Tháng Tám về, trăng tròn trước ngõ. Mỗi khi nhìn lên vầng trăng ấy, tôi lại nhớ đến một mùa Trung Thu rất xa, một mùa Trung Thu mà đến tận bây giờ, dù đã đi qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn không thể nào quên. Năm đó, ba vừa ra khỏi trại cải tạo.
Ngày ba trở về, cả nhà tôi vui lắm. Ba gầy đi nhiều, mái tóc đã pha vài sợi bạc. Những năm tháng trong trại đã để lại trên người ba nhiều dấu vết mà một đứa trẻ như tôi khi ấy chưa đủ hiểu để gọi tên. Tôi chỉ biết ba thường ngồi rất lâu ngoài hiên, đôi khi đưa tay xoa lên đầu, rồi nhìn xa xăm như đang nhớ về một nơi nào đó rất xa. Nhưng với tôi, điều quan trọng nhất là ba đã về.
Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đón Trung Thu có ba ở nhà. Những năm trước, Trung Thu đối với lũ trẻ trong xóm là một ngày hội. Đứa nào cũng có lồng đèn. Đứa thì lồng đèn ngôi sao, đứa có lồng đèn bánh ú, đứa khá hơn thì có những chiếc lồng đèn mua ngoài chợ, đủ màu sắc. Còn tôi, nhà nghèo, chẳng có tiền mua lồng đèn.
Có năm, tôi dành dụm mãi mới mua được hai lon sữa bò đã uống hết ở quán cà phê dưới xóm. Tôi đem về, dùng đinh đục những hàng lỗ nhỏ chung quanh thân lon. Tôi lấy những thanh tre nhỏ nẹp lại làm bánh xe, rồi kiếm một miếng vải, nhúng dầu lửa và gắn vào bên trong lon làm đèn.
Mỗi khi đẩy đi, chiếc lon lăn, va vào nhau phát ra tiếng leng keng, leng keng. Ánh lửa nhỏ chập chờn trong lon, lúc sáng lúc tối theo từng bước chân. Tôi cứ vừa đẩy chiếc lồng đèn tự chế ấy, vừa chạy lon ton theo đám trẻ trong xóm, lòng vui như thể mình đang có một chiếc lồng đèn đẹp nhất.
Vậy mà Trung Thu năm ấy, tôi không còn phải chắt chiu từng đồng để mua lon sữa làm lồng đèn nữa. Vì năm ấy, ba đã trở về và tự tay làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn cá chép, chiếc lồng đèn lớn nhất và cũng là chiếc lồng đèn đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ của tôi.
Ba tôi nói:
- Để ba làm cho mấy đứa một cái lồng đèn.
Tôi nhìn ba, bán tín bán nghi. Tôi chưa bao giờ thấy ba làm lồng đèn.
Vài tuần trước Trung Thu, ba sang nhà hàng xóm xin mấy cây tre. Người ta cho ba vài cây tre khô, ba vác về đặt trước sân rồi ngồi xuống, lấy rựa cẩn thận róc từng nhánh tre. Tôi ngồi bên cạnh, tò mò nhìn đôi bàn tay ba thoăn thoắt làm việc. Ba chẽ những thân tre thành từng thanh nhỏ, lựa những đoạn vừa dẻo vừa chắc rồi uốn cong thành những vòng tròn lớn nhỏ khác nhau. Ba dùng những sợi dây lạt buộc chặt từng mối nối, kiên nhẫn ghép vòng này với vòng kia. Một vòng. Rồi hai vòng. Rồi thêm nhiều vòng nữa.
Những vòng tre nối tiếp nhau, dần dần tạo thành một bộ khung kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi ngồi nhìn hồi lâu, càng nhìn càng thấy tò mò, không biết ba đang định làm thứ gì. Cuối cùng, không nhịn được, tôi ngước lên hỏi:
- Ba làm lồng đèn gì vậy?
Ba cười:
- Lồng đèn cá chép.
Tôi ngạc nhiên hơn bởi tôi chưa bao giờ thấy con cá nào được làm từ những vòng tròn như vậy.
Ba kiên nhẫn nối những vòng tròn lại với nhau. Dần dần, một bộ xương cá hiện ra trước mắt tôi. Có đầu cá, thân cá, rồi đến đuôi. Hai bên là những chiếc vây được uốn cong bằng tre. Tôi ngồi nhìn say mê.
Trong mắt tôi lúc đó, ba giống như một người thợ tài hoa nhất trên đời. Nhưng làm được bộ khung chỉ mới là một nửa câu chuyện.
Ba nhìn chiếc khung rồi nói:
- Giờ thiếu giấy.
Nhà tôi nghèo. Tiền mua gạo còn phải tính từng bữa, nói gì đến chuyện mua giấy màu làm lồng đèn. Ba định xin những bao xi măng cũ của những nhà đang xây cất trong xóm về lấy mặt giấy bên trong dán lên khung lồng đèn. Nhưng chờ mãi, cả xóm chẳng thấy nhà nào xây cất, trong khi ngày Trung Thu cứ mỗi lúc một gần. Một buổi chiều, khi ba đang ngồi bên bộ khung cá chép còn trơ những vòng tre, ba nhìn tôi rồi nói:
- Con đi học về, thấy giấy nào người ta bỏ thì gom về cho ba.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Giấy gì cũng được hả ba?
Ba cười, giọng nhẹ tênh:
- Ừ, miễn là còn dán được.
Chỉ một câu nói đơn giản vậy thôi mà từ hôm đó, sau tiếng trống tan trường, tôi không còn vội chạy về nhà như mọi ngày. Tôi bắt đầu đi tìm giấy cho ba. Tôi đi từng lớp học, từng phòng học, len qua từng dãy bàn, rồi cúi xuống mở từng hộc bàn để tìm những thứ người khác đã bỏ quên. Những tờ giấy học trò nhàu nát, những trang vở xé dở, những bài kiểm tra cũ, những mảnh giấy chỉ còn một nửa, thậm chí cả những chiếc máy bay giấy bị vò nhàu sau những lần phóng ra cửa sổ... tôi đều nhặt. Có những tờ giấy còn một mặt trắng, tôi cẩn thận vuốt phẳng rồi xếp riêng. Có những tờ đã bị vò đến nhăn nhúm, tôi vẫn nhặt lên, dùng bàn tay nhỏ của mình miết đi miết lại cho bớt nhàu. Những chiếc máy bay giấy nằm dưới sân, tôi cũng nhặt về, tháo từng nếp gấp rồi đem theo. Trong mắt người khác, đó chỉ là những mảnh giấy vụn chẳng còn giá trị, nhưng trong mắt tôi lúc ấy, mỗi mảnh giấy đều quý giá, bởi tôi biết chúng sẽ trở thành một phần của chiếc lồng đèn cá chép mà ba đang ngày đêm làm cho anh em tôi.
Có những hôm tôi phải ở lại sau giờ học để chờ đến lúc các bạn làm vệ sinh lớp. Khi tiếng trống báo hết tiết vang lên, lũ trẻ ùa ra sân, còn tôi lại lặng lẽ ở lại phía sau. Tôi đi dọc theo từng hàng bàn, cúi xuống nhặt những mảnh giấy nằm dưới chân ghế, trong góc lớp, sau cánh cửa hay mắc lại đâu đó trong những chiếc hộc bàn. Có hôm, tôi đi hết phòng này sang phòng khác, tay ôm một xấp giấy nhàu nát mà lòng vui không tả được. Tôi cứ tưởng tượng đến lúc mang chúng về, ba sẽ lấy từng tờ ra lựa chọn, vuốt phẳng rồi dán lên thân con cá chép. Tôi nghĩ đến ngày Trung Thu, khi chiếc lồng đèn hoàn thành, tôi sẽ được đứng bên ba nhìn nó sáng lên giữa sân nhà.
Một hôm, cô giáo đi ngang qua thấy tôi đang lúi húi nhặt giấy dưới một dãy bàn. Cô dừng lại hỏi:
- Con tìm gì vậy?
Tôi giựt nảy mình, rồi ngẩng đầu lên nhìn cô giáo. Hai tay vẫn đang ôm một xấp giấy vụn, rồi thật thà trả lời:
- Dạ con đi lượm giấy đem về cho ba làm lồng đèn Trung Thu.
Cô nhìn tôi một lúc, rồi nhìn xuống những mảnh giấy trong tay tôi. Cô mỉm cười, không hỏi thêm gì, chỉ nhẹ nhàng nói:
- Vậy con cứ nhặt đi.
Từ hôm đó, tôi càng chăm chỉ đi lượm giấy hơn. Tôi không còn thấy những mảnh giấy nằm dưới gầm bàn là rác nữa. Tôi thấy trong đó có hình dáng của một con cá chép đang chờ được hoàn thành, có ánh sáng của đêm Trung Thu đang đến gần, và có cả niềm vui của một đứa trẻ lần đầu tiên được đón Tết Trung Thu bên người cha vừa trở về sau những năm tháng xa nhà.
Mỗi buổi chiều, tôi lại ôm túi giấy vụn chạy về nhà, lòng háo hức chờ ba đi rẫy trở về. Vừa thấy bóng ba thấp thoáng ngoài con đường đất, tôi đã chạy ào ra, đặt xấp giấy mình nhặt được suốt cả ngày trước mặt ba rồi hí hửng khoe:
- Ba ơi, hôm nay con lượm được nhiều lắm!
Ba ngồi xuống bên hiên, đón lấy xấp giấy từ tay tôi, chậm rãi mở ra và lựa từng tờ. Tờ nào còn nguyên, ba vuốt phẳng. Tờ nào nhàu quá, ba kiên nhẫn dùng bàn tay chai sạn miết đi miết lại. Những mảnh giấy nhỏ, rách hoặc không còn nguyên vẹn, ba cũng không bỏ. Ba chưa bao giờ chê chúng quá cũ, quá nhàu hay quá rách. Ba chỉ lặng lẽ lựa từng mảnh, như thể mỗi thứ tôi mang về đều là một món quà quý giá. Tôi ngồi bên cạnh, nhìn đôi bàn tay từng trải của ba nâng niu những mảnh giấy học trò, và trong tâm hồn non nớt của mình khi ấy, tôi chợt hiểu rằng những thứ người khác bỏ đi, qua bàn tay ba, vẫn có thể trở thành một điều gì đó thật đẹp.
Đến khi gom được đủ giấy, ba bắt đầu làm lồng đèn. Ba lấy bột quậy với nước rồi nấu sôi thành một thứ hồ dán đơn sơ, rồi mấy cha con tôi xúm xít bên nhau quanh bộ khung cá chép bằng những vòng tre. Ba phết từng lớp hồ lên mặt giấy, rồi nhẹ nhàng đặt lên khung. Tôi phụ ba giữ những góc giấy. Anh tôi chuyền từng mảnh giấy nhỏ. Không có giấy màu mới, cũng chẳng có keo dán tốt như những chiếc lồng đèn bán ngoài chợ, chúng tôi chỉ có những tờ giấy học trò đã qua tay người khác, những mảnh giấy nhàu nát tôi nhặt được sau giờ học và bộ khung tre ba đã kỳ công uốn từng vòng. Vậy mà dưới bàn tay ba, từng mảnh giấy cứ lần lượt nối vào nhau, miếng này chồng lên miếng kia, chỗ rách được che lại bằng một mảnh khác, chỗ trống được ba kiên nhẫn vá vào. Thân cá trống rỗng ngày nào dần dần có da có thịt, có đầu, có thân, có vây, có đuôi. Mỗi ngày nhìn nó lớn thêm một chút, tôi lại thấy trong lòng mình nôn nao một niềm vui khó tả. Tôi không chỉ chờ chiếc lồng đèn hoàn thành. Tôi chờ một mùa Trung Thu đầu tiên có ba bên cạnh.
Rồi Trung Thu cũng đến. Trước ngày rằm vài hôm, chiếc lồng đèn cá chép cuối cùng cũng hoàn thành. Ba treo nó giữa sân, tôi đứng bên cạnh nhìn mà ngỡ ngàng. Nó lớn hơn rất nhiều so với những chiếc lồng đèn mà tôi từng thấy, lớn đến mức tôi biết chắc mình không thể cầm nó đi rước đèn cùng đám trẻ trong xóm. Tôi ngước nhìn ba rồi hỏi:
- Ba, mình đem nó đi đâu?
Ba cười hiền:
- Không đem đi đâu hết. Treo trước sân cho tụi con chơi.
Ba lấy sợi dây buộc chiếc cá chép lên cao, ngay trước hiên nhà. Khi trời vừa sụp tối, ba thắp ngọn đèn bên trong. Một quầng sáng ấm áp từ bụng cá lan ra, xuyên qua những lớp giấy học trò chắp vá, làm hiện lên những đường nhăn, những vết gấp và cả những mảnh giấy tưởng chừng đã bị cuộc đời bỏ quên. Vậy mà dưới ánh đèn, tất cả bỗng trở nên lung linh. Đúng lúc ấy, một cơn gió từ ngoài đồng thổi qua. Chiếc đuôi cá khẽ ngoe nguẩy, hai chiếc vây rung rinh, cả thân cá chao nhẹ như đang bơi giữa một dòng sông ánh sáng. Tôi đứng nhìn không chớp mắt. Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác ba đã không chỉ làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn, mà đã dùng đôi bàn tay của mình để làm nên cả một thế giới tuổi thơ.
Tiếng trẻ con ngoài đường mỗi lúc một gần. Một đứa nhìn thấy chiếc cá chép liền gọi to:
- Qua coi lồng đèn nhà thằng Chút kìa. Cái lồng đèn con cá bự tổ bố.
Rồi đứa này kéo đứa kia, chẳng bao lâu trước sân nhà tôi đã đầy những đứa trẻ trong xóm. Những chiếc lồng đèn ngôi sao, bánh ú đủ màu đang rước đèn ngang qua cũng lần lượt dừng lại. Đám trẻ đứng chen nhau dưới sân, ngước cổ nhìn con cá chép khổng lồ đang đung đưa trong gió. Chẳng đứa nào muốn đi tiếp. Có đứa trầm trồ, có đứa chạy vòng quanh, có đứa cứ đứng nhìn mãi chiếc đuôi cá đang phe phẩy như thật. Ánh trăng rằm từ trên cao rót xuống sân, hòa cùng ánh sáng từ những chiếc lồng đèn nhỏ trong tay bọn trẻ và ánh đèn vàng ấm áp trong bụng con cá. Đêm Trung Thu năm ấy, trước sân nhà tôi sáng rực như một khoảng trời riêng. Tôi đứng bên cạnh ba, lòng đầy tự hào. Ba không nói gì, chỉ đứng lặng lẽ nhìn chiếc lồng đèn do chính tay mình làm ra. Tôi quay sang nhìn ba và bắt gặp một nụ cười rất hiền trên gương mặt đã hằn nhiều dấu vết của những năm tháng xa nhà. Tôi không biết lúc ấy ba đang nghĩ gì, chỉ biết rằng nụ cười ấy đã ở lại trong ký ức tôi suốt cả cuộc đời.
Nhiều năm đã trôi qua. Nhưng mỗi khi tháng Tám trở về, mỗi khi nhìn thấy vầng trăng tròn treo trước ngõ, tôi lại nhớ đến những buổi chiều năm ấy. Tôi nhớ những hộc bàn mình từng cúi xuống tìm từng mảnh giấy, nhớ những giờ vệ sinh ở lại sau cùng để nhặt những thứ người khác bỏ đi, nhớ tiếng bước chân mình chạy trên con đường đất mỗi chiều để mang túi giấy về cho ba. Và hơn hết, tôi nhớ đôi bàn tay chai sạn của ba, đôi bàn tay đã nhặt nhạnh, uốn nắn, chắp vá và biến những thứ tưởng như chẳng còn giá trị thành một chiếc lồng đèn đẹp đẽ.
Ngày ấy, tôi chỉ nghĩ ba làm cho chúng tôi một chiếc lồng đèn để đón Trung Thu. Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu rằng chiếc lồng đèn cá chép ấy chưa bao giờ chỉ là một món đồ chơi. Nó được làm từ những cây tre xin được, những mảnh giấy người ta bỏ đi, thứ hồ dán đơn sơ và đôi bàn tay đã trải qua quá nhiều nhọc nhằn của ba. Nó được kết lại bằng tình thương của một người cha vừa trở về với gia đình sau những năm tháng xa cách. Ba đã không có tiền để mua cho chúng tôi một chiếc lồng đèn đẹp như những đứa trẻ khác, nên ba đã dùng tất cả những gì mình có để tự tay làm một cái. Và có lẽ, chính vì được làm từ những điều nghèo khó nhất mà nó lại trở thành món quà giàu có nhất trong tuổi thơ tôi.
Bây giờ, tôi không còn nhớ những chiếc lồng đèn ngôi sao hay bánh ú năm ấy đẹp đến mức nào. Tôi cũng không nhớ chiếc lồng đèn cá chép đã có bao nhiêu mảnh giấy, bao nhiêu vòng tre hay được treo ở đó bao nhiêu mùa Trung Thu. Tôi chỉ nhớ hình ảnh con cá chép lắc lư trong gió dưới ánh trăng rằm, nhớ lũ trẻ đứng kín trước sân và nhớ ba đứng phía sau, lặng lẽ mỉm cười. Có những món quà rồi sẽ cũ, có những thứ rồi sẽ mất đi theo năm tháng, nhưng tình thương mà người ta gửi vào một món quà thì không bao giờ mất. Cái lồng đèn cá chép năm ấy được làm từ tre, giấy vụn và ánh sáng, nhưng bơi suốt một đời trong dòng sông ký ức của tôi.
Võ Phú


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét