoa hồng màu vàng ở Đông Á, trông tựa như vạn thọ, nhưng không có ở Việt Nam và không thấy liệt kê trong sách Phạm Hoàng Hộ, có thể vì loài hoa kép không kết quả. Mặc dù người Tàu có thành ngữ "lệ ngạc" để chỉ tình huỵnh đệ [đài hoa nâng đỡ cánh hoa] (xuất phát từ Kinh Thi và Tấn thư) hoa này được trang ヤマブキ - ja.Wikipedia nói đến hoa này nhiều hơn


笳聲 già thanh
Già thanh là tiếng (kèn) Hồ già (胡笳). Già là một loại kèn của người Mông Cổ dùng hai lưỡi gà, không có lỗ như tiêu.

- Trả lời về Hồ già :

Không ai biết rõ hồ già thời Đường-Tống ra sao cả vì các sách về nhạc cụ chỉ nói nó trông tựa loại kèn nào đó. Hồ già đầu tiên là loại sáo làm bằng cách cuốn tròn lá cây sậy thành một cái ống; lá sậy có thể dài tới 6o cm và rộng 6 cm. Thời còn bé tôi không biết đến hồ già nhưng đã từng cuốn lá làm sáo/kèn. Và dĩ nhiên không thể xoi lỗ trên loại kèn này. Wiktionary dịch 笳 thành reed-leaf whistle, sáo lá lau.

Trần Dương (陈旸 thời Tống), tác giả bộ Nhạc Thư (乐书, 200 cuốn!) viết rằng hồ già có thể (khả năng-可能) trông giống (kèn) tất lật (觱篥) và nói tất lật là một loại hồ già làm bằng ống trúc với lá sậy ở đầu, có 9 lỗ. nhưng hồ già không có lỗ và người đời sau dùng trong diễn binh của cấm quân

陈旸《乐书》說胡笳可能和觱篥很像:“觱篥,一名悲篥,一名笳管...竹为管,以芦为首,状类胡笳而九窍”、“胡笳,似觱篥而无孔,后世卤簿用之” Trần Dương《Nhạc Thư》 thuyết hồ già khả năng hòa tất lật ngận tượng:“ tất lật, nhất danh bi lật, nhất danh già quản... trúc vi quản, dĩ lô vi thủ, trạng loại hồ già nhi cửu khiếu”. “Hồ già, tự tất lật nhi vô khổng, hậu thế lỗ bộ dụng chi." [trích từ zh.Wikipedia]

Rất có thể rằng trong ngữ nguyên già là tên của bộ phận lưỡi gà làm bằng lá sậy.

Huỳnh Kim Giám
***
@ Phí minh Tâm bổ túc thêm về anh em của Cao Biền:

Không thấy có tài liệu lịch sử nào nói đến người anh trai của Cao Biền. Như thế ta phải hiểu hai chữ gia huynh trong tựa bài thơ như thế nào? Có thể có 3 cách hiểu khác nhau phù hợp với lịch sử và văn học.

1-Cao Biền thật sự có một người anh không có chức phận trong quan trường nên không được lịch sử nhắc đến.
2- Một người anh em họ trong gia tộc quan quyền Bột Hải Cao Chi 渤海高 氏. Họ thường gọi nhau là gia huynh trong thư từ và thơ ca.

3- Hiểu theo biểu tượng văn chương thuần túy, nhất là trong thơ ca biên tái, các thi sĩ/tướng lĩnh thường mượn hình tượng người thân (vợ, anh em, mẹ già…) ở quê nhà để làm chỗ dựa tinh thần và bộc lộ khía cạnh mềm yếu trong tâm hồn mình. Bằng cách đề tựa gửi cho gia huynh, Cao Biền muốn nhấn mạnh rằng: Bỏ chiếc áo giáp của một vị tướng oai phong lẫm liệt nơi trận mạc, ông là một người cô đơn và khát khao hơi ấm gia đình khi đang ở giữa vùng biên thùy lạnh giá.

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Du Chung Nam Sơn 遊終南山 - Mạnh Giao (Thịnh Đường)

 

Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là Mạnh Đông Dã gồm 2 quyển. Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi…


Lời phi lộ

Quanh năm ngày tháng chỉ ngoạn cảnh mà không đọc sách thì ngu tới già.
Quanh năm ngày tháng chỉ ngồi nhà đọc sách mà không ngoạn cảnh thì chỉ là mọt sách.
Vậy thì nên dung hòa giữa đọc sách và ngoạn cảnh.
Đó là ý dung hòa của bài 遊終南山 Du Chung Nam sơn của Mạnh Giao:

Nguyên tác Dịch âm
遊終南山 Du Chung Nam sơn

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh.

Dịch nghĩa

Chơi núi Chung Nam

Núi Nam đứng sừng sững dưới gầm trời,
Mặt trời mặt trăng cứ như từ núi này phát sinh ra.
Cái dáng cao của núi non, ban đêm còn thấy rõ,
Hang hốc thâm sâu đến nỗi ban ngày vẫn không thấy ánh sáng.
Dân cư trong núi tự đoan chính,
Thế núi hiểm trở, nhưng lòng người bình dị.
Gió lớn thổi trên các cây thông cây bách,
Nghe như tiếng (sáo) phát ra từ vạn hang hốc.
(Đến chơi nơi đây mới) thấy hối hận đã (phí nhiều thì giờ) đọc sách (mà không ngoạn cảnh),
(Mình chỉ) hàng ngày theo đuổi danh lợi hão huyền.

Dịch thơ
Chơi núi Chung Nam

Chung Nam gom trời đất,
Nhật nguyệt tự phát sinh.
Núi cao đêm vẫn thấy,
Hang sâu nắng vắng tanh
Trong núi dân đoan chính,
Đường hiểm lòng yên bình.
Gió luồn khu tùng bách,
Như vạn sáo đồng thanh.
Hận xưa đọc nhiều sách,
Ngày ngày thích hư danh.

Lời bàn

Bài thơ ngũ ngôn cổ phong 10 câu; 8 câu câu đầu tả quang cảnh hùng vĩ của núi Chung Nam. Hai cấu kết tỏ vẻ hối hận rằng, (từ lâu nay) mình chỉ chúi mũi vào sách vở để kiếm hư danh (mà không biết thưởng ngoạn những cảnh đẹp như thế này).
Dường như Mạnh Giao không chống việc đọc sách; ông chỉ không coi việc đọc sách quan trọng hơn việc ngoạn cảnh thiên nhiên.

Con Cò
***
Ngoạn Cảnh Núi Chung Nam

Núi Nam giữa đất trời,
Nắng sớm trăng khuya khơi.
Sừng sững đêm còn thấy,
Hốc sâu ngày tối thui.
Người rừng lòng chất phác,
Đường khó, đi thảnh thơi.
Gió lớn thổi tùng bách,
Vọng thanh âm tuyệt vời.
Đến đây hận đọc sách,
Kiếm hư danh hỡi ơi.


Lục Bát.


Núi Nam giữa đất trời đây,
Trăng khuya nắng sớm nơi này sinh ra.
Núi to đêm cũng thấy mà,
Hốc sâu ánh sáng khó qua tối mù.
Người rừng chất phác vô tư,
Đường đi tuy khó từ từ bình an.
Gió lùa tùng bách trong ngàn,
Âm thanh từ vạn hốc hang vọng về,
Đến đây hận đọc hả hê,
Để tìm danh hão say mê hàng ngày.


Mỹ Ngọc.
Jun. 6/2026

***
Dạo núi Chung Nam

Núi cao trời đất phủ dầy
Trời trăng như thể từ đây ra đời
Đêm về đỉnh núi sáng ngời
Ban ngày khe đá chưa rời bóng đêm
Sơn nhân tâm tính thật hiền
Con đường dẫu hiểm vẫn yên lòng người
Gió lên tùng bách tơi bời
Trong veo tiếng gió lướt nơi khe rừng
Từ lâu đèn sách không ngừng
Giờ đây tiếc nuối mấy tầng hư danh


Thanh Vân
***
Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam trùm thiên địa
Trời, trăng đá núi sinh
Đỉnh cao đêm giữ sáng
Lũng thấp ngày chưa tinh
Người thượng lòng ngay thẳng
Đường hiểm tâm an bình
Gió dài xô tùng bách
Âm quét vạn khe thanh
Đến nơi tiếc đọc thư
Càng ngày gần hư danh!


Lục Bát

Núi Nam trùm kín đất trời
Trời trăng như thể đá rời nẩy ra
Đỉnh cao giữ sáng đêm qua
Lũng sâu ngày rạng mặn mà bóng râm
Người miền thượng chính trực thầm
Đường tuy nguy hiểm nhưng tâm an bình
Gió dài tùng bách nghiêng mình
Vạn khe âm quét nghe thanh thản lòng
Đến nơi tiếc học uổng công
Càng ngày càng lậm vào vòng hư danh!


Lộc Bắc
Jun26
***
Góp Ý:


Ngày xưa, mới đi lính, tôi thích nhất bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao. Mình không là du tử, nhưng cũng lang thang không kém vì nghĩa vụ, và bài thơ nói lên nỗi lòng của cả hai mẹ con.
Lần trước, bài Quy Tín Ngâm gây cho BS nhiều cảm xúc, vì nỗi nhớ người yêu ở xa của một thiếu phụ (cứ nghĩ thế cho lãng mạn, đâu có sao).
Theo tiểu sử thì Mạnh công danh lận đận, vùi đầu vào sách vở mà 45 tuổi mới đỗ Tiến Sĩ, 50 tuổi mới được chức quan nhỏ, chẳng bõ công đèn sách, nên khi đi chơi núi Chung Nam, Mạnh Giao đã “NGỘ“, tiếc rằng mình không đi du lịch, đã bỏ phí thời gian đọc sách để tìm kiếm hư danh.
Chung Nam Sơn ở đâu? Là giẫy núi lớn, cách khoảng 50 dặm ở phía tây nam của Trường An. Phong cảnh ở đây rất đẹp, dân cư đoan chính hiền hòa, được tả trong 8 câu đầu, NGỘ ở 2 câu cuối.
Đời Đường, chẳng biết ở đây có công trình xây dựng gì không, nhưng tới đời Tống thì Vương Trùng Dương dựng Đạo Quán, lập ra phái Toàn Chân.
Ông còn một động đá rất đẹp đẽ và kỳ tuyệt, phải nhường cho người yêu là Lâm Triều Anh; bà này đổi tên động đá thành “Huyệt Tử Nhân Mộ Đài“, lập ra phái Cổ Mộ, nuôi dậy Tiểu Long Nữ trong truyện Thần Điêu Đại Hiệp. BS xin lỗi ACE đã ba hoa vì trúng tủ.
Bài này chỉ có vài chữ khó:
Tắc: là lấp kín, chắn, đầy đủ, bổ xung, qua loa. Tắc môn là tấm bình phong ở cửa để che kín nhà trong. Còn âm Tái, như biên tái, là nơi quan ải ở biên cương.
Phất: là phẩy, quét, đánh, rũ đi, che đi.
Hác: là hang hốc, hào nước, trống không.
Bài này khó dịch thành ngũ ngôn, vì nói không đủ ý, xin dịch theo lục bát:


Chơi Núi Chung Nam

Núi Nam chắn cả đất trời.
Tưởng đâu nhật nguyệt ra đời tại đây,
Non cao, đêm cảnh vẫn bầy,
Hang sâu mờ tối dù ngày đã sang,
Người trong thôn thật đàng hoàng,
Đường hiểm nguy vẫn bình an cõi lòng,
Bách, tùng gió thổi mênh mông,
Nghe như tiếng sáo lùa trong hang dài,
Tới đây, lòng cứ tiếc hoài,
Bao ngày theo đuổi, tìm tòi hư danh.


Bát Sách.
(Ngày 06/06/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ:

遊終南山-孟郊 Du Chung Nam Sơn – Mạnh Giao

南山塞天地 Nam sơn tắc thiên địa                Chung Nam che đất trời,
日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh Trăng từ đá chơi vơi.
高峰夜留景 Cao phong dạ lưu cảnh              Đỉnh cao đêm còn sáng,
深谷晝未明 Thâm cốc trú vị minh                Hang sâu ngày tối mờ.
山中人自正 Sơn trung nhân tự chính            Người quê lòng ngay thẳng,
路險心亦平 Lộ hiểm tâm diệc bình               Đường hiểm dạ phẳng lờ.
長風驅松柏 Trường phong khu tùng bách     Gió lùa ngàn tùng bách,
聲拂萬壑清 Thanh phất vạn hác thanh          Vạn hóc tiếng trong thanh.
到此悔讀書 Đáo thử hối độc thư                   Giờ tiếc công đèn sách,
朝朝近浮名 Triêu triêu cận phù danh            Ngày tháng đuổi hư danh.

Bài thơ có đăng trong các sách:

Mạnh Đông Dã Thi Tập - Đường - Mạnh Giao http://孟东野诗集-唐-孟郊
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-杨士弘
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古诗镜-明-陆时雍
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐诗录-清-徐倬

Giải nghĩa chữ khó:

Chung Nam Sơn: một dãy núi lớn phía nam Trường An, nơi nổi tiếng là chốn ẩn cư của đạo sĩ, thi nhân, và những người thoát ly vòng danh lợi.
Tắc: lấp đầy, tràn ngập, chèn đầy, lấp kín, cho thấy sự đồ sộ của ngọn núi.
Thạch thượng sinh: hình ảnh phóng đại, như thể mọc lên từ đá núi.
Cảnh: ánh sáng mặt trời, ánh sáng ban ngày.
Vị minh: chưa sáng rõ.
Chính: ngay thẳng, chính trực.
Bình: bình thản, bình hòa.
Khu: xua, đẩy mạnh, thúc đẩy (gió lùa qua rặng thông).
Phất: lướt qua, chạm qua.
Hác: khe núi, thung lũng sâu.
Hối độc thư: hối hận vì theo đuổi con đường đọc sách cầu danh.
Phù danh: hư danh, danh lợi phù phiếm chốn quan trường.

Dịch nghĩa:

Du Chung Nam Sơn Dạo Núi Chung Nam

Nam sơn tắc thiên địa
Núi Chung Nam to lớn như che lấp cả đất trời ,
Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Mặt trời mặt trăng như mọc lên từ đá núi.
Cao phong dạ lưu cảnh
Đêm xuống mà đỉnh cao vẫn còn ánh sáng,
Thâm cốc trú vị minh
Ban ngày mà khe sâu vẫn chưa sáng tỏ.
Sơn trung nhân tự chính
Người sống trong núi tự nhiên tâm tính trở nên ngay thẳng,
Lộ hiểm tâm diệc bình
Đường hiểm trở nhưng lòng người vẫn bình thản.
Trường phong khu tùng bách
Ngọn gió dài quét mạnh qua rặng tùng bách,
Thanh phất vạn hác thanh
Tiếng gió lướt qua muôn khe núi nghe thật trong trẻo.
Đáo thử hối độc thư
Đến nơi này mới thấy hối hận chuyện ngày xưa ít đọc sách,
Triêu triêu cận phù danh
Để ngày ngày chỉ gần gũi với (chạy theo) hư danh.


Hoàn cảnh sáng tác:


Mạnh Giao (751 – 814) là nhà thơ nổi tiếng với phong cách "khổ ngâm" với thơ câu chữ gọt giũa, mang giọng điệu cô tịch, u buồn. Cả cuộc đời ông lận đận khoa cử, mãi đến năm 46 tuổi mới thi đỗ Tiến sĩ nhưng chỉ được bổ nhiệm làm một chức quan nhỏ, làm Huyện úy Lạc Dương, không đúng với ý nguyện.

Bài thơ này được sáng tác khi ông lên kinh đô Trường An dự thi hoặc trong thời gian chán ngán quan trường, tìm đến núi Chung Nam để khuây khỏa. Đối diện với thiên nhiên bao la và sự chính trực của người sống trong núi đồi, ông nhận ra sự vô nghĩa của danh vọng, từ đó bộc lộ niềm khao khát tự do, tự tại. Trong chuyến du ngoạn này, ông có ghé thăm Chùa Long Trì trên núi và để lại bài thơ Du Chung Nam Long Trì Tự 游终南龙池寺.

Bình luận:

Bài thơ là một tác phẩm ngũ ngôn cổ phong với cái nhìn sâu sắc về thiên nhiên hùng vĩ, đối lập với sự mỏi mệt của vòng danh lợi chốn quan trường. Bài thơ là một chỉnh thể nghệ thuật đi từ tả cảnh đến tâm tình sâu lắng của thi nhân.

Bốn câu đầu: Mạnh Giao dùng nét bút phóng khoáng để tạc nên sự hùng vĩ của dãy núi Chung Nam. Núi cao đến mức "che cả đất trời", là nơi ôm trọn quy luật vũ trụ (trăng mặt trời mọc từ đá). Sự tương phản giữa "đỉnh cao còn giữ nắng" và "vực sâu chưa thấy ngày" khắc họa độ cao lồng lộng và sự thâm sâu của chốn đại ngàn.

Bốn câu tiếp: Khi đối diện với thiên nhiên chính trực, tâm hồn con người như được thanh lọc, hòa hợp vào cảnh. Đường núi dẫu "hiểm" nhưng lòng lại "bình", bởi con người đã thoát khỏi sự bon chen, hiểm độc của nơi phố thị. Tiếng gió thổi qua ngàn khe núi (vạn hác thanh) chính là tiếng lòng reo vui, tự do.

Hai câu cuối: Cái hay của bài thơ đọng lại ở sự thức tỉnh muộn màng trong hai câu kết. Lời than "hối tiếc đọc sách" không phải là phủ nhận tri thức, mà là sự tự trào, hối hận vì đã dùng sách đèn làm công cụ cầu danh lợi. "Phù danh" (danh hờ) chính là cái bẫy giam cầm con người, và chỉ khi đứng trước Chung Nam, thi sĩ mới thực sự thấy lại bản ngã.

Visit Southern Mountains by Meng Jiao
The Southern Mountains fill up heaven and earth.
The sun and moon seem to rise straight from the rocks.
High peaks keep their glow even into the night,
While deep valleys remain dim even in daylight.
People who live in the mountains are naturally upright;
Though the paths are dangerous, their hearts stay calm.
Long winds drive through the pines and cypresses,
Their sound brushing across ten thousand ravines, pure and clear.
Arriving here, I regret having spent my life on books,
Every day drawing closer to nothing but hollow fame.


Phí Minh Tâm
***
Góp Ý: 终南山=Chung Nam sơn

Lô Tàng Dụng

Chung Nam không phải là tên của một ngọn núi đơn độc mà là của một rặng núi với nhiều tên khác như Thái Ất, Thúy Hoa, v.v... và không thuộc vào nhóm Ngũ Nhạc trong văn hóa Hoa Lục, cho dù nó được xem là nơi xuất phát của Lão giáo và cũng như của Nam sơn luật tông. Một điểm đặc biệt về địa thế của Chung Nam, khác với những núi nổi tiếng khác là nó ở cách trung tâm của Tràng An ngày xưa có 30 km. Vì địa thế đó, truyền thuyết/điển cố Chung Nam tiệp kính (終南捷徑=lối tắt Chung Nam) ra đời.

Lối tắt Chung Nam nói đến thư pháp gia Lô Tàng Dụng (盧藏用), một người xuất thân quý tộc, đa tài, đỗ tiến sĩ dễ dàng nhưng không được triều đình thu dụng nên cùng em vào núi Chung Nam ở ẩn. Thời đó đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh (司馬承禎) cũng ở ẩn ở Chung Nam và đã từng được gọi vào triều giảng đạo ba lần. Khi Thừa Trinh muốn vào Tung sơn ở ẩn, Lô hỏi sao không vào Chung Nam và Thừa Trinh trả lời đó chỉ là một lối tắt đi làm quan (以我之 见,这是通向官场的捷 径啊). Lô ở ẩn thành công và được Vũ Tắc Thiên nghe tiếng, gọi vào triều và dần dần thăng quan tiến chức tới thượng thư hữu thừa và hết còn là người liêm chính (晚乃徇權利,務為驕縱,素節盡矣 vãn nãi tuẫn quyền lợi, vụ vi kiêu túng, tố tiết tận hĩ).

日月石上生 Nhật nguyệt thạch thượng sinh
Trăng và trời dĩ nhiên không xuất phát từ Chung Nam, hay từ bất cứ núi nào khác nên ta có nên hiểu rằng đây là một câu tâng bốc thái quá. Tên Chung Nam nhắc người này đến truyền thuyết về Lô Tàng Dụng, nhưng Mạnh Giao ngao du Chung Nam vì ý muốn ở ẩn hay vì biết đó là lối tắt vào triều? Mạnh hối hận đã phí thì giờ đọc sách thay vì đi du ngoạn, hay vì không đọc sách ở Chung Nam giữa âm hưởng của rừng núi?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Di Hoa Chủng Trúc Nguyễn Triều* -( 移花種竹-阮朝 )


Nguyên tác: Hán bản:

Di Hoa Chủng Trúc – Nguyễn Triều* 移花種竹-阮朝

Di hoa chủng trúc cận quan thân 移花種竹近觀身
Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵
Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝
Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津

*Triều đại nhà Nguyễn Việt Nam

Đây là một bài thất ngôn tứ tuyệt hoàn chỉnh, luật bằng, vần bằng, đúng niêm vận, và tiết tấu 2/2/3.

Giải nghĩa các từ khó:

- Di hoa: dời hoa, bứng hoa từ chỗ này sang chỗ khác để thưởng lãm.
- Chủng trúc: trồng trúc (tre), biểu tượng của bậc quân tử, sự kiên cường và thanh khiết.
-Di hoa chủng trúc: dời hoa, trồng trúc. Đây là những thú vui thanh tao của người xưa để tu tâm dưỡng tính.
-Cận quan thân: gần gũi để quan sát chính bản thân mình (tự tỉnh, hướng nội).
-Thương đàit: rêu xanh. Hình ảnh tượng trưng cho sự tĩnh lặng, cũ kỹ hoặc nơi ít người qua lại.
-Vị hữu trần: chưa có bụi bặm (bụi trần). Ý chỉ sự thanh sạch, thoát tục.
-Hàn khuyển: con chó lạnh (trong đêm lạnh).
-Lệ nhân: tiếng sủa/hú gọi người (thường dùng chữ "lệ" cho tiếng chim kêu bi thương, ở đây tả tiếng sủa vang trong đêm vắng).
-Song hạ thệ: chạy lướt qua dưới cửa sổ.
-Thành quân quy thạnh: thường được hiểu là người về trong tư thế ung dung, khiến cả không gian (mặt nước, bờ ao) như bừng sáng theo.
-Trì tân: bến ao, bờ nước.

Dịch nghĩa và bình luận:

Di hoa chủng trúc cận quan thân Dời hoa trồng trúc để được gần gũi mà quán chiếu thân mình, Hình ảnh "hoa" và "trúc" tượng trưng cho lối sống thanh cao, tao nhã. Việc chăm sóc hoa trúc không chỉ là thú vui mà là cách để để người ta sống gần gũi với thiên nhiên và qua đó soi xét nội tâm. tu dưỡng bản thân mình. Nó gợi lên hình ảnh một tâm hồn thư thái, tìm thấy sự an nhiên và bài học đạo lý thông qua việc chăm sóc cây cảnh.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần Lối vào đầy rêu xanh, chưa vướng chút bụi trần. Câu này gợi tả một không gian biệt lập, tinh khiết, chưa bị sự xô bồ của thế gian làm ô nhiễm.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ Con chó trong đêm lạnh sủa vang rồi chạy vụt qua dưới cửa sổ, Sự xuất hiện của âm thanh (tiếng chó sủa) và chuyển động (chạy vụt qua) phá tan và làm nổi bật cái khung cảnh tĩnh mịch. Đây là một nét chấm phá cực kỳ độc đáo, tạo nên cái "thần" cho bài thơ này. Thông thường, thơ cung đình chuộng những linh vật cao sang như long, lân, quy, phụng, nhưng ở đây tác giả lại đưa vào một hình ảnh rất đời thường, một tư duy nghệ thuật rất cởi mở của các vua triều Nguyễn. Đó là sự giao thoa giữa nghệ thuật bác học và đời sống thực tại, biến cung điện không chỉ là nơi quyền uy mà còn là một "khu vườn tâm hồn" gần gũi, sống động, làm bài thơ trở nên gần gũi và thực tế hơn.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân Khiến bóng dáng người trở về thêm phần rạng rỡ in trên bến nước ao xưa. Đón người trở về trong cảnh rực rỡ, bóng hình in xuống bờ nước, gợi lên sự viên mãn tự tại của một tâm hồn đã tìm thấy sự an nhiên sau những phút giây tĩnh lặng.
  
Dịch thơ:

Thể thất ngôn: 

Dời hoa trồng trúc xét soi thân,
Rêu biếc đường vào chẳng bụi trần.
Chó lạnh sủa vang ngoài cửa sổ,
Người về rạng rỡ bến ao xuân.

Dời hoa trồng trúc cạnh am mây,
Đường lót rêu xanh bụi chẳng bay.
Chó sủa bóng ai ngoài cửa sổ,
Về mang theo giỏ ánh chiều hây.

Dời hoa trồng trúc xét thân mình,
Lối cỏ rêu xanh sạch bụi vinh.
Chó lạnh sủa vang bên cửa sổ,
Bờ ao rực rỡ bóng người in.

Thể lục bát: 

Dời hoa trồng trúc quanh nhà,
Xét soi tâm tánh mới là thanh bai.
Lối rêu sạch bụi trần ai,
Chó lạnh sủa bóng gió bay qua mành.
Người về rạng rỡ hồ xanh,
Bến ao nước biếc vẽ thành tranh thơ.

Thể song thất lục bát: 

Soi tâm tánh chăm hoa dưỡng trúc,
Lối rêu xanh sạch bụi trần ai.
Bên song chó lạnh sủa dài,
Người vể rạng rỡ ao đầy bóng đêm.

Translation:

The Zen like poem emphasize the "unpolluted" nature of a life dedicated to simple pleasures of planting flowers and bamboo.

Di Hoa Chủng Trúc 移花種竹 Moving Flowers To Plant Bamboos

Di hoa chủng trúc cận quan than 移花種竹近觀: Moving flowers, planting bamboo, observing oneself closely, This suggests that gardening is a form of self-reflection and cultivation of character.

Lộ nhập thương đài vị hữu trần 路入蒼苔未有塵: The path is covered in green moss, untouched by the dust of the mundane world. It signifies a place of purity and seclusion.

Hàn khuyển lệ nhân song hạ thệ 寒犬唳人窗下逝: A cold dog barks at people and passes beneath the window. This adds a layer of quiet, rural life.

Thành quân quy thạnh ảnh trì tân 成君歸盛影池津: You return in glory, your shadow reflecting in the pond's. This line often refers to a successful return to one's roots or a peaceful retirement after a career.

Nguồn gốc bài thơ:

Bài thơ -mang phong cách thiền vị thanh tao thoát tục- là một trong khoảng 1500 bài thơ đặc sắc được tuyển chọn từ tác phẩm của các vua nhà Nguyễn trong hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Xuất phát từ đặc trưng của hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình, bài thơ có 2 đặc điểm khác biệt với hầu hết các bài thơ khác:

không tựa đề
không tên tác giả.

Bản thân bài thơ không có tựa đề riêng biệt vì:

Tính chất trang trí: Các bài thơ được tuyển chọn từ các tập thơ của các vua triều Nguyễn (như Ngự chế thi) để chạm khắc lên các ô hộc theo lối "nhất thi nhất họa" (một bài thơ, một bức tranh) .

Định danh theo vị trí: Trong các tài liệu nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, người ta thường gọi tên bài thơ bằng cách dẫn câu đầu tiên hoặc định danh theo vị trí ô hộc cụ thể trên công trình (ví dụ: bài số xxx, liên ba phía Đông, điện Thái Hòa).

Chủ đề chung: Nếu phải xếp vào một nhóm, bài thơ này thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã" – ca ngợi lối sống thanh cao, ẩn dật và sự tĩnh lặng của tâm hồn giữa cảnh sắc thiên nhiên.

Bài thơ không có đặc điểm tác giả: trong hệ thống di sản Huế, các bài thơ này thường được coi là "tác phẩm của hoàng đế" nói chung vì:

Sự chuẩn y tối cao: Ngay cả khi có sự tham gia soạn thảo của các đại thần trong Nội các, mỗi chữ khắc lên cung điện đều phải được đích thân nhà vua xem xét và phê duyệt.

Tính biểu tượng: Tác giả không chỉ là một cá nhân mà là đại diện cho vẻ đẹp trí tuệ và đạo đức của một triều đại. Việc nhà vua viết về những điều bình dị như trồng trúc, rêu phong hay tiếng chó sủa chính là để khẳng định thái độ sống hòa hợp với thiên nhiên và sự tự tại trong tâm hồn.

Các vị vua nhà Nguyễn vốn là những tâm hồn thi sĩ, họ trực tiếp sáng tác hoặc chuẩn y các bài thơ tuyển chọn để chạm khắc lên các cung điện, lăng tẩm Cố đô Huế.

Bài Di Hoa Chủng Trúc được trưng bày tại Điện Long An (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

Vị trí: Bài thơ được khảm xà cừ trên các dải liên ba (phần gỗ ngăn cách giữa các hàng cột và mái) của Điện Long An. Đây là ngôi điện được xây dựng năm 1845 dưới thời vua Hiến Tổ (niên hiệu Thiệu Trị).

Chủ đề: Bài thơ thuộc chủ đề "Nhàn đàm/Thanh ngã". Nội dung miêu tả cảnh sắc thanh tĩnh của cung đình với hoa, trúc, rêu xanh và hình ảnh con vật (chó lạnh), qua đó thể hiện tâm thế tự tại, xa rời bụi trần của nhà vua.

Tập thơ: Bài thơ thuộc tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng đế). Vua Thiệu Trị là vị hoàng đế nổi tiếng với việc để lại hàng nghìn bài thơ ngự chế được chạm khắc trực tiếp trên các công trình kiến trúc tại cố đô Huế, tạo nên một "bảo tàng thơ" độc đáo.

Hệ thống hình chạm khắc tại Điện Long An kết hợp cùng tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị tạo nên một "bảo tàng thơ" vô giá, được công nhận là Di sản Tư liệu thế giới thuộc chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Dưới đây là các đặc trưng nổi bật của nghệ thuật này:

Hình thức "Nhất thi nhất họa": Đây là phong cách trang trí đặc trưng với một ô thơ đi kèm một ô hình vẽ hoặc chạm khắc. Tại Điện Long An, các bài thơ được khảm xà cừ, chạm nổi thếp vàng hoặc chạm trực tiếp lên các dải liên ba, đố bản bằng gỗ lim.

Chất liệu và kỹ thuật: Các nghệ nhân sử dụng kỹ thuật chạm trổ tinh xảo, kết hợp khảm cẩn các loại vật liệu quý như ngà voi, xương, xà cừ và gỗ quý. Hình ảnh chạm khắc thường là các đề tài truyền thống như "bát bửu", "tứ thời" (mai, lan, cúc, trúc), hoa lá uốn lượn và các đồ án hình kỹ hà.


Tập thơ Ngự chế: Vua Thiệu Trị có nhiều tập thơ được khắc lên kiến trúc, tiêu biểu là tập Thần Kinh Nhị Thập Cảnh (ca ngợi 20 cảnh đẹp đất Thần kinh) và các bài thơ trong bộ "Ngự đề đồ hội". Bài thơ Di Hoa Chủng Trúc nằm trong số hàng trăm bài thơ ngự chế được tuyển chọn để trang trí, biến ngôi điện thành một tác phẩm nghệ thuật tổng hòa giữa kiến trúc, hội họa và văn chương.Giá trị nghệ thuật: Điện Long An được đánh giá là công trình có nghệ thuật chạm khắc gỗ đẹp nhất và còn lại gần như nguyên vẹn trong quần thể di tích cố đô Huế. Mỗi tấm bản gỗ không chỉ là vật liệu xây dựng mà còn là một bức tranh, một trang sách ghi lại tâm hồn của vị vua thi sĩ.

Hình chạm khắc trong Điện Long An, tập Ngự chế thi của vua Thiệu Trị

Bài hồi văn: Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水

Trong điện còn có hai bài thơ Vũ Trung Sơn Thủy 雨中山水 (Cảnh sông núi trong mưa) và Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm 福園文會良夜漫吟 (Buổi gặp gỡ văn học ỏ Phước Viên - Một đêm ngâm thơ an lành) rất đặc biệt được làm theo kiểu "hồi văn liên hoàn" gồm 56 chữ Hán đủ cho một bài thơ luật thất ngôn bát cú. Theo ghi chú của tác giả, từ các vần chính có thể biến hóa thành các bài thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn, tổng cộng có 64 cách đọc.

Tuy nhiên, người ta khám phá ra rằng thơ có thể đọc xuôi, đọc ngược, đổi chiều, xuyên tâm, nhảy chữ và nhiều cách khác…làm thành 64 bài thơ thất ngôn bát chú khác nhau. Mỗi bài thơ thất ngôn lại có thể làm thành một bài thơ ngũ ngôn, mỗi bài thơ bát cú có thể làm thành 2 bài thơ tứ tuyệt, và với nhiều cách đọc khác, 56 chữ có thể viết thành hàng trăm bài thơ khác nhau. Cho đến nay việc giải mã riêng hai tác phẩm này của vị vua thi sĩ Thiệu Trị vẫn còn chưa tìm ra hết các đáp án.


Bài hồi văn Phúc Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm
福園文會良夜漫吟

Tham chiếu:

Điện Long An, một tuyệt phẩm kiến trúc Việt thời Nguyễn - ASEAN News
Hai bài thơ có hàng trăm cách đọc của vua Thiệu Trị - Tạp chí Đáng Nhớ

Phí Minh Tâm
21-5-2026