Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Phủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Phủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2025

Nguyệt Dạ Ức Xá Đệ 月夜憶舍弟 - Đỗ Phủ

 
 
Mùa thu năm Càn Nguyên thứ 2 đời vua Đường Túc Tông (759), Đỗ Phủ từ Hoa Châu bỏ quan chạy về đất Tần do AN SỬ CHI LOẠN 安史之亂 cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn và Sử Tư Minh. Tần Châu thuộc tỉnh Cam Túc, là đất Thục xa xôi của ngày xưa, là những quận gần nơi biên giới. Tháng 9 năm đó, Sử Tư Minh từ Phạm Dương dẫn quân nam hạ, công phá Biện Châu, phía tây thì đánh chiếm Lạc Dương, Sơn Đông, Hà Nam. Cả một vùng đều tràn ngập trong chiến loạn, nên anh em của Đỗ Phủ đều bị phân tán thất lạc khắp nơi, bặt vô âm tín, ông vô cùng ưu tư lo lắng, nên mới làm bài thơ nầy để tỏ nỗi lòng lo âu và thương nhớ đến các em trai của mình

月夜憶舍弟。 Nguyệt Dạ Ức Xá Đệ

戍鼓斷人行, Thú cổ đoạn nhân hành,
邊秋一雁聲。 Biên thu nhất nhạn thanh.
露從今夜白, Lộ tòng kim dạ bạch,
月是故鄉明。 Nguyệt thị cố hương minh.
有弟皆分散, Hữu đệ giai phân tán,
無家問死生。 Vô gia vấn tử sinh.
寄書長不達, Ký thư trường bất đạt,
況乃未休兵。 Huống nãi vị hưu binh !
杜甫                Đỗ Phủ

* Chú thích:
- XÁ ĐỆ 舍弟 : là từ Khiêm Xưng 謙稱 (Xưng hô một cách khiêm tốn đối với người khác). XÁ là Nhà; ĐỆ là Em trai; nên XÁ ĐỆ là "Thằng em nhà tôi". Đỗ Phủ có đến 4 em trai, người em út thì ở chung với Đỗ Phủ còn ba người kia thì bị thất lạc trong chiến loạn. Nên XÁ ĐỆ ở đây là số nhiều :"Những thằng em trai".
- THÚ CỔ 戍鼓 : là Tiếng trống điểm canh của người lính thú đang canh gác.
- BIÊN THU 邊秋 : là Mùa thu ở vùng biên khu.
- Câu "LỘ...BẠCH 露...白" : Trong 24 khí tiết trong năm, thì Tiết Bạch Lộ nằm trong đầu mùa thu, âm khí bắt đầu nặng và các hạt sương đêm cũng ngưng đọng nhiều hơn, trắng hơn.
- PHÂN TÁN 分散 : Ở đây chỉ anh em mỗi người một nơi, đều rời xa quê nhà.
- VÔ GIA 無家 : Từ năm Thiên Bảo thứ 5 (746), anh em Đỗ Phủ đều rời xa Lục Hồn Trang thuộc tỉnh Hà Nam ở quê nhà, nên không còn người thân thích nào nữa để hỏi thăm tin tức về các em mình cả.
- VỊ HƯU BINH 未休兵 : là "Binh lính chưa được nghỉ ngơi". Có nghĩa là : "Chưa dứt chiến chinh", cứ còn đánh nhau mãi.

* Nghĩa bài thơ:

ĐÊM TRĂNG NHỚ CÁC EM TRAI
Khi tiếng trống điểm canh của người lính thú vang lên thì trên đường cũng đã dứt hết bóng người qua lại; Một tiếng nhạn bên trời thu ở vùng biên tái kêu lên oanh oác. Sương thu sẽ bắt đầu trắng hơn sau tiết Bạch Lộ của đêm nay, và vầng trăng thu sẽ sáng hơn như là vầng trăng thu của quê nhà. Có được các em thì đều phân tán lưu lạc khắp nơi, Không còn ai ở quê nhà nên cũng không hỏi thăm được sự sống chết ra sao. Gởi thơ thăm hỏi mãi mà cũng không tới được đâu cả, huống hồ chi chiến chinh vẫn còn dai dẳng khắp nơi.

ĐÊM TRĂNG NHỚ CÁC EM nhưng Đỗ Phủ đã không bắt đầu bằng "cảnh đêm trăng" mà bắt đầu bằng cảnh lạnh lùng hiu hắt của vùng biên tái với những điều tai nghe mắt thấy : Tiếng trống điểm canh trong cảnh đường hoang vắng không người qua lại; Tiếng nhạn kêu sương bên trời nơi quan ải xa xôi... Tất cả các quang cảnh trên được hiển hiện một cách thê lương lạnh lùng trước mắt trong đêm thu trăng sáng. Kịp đến hai câu thơ xuất thần bất hủ để đời thiên cổ mà khi nhắc đến thơ Đỗ Phủ là không ai không nhớ đến, đó là hai câu:

露從今夜白, Lộ tòng kim dạ bạch,
月是故鄉明。 Nguyệt thị cố hương minh.

Sương thu đêm nay bắt đầu dầy, bắt đầu trắng hơn lên như nỗi lòng của Đỗ Phủ mỗi lúc càng cảm thấy lạnh lẽo hơn, nhớ thương hơn đối với các đứa em đang lưu lạc phương trời và thấy vầng trăng sáng đêm nay như không thể nào sáng được bằng như vầng trăng thu ở quê nhà. Cũng chỉ là một vầng trăng thu đó, nhưng hoàn cảnh có khác, nên tâm lý cũng khác đi... Vì vầng trăng quê hương là vầng trăng của tuổi thơ, là vầng trăng của vui vầy hạnh phúc, là vầng trăng của đoàn viên sum họp... Nên đâu có vầng trăng nào sáng được như vầng trăng của quê hương đâu !? Với hai ý thơ thật hiễn nhiên đơn giản : Từ đêm nay sương sẽ trắng hơn, nhớ thương sẽ da diết hơn, và vầng trăng của quê hương mới là vầng trăng sáng nhất, vui vẻ nhất, hạnh phúc nhất mà thôi !
Từ cảnh đêm thu trăng sáng lạnh lùng hoang vắng của miền biên tái, Đỗ Phủ đã đưa ý thơ vào thực tế tàn khốc của chiến tranh : Hữu đệ giai phân tán, Vô gia vấn tử sinh 有弟皆分散,無家問死生! Có anh em đó, nhưng vì chiến loạn mà mỗi người thất lạc một nơi, nhà tan cửa nát biết nơi nào mà han hỏi nhau xem sống chết ra sao?! Và với xã hội phương tiện giao thông bất tiện như ngày xưa, việc lai vãng đã vô cùng khó khăn rồi, nói gì đến việc gửi gắm thư từ thăm hỏi, huống hồ lại trong cảnh chiến loạn liên miên, nên mỗi người chỉ đành trông ngóng phương trời mà cầu mong cho thân bằng quyến thuộc ở nơi xa xôi đang chìm ngập trong lửa binh chiến loạn kia may mắn được bình an mà thôi! "Ký thư trường bất đạt, Huống nãi vị hưu binh 寄書長不達,況乃未休兵" mà !

Từ xưa đến nay, chiến tranh bao giờ cũng tạo nên những cảnh ly tan tàn khốc, khiến cho dân chúng nhà tan cửa nát, sinh linh đồ thán, cốt nhục phân ly. Không riêng gì "An Sử chi loạn 安史之亂" của đời Đường thời xa xưa, mà ngày nay thế giới cũng vô cùng ly loạn, cuộc chiến xâm lược của Nga với Ukraine, cuộc chiến giữa Palestine và Israel... Ai được lợi đâu chưa thấy, chứ dân chúng trong chiến tranh loạn lạc chịu cảnh lầm than, gia đình phân tán, sống nay chết mai, đói rách lang thang... là cái chắc!

* Diễn Nôm:

Nguyệt Dạ Ức Xá Đệ

Trống canh người vắng ngắt,
Biên ải nhạn kêu thương.
Sương trắng đêm nay lạnh,
Trăng trong nhất cố hương.
Đệ huynh đều thất tán,
Nhà cửa cũng tang thương.
Thư nhà sao gởi tới?!
Chiến loạn vẫn miên trường!

Lục bát:

Đêm thu người vắng canh tàn,
Lẻ loi tiếng nhạn trên ngàn biên khu.
Đêm nay trắng xóa sương thu,
Vầng trăng sáng nhất tít mù quê xa.
Anh em thất tán không nhà,
Lang thang sống chết biết là về đâu?
Thư không tới, nặng lòng sầu,
Huống hồ chiến loạn rầu rầu khôn nguôi!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2024

羌村其二 Khương Thôn Kỳ Nhị - Đỗ Phủ (Thịnh Đường)

 
 
Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thuỷ. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Thi tứ của ông phong phú và sâu sắc tùy theo tuổi tác.

Đỗ Phủ dùng 3 bài Xóm Khương để tả tình cảnh của ông sau khi được giặc An Lộc Sơn phóng thích. Lời thơ thắm thiết và cảm động. Bài 羌村其二 Khương Thôn Kỳ nhị tả những ngày vui xum họp ngắn ngủi và vội vã sau khi được giặc An Lộc Sơn phóng thích.

Nguyên bản  Dịch âm

羌村其二     Khương Thôn Kỳ nhị

晚歲迫偷生 Vãn tuế bách thâu sinh,
還家少歡趣 Hoàn gia thiểu hoan thú.
嬌兒不離膝 Kiều nhi bất ly tất,
畏我復卻去 Úy ngã phục khước khứ
憶昔好追涼 Ức tích hiếu truy lương,
故繞池邊樹 Cố nhiễu trì biên thụ.
蕭蕭北風勁 Tiêu tiêu bắc phong kình
撫事煎百慮 Phủ sự tiễn bách lự.
賴知禾黍收 Lại tri hoà thử thâu,
已覺糟床注 Dĩ giác tao sàng chú.
如今足斟酌 Như kim túc châm chước,
且用慰遲暮 Thả dung ủy trì mộ.

Chú giải

迫 bách: ép, đè.
偷 thâu: trộm cắp.
趣 thú: thú vị.
膝 tất: đầu gối. tất hạ: dưới gối.
卻 khước: từ khước.
追 truy: tìm trở lại cái đã qua.
涼 lương: mát, hóng gió.
故 cố: việc.
cớ: vì vậy.
繞 nhiễu: quấn vòng quanh.
蕭蕭 tiêu tiêu: gió thổi vù vù.
勁 kình: cứng mạnh (kình địch).
撫 phủ: an ủi.
煎 tiễn: nấu.
慮 lự: lo nghĩ.
賴 lại: nhờ cậy.
禾黍 hoà, thử: lúa.
收 thâu: thu hoạch.
糟 tao: bã rượu.
床 sàng: cái giường.
注 chú: chú ý, ghi chép.
斟酌 châm chước: Rót chén rượu qua là châm, rót lại là chước...Việt hóa thành: thêm bớt cho đúng.
用 dung: dùng.
慰 úy: an ủi.
遲 trì: chậm.

Dịch thơ

Xóm Khương kỳ nhì

Người già thường vội vã,
Về nhà chưa vui vầy.
Trẻ thơ tới quấn quýt,
Sợ về lại đi ngay.
Nhớ xưa ưa hóng mát,
Bèn quanh quẩn hàng cây.
Bỗng heo may hướng bắc,
Lại trăm mối lo đây!
Biết mùa màng mới gặt,
Men rượu thoảng giường này,
Cùng bạn bè mời mọc,
Chiều tà uống giải khuây.

Lời bàn 

Bài thơ 12 câu tả niềm vui ngắn ngủi và vội vã sau khi được giặc An Lộc Sơn thả về. Không đủ thì giờ chơi với con cháu. Không được thanh thản lúc tản bộ trong vườn. Tạm giải khuây với bạn bè bằng vài ly rượu nhạt. Lời thơ rất chân thật.

Con Cò
***
Xóm Khương kỳ 2.

Cao tuổi cầu sinh vội,
Ít vui về ở nhà.
Con không rời khỏi gối,
Bởi sợ ta đi xa.
Xưa thích mát bên cội,
Cây ao lần bước qua.
Ào ào gió bắc thổi,
Nung nấu nỗi phiền hà.
Biết lúa gặt thu bội,
Và hèm đã gạn ra.
Bây giờ đủ rượu uống,
Khuây khỏa lúc chiều tà.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
June 29/2024.
***
Xóm Khương ( kỳ 2 )

Cuối năm trộm cắp thường sinh
Về nhà giảm thú tận tình xỉn/say
Gái cưng ôm gối nắm tay
Sợ ba đi nữa… không quay trở về
Nhớ thời hóng gió thơ đề…
Bên cây cổ thụ lề mề dạo quanh
Ào ào gió bắc thổi nhanh
Lòng còn trăm mối chỉ mành tính sao!
Mùa màng thu hoạch lúa vào…
Rắc men cất rượu vài thau dưới giường
Bạn thân nếm thử rượu vườn
Mời nhau chiều xuống sương sương vơi/đầy

Kiều Mộng Hà
June.30.2024
***
An Hưởng Tuổi Già

Cao niên xồng xộc đến mau,
Khắc giờ sống vội - van cầu cao xanh.
Hồi gia chân bước loanh quanh,
Thú vui chả mấy - đêm canh lạnh lùng.
Ấu nhi bò lết theo cùng,
Không rời đầu gối - sợ chừng tôi xa.
Xưa ưa hóng mát xế nhà,
Bờ ao lụm cụm - mượt mà bóng cây.
Bắc phong cuồn cuộn kéo đây,
Những điều gai mắt - ngập đầy lo toan.
Cánh đồng trải ngập lúa vàng,
Thoắt tay gặt hết - rỡ ràng ngày qua.
Chum bình vại rượu ôm ra,
Lưu linh thoả thích - xướng ca câu từ.
Xế chiều vào tuổi mịt mù,
Tâm tư khuây khỏa - vô tư sự đời.

Khánh-Hưng
***
Xóm Khương Kỳ 2

1-

Tuổi già sống tạm thôi
Cho nhà chút vui thú
Con ngoan không rời gối
Vì sợ ta lại bỏ

Nhớ xưa thích gió lành
Dạo hàng cây ao tụ
Ào ào gió bấc thổi
Trái ý gây tư lự

Lại nghe lúa gặt rồi
Cũng biết hèm rượu đủ
Nay có thể châm chước
Giải khuây khi tương ngộ!

2-

Tuổi già sống tạm qua thời
Cho nhà được hưởng chút vui trong đời
Con ngoan quanh quẩn không rời
Sợ ta lại tiếp bỏ rơi gia đình

Nhớ xưa thích ngọn gió lành
Chiều chiều đi dạo cây xanh ven hồ
Ào ào gió bấc gây lo
Tiết trời trái ý buồn so đứng ngồi

Nhưng nghe lúa má gặt rồi
Cũng hay hèm rượu khắp nơi đủ đầy
Tạm yên châm chước từ nay
Nhâm nhi chén rượu giải khuây cuối đời!

Lộc Bắc
Jul24
***
Khương Thôn kỳ hai

Tuổi già cố gắng đêm ngày
Về nhà sống gượng an bài cho qua
Cháu con quấn quýt bên ta
Không rời một bước thiết tha chân tình
Khi xưa hay dấu bóng hình
Núp ngay dưới lá yên bình tàng cây
Phương Bắc thổi gió heo may
Lòng canh cánh sợ lạnh quay đông về
Mùa màng thu gặt thỏa thê
Lấy hạt cất rượu tràn trề mùi hương
Men ngà thơm ngát cạnh giường
Chiều tà bạn đến bên vườn cụng ly

Thanh Vân
***
Góp Ý:

Bài kỳ nhất, BS đã hốc hác, bài kỳ này còn hốc hác hơn vì nhiều chữ khó, chữ kép, lại quá xúc tích, không cách nào nói hết ý của tác giả trong bài dịch.

-Bách là ép buộc, bức bách, thúc dục.
-Thâu là cẩu thả, bạc bẽo, trộm cắp. Nhưng Thâu Sinh là cố cầu sống một cách cẩu thả.

Vãn tuế bách thâu sinh, có nghĩa là lúc tuổi già, bắt buộc phải cố cầu sống một cách cẩu thả. Như vậy là sống thế nào? Các bài dịch trong Thi Viện, kể cả Trần Trọng San, cho là “tuổi già cầu sống vội“. BS thì nghĩ là có sao sống vậy, không đòi hỏi, bon chen, sống qua ngày, cầm hơi…

Câu 2: hoàn gia thiểu hoan thú, làm BS hơi ngạc nhiên: về nhà mà ít vui vẻ, sung sướng, thú vị: thời loạn, thoát thân về nhà mà không vui thì hơi lạ.

Hai câu kế: kiều nhi bất ly tất, úy ngã phục khước khứ: con trẻ không rời đầu gối, sợ ta lại ra đi. Hai câu nói rất đúng tâm trạng của đám con..

-Ức Tích là nhớ xưa.
-Truy là đuổi, tìm.
- Lương là sự mát mẻ.
- Nhiễu: đi, chạy vòng quanh.
- chữ chót của câu 7 là Kính chứ không phải Kình, ÔC có cần sửa lại không? Kính là cứng, mạnh mẽ.
- Tiễn, hay Tiên : trong lòng lo lắng, nấu cho cạn, rèn luyện.
- Lự: suy tính, lo âu, sợ hãi.
- Sàng là giường, cái giá để gác đồ vật.
- Chú là rót vào, tập trung vào, phụ thuộc vào.
- Châm: rót cho đầy.
- Châm chước: là đắn đo, suy nghĩ, rót đầy mà không tràn.
- Trì là chậm chạp. Trì mộ là già yếu.

Đây là bản dịch theo thể lục bát:

Thôn Khưong, Kỳ Nhì.

Tuổi già đành sống cầm hơi,
Về nhà mà ít thảnh thơi vui cười,
Con thơ bám chặt lấy người,
Sợ ta lại sắp sửa rời chân đi.
Nhớ xưa dạo mát nhiều khi,
Vòng quanh cây cối xanh rì bờ ao,
Gió đông thổi mạnh ào ào,
Sự đời nghĩ lại, lo âu trăm bề,
Hay tin lúa đã gặt về,
Rượu ngon chín ngấu vừa kê trên giường,
Bây giờ đủ chén quỳnh tương,
Để an ủi nỗi đau thương tuổi già.

Bát Sách.
(Ngày 01/07/2024)

***
…thời loạn, thoát thân về nhà mà không vui thì hơi lạ.
Anh BS,

Câu 2 nói ít (thiểu) vui chớ không phải không vui, một tình cảm phức tạp không trọn vẹn (vui xum hợp gia đình nhưng bất mãn với cuộc sống). Lý do là ở câu 1, dễ hiểu nhầm nếu không biết bối cảnh lịch sử về cuộc sống chính trị của Đỗ Phủ. Ông được Túc Tông ban chức tháng 5 năm 757, tháng sau bị tù tội, rồi được minh oan phục chức. Hai tháng sau, có chiếu chỉ phải rời triều đình ngay. Tháng 8 năm 757, ông về Phu Châu như bị đi đày và viết bài Khương Thôn Tam Thủ.

Anh đã phân tích từ chữ trong câu 1:

Vãn tuế: tuổi già
Bách: ép buộc, bức bách
Thâu: trộm cắp
Sanh: cuộc sống

Tôi tạm dịch nghĩa 2 câu đầu hơi khác với các vị tiền bối:

Ở tuổi già, tôi bị đánh cắp mất cuộc sống,
Nhưng bất lực nên về lại nhà mà lòng vui ít.

Mong anh chị cho thêm ý kiến. pmt
***
Đỗ Phủ 杜甫 Dù Fǔ

Nguyên tác:  Phiên âm:                   Phỏng dịch thơ:

羌村其二      Khương Thôn Kỳ 2    Làng Khương Kỳ 2

晚歲迫偷生 Vãn tuế bách thâu sanh  Tuổi già mất cuộc sống,
還家少歡趣 Hoàn gia thiểu hoan thú Về đến niềm vui không.
嬌兒不離膝 Hiều nhi bất ly tất          Con trẻ bám ôm gối
畏我復卻去 Úy ngã phục khước khứ Sợ ta đi biệt tông.
憶昔好追涼 Ức tích hiếu truy lương Nhớ xưa thích bóng mát,
故繞池邊樹 Cố nhiễu trì biên thụ     Dưới cây dạo quanh ao.
蕭蕭北風勁 Tiêu tiêu bắc phong kính Rào rào gió bắc thổi,
撫事煎百慮 Phủ sự tiên bách lự        Nung nấu trăm lo âu.
賴知禾黍收 Lại tri hòa thử thu          Biết nay lúa đã gặt,
已覺糟床註 Dĩ giác tao sàng chú      Hèm rượu ủ vừa rồi.
如今足斟酌 Như kim túc châm chước Đã có rượu ngon rót,
且用慰遲暮 Thả dụng ủy trì mộ         Tuổi già khuây khỏa thôi.

Bài thơ có mộc bản trong sách:

Bổ Chú Đỗ Thi - Đường - Đỗ Phủ 補注杜詩-唐-杜甫
Cửu Gia Tập Chú Đỗ Thi - Đường - Đỗ Phủ 九家集注杜詩-唐-杜甫
Văn Uyển Anh Hoa - Tống – Lý Phưởng 文苑英華-宋-李昉
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi Lục - Thanh - Từ Trác 御定全唐詩錄-清-徐倬
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Vãn tuế: năm về chiều, tuổi già
Thâu sanh: ăn cắp cuộc sống
Tiêu tiêu: từ tượng thanh, mô tả âm thanh của gió
Phủ sự: .hồi tưởng về quá khứ, nhớ lại chuyện đã qua
Tao sàng: bàn ép hèm; trong công nghệ làm rượu ngày xưa, ép hèm là công đoạn 3 trong 7 công đoạn
Châm chước: rót rượu, nói chuyện uống rượu
Trì mộ: chậm chạp mặt trời sắp lặn, thong thả lúc tuổi già


古法酿酒工艺流程圖 Cổ Pháp Nhưỡng Tửu Công Nghệ Lưu Trình Đồ

Lưu Trình Làm Rượu Công Nghệ Xưa

1. 浸米 tẩm mễ = ngâm nếp
2. 蒸飯 chưng phạn = nấu hèm
3. 壓榨 áp trá = ép hèm
4. 煎酒 tiên tửu = cất rượu
5. 落缸 lạc hang = vào lu ủ hèm
6. 封壇 phong đàn = niêm kín
7. 陳貯 trần trữ = lão hóa (aging)

Lưu ý: Thông thường công đoạn 5: ủ hèm phải trước công đoạn 3: ép hèm

Dịch nghĩa:

Làng Khương Kỳ 2

Ở tuổi già, cuộc sống của tôi như bị cắp mất,
Nhưng bất lực nên về lại nhà mà lòng vui ít.
Đứa con trai ôm đầu gối tôi không bỏ,
Vì lo sợ tôi lại ra đi.
Nhớ lại khi xưa thích nơi mát mẻ,
Nên tôi đi dưới hàng cây bên ao.
Khi gió bắc thổi mạnh ào ào.
Nghĩ đến việc đã qua, trăm nỗi lo âu nung nấu.
May là biết lúa đã gặt rồi,
Và hèm rượu trong giá ép lọc đã nhểu giọt.
Nên hôm nay tôi có đủ rượu uống,
Để khuây khỏa sống yên lúc tuổi già.

羌村其二 - 杜甫 Qiang Village II by Du Fu
Translation by Stephen Owen in The Poetry of Du Fu Book 5

晚歲迫偷生 My late years press hard on a stolen life,
還家少歡趣 Coming home, the pleasures are few.
嬌兒不離膝 My dear son will not let go of my knees,
畏我復卻去 I’ll go away again.
憶昔好追涼 I recall how I used to love finding cool spots,
故繞池邊樹 On purpose I circle the trees by the pool.
蕭蕭北風勁 Whistling, the north wind blows strong,
撫事煎百慮 Considering matters, a hundred cares simmer.
賴知禾黍收 Fortunately I know that the grain has been harvested,
已覺糟床注 I already see pouring water into my mash-press.
如今足斟酌 If now there is enough to pour a drink,
且用慰遲暮 For a while it will comfort my twilight years.

Phí Minh Tâm

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2023

Giang Thôn 江村 - Đỗ Phủ (Thịnh Đường)

  

Lời phi lộ

Giới sĩ phu Trung Quốc thường ca ngợi nét thanh bạch của mình trong cảnh nghèo.
Thế kỷ thứ 19, các sĩ phu Giao Chỉ cũng bắt chước thái độ ấy; cụ Nguyễn Công Trứ đã viết hai câu này: Ngày ba bữa vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cần no; Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.
Đỗ Phủ không bao giờ ca ngợi cảnh nghèo. Giang Thôn là một bài đặc biệt nhất.

Nguyên bản Dịch âm

江村             Giang Thôn

清江一曲抱村流 Thanh giang nhất khúc bão thôn lưu,
長夏江村事事幽 Trường hạ giang thôn sự sự u.
自去自來堂上燕 Tự khứ tự lai đường thượng yến,
相親相近水中鷗 Tương thân tương cận thuỷ trung âu.
老妻畫紙為棋局 Lão thê hoạ chỉ vi kỳ cục,
稚子敲針作釣鉤 Trĩ tử xao trâm tác điếu câu.
多病所須惟藥物 Đa bệnh sở tu duy dược vật,
微軀此外更何求 Vi khu thử ngoại cánh hà cầu.

Dịch nghĩa

Xóm bên sông

Một đoạn sông nước trong, chảy quanh xóm
Mùa hè dài, mọi sự trong xóm đều lặng lẽ
Chim én vẫn bay tới bay lui trên nóc nhà
Chim âu trên sông vẫn gần gũi với người
Vợ già vẽ bàn cờ trên giấy
Con trẻ uốn kim làm lưỡi câu cá
Bệnh nhiều chỉ cần có thuốc
Ngoài thuốc ra, thân còm này chẳng cần gì khác


Bài này được làm năm 760, khi tác giả ở Thành Đô.

Dịch thơ

Xóm Bên Sông

Sông xanh một khúc chảy quanh sâu,
Hè nóng nên thôn lặng lẽ sầu.
Mến nóc tới lui luôn có én
Quen người gần gũi vẫn chim âu
Vợ già vẽ mực bàn cờ giấy
Trẻ nít bẻ kim uốn lưỡi câu
Nhiều bệnh thế nên cần có thuốc
Ngoài ra lão mỗ chẳng hề cầu.

Lời bàn

Bài thơ tả cảnh gia đình họ Đỗ sống trong năm 760, vài năm sau loạn An Lộc Sơn, tại một làng ở ven sông: Có 3 thứ đặc điểm này:

Đặc điểm thứ nhất:
Một gia đình gồm ba thế hệ: một cặp vợ chồng quan hưu trí không có nổi một bàn cờ bằng gỗ để bà vợ già phải vẽ bàn cờ trên giấy; mấy đứa cháu nội (cháu ngoại không ở với ông bà) lấy kim uốn thành lưỡi câu (câu cá kiểu này thì cả tháng cũng không thể kiếm được con nào); vợ chồng đứa con trai (không nói trong thơ nhưng ắt có bởi vì có cháu nội sống trong nhà) quanh năm vắng nhà (vì phải kiếm ăn ở ngoài đồng).

Đặc điểm thứ nhì:
Trong nhà chỉ có những súc vật hoang dã như chim âu, chim én (nhà không có gia súc như chó, mèo, gà vịt… vì không thừa cơm để nuôi chúng).

Đặc điểm thứ ba:
Trong nhà luôn luôn có một thứ mà các nhà khác không có: bệnh. Tất nhiên phải cần có thuốc (thuốc mọc hoang trong rừng chứ tiền đâu mà mua).

Chả thấy ông nói tới chữ nghèo nhưng chả có ai nghèo bằng ông.

Con Cò
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

江村- 杜甫 Giang Thôn - Đỗ Phủ

清江一曲抱村流 Thanh giang nhất khúc bão thôn lưu
長夏江村事事幽 Trường hạ giang thôn sự sự u
自去自來堂上燕1.2 Tự khứ tự lai đường thượng yến
相親相近水中鷗 Tương thân tương cận thủy trung âu
老妻畫紙爲碁局3 Lão thê họa chỉ vi kỳ cục
稚子敲鍼作釣鉤 Trĩ tử xao châm tác điếu câu
多病所須唯藥物4 Đa bệnh sở tu duy dược vật
微軀此外更何求5 Vi khu thử ngoại cánh hà cầu

Dị bản:

1 歸 quy thay vì 來lai
2 梁lương thay vì 堂đường
3 成thành thay vì 爲vi
4 但有故人供祿米đãn hữu cố nhân cung lộc mễ thay vì 多病所須唯藥物 đa bệnh sở tu duy dược vật
5 無vô thay vì 何hà

Mộc bản trong sách của Đỗ Phủ chỉ cho dị bản 1 trong câu 3 và dị bản 3 trong câu 5. Tất cả các dị bản là theo mộc bản trong Ngự Định Toàn Đường Thi của Thanh Thánh Tổ Huyền Diệp

Bổ Chú Đỗ Thi - Đường - Đỗ Phủ 補注杜詩-唐-杜甫
Cửu Gia Tập Chú Đỗ Thi - Đường - Đỗ Phủ 九家集注杜詩-唐-杜甫
Văn Uyển Anh Hoa - Tống – Lý Phưởng 文苑英華-宋-李昉
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương Hồi 瀛奎律髓-元-方回
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Lịch Đại Thi Thoại - Thanh - Ngô Cảnh Húc 歷代詩話-清-吳景旭
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Giang thôn: làng xóm ven sông

Thanh giang: sông nước trong veo, đây nói sông Cẩm, một nhánh của sông Đà, một đoạn ở vùng ngoại ô phía tây của Thành Đô

Khúc: nơi dòng nước chảy quanh co
Bão: ôm, bao quanh.
Trường hạ: mùa hè ngày dài
Đường thượng: trên chánh sảnh
U: yên tĩnh.
Tự khứ tự lai: đi lại tự do
Tương thân tương cận: gần gũi với nhau.
Trĩ tử: con trai nhỏ.
Lộc mễ: bổng lộc của quan lại xưa, ở đây chỉ gạo tiền
Vi khu: cơ thể đê tiện, từ khiêm tốn tác giả tự chỉ mình
Thử ngoại: ngoại trừ những gì đã nói hoặc tình huống

Dịch Nghĩa:

Giang Thôn Xóm Bên Sông

Một khúc sông trong chảy bọc quanh thôn xóm.
Mùa hè ngày dài, mọi sự đều an nhàn ở xóm bên sông.
Chim én tự bay đến rồi tự bay đi dưới mái nhà.
Chim âu thân cận nhau trong nước.
Vợ già lấy giấy vẽ bàn cờ,
Trong khi con trẻ uốn kim làm móc câu.
Nhiều bịnh chỉ nghĩ đến thuốc men
Ngoài cái thứ đó còn cầu xin gì hơn cho thân này?

Dịch Thơ:

Thôn Xóm Trên Sông

Nước trong ôm khúc chảy qua làng,
Mùa hạ ven sông trong cảnh nhàn.
Chim én tự do thường đến viếng,
Hải âu trong nước cũng làm thân.
Vợ già lấy giấy vẽ cờ thế,
Con trẻ uốn kim làm lưỡi cần.
Nhiều bịnh chỉ mong có đủ thuốc,
Cần chi nhiều thứ để nuôi thân.

Phân tích:

Bài thơ được ưa chuộng dịch ra Việt ngữ, Anh ngữ…nhiều. Thoạt nhìn đã thấy bài thơ Đường luật 8 câu 7 chữ, luật bằng, vần bằng, rất nghiêm chỉnh về niêm, vận, tiết tấu, đối xứng và bố cục. Thử xem chi tiết trong phần đối xứng về từ ngữ (thanh và loại) và ý (tương hợp hay tương phản):

Câu 3: Tự khứ tự lai đường thượng yến đối với:
Câu 4: Tương thân tương cận thủy trung âu
Câu 5: Lão thê họa chỉ vi kỳ cục đối với:
Câu 6: Trĩ tử xao châm tác điếu câu

Các bản dịch Anh Ngữ:

Hamlet By The River by Du Fu

A clear stream flows by the hamlet.
It's easy going in the village during the long summer days.
Swallows come and go by themselves at the house.
Gulls play with one another in the water
My old wife draws a game of chess on paper
While my son bends pins to make fishhooks.
Often sick, I thinks only of medicine.
Beyond it, what can a man asks for?

River Village by Du Fu

Clear river flows around to embrace the village
Long summer, everything in the town is quiet and still.
Swallows above the roof beams naturally come and go as they please
Water birds kiss and fondle each other near the river.
Old wife paints us a paper chessboard
Children fashion their own fishing hooks and line.
Yet we have good friends give to us some of their official’s grain allotment
For this small and insignificant life, what more could I ask for?

River Village by Tu Fu
Translated by Stanton Hager 2018

A river curves and flows around our village;
On long summer days, leisure eclipses labor.
From rafters, swallows carelessly come and go;
On the water, gulls sociably flock and flutter.
My old wife draws a chessboard on paper;
My young boys hammer needles into fish-hooks.
For my illnesses, I’m provided the herbs I need.
More than all this, what humbly could I ask?

River village :: tu fu

A clear river winds around the village
all summer long village life is peaceful
swallows in the rafters come and go at will
seagulls on the water visit friends and kin
my wife draws a chessboard on a piece of paper
my children make fishhooks out of sewing needles
thankfully an old friend shares his office rice
what else does this poor body need

The River Village By Tu Fu
Translated By Florence Ayscough And Amy Lowell
Source: https://pickmeuppoetry.org

The river makes a bend and encircles the village with its current.
All the long Summer, the affairs and occupations of the river village are quiet and simple.
The swallows who nest in the beams go and come as they please.
The gulls in the middle of the river enjoy one another, they crowd together and touch one another.
My old wife paints a chess-board on paper.
My little sons hammer needles to make fish-hooks.
I have many illnesses, therefore my only necessities are medicines.
Besides these, what more can so humble a man as I ask?
This poem is in the public domain. Published in Poem-a-Day on August 7, 2021, by the Academy of American Poets.

River Village
The Poetry of Du Fu Volume 1
Translated and edited by Stephen Owen

A bend of the clear river flows on, embracing the village,
through long summer in this river village all that happens is secluded.
They come and go of their own free will, swallows in the hall;
friendly and drawing closer to me, gulls in the water.
My wife marks lines on paper to serve as a chess board;
my young son hammers a needle to make a fishing hook.
If only I had an old friend to provide rice from his salary,
what more beyond that would I seek for myself?

Phí Minh Tâm
***
Xóm Ven Sông

Quanh làng một khúc nước trong bao
Suốt hạ xóm sông việc lắng sâu
Tự đến, tự đi lầu gác én
Cùng thân, cùng cận bến bờ âu
Vợ già vẽ giấy làm cờ tướng
Con trẻ uốn trâm tạo lưỡi câu
Lắm bệnh chỉ mong thang thuốc đủ
Thân suy, ngoài đấy, chẳng thêm cầu!

Lộc Bắc
Jun23
***
Xóm Ven Sông

Quanh làng uốn lượn khúc sông trong,
Suốt hạ buồn hiu nước chẩy vòng.
Đàn én tới lui quen nóc mái,
Bày âu quấn quýt dỡn trên giòng.
Bàn cờ lấy giấy bà tô đậm,
Móc cá dùng kim cháu bẻ cong.
Nhiều bệnh lo sao đầy đủ thuốc,
Ngoài ra mọi thứ chẳng cầu mong.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jun. 17/2023.
***
Góp ý:

Bài Giang Thôn của Đỗ Phủ.

Đây là bài thơ tả cảnh nghèo của Đỗ làm độc giả đọc xong cũng thấy ngậm ngùi: Đỗ ở với gia đình trong một thôn ven sông, cảnh vật u buồn, tịch mịch, đến nỗi chim én tự do bay đi, bay lại, chim âu chẳng sợ người, mà còn thân cận.

Nhà nghèo tới nỗi không có tiền mua bàn cờ, vợ phải vẽ trên giấy, con phải uốn kim làm lưỡi câu. Đỗ thì gầy yếu, bệnh hoạn, chỉ mong đủ tiền mua thuốc, không muốn mơ ước gì thêm, rất an phận thủ thường, vô cùng nhẫn nhục. Đỗ dùng chữ LÃO THÊ thì hơi tội nghiệp cho bà vợ !!

Không thấy ai giải nghĩa chữ, nên BS đành phải làm vậy:

- Bão là vây quanh, bao quanh.
- U là sâu xa, tối tăm, lặng lẽ, thanh nhã, an nhàn.
- Chỉ là giấy.
-Vi kỳ là cờ vây. Vi kỳ cục là bàn cờ, cuộc cờ.
- Trĩ tử là trẻ con.
- Xao là đập, gõ (tăng xao nguyệt hạ môn của Giả Đảo)
- Trâm là cái kim.
- Điếu là câu.
- Câu, viết hơi giống chữ điếu, với bộ kim, là lưỡi câu.
- Vi là nhỏ bé.
- Khu là thân thể.

Làng Ven Sông

Sông trong uốn khúc chảy quanh làng,
Mùa hạ, thôn sông mọi sự nhàn,
Nóc nhà chim én thường qua lại,
Trong nước đàn âu muốn kết thân,
Vợ già vẽ cuộc cờ trên giấy,
Con trẻ gò kim tạo lưỡi cần,
Nhiều bệnh chỉ cầu sao đủ thuốc,
Thân gầy đâu ước chuyện miên man.

Bát Sách.
(ngày 28/06/2023)
***
Thanh Đạm Bên Sông Nước

Khúc sông trong suốt tuôn tràn,
Chảy qua thôn xóm - lớp hàng bọc quanh.
Ngày dài, mưa hạ, nắng hanh,
Làng quê nhàn hạ, trăng thanh êm đềm.
Én bay thoắt vụt qua thềm,
Hiên nhà trú ẩn - canh đêm lặng tờ.
Hải âu xoải cánh bến bờ,
Cả đàn nghịch nước, làm trò kết thân.
Hiền thê lụm cụm tay chân,
Bàn cờ khéo kẻ - tần mần giấy kia...
Trẻ con mót cá lạch rìa,
Lấy kim uốn nắn móc chìa lưỡi câu.
Thân già bệnh tật bấy lâu,
Thuốc men ky cóp - lầu bầu khôn ngơi.
Mọi điều cần thiết có rồi,
Phận hèn nào dám gào trời đòi chi?

Khánh-Hưng
***
Xóm Ven Sông

Sông trong uốn khúc chảy qua thôn
Trời hạ nóng ran vắng vẻ buồn
Én liệng xập xòe trên nóc mái
Âu bay lơ lửng cạnh lầu chuông
Vợ gầy hí hoáy bàn cờ vẽ
Con nhỏ loay hoay uốn lưỡi cong
Lắm bệnh lòng mong đầy đủ thuốc
Đâu màng ngoại cảnh ấm-hàn-ôn

Kiều Mộng Hà
June 20-2023

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

Họa Bùi Địch “Đăng Tân Tân Tự Ký Vương Thị Lang” 和裴迪登新津寺寄王侍郎 - Đỗ Phủ

 

Họa Bùi Địch “Đăng Tân Tân Tự Ký Vương Thị Lang” 和裴迪登新津寺寄王侍郎 
• Hoạ thơ “Lên chùa Tân Tân gửi cho Vương thị lang” của Bùi Địch
Thơ"Trung Quốc" Thịnh Đường "Đỗ Phủ" Phiêu bạc tây nam (760-770)

和裴迪登新津寺寄王侍郎

何限倚山木,
吟詩秋葉黃。
蟬聲集古寺,
鳥影度寒塘。
風物悲遊子,
登臨憶侍郎。
老夫貪佛日,
隨意宿僧房。

Họa Bùi Địch Đăng Tân Tân Tự Ký Vương Thị Lang 

Hà hạn ỷ sơn mộc,
Ngâm thi thu diệp hoàng.
Thiền thanh tập cổ tự,
Điểu ảnh độ hàn đường.
Phong vật bi du tử,
Đăng lâm ức thị lang.
Lão phu tham phật nhật,
Tuỳ ý túc tăng phòng.

Dịch nghĩa


Sao lại phải dựa vào cây trên núi,
Ngâm thơ trong cảnh lá thu vàng.
Tiếng ve tụ lại nơi chùa cổ,
Bóng chim chiếu dưới ao lạnh.
Cảnh vật này làm kẻ lang thang đau lòng,
Tới chùa leo lên coi, nhớ đến Vương thị lang.
Thân già này ham những ngày bên Phật,
Nên tuỳ ý mình ở lại nơi phòng dành cho các nhà sư.
(Năm 760)
[Trích từ trang Thi Viện]
 ***
Họa Bài “Lên Chùa Bến Mới Gởi Vương Thị Lang” của Bùi Địch

Sao dựa cây trên núi
Ngâm nga thu lá vàng?
Chùa xưa ve rộn tiếng
Hồ lạnh bóng chim hoang
Cảnh vật buồn du khách
Lên thăm nhớ thị lang
Già vui ngày tháng Phật
Tự ý nghỉ phòng tăng!

Lộc Bắc
Aug22

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2022

Dã Vọng 野望 - Đỗ Phủ




Nguyên bản                 Dịch âm

野望(清秋望不极) Dã Vọng (Thanh Thu Vọng Bất Cực)

清秋望不极 Thanh thu vọng bất cực
迢遞起層陰 Thiều đệ khởi tằng âm
遠水兼天淨 Viễn thủy kiêm thiên tĩnh
孤城隱霧深 Cô thành ẩn vụ thâm
葉稀風更落 Diệp hi phong cánh lạc
山迥日初沈 Sơn quýnh nhật sơ trầm
獨鶴歸何晚 Độc hạc qui hà vãn?
昏鴉已滿林 Hôn nha dĩ mãn lâm

Đỗ Phủ

Chú giải: Thiều: xa. Đệ: truyền đi. Thiều đệ: xa xôi. Tằng: tầng. Âm: (khác với dương): trời không mưa, không nắng. Tĩnh: yên lặng. Vụ: sương mù. Cánh: lần lượt. Quýnh: rất xa. Vãn: buổi chiều, muộn. Hôn: hoàng hôn. Nha: con quạ.

Dịch thơ

Ngắm Cảnh Hoang Vu (Thu trong nhìn vô tận)

Hơi thu trong suốt nhìn vô tận
Lớp lớp mây xanh vẽ chân trời
Mênh mông trời nước cùng tĩnh lặng
Khuất dạng cô thành sương đầy vơi
Lá cây rời rạc rơi trước gió*
Vừng ô trầm lặn núi xa xôi
Cánh hạc cô đơn về đâu vậy?
Quạ đậu đầy rừng ánh chiều phai

Lời bàn:

Bài ngũ ngôn bát cú này quá xúc tích. Có một số chữ Hán rất khó dùng một chữ Việt tương đương để dịch cho đủ nghĩa. Bài dịch đành thay thế bằng thể thất ngôn bát cú. Hãy lấy câu thứ 5 làm thí dụ: nếu dịch 5 chữ của của nguyên bản thành 5 chữ Việt như lá rỡn gió rụng hết thì vừa không diễn tả được nét tượng hình của lá rơi, vừa không thành thơ. Con Cò bèn phịa ra 3 chữ (r) đứng liền nhau (rời rạc rơi)* rồi kéo dài câu 5 chữ của nguyên bàn thành một câu 7 chữ của mình: Lá cây rời rạc rơi trước gió. Xin Lỗi Đỗ Phủ nhé, tài năng của Cò chỉ có bấy nhiêu, ông nên tìm người giỏi ngũ ngôn hơn để dịch bài này.
Nghĩa đen rất ngoạn mục và hùng vĩ. Nghĩa bóng còn phong phú hơn nữa. Trước mặt là cảnh thu trời nước mênh mông (ý nói thế sự đa đoan vượt khỏi tầm mắt của mình). Sau lưng là thành quách cô đơn che lấp bởi sương mù (ý nói vua bị bọn tham quan che mắt). Qụa (quan tham ô) thì đậu đầy rừng. Một con hạc cô đơn chả biết bay về đâu? (một mình ta đơn độc thì làm được gì được?)
Rất thâm thúy. Rất cảm khái. Rất thi vị.

Con Cò
***
Ống Cò luôn luôn giữ đúng thể thơ của nguyên tác, kỳ này sao lại đổi ý lấy bẩy thay năm Lạc Thủy trái lại ưa thể thơ cô đọng cứ giữ ngũ ngôn bát cú cổ phong của Đỗ Phủ để độc giả có thể phóng túng theo ý mình có lẽ cũng vui vui :

Hoang Vu

Tiếng thu vang vô tận,
Mây xanh tới chân trời ...
Không gian sao tĩnh lặng?
Thành cũ vẻ chơi vơi ...
Lá cây bay trước gió.
Kim ô lặn xa vời.
Hoàng hạc bay đâu vội?
Quạ đầy rừng chiều phơi

LTĐQB
***
Đồng Vọng

Thu trong nhìn mút mắt
Bao lớp rợp màn râm
Nước thẳm pha trời tạnh
Thành cô sương khuất tầm
Lá thưa theo gió rụng
Núi nổi ngày u trầm
Hạc lẻ về sao trễ?
Quạ chiều núi rộn âm!

Lộc Bắc
***
Phỏng Dịch:

Ngắm cảnh đồng quê.
Thu trong nhìn bát ngát,
Thăm thẳm khí mờ đầy.
Nước khắp nơi trời lặng.
Thành côi ngập sương bay,
Lá rơi theo cánh gió,
Nắng tắt núi chân mây.
Hạc lẻ về đâu muộn?
Quạ đêm rừng đậu đầy.

Mỹ Ngọc 
Aug. 13/2022.
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

野望 - 杜甫   Dã Vọng - Đỗ Phủ

清秋望不極 Thanh thu vọng bất cực
迢遞起曾陰 Điều đệ khởi tằng âm
遠水兼天淨 Viễn thủy kiêm thiên tịnh
孤城隱霧深 Cô thành ẩn vụ thâm
葉稀風更落 Diệp hi phong cánh lạc
山迥日初沈 San huýnh nhật sơ trầm
獨鶴歸何晚 Độc hạc quy hà vãn
昏鴉已滿林 Hôn nha dĩ mãn lâm

Ghi Chú:

Điều đệ: xa xôi (điều: xa, đệ: truyền đi)
Bất cực: vô cùng tận
Tằng âm: tầng mây chồng chất lên nhau
Kiêm…. tịnh: cùng yên lặng, tịch mịch
Vụ thâm: sương mù dày đặc.
Quy hà vãn: đi về đâu lúc chiều muộn
Hôn nha: quạ đen vào đêm.

Bài thơ thơ luật ngũ ngôn rất chỉnh về luật, niêm, vận và đối chiếu nên khó dịch xác nghĩa và đúng niêm vận. Xem câu 3 và 4, và câu 5 và 6 đối nhau về thanh, từ và ý.

Viễn thủy kiêm thiên tịnh đối với:
Cô thành ẩn vụ thâm

Diệp hi phong cánh lạc đối với:
San huýnh nhật sơ trầm

Trong 8 câu thơ, 6 câu: 1, 2, 3, 6 ,7 và 8 nói lên sự xa xôi, rộng lớn, vô tận.

Ngắm Nhìn Khoáng Dã

Thu sáng ngắm khôn cùng
Chân trời mây chập chùng
Nước trời cùng tĩnh mịch
Thành cổ khuất trong sương
Lá rời rạc theo gió
Núi mờ trời lửng lưng
Hạc chiều về xóm vắng
Quạ tối đậu đầy rừng.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Qua bài thơ tôi có cảm tưởng nhà thơ nói lên một tâm hồn cô đơn trước một cảnh trời đất hoang vu, còn thật sự vì lời giới thiệu của Bồ Tùng Bảo tôi tìm mãi cũng không thấy yêu tính hay tinh khí ẩn dấu ở chỗ nào cả. Thế mới biết mỗi người cảm thông với tác giả một khác.

Hoàng Xuân Thảo
***
Góp ý :

BS đồng ý với anh Khôi. Đỗ Phủ có thiếu gì bài hay mà ÔC chọn một bài rất khô, BS loay hoay hoài, không dịch nổi, thật ra là không mấy hứng thú. Chỉ có 2 câu chót làm BS thông cảm với nỗi cô đơn, nỗi khổ của Đỗ:

Độc hạc quy hà vãn.
Hôn nha dĩ mãn lâm.

Mấy đứa thấp hèn (hôn nha) sao đầy dẫy, người thanh cao thì cô độc (độc hạc). Mấy ngàn năm trước và bây giờ sao giống nhau!

Bát Sách.
***
Góp ý:

Kẻ đi hoang đã về.

Tại hạ cũng xin tự nhận là kẻ đi hoang đã về - như một lời giải thích cho sự im tiếng những ngày qua, vì mấy tuần nay bận hầu tiếp khách quý từ phương xa nên không muốn phân trí đọc thư và tin tức quanh ba tuần nay.

Theo các ý kiến trên mạng Bách Độ, Đỗ Phủ làm bài thơ này trong thời loạn An Lộc Sơn (năm thứ hai của Đường Túc Tông) và Đỗ Phủ muốn đến Lạc Dương, lúc đó đã bị An Lộc Sơn chiếm; có thể rằng cho dù lúc đó Tràng An đã trở thành kinh đô của nhà Đường, họ Đỗ vẫn nghĩ đến Lạc Dương như là đất thần kinh. Nhìn trong bối cảnh đó, tựa đề 野望= Dã Vọng, và ba câu cuối tả tâm tình nuối tiếc cố đô Lạc Dương giờ chỉ còn vang bóng một thời!

Cũng nhìn trong bối cảnh đó, con hạc cô đơn trong câu 7 không ai khác hơn là nhà thơ họ Đỗ không biết nơi đâu là nhà, không phải vì lạc đàn (cho dù hạc thường thấy nhiều con trong một vùng khi kiếm ăn hay ngủ đêm - và hôm qua là lần đầu tiên tôi thấy hạc (white heron) lội đầm săn mồi trong nước biển phía đông của vịnh San Francisco - chúng không phải là loài chim có đời sống cộng đồng như ngỗng hay quạ), nhưng vì không biết nên đi về đâu trong lúc quân của An Lộc Sơn đang hăm dọa kinh đô Tràng An của nhà Đường. 鸦=nha dĩ nhiên chỉ đoàn quân của ALS và 昏=hôn nói về buổi hoàng hôn của Đường Huyền Tông, được người đời sau biết đến dưới thụy hiệu Đường Minh Hoàng cho dù y chằng minh chút nào! Từ 林=lâm cuối bài thơ có thể là lối họ Đỗ hình dung Lạc Dương, không còn là chốn phồn hoa đô hội mà đã trở thành hoang phế, đang dần bị cây rừng bao phủ.

Huỳnh Kim Giám



Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Thu Hứng (Kỳ Nhất) - Đỗ Phủ (717-770)

Từ hai câu "tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ / cô chu nhất hệ cố viên tâm" trong bài Thu Hứng (Kỳ Nhất) của Đỗ Phủ, cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1859) đã dịch ra là : "khóm cúc tuôn đôi dòng lệ cũ / con thuyền buộc chặt mối tình nhà " , tôi ngồi cặm cụi chuyển dịch thành Thu Cảm để chia sẻ với mọi người thân quí, ít nhiều phong cách biểu lộ cái tình, của ngườI xưa, qua chữ nghĩa. Cầu chúc an lành. 


Thu Hứng (Kỳ Nhất

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu Sơn Vu Giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Hàn y xứ xứ thôi đao xích
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm
Đỗ Phủ (717-770)

Dịch Xuôi: 
Thu Hứng

Rừng cây phong ủ rũ, úa tàn trong sương thu
Núi Vu khe Giáp chìm trong khí núi bốc mờ mịt
Ngoài sông sóng động dâng cao ngất trời
Trên ải gió bay mây phủ tối sát đất
Đã 2 lần khóm cúc nở hoa là từ đã 2 năm khôn ngăn được nước mắt tha hương
Mỗi lần neo chiếc thuyền lẻ loi vào bến đỗ là mỗi lần da diết xót xa nỗi nhớ
Mùa lạnh sắp về ,nơi nơi rộn rịp lo dao kéo, thước đo để may áo rét
Vào buổi chiều ,từ thành Bạch Đế trên núi cao ,dồn dập nghe tiếng chày giặt vải 

Chú Thích:

1- Bài này là bài số 1 trong 8 bài Thu Hứng của Đỗ Phủ. Đại ý nói :trời thu , mùa lạnh sắp đến , tác giả đã 2 năm đất khách , nhớ nhà.
2- Ngọc lộ là sương thu.
3- Núi Vu Sơn thuộc huyện Vu Sơn ,tỉnh Tứ Xuyên.
4- Kẽm (hay Khe) Vu Giáp thuộc huyện Ba Đông ,tỉnh Hồ Bắc.
5- Thành Bạch Đế ở trên núi Bạch Đế thuộc huyện Phụng Tiết , tỉnh Tứ Xuyên.

Thu Cảm

Rừng phong thu úa trĩu sương sa 
Khí núi âm u bóng nhạt nhòa.
Sông lộng trời cao đầu sóng dữ 
Gió vờn mây xám cuối thôn xa.
Hai mùa cúc nở, thương vườn cũ 
Mấy lượt thuyền neo, xót nỗi ta 
Lo lạn , nhà ai may áo rét 
Chày đâu vang động nắng chiều tà

Phạm Khắc Trí

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

Đăng Cao 登高 - Đỗ Phủ



Nguyên bản         Dịch âm

登高                     Đăng Cao

風急天高猿嘯哀 Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
渚清沙白鳥飛回 Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
無邊落木蕭蕭下 Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
不盡長江滾滾來 Bất tận Trường giang cổn cổn lai.
萬里悲秋常作客 Vạn lý bi thu thường tác khách,
百年多病獨登臺 Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
艱難苦恨繁霜鬢 Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
潦倒新停濁酒杯 Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.
                             Đỗ Phủ

Dịch thơ

Lên Cao


Gió lộng trời cao vượn hú sầu
Nước trong cát trắng chim về đâu?
Vô vàn lá úa rào rào rụng
Bất tận Trường Giang cuồn cuộn mau
Vạn dặm thu buồn làm khách mãi
Trăm năm cõng bệnh lết lên cao
Gian nan khổ hận sương pha tóc
Ốm yếu thân già uống được sao!

Con Cò
***
Dịch Thơ: Lên Cao

Trời cao gió lộng vượn ỷ ôi
Cồn trong cát trắng chim bay hồi
Lá rừng trút đổ không ranh giới
Sông dài vô tận cuồn cuộn trôi
Thu buồn gợi nhớ lòng viễn khách
Già bịnh đài cao quyết chẳng thôi
Gian nan khổ hận tóc mai bạc
Vất vả từ đi chén rượu bồi.


A Long Climb By Du Fu Translation by David Lunde

Sharp wind, towering sky, apes howling mournfully;
untouched island, white sand, birds flying in circles.
Infinite forest, bleakly shedding leaf after leaf;
inexhaustible river, rolling on wave after wave.
Through a thousand miles of melancholy autumn, I travel;
carrying a hundred years of sickness, I climb to this terrace.
Hardship and bitter regret have frosted my temples--
and what torments me most? Giving up wine! 

 Phí Minh Tâm
Chú thích: 
Đăng cao: Theo phong tục người Hán ngày xưa, nhân tiết Trùng Dương hayTrùng Cửu vào ngày 9 tháng 9 âm lịch, người ta leo lên chỗ thật cao và chúc tụng nhau. Họ mang theo rượu ướp hoa cúc và đeo cành thù du trên người để được hên. Các Đường thi sĩ tên tuôi đều có làm bài thơ về tục lệ này. Vương Duy với bài Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh Đệ, Lý Bạch với bài Cửu Nguyệt Thập Nhật Tức Sự, Đỗ Mục với bài Cửu Nhật Tề Sơn Đăng Cao…Theo quan điểm dân gian, số 9 là số dương và là đỉnh cao nhất, tốt nhất, trân quý nhất trong một chu kỳ. 
Viên khiếu ai: khỉ kêu vượn hú bên bờ Trường Giang vùng Tam Hiệp 
Chử: cồn cát hay cù lao nhỏ giữa dòng sông 
Lạc mộc: lá cây rụng 
Tiêu tiêu: tiếng lá rụng ào ào (âm thanh) 
Cổn cổn: nước chảy cuồn cuộn (hình ảnh) 
Vạn lý: vạn dặm, hình dung từ chỉ xa nhà xa quê hương 
Thường tác khách: xa quê hương, phiêu bạc trường kỳ 
Bách niên: trăm năm, chỉ thời gian dài 
Gian nan: khó khăn khổ cực vì giặc giã cũng như thân bịnh hoạn 
Phồn sương mấn: tóc mai bạc như sương càng ngày càng nhiều 
Lạo đảo: suy đồi 
Tân đình: vừa mới ngừng 
Trọc tửu: rượu đục, chưa lọc của nhà nghèo 

Bốn câu thơ đầu miêu tả cảnh vật khi lên cao: gió mạnh, trời cao, nghe vượn hú; cồn trong, cát trắng, chim bay quanh; lá thu rơi rào rào không ngưng; nước Trường Giang cuồn cuộn chảy về vô tận. 

Bốn câu cuối nói lên hoàn cảnh và tâm trạng thi nhân: mùa thu bi thương phải xa quê hương vạn dặm; cô đơn lên cao không bạn bè, quanh năm lại bịnh hoạn; tóc mai ngày càng thêm bạc vì gian nan khổ cực; tồi tệ hơn là mới đây phải ngừng rượu dù chỉ là rượu đục (vì bịnh hay vì hết tiền?). 
***
 Bài Đăng Cao của Đỗ Phủ:

Dịch nghĩa:

Gió thổi gấp, trời cao, vượn kêu buồn,
Bến nước trong, cát trắng, chim bay lượn vòng.
Vô vàn lá xào xạc rụng xuống,
Dòng sông dài cuồn cuộn chảy vô tận.
Xa nhà vạn dặm, vẻ thu hiu hắt, mãi vẫn làm khách xứ người,
Cuộc đời lắm bệnh, một mình lên đài cao.
Gian nan, khổ hận, tóc mai dày nhuốm màu sương gió,
Thân già ốm yếu nên mới phải thôi cạn chén rượu đục.

Bài thơ này tác giả làm dịp tiết trùng dương năm Đại Lịch thứ 2 (767) khi ở Quỳ Châu, chỉ trước khi qua đời khoảng 3 năm. Theo phong tục của người thời đó, đến ngày trùng dương thường lên cao uống rượu. Bài thơ thông qua miêu tả cảnh sắc mùa thu lúc lên cao, diễn tả tâm trạng buồn đau lúc già bệnh mà thân phiêu bạt xa quê đã lâu ngày.

Phỏng Dịch thơ:

Lên cao


Gió giật trời cao vượn hú buồn
Bến trong cát trắng lũ chim cuồng
Vô vàn rừng lá ào ào trút
Bất tận sông dài cuộn cuộn tuôn
Vạn dặm thu sầu thân khách trọ
Trăm năm bệnh lắm gót lầu bươn
Gian nan khổ hận đầu sương đẫm
Vất vả thôi dừng chén rượu suông!

Lộc Bắc

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Thanh Minh 清明 - Đỗ Phủ



Nguyên tác           Dịch âm 

清明                     Thanh Minh 

清明時節雨紛紛 Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
路上行人欲斷魂 Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
借問酒家何處有 Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
牧童遙指杏花村 Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn. 
Đỗ Mục 
***
Dịch thơ 

Thanh Minh 

Thanh minh thời tiết lắm mưa phùn
Lữ khách trên đường hận ngập hồn
Hỏi quán rượu ngon đâu có vậy?
Mục đồng xa chỉ Hạnh Hoa Thôn. 

Con Cò 

Lời bàn:
Theo ngôn từ của bài thơ, tiết Thanh minh có mưa phùn lâm râm. Đỗ Mục đi một mình trên đường, quá bực bội vì ướt át nên muốn tìm một quán rượu uống vài ly (bình thường Đỗ Mục không ham rượu). Tìm hoài chả thấy ai; sau cùng, có một mục đồng chỉ cho ông tới thôn Hạnh Hoa. 
Ông chỉ muốn uống rượu cho ấm lòng để đi tiếp chứ không chủ tâm uống rượu để thưởng tiết Thanh minh. Mục đồng cũng vô tư chỉ quán rượu cho lữ khách chứ chả có ý nghĩ gì liên hệ đến Thanh minh.  
***
Bản dịch: 

Mưa bay phơi phới lúc đầu xuân,
Người đi trên lộ thấy thật buồn,
Xin hỏi tửu gia nằm đâu đó,
Mục đồng bèn chỉ hạnh hoa thôn. 

Bát Sách
***
Dịch Nghĩa: 

Tiết Thanh minh 

Tiết Thanh minh mưa rơi lất phất
Người đi trên đưòng buồn tan nát cả tấm lòng
Ướm hỏi nơi nào có quán rượu
Trẻ chăn trâu chỉ xóm Hoa Hạnh ở đằng xa 

Dịch Thơ: 

Thanh Minh 

Thanh minh lất phất mưa từng cơn 
Lữ khách buồn tênh nát cả hồn 
Ướm hỏi nơi đâu có quán rượu 
Mục đồng chỉ đến Hạnh Hoa thôn. 

Phí Minh Tâm
***
Thanh Minh 

Mưa phùn ướt át đầu xuân!
Trên lộ người đi bần thần ...
Quán rượu nơi đâu chỉ giúp?
Mục đồng trỏ Hạnh Hoa Thôn. 

Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái

Mưa bay lất phất tiết Thanh minh 
Lữ khách sầu dâng bỗng nẩy tình 
Quán rượu hỏi thăm con trẻ chỉ 
Hạnh Hoa thôn vắng đón lưu linh 

Thanh Vân
***
Thanh minh mưa nhẹ cơn 
Lữ khách nẫu tan hồn 
Quán nhậu nơi đâu nhỉ? 
Trẻ trâu chỉ Hạnh thôn. 

Lộc Bắc
***
Từ thời Lý, có thể nhân dân ta đã tiếp nhận tết Hàn thực, nhưng ý nghĩa của ngày tết này đã biến đổi và mang đậm màu sắc truyền thống, phù hợp với tâm lý cũng như cuộc sống thường nhật của người dân nước Việt. Vào ngày tết Hàn thực, người Việt không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn được thực hiện, chỉ có điều người Việt dùng bánh trôi - bánh chay. 

Đối với người dân Việt, Tiết Thanh minh là dịp để con cháu hướng về tổ tiên, cội nguồn. Dù ai đi đâu, ở đâu đến ngày 3/3 âm lịch hằng năm cũng cố gắng về với gia đình để tảo mộ, sum họp bên mâm cơm gia đình. Những ngôi mộ được người nhà dọn dẹp sạch sẽ, vun đắp thêm đất mới, đó là những tâm đức của người đang sống đối với người đã khuất.[trên nét] 

Nguyễn Trãi có một bài về lễ Thanh minh của người xa xứ, cũng như chúng ta. Nhưng hỡi ơi, ngày nay mấy ai còn mồ mả tổ tiên để đi Tết Thanh minh! 

Thanh Minh 

Nhất tòng luân lạc tha hương khứ, 
Khuất chỉ thanh minh kỷ độ qua. 
Thiên lý phần doanh vi bái tảo, 
Thập niên thân cựu tẫn tiêu ma. 
Sạ tình thiên khí mô lăng vũ, 
Quá bán xuân quang tê cú hoa. 
Liêu bả nhất bôi hoàn tự cuỡng, 
Mạc giao nhật nhật khổ tư gia. 

Nguyễn Trãi
***
Dịch nghĩa: 

Thơ Làm Khi Chưa Thành Công 

Từ khi lưu lạc quê người đến nay, 
Bấm đốt ngón tay tính ra tiết thanh minh đã mấy lần rồi. 
Xa nhà nghìn dặm không săn sóc phần mộ tổ tiên được, 
Mười năm qua bà con thân thích đã tiêu tán hết. 
Tạnh cơn mưa mây (phùn), trời chợt sáng, 
Hoa đồ mi (tên một loài hoa) đã quá nửa chừng xuân. 
Hãy cầm lấy chén rượu mà gượng uống, 
Ðừng để ngày ngày phải khổ vì nỗi nhớ nhà. 

Phỏng dịch thơ: 

Thanh Minh

Từ khi luân lạc nơi quê lạ 
Bấm đốt Thanh minh mấy bận qua 
Vạn dặm mả mồ không dọn cúng 
Mười năm thân thích thảy tiêu ma 
Mưa phùn chợt dứt, đương vào tiết 
Quá nửa chừng xuân, bớt thắm hoa 
Chén rượu thôi đành nâng uống gượng 
Nhớ nhà đừng bận, khổ thân ta! 

Lộc Bắc

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2020

Tặng Vệ Bát Xử Sĩ 贈衛八處士 - Đỗ Phủ



Nguyên bản   Dịch âm

贈衛八處士   Tặng Vệ Bát Xử Sĩ
人生不相見   Nhân sinh bất tương kiến,
動如參與商   Ðộng như Sâm dữ Thương
今夕復何夕   Kim tịch phục hà tịch,
共此燈燭光   Cộng thử đăng chúc quang.
少壯能幾時  Thiếu tráng năng kỷ thì,
鬢髮各已蒼   Mấn phát các dĩ thương.
訪舊半為鬼   Phỏng cựu bán vi quỷ,
驚呼熱中腸   Kinh hô nhiệt trung trường.
焉知二十載   Yên tri nhị thập tải,
重上君子堂   Trùng thướng quân tử đường.
昔別君未婚   Tích biệt quân vị hôn,
兒女忽成行   Nhi nữ hốt thành hàng.
怡然敬父執   Di nhiên kính phụ chấp,
問我來何方   Vấn ngã lai hà phương.
問答乃未已   Vấn đáp nãi vị dĩ,
驅兒羅酒漿   Khu nhi la tửu tương.
夜雨剪春韭   Dạ vũ tiễn xuân cửu,
新炊間黃粱   Tân xuy gián hoàng lương
主稱會面難   Chủ xưng hội diện nan,
一舉累十觴   Nhất cử luỹ thập trường.
十觴亦不醉   Thập trường diệc bất tuý,
感子故意長   Cảm tử cố ý trường.
明日隔山岳   Minh nhật cách sơn nhạc,
世事兩茫茫   Thế sự lưỡng mang mang.
                       Đỗ Phủ

Chú giải:
(Năm 759) Vệ Bát xử sĩ tức Vệ Tân. P cùng Lý Bạch, Cao Thích, Vệ Tân kết bạn. Vệ Tân là người con thứ tám trong gia đình, ở ẩn không ra làm quan. Vệ Tân trẻ tuổi hơn cả thường được gọi là tiểu hữu. Xử sĩ tức là ẩn sĩ. Xử sĩ: ẩn sĩ (xử trái với xuất). Động: hoạt động. Sâm, Thương: 2 sao trong 28 vì sao vận chuyển không bao giờ gặp nhau. Đăng chúc quang: ánh đèn. Năng: khả năng. Các: mỗi một. Thương: tóc hoa râm. Phỏng: tự mình hỏi thăm, dò xét. Yên: há, trợ từ. Tái: năm(nhà Đường gọi năm là tái, nhà Chu: niên. Thương:tự. Hạ:tuế). Thướng: đến. Nhi nữ: con cái. Hốt: hốt nhiên. Di: vui vẻ. Nhiên: trợ từ: ấy, như vậy, nhưng. Phụ chấp: bậc ngang hàng cha. Nãi: trợ từ, hóa ra, mới, mới nên. Dĩ: thôi, xong. Khu: sai. La: bày dàn ra. Tương: các thứ nước uống. Tiễn: cái kéo, cắt, hái. Cữu: rau hẹ. Xuy: thổi nấu. Gián: xen lẫn. Hoàng lương: kê vàng. Lũy: thêm lên. Trường: chén uống rượu. Diệc: cũng. Tử: tiếng xưng hô tôn qúi. Cố: việc cũ. Ý: ý tình. Sơn nhạc: núi non (ngọn cao nhất trong 1 rặng núi gọi là nhạc). Lưỡng: hai. Mang mang: xa xôi, man mác.

Dịch thơ
Tặng Ẩn Sĩ Vệ Tân

Đời người khó gặp lại
Như Sâm Thương vần xoay
Đêm nay đêm gì vậy?
Chia nhau ánh đèn này
Tuổi xuân không được mấy
Mỗi người tóc đã phai
Bạn xưa tiêu vừa nửa
Ôi kinh động lòng này
Hai chục năm rồi đấy
Ta lại gặp nhau đây
Chia tay anh chưa cưới
Nay trai gái đông đầy
Kính chào ta rồi hỏi:
“Bác từ đâu tới đây?”
Lời hàn huyên chưa dứt
Tiệc rượu sai con bày
Dưới mưa xuân hái hẹ
Nếp mới kê hây hây
Anh nói lâu không gặp
Phải cạn mười bình này
Cảm kích tình khăng khít
Mười bình cũng chưa say
Mai núi sông xa cách
Đôi nẻo đời buồn thay!


Con Cò


Lời bàn:
Chả có gì cho Cò bàn thêm. Chỉ có 3 món (rượu nhạt, kê đầu mùa và hẹ) thì lấy gì mà bàn với luận! Hẹ lại là món đặc biệt nhất; theo lời thơ, dường như nó còn non và mọc hoang ngoài vườn (chả nhẽ đãi bạn 20 năm gặp lại mà chỉ có kê cho nên Vệ Bát Xử Sĩ phải bắt con đội mưa xuân mà hái). Một con cá khô cũng không thấy. Một miếng thịt thiu cũng vắng tanh. Món đáng gía nhất trong mâm cơm là lòng thành.

***
Tặng Vệ Bát Xử Sĩ

Đời người khó gặp gỡ
Tựa hai sao Sâm, Thương
Đêm nay như đêm trước
Một ngọn đèn soi chung.
Tuổi trẻ có bao lăm
Tóc tai đã pha sương
Bạn cũ mất quá nửa
Lòng lửa đốt bàng hoàng.
Hai thập niên nào biết
Lại tới nhà bạn thân
Tiễn biệt chưa gia thất
Nay trai gái đầy hàng
Kính cẩn hỏi rằng bác
Từ đâu tới ghé thăm
Hỏi đáp còn chưa dứt
Rượu nước đã bày bàn
Đêm mưa xuân hái hẹ
Cơm nóng trộn kê vàng
Chủ: gặp nhau khó khăn
Phải mười chén cùng nâng
Mười chén chưa say được
Nhưng lòng rất cảm thông
Mai núi đồi cách trở
Hai nẻo đời mênh mang...


*Bài thơ dịch giữ nguyên thể, độc vận và vần bằng trắc.

Hoàng Xuân Thảo

***
Tặng Vệ Bát Xử Sĩ

Đời người gặp nhau khó
Chuyển như sao Sâm, Thương
Đêm nay như đêm đó
Cùng ánh nến soi chung

Trai tráng được bao lâu
Tóc tai đã điểm sương
Khoảng nửa đà hui hỉ
Kinh hãi sôi trong lòng

Hai mươi năm nào biết
Thăm nhà bạn cố hương
Ngày đó bạn đơn thân
Giờ con cái một hàng

Bạn cha, mời kính cẩn
Hỏi ta chốn tha hương
Hỏi đáp chưa thỏa chí
Sai con bày rượu suông

Đêm mưa hái rau hẹ
Cơm mới kê vàng ươm
Chủ nói khó gặp nhau
Lần uống chục ly thường

Mười ly nào đã xỉn
Chỉ say tình bạn thương
Ngày mai đỉnh núi cách
Thế sự buồn vương vương!

Lộc Bắc