Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trãi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2025

Văn Hứng 晚興 - Nguyễn Trãi


晚興                    Văn Hứng

窮巷幽居苦寂寥 Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
烏巾竹杖晚逍遙 Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu.
荒村日落霞棲樹 Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ,
野徑人稀水沒橋 Dã kính nhân hi, thủy một kiều.
今古無窮江漠漠 Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
英雄有恨葉蕭蕭 Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
歸來獨凭欄杆坐 Quy lai độc bẵng lan can tọa,
一片冰蟾掛碧霄 Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

阮豸                     Nguyễn Trãi
***
 Dịch nghĩa: 

Hứng Buổi Chiều

Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
Con đường ngoài nội ít người qua lại, nước ngập cầu.
Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
Trở về một mình ngồi tựa lan can,
Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc.

Cảm Hứng Trong Chiều

Quạnh quẽ thôn nghèo ngõ vắng sâu 
Khăn đen gậy trúc dạo hồi lâu 
Bóng chiều xóm vắng cây vương ráng 
Đường ruộng người thưa nước ngập cầu 
Kim cổ triền miên sông lặng lẽ 
Anh hùng lận đận lá dàu dàu.
Một mình quay lại lan can tựa 
Trời biếc lạnh lùng mảnh nguyệt treo.


Mailoc 
***
Cảm Hứng Khi Chiều Xuống

Ngõ cùng vắng vẻ chạnh buồn thiu
Gậy trúc khăn đen dạo cảnh chiều
Đêm xuống xóm hoang cây đội ráng
Đường quê người vắng nước leo cầu
Thời gian vô tận sông mịt mịt
Ôm hận anh hùng lá hiu hiu
Một bóng quay về lan can dựa
Giữa trời xanh biếc mảnh trăng yêu.


Quên Đi
***
Cảm Hứng Trong Buổi Dạo Chiều

Hoàng hôn xóm vắng buồn thiu
Khăn đen, gậy trúc liêu xiêu bóng dài
Ráng chiều nhuộm ửng vòm cây
Đường xa quạnh quẽ , nước lay mặt cầu
Thời gian: dòng chảy trôi mau
Anh hùng ôm hận rầu rầu gió mang
Trở về, đứng tựa lan can
Mảnh trăng sáng lạnh in vàng trời xanh.

Phương Hà phỏng dịch
***
Chiều Cảm


Ngõ cùng quy ẩn giữa hoang liêu
Gậy trúc lang thang bước mỗi chiều
Đường vắng ráng soi tia lấp lánh
Cầu trơ nước ngập dáng xiêu xiêu
Thời gian lặng lẽ trôi mờ mịt
Tiếng lá rì rào nhuốm quạnh hiu
Ngồi trước hiên thềm nhìn xa thẳm
Vầng trăng sáng lạnh mảnh băng treo

Nguyễn Đắc Thắng 
20140928

Vãn Hứng

Ngõ hẹp hang cùng sống quạnh hiu,
Khăn đen gậy trúc vẻ tiêu diêu.
Ráng chiều thôn vắng mây vương ngọn,
Cầu ngập người thưa nước cuốn nhiều.
Kim cổ vô cùng sông cuộn cuộn,
Anh hùng ôm hận lá liu xiu.
Trở về ngồi tựa lan can ngắm,
Một mảnh trăng treo lạnh cả chiều!


Đỗ Chiêu Đức.


Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

Trần Tình 9 - Nguyễn Trải

 Xướng:

Trần Tình 9

Bảy tám mươi bằng một bát tay,
Người sinh ở thế mấy nhàn thay.
Lan đình tiệc họp mây ảo,
Kim cốc vườn hoang dế cày.
Nhật nguyệt soi đòi chốn hiện,
Đông hè trãi đã xưa hay.
Ta còn lãng đãng làm chi nữa,
Tượng có trời bày đặt vay.

Nguyễn Trãi
***
Bài Họa:
Cảm Vận Trần Tình 9

(Cảm xúc thơ Nguyễn Trãi)

Kiếp người ngắn ngủi khéo chung tay
Kẻ sĩ quên đời tiếc lắm thay
Lã Vọng chờ thời điếu Vị
Doãn Công ẩn xứ Sằn cày
Trăm năm tới nào ai biết
Thế sự này mấy kẻ hay
Đại trượng phu thân mang trọng trách
Đạo người nặng nợ đang vay.

Quên Đi
***
Nợ Trần Trả, Vay...


Thế thời biến đổi phải buông tay
Thất thế tùy quyền khó sống thay!
Tráng sĩ mài gươm bóng nguyệt
Anh hùng lỡ vận dân cày
Con người số phận không biết
Đất nước cơ trời chẳng hay
Có chí làm trai nào tắc trách
Nợ trần chưa trả còn vay

Mai Xuân Thanh
Ngày 06/01/2021

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2020

Đọc Thơ Dạ Vũ Của Trần Minh Tông - Thu Vũ Của Hồ Xuân Hương - Thính Vũ Của Nguyễn Trãi


Xin giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ nói về MƯA là MƯA ĐÊM, MƯA THU, NGHE MƯA của ba thi nhân Việt Nam thuộc ba thế hệ khác nhau mà trong đó tâm sự của ba người có những điểm giống và khác nhau.

Cả ba bài thơ đều nói về “Mưa” và bày tỏ tâm sự của mình. Người thứ nhất là vua Trần Minh Tông (陳 明 宗) tên húy là Trần Mạnh (陳奣), sinh năm 1300, mất 1357. Người thứ hai là bà Hồ Xuân Hương (chữ Hán:胡春香, 1772 – 1822) là một nữ sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà tiểu sử của bà, tới nay, vẫn còn nhiều tranh cãi. Tác phẩm để lại hoàn toàn là thơ, trong đó phần chữ Nôm mà phẩm chất tốt đẹp cần nghiên cứu kỹ.

Bài thơ thứ nhất có tựa là Dạ Vũ (Mưa Đêm) của vua Trần Minh Tông , là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, được sáng tác, 30 năm sau nghi án giết oan cha vợ là Trần Quốc Chẩn. Thời điểm sáng tác vào khoảng năm 1356 nhân dịp ngài về thăm đền thờ Trần Quốc Chẩn, huyện Chí Linh, lúc nầy ngài đã trở thành Thái thượng hoàng. Năm sau ngài mất, từ đó nhà Trần bắt đầu suy vi.
“Dạ Vũ” (Mưa Đêm) là bài thơ trữ tình, mang đậm nét suy tư trầm buồn của một vị vua trong cảnh đêm mưa thu sắp tàn.

Bài thứ hai có tựa là Thu Vũ (秋 雨): Mưa Thu của Hồ Xuân Hương (胡春香, 1772–1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, Hồ Xuân Hương sáng tác bài nầy khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh nặng hơn 3 tháng (Tam xuân tích bệnh bần vô dược/ Táp tải phù sinh hoạn hữu thân) mà không thang thuốc vì nghèo không tiền! Nàng động lòng trắc ẩn mến thương, viết bài thơ để đáp lại bài “Thu Dạ” của Nguyễn Du. Bài thơ nguyên tác bằng chữ Hán, làm theo thể thơ Đường gồm 7 chữ, 8 câu nhưng được “cách tân” cho phù hợp với phong cách thơ văn Việt Nam. Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của bà, sáng tác hầu hết bằng chữ nôm, còn thơ chữ Hán rất ít chỉ độ 10 bài. Mặc dù thơ chữ Nôm nhưng hình thức thì theo thể thơ Đường như đã trình bày ở trên.
Trời thu ảm đạm, mây trời bao la khói sương mù mịt, mưa thu tí tách trên sân vắng, rơi nhặt thưa trên tàu lá chuối nghe buồn làm sao! Nàng (HXH) ngồi một mình trong phòng vắng nghe tiếng mưa rơi lòng buồn ảo não, nhớ người yêu Nguyễn Du , giờ nầy không biết ra sao, tình xa vạn dậm biết bao giờ gặp lại? Ngâm xong bài thơ “Thu Dạ”nàng bàng hoàng ngẩn ngơ, nhớ ơi là nhớ!

Bài thứ ba Thính Vũ của Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị. Thơ Nguyễn Trãi có phong thái của một bậc anh hùng có chí khí bản chất thoát vòng danh lợi. Những bài thơ chữ Hán của ông điêu luyện về ngôn ngữ và thể hiện tinh thần Nho giáo.
“Thính Vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai ( Hương Lệ Oanh)
***
Bài thứ nhứt: Dạ Vũ


Nguyên tác:
夜雨

秋氣和燈失曙明
碧蕉窗外遞殘更
自知三十年前錯
肯把閒愁對雨聲

(陳 明 宗)
***
Phiên âm Hán Việt:
Dạ vũ

Thu khí hòa đăng thất thự minh,
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh.
Tự tri tam thập niên tiền thác,
Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.

Trần Minh Tông
***
Dịch nghĩa:
Mưa đêm

Hơi thu hòa cùng ánh đèn làm mờ đi ánh sáng ban mai.
(Giọt mưa rơi) trên tàu chuối xanh ngoài song cửa (tí tách) tiễn canh tàn.
Tự biết ba mươi năm trước ta đã lầm lỗi,
Nay đành ôm hận mối sầu mà nghe tiếng mưa rơi.

Dịch thơ:
Mưa Đêm

Thu nhạt trăng mờ,buổi sớm mai
Bên song tàu chuối tiễn canh dài
Ba mươi năm trước,ta lầm lỡ
Ôm hận nghe mưa, đếm giọt rơi.

Nguyễn Cang
***
Bài thứ hai, Thu Vũ


Nguyên tác:

秋雨

天隔雲陰慘不明
蕭蕭秋雨落閒庭
短長枯樹枝頭淚
舒急黃蕉葉上聲
吟斷低迷千里夢
愁牽寥落五更情
深閨最苦如花面
一片愁容畫不成.
(胡春香)
***
Phiên âm Hán Việt:
Thu Vũ

Thiên cách vân âm thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu lạc ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện,
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.

Hồ Xuân Hương
***
Dịch thơ:
Bản 1: Ngân Triều diễn thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Mây mù ảm đạm, mây mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh.
Cây chết đầu cành, rơi những lệ,
Mưa khua tiếng chuối, tiếng trầm thanh.
Đọc thư thờ thẩn người xa cách,
Quạnh vắng sầu giăng suốt ngũ canh.
Đắng lắm khuê phòng hoa héo hắt,
Nỗi buồn se thắt vẽ không thành.

Ngân Triều
***
Bản 2: Nguyễn Cang dịch thơ, Mưa Thu:
Mưa Thu

Trời mây sầu thảm ngập mông mênh
Tí tách mưa thu, sân vắng tanh
Cây chết, vắn dài cành nhỏ lệ
Mưa rơi tàu chuối tiếng trầm, thanh
Thơ ngâm dứt đoạn, sầu ly biệt
Khắc khoải u hoài thức trắng canh
Vò võ khuê phòng hoa héo úa
Sầu riêng một mảnh mộng không thành!

Nguyễn Cang (15/10/2017)
***
Bản 3: Hương Lệ Oanh dịch thơ:
Mưa Thu

Mây trời buồn thảm ngập chiều hoang,
Sân vắng mưa thu rớt nhẹ nhàng.
Cây chết cành khô rơi giọt lệ,
Mưa trên tàu chuối dội âm vang.
Thơ ngâm đứt đoạn sầu hiu quạnh,
Thức suốt canh trường lệ chứa chan!
Khắc khoải khuê phòng hoa héo hắt,
Sầu tư nặng trĩu vẽ không an!

Kim Oanh - Hương Lệ Oanh
***
Bài thứ ba, "Thính Vũ" của Nguyễn Trãi


Nguyên tác và phiên âm:

聽雨 Thính Vũ

寂寞幽齋裏 Tịch mịch u trai lý
終宵聽雨聲 Chung tiêu thính vũ thanh
蕭騷驚客枕 Tiêu tao kinh khách chẩm
點滴數殘更 Điểm trích sổ tàn canh
隔竹敲窗密 Cách trúc xao song mật
和鐘入夢清 Hòa chung nhập mộng thanh
吟餘渾不寐 Ngâm dư hồn bất mị
斷續到天明. Đoạn tục đáo thiên minh

阮廌              Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa:
Nghe Mưa

Trong thư phòng, vắng vẻ tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
Buồn áo não, làm kinh động gối khách,
Giọt mưa tí tách suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt đập vào cửa sổ,
Hòa lẫn với tiếng chuông vẳng vào trong giấc mộng.
Ngâm vịnh mãi rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

Dịch thơ:
Bản 1: Nguyễn Cang

Nghe Mưa

Tối tăm phòng vắng, lặng êm đềm
Mưa suốt năm canh chạnh ngóng thêm
Buồn bã giật mình, lay gối khách
Eo sèo mưa thấm, lạnh trời đêm
Gió khua bụi trúc vang khung cửa
Hòa tiếng chuông chùa khuấy mộng êm
Ngâm vịnh trở trăn thao thức mãi
Mưa đêm khoan nhặt sáng dần im!!!

Nguyễn Cang
***
Bản 2: Hương Lệ Oanh
Nghe Mưa

Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch,
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài.
Phơn phớt gió lùa lay gối khách,
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài.
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió,
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay.
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được,
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai.

Hương Lệ Oanh
Virginia

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Thanh Minh 清明 - Đỗ Phủ



Nguyên tác           Dịch âm 

清明                     Thanh Minh 

清明時節雨紛紛 Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
路上行人欲斷魂 Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
借問酒家何處有 Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
牧童遙指杏花村 Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn. 
Đỗ Mục 
***
Dịch thơ 

Thanh Minh 

Thanh minh thời tiết lắm mưa phùn
Lữ khách trên đường hận ngập hồn
Hỏi quán rượu ngon đâu có vậy?
Mục đồng xa chỉ Hạnh Hoa Thôn. 

Con Cò 

Lời bàn:
Theo ngôn từ của bài thơ, tiết Thanh minh có mưa phùn lâm râm. Đỗ Mục đi một mình trên đường, quá bực bội vì ướt át nên muốn tìm một quán rượu uống vài ly (bình thường Đỗ Mục không ham rượu). Tìm hoài chả thấy ai; sau cùng, có một mục đồng chỉ cho ông tới thôn Hạnh Hoa. 
Ông chỉ muốn uống rượu cho ấm lòng để đi tiếp chứ không chủ tâm uống rượu để thưởng tiết Thanh minh. Mục đồng cũng vô tư chỉ quán rượu cho lữ khách chứ chả có ý nghĩ gì liên hệ đến Thanh minh.  
***
Bản dịch: 

Mưa bay phơi phới lúc đầu xuân,
Người đi trên lộ thấy thật buồn,
Xin hỏi tửu gia nằm đâu đó,
Mục đồng bèn chỉ hạnh hoa thôn. 

Bát Sách
***
Dịch Nghĩa: 

Tiết Thanh minh 

Tiết Thanh minh mưa rơi lất phất
Người đi trên đưòng buồn tan nát cả tấm lòng
Ướm hỏi nơi nào có quán rượu
Trẻ chăn trâu chỉ xóm Hoa Hạnh ở đằng xa 

Dịch Thơ: 

Thanh Minh 

Thanh minh lất phất mưa từng cơn 
Lữ khách buồn tênh nát cả hồn 
Ướm hỏi nơi đâu có quán rượu 
Mục đồng chỉ đến Hạnh Hoa thôn. 

Phí Minh Tâm
***
Thanh Minh 

Mưa phùn ướt át đầu xuân!
Trên lộ người đi bần thần ...
Quán rượu nơi đâu chỉ giúp?
Mục đồng trỏ Hạnh Hoa Thôn. 

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái

Mưa bay lất phất tiết Thanh minh 
Lữ khách sầu dâng bỗng nẩy tình 
Quán rượu hỏi thăm con trẻ chỉ 
Hạnh Hoa thôn vắng đón lưu linh 

Thanh Vân
***
Thanh minh mưa nhẹ cơn 
Lữ khách nẫu tan hồn 
Quán nhậu nơi đâu nhỉ? 
Trẻ trâu chỉ Hạnh thôn. 

Lộc Bắc
***
Từ thời Lý, có thể nhân dân ta đã tiếp nhận tết Hàn thực, nhưng ý nghĩa của ngày tết này đã biến đổi và mang đậm màu sắc truyền thống, phù hợp với tâm lý cũng như cuộc sống thường nhật của người dân nước Việt. Vào ngày tết Hàn thực, người Việt không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn được thực hiện, chỉ có điều người Việt dùng bánh trôi - bánh chay. 

Đối với người dân Việt, Tiết Thanh minh là dịp để con cháu hướng về tổ tiên, cội nguồn. Dù ai đi đâu, ở đâu đến ngày 3/3 âm lịch hằng năm cũng cố gắng về với gia đình để tảo mộ, sum họp bên mâm cơm gia đình. Những ngôi mộ được người nhà dọn dẹp sạch sẽ, vun đắp thêm đất mới, đó là những tâm đức của người đang sống đối với người đã khuất.[trên nét] 

Nguyễn Trãi có một bài về lễ Thanh minh của người xa xứ, cũng như chúng ta. Nhưng hỡi ơi, ngày nay mấy ai còn mồ mả tổ tiên để đi Tết Thanh minh! 

Thanh Minh 

Nhất tòng luân lạc tha hương khứ, 
Khuất chỉ thanh minh kỷ độ qua. 
Thiên lý phần doanh vi bái tảo, 
Thập niên thân cựu tẫn tiêu ma. 
Sạ tình thiên khí mô lăng vũ, 
Quá bán xuân quang tê cú hoa. 
Liêu bả nhất bôi hoàn tự cuỡng, 
Mạc giao nhật nhật khổ tư gia. 

Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa: 

Thơ Làm Khi Chưa Thành Công 

Từ khi lưu lạc quê người đến nay, 
Bấm đốt ngón tay tính ra tiết thanh minh đã mấy lần rồi. 
Xa nhà nghìn dặm không săn sóc phần mộ tổ tiên được, 
Mười năm qua bà con thân thích đã tiêu tán hết. 
Tạnh cơn mưa mây (phùn), trời chợt sáng, 
Hoa đồ mi (tên một loài hoa) đã quá nửa chừng xuân. 
Hãy cầm lấy chén rượu mà gượng uống, 
Ðừng để ngày ngày phải khổ vì nỗi nhớ nhà. 

Phỏng dịch thơ: 

Thanh Minh

Từ khi luân lạc nơi quê lạ 
Bấm đốt Thanh minh mấy bận qua 
Vạn dặm mả mồ không dọn cúng 
Mười năm thân thích thảy tiêu ma 
Mưa phùn chợt dứt, đương vào tiết 
Quá nửa chừng xuân, bớt thắm hoa 
Chén rượu thôi đành nâng uống gượng 
Nhớ nhà đừng bận, khổ thân ta! 

Lộc Bắc

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

Ngẫu Thành 2 偶 成 - Nguyễn Trãi


偶 成                     Ngẫu Thành 2

世上黃梁一夢餘 Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư,
覺來萬事總成虛 Giác lai vạn sự tổng thành hư.
如今只愛山中住 Như kim chỉ ái sơn trung trú,
結屋花邊讀舊書 Kết ốc hoa biên độc cựu thư.
阮廌                     Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa

Đời này cũng như một giấc mộng kê vàng mà thôi
Muôn việc khi nghĩ lại tất cả cũng không hề thực
Thế nên ngày hôm nay mới thích ở trong núi
Làm nhà cạnh vườn hoa và đọc những sách cũ xưa.

Dịch Thơ:

Chợt Viết Ra

Cuộc đời như giấc mộng trôi qua
Muôn việc gẫm suy ảo chính là
Nay núi tìm về theo ý thích
Dựng lều sách cũ đọc cùng hoa


Quên Đi

***
Chỉ Một Giấc Kê Vàng


Giấc mộng kê vàng mới thoáng qua,
Thành công, thất bại, ảo thôi mà.
Nay ta ở núi tùy duyên phận,
Sách cũ lều thơ đọc ngắm hoa !

Mai Xuân Thanh
***
Ngẫu Nhiên Làm


Cuộc đời như giấc kê vàng thôi
Muôn sự hư không tỉnh mộng rồi 
Nay thích ở cùng rừng núi thẳm 
Bên hoa đọc sách dựng lều chơi 

Mailoc phỏng dịch
***
Cùng các bạn yêu thơ Việt,

Hôm nay chủ nhật, mở máy lên gặp bài thơ của cụ Nguyễn Trãi do bạn Quên Đi giới thiệu, thật vui ! Nhưng trước khi góp thơ thì xin có vài lời thư giản cùng quí bạn.

1.- Trong thơ của Nguyễn Trãi có 2 bài mang tên Ngẫu Thành (ngẫu nhiên mà thành ra), một bài 'bát cú' cụ làm lúc cụ "hết việc, ngồi không" khi cụ còn tại chức và bài này là khi cụ đã về hưu. Hai bài đều mang tên Ngẫu Thành. Ý là, cụ muốn giải thích chuyện : Khi đang tại chức mà ngồi không và khi đã về hưu, lại có việc làm. Cả hai cái việc trái khuấy ấy xảy ra đều là chuyện ngẫu thành cả, nghĩa là không phải đến từ ý muốn của mình. Chúng ta trong đời chắc cũng có nhiều vị có cùng hoàn cảnh như cụ Nguyễn Trãi?

2.- Câu 2: Giáo lai, vạn sự tổng thành hư 覺來萬事總成虛 : Tỉnh giấc, muôn việc thảy rồi ra không có gì. Bạn Quên Đi diễn xuôi : Muôn việc khi nghĩ lại tất cả cũng không hề thực. Như vậy là bạn đã hiểu sai câu thơ, vì bị câu thơ trước ám ảnh. Giấc kê vàng là một ví dụ, còn chuyện đời của tác giả thì vẫn là chuyện thực đã xảy ra. Cụm từ覺來này có 2 âm đọc : Giác lai và Giáo lai. Đọc Giác thì Giác là hiểu biết, còn đọc Giáo thì giáo là thức giấc. Ở đây, xét theo văn cảnh, thì phải đọc Giáo với nghĩa Thức giấc (anh chàng Lư Sinh khi thức giấc mới hay những gì mình vừa trải qua đều chỉ là chuyện trong mộng). Hư虛 : Hư là hư không, là chuyện đang thực trở nên không có gì, khác với : Không hề thực là chuyện chưa hề xảy ra. Câu thơ của tác giả là muốn đem câu chuyện anh chàng Lư Sinh để biện giải cho cuộc đời của chính tác giả, chứ không phải là kể chuyện Giấc kê vàng của Lư Sinh. Nguyễn Trãi là nhà chính trị, thơ ông, tất nhiên không nói chuyện xuông. Có vậy, ông mới được thế giới ngưỡng mộ, họ ngưỡng mộ về tư cách của ông chứ không phải thi tài của ông. Họ đâu có thưởng thức được thơ ông như chúng ta.

3.- Bài thơ này, câu cuối có 2 dị bản. Trong các quyển Thi Lục và Thi Tuyển đều chép là:

Kết ốc, hoa biên, độc phụ thư (Dựng nhà, bên hoa, đọc sách của cha).
Riêng bản Dương Bá Cung thì chép như bạn Quên Đi:
Kết ốc, hoa biên, độc cựu thư (Dựng nhà, bên hoa, độc sách cũ).

Vậy, chúng ta nên chọn câu nào ? Câu chép trong các quyển tuyển lục thơ hay câu của Dương Bá Cung ? Tôi nghĩ : câu trong các cuốn tuyển thơ đúng hơn. Chữ Phụ 父tuy nghĩa đen của nó là cha, nhưng phụ cũng có thể để chỉ những sách của các hiền triết đời trước đáng bậc sư phụ. Còn Cựu thư thì chỉ để nói chung chung : các sách cũ, sách gì cũng được, là chỉ để đọc giải khuây. Nếu cụ chỉ đọc sách để giải khuây, chắc cụ không đến phải chịu cảnh thảm thương lúc đã về trí sĩ : Tru di tam tộc (Ba họ bị giết). Họ giết ba họ nhà cụ là kết tội cụ đang mưu tính chuyện phản nghịch. Chữ cụu thư, như vậy, chỉ là chữ đã bị chữa lại lúc sau, cho nó thành trung dung, không đụng chạm đến ai. Giờ đây, tôi nghĩ, ta nên quên chữ Phụ, chữ Cựu đi, cụ muốn đọc sách gì đó là quyền của cụ.

Cũng nên nói thêm là cụ Nguyễn Trãi đã được UNESCO vinh danh nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của cụ, năm 1980 tại Paris.

Chuyện ngẫu nhiên mà ra
Cuộc đời, rốt lại, giấc kê vàng;
Thức giấc, muôn điều thảy huyễn mang.
Vào núi, giờ đây, ta chỉ thích :
Dựng nhà, đọc sách cạnh hoa trang.
Danh Hữu dịch
Chúc các bạn vui vẻ!

Danh Hữu
***
Chuyện Ngẫu Nhiên

Cuộc đời như giấc mộng vừa trôi
Tỉnh giấc thực - hư chuyện đã rồi
Ẩn núi bây chừ ta chỉ thích
Dựng lều đọc sách ngắm hoa thôi!

Nguyễn Đắc Thắng


Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2019

Thính Vũ 聽雨 - Nguyễn Trãi


(Nguyễn Trãi)

Nguyên tác  Phiên âm: 

聽雨            Thính Vũ

寂寞幽齋裏 Tịch mịch u trai lý 
終宵聽雨聲 Chung tiêu thính vũ thanh
蕭騷驚客枕 Tiêu tao kinh khách chẩm
點滴數殘更 Điểm trích sổ tàn canh
隔竹敲窗密 Cách trúc xao song mật
和鐘入夢清 Hòa chung nhập mộng thanh
吟餘渾不寐 Ngâm dư hồn bất mị
斷續到天明. Đoạn tục đáo thiên minh .
阮廌              Nguyễn Trãi 

Thể thơ: ngũ ngôn bát cú, trong Ức Trai thi tập. Thơ làm trong khi chưa thành đạt. 
Chú thích từ ngữ: 

Tịch mịch (寂寞): yên lặng. 
U (幽): vắng vẻ, tối tăm, sâu kín // cửu u 九幽: nơi âm phủ. 
U cư: 幽居: ở ẩn. U trai (幽齋): thư phòng vắng lặng, tối tăm. 
Lý (裏): phía trong 
Tiêu (宵): đêm. Trung tiêu: nửa đêm. Chung tiêu(終宵): suốt đêm, từ tối cho tới sáng. 
Thính (聽): nghe 
Tiêu tao (蕭騷): buồn bã, sầu não, tiêu điều. 
Chẩm (枕): gối nằm 
Trích (滴):dt là giọt nước, quyên trích 涓滴 : giọt nước tí tẹo// đt là nhỏ giọt. 
Sổ ( 數): số đếm, vài ba. 
Sổ nhật: vài ba ngày. 
Xao (敲): gõ, đập. Xao môn: 敲門 gõ cửa. 
Mật (密): kín, dày, đầy, rậm rạp, liền kín. Mật mật tằng tằng 密密層層: chập chồng liền kín. 
Ngâm dư (吟餘): sau khi ngâm xong. 
Mị (寐): ngủ 
Đoạn tục (斷續): đứt nối, mưa ngưng rồi tiếp tục lại. 

Dịch nghĩa: 
Nghe Mưa

Trong thư phòng, vắng vẻ tối tăm, 
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi 
Buồn áo não, làm kinh động gối khách,
Giọt mưa tí tách suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc, tiếng khua nhặt đập vào cửa sổ,
Hòa lẫn với tiếng chuông vẳng vào trong giấc mộng.
Ngâm vịnh mãi rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh. 

Lời bàn: 

Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị tài ba. Ông là một đại công thần của nhà Lê ( Lê Lợi tức Lê Thái Tổ). Ông có công trong việc giúp Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh từ 1418 cho tới lúc thành công 1428. Ông là một nhà chính trị tài ba giúp Lê Lợi đưa ra kế sách, vận động toàn dân đứng lên chống xăm lăng. Sau khi giành được độc lập (1428) ông viết bài Bình Ngô đại cáo ( 平吳大誥), thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo về việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt. Đây được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam. Bình Ngô Đại Cáo là tác phẩm văn học với chức năng hành chính quan trọng đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và là tác phẩm có chất lượng văn học cao. Thơ Nguyễn Trãi chủ yếu nằm trong Ức Trai Thi Tập, gồm 105 bài thơ chữ Hán, là một trong các tập thơ chữ Hán đặc sắc của Nguyễn Trãi, trong đó có 17 bài tồn nghi. Đa số các bài trong tập này là thơ thất ngôn bát cú; thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn, chỉ có 2 bài theo thể trường thiên là "Côn Sơn ca" và "Đề Hoàng ngự sử Mai tuyết hiên". Về sau thêm vào 234 bài thơ chữ Nôm, làm thành Quốc Ăm Thi Tập còn truyền tụng và lưu giữ cho tới ngày nay. 

“Thính vũ” là một bài thơ trữ tình được sáng tác trước khi cuộc kháng chiến thành công. Như vậy có thể nói bài nầy được sáng tác trước 1428. Bài thơ bộc lộ tâm trạng một cách sâu sắc. 

Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh làm quan dưới triều nhà Hồ ( Hồ Hán Thương) giữ những chức vụ quan trọng. Năm 1407 quân Minh xăm lược nước ta, bắt Hồ Quý Ly giải về Tàu, Nguyễn Phi Khanh cũng cùng chung số phận. Khi đó Nguyễn Trãi chạy theo cha khóc lóc thảm thiết, đến Ải Nam Quan thì cha bảo Nguyễn Trãi hãy quay về Thăng Long tìm cách diệt giặc trả thù cho cha rữa hận cho nước, chứ theo khóc lóc mà làm gì? Ông nghe lời cha quay về lo chuyện phục thù. "Khi Bình Định Vương Lê Lợi về đánh ở Lỗi Giang Nguyễn Trãi xin đến yết kiến và lên bài sách Bình Ngô. Bình Định Vưng xem xong khen hay, dùng ông làm tham mưu. Ông giúp Bình Định Vương bày mưu định kế để lo sự bình định (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim). 

Chính trong thời gian làm tham mưu cho Bình Định Vương mà Nguyễn Trãi đã sáng tác bài thơ "Thính Vũ" nầy. Bắt đầu là cảnh trời mưa, chàng trai trẻ Nguyễn Trãi hồi đó đã thức thâu đêm một mình trong phòng vắng, ở một lữ quán nào đó trên đường đi công tác bí mật, tránh sự dòm ngó của quân thù. Ông lắng nghe tiếng mưa rơi mà lòng rầu rỉ lo âu chuyện đời, việc nước. Trong thư phòng nhỏ lạnh lẽo, vắng lặng, tối tăm, nói lên nỗi cô đơn trống vắng giữa không gian u tịch mênh mông. Cảnh tượng mưa đêm, có tiếng gió lay xào xạc, tiếng tí tách trên tàu lá, trên mái tranh, trên khóm trúc là những hình ảnh rất thật có tác dụng xoáy vào tâm tư Nguyễn Trãi, một con người đang ôm ấp một hoài bão lớn. Tiếng mưa rơi cũng là tiếng lòng của tác giả đã chạm vào chốn sâu thẳm trong tim chứa đựng một ước mơ. 
Ta thấy cảm xúc trong ông thật đậm đà nhưng nóng bỏng tình yêu quê hương đất nước tưởng như tới cực độ, dồn nén trong lòng, vượt quá sự ức chế. Ông trằn trọc, lo âu, day dứt mong cho dứt cơn mưa nhưng sao mưa cứ mưa mãi mưa hoài suốt năm canh cho tới sáng hôm sau! Tiếng động của mưa gió làm ông giật mình không ngủ, phải chăng ông đang lo nghĩ tới ngày mai, biết bao giờ cuộc kháng chiến mới thành công? Ông lo lắng tự hỏi sao cơn mưa cứ kéo dài mãi, chẳng khác nào cuộc kháng chiến hiện tại đã trải qua gần 10 năm rồi ! Ông mong cho mưa chấm dứt tức cuộc kháng chiến thành công. 

Trong tiếng mưa, dường như có cả tiếng chuông chùa từ xa vọng lại. Tiếng chuông như động vào giấc mơ, làm nhà thơ bừng tỉnh. Một giấc mơ dấu kín trong lòng, của người đang thao thức, mong cho trời mau sáng. Tác giả tả tâm trạng của một người có chí khí lớn qua hình ảnh và âm thanh thật đặc sắc vừa gợi hình, gợi cảm vừa ẩn dụ sâu xa. Quả thật là một bài thơ hay, cô đọng ! 


Dịch thơ: 
1. Diễn dịch bằng thơ lục ngôn: 

Nghe Mưa

Trời tối thư phòng vắng lặng 
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi 
Áo não kinh hồn gối khách 
Giọt mưa tí tách chưa thôi 
Khóm trúc xạt xào cửa sổ 
Chuông ngân hòa mộng chơi vơi 
Ngâm vịnh không tròn giấc ngủ 
Mưa hoài tới sáng nào ngơi! 

Nguyễn Cang 

2. Diễn dịch bằng thơ thất ngôn: 

Nghe Mưa

Tối tăm phòng vắng, lặng êm đềm 
Mưa suốt năm canh chạnh ngóng thêm 
Buồn bã giật mình, lay gối khách 
Eo sèo mưa thấm, lạnh trời đêm 
Gió khua bụi trúc vang khung cửa 
Hòa tiếng chuông chùa khuấy mộng êm 
Ngâm vịnh trở trăn thao thức mãi 
Mưa đêm khoan nhặt sáng dần im!!! 

Nguyễn Cang 

3. Bản dịch:  
Nghe Mưa

Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch, 
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài. 
Phơn phớt gió lùa lay gối khách, 
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài. 
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió, 
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay. 
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được, 
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai. 

Hương Lệ Oanh

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019

Thơ Nguyễn Trãi - Thơ Tỏ Ý Chán Nản Muốn Về Nghỉ Hưu


Thơ Nguyễn Trãi
Thơ Tỏ Ý Chán Nản Muốn Về Nghỉ Hưu

1. Bài thơ  Ngẫu Thành:

偶成                         Ngẫu Thành

世上黃梁一夢餘, Thế thượng Hoàng lương nhất mộng dư,
覺來萬事總成虛。 Giác lai vạn sự tổng thành hư.
如今只愛山中住, Như kim chỉ ái sơn trung trú,
結屋花邊讀舊書。 Kết ốc hoa biên độc cựu thư.

阮廌                                      Nguyễn Trãi 
***
Chú Thích:
- NGẪU THÀNH 偶成 : Ngẫu nhiên mà làm thành bài thơ. Ý muốn nói bài thơ là nỗi lòng của tác giả được hình thành một cách tự nhiên ngẫu hợp với tâm trạng của mình. Lòng đã muốn như thế nên mới hình thành lời thơ như thế. Nói là ngẫu nhiên làm thành chứ thực ra là do từ trong lòng mà làm ra đó vậy.
- HOÀNG LƯƠNG NHẤT MỘNG 黃梁一夢 : Ta gọi là Một Giấc Kê Vàng, để chỉ những gì hư ảo như một giấc mộng, không thể thực hiện được, và thường dùng để chỉ vinh hoa phú qúy như một giấc mộng, chỉ ngắn ngủi trong khoảnh khắc, chớp mắt đã không còn gì cả, theo tích sau đây :
Năm Đường Khai Nguyên thứ 7 (719), có chàng Lư Sinh thi rớt, cởi lừa về quê. Một hôm đi ngang qua đất Hàm Đan, ghé vào một lữ quán, gặp đạo sĩ Lữ Ông, đàm đạo rất tương đắc. Lư than bất đắc chí, Lữ Ông bèn đưa cho chàng chiếc gối bằng sành, sẵn thua buồn chàng bèn gối đầu lên gối mà ngủ, vừa lúc chủ quán vừa bắt nồi kê vàng (hoàng lương) lên nấu. Lư Sinh mộng thấy mình về quê cưới được Thôi Thị vừa đẹp lại vừa là con nhà giàu, lại thi đậu tiến sĩ, được thăng làm Thiểm Châu Mục, rồi Kinh Triệu Doãn. Cuối cùng vinh thăng Hộ Bộ Thượng Thơ kiêm Ngự Sử Đại Phu, Trung Thư Lệnh và cuối cùng được phong làm Yến Quốc Công. Năm đứa con đều được quan cao lộc cả, con gái thì gả vào nhà quyền qúy, Con cháu đầy nhà, vinh hoa phú qúy đến tột cùng. Đến năm 80 tuổi mới bị bệnh mà mất. Khi vừa đứt hơi, thì cũng chính là lúc Lư Sinh giật mình tỉnh dậy, thấy Lữ đạo sĩ vẫn còn ngồi đó, nồi kê vàng mà chủ quán đang nấu vẫn còn chưa chín. Lư Sinh chợt tỉnh ngộ, mấy mươi năm phú qúy vinh hoa rốt cuộc chỉ là một giấc mộng ngắn ngủi mà thôi!

- GIÁC LAI 覺來 : Tỉnh lại (sau giấc ngủ).
- HƯ 虛 : là Trống không, không có gì cả !
- KẾT ỐC 結屋 : Kết một căn nhà (bằng cỏ, bằng lá ...)

Nghĩa bài Thơ:

Cuộc sống trên đời nầy giống như là sau một giấc hoàng lương. Sau khi tỉnh lại rồi thì muôn việc đều là con số không. Như hiện nay thì ta chỉ thích ở ẩn trong núi, kết một gian nhà tranh cạnh những khóm hoa mà đọc sách cũ của ngày xưa mà thôi!

Diễn Nôm:
Ngẫu Thành

Cuộc đời vốn tựa giấc hoàng lương,
Tỉnh mộng muôn điều tựa khói sương.
Về núi thích sao bên hoa dại,
Kết tranh đọc sách chẳng buồn thương.

Lục bát:

Người đời như giấc kê vàng,
Tỉnh ra muôn việc tan như mây trời.
Chi bằng về núi thảnh thơi,
Bên hoa kết mái tranh ngồi đọc thư.

Đỗ Chiêu Đức

2. Bài thơ Vãn Lập:

晚立                        Vãn Lập

長天漠漠水悠悠, Trường thiên mạc mạc thủy du du,
黃落山河屬暮秋。 Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.
羨殺花邊雙白鳥, Hâm sát hoa biên song bạch điểu,
人間累不到滄洲。 Nhân gian lụy bất đáo thương châu!
阮廌                         Nguyễn Trãi 

Chú Thích:
- VÃN LẬP 晚立 : VÃN là Buổi chiều gần tối; LẬP là Đứng. Nên VÃN LẬP là Đứng ngắm cảnh chiều tối.
- HOÀNG LẠC 黃落 : là Vàng rụng, là Lá mùa thu vàng rơi rụng.
- HÂM SÁT 羨殺 : HÂM là Hâm mộ; SÁT là giết, là chết. Sát ở đây là Phó Từ dùng để chỉ mức độ của Động từ. Nên HÂM SÁT là : Hâm Mộ muốn chết; Ý chỉ Rất là hâm mộ, Hâm mộ vô cùng !
- NHÂN GIAN LỤY 人間累 : là Cái lụy phiền của nhân gian người đời.
- THƯƠNG CHÂU 滄洲 : là Cồn bãi, thường ngụ ý dùng để chỉ nơi ở ẩn nhàn hạ.

Nghĩa Bài Thơ:
Đứng Ngắm Trời Chiều

Trời rộng thênh thang mơ màng dưới dòng nước chảy lửng lờ. Lá vàng rụng đầy cả núi cả sông trời đã thuộc về cuối mùa thu rồi. Ta vô cùng hâm mộ đôi chim trắng bay lượn bên hoa đang nở rộ. Cái lụy phiền của nhân gian không thể đến được với mảnh đất thương châu nhàn nhã nầy!

* Diễn Nôm:
Vãn Lập

Trời cao lồng lộng nước mênh mông,
Lá rụng chiều thu khắp núi sông.
Hâm mộ thay đôi chim trắng lượn,
Người đời phiền muộn khó chờ trông.

Lục bát:

Trời cao rộng, nước mênh mông,
Lá vàng rụng khắp núi sông thu buồn.
Bên hoa chim trắng chập chờn,
Nhân gian phiền muộn chẳng còn nơi đây!

Đỗ Chiêu Đức


3. Bài thơ Đề  Sơn Điểu Hô Nhân Đ

題山鳥呼人圖         Đề  Sơn Điểu Hô Nhân Đ

深山寂寂鳥呼人, Thâm sơn tịch tịch điểu hô nhân,
畫裏看來亦逼真。 Họa lý khán lai diệc bức chân.
閒掛午窗朝退日, Nhàn quải ngọ song triều thoái nhật,
夢回疑是故園春。 Mộng hồi nghi thị cố viên xuân.
阮廌                                      Nguyễn Trãi 

* Chú Thích:
- SƠN ĐIỂU HÔ NHÂN 山鳥呼人 : là Chim trong núi mời gọi người.
- BỨC CHÂN 逼真 : Sát với sự thật; (vẽ) Gần như thật.
- TRIỀU THOÁI 朝退 : là Thoái Triều, lúc tan chầu vua ra về.
- CỐ VIÊN 故園 : Vườn cũ, chỉ Quê xưa.

* Nghĩa Bài Thơ:

Đề Bức Họa Chim Núi Gọi Người

Trong cảnh núi sâu vắng vẻ nầy tiếng chim như mời gọi người. Bức họa rất sống động xem gần như là cảnh thật vậy. Mỗi ngày khi tan chầu rảnh rổi ta treo nó trước song cửa để nhìn ngắm, mà ngỡ như mơ về vườn xuân nơi quê cũ.

* Diễn Nôm:

Đề  Sơn Điểu Hô Nhân Đ

Núi sâu vắng vẻ tiếng chim mời, 
Tranh vẽ truyền thần cảnh thảnh thơi.
Treo ở cửa song tan chầu ngắm,
Ngỡ như quê cũ lúc xuân thời !

Lục bát:
Núi sâu vắng, tiếng chim kêu,
Bức tranh như thật gợi nhiều ước mơ.
Tan chầu treo ở song thơ,
Vườn xuân quê cũ ngẩn ngơ mộng hồn!

Đỗ Chiêu Đức


4. Bài thơ Đề Đông Sơn Tự

題東山寺                 Đề Đông Sơn Tự
君親一念久嬰懷, Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,
澗愧林慚夙願乖。 Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
三十餘年塵境夢, Tam thập dư niên trần cảnh mộng,
數聲啼鳥喚初回。 Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.

* Chú Thích:
- ĐÔNG SƠN TỰ 東山寺 : Tên một ngôi chùa tại xã Vĩnh Lũ, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương.
- QUÂN THÂN 君親 : QUÂN là Vua; THÂN là Cha mẹ; chỉ trung với vua và hiếu thảo với cha mẹ.
- CỬU ANH HOÀI 久嬰懷 : Vấn vít mãi trong lòng.
- TÀM QÚY 慚愧 : là Thẹn thùa. GIẢN 澗 là Khe nước trong núi; LÂM 林 là Rừng. Nên GIẢN QÚY LÂM TÀM 澗愧林慚 : là Thẹn với suối thẹn với rừng.
- TÚC NGUYỆN 夙願 : Nguyện vọng ấp ủ từ lâu, là Lời nguyền cũ.
- QUAI 乖 : là Láu lỉnh, Trái ngược.
- SỔ 數 : SỔ (dấu hỏi) Động từ có nghĩa là Đếm; Hình Dung từ có nghĩa là Mấy; Danh từ đọc là SỐ (dấu sắc) : là Con số. Trong bài thơ là Hình Dung từ SỔ THANH 數聲là Mấy tiếng (chim kêu). 

* Nghĩa bài Thơ:

Đề Đông Sơn Tự

Cái quan niệm về Quân Thân lâu nay vẫn cứ vấn vít mãi trong lòng. Nên ta mới đành thẹn với suối với rừng mà đi ngược lại cái tâm nguyện lâu nay của mình. Hơn ba mươi năm lăn lóc trong cảnh trần đời thoáng qua như một giấc mộng. Mấy tiếng chim hót gọi dậy trong ta những nguyện ước lúc ban đầu.

Như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói "... Sắp hai chữ QUÂN THÂN mà gánh vác", nên Nguyễn Trải vẫn cứ phải bận lòng mãi với Trung với Hiếu mà đành thẹn với suối với rừng, không thực hiện được tâm nguyện của mình là về sống ấn cư nhàn tản với núi rừng như đã từng ao ước. Ba mươi mấy năm lăn lóc trong trường danh lợi, trong chốn quan trường, chợt nghe tiếng chim hót líu lo mới giật mình mà muốn quay đầu sống với những ước nguyện của buổi ban đầu : Về hưu hưởng nhàn!

* Diễn Nôm:

Đề Đông Sơn Tự

Vấn vít quân thân suốt một đời,
Thẹn cùng rừng núi lỡ rong chơi.
Ba mươi năm lẻ đời như mộng,
Mấy tiếng chim kêu chợt ngẩn người!

Lục bát:
Quân thân ràng buộc một đời,
Thẹn cùng rừng núi sai lời nguyền xưa.
Ba mươi năm mấy nắng mưa,
Chim kêu tỉnh mộng như vừa hôm qua!

Đỗ Chiêu Đức


5. Bài thơ Hải Khẩu Dạ Bạc Hữu Cảm

海口夜泊有感         Hải Khẩu Dạ Bạc Hữu Cảm
湖海年來興未闌, Hồ hải niên lai hứng vị lan,
乾坤到處覺心寬。 Càn khôn đáo xứ giác tâm khoan.
眼邊春色薰人醉, Nhỡn biên xuân sắc huân nhân túy,
枕上潮聲入夢寒。 Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn.
歲月無情雙鬢白, Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch,
君親在念寸心丹。 Quân thân tại niệm thốn tâm đan.
一生事業殊堪笑, Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu,
嬴得虛名落世間。 Doanh đắc hư danh lạc thế gian !

* Chú Thích:
- HỨNG 興: là Cảm hứng. Nếu đọc là HƯNG thì có nghĩa là Nổi dậy.
- LAN 闌: là Sắp hết, sắp tàn. HỨNG VỊ LAN 興未闌 : là Rất còn hứng thú chưa tàn phai. 
- ĐÁO XỨ 到處: Nơi mà ta đến, nên có nghĩa là KHẮP NƠI.
- HUÂN 薰: Có THẢO ĐẦU nên có nghĩa là một loại cỏ thơm, là Hơi thơm.
- TRIỀU THANH 潮聲 : là Tiếng sóng.
- THÙ 殊: là Đắc biệt, là Chấm dứt. THÙ KHAM TIẾU 殊堪笑 : Là Chấm dứt một cách khá buồn cười.
- LẠC 落 : là Rụng, Rơi, Rớt. LẠC THẾ GIAN 落世間 : là Còn Rơi rớt lại, còn để lại trên đời.

* Nghĩa Bài Thơ:
Cảm Hứng Đêm Đậu Thuyền Ở Cửa Biển

Những năm gần đây sống kiếp hải hồ nhưng cái hứng vẫn chưa tàn; Cảnh trời đất khắp nơi đều làm cho lòng ta cảm thấy khoan khoái. Trước mắt ta mùi hương của sắc xuân làm say đắm lòng người, tiếng sóng trên sông nước đưa ta vào giấc ngủ lạnh lẽo. Ngày tháng qua đi một cách vô tình, khiến cho hai bên tóc mai đà bạc trắng, mà tấc lòng trung hiếu vẫn phải gìn giữ sắt son. Sự nghiệp một đời chấm dứt một cách đáng buồn cười, vì chỉ có được chút hư danh để lại cho thế gian mà thôi !

* Diễn Nôm:
Hải Khẩu Dạ Bạc Hữu Cảm

Mấy năm hồ hải hứng chưa tàn,
Trời đất khắp nơi thảy chứa chan.
Xuân sắc thoảng hương người chếnh choáng,
Sóng sông đưa lạnh mộng lan man.
Vụt vù năm tháng đầu đà bạc,
Canh cánh hiếu trung dạ chửa an.
Sự nghiệp một đời cười chấm dứt,
Hư danh còn chút để dân gian!

Lục bát:

Giang hồ cảm hứng chưa tàn,
Khắp nơi trời đất đều khoan khoái lòng.
Hương xuân ngây ngất mênh mông
Rì rào bên gối sóng sông mơ màng.
Bạc đầu năm tháng thời gian,
Hiếu trung giữ vẹn riêng mang tấc lòng.
Một đời sự nghiệp hư không,
Khẩy cười một tiếng theo dòng thế gian!

Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

Thơ Nguyễn Trãi - Thơ Làm Khi Công Thành Danh Toại

Thơ Làm Khi Công Thành Danh Toại

(Nguyễn Trãi)

1. Bài thơ Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác


上元扈駕舟中作 Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác

沿江千里燭光紅, Duyên giang thiên lý chúc quang hồng,
彩鷁乘風跨浪篷。 Thái Nghịch thừa phong khóa lãng bồng.
十丈樓臺消蜃氣, Thập trượng lâu đài tiêu thận khí,
三更鼓角壯軍容。 Tam canh cổ giác tráng quân dung.
滄波月浸玉千頃, Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh,
仙杖雲趨天九重。 Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng.
午夜篷窗清夢覺, Ngọ dạ bồng song thanh mộng giác,
猶疑長樂隔花鐘。 Do nghi Trường Lạc cách hoa chung.
阮廌                         Nguyễn Trãi

* Chú Thích:
- Thượng Nguyên 上元 : là Rằm tháng giêng, là Tiết Nguyên Tiêu.
- hỗ giá 扈駕 : HỖ là theo sau, hộ vệ; HỖ GIÁ : Đi theo hầu thuyền vua.
- Duyên Giang 沿江 : là Dọc theo bờ sông.
- Thái Nghịch 彩鷁 : là tên đặt cho một chiếc thuyền vua có vẽ hình con chim Nghịch đón gió với màu sắc rực rỡ.
- Thận khí 蜃氣 là Ảo ảnh. Ánh sáng rọi xuống biển, phản chiếu ngược lên trên không thành muôn hình vạn trạng, như lâu đài, chợ búa ... Ngày xưa cho là vì có con sò thần biến hóa ra cảnh thần tiên, nên gọi là “Thận Lâu Hải Thị 蜃樓海市 là Lầu Sò Chợ Biển" để chỉ các ảo ảnh về cảnh thần tiên trên biển chỉ là hư ảo không có thật.
- Cổ Giác 鼓角 : Cổ là Trống; Giác là Sừng. Nên CỔ GIÁC là Tiếng trống tiếng tù-và thổi trong quân lúc gác đêm.
- Thương Ba 滄波 : là Sóng xanh, xuất xứ từ THƯƠNG HẢI 滄海 là Biển xanh.
- Tiên Trượng 仙杖 : là Gậy tiên. Gậy tre của tiên chống, có thể hóa thành rồng cởi để bay lên mây xanh.
- Cửu Trùng 九重 : là Chín tầng. Theo truyền thuyết cổ đại của Trung Hoa thì Trời có 9 tầng, nên gọi là Cửu Trùng Thiên 九重天. Vua là Thiên Tử là con trời, nên cũng gọi vua là Đấng Cửu Trùng; Tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như mở đầu Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu :

CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. 
- Ngọ Dạ 午夜 : là Nửa đêm. Phiếm chỉ Đêm khuya.
- Trường Lạc 長樂 : là Cung Trường Lạc. Một cung điện của nhà Hán xưa ở trong thành Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc ngày nay), cùng với cung Vị Ương 未央 là nơi xưa Hán Cao Tổ hay đón tiếp quần thần và chư hầu. 


* Nghĩa Bài Thơ: 

Cảm Tác Ngày Rằm Thượng Nguyên Hỗ Giá trong Thuyền 

Cả ngàn dặm dọc theo bờ sông đều rực sáng bởi ánh đuốc sáng rực. Chiếc thuyền có chạm hình chim Thái Nghịch rực rỡ đang cởi gió lướt đi trên sóng. Lầu thuyền cao mười trượng lấp lánh hư ảo như cảnh thần tiên trên biển, và tiếng trống giục hòa lẫn tiếng tù-và rít lên lúc canh ba càng làm tăng thêm vẻ hùng tráng của quân binh. Thuyền lướt trên sóng xanh với ánh trăng lắp loáng chìm trong đáy nước như muôn ngàn mảnh ngọc vỡ ra; những cây cột buồm như những cây gậy tiên như vươn cao và lướt trên mây lên tận chín từng trời. Ta chợt tỉnh giấc mộng thanh thản bên song thuyền lúc giữa đêm khuya, mà còn ngờ là đang nghe tiếng chuông hoa đang gọi chầu nơi cung Trường Lạc. 

Quả là cảnh hỗ giá sau thanh bình chiến thắng trở về, với sĩ khí lên cao, đèn hoa rực rỡ trong đêm rằm Nguyên Tiêu sau Tết Nguyên Đán trên thuyền của vua đi. Nguyễn Trãi đã nằm trong khoang thuyền theo sau thuyền vua, nhìn ra trước mũi thuyền có chạm trổ hình chim nghịch với màu sắc rực rỡ như đang lướt đi trên sóng và các cột buồm như những chiếc gậy tiên đang chọc thẳng lên chín từng mây. Cảnh náo nhiệt với các đuốc hoa rực rỡ dọc theo bờ sông, cảnh hùng tráng với tiếng tù-và tiếng trống giục trên thuyền của quân binh đã vẽ nên một cảnh thanh bình thịnh vượng của một đất nước độc lập tự chủ sau những năm trầm luân trong đô hộ. 

* Diễn Nôm:

Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác


Ngàn dặm ven sông đuốc rực hồng,
Thuyên rồng cởi gió lướt trên sông.
Lâu thuyền mười trượng mờ tiên cảnh,
Còi trống ba quân vẳng khí hùng.
Trăng vỡ ngàn sao nhòa đáy nước,
Gậy tiên chín lớp vượt không trung.
Nửa đêm tỉnh mộng bên song cỏ.
Còn ngỡ chuông hoa Trường Lạc cung!

Lục bát: 

Ven sông ngàn dặm đuốc hồng,
Mũi thuyền cởi gió lướt dòng sóng xanh.
Lâu thuyền cao xóa khí lành,
Trống còi giục giã đêm thanh hào hùng.
Trăng chìm đáy nước mông lung,
Gậy tiên vươn thẳng chín từng mây cao.
Nửa đêm tỉnh giấc song đào,
Còn ngờ Trường Lạc hôm nao gọi chầu.


Đỗ Chiêu Đức
***
2. Bài thơ Đề Kiếm:


題劍                         Đề Kiếm

藍山自昔臥神龍, Lam Sơn tự tích ngọa thần long,
世事懸知在掌中。 Thế sự huyền tri tại chưởng trung.
大任有歸天啓聖, Đại nhậm hữu quy thiên khải thánh,
昌期一遇虎生風。 Xương kỳ nhất ngộ hổ sanh phong.
國讎洗盡千年恥, Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ,
金匱終藏萬世功。 Kim quỹ chung tàng vạn thế công.
整頓乾坤從此了, Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu,
世間那更數雄英。 Thế gian na cánh sổ anh hùng.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:
- KIẾM ở đây là Thuận Thiên kiếm 順天劍 hay kiếm thần Thuận Thiên là thanh kiếm huyền thoại của vua Lê Lợi, người đã đem lại độc lập cho Việt Nam từ ách cai trị của nhà Minh phương Bắc.
- LAM SƠN 藍山 : Tên núi ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa ngày nay), năm 1418 (Mậu Tuất), Bình Định Vương Lê Lợi đã khởi nghĩa tại đây.
- NGỌA THẦN LONG 臥神龍 : "Ngoạ long" là con rồng nằm, thường dùng để chỉ Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc (Trung Hoa) lúc còn ở ẩn tại Ngoạ Long Cương (huyện Nam Dương, tỉnh Hà Nam). Trong bài này, Nguyễn Trãi dùng "Ngoạ Thần Long" để chỉ Lê Lợi khi còn ở núi rừng Lam Sơn.
- THIÊN KHẢI THÁNH 天啓聖 : Trời bảo cho thánh nhân (tức Lê Lợi) biết. Chỉ việc Lê Lợi được trời cho kiếm thần trên có chữ "Thuận Thiên". Năm 1428 (Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
- HỔ SANH PHONG 虎生風 : Cọp sinh ra gió. Lấy ý ở quẻ Càn 乾 trong kinh Dịch 易: "Vân tòng long, phong tòng hổ" 雲從龍,風從虎 (Mây theo rồng, gió theo cọp).
- KIM QŨY 金匱 : Do chữ "Kim quỹ thạch thất" 金匱石室 là rương làm bằng vàng, nhà xây bằng đá để cất giữ sử sách. Vua Cao Tổ nhà Hán dùng tráp bằng vàng cất giữ những biểu dương ghi chép công lao của các công thần.
- CÀN KHÔN 乾坤 : chỉ Âm dương Trời đất, mượn để chỉ cuộc đời nầy.

* Nghĩa Bài Thơ:
Đề Lưỡi Kiếm Thần của Lê Lợi

Đất Lam Sơn từ xưa vốn là nơi đã nằm sẵn một con rồng thần. Chuyện đời đã biết rõ rành rành như trong lòng bàn tay. Khi trách nhiệm lớn đã có người gởi gắm thì trời cũng báo cho bậc thánh nhân biết trước, và khi thời cơ tốt đã đến thì như chúa sơn lâm được sự hỗ trợ của gió vậy. Quốc thù cũng đã được rửa sạch cái nhục của cả ngàn năm, và rương vàng cũng cất giữ lại công lao muôn đời của các bậc công thần. Từ nay đã kết thúc việc chỉnh đốn lại càn khôn trời đất của ta, thử nghĩ trên đời nầy có được mấy người anh hùng như thế chứ ?!
Ý là Đề Gươm, nhưng thật ra là để ca ngợi sự kiên nhẫn và chiến tích vẻ vang của Bình Định Vương Lê Lợi. Được kiếm Thuận Thiên là thuận theo ý trời, như hùm gặp gió, như hổ thêm vây rửa sạch cái nhục ngàn năm mà ổn định lại trật tự xã hội của dân Nam, thành tích nầy không phải anh hùng nào cũng làm được! 
Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời Tiền Chiến trong bài thơ Nước Tôi cũng đã lấp lửng mà ca ngợi bằng hai câu thơ :
Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,
Trên Hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?

* Diễn Nôm:

   Đề Kiếm

Lam Sơn xưa vốn đất tiềm long,
Thế sự trong tay đã tỏ lòng.
Đại cuộc chuyển xoay trời ban thánh,
Thuận Thiên kiếm báu hổ nương phong.
Báo xong thù nước ngàn năm nhục,
Ghi dấu hộp vàng muôn thuở công.
Chỉnh đốn đất trời nay trọn vẹn,
Anh hùng mấy kẻ được như ông ?!

Lục bát:

Lam Sơn xưa đất ẩn rồng,
Chuyện đời đã rõ như lòng bàn tay.
Thế trời tỏ rõ thánh hay,
Thuận Thiên thần kiếm thêm vây cho hùm.
Ngàn năm thù nước báo xong,
Rương vàng nhà đá ghi công muôn đời.
Đất trời chỉnh đốn xong rồi,
Anh hùng dưới thế mấy người như ông ?!


Đỗ Chiêu Đức
***
3. Bài thơ Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ


題伯牙鼓琴圖         Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ

鐘期不作鑄金難, Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
獨抱瑤琴對月彈。 Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
靜夜碧霄涼似水, Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy,
一聲鶴唳九皋寒。 Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn!
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:
- BÁ NHA 伯牙: hay Sở Bá Nha, họ Du tên Thụy, người nước Sở nhưng làm quan Thượng Đại Phu nước Tấn. Ông là một khách phong lưu, có ngón đàn thất huyền cầm nổi tiếng đương thời. Tương truyền một năm nọ, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường trở về đến sông Hán, gặp đêm trung thu trăng thanh gió mát, ông lệnh cho quân lính dừng thuyền uống rượu thưởng nguyệt. Cao hứng mang đàn ra gảy nhưng bản đàn chưa dứt đã bị đứt dây. Bá Nha ngờ có người biết nghe đàn, định truyền quân lên bờ đi tìm thì vừa hay có tiếng chàng trai nói vọng xuống, rằng mình là một tiều phu, thấy khúc đàn hay quá nên dừng chân nghe. Bá Nha có ý nghi hoặc, nhưng khi chàng trai đối đáp trôi chảy, thậm chí biết rõ bản đàn mà mình vừa gảy thì ông không còn mảy may ngờ vực nữa, bèn mời xuống thuyền đàm đạo. Trên thuyền, Bá Nha gảy khúc nhạc Cao sơn Lưu thủy, người tiều phu rung cảm sâu sắc, cao đàm khoát luận, khiến Bá Nha khâm phục hết mực.

Chàng trai trẻ đó chính là Chung Tử Kỳ 鍾子期, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn gần núi Mã Yên cửa sông Hán Giang, là một danh sĩ ẩn dật, đốn củi sớm tối phụng dưỡng mẹ cha già yếu. Được người tri âm, Bá Nha có ý mời Tử Kỳ cùng mình về kinh tiến cử cho Tấn vương để cùng vui hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Tử Kỳ thoái thác vì chữ hiếu. Bá Nha đành phải hẹn Tử Kỳ trung thu năm sau sẽ gặp lại ở chốn nầy. Nhưng khi Bá Nha trở lại bến sông xưa, thì Tử Kỳ đã mất trong một cơn bạo bệnh. Trước khi chết Tử Kỳ còn trăng trối phải chôn chàng nơi bến sông Hán Dương, cạnh núi Mã Yên, để giữ lời hẹn với Bá Nha. Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, bày đồ tế lễ, khóc than sầu thảm, gảy một bản nhạc ai điếu. Đàn xong, ông đập đàn vào đá, thề trọn đời không đàn nữa vì biết mình từ nay vĩnh viễn không còn bạn tri âm nữa.
- CỔ CẦM 鼓琴: CỔ danh từ là Cái Trống; động từ là Đánh Trống. nên CỔ CẦM ở đây có nghĩa là Đánh Đàn, Gãy đàn.
- CHÚ KIM 鑄金 : là Đúc bằng vàng. CHÚ KIM NAN là Khó mà đúc được bằng vàng.
- BÍCH TIÊU 碧霄: là Bầu trời xanh biếc.
- CỬU CAO 九皋: là chín cái đầm nước. Kinh Thi chương Hạc minh có câu: “Hạc minh vu cửu cao, thanh văn vu dã” 鶴鳴于九皋,聲聞于野: Chim hạc kêu ở chỗ có chín đầm nước vang khắp đồng nội. Số 9 ở đây là phiếm chỉ, chỉ rất nhiều đầm nước ở ngoài đồng nội.

* Nghĩa Bài Thơ:
Đề Bức Tranh Bá Nha Gãy Đàn

Không làm được Chung Kỳ vì đúc tượng vàng Chung Kỳ khó.(Ý muốn nói: Chung Tử Kỳ là người tri âm qúy hiếm, rất khó tìm thấy trên đời, kể cả đúc bằng kim loại), Nên mới một mình ôm cây dao cầm mà đàn dưới ánh trăng. Đêm thanh vắng, bầu trời xanh biếc trong mát như nước. Một tiếng chim hạc kêu làm lạnh cả chín đầm nước ngoài đồng nội.

* Diễn Nôm:
Đề Tranh Bá Nha Gảy Đàn

Chung Kỳ khó gặp đúc nên vàng,
Đơn độc dưới trăng lạnh gãy đàn.
Đêm mát trời xanh trong tợ nước,
Hạc kêu một tiếng chím đầm vang!

Lục bát:
Tri âm khó đúc hơn vàng,
Dưới trăng một bóng ôm đàn gảy suông.
Đêm thanh trời mát tợ gương,
Hạc kêu một tiếng lạnh vương chín đầm!

Đỗ Chiêu Đức
***
4. Bài thơ Quá Thần Phù Hải Khẩu:


過神符海口             Quá Thần Phù Hải Khẩu

神符海口夜中過, Thần Phù hải khẩu dạ trung qua,
奈此風清月白何。 Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà.
夾岸千峰排玉筍, Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn,
中流一水走青蛇。 Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà.
江山如昨英雄逝, Giang sơn như tạc anh hùng thệ,
天地無情事變多。 Thiên địa vô tình sự biến đa.
胡越一家今幸睹, Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
四溟從此息鯨波。 Tứ minh tòng thử tức kình ba !
阮廌                         Nguyễn Trãi

* Chú Thích:
- THẦN PHÙ HẢI KHẨU 神符海口 : là Cửa biển Thần Phù. Theo Nam Ông Mộng Lục 南翁夢錄, Vua Lý Thái Tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được; may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường dẹp yên sóng dữ. Khi ban sự trở về, đạo sĩ mất ở dọc đường. Vua cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là "Áp Lãng Chân Nhân 壓浪真人" (Chân nhân dẹp yên được sóng dữ) và đặt tên nơi đây là cửa biển Thần Phù.
- NẠI... HÀ 奈...何 : Phải làm sao đây ? Biết nói sao đây ?!
- PHONG THANH NGUYỆT BẠCH 風清月白 : Ta nói là Gió mát trăng thanh.
- GIÁP NGẠN 夾岸 : Hai bên bờ.
- NGỌC DUẨN 玉筍 : là Măng non mới mọc.
- GIANG SƠN NHƯ TẠC 江山如昨 : Núi sông như mới ngày hôm qua.
- HỒ VIỆT 胡越 : Tên các nước thuộc Trung Quốc. Hồ chỉ các nước nhỏ ở phía bắc, Việt chỉ các nước nhỏ ở phía nam, nên HỒ VIỆT ý chỉ hai nơi rất xa nhau. Tác giả ngụ ý khi hoà hợp thì xa cũng hoá gần.
- TỨ MINH 四溟 : là Tứ Phương Chi Hải 四方之海, là Biển của bốn phương; ta nói là Bốn Bể, có nghĩa là khắp nơi khắp chốn.
- KÌNH BA 鯨波 : Sóng do con cá kình lội mà tạo nên, ở đây mượn ý để chỉ các chiến thuyền lướt sóng như cá kình cá voi; và Chiến Thuyền Lướt Sóng hàm ý chỉ chiến tranh.

* Nghĩa Bài Thơ:
Qua Cửa biển Thần Phù

Trong đêm đi ngang qua cửa biển Thần Phù, trong cảnh gió mát trăng thanh nầy, ôi, phải biết nói sao đây ?! Giáp hai bên bờ là hàng ngàn ngọn núi vươn lên như những búp măng mới mọc, và ở giữa là một dòng chảy lấp loáng dưới ánh trăng như một con rắn xanh. Sông núi vẫn như ngày hôm qua, nhưng những người anh hùng thì đã khuất. Trời đất vô tình trước sự biến hóa đổi thay. May mắn là đã nhìn thấy được hôm nay Hồ Việt đã chung lại một nhà, bốn biển từ đây cũng đã
Non nước Thần Phù

* Diễn Nôm:
Qua Cửa biển Thần Phù

Thần Phù cửa biển giữa đêm qua,
Gió mát trăng thanh biết phải là?
Núi đá hai bờ như duẩn ngọc,
Nước xanh một dãi tựa thanh xà.
Giang sơn còn đó anh hùng mất,
Trời đất vô tình thế sự đa.
Hồ Việt nay đà chung một mái,
Thanh bình bốn biển hết can qua!

Lục bát:

Thần Phù cửa biển trong đêm,
Nói sao gió mát êm đềm trăng thanh.
Đôi bờ ngàn núi như tranh,
Giữa trôi lấp lánh rắn xanh một dòng.
Giang sơn đó, đâu anh hùng ?
Sự đời biến đổi vô chừng thoáng qua.
Nay mừng Hồ Việt một nhà,
Từ nay chinh chiến can qua chẳng còn!


Đỗ Chiêu Đức
***
5. Bài thơ Dục Thúy Sơn


浴翠山             Dục Thúy Sơn

海口有仙山, Hải khẩu hữu tiên san
年前屢往還。 Niên tiền lũ vãn hoàn.
蓮花浮水上, Liên hoa phù thủy thượng,
仙景墜人間。 Tiên cảnh trụy nhân gian.
塔影簪青玉, Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
波光鏡翠鬟。 Ba quang kính thúy hoàn.
有懷張少保, Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
碑刻蘚花斑。 Bi khắc tiễn hoa ban.
阮廌                         Nguyễn Trãi

* Chú Thích:
- DỤC THÚY SAN 浴翠山 : Dục Thúy là Tắm trong màu xanh biếc. Núi Dục Thuý, tức núi Non Nước ở Ninh Bình, tên Dục Thuý là do Trương Hán Siêu đặt, vì núi soi bóng xuống cửa biển với một màu xanh biếc.
- LŨ VÃN HOÀN 屢往還 : là Mấy lượt đi về. Đi đi về về mấy lượt.
- TRỤY NHÂN GIAN 墜人間 : là Rơi xuống trần gian.
- TRƯƠNG THIẾU BẢO 張少保 : Tức Trương Hán Siêu đời Trần, được phong hàm Thiếu Bảo, sau khi mất được thăng Thái Bảo, hàm chánh nhất phẩm. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là Phúc Âm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham Tri Chính Sự. Về già ở ẩn tại núi Dục Thuý.
- BI 碑 : là Bia. TIỄN 蘚 : là Rong rêu.

* Nghĩa bài Thơ:
Núi Thúy Sơn

Trước cửa biển có núi tiên, năm trước đây ta đã mấy lượt đi về nơi nầy. Toà núi như là một đóa hoa sen nổi trên mặt nước như là cảnh tiên rơi xuống nhân gian nầy vậy. Bóng tháp in trên nước như trâm bích ngọc và các gợn sóng sáng lấp lánh như gương soi các lọn tóc xanh. Trước cảnh đẹp nầy, làm cho ta chợt nhớ đến Trương Thiếu Bảo, nhưng tấm bia đá khắc về ông đã lốm đốm rêu xanh cả rồi!

* Diễn Nôm :
Núi Thúy Sơn

Cửa biển có tiên san,
Năm qua vẫn khứ hoàn.
Hoa sen trên mặt nước,
Tiên cảnh lạc nhân gian.
Bóng tháp như trâm ngọc,
Sóng xanh tựa tóc nàng.
Nhớ ngài Trương Thiếu Bảo,
Bia khắc cỏ rêu lan.

Lục bát:

Núi tiên cửa biển cận kề,
Năm qua mấy lượt đi về nơi đây.
Như sen nổi mặt nước đầy,
Bồng Lai tiên cảnh đọa đày nhân gian.
Tháp in đáy nước trâm vàng,
Sóng vờn tựa kính soi làn tóc mây.
Nhớ Trương Thiếu Bảo nơi nầy,
Rêu xanh lốm đốn phủ đầy thạch bia!


Đỗ Chiêu Đức