Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

Thiếp Ý Quân Tâm Thùy Đoản Trường (Nguyên Tác Hán Việt: Đặng Trần Côn)

(1) Thiếp Ý Quân Tâm Thùy Đoản Trường
(Nguyên Tác Hán Việt: Đặng Trần Côn)

Lang khứ trình hề mông vũ ngoại
Thiếp qui xứ hề tạc dạ phòng
Qui khứ lưỡng hồi cố
Vân thanh dữ sơn thương
Lang cố thiếp hề Hàm Dương
Tiêu Tương yên cách Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương Giang
Tương cố bất tương kiến
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang mạch thượng tang
Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường

Đặng Trần Côn
***
Lòng Chăng Ý Thiếp Ai Sầu Hơn Ai
(Diễn Nôm: Đoàn Thi Điểm)

Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp lại về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông thôi đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp dõi trông sang
Khóí Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngát một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai

 Đoàn Thi Điểm
***
Lòng Chàng Ý Thiếp Ai Sầu Hơn Ai
(Mây Tần - PKT)

Chàng ra ngoài biên ải
Thiếp trở gót phòng the
Mây biếc đưa chàng đến
Núi thẳm tiễn thiếp về
Hàm Dương còn ngoảnh lại
Tiêu Tương vẫn ngóng chờ
Cây Hàm Dương ủ rũ
Khói Tiêu Tương bơ thờ
Dõi tìm nhau không thấy
Chỉ thấy dâu ngàn xanh
Dâu ngàn xanh lớp lớp
Nỡ xa nhau sao đành

Phạm Khắc Trí

Xuân Mong Đợi

 

Đây sắp sửa mùa xuân về khắp lối
Cành cây khô tuyết lạnh suốt đông qua
Gió sương lay chợt tỉnh choàng hơi ấm
Anh nghe lòng lặng lẽ khúc hoan ca

Đây sắp sửa mùa xuân về khắp lối
Bước chân xưa em thức vội niềm tin
Có nước mắt ru với niềm ưu ái
Trên nụ môi em chưa hết hồng phai

Tóc em xoả trên đồi xưa bạt gió
Còn bâng khuâng qua dâu bể mây ngàn
Tay em hơi thở ôm vòng xuân mới
Trong anh về tình tự những miên man

Đây sắp sửa mùa xuân về chốn cũ
Hồn men say mở cửa đón giao thừa
Có những âm hao vui mùa hạnh ngộ
Trầm hương em mang đến tự nơi xa

Đây sắp sửa mùa xuân về đôi mắt
Đọng mãi hương khuya của tuổi xuân thì
Những con đường xưa miệt mài hơi thở
Sàigon ơi, ta sống mãi niềm mơ

Xuân ấy trăng rơi bên thềm khuya cũ
Bản tình ca lưu luyến tự thuở nào
Còn trăm năm hoàng mai vàng trước ngõ
Cúc nở ngàn hương thắp vạn ánh sao

Anh còn ở giữa đời say giấc mộng
Mùa xuân xưa lệ ướt vẫn tràn mi
Tay em bên cạnh lụa chùng khăn áo
Chợt pháo khai xuân ngập nẻo phố vào.

Lê Mỹ Hoàn


Chẳng Còn Thơ Mộng

 

Nếu chẳng còn em chẳng còn thơ
Hết hoa hết bướm hết mộng mơ
Anh như tan rã như khô héo
Trả lại đường xưa dấu bụi mờ

Anh sẽ lang thang đến kiếp nào
Tìm em tìm lại thuở chiêm bao
Lần đầu gặp gỡ như sương khói
Tà áo thẹn thùng chân bước mau

Trở lại trường xưa hai đứa mình
Nắng chiều thương nhớ nắng bình minh
Đường con quen thuộc thèm hương áo
Lớp cũ làm sao giữ bóng hình

Anh không còn xác không còn hồn
Không tỉnh không say sao chập chờn
Như khói hương xưa còn phảng phất
Bên mồ hoang nhuộm bóng hoàng hôn

Anh gọi tên em trọn bốn mùa
Chỉ nghe ly biệt tự nghìn xưa
Dâng đầy trong cỏ khô rêu úa
Trên lối ghen hờn thuở đón đưa

Lang thang mòn mỏi bốn phương trời
Rừng núi lạ quen chẳng đáp lời
Tình si lận đận thuyền không bến
Cuối nẻo mịt mờ xác lá rơi

Đường đến thiên thai đã không còn
Mênh mông hư ảo lạ nước non
Tiếng buồn hay tiếng mưa ngày cũ
Bóng chim tăm tiên cá đá mòn

Đêm tối quanh co chẳng lối về
Thì thôi mặc kệ người khen chê
Gục đầu trên cánh hoa tàn úa
Giọt lệ thiên thu lỗi hẹn thề…

MD 10/04/03
LuânTâm

Je Suis Ce Que Je Suis (Roger Kemp) -Tôi Là Chính Tôi(Thái Lan)

 
(Roger Kemp)
 
Je Suis Ce Que Je Suis

La tulipe ne sera une rose
Et la rose ne sera un pissenlit
à quoi sert espérer être une rose
Quand au fond "Je suis ce que je suis"

Je suis peut-être une tulipe
qui s'éveille à tous les printemps
Démontrant ses couleurs ses principes
Jugée souvent bien hors du temps

Je suis peut-être une rose
dégageant l'arôme de l'amour
on se pique sur mon côté morose
mais le bonheur revient au détour

Je suis peut-être un pissenlit
répandu et plutôt mal compris
mais sachez quand il est bien servi
il donnera du goût à votre vie

Qu'importe la fleur que vous soyez
vous avez tous un rôle à jouer
mais vous devez vous rappeler
de Celui qui vous a créé

La tulipe ne sera une rose
Et la rose ne sera un pissenlit
à quoi sert espérer être une rose
Quand au fond "Je suis ce que je suis"

Roger Kemp
***
Dịch Bài:

Tôi Là Chính Tôi


Hoa tulip sẽ không là hoa hồng
Và hoa hồng sẽ không là bồ công anh
Niềm hy vọng trở thành một bông hồng để làm gì
Khi ở trong tôi "Tôi là chính tôi"

Có lẽ tôi là một bông hoa tulip
Thức dậy vào mỗi mùa xuân
Xum xoe màu sắc, khởi nguyên của mình
Thường được xem là không đúng thời

Có lẽ tôi là một bông hồng
Tỏa hương thơm của tình yêu
Mặt ảm đạm của tôi làm người bị châm chích
Nhưng hạnh phúc sẽ trở lại

Có thể tôi là bồ công anh
Vung vãi khắp nơi và không ai hiểu được
Nhưng khi hoa làm tròn vai trò hữu ích
Cuộc sống của bạn sẽ được vị hương ngọt ngào

Cho dù bạn là hoa gì
Tất cả đều có phần quan trọng
Nhưng bạn phải nhớ
Đấng Tạo Hóa đã sinh ra bạn

Hoa tulip không thể là bông hồng
Và hoa hồng không thể là cây bồ công anh
Hy vọng trở thành hoa hồng để làm gì
Khi bên trong tôi "Tôi là như tôi hiện hữu"


Thái Lan


Lời Nói Dối Dễ Thương


      Đi đã gần hết ba vòng bờ hồ rồi mà ông Thịnh vẫn chưa nghe vợ mình nhắc gì đến điều ông đã mong đợi từ cả tuần nay. Bà vẫn thong thả bước đều bên ông, hai tay vẫn đánh đòng xa như mọi khi, vừa đi vừa hít thở, vừa nói chuyện này chuyện nọ; không một chút dính dấp gì tới chuyện ông Thịnh muốn chính bà bàn đến. Thường bữa đi bộ bên nhau như thế này ông Thịnh rất thích nghe bà vợ kể chuyện, như tin tức quốc nội quốc ngoại mà bà nghe từ các đài phát thanh Việt ngữ nhân giờ giải lao hay giờ ăn trưa tại sở làm, chuyện lưu thông, chuyện kinh tế tài chánh...Gần đây tai, mắt cũng dỡ chứng nên ông Thịnh ít nghe đài và cũng ít đọc báo chí; chỉ đêm khuya ông mở mấy cái website có chữ to đọc tin tức thế giới cho đỡ cảm thấy tụt hậu. Từ ngày về hưu năm năm trước, chỉ những ngày cuối tuần ông Thịnh mới cùng vợ tham dự những buổi họp mặt bạn bè thân mật, hay đi ăn trưa ăn tối với gia đình; kỳ dư ông thích ở nhà nghiên cứu thuật chụp ảnh và sử dụng máy computer. Ông cũng thích chăm lo vườn tược hoa cỏ quanh nhà, cho nên việc giao thiệp rất giới hạn, và ông rất ít để tâm tới chuyện xảy ra bên ngoài. 


Hôm nay đã thứ Sáu rồi, không tính toán hôm nay thì đâu còn thì giờ nữa. Chỉ còn có hai ngày nữa thôi. Coi mòi không ai nhớ tới ngày sinh nhựt của ông rồi. Ngày mai, Thứ Bảy, vợ chồng ông sẽ phải bận rộn trong đám gả con của người em họ; vậy thì ông chỉ còn có ngày Chủ Nhựt. Cả tuần nay ông Thịnh có ý chờ những cánh thiếp của các con cháu ở xa gởi về chúc sinh nhựt ông như mọi năm. Mấy thằng con ở xa dầu cho có quên thì còn hiểu được; chớ bà vợ đang kề cận bên mình, và vợ chồng đứa con gái út chỉ ở cách mình chưa tới mươi phút lái xe mà quên thì... đáng đánh đòn! Mới ba bốn tháng trước đây vợ ông có nhắc tới mà, chẳng lẽ bà đã quên phứt đi rồi sao? Năm nay sinh nhựt của ông rơi  vào ngày Thứ bảy, đúng ngày nghỉ, vậy thì thiên thời, địa lợi, mà nhân thì chưa thấy hòa;  không tổ chức được tối mai thì phải tổ chức hôm sau, ngày Chủ nhựt, chớ đâu có lý gì mà để nó trôi luôn. Năm nay lại là một sinh nhựt lớn, ngày thượng thọ, mừng cái niên kỷ thứ tám mươi của ông. Sinh nhựt bình thường như hàng năm nếu không làm gì đình đám thì gom mấy người trong gia đình, hay rủ vài người bạn thân ăn bữa cơm tối, chúc nhau vài lời,  cũng gọi được là vui rồi! Có năm cả Thứ bảy lẩn Chủ nhựt hai vợ chồng đều phải đi cày thì mừng sinh nhựt bằng một ngọn nến bên cạnh một mâm cơm đạm bạc hai vợ chồng cùng ăn lúc gần nửa khuya, cùng kể chuyện ngày xưa, rồi thân ái nắm tay vào giường... ôm gối ngủ, thì cũng quá tốt vậy, cũng tình lắm, chớ có sao đâu. Năm nay thì chắc phải làm khác chớ. Dễ gì bắt được cái tuổi bát thập  này!  Bạn bè trang lứa với ông đã có bao nhiêu đứa phủi chưn lên bàn thờ ngồi từ khuya rồi; có đứa còn nặng nợ đời, bịnh hoạn triền miên mà vẫn phải kéo lê một kiếp sống. Sống khá thọ như vậy mà sức khỏe của ông Thịnh đâu có tệ gì, cơ thể vẫn cứng chắc, lưng chưa thấy còng một chút nào, da dẻ thẳng thớm hồng hào như người mới ngoài ngũ tuần, vẫn vun vút lái xe đường trường, không khác gì phong độ của người quan năm lái phản lực hơn bốn mươi năm trước trên vòm trời quê hương chập chùng lửa đạn. Bộ chẳng ai thấy mấy cái này sao cà? Quý lắm chớ. Sống thọ. Sống khỏe. Sống vui. Có mấy ai được như vậy? 


      Tiếp tục đi gần hết vòng thứ năm mà hình như  bà vợ nói chưa hết mấy chuyện đang xảy ra trong cộng đồng. Chuyện Đàm-gì-đó hay không Đàm-gì-đấy. Chuyện một người đồng hương trẻ họ Trần ứng cử dân biểu. Rồi bà còn bắt qua chuyện Putình Putăng, chuyện Bađình Bađám….Toàn là chuyện ở đâu đâu. Thường khi thì ông Thịnh cũng thích nghe mấy chuyện này lắm, nhưng hôm nay thì ông chỉ muốn nghe bà vợ bàn về ngày sinh nhựt của ông mà thôi. Người ta bảo nói xa chẳng qua nói thiệt, vậy mà bà vợ ông hôm nay tự nhiên  thích nói xa mà không thích nói gần. Từ hồi nào tới giờ bà được các bạn cho là chu đáo, là hiểu biết, là đối xử mềm mỏng khéo léo, biết người biết việc, biết trái biết phải, biết đúng biết sai... Lẽ nào hôm nay bà không biết một chút gì về tâm trạng của người chồng đang đi bên cạnh, chỉ còn năm bảy tiếng đồng hồ nữa thôi là đã mang hia đội mão làm một lão trượng bát thập cổ lai hy rồi. Thật ra thì ông Thịnh chỉ nóng lòng muốn biết có phải mọi người đã quên mất ngày sinh nhựt của ông, hay họ có nhớ mà không có ý định làm gì hết, hoặc giả họ chỉ làm qua loa như vài lần trước. Làm gì thì làm, làm sao cũng được, to hay nhỏ không quan trọng, miễn sao thân mật, ấm cúng; và ít nhứt ông phải được biết. Sinh nhựt của ông mà, chớ có phải của ông tây cônggô nào đâu. Nghĩ đến đây ông Thịnh bỗng phát giận. Thiên hạ hay nói càng già càng khó tánh, cũng có thể đúng trong trường hợp ông Thịnh. Lão Mỹ già tên Martin, như thường lệ, mỉm cười và vẫy tay khi vượt qua vợ chồng ông mà hôm nay ông chỉ ậm ừ cho phải phép, chớ mọi khi ông hăng hái hé lô hé loa và cùng sánh bước với lão Martin, cùng nói cười vui vẻ chuyện thời tiết nắng mưa. Đôi vợ chồng già người Mễ, mười bữa như một, sau năm vòng bách bộ  bèn ngồi sát nhau trên chiếc băng đá dưới gốc cây sồi to, người này nắn tay chân người nọ, người nọ lau mồ hôi trán người kia; mọi bữa ông Thịnh thấy họ thật tình tứ và mang nét đẹp của tranh vẽ, hôm nay sao trông họ như pho tượng đá vô hồn trong công viên. Già mà còn bày đặt mùi với mẩn! Cả mấy hàng cây dương xỉ và cây sồi bao bọc quanh hồ ông Thịnh cũng thấy chúng hôm nay trơ cứng như những bộ xương. Bây giờ là giữa tháng Mười, cây cảnh mấy hôm trước còn mang dáng dấp ẻo lã của một thiếu nữ ngào ngạt hương thu, mà nay trông chúng giống như  người đàn bà nhạt nhòa hương phấn. 


      Bắt đầu vòng đi thứ bảy thì ông Thịnh bỗng giựt mình khi bà vợ bất thần khều vai ông, ông nghĩ ngay là thời cơ đã tới. Ông chờ. Ông chờ. Cơ khổ! Bà Thịnh lại không nói gì, bà chỉ tay về phía giữa hồ nước, ở đó ông Thịnh thấy đôi vịt đang bơi sát vào nhau, hai cái mỏ như đụng nhau. Thật chán cái bà này, cảnh ấy thì có gì lạ đâu, kề sát với nhau mà biết có thương nhau và thông cảm nhau không. Như vợ chồng ông chiều nay: ông nghĩ đàng đông, bà ngóng đàng tây. Dù nghĩ vậy nhưng ông Thịnh cũng không khỏi không chú ý đôi vợ chồng vịt. Chúng đang lội bên nhau, đôi mỏ cứ muốn tìm nhau. Rồi hình như sau khi chúng thủ thỉ với nhau điều gì, con vịt trống bơi trước, con mái theo sau, cả hai bơi  lẫn trong bụi cỏ mọc de ra bờ nước. Không biết đôi vịt đang làm gì trong đó. Ý nghĩ ngộ nghĩnh này khiến ông Thịnh vỗ tay đánh bợp một cái, như ông đã tìm ra một chân lý. Bà Thịnh giựt mình, tưởng chồng mình làm một động tác thể dục. Ông Thịnh biết chắc bà vợ ông không biết ông đang nghĩ gì đâu. Ông đang nghĩ tới bà đó. Ông biết vợ ông không quá vô tâm như ông tưởng; vẫn là một người đàn bà có tài tổ chức, biết đâu khi nhìn đôi vợ chồng vịt âu yếm, vợ ông đang có sẵn một kế hoạch trong đầu, chẳng hạn như một tiệc sinh nhựt thật là lãng mạn, chỉ có hai ông bà trong một phòng ăn nhỏ, ấm cúng, tại một nhà hàng khách sạn Pháp sang trọng nào đó? Hai mái đầu hoa râm, một đóa hồng tươi, một chai rượu vang, những giọt nến chảy và những dòng nhạc Mozart? Có thể lắm chớ. Làm một Paris By Night hay một Đêm Màu Hồng xưa trên đường Catina đâu phải là chuyện khó khăn gì ở đây. Ngày xưa đã có lần hai người mừng sinh nhựt bằng cách bay lên Đà Lạt, ngồi sát bên nhau suốt đêm trong cà phê Tùng nghe Lê Uyên Phương , rồi sáng hôm sau bay về Sài Gòn. Thời xuân sắc, bà Thịnh đã từng là đọc giả của các tạp chí như Nous Deux, như Ciné Revue, Elle...và của các tác giả nữ như Simone de Beauvoir, Francoise Sagan, rồi sau này là Chu Tử, Quỳnh Dao, Trùng Dương, Nhã Ca. Không chừng cái máu romantique của bà vẫn còn lẩn quẩn đâu đó. Biết đâu? Ờ, biết đâu. Ai bảo những người tuổi cao thì tình nhạt? Đậm hơn và thâm trầm hơn thì có. Bất chợt ông Thịnh liếc sang bà vợ, ông thấy cái răng khểnh của vợ vẫn có duyên như bao giờ, điệu đánh đòng xa trông cũng dịu dàng như hai cánh bướm! Ông cũng thấy hàng dương xỉ bây giờ thơ mộng trở lại.


      Cuối vòng thứ tám thì như thường lệ, buổi đi bộ chấm dứt. Điều ông mong đợi từ vợ ông coi như cũng on bon phi nan. Vẫn không có một bàn tính nào với ông hết về cái tiệc sinh nhựt thứ tám mươi của ông. Vào nhà, ông Thịnh buồn bã nhìn lại xấp thư còn để nguyên trên bàn, chỉ có bills và quảng cáo. Không có một thư nào của các con ông gởi về chúc mừng ông. Ông Thịnh nhìn tờ lịch thêm một lần nữa: Thứ  Sáu. 


      Ngày Thứ Bảy trôi qua một cách vô cùng nhộn nhịp và vui vẻ với cái đám cưới của đứa cháu gái. Vậy cũng được, ngày vui nhứt của hai trẻ chỉ có một lần. Còn mình thì đã mấy mươi lần sinh nhựt rồi, chậm lại một bữa cũng đâu có sao. Không hôm nay thì hôm mai, hôm mốt...Nghĩ thì vậy nhưng khi tan tiệc cùng vợ lái xe về nhà ông Thịnh cũng không khỏi thắc mắc: mai là Chủ Nhựt rồi, ngồi bên cạnh ông, bà vợ vẫn nói những chuyện bao đồng. Điệu này thì mừng sinh nhựt bằng buổi ăn sáng cùng với các con cũng không có, chớ đừng nói chi tới căn phòng nhỏ đèn mờ với rượu vang và nhạc Mozart. Coi như kịch chưa diễn mà màn đã hạ!


      Đêm đó ông Thịnh đi ngủ rất muộn, ông cố  dán mắt vào những website trên màn ảnh, ông đọc hết các tin tức bằng tiếng Việt, rồi tiếng Mỹ, tiếng Pháp. Ông không muốn nghĩ tới ngày mai. Ngày mai có gì đâu mà nghĩ! Vợ ông thì  bận rộn cả ngày, dễ gì có thì giờ nghĩ tới cái sinh nhựt của ông; bây giờ thì bận với cái cell phone trong căn phòng đóng kín cửa, cho tới quá nửa đêm mới đi ngủ. Nói với ai mà dai như đĩa vậy không biết nữa! Cái chuyện cần thiết cần nói với ông thì không nói. Người gì mà vô tâm!


      Sáng Chủ Nhựt ông Thịnh thức dậy muộn, quá buổi cơm trưa. Bà vợ hình như đã thức từ lâu và vừa đi đâu mới về. Xế chiều, ông Thịnh ngạc nhiên thấy bà vợ ăn mặc thật là tươm tất, mốt miết như đầm Pa- ri. Ông chợt nhớ tới điều ông suy nghĩ chiều hôm Thứ Sáu trên bờ hồ. Phải rồi. Đúng là bà sắp đưa ông đi tới một nhà hàng Pháp ăn mừng sinh nhựt đây. Nhưng sao lại là ban ngày ban mặt thế này, đâu còn romantique nữa? Thắc mắc, nhưng ông Thịnh không muốn hỏi han làm gì vì ông biết có lẽ ông chỉ đoán đúng được một phần ngàn. Ông mặc kệ  bà muốn làm sao cũng được; không làm gì thì cũng chẳng làm sao. Chỉ tiếc là ngày trọng đại của ông không nghe thấy tâm hơi của đứa con, đứa cháu nào hết. Các người bạn thân của vợ chồng ông sao cũng vắng bóng, bặt tin. Đêm qua gặp vài người nơi đám cưới, chẳng ai có lời nào gọi là chúc thượng thọ của ông. Ông Thịnh thấy cần phải tìm vài giọt nước mát cho cái nóng trong người dịu đi. Trong bồn tắm, những giọt nước ấm  trên cổ, trên lưng chỉ làm ông thêm lạnh.


      Hình như trước khi ra xe vợ ông có nói với ông vài điều gì đó, ông không để ý; ông chỉ nhớ là bà muốn ông ăn mặc đàng hoàng một chút để dự một cuộc họp mặt thân hữu mà bà không có hứa trước nên đã chưa cho ông hay. Thì ra là vậy! Họp mặt thân hữu, hừm! Chớ còn ngày sinh nhựt của ông đâu rồi?  Bà vợ yêu quí của ông đã để cho chuột tha đi đâu mất rồi à? Ông cũng nhớ là ông phải bấm bụng chìu vợ mà bước lên xe ngồi, để bà muốn đưa ông đi đâu thì đi. Không biết từ hồi nào, mỗi khi có điều thắc mắc với vợ, ông Thịnh nói thật ít, hỏi thì càng ít hơn. Bà vừa lái xe vừa thỉnh thoảng rù rì trên cái cell phone. Ông Thịnh lấy cái máy nghe ra khỏi tai; nghe làm chi mấy cái chuyện tào lao cho thêm mệt. “Bát thập súp pơ cổ lai hy”! Đời này người ta quên chữ nho hết rồi à? Ôi! Tuổi tám mươi của ta bắt đầu như thế này sao?! Ngồi trong xe chạy vòng vèo qua đường này ngõ nọ, câu tán thán này ông Thịnh đã lập đi lập lại cho một mình ông nghe. Có lẽ khi ông lập lại đến lần thứ ngàn lẻ một thì xe dừng lại trước cái Club house quen thuộc, nơi bạn bè ông thường dùng làm nơi họp mặt trong những dịp này dịp nọ. Ông uể oải cùng vợ bước xuống xe. Bãi đậu xe đã kín, lại còn bao nhiêu chiếc phải đậu dọc theo hai bên đường. Đông xe như vậy mà sao không thấy một bóng người. Các cửa cái và cửa sổ của club house đều đóng. Chỉ vài ánh điện mờ hắt ra ngoài các khe hở. Ông còn đang đứng ngơ ngác giữa sân thì bà vợ khoác tay ông tiến về phía cửa chánh, trông bà tươi rói. Ông nói thầm: làm gì mà tình tứ như tây vậy?

Nghĩ thì nghĩ như vậy nhưng ông cũng miễn cưỡng choàng tay vợ đi về phía cửa.  Như có một luồng gió cực mạnh từ phía trong thổi ra làm hai cánh cửa gỗ vụt mở. Cửa mở toang như hai cánh quạt xòe. Hai mắt ông Thịnh bỗng chói lòa khi cả căn phòng tối như được nâng bổng lên bằng một vùng ánh sáng và một trời màu sắc. Và một rừng âm thanh. Và đông đủ những khuôn mặt thương yêu, bằng hữu. Mơ. Mơ. Phải, ông Thịnh thấy mình đang mơ một giấc mơ tuyệt vời. Trong mơ ông nghe rõ bài đồng ca Happy Birthday dành riêng cho ông nổi lên khắp phòng hội, ai cũng hát và ai cũng vỗ tay nhịp nhàng. Trong mơ ông thấy rõ tất cả mọi người. Ông thấy trước nhứt là cái răng khểnh thương yêu bên cạnh ông, cái răng bây giờ sao có duyên quá đỗi. Rồi ông thấy xếp hai hàng trước mặt ông là vợ chồng thằng con cả từ Alaska,  đến vợ chồng thằng con thứ từ Hawaii, tội nghiệp cái thằng bịnh hoạn mà cũng ráng về; rồi vợ chồng các con kế tiếp từ Dallas, từ Austin, Houston... đông đủ hết. Ông thấy cả cô em gái duy nhứt từ Arlington cũng xếp lại công việc bề bộn hàng ngày để về với ông. Ông thấy hàng tá các cháu nội ngoại xếp hàng từ thấp đến cao, có vài đứa ông mới gặp lần đầu, hai tay các cháu làm vòng cung trước ngực mừng tuổi thọ của ông. Rõ ràng là ông đang mơ chớ thực tế không thể có như vậy được. Và rõ ràng là ông đang mơ khi ông nhìn các bạn  đứng xung quanh, họ đang chúc mừng ông, ông cảm thấy họ đang trao cho ông hơi ấm tình bằng hữu. Cầm tờ giấy trên tay có in bài thơ chúc mừng mới nguyên của người bạn thi sĩ mà ông ngỡ mình đang đọc thuộc lòng những dòng tâm bút:


 Có nghịch lý không khi được nghe lời dối

 Dặn dò với tôi trong lá thư mời

“Đừng cho ba má cháu biết về buổi tiệc vui”

 Ôi, lời nói dối nghe dễ thương biết mấy! .

(Trích bài thơ Lời Nói Dối Dễ Thương của Lê Hoàng Viện) 



      Thì ra ai cũng dối ông, con ông, vợ ông, bạn bè ông, ai cũng giấu kín để ông có được phút giây như mơ như mộng này. Đúng rồi, những lời nói dối dễ thương. Tất cả, tất cả, bên cạnh ông, trước mặt ông, chung quanh ông, là muôn vàn trân quý. Là yến nhạc. Là hương hoa. Là vòng cầu ngũ sắc. Là tình. Là nghĩa. Là yêu thương. Tuổi tám mươi của ông, ôi, sao mà đẹp lạ lùng!


      Có lẽ vì tấm lòng của mọi người quá ấm đã làm mắt ông Thịnh chợt cay và làm rơi những giọt lệ.. Ông thấy sung sướng mà khóc cho hạnh phúc tuổi tám mươi của mình. Trong nhân gian có mấy người được nhỏ những dòng lệ sáng ngời hạnh phúc như ông đêm nay?!


      Đêm đó ông Thịnh cứ trằn trọc hoài, không ngủ được. Tất cả vẫn đang hiển hiện trước mắt ông. Làm sao ông quên được ngày hôm nay. Làm sao quên được. Ở tuổi tám mươi ông biết tháng ngày của ông không còn nhiều. Nhưng còn bấy nhiêu ngày là bấy nhiêu ngà ngọc ân sủng của đời. 


      Ông cũng biết những gì xảy ra hôm nay sẽ đi theo ông vĩnh viễn trên cuộc hành trình còn lại, và sẽ theo ông trong cuộc du hành vào một chốn mịt mùng miên viễn. 


      Và, trong đêm, ông Thịnh đã mỉm cười. Nằm trên cánh tay ông, bà Thịnh cũng mỉm cười, trong đêm. 



Trần Bang Thạch

(Kỷ niệm ngày 80 tuổi)


Mẹ Mày Có Khoẻ Không?

Có những câu nói rất bình thường mà làm mình thật sự xúc động.
Trong đời sống vợ chồng có biết bao lời nói làm tan nát con tim. Làm vợ hoặc chồng mất ăn mất ngủ. Làm người vợ nước mắt tràn ra không ngăn được những đêm thao thức đau lòng. Làm người chồng mượn rượu giải buồn để thấy đời thật không còn gì tàn nhẫn, xấu xa hơn.

Tôi cũng vậy. 44 năm chồng vợ. Nước mắt tôi tuôn ra nhiều lần ,nhiều lúc. Khóc không phải vì vất vả gian lao hay đời sống bất công. Mà khóc vì những lời nói, cái nhìn, những cử chỉ phũ phàng cay đắng. Khóc nhưng không ai thấy, không ai biết mình đau khổ, khóc để vơi những nỗi buồn đè nặng lòng mình mà không có cách giải quyết.
Khóc trước mặt cha mẹ ư? Không bao giờ vì con đường này mình đã chọn. Trước mặt mẹ chồng ư? không bà đâu có muốn. Trước mặt con cái ư? Không! Hãy để chúng thật thánh thiện bình an trong mái ấm gia đình. Vậy sao không khóc trước mặt chồng? Cũng đã có rồi và cũng đã không. Tôi yếu mềm, hiền lành coi mái gia đình là lẽ sống. Tôi không muốn gây gổ, tôi không muốn bất hòa. Đó là nhược điểm của hầu hết đàn bà Việt Nam để bảo vệ cho con cái có một đời sống gia đình ấm êm.
Biết bao mái ấm đến giờ này con cái trưởng thành, thành danh không bắt đầu bằng những đêm khóc thầm của bà mẹ. Và đó là kết quả mỹ mãn để mẹ mỉm cười sung sướng đi hết cuộc đời mình.

Tôi không cố ý nói hầu hết đàn ông. Tôi không nói các anh bội bạc nhưng đàn ông thường trái tim có nhiều khe hở, có nhiều bè bạn, có nhiều cuộc chơi. Có những nói trong lúc giận hờn, trong cơn say hay trước mặt bạn bè .Câu nói đó đôi khi vô tình, nhưng đôi khi là những câu cố ý thật đau lòng. Đàn bà chúng tôi cũng không hầu hết là yên phận, yêu và nhịn chồng. Nhưng dù sao phụ nữ vẫn coi gia đình và con cái là lẽ sống đời mình. Người vợ luôn coi trọng người chồng vì nếu mình không tôn trọng chồng thì sự bất tương kính sẽ làm gia đình gãy đổ.

Chồng tôi là lính. Anh cưới tôi khi anh đã là lính mà là lính tác chiến nên gia đình không phải là nơi anh sống thường xuyên. Anh có một mái gia đình gắn bó sinh tử hơn là vợ. Anh có những người bạn chết sống với anh, chia sẻ những buồn vui và săn sóc anh nhiều hơn là tôi. Cho nên dưới mắt anh tôi là một bóng mờ bên những vì sao chiến trường đồng đội. Thế rồi vận nước đảo điên, thế cờ lật ngược, anh bị tù hơn 8 năm, khi đứa con đầu lòng vừa 5 tháng tuổi. Những người bạn tù chết sống cùng anh bên rừng Việt Bắc không phải là tôi hay con bé. Có những lúc anh gục xuống dưới bó tre nặng oằn hay trượt chân xuống vực. Người đở anh lên là những người cùng đói khát, bệnh tật giống anh.

Cuộc sống sau ngày được thả về là bi ai là bất mãn, khi hàng ngày hay hằng tuần hàng tháng phải trình diện chính quyền , thôn xã. Anh nhìn tôi, nhìn những người công nhân nông trường đều là Cộng Sản vì đang làm việc và lãnh lương của nhà nước. Đôi kính màu bị tráng đỏ của anh đã nhìn tất cả đời sống trong uất nghẹn, và tôi chính là người gần gũi nhất, dễ dàng nhất để anh trút giận. Để anh nhìn cuộc đời mới với đôi mắt tóe lửa căm thù. Anh chỉ vui và chơi với những anh em, bạn bè làm tự do và say sưa để quên đời. Để chì chiết bản thân mình và gia đình trong nỗi bi ai.
Tôi quyết phải xuất ngoại để kéo chồng tôi sống lại. Để anh có thể làm chủ gia đình và cười trở lại sau bao nhiêu năm u uất. Thế nhưng trời không chiều người . Mẹ chồng tôi quá già yếu và mang nhiều bệnh tật. Tại trong nước đã phát hiện bà bị tiểu đường nhưng không có thuốc chữa trị. Qua đây khoa học tiên tiến truy tầm ra nhiều bệnh kéo theo. Chồng tôi một lần nữa bất mãn vì không thể đem cho mẹ một cuộc sống sung sướng, khỏe mạnh như hàng mong muốn để đền ơn trời biển.

Đời sống, phong tục nơi đây không giống Việt Nam. Anh có cảm tưởng con cái bất phục mình và coi thường mình khi dám hỏi những điều anh không thể giải thích. Anh tức giận khi con dám đề nghị anh ra sân hút thuốc hay khuyên ba uống rượu ít đi. Anh tức tối khi đêm muốn ôm con ngủ mà nó đề nghị ba nên về phòng ba ngủ đi, con lớn rồi con muốn ngủ một mình. Anh đã từng mất cha khi còn rất bé chỉ 4 tuổi đầu. Anh thèm có cha ôm ngủ, anh thèm cha nựng nịu, ve vuốt thương yêu. Nhưng tại sao con anh không có cảm giác đó khi nó chưa có vợ, nó còn là con trai anh. Thì ra nó không thương anh. Nó không có tình cảm cha con.

Những ý nghĩ sai lệch đó làm chồng tôi rơi dần vào bệnh trầm cảm. Anh càng xuống tinh thần theo từng ngày tháng bệnh của mẹ chồng tôi . Anh kê một giường bên cạnh mẹ ngủ ở đó và tuyên bố:
"Khi mệ chết tôi sẽ đi tu hay về Việt Nam cất chòi giữ mồ mệ"

Thế nhưng mẹ chồng tôi chưa chết anh đã trở thành một người bị bệnh suy nhược thần kinh và bệnh Parkinson.. Tôi vừa chăm mẹ chồng, vừa chăm anh với tất cả khả năng mình. Các con tôi tự lo học và chia sẻ với mẹ những khi cần giúp. Chúng chịu đựng mỗi khi ba lớn tiếng hay hờn giận vô lý. Chúng tìm trong web những gì liên hệ với bệnh của ba để giúp mẹ đối phó hay chữa trị.
12 năm săn sóc chồng tôi chưa một lần gây gổ hay lớn tiếng. Tôi thương anh vì cuộc đời anh bi ai quá. Anh là một trong những nạn nhân của chiến tranh. Chiến tranh đã cướp đi nhà cửa, đã thiêu rụi cả làng của anh, đốt cháy nhà anh và ông bà nội anh đã cháy đen trong đống đổ nát. Chiến tranh đã đẩy anh ra khỏi làng quê, đã đưa anh vào cuộc chiến và làm một người tù bị sỉ nhục, đói khát triền miên. Anh bị mất cả quê hương, tương lai và chí hướng.

Tôi chỉ có thể nhìn anh thông cảm, an ủi và cho anh có một bờ vai để dựa vào đó mà nghiền ngẫm nỗi buồn. Tôi bất lực khi muốn kéo anh ra khỏi vũng lầy của trầm uất. Tôi không thể hiện hữu trong tâm linh anh để đẩy lùi những ám ảnh hay những bóng ma dĩ vãng. Tôi không thể gạt người mẹ đáng kính ra khỏi sự nhớ nhung của anh. Không thể gặp mặt những người bạn lính vô hình để khuyên họ cho anh về với thực tế, với vợ con. Tôi chỉ có thể ở bên anh để săn sóc. Để xoa bóp những mỏi mê thể xác. Nấu cho anh những thức ăn bổ dưỡng, lau nước miếng cho anh dù anh gạt phắt tay tôi ra. Hoặc nắm tay ân cần mọi lúc. Dìu anh lên thang lầu hay săn sóc khi anh cần giải quyết việc vệ sinh .

Tôi cám ơn đất nước này đã cho tôi điều kiện để sống một cách no ấm mà toàn tâm, toàn ý làm nhiệm vụ của mình.

Hôm qua con gái chở tôi đi Bác Sĩ mắt. Cháu phải đem chồng tôi và hai đứa con theo luôn. Khi tôi vào văn phòng BS, cả nhà phải ngồi ở hành lang để đợi. Khi tôi bước ra cháu ngoại nhìn thấy và nói:
- Bà ngoại ra rồi kìa.

Tôi lại vào restroom kế bên văn phòng trước khi ra xe. Chồng tôi thoáng thấy tôi rồi thấy một bà Mỹ trắng ra cửa. Ông buông tay con gái và chạy theo bà ta. Con tôi kéo lại nói không phải Má. Nhưng ông gạt phắt tay con gái và đi ra cửa. Hai đứa cháu cản lại cũng bị ông hất mạnh đánh vào tay. 4 người đứng chèn ngay cửa tự động không ai ra vô được. Không cách nào lôi ông vào và cũng không thể để ông chạy đi.
Tôi từ cửa phòng vệ sinh bước ra, cháu la lớn:
-Ông ngoại! Bà ngoại nè! Đây mới là bà ngoại mình mà.
Ông chồng tội nghiệp của tôi nở một nụ cười và đi về phía tôi nhường chổ cho khách ra vô.
Tôi dìu chồng ra xe mà thương anh quá.

Hôm nay, khi tôi ngồi bóp tay, chân cho chồng, anh hỏi tôi một câu mà tôi cảm động thật nhiều.:
-Mẹ mày có khỏe không?
Ôi! câu nói "Mẹ Mày" thân thương mà từ lâu tôi không được nghe. Một câu hỏi thật tỉnh táo cho tôi mừng quá đổi. Tôi trả lời với chồng
-Tui khỏe lắm. Còn Ba mày như thế nào?
Anh trả lời tôi :
-Tôi cũng khỏe, cũng mệt và.. 
rồi những tiếng sau lùng bùng trong cổ tôi chẳng nghe được gì hết.

Nhưng thôi! cũng đủ lắm rồi, cũng đủ cho tôi vui vì biết anh tỉnh táo, có nghĩ đến mình. Cũng biết rằng tôi rất mệt khi săn sóc anh.
Một câu hỏi và ánh mắt khác ngày thường làm cho tôi vui nhiều lắm.Tôi biết nếu tôi không đủ sức khỏe để ở bên anh, hoặc tôi mất trước anh thì các con tôi đành đưa ba vào viện dưỡng lão.
Bởi vì chăm sóc một người già bệnh như anh không phải là chuyện dễ dàng. Các cháu còn phải đi làm, còn con cái, tất bật trả nợ nhà và mọi tiện nghi đời sống.

Viện dưỡng lão không phải là nơi xấu, đó là mái nhà của những người già sống cuối đời. Nhưng dù điều kiện có tốt đẹp đến đâu cũng thiếu một thứ rất thiêng liêng và cần thiết. Đó là tình yêu thương gia đình, tiếng cười con cháu và bàn tay nhăn nheo gắn bó của người phối ngẫu.
"Mẹ mày có khỏe không?' Ông ơi! câu hỏi ngọt ngào này của ông làm tôi vui biết mấy.
Tôi khỏe lắm ông à! Tôi sẽ nắm tay ông, cùng ông đi cho hết đoạn đường trần gian. Bên bờ tử sinh mình cùng nhau vượt dốc.

Ráng lên nghe ông. Vui lên nghe ông. Tui đang bên ông với hai bàn tay một nụ cười.
Bàn tay để ân cần chăm sóc và nụ cười thương yêu của một người vợ thủy chung.

Nguyễn thị Thêm.
13/8/14

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2023

Bóng Chiều Xuân - Thơ Chúc Anh - Nhạc Đặng Vương Quân - Ca Sĩ Tâm Thư


Thơ: Chúc Anh 
Nhạc: Đặng Vương Quân 
Ca Sĩ :Tâm Thư 

Tuổi Áo Bay

 

Tất cả cho đời tất cả thơ
Đường trần muôn nẻo bước chân đưa
Cõi riêng như đã thôi mùa gió
Vẫn chiếc áo tình mộng với mơ

Đời đã tỉnh hay đời vẫn say
Qua rồi như hết tuổi thơ ngây
Ôm vần thơ ấm theo ngày tháng
Xuôi ngược thời gian lạnh vẫn đầy

Nắng xuống đường thơ hương ngất ngây
Sương rơi chiều mỏng áo vai gầy
Tình yêu như đã vàng chân tóc
Thơ cũng không còn tuổi áo bay

Nhẹ bước cùng đời những thiết tha
Quên cơn địa chấn lúc phong ba
Võ vàng mấy thuở mong manh lụa
Vội vã chân đi buổi xế tà

Những bước đường hoa những bước hồng
Cuộc đời như vẫn đợi cùng trông
Thơ là tất cả niềm mơ ước
Giữa cõi trời hoa sáng đẹp trong.

02/14/2023
Hoa Văn

Đóa Vô Thường

Trọn đời giữ vẹn nghĩa yêu thương
Sóng bước cùng ta đến cuối đường
Khi tảo tần không nề nắng gió
Lúc bươn chải chẳng quản phong sương
Thủy chung son sắt ngời hơn ngọc
Tiết liệt trung trinh sáng tựa gương
Nhẫn nại động viên ngày tuyệt vọng
Cám ơn em một đóa vô thường

Nhất Hùng

Hương Bưởi

 

Có ai đã leo lên cành Bưởi
Nhỏ lệ rưng rưng, mắt đỏ au.
Ðâu biết bên kia khung cửa sổ
Có người đứng ngắm mà lòng đau 

Sau thân cổ thụ, tôi hàng ngắm
Ai tan học về để mộng mơ ...
Tối đến đi qua còn đi lại…
Phải chi mà mình biết làm thơ ...

Uớc gì sát vách, ta: hàng xóm,
Lùa vào khe cửa một tờ thư ...
Thì cũng do mình hay mắc cở
Chỉ dám theo xa, Em chẳng chờ.

Ví thử hai nhà chung hàng giậu
Rồi con bướm trắng sẽ bay sang...
Tôi sẽ ngắm Em đi qua lại
Phất phới tung bay áo lụa vàng

Hay là... tôi ước thành Thi Sĩ
Mái tóc bềnh bồng, hai vai gầỵ
Không còn lưỡng lự, tôi sẽ đến
Trao tặng cho Em tập thơ dày ...

Sao Khuê

Thế Nào Là Một Thi Sĩ


Trong một lần họp mặt, có người bạn cũ, đã từng học chung thời Đệ Nhị Cấp Ban B, thấy tôi làm khá nhiều thơ nên hỏi:
- Muốn trở thành Thi Sĩ, phải hội đủ những điều kiện nào, Ông bạn Thi Sĩ của tôi?

Không để bạn chờ lâu, tôi trả lời theo giọng điệu của thuở còn đi học:
- Mầy cho Tao xin hai chữ Thi Sĩ đi, chỉ với dăm câu thì làm sao được gọi là Thi Sĩ. Mầy không nghe người ta nói: "Thi Nhân đầu bạc sớm hơn ai", Tao đã quá 70, thế mà tóc hãy còn đen, thì sao được gọi là thi nhân. Vả lại, điều kiện ắt có và đủ để trở thành Thi Sĩ là...Mầy cho Tao suy nghĩ 5 phút...
- Câu hỏi bình thường thế mà Mầy cũng phải suy nghĩ sao?
- Đúng là câu hỏi bình thường, nhưng không hề đơn giản chút nào.

- Sao lại không đơn giản?
- Mầy nghĩ coi, câu hỏi tuy chỉ một, nhưng lại liên quan rất nhiều, muốn giải thích phải viện dẫn đủ thứ. Đã là Thi Sĩ, phải biết thơ là gì, phải nắm vững quy luật thơ một cách chính xác, phải hiểu biết rõ ý nghĩa ngôn từ để sử dụng, đồng thời phải yêu thích hay nói đúng hơn là đam mê thơ ...và...

- Vậy Bạn Mình giải thích những yếu tố chính thôi, còn những vụn vặt thì khỏi.
- Thú thật, Tao không tự tin khi trả lời câu hỏi của Mầy. Chỉ có thể nêu lên những ý kiến đã từng đọc trong sách cùng ý kiến cá nhân. Nhưng Tao nói trước, vì không phải là Học giả hay Nhà nghiên cứu nên không bàn đến đúng sai, mà chỉ nhận xét điều Tao nói có hợp lý hay không mà thôi.

Thế là tôi cố tìm trong trí nhớ, những gì trong sách mình đã từng đọc.

1 - Thơ Là Gì?

Nếu ta đặt câu hỏi này cho các Nhà Thơ, chắc chắn sẽ được những câu đáp khác nhau nhưng đều có lý cả. Vì sao? Vì Thơ bao gồm tất cả những câu trả lời đó.

Điều này khiến tôi chợt nhớ đến chuyện khá thú vị của các ngài Viện Sĩ Hàn Lâm Pháp. Các Vị đã lấy làm hối hận khi nêu lên câu hỏi ngớ ngẩn "Thơ là gì?". Một câu hỏi mà các vị cho rằng không thể trả lời được.

Thơ không thể làm cho mọi người no cơm ấm áo, nhưng Thơ có thể làm người vui hơn, hăng hái hơn. Thơ có thể khiến cho người ta quên đi những phiền toái trong cuộc sống hằng ngày, Thơ có thể làm cho ta yêu đời hơn. Ngoài ra, thơ còn là nơi thố lộ những gì chưa dám nói...

2 - Nghệ Thuật

Làm Thơ bao gồm cách sử dụng ngôn từ, đúng chỗ và đúng lúc. Chúng ta phải có trí thức, phải thành thạo hết các quy luật của từng thể loại Thơ. Ngoài ra, cần hiểu biết sâu sắc về từ ngữ dùng trong câu thơ. Nói rõ hơn, làm thế nào để câu thơ có âm điệu bổng trầm, diễn tả được hết ý mình muốn truyền đạt. Đấy chính là một nghệ thuật.

Muốn được thế, phải học hỏi, luyện tập thường xuyên, cho nhuần nhuyễn đến mức không cần nhớ đến cách làm thơ, không còn quan tâm đến số chữ, câu, vần. Khi đó coi như ta đã đạt đến lằn ranh của nghệ thuật làm thơ, cũng giống trong truyện kiếm hiệp, luyện kiếm đến khi hữu chiêu hóa thành vô chiêu như Độc Cô Cửu Kiếm theo truyện của Kim Dung...

Khi đạt đến nghệ thuật làm thơ được gọi là Thi Sĩ chưa? Thưa rằng chưa. Nghệ thuật chỉ cho ta những câu thơ chải chuốt óng mượt, chỉ thêu hoa dệt gấm, chỉ là vẻ hào nhoáng bên ngoài, ví như hoa có chỉ có nét đẹp.

3 - Hồn Thơ

Một bông hoa, có sắc mà thiếu hương thì làm sao quyến rũ được bướm ong. Thơ cũng thế, nếu chỉ làm những bài có vẻ hào nhoáng, ngôn từ thật kêu, câu thơ được trau chuốt bóng bẩy, thì cũng chỉ là Thợ Thơ mà thôi. Nhà Thơ phải có sự say mê, yêu thích thơ, sáng tác bằng cả trái tim. buông cả lòng mình vào câu chữ. Qua câu chữ, Nhà thơ sẽ dẫn dắt người đọc đi dần vào nội tâm, khiến tim họ phải rung động, mường tượng được những gì trong thơ, nhìn thấy tâm sự tác giả như đang hiện ra trước mắt, khác nào bướm tìm thấy hương hoa. Muốn có một bài thơ như thế, trước hết nhà thơ phải có tâm hồn.

Muốn trở thành thi sĩ quả không hề đơn giản. Không chỉ câu thơ mượt mà êm ái, hay oai phong, còn phải sâu sắc nữa.

Tóm lại, Thi sĩ là nhà thơ có cả Nghệ Thuật và Tâm hồn. Thi sĩ chính là một đóa hoa có đầy đủ hương và sắc.

Huỳnh Hữu Đức

Hello...

(Cảm tác theo bài Hello do Adele hát, lay động hàng triệu trái tim khán thính giả)

Hello!? Anh ơi hãy nhấc phone
Sao anh lặng im, để em buồn
Đã bao nhiêu năm rồi anh hỡi
Tháng ngày theo mạch sống trào tuôn

Em tự hỏi, nếu mình gặp lại
Trải lòng về những chuyện đã qua
Với em, thời gian không thể xoá
Như người ta nói, vết thương xưa

Hello, anh ơi, anh có hay
Em đang trở lại nơi chốn này
Thuở đó chúng mình yêu say đắm
Mối tình đầu kỷ niệm còn đây

Nhưng rồi, em và anh xa lắm
Bao dặm đường, lòng cũng cách ngăn
Em muốn nói ngàn lời xin lỗi
Vì đã làm tan vỡ tim anh

Anh vắng nhà, phone reo quạnh hiu
Dù em vẫn gọi, gọi rất nhiều
Với anh, giờ chỉ là vô nghĩa
Hờ hững, ơ thờ chuyện tình yêu?

Em biết, em biết, và em biết…
Anh chẳng còn bận tâm nữa đâu
Dù mình đã từng yêu tha thiết
Dù mình đã từng là của nhau

Em nhớ, em nhớ, và em nhớ…
Dù anh sẽ chẳng trả lời phone
Phố cũ nơi đôi ta hò hẹn
Nắng cũng thay màu cả hoàng hôn

Em đã ra khỏi cuộc đời anh?
Một lần nữa thôi, nghe đi anh
“Hello?”, em mong anh vẫn khoẻ
Dẫu biết lời theo gió mong manh!

Kim Loan

 

Dạ Tuyết 夜雪 - Bạch Cư Dị

 

Nguyên tác    Dịch âm                           Dịch thơ

夜雪               Dạ Tuyết                          Tuyết Đêm

已訝衾枕冷  Dĩ nhạ khâm chẩm lãnh, Cảm thấy chăn thấm lạnh
復見窗戶明  Phục kiến song hộ minh. Và song cửa sáng nhanh
夜深知雪重  Dạ thâm tri tuyết trọng, Tới khuya hay tuyết nặng
時聞折竹聲  Thì văn chiết trúc thanh. Vì nghe trúc gẫy cành

Lời bàn của Con Cò

Toàn bài có 4 câu 20 chữ mô tả một trận bão tuyết diễn ra lúc nửa đêm như sau (những chữ trong ngoặc đơn và in nghiêng là chữ hiểu ngầm):
- Câu1:
(Chập tối trước khi đi ngủ, trời còn ấm. Nửa đêm tỉnh dậy) cảm thấy chăn thấm lạnh.
- Câu 2:
(Ngước mắt trông ra song cửa còn thấy) Và trấn song sáng nhanh (trấn song sáng nhanh do màu trắng của tuyết).
- Câu 3:
(Khuya hơn chút nữa thì) Tới khuya hay tuyết nặng.
- Câu 4:
(Sở dĩ biết tuyết rơi nặng vì) Vì nghe trúc gẫy cành (tuyết đọng trên lá làm cho cành quá nặng nên gẫy. Tuyết bay không nhìn rõ vì ánh sáng mập mờ, nhưng nghe thấy cành cây gẫy, Bạch Cư dị phải thêm thính giác chứ thị giác không đủ tả. Thật là tài tình).

Bài thơ chỉ có 20 chữ mà phải thêm tới 86 chữ hiểu ngầm (những chữ in nghiêng trong ngoặc) mới giải thích hết nghĩa. Đó là điểm đặc biệt nhất của ngũ ngôn tứ tuyệt.  

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

Dạ tuyết

Lạ thay chăn gối lạnh
Thấy cửa sáng long lanh
Tuyết đổ về khuya nặng
Thoảng nghe trúc gãy cành!

Lộc Bắc
Mai21
***
Tuyết Đêm

Sao chăn gối lạnh thế này
Xuyên qua song cửa trắng bay
Đêm khuya tuyết dày nặng hạt
Trúc gãy lắc rắc bên tai!

Kim Oanh
***
Tuyết Đêm

Bỗng chăn gối lạnh thêm,
Thấy sáng hơn song thềm.
Biết đêm khuya tuyết nặng,
Nghe cành trúc gẫy mềm.

Lục bát:

Gối chăn bỗng thấy lạnh thêm,
Sáng bừng cửa sổ bên thềm mới hay,
Đêm khuya tuyết đổ thật dầy,
Vừa nghe tiếng gẫy cành cây trúc mềm.

Mỹ Ngọc 
Feb.11/2023.
***
Tuyết Đêm

1/
Đã lạ chăn gối lạnh,
Lại cửa, song, long lanh,
Đêm khuya hay tuyết nặng,
Vì nghe trúc gẫy cành.

2/
Lạ sao chăn gối lạnh lùng,
Cửa và song lại mông lung sáng ngời,
Đêm khuya tuyết nặng đầy trời,
Thoảng nghe cành trúc gẫy rời đó đây.

Bát Sách.
(Ngày 11 tháng 2 năm 2023)

***
Bão Tuyết Tối Trời

Nữa đêm choàng tỉnh giấc nồng,
Bỗng dưng gối chiếc, chăn bông lạnh lùng.
Lối vào cửa ngỏ sáng trưng,
Bức mành song sắt vãi vung sắc trời.
Canh khuya, bão tuyết tơi bời,
Khắc giờ thêm nặng, đổ rơi há ngừng.
Hư không tăm tối mịt mùng,
Tiếng cành trúc gãy, bìa rừng chợt nghe...

Khánh-Hưng
***
Tuyết Đêm

Lạnh từ chân gối lạnh
Tuyết lất phất qua mành
Song thưa sao lấp lánh
Gió quét trúc gẫy cành


Lục bát

Lạnh từ người bỏ đi xa
Chăn đơn gối lạnh đem tà tuyết phơi
Song khua mây vắng sao dời
Gió khuya quất mạnh trúc rơi mấy cành
 
Kiều Mộng Hà
Feb18th2023
***
Nguyên tác:   Phiên âm:                       Dịch thơ:
夜雪 Dạ Tuyết                                      Tuyết Đêm

已訝衾枕冷 Dĩ nhạ khâm chẩm lãnh   Cảm thấy chăn gối lạnh,
復見窗戶明 Phục kiến song hộ minh   Và song cửa sáng nhanh.
夜深知雪重 Dạ thâm tri tuyết trọng   Tới khuya hay tuyết nặng,
時聞折竹聲 Thì văn chiết trúc thanh   Vì nghe trúc gẫy cành.

Môc bản trong các sách:

Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山詩集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏長慶集-唐-白居易
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Bội Văn Trai Vịnh Vật Thi Tuyển - Thanh - Trương Ngọc Thư 御定佩文齋詠物詩選-清-張玉書
Ngự Định Toàn Đường Thi – Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
 
Ghi chú:

nhạ: kinh ngạc
song hộ: cửa sổ
trọng: nặng, lớn, nhiều
thì văn: thường xuyên nghe
chiết trúc thanh: tiếng trúc gẫy vì tuyết rơi nhiều

Dịch nghĩa:

Dạ Tuyết Tuyết Đêm


Dĩ nhạ khâm chẩm lãnh Kinh ngạc khi chăn gối lạnh hơn bình thường,
Phục kiến song hộ minh Lại thấy ánh sáng xuyên qua cửa sổ nhà.
Dạ thâm tri tuyết trọng Đêm khuya biết tuyết rơi nhiều,
Thì văn chiết trúc thanh Thường xuyên nghe cành trúc kêu rắc rắc.

Năm Đường Hiến Tông Nguyên Hòa thứ 10 (năm 815), do hạch tội việc Tể Tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và Ngự Sử Bùi Độ bị hành hung, đám quyền thần cho là ông vượt quá quyền hạn, nên Bạch Cư Dị bị đày làm Tư Mã Giang Châu. Ông làm bài thơ Dạ Tuyết vào mùa đông năm sau ở Giang Châu lúc được 45 tuổi.

Bài thơ dùng từ ngữ đơn giản dễ hiểu. Riêng trong câu 2, người đọc tự phải hỏi ánh từ đâu đến? Nếu còn tối trời thì chỉ có thể là ánh trăng sao. Cũng có thể thi nhân tỉnh dậy lúc trời đã sáng.

Night Snow by Bai Ju Yi

It was strange that I felt the blanket and pillow much colder,
And saw the bright light through the window and door.
Deep in the night, it snowed so heavily.
That I could hear the bamboo branches breaking.

I was surprised my quilt and pillow were cold,
I see that now the window's bright again.
Deep in the night, I know the snow is thick,
I sometimes hear the sound as bamboo snaps.

Night in Snow by Bai Ju Yi
Translation by Andrew W.F. Wong (Huang Hongfa)

Surprised to find, O so cold, my quilt and pillow,
Then light I see through the papered casement window.
Deep in the night, so heavy’s the snow, I know, when
Bamboos go crack ~ a sound, now ‘n’ then, I follow.

Night Snows by Bai Ju Yi
Translation by Frank Yue


Surprised that my quilt and pillow are cold,
I see light reflect'd on m'window again.
In deep of night, snows are heavy like so;
There come sounds of bamboo break'ng now and then.

Night Snow by Bai Ju Yi
Translation by Jonathan Jay


First a gasp from the chill of pillow and down
Then a-glance at the window's papered glim
In the dead of night I knew of snow's heavy crown
When hearing random, snapping, bamboo sounds

Phí Minh Tâm

***
Bài Thơ Cảm Tác

Tuyết Đêm

Lần đầu tới Chicago
Nhếch nhác tị nạn xô bồ linh tinh
Nào vợ hai con và mình
Không nghề không bạc thình lình bơ vơ
Dựa người bảo trợ bây giờ
Tương lai xứ lạ phát khờ trong mơ
Đêm khuya mắt mờ trõm lơ
Tuyết rơi rả rích lòng đơ ngại ngùng


Đồ Cóc
***
Paris Mùa Đông

Paris thường ít tuyết rơi
Cả ngày u ám mặt trời ẩn mây
Hắt hiu chiếc lá buông tay
Cảnh buồn như bóng chim bay vội vàng
Đêm về lạnh ngắt chăn màn
Mới hay đông đến bàng hoàng miên du
Ánh trăng le lói âm u
Ngoài sân gió cuốn hoang vu gãy cành

Thanh Vân
***
Góp Ý:

Bạch Cư Dị làm bài này mùa đông 815 khi đang bị biếm xuống Giang Châu (trong tỉnh Giang Tây Bây giờ). Giang Tây thuộc vùng cận nhiệt đới của Hoa Lục và tuyết rơi nhiều ở đó đúng là chuyện ... lạ, đáng ngạc nhiên để có hứng làm thơ.

Hai chữ 窗戶=song hộ trong câu nhì là một từ kép, có nghĩa là cửa sổ.
[窗戶: window (opening in a wall or roof) (Classifier: 個/个; 扇) 打 開窗戶/打开窗户 ― dǎkāi chuānghu ― to open a window ]

Ý của bài thơ nói đến sự ngạc nhiên của thi nhân họ Bạch về việc tuyết rơi nhiều ở Giang Tây. Ngạc nhiên vì chăn gối lạnh làm thi nhân thức giấc, thấy sáng ngoài cửa sổ, và nghe tiếng cành trúc gãy. Sáng đây không phải là do ban ngày mà vì đêm đó không mây, và người ở xứ lạnh biết rằng đêm không mây lạnh hơn đêm có mây vì hơi ấm từ mặt đất thoát hết ra không gian. Người ở các xứ sa mạc cũng biết điều này nên biết cách làm nước đông đá những đêm không mây (trong truyện Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung).

Bối cảnh của bài thơ chưa hẳn có thật vì cửa sổ sáng cho biết là đang có sáng trăng nhưng đêm có trăng và không mây thì hơi nước ở đâu ra mà có tuyết nhiều đến gãy cành? chưa nói đến chuyện cành trúc là một loại dẻo dai, uốn cong để rũ tuyết thay vì gãy.

Huỳnh Kim Giám

Tác Phẩm Thérèse Desqueyroux Của François Mauriac Qua Bản Dịch Của T.Vấn

 

Trong hai thập niên ở miền Nam Việt Nam, nhiều dịch giả với các tác phẩm dịch thuật về văn chương Tây Phương, nhất là Pháp, khi đoạt giải Nobel Văn Chương, các tạp chí văn học được giới thiệu tác giả, tác phẩm với độc giả được phổ biến rộng rãi.

Về dịch thuật tác phẩm văn chương điển hình như: Nguyễn Hiến Lê, Trương Bảo Sơn, Vũ Đình Lưu (Cô Liêu), Bùi Giáng, Trần Thiện Đạo, Phùng Khánh & Phùng Thăng, Tam Ích, Bửu Ý, Ngọc Thứ Lang, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Khánh Hoan, Mặc Đỗ, Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Hoàng Hải Thủy (phóng tác)…

Theo nhà văn Võ Phiến, phần sách dịch chiếm đến 60% số đầu sách (tên sách, tựa đề tác phẩm dịch thuật) được xuất bản tại miền Nam đến năm 1973, nó đã lên đến 80%. Và theo Trần Trọng Đăng Đàn, số dịch phẩm tại miền Nam VN trong 20 năm đó có thể được chia ra thành: Pháp với 499 cuốn, Đài Loan và Hương Cảng với 358 cuốn, Mỹ với 273 cuốn, Nga với 120 cuốn, Anh với 97 cuốn, Nhật với 71 cuốn, Ý với 58 cuốn, Đức với 57 cuốn… Vì vậy độc giả có cơ hội am hiểu về văn chương hải ngoại trong hoàn cảnh chiến tranh.

Tháng 11 năm 2022, tôi viết bài Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học Tây Âu Ở Miền Nam Việt Nam. Trong Mục A.- Nobel Văn Chương Tây Âu & Tác Phẩm Dịch Thuật đã ghi: Năm 1952: Nhà văn Pháp François Mauriac (1885-1970). Tác phẩm Thérèse Desqueyroux (Người Vợ Cô Ðơn) do Mặc Đỗ dịch qua bản tiếng Pháp năm 1956, giới thiệu với độc giả sau khi được giải Nobel Văn Chương… 

Nhà văn François Mauriac từ thi phẩm đầu tay Les Mains Jointes (1909) đến tập truyện cuối cùng Trois Récits trước khi qua đời, khoảng ba mươi tác phẩm của ông chỉ có vài bản dịch (ít hơn Anatole France, Adré Gide, Albert Camus, Jean Paul Sartre, François Sagan…) nhưng tác phẩm Thérèse Desqueyroux qua bản dịch của Mặc Đỗ đã gây tiếng vang vào giữa thập niên 50.

Bài viết Tổng Quan Về Sách Dịch Văn Học… được T.Vấn phổ biến trên website của anh: T.Vấn & Bạn Hữu. Khi anh em trò chuyện với nhau, Trương Vấn cho biết tác phẩm Thérèse Desqueyroux là “sách gối đầu giường” của anh. Khi hiền thê của anh Nguyễn Thị Kim Oanh qua đời (ngày 24 tháng 1 năm 2022), với tâm sự của anh đã trang trải qua các bài viết rất xúc động, hình ảnh Thérèse Desqueyroux của François Mauriac, mà ngày xưa cụ Nguyễn Gia Thiều trong bài thơ Khóc Thị Bằng “Đập mảnh gương xưa tìm lấy bóng. Xếp manh áo cũ để dành hơi”, hay “Đập cổ kính ra tìm hình bóng cũ. Xếp tàn y lại để dành hơi” của Vua Tự Đức trong bài thơ Khóc Bằng Phi. Và có lẽ với T.Vấn, tác phẩm nầy là “mảnh gương xưa, hình bóng cũ”.

Tâm tình của T.Vấn với người bạn đời Chia Tay (Fare Thee Well):
“Cuối cùng, em đã bỏ tôi mà đi.
Một chuyến đi, em và tôi đều đau đớn biết rằng, sẽ không có ngày trở lại.
Mãi mãi không có ngày trở lại...

Mãi đến khi em thở hắt ra một lần cuối cùng, tôi mới giật mình tự hỏi, liệu mình có sống sót nổi để vượt qua cuộc chia ly buốt lòng này hay không...

Tim tôi nhói đau khi viết những dòng này, cho em, cho tôi, cho những đứa con tuyệt vời của chúng ta, trong căn nhà hai đứa mình đã làm lụng vất vả, chắt chiu dành dụm, để an hưởng cuối đời. Căn nhà mà mỗi góc phòng, mỗi lối đi, mỗi vật dụng, mỗi trang trí đều có bàn tay em chạm vào, đều có con mắt tinh tường thẩm mỹ của em chiếu rọi vào và biến chúng thành tổ ấm lý tưởng cho gia đình, cho các con, cho chúng ta.

Giờ thì chỉ còn mình tôi ngồi ngó mông chung quanh trong nỗi quạnh quẽ ngay trong tổ ấm của chúng ta, mắt cứ mờ dần đi vì mưa bụi. Mưa bụi hay nước mắt? Tuổi già nước mắt như sương. Là mưa bụi, là sương mù, hay nước mắt thì có hề gì, phải không em?..

Chỉ đến giờ phút này, tôi mới nhận ra mình thương em nhiều hơn là tôi tưởng. Cần em nhiều hơn tôi tưởng.
Nhưng, như mình đã bảo với nhau, phải vui vẻ chấp nhận.
Oanh ơi, anh đang vui vẻ chấp nhận!
Vậy thì, Oanh nhé!

Fare thee well! and if for ever,
Still forever, fare thee well
(Lord Byron)

Thôi chia tay, và nếu là mãi mãi
Xin một lần được mãi mãi chia tay!”

Hình ảnh Thérèse Desqueyroux khác với hình ảnh người bạn đời Kim Oanh sau khi T.Vấn đi tù về nhưng trước năm 1975, khi còn trong quân ngũ, thời lang bạc có bóng dáng nào đó (?) để niên đệ chia sẻ tác phẩm nầy của François Mauriac, tôn trọng sự riêng tư nên tôi không hỏi khi chia sẻ qua email. Nhưng Thérèse Desqueyroux là “nhân vật bất hạnh” trong xã hội của phái nữ ở Pháp vào thời điểm đầu thập niên thế kỷ XX. Theo lời T.Vấn “Trong suốt thời gian thực hiện bản chuyển ngữ, tôi đã sống lại được nỗi đam mê của thời trai trẻ, đã đắm chìm trong những trang sách với cảm giác hạnh phúc rất hiếm hoi ở một người (già) như tôi”.


Tác phẩm Thérèse Desqueyroux của François Mauriac, T.Vấn dịch với tựa đề theo nguyên tác dựa trên bản Anh ngữ của Raymond N. MacKenzie, NXB Sheed & Ward 2005. Có đối chiếu với bản tiếng Pháp. Phổ biến vào đầu tháng 12, 2022 trên trang web của anh: Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu.

Cũng trong bài Tổng Quan… Mục B.- B.- Dịch Giả Miền Nam VN Với Các Tác Phẩm Văn Chương Tây Phương, vài nhà giáo, nhà văn chỉ dịch một, hai truyện dịch (tác phẩm dịch thuật) có giá trị được gọi là dịch giả.

Giữa tôi & T.Vấn, đồng môn, niên trưởng, niên đệ (Khóa Nguyễn Trãi I & Khóa Nguyễn Trãi III ở quân trường ĐH.CTCT Đà Lạt) và cũng là bạn văn. Với tình nghĩa nầy, trang web của T.Vấn đã dành cho tôi “mảnh đất”, đôi khi muốn “đáp lễ” nhưng ngại cho rằng “áo thụng vái nhau”.

Trong bài viết Khái Quát Tuần Báo Phong Hóa, Ngày Nay & Tự Lực Văn Đoàn vào đầu năm 2023, khi đọc hai tờ báo nầy vào thập niên 30 của thế kỷ XX, bạn thân và 3 anh em trong gia đình Nguyễn Tường (Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam) luôn đề cập, giới thiệu với nhau khi có sáng tác mới, cũng là lẽ thường tình.

Truyện dịch Thérèse Desqueyroux của T.Vấn gồm 13 Chương, dày 342 trang (Bìa ghi T.Vấn chuyển ngữ). Không in sách, chỉ phổ biến online. 
Lời Tựa của T.Vấn: Tại Sao Tôi Dịch Thérèse Desqueyroux?, từ trang 7 đến trang 15.
Lời Tựa của Joseph Cunneen - (bản dịch của T.Vấn), từ trang 16 đến trang 25.
Giới Thiệu Tác Phẩm của Raymond N. Mackenzie (bản dịch của T.Vấn), từ trang 26 đến trang 69. Bài của Dịch giả Raymond N. Mackenzie (từ Pháp ngữ sang Anh ngữ) có thêm phần chú thích.
(Trong quyển Người Vợ Cô Đơn của Mặc Đỗ, có bài giới thiệu của Trương Sơn).
Phần cuối của truyện dịch (bản của T.Vấn) có lời Bạt của Lê Hữu: Thérèse, mãi mãi tuổi thanh xuân, từ trang 321... và Nguyễn Thiên Nga: Đọc & Nghĩ, từ trang 327…

Các trang cuối giới thiệu các tác phẩm sáng tác & dịch thuật của T.Vấn. Trang 336, tác phẩm Viết Về Bạn Hữu. Tập hợp những bài viết về những người hoạt động trong các lãnh vực nghệ thuật - thơ, văn, nhạc, họa, hình mà tác giả đã có cơ duyên gặp gỡ, quen biết, hoặc chỉ giao lưu qua trung gian các loại hình nghệ thuật vừa kể. Hầu hết những tác giả được “viết” đến trong quyển sách đều tụ họp ở một sân chơi chung, đó là trang mạng văn học T.Vấn & Bạn Hữu, trang 338, 339.

Tác phẩm “Tiếng Vọng Từ Chernobyl” của nhà văn đoạt giải Nobel Văn Chương năm 2015 Svetlana Alexievich là tác phẩm văn chương đầu tiên lấy chủ đề chính từ vụ nổ nhà máy nguyên tử Chernobyl. Tác phẩm là tổng hợp những câu chuyện kể của từng con người, trực tiếp hoặc gián tiếp là nạn nhân của vụ nổ, xa hơn nữa, là nạn nhân của chính cách đối phó với thảm hoạ của nhà cầm quyền, trang 340.

Tác phẩm Lời Tình Buồn Gởi New Orleans và tác phẩm (tùy bút) Quê Nhà Quê Người của nhà văn T.Vấn được giới thiệu tổng quát thể hiện niềm đam mê của anh với văn chương ở hải ngoại.
***
Nội Dung của Thérèse Desqueyroux:

Những dòng đầu ở Chương I: “Gã luật sư mở rộng cánh cửa. Đứng giữa dãy hành lang tối tăm của tòa án, Thérèse Desqueyroux cảm thấy sương mù như bám đầy mặt. Nàng hít vào thật sâu. Nàng ngần ngại chưa vội bước ra, vì không biết ai là người đang chờ đợi mình bên ngoài. Vừa lúc, dưới bóng cây tiêu huyền xuất hiện một người đàn ông với cổ áo bẻ cao. Nàng nhận ra đó là cha mình. Gã luật sư nói to: “Không đủ chứng cớ”, rồi quay qua bảo Thérèse:
“Bà ra được rồi đấy. Chẳng có ai ngoài đây cả.”

Dòng cuối ở Chương XIII: Thérèse mỉm cười với chính mình, giống hệt như một người đàn bà hạnh phúc vẫn làm. Nàng chăm chú tô lại đôi môi, dặm lại đôi má phấn; Nàng xuống đường, bước những bước đi vô định giữa hè phố Paris”. (Bản dịch của T.Vấn).

Về nội dung tác với câu chuyện lấy bối cảnh ở Landes, một vùng dân cư thưa thớt ở tây nam nước Pháp, được bao phủ rộng khắp bởi những cánh rừng thông. Khởi đầu với vụ kiện đang bị bác bỏ. Người tường thuật, bị cáo Thérèse có địa vị, bị xét xử tội đầu độc chồng mình Bernard bằng cách cho ông uống Fowler’s Solution quá liều, thứ thuốc chứa thạch tín. Tuy có những bằng chứng vững vàng chống lại mình, bao gồm cả những toa thuốc cô giả mạo, vụ kiện bị ngừng lại; gia đình kết thúc các địa vị xã hội để tránh tai tiếng và bản thân Bernard cũng làm chứng cho lời biện hộ của cô. Trên đường từ tòa án về nhà, Thérèse nhìn lại cuộc sống của mình, cố gắng hiểu được điều gì đã khiến cô tiếp tục đầu độc chồng mình sau khi cô quan sát người chồng tình cờ uống thuốc quá liều…

Trong phần Bạt của Lê Hữu, tóm lược: “Tác phẩm nầy không phải là câu chuyện tình lâm ly, nhiều tình tiết gay cấn và hấp dẫn theo cách hiểu thông thường. Những trang tiểu thuyết có bối cảnh và khí hậu của những cánh rừng thông trầm mặc, phản ánh thế giới nội tâm của Thérèse và cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối”, thực chất là cuộc hôn phối của tài sản, gượng ép và buồn tẻ đến ngột ngạt.

Cuộc sống vô vị, không tình yêu, không lạc thú ái ân bên cạnh người chồng địa chủ tầm thường nhạt nhẽo, khác biệt tâm tánh và chẳng bao giờ hiểu được vợ mình. Trên cả nỗi “cô đơn”, ở Thérèse là nỗi trầm uất không tìm ra lối thoát, không cách nào giải tỏa. Khi cánh cửa hôn nhân đóng lại sau lưng, như kẻ mộng du, nàng tự bước vào chiếc lồng đã mở sẵn. Thérèse tự nguyện là “tù nhân của chính mình”, không đợi cho đến lúc người chồng tạo sự cô lập và giam hãm nàng vào “nhà tù” của ông như một cách trừng phạt tội lỗi nàng… Cũng giống như nhân vật Thérèse trong chương cuối của tác phẩm, nhân vật Jean của ngày xưa ấy, cũng tìm được chút hạnh phúc ở cuối đường”.

Raymond N. Mackenzie Giới Thiệu Tác Phẩm:
“… Câu chuyện về nhân vật Thérèse có gốc rễ sâu xa trong chính cuộc đời của Mauriac. Vào những năm 1905-1906, ở Bordeaux, báo chí hàng ngày ra rả về vụ tai tiếng liên quan đến Madame Henriette-Blanche Canaby. Bà này bị kết tội là đã mưu toan đầu độc chồng và giả mạo các toa thuốc kê khai những chất độc hại - Aconite (phụ tử), digitalis (mao địa hoàng), và Chloroform (chất gây mê). Chồng bà vốn đang được điều trị bằng một loại thuốc được bác sĩ kê toa hợp lệ, gọi là phương pháp điều trị Fowler – một loại thuốc nước tổng hợp, trong đó có một lượng nhỏ chất thạch tín (arsenic). Đột nhiên, ông chồng trở bệnh nặng hơn. Dần dà, các bác sĩ chẩn quyết là ông ta bị đầu độc bằng chất thạch tín. Nhưng bệnh nhân từ chối khẩu cung buộc tội vợ mình. Mặt khác, người ta không tìm thấy những loại chất độc khác trong cơ thể bệnh nhân.

Tất nhiên, toàn bộ những tình tiết này được Mauriac sử dụng trong câu chuyện nói về vụ đầu độc Bernard của tiểu thuyết Thérèse Desqueyroux. Madame Canaby được tha bổng tội danh âm mưu đầu độc chồng, nhưng bị án tù 15 tháng vì tội giả mạo công chứng thư. 20 năm sau, khi Mauriac sáng tác quyển tiểu thuyết của mình, rất nhiều những chi tiết - ngoại trừ việc bà Canaby bị phạt tù - đã tìm được cách có mặt trong quyển sách của Mauriac. Nhà văn đã chính thức xác Trong số những căn rễ của tiểu thuyết Thérèse Desqueyroux, chắc chắn có một hình ảnh - lúc tôi 18 tuổi, nhìn thấy trong một buổi xét xử ở tòa án - của một phụ nữ gầy ốm bị kết tội đầu độc chồng, đứng giữa hai viên cảnh sát. Tôi còn nhớ được những lời khai của các nhân chứng và đã sử dụng chi tiết về toa thuốc bị ngụy tạo mà bị cáo đã dùng để có được những độc chất cần thiết. Nhưng chỉ đến chỗ đó thôi. Tôi đã ngừng việc vay mượn từ đời thực ngay sau chi tiết này. Từ đó, dựa vào những gì mà thực tại chắp cánh cho trí tưởng tượng, tôi đã tạo nên một nhân vật hoàn toàn khác hẳn, phức tạp hơn nhiều. Động cơ phạm tội của bị cáo, theo những khuôn mẫu thông thường – nàng đã yêu một người đàn ông khác hơn chồng mình. Với nhân vật của tôi, hoàn toàn không phải như vậy. Bi kịch của Thérèse nằm ở chỗ chính nàng không biết điều gì đã khiến cho nàng thực hiện hành vi phạm tội.

Hiển nhiên, quyển tiểu thuyết của Mariac không đơn giản chỉ bê nguyên si hình mẫu Canaby rồi biến hóa cho phức tạp hơn: một số những tính cách cơ bản của Thérèse có thể xem như là hình thức tự họa (self-portrait) của tác giả. Lời Tựa của tác phẩm cho thấy tác giả biết rất rõ nhân vật của mình và đoạn trích từ Baudelaire mà tác giả dùng làm “đề từ” (epigraph) cũng hàm ý kêu gọi một sự thông cảm cho “sinh vật” (creature) mà chúng ta sắp sửa gặp. Mauriac thường nhắc đến mối quan hệ riêng của mình với Thérèse, đáng kể nhất là trong một bài báo ông viết năm 1935…”

(Dịch giả Raymond N. Mackenzie, giáo sư tại University of St. Thomas ở thành phố St. Paul, tiểu bang Minnesota. MacKenzie đã chuyển ngữ 3 tác phẩm của F. Mauriac: Thérèse Desqueyroux, God and Mammon và What Was Lost).

Trong phần Lời Tựa của T. Vấn:


“Mặc dù Mauriac không phải là người tranh đấu cho nữ quyền, nhưng cái cách ông tự đồng hóa mình với nhân vật chính Thérèse, một phụ nữ bị xã hội chung quanh điều khiển chặt chẽ, bị gia đình kiểm soát cho đến trọn đời và ở cả hai nơi ấy nàng không thể nào tìm ra được một ai để chia sẻ gánh nặng với mình. Mẹ chết khi nàng còn đỏ hỏn trong nôi; cha nàng bỏ bê con để có thể dành trọn thời gian cho những tham vọng vươn lên trong hoạt động chính trị; người cô Clara của nàng, có thể coi là một khuôn mặt người mẹ, rất tận tụy với đứa cháu mồ côi nhưng lại bị mất thính giác hoàn toàn. Thế giới chung quanh của Thérèse tuy ngột ngạt, khó thở nhưng những mối xúc cảm của cô vẫn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi mùi thơm của cây thông và phong cảnh đẫm ánh mặt trời của vùng Landes… 

Không có những câu trả lời chính xác. Thérèse đã phạm một tội ác và cô phải trải qua một tiến trình đau khổ để tự hiểu chính mình. Cô phải tự mình xác định sự hiện hữu của mình trong một thế giới, nơi đó, người phụ nữ chỉ có thể là mẹ, là vợ, là vú em hay gái điếm. Kết hôn với người chồng xem ra là một việc hết sức tự nhiên vì cô em gái của chồng là người bạn thân của cô thuở còn đi học. Là một cô gái trẻ tuổi, Anne có sức quyến rũ của sự hồn nhiên vô tội, nhưng cô bé cũng hết sức ngây thơ, do đó dễ dàng bị cái mã ngoài của Jean Azevedo chinh phục. Anh chàng này, tuy thùng rỗng kêu to, nhưng lại có một sức quyến rũ đặc biệt với Thérèse, vì anh ta giúp cho Thérèse nhận ra sự độc lập của mình và gợi ra cho nàng khả năng về một cuộc sống hoàn toàn khác ở Paris.

Thérèse là một kẻ chỉ biết yêu mình, làm ngạc nhiên cả gia đình vì sự thờ ơ ngay cả với đứa con mình rứt ruột đẻ ra, bé Marie. Và nếu nàng đồng thời cũng là một tên tội phạm, thì cũng đáng để được gợi nhớ rằng Mauriac đã gọi chính ngay việc sáng tạo ra tác phẩm này là một hành vi bạo lực. Cũng quan trọng không kém là chi tiết bất kể bản chất đam mê của Thérèse, thái độ phản kháng lại chồng của nàng không phải vì một người đàn ông khác; hành động của nàng là một ý đồ có tính cách bản năng và tuyệt vọng nhằm phá vỡ những giới hạn bao vây chung quanh sự hiện hữu của chính nàng. Tác phẩm được bắt đầu vào lúc gần cuối của câu chuyện, kể lại những đau khổ nàng đang gánh chịu, qua đó có lẽ nàng sẽ vươn tới được một mức độ mới trong nỗ lực tự hiểu biết mình.

Rất khôn ngoan, Mauriac đã không cố tìm câu trả lời cho những câu hỏi mà tác phẩm đặt ra. Ông đã để cho độc giả tự mình tìm ra một kết luận giữa sự bí hiểm của tác giả, qua hình ảnh nhân vật chính Thérèse bước vô định giữa hè phố Paris, chuẩn bị cho một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ của mình”.

Tác Phẩm Thérèse Desqueyroux qua bản dịch Người Vợ Cô Đơn của Mặc Đỗ năm 1956, bản dịch Cuộc Tình Buồn của Nguyễn Bích Như & Thu Uyên ở trong nước năm 1990, bản dịch Thérèse Desqueyroux của T.Vấn ở Mỹ năm 2022. (Trước đây, tôi “dị ứng” với cách dịch trong nước phiên âm tên nhân vật, Nguyễn Bích Như & Thu Uyên không làm điều đó). Về văn phong qua 3 bản dịch tùy theo cảm nhận của độc giả nhưng (riêng cá nhân tôi) đắc ý với bản dịch của T.Vấn.

Đầu năm 2023, T.Vấn còn cho ra mắt tác phẩm dịch “Chỉ Là Nỗi Đam Mê” [Passion Simple (1991)] của Annie Ernaux, dựa trên bản Anh ngữ của Tanya Leslie. Nhà văn nữ người Pháp Annie Ernaux, đoạt giải Nobel Văn Chương 2022.

Ở đây, tôi chỉ đề cập thuần túy về lãnh vực văn học trong tình đồng môn & bạn văn.

Bài nầy được viết nhân dịp ngày giỗ đầu tiên của chị Kim Oanh và với niên đệ nhân kỷ niệm 50 năm ngày Khóa Nguyễn Trãi III ra trường (1973-2023).

Little Saigon, tháng 1 năm 2023
Vương Trùng Dương