Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Đướng Hạc Bay(Trang Tử & J. Krishnamurti) - PAD Biên Soạn

 

(Trang Tử & J. Krishnamurti)
Phần 2: Tiêu Dao

1.Tiêu Dao Du

Chương đầu tiên mang tên Tiêu Dao Du, có nghĩa là rong chơi là một trong các chương nổi tiếng và rất quan trọng của Trang Tử. Chương này gồm vài ngụ ngôn, trong đó Trang Tử mô tả hai con vật có kích thước hết sức tương phản nhau, sinh hoạt theo cách riêng của chúng. Các ngụ ngôn của Trang Tử hoàn toàn do trí tưởng tượng phong phú và kỳ dị của ông đan dệt nên. Chúng tôi xin tóm lại phần cốt truyện nhằm lược bớt các danh từ riêng cổ xưa, hoàn toàn không ảnh hưởng lớn đến ý chính trong chuyện, chủ yếu sẽ trích đoạn những suy tưởng của Trang. Về hình thức, Hán ngữ dạng phồn thể được xếp song song với Hán Việt, sau đó sẽ được dịch nghĩa bên dưới. Xin chú ý chỉ có những đoạn in nghiêng mới là đoạn trích dịch, hoặc của Trang Tử, hoặc từ các bài nói chuyện của Krishnamurti, phần còn lại là ý riêng của người viết. Sở dĩ chúng tôi cho in Hán tự mà không ngại làm rối mắt độc giả vì nghĩ rằng đây là một tư liệu quí, cũng nên lưu trữ để tham khảo, và được in với kích thước chữ nhỏ ít choán không gian, quí độc giả có thể đọc lướt nhanh các đoạn chữ Hán khi cần đối chiếu với bản dịch. Hơn nữa, trích dẫn nguyên văn như vậy cũng nhằm bảo đảm được tính trung thực của bài dịch, vì bất cứ bài dịch nào cũng không được quyền phỏng dịch tùy tiện. Chương này cũng như các chương khác trong sách, người viết vẫn chọn dịch theo sự cảm nhận của mình về văn phong và suy tưởng của Trang Tử, theo cách hiểu riêng của mình, dù có sai khác đôi chút về ngữ nghĩa, sau khi tham khảo kỹ lưỡng các bản dịch trong nước và các bản dịch Anh ngữ của Yutang Lin, Martin Palmer, Burton Watson, Stephen R. McIntyre, James Legge, Thomas Merton, Victor H. Mair.

Chuyện chim Bằng và chim Cưu

Trong ngụ ngôn đầu tiên ông kể chuyện những con chim, và chuyện này nổi tiếng đến nỗi có người xem tác phẩm của Trang Tử là tiếng hót của loài chim bất tử. Có một con cá to lớn không biết đến mức nào mà kể, nó biến thành con chim khổng lồ xoải cánh che kín cả bầu trời. Đến khi thời tiết biến động, nó cuộn theo gió cất lên trời cao xanh vút, giũ cánh khiến biển động xôn xao, bụi nước tung mù như bầy ngựa chạy rong chốn hoang dã, bay một mạch sáu tháng từ nơi xa tít tận phương Bắc đến nơi mù mịt phương Nam. Trang ngẫm nghĩ :
Thiên chi thương thương, kỳ chính sắc da ? Kỳ viễn nhi vô sở chí cực da ? Kỳ thị hạ dã, diệc nhược thị tắc dĩ hĩ. Thả phù thủy chi tích dã bất hậu, tắc kỳ phụ đại chu dã vô lực. Phúc bôi thủy ư ao đường chi thượng, tắc giới vi chi chu; trí bôi yên tắc giao, thủy thiển nhi chu đại dã. Phong chi tích dã bất hậu, tắc kỳ phụ đại dực dã vô lực. Cố cửu vạn lý, tắc phong tư tại hạ hĩ, nhi hậu nãi kim bồi phong; bối phụ thanh thiên nhi mạc chi yếu át giả, nhi hậu nãi kim tương đồ Nam.

Dịch nghĩa:

Màu trời xanh ngắt, có đúng màu trời là như vậy không? Hay vì xa thăm thẳm vô tận nên thấy như thế ? Nếu từ trên đó nhìn xuống thì hẳn cũng thấy một màu xanh như vậy. Nếu như nước không đủ nhiều thì không chứa được thuyền lớn. Đổ chén nước vào lỗ trũng trên sàn nhà thì cũng đủ cho hạt cải làm thuyền bơi, nhưng đặt chén vào đó thì mắc cạn do nước nông mà thuyền lớn. Gió gom không đủ nhiều thì không đủ lực nâng cánh chim to. Vì thế chim bằng phải cất lên chín vạn dặm để có gió nhiều dưới cánh rồi mới có thể cưỡi gió cõng trời bay thẳng về Nam mà chẳng gì ngăn cản nổi.
Chim Bằng là như thế. Còn con ve và chim cưu bé xíu thì sao? Chúng bay lên cây thấp lè tè mà đôi khi còn rơi xuống huống hồ tính chuyện vạn dặm. Nhưng các con vật bé nhỏ ấy chẳng màng đến chuyến bay của chim Bằng. Như người đi xa tùy theo quãng đường mà chuẩn bị lương thực cho phù hợp, chim Bằng to lớn cần nhiều gió chứ chim cưu bé xíu để ý đến chuyện đó làm gì? Từ trên cao chim Bằng cũng thấy chim cưu bay trong một màu xanh thăm thẳm chẳng khác gì nó, như vậy xem ra thế giới của chim cưu cũng thật đáng ngưỡng mộ. Hơn nữa, để bay được, chim Bằng cần gió lớn, vậy khi trời không nổi gió thì nó lấy gì mà bay? Chim Bằng chế nhạo chim cưu bay thấp mà còn rớt lên rớt xuống ư? Hay chim cưu cười chê chim Bằng đập gió phí công? Vì lẽ đó sự tự tại của hai loài chim khác biệt này là như nhau

Tiểu trí bất cập đại trí, tiểu niên bất cập đại niên. Hề dĩ tri kỳ nhiên dã ? Triêu khuẩn bất tri hối sóc, huệ cô bất tri xuân thu, thử tiểu niên dã. Sở chi nam hữu Minh Linh giả, dĩ ngũ bách tuế vi xuân, ngũ bách tuế vi thu; thượng cổ hữu đại xuân giả, dĩ bát thiên tuế vi xuân, bát thiên tuế vi thu, thử đại niên giả. Nhi Bành Tổ nãi kim dĩ cử đặc văn, chúng nhân thất chi, bất diệc bi hồ !
Dịch nghĩa :
Trí nhỏ khác với trí lớn, tuổi thọ ngắn khác với tuổi thọ dài. Vì sao biết được vậy? Phù du chẳng sống qua ngày, ve sầu chẳng biết trọn năm, ấy gọi là tuổi thọ ngắn. Phía Nam nước Sở có con rùa Minh Linh mùa xuân của nó dài năm trăm năm, mùa thu dài năm trăm năm; thời thượng cổ có cây Đại Xuân mùa xuân dài tám ngàn năm, mùa thu dài tám ngàn năm, ấy gọi là tuổi thọ dài. Mới thọ như Bành Tổ mà đã nổi tiếng sống lâu, nay ai ai cũng muốn được vậy, chẳng là đáng buồn sao!

Trí nhỏ không phải thua kém trí lớn, mà thọ ngắn cũng không đáng buồn hơn sống lâu, chỉ vì ve sầu và rùa thiêng không thể đem bản tính tự nhiên của chúng sánh ngang với nhau được. Mọi sinh vật trong đất trời đều có hạn định riêng của nó. Con phù du vui đùa tìm bạn trong cuộc đời ngắn ngủi của nó, cần gì phải ước ao mình như cây cổ thụ, và nếu nó sống lâu như cây cổ thụ thì nó không còn là phù du nữa, lúc đó nó sẽ ước ao mình là thứ gì nữa đây? Chuyện đáng buồn không phải là mình đang như thế nào; là như thế này mà khao khát được giống như thế kia, Trang Tử mới xem đó là chuyện đáng buồn. Rùa Minh Linh sống thọ như thế, nhưng chẳng thể nào so sánh với cây Đại Xuân, và liệu rằng thọ như cây cổ thụ ấy có phải là điều nên mừng không? Con người đem tuổi thọ của ông Bành Tổ làm tiêu chuẩn để vươn tới, không biết rằng Bành Tổ sống đến bảy tám trăm tuổi chỉ như thoáng chốc.

Mỗi sinh vật tiêu dao du trong cõi riêng của nó, vì thế dù người có tài trí, đức hạnh, uy tín đến đâu, đủ khả năng đảm nhiệm nhiều vị thế cao thấp khác nhau trong xã hội như thế nào thì rốt cuộc cũng giống như con chim bé xíu kiêu hãnh trong cái không gian nhỏ hẹp của mình, không bằng Tống Vinh hay Liệt Tử. Ở đây chúng ta cần lưu ý là những nhân vật nêu tên trong sách Trang Tử, dù tên nhân vật có thực trong lịch sử, như Liệt Tử, Lão Đam, Khổng Tử, Nhan Hồi, Tống Vinh, các vị vua… thì hành động và lời nói của họ đều do Trang Tử hư cấu. Vì thế không nên xem sách Trang như một cứ liệu để tìm hiểu các nhân vật có thực đó. Pha trộn các nhân vật có thực và nhân vật hư cấu trong ngụ ngôn đầy tính lãng mạn của mình là một thủ thuật tuyệt vời của Trang để nêu bật ý tưởng muốn nói.

Trang Tử nói rằng người như Tống Vinh biết người biết ta, hiểu được cảnh vinh nhục, được khen không vui mà bị chê không buồn đã là hiếm có trong xã hội rồi, nhưng vẫn chưa có gì hay. Liệt Tử thì biết cưỡi gió mà đi ngao du, tuy thân tâm khinh khoái nhưng, như con chim Bằng, còn phải đợi gió để đi, cũng chưa phải có cuộc sống tự tại. Trang kết luận:
Nhược phù thừa thiên địa chi chính, nhi ngự lục khí chi biện, dĩ du vô cùng giả, bỉ thả ô hồ đãi tai! Cố viết: Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh.

Dịch nghĩa:

Nếu như nương theo cái lẽ đất trời mà đi trong sự biến ảo tự nhiên thì đến được cõi vô cùng, người như thế còn phải đợi gì nữa! Cho nên nói: Chí nhân không biết có mình, thần nhân không biết có công, thánh nhân không biết có danh.

Duy chỉ có người thuận theo cái lẽ trời đất mà sống trong sự chuyển hóa của tự nhiên là có thể lãng du nơi không có chỗ tận cùng của tâm thức. Người như thế Trang gọi là chí nhân, thần nhân, thánh nhân, gọi như thế nào cũng chỉ nhắm vào một người, đó là kẻ lãng tử thong dong chẳng cần phải đợi gió nổi lên, chẳng ràng buộc vào điều kiện phụ thuộc nào. Bậc chí nhân đó không đem cái tôi của mình ra để phân định trong ngoài, lớn nhỏ, cao thấp, lâu mau; tự nhiên hành xử mà chẳng biết mình dụng công trong từng hành động, cũng chẳng để dấu vết của mình trong những chặng đường lãng du. Nói là không biết, nhưng thực ra là không cảm thấy, ý thức tuyệt nhiên không có cái tôi hiện diện trong từng hành động, dù mình đang ở vị thế chim Bằng hay chim cưu. Bậc chí nhân của Trang Tử có thể gọi là thần hay thánh, nhưng hẳn nhiên chẳng phải là thần mà cũng chẳng phải là thánh, họ là người thấy được qui luật tự nhiên của trời đất, thong dong tự tại bốn mùa mà không cần cưỡi gió lướt mây như Liệt Tử, không thụ động vô hồn như Tống Vinh.

Krishnamurti không có những chuyện ngụ ngôn đầy ấn tượng như thế, ông chỉ lặng lẽ nhìn vũ trụ trong tầm nhìn của một con người bình thường, bắt nhịp với cái bao la vô tận trên bầu trời xanh, với ánh sáng đến từ sự tĩnh lặng vĩnh cửu cùng với sự sinh động của muôn loài trên mặt đất. Trong cuốn Notebook, Krishnamurti ghi lại:

“ Buổi sáng hôm ấy thật đẹp, đầy ánh mặt trời cùng những khoảng râm; khu vườn kế bên khách sạn đầy màu sắc, và màu sắc của chúng thật rực rỡ, cỏ xanh rì đến nỗi làm đôi mắt và cõi lòng mình quặn đau. Những ngọn núi xa xa lấp lánh vẻ tươi tắn và trong trẻo như được gội sạch bởi những hạt sương sớm mai. Đó thực sự là một buổi sáng làm đắm đuối hồn người, vẻ đẹp vây phủ mọi nơi, bên kia chiếc cầu hẹp bắc ngang dòng suối là con đường nhỏ dẫn đến rừng cây, nơi ánh mặt trời nô đùa cùng những chiếc lá; lá run rẩy, bóng lá lay động; chúng chỉ là loài thực vật tầm thường nhưng vẻ xanh rì và tươi thắm của chúng vượt trội hơn cả mọi thân cây cao vút tận bầu trời xanh. Người ta bàng hoàng ngây ngất trước sự gia cường trong vẻ đẹp và nhịp sống run rẩy của thiên nhiên; người ta không thể cưỡng lại nỗi sững sốt trước vẻ cao quí tĩnh lặng của mỗi loài cây cỏ, trước cuộc vui không ngừng nghỉ của những chú sóc đen có chiếc đuôi xù. Dòng suối trong trẻo lấp lánh ánh mặt trời xuyên qua kẽ lá trong khu rừng ẩm ướt và xinh tươi này” (tr. 67).

Vẻ đẹp muôn loài là một sự hài hòa hoàn hảo kỳ lạ (1) trong mọi mức độ, từ đôi cánh chim Bằng cho đến bước nhảy của loài chim cưu đã khiến con người đôi khi sững sốt, bàng hoàng và ngây ngất. Vươn đến sự hoàn hảo này bằng cách hướng về phía nọ hay phía kia đều là một sự lỗi nhịp trong cuộc hòa điệu tự nhiên.

Thật kỳ lạ, tại sao chúng ta luôn luôn muốn được hoàn hảo trong thứ này hay thứ kia? Chẳng qua vì lòng mong muốn này cho chúng ta sức bật để thành đạt, và cảm khoái thành đạt dĩ nhiên là đến từ lòng kiêu căng. Lòng kiêu hãnh trong mọi hình thức đều có tính tàn bạo và dẫn đến hủy diệt. Lòng khao khát được hoàn hảo bên trong hay bên ngoài mình đều chối bỏ tình yêu, và nếu như không có tình yêu, dù có làm bất cứ điều gì đi nữa người ta vẫn luôn luôn cảm thấy thất vọng và đau buồn…Hiện hữu đang có tuyệt nhiên mang nhiều ý nghĩa hơn sự vươn tới hiện hữu khác. Hiện hữu không phải là cái đối nghịch với sự vươn tới hiện hữu; nếu hiện hữu là cái đối nghịch hay đối lập thì nó không còn là hiện hữu nữa. Khi sự vươn tới vắng bặt hoàn toàn, lúc đó sẽ có hiện hữu. Nhưng sự hiện hữu này không bất động; đó không phải chỉ là sự chấp nhận hay phủ nhận thực tại; trong khi sự vươn tới lại hàm ẩn thời gian và không gian (2). 
Chỉ khi mọi phấn đấu chấm dứt thì mới có hiện hữu. Hiện hữu không phải là hiện hữu trong phạm vi đạo đức xã hội, nó làm rúng động mọi công thức xã hội áp đặt lên đời sống. Sư hiện hữu đang có là cuộc sống chứ không phải khuôn mẫu là cuộc sống. Ở đâu có cuộc sống thì ở đó không có sự hoàn hảo; hoàn hảo là một ý niệm, một ngôn từ; cuộc sống hay hiện hữu vượt ngoài bất kỳ công thức tư tưởng nào. Nó hiện diện ở đó khi mà ngôn từ, gương điển hình, và khuôn mẫu bị tiêu hủy (tr. 71 - 72) (3).

Cuộc sống dù của chim Bằng hay chim cưu không những không thể là khuôn mẫu cho người bàng quan noi theo, mà cuộc sống của chúng cũng không thể hoán đổi cho nhau. Chỉ có sự hiện hữu của từng loài mới có giá trị cho chính nó.

MỘC NHIÊN
--------------
Lời bình(1), (2), (3):

Bậc chí nhân, đại trí là những người sống thuận theo sự chuyển hóa tự nhiên của trời đất. Các vị đã thấy ra sự khác biệt của muôn loài chính là vẻ đẹp kỳ lạ, là sự hài hòa hoàn hảo trong mọi mức độ. 

Đối với chúng ta, do thấy mọi hiện tượng của nội tâm lẫn ngoại giới đều mang tính bất tương xứng nên cố gắng vươn đến sự hoàn hảo bằng mọi phương cách, nhưng tất cả mọi vươn đến đều lỗi nhịp trong cuộc hòa điệu tự nhiên vì đó là sự tạo tác muốn trở thành của lòng tư dục phát xuất từ cái tôi. 

Khi con người hoàn toàn thoát ra khỏi sự qui định của tâm trí trong những khoảnh khắc tỉnh thức, khi mọi phấn đấu, khao khát muốn được hiện hữu từ bên trong lẫn bên ngoài mang tính thời gian chấm dứt, bấy giờ mới có hiện hữu. 

Hiện hữu không phải là sự có mặt của hiện thể trên cõi đời này, cũng không phải tùy thuận theo bất kỳ công thức tư tưởng nào. Nó hiện diện ở đó khi ngôn từ, gương điển hình, và khuôn mẫu bị tiêu hủy.

Hiện hữu hiển lộ khi có sự quan hệ chân thật, trong sáng với thiên nhiên, sự vật, con người và tư tưởng. Sự quan hệ chân thật này không y cứ theo bất kỳ một khuôn mẫu cao đẹp, thánh thiện nào.

Hiện hữu không phải là một khái niệm qua tư duy, suy luận, rập khuôn hay bắt chước. Là cuộc sống, luôn sinh động nên bản chất của hiện hữu, tự nó, đã hoàn hảo trong từng khoảnh khắc.

PAD Biên Soạn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét