Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác "Nhạc phủ cung từ" rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có "Vương tư mã tập".
Lời phi lộ
Đầu đề của bài thơ là Nói lúc nhàn, nhưng độc giả lại hiểu là Ta Nói Cho Mà Nghe. Vậy thì hãy lắng nghe ông nói từng câu cho thấm thía.
Nguyên tác Dịch âm
閒說 Nhàn Thuyết
桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ qúi
王侯家為牡丹貧 Vương Hầu gia vi mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng mi tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân
Chú giải:
Châu: cồn, bãi sông.
Duyên: cơ duyên, nhân vì.
Vi: làm
Đầu: hàng đầu.
Biến: khắp cả.
Mấn: tóc mai.
Phân: chia ra.
Cổ động: khua động, nhộn nhịp.
Nhai: đường phố chính.
Thị: ấy là.
Câu 3: châu Tần Lũng chỉ quí vì có chim anh vũ.
Câu 4: Vương Hầu nghèo vì ham mê hoa mẫu đơn.
Dịch thơ
Nói lúc nhàn
Hoa đào vạn lá chẳng thành xuân.
Hạc sống ngàn năm cũng chửa thần.
Tần Lũng xưa vì anh vũ qúi.
Vương Hầu nay do mẫu đơn bần.
Bài ca điệu múa thay từng lúc.
Mái tóc chân mày đổi mỗi lần.
Diễu ngựa chật đường qúa nhộn nhịp,*
Gặp nhau một lũ học ngông cuồng
* Một câu (nguyên bản và câu dịch) có 6 chữ vần trắc để tả bọn ngông cuồng cỡi ngựa quần thảo ở giữa đường.
Lời bàn:
Theo đầu đề (Nói lúc nhàn) thì có vẻ một bài thuật chuyện nhưng thân bài (tất cả 8 câu) rõ ràng là châm biếm. Thử duyệt lại toàn bài xem sao nhé:
- Dù cây đào có trổ vạn lá cũng chưa làm nên mùa xuân.
- Dù con hạc có sống ngàn năm cũng chưa được gọi là thần.
- Đất Lũng Châu sở dĩ qúy vì có chim anh vũ (con vẹt).
- Nhà Vương Hầu chỉ vì mê hoa mẫu đơn nên trở thành nghèo.
- Bài ca điệu múa (muốn hay thì phải) thay đổi từng lúc.
- Mái tóc (tuy xanh), chân mày (tuy đẹp) nhưng sẽ xấu đi mỗi lần.
- Hỡi bọn cuồng ngông kia! Chúng bay diễu ngựa nhộn nhịp ở đây (học ngông cuồng) có biết những lẽ đó hay không?
Con Cò
***
Tán Gẫu
Trăm cánh hoa đào chẳng hóa xuân
Ngàn năm hạc nôi chửa nên thần
Bãi Tần quý bởi chim anh vũ
Dinh chúa nghèo vì đám mẫu đơn
Điệu múa, giọng ca thay lúc lúc
Nét mi kiểu tóc mới lần lần
Trống rung sáu nẻo ngựa phi xuất
Gặp gỡ học đòi thói ngạo nhân
Lộc Bắc
Fev26
***
Nhàn phiếm
Xuân thắm nào cần đào trổ bông
Uy nghiêm mặc kệ hạc nghìn hồng
Nhiễu nhương Tần Lũng vì chim quý
Vương tước thành nghèo bởi mẫu đơn
Ca hát múa may thay đổi chán
Tóc tai mặt mũi kiểu khoa trương
Trống vang kỵ mã từ muôn hướng
Tụ họp vui chơi thói sống cuồng
Thanh Vân
***
Đồng ý với anh Tâm là bài chữ Hán của anh Bảo sai từ cái đầu đề. Chữ đầu tiên là NHÀN, không phải VĂN.
Chữ thứ tư, câu 4 là VỊ, không phải VI.
Chữ thư tư, câu 6 là Tâm, không phải PHÂN.
Cám ơn anh Tâm đã cho biết Bách Diệp là loài hoa có nhiều cánh, không đẹp, không đại diện cho mùa xuân.
Còn hoa Mẫu Đơn là hoa gì thì anh Tâm và anh Giám cũng đã giải thích.
Theo truyền thuyết, thì vào mùa đông, Vũ Tắc Thiên đi dạo vườn thượng uyển, ra lệnh ngày hôm sau, các loài hoa phải nở. Quả nhiên, trăm hoa đua nở, trừ Mẫu Đơn, nên nữ hoàng ra lệnh đầy hoa này tới Lạc Dương. Năm sau, Mẫu đơn nở rất đẹp, bà giận quá ra lệnh đốt hết. Ngờ đâu, hoa không chết mà năm sau lại nở đẹp vô vàn. Theo Google, thì Mẫu đơn là Peony, là loài mà mình gọi là Phù Dung, bông lớn, nhiều màu tươi thắm.
Ngoài ra, còn vài chữ khó:
- Duyên là nguyên cớ, vòng quanh.
- Anh vũ là con vẹt. (phương thảo thê thê anh vũ châu)
- Nhai là con đường.
- Cổ là cái trống.
Tác giả Vương Kiến GIẢNG NHÀN mà sao vất vả, khổ sở quá, chẳng thấy nhàn đâu cả: Hoa chẳng thành xuân, hạc chửa thành thần, Tần Lũng đẹp vì vẹt, người giàu ham chơi hoa sang mà thành nghèo, ca vũ phải đổi luôn, trang điểm khác mỗi ngày cho thêm đẹp, tụi trẻ khua trống, cưỡi ngựa túa ra đường, toàn bắt chước vẻ điên cuồng, hợm hĩnh..
Giảng Nhàn
Đào hoa trăm cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống nghìn năm chửa biến thần,
Tần Lũng quý vì chim anh vũ,
Mẫu đơn thích quá khiến nghèo dần,
Giọng ca, điệu múa thường đổi khác,
Kiểu tóc, làn mi sửa mỗi lần,
Trống động sáu đường phi ngựa tới,
Thấy toàn một bọn học cuồng nhân.
Bát Sách.
(Ngày 05/03/2026)
***
Nhàn phiếm
Xuân thắm nào cần đào trổ bông
Uy nghiêm mặc kệ hạc nghìn hồng
Nhiễu nhương Tần Lũng vì chim quý
Vương tước thành nghèo bởi mẫu đơn
Ca hát múa may thay đổi chán
Tóc tai mặt mũi kiểu khoa trương
Trống vang kỵ mã từ muôn hướng
Tụ họp vui chơi thói sống cuồng
Thanh Vân
***
Đồng ý với anh Tâm là bài chữ Hán của anh Bảo sai từ cái đầu đề. Chữ đầu tiên là NHÀN, không phải VĂN.
Chữ thứ tư, câu 4 là VỊ, không phải VI.
Chữ thư tư, câu 6 là Tâm, không phải PHÂN.
Cám ơn anh Tâm đã cho biết Bách Diệp là loài hoa có nhiều cánh, không đẹp, không đại diện cho mùa xuân.
Còn hoa Mẫu Đơn là hoa gì thì anh Tâm và anh Giám cũng đã giải thích.
Theo truyền thuyết, thì vào mùa đông, Vũ Tắc Thiên đi dạo vườn thượng uyển, ra lệnh ngày hôm sau, các loài hoa phải nở. Quả nhiên, trăm hoa đua nở, trừ Mẫu Đơn, nên nữ hoàng ra lệnh đầy hoa này tới Lạc Dương. Năm sau, Mẫu đơn nở rất đẹp, bà giận quá ra lệnh đốt hết. Ngờ đâu, hoa không chết mà năm sau lại nở đẹp vô vàn. Theo Google, thì Mẫu đơn là Peony, là loài mà mình gọi là Phù Dung, bông lớn, nhiều màu tươi thắm.
Ngoài ra, còn vài chữ khó:
- Duyên là nguyên cớ, vòng quanh.
- Anh vũ là con vẹt. (phương thảo thê thê anh vũ châu)
- Nhai là con đường.
- Cổ là cái trống.
Tác giả Vương Kiến GIẢNG NHÀN mà sao vất vả, khổ sở quá, chẳng thấy nhàn đâu cả: Hoa chẳng thành xuân, hạc chửa thành thần, Tần Lũng đẹp vì vẹt, người giàu ham chơi hoa sang mà thành nghèo, ca vũ phải đổi luôn, trang điểm khác mỗi ngày cho thêm đẹp, tụi trẻ khua trống, cưỡi ngựa túa ra đường, toàn bắt chước vẻ điên cuồng, hợm hĩnh..
Giảng Nhàn
Đào hoa trăm cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống nghìn năm chửa biến thần,
Tần Lũng quý vì chim anh vũ,
Mẫu đơn thích quá khiến nghèo dần,
Giọng ca, điệu múa thường đổi khác,
Kiểu tóc, làn mi sửa mỗi lần,
Trống động sáu đường phi ngựa tới,
Thấy toàn một bọn học cuồng nhân.
Bát Sách.
(Ngày 05/03/2026)
***
Nguyên tác: Phiên âm:
閑說-王建 Nhàn Thuyết - Vương Kiến
桃花百葉不成春 Đào hoa bách diệp bất thành xuân
鶴壽千年也未神 Hạc thọ thiên niên dã vị thần
秦隴州緣鸚鵡貴 Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
王侯家為牡丹貧 Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
歌頭舞遍回回別 Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
鬢樣眉心日日新 Mấn dạng my tâm nhật nhật tân
鼓動六街騎馬出 Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
相逢總是學狂人 Tương phùng tổng thị học cuồng nhân
Bài thơ có mộc bản trong các sách:
Vương Tư Mã Tập - Đường - Vương Kiến 王司马集-唐-王建
Doanh Khuê Luật Tủy - Nguyên - Phương 瀛奎律髓-元-方回
Hồi Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐诗-清-圣祖玄烨
Dị bản:
Hán bản bên trên là nguyên tác chép từ sách Vương Tư Mã Tập của Vương Kiến. NĐTĐT đời Thanh cho 2 dị bản:
tựa là Văn Thuyết 聞說 thay vì Nhàn Thuyết 閑說
câu 6: phân 分 thay vì tâm 心
Giải nghĩa:
Nhàn thuyết: chỉ những cuộc nói chuyện bình thường, những lời nói vô nghĩa, và những từ không liên quan.
Bách diệp: loại hoa đào có nhiều lớp cánh (đào bích). Tác giả cho rằng loại hoa biến dị, phô trương này không đại diện cho cái thần thực sự của mùa xuân.
Vị thần: chưa phải là thần diệu, chưa đạt đến cảnh giới linh thiêng.
Tần, Lũng: một vùng địa lý, chỉ khu vực bao gồm các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc ngày nay. Tần chỉ lãnh thổ nước Tần cổ đại và khu vực tập trung quanh Thiểm Tây trong các thế hệ sau, trong khi Lũng chỉ vùng phía tây dãy núi Lũng Sơn (nay là phía đông Cam Túc và các khu vực khác). Hai vùng này liền kề nhau và thường được gọi chung là Tần Lũng, một thuật ngữ thường thấy trong các tài liệu lịch sử và văn bản địa lý.
Tần Lũng: các vùng đất phía Tây (nay thuộc Thiểm Tây, Cam Túc) là nơi có nhiều chim vẹt quý.
Anh vũ: chim vẹt. Ý nói vì vẹt quý mà vùng đất này bị chú ý và khai thác quá mức.
Mẫu đơn bần: nghèo vì chơi hoa mẫu đơn rất tốn kém. Theo anh Hoàng Xuân Thảo, hoa mẫu đơn chỉ được đem vào Trung Hoa vào cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất quý giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả.
Ca đầu: phần mở đầu của toàn bộ bài hát, có vai trò thiết lập giai điệu và dẫn dắt toàn bộ bài hát, và chủ yếu được nhìn thấy trong các tác phẩm cổ của Nhạc Phủ
Ca đầu vũ biến: các điệu nhạc, điệu múa trong cung đình hoặc phủ.
Hồi hồi biệt: mỗi lần mỗi khác, thay đổi xoành xoạch để chạy theo cái mới.
My tâm: giữa hai lông mày.
Mấn dạng my tâm: cách búi tóc và kẻ chân mày.
Lục nhai: sáu con đường chính ở kinh thành Trường An.
Học cuồng nhân: bắt chước những kẻ ngông cuồng, phóng đãng.
Dịch nghĩa:
Nhàn Thuyết Phiếm Bàn (Lời Nói Khi Nhàn Rỗi)
Đào hoa bách diệp bất thành xuân
Đào nhiều cánh không tạo ra vẻ đẹp tự nhiên của mùa xuân,
Hạc thọ thiên niên dã vị thần
Hạc sống ngàn năm nhưng cũng chưa hẳn đã có thần khí.
Tần Lũng châu duyên anh vũ quý
Vùng Tần, Lũng vì có giống vẹt quý mà trở nên nhiễu nhương,
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Nhà vương hầu vì chơi hoa mẫu đơn mà hóa ra nghèo khó.
Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt
Điệu hát khúc múa thay đổi liên tục chẳng lần nào giống lần nào,
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân
Kiểu tóc, dáng mày ngày ngày lại thay đổi theo mốt.
Cổ động lục nhai kỵ mã xuất
Tiếng trống vang lên, người cưỡi ngựa từ sáu ngả đường tuôn ra,
Tương phùng tổng thị học cuồng nhân
Gặp nhau toàn là những kẻ đua đòi theo thói ngông cuồng.
Bình luận:
Bài Nhàn Thuyết của Vương Kiến là một bức tranh trào phúng, phê phán sự xa hoa phù phiếm và thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ.
Trong bài thơ Nhàn Thuyết, phong cách trào phúng của Vương Kiến không trực diện, ồn ào mà mang tính châm biếm ngầm, sâu cay qua việc quan sát những nghịch lý trong đời sống. Tóm lại, trào phúng của Vương Kiến trong bài này là kiểu trào phúng phong hóa (châm biếm thói đời). Ông không dùng những từ ngữ thô tục hay gay gắt, mà dùng sự đối lập giữa "cái danh" và "cái thực" để lột trần sự suy đồi của xã hội thời vãn Đường. Ông phê phán qua quan sát và nhận xét thói đời hơn là áp đặt các giá trị luân lý thông thường.
Bài thất ngôn bát cú luật thi, hoàn chỉnh về hình thức, đặc sắt là phần đối xứng trong luật thi về từ, thanh và ý:
Cặp câu 3 và 4:` Tần Lũng châu duyên anh vũ quý đối với:
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần
Cặp câu 5 và 6: Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt đối với:
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân
Dịch thơ:
Nhàn Phiếm
Hoa đào nhiều cánh chẳng thành xuân,
Hạc sống ngàn năm không hóa thần.
Tần Lũng vẹt khôn nên khổ lụy,
Vương hầu thích mẫu phải đơn bần.
Điệu múa câu ca luôn đổi mới,
Chân mày búi tóc kẻ bao lần.
Sáu ngã trống dồn người ngựa ruổi,
Gặp nhau một lũ học cuồng nhân.
Việc dịch mẫu đơn bần thành mẫu…đơn bần, nhằm nhấn mạnh nghịch lý giữa sự sang trọng của hoa và sự khánh kiệt của chủ nhân.
Cụm từ học cuồng nhân được giữ nguyên trong bài dịch thất ngôn vì đây là linh hồn của bài thơ - mỉa mai sự đua đòi, bắt chước một cách mù quáng.
Translation:
Idle Talk by Wang Jian is a sharp social satire from the Tang Dynasty. The poet was famous for his "Palace Ballads," and here he uses his observant eyes to mock the superficiality of the elite.
A hundred-petaled peach bloom does not make a spring,
A thousand-year-old crane is not yet divine
The Qin and Long regions suffer because parrots are prized,
Princely houses grow poor from a love of peonies.
Song leads and dance steps change every single time,
Hair styles and eyebrow shapes are refreshed day by day.
As drums stir the six streets, they gallop out on horseback,
Only to meet others who are all busy acting like madmen.
Commentary on Satirical Style
Wang Jian's satire is observational rather than moralistic. He doesn't tell the reader that these people are "evil"; he simply shows the absurdity of their actions.
The phrase Learning from madmen (Học cuồng nhân) is the most biting part of the poem. In Chinese tradition, "madness" was often associated with genuine, unbridled genius (like the poet Li Bai). By saying people are "learning" it, Wang Jian exposes them as phonies—they are performing a role rather than living a truth. It is a timeless critique of "clout-chasing" that feels remarkably modern.
***
Góp ý:
Bài ca điệu múa muốn hay phải thay đổi luôn luôn, cũng vậy dung nhan muốn đẹp thì bới tóc, kẻ lông mày cũng phải làm mỗi ngày.
Tần Lĩnh nằm giữa lưu vực hai sông Hoàng Hà và Dương Tử nổi tiếng vì có loài chim anh vũ, bây giờ thì nổi tiếng vì có loài gấu trúc. Hoa mẫu đơn chỉ được đem sang Trung quốc từ cuối nhà Chu, tới nhà Đường mới chỉ được trồng trong các vườn ngự uyển nên rất qúy giá, chỉ các bậc vương hầu mới đủ tiền mà chơi và trồng hoa này thôi. Hoa mẫu đơn thời đó được coi là hoa vương giả, tượng trưng cho phú qúy và được gọi là “Thiên hạ chân hoa độc.” Thú cuồng hoa mẫu đơn, tranh nhau mua với bất cứ giá nào đã khiến nhà thơ Vương Cốc phải than trong bài thơ “Mẫu Đơn” rằng, “Mẫu đơn yêu diễm loạn nhân tâm/ Nhất quốc như cuồng bất tích kam/kim...” Mãi sang tới đời Tống thì thú chơi hoa này mới lan tràn cả trong dân chúng khắp nước và nơi trồng nhiều và có nhiều lọai hoa đẹp nhất là tại kinh đô Lạc Dương. Hiện nay tại Lạc Dương hàng năm vẫn có lễ hội Mẫu Đơn vào mùa xuân.
Hoàng Xuân Thảo
***
Huỳnh Kim Giám Góp ý:
閒說=Nhàn Thuyết
Tựa đề của bài thơ là Nhàn Thuyết, không phải Văn Thuyết (đã chỉnh lại, tk). Hai câu đầu của bài thơ đã biến thành một loại thành ngữ cho khái niệm ảo giác và vô thường của cuôc đời.
Âm nhàn có nhiều lối viết thời kim văn (không tìm thấy trong giáp cốt văn) và được viết với bộ 門=môn và dùng các chữ 月=nguyệt (nguyệt lai môn hạ nhàn), 夕=tịch (hội ý), hay 外=ngoại (hài thanh), với một dạng cổ 𨳢). Từ 聞=văn viết với bộ 耳=nhĩ nên dễ bị nhầm với 月 của 閒 cho dù hai từ dùng bộ khác nhau. Có phiên bản cho bài thơ dùng từ 閑=nhàn (cái lan can, không có nghĩa gì cả!). Người ni cũng khám phá rằng khi dùng Google translate, coi chừng việc AI “tự tiện” thêm vào nguyên tác (giải thích chẳng hạn) hay đổi nguyên tác 閒 thành 閑 vì chúng là những từ đồng âm!
Từ 葉=diệp trong 桃花百葉=đào hoa bách diệp không có nghĩa là lá mà là cánh hoa, vì 'lá' không đúng nghĩa. Cây đào có hàng trăm lá nhưng không hoa đầu xuân không có giá trị gì hết.
鹦鹉=anh vũ là một loài chim ồn ào với khả năng bắt chước tiếng người và học nói, nên hình tượng anh vũ trong bài thơ gợi ý châm biếm để chỉ những người tập tểnh học làm thơ. Người xưa nghĩ chim anh vũ xuất xứ ở Lũng Sơn (陇山), dãy núi bắc ngang Sơn Tây và Cam Túc, và tên cổ của vùng là Lũng châu. Vì Lũng châu thuộc nước Tần ngày xưa, nó còn có tên 秦陇=Tần Lũng như trong bài thơ.
Hai từ 王侯=vương hầu đầu câu 4 không nên viết hoa vì chúng không phải là danh từ riêng và câu 4 chỉ có nghĩa rằng các nhà quyền quý vẫn có thể nghèo cho dù có, hay vì có, trồng hoa mẫu đơn, nếu không nghèo vì nhu cầu học đòi làm sang. Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược (木=mộc và 火=hỏa) và từ thời Đường mẫu đơn là tên cho mộc thược dược. Có rất nhiều loài mẫu đơn với tên của các mỹ nhân danh tiếng hay các biểu tượng cho sự cao sang, quyền quý. Tại sao người Việt lại gọi hoa Dahlia là thược dược thì người ni không hay vì Dahlia xuất xứ từ Mỹ Châu và người Tàu chỉ chuyển âm qua tiếng hán thành 'đại lệ'.
***
@ý kiến của Phí minh Tâm:
Mẫu đơn là một tên có từ lâu để gọi hai loài hoa 芍药=thược dược…
Anh Giám có thể xem lại loại hoa dahlia mà người Hoa gọi là Đại lệ hoa có thể nào là hoa mẫu đơn trong bài thơ của Vương Kiến hay không? Đại lệ hoa đến từ Nam Mỹ, nên sau thế kỷ 17, 18 người Âu Châu mới biết đến. Trong khi người Hoa đã có mẫu đơn từ thời Chu. Pmt
@ Huỳnh Kim Giám trả lời:
Dĩ nhiên Dahlia hay đại lệ hoa không phải là mẫu đơn và không thể là mẫu đơn. Tôi chỉ bàn 'lạc đề' về cái tên thược dược mà người Tàu dùng chung cho các loài mẫu đơn. Vì một lý do nào đó, người Việt cho dahlia cái tên thược dược cho dù hai loài hoa Dahlia và Gardaenia không bà con gì với nhau hết. Một lý do khả hữu là thế này: một tên Hán của Dahlia pinnata là 天竺牡丹 (Thiên Trúc mẫu đơn) cho dù dahlia xuất phát từ châu Mỹ! Đúng ra một tên tiếng Anh của dahlia là Indian peony với từ (red) Indian chỉ gốc thổ dân châu Mỹ chứ không phải gốc xứ Thiên Trúc huyền thoại, nhưng người Tàu đã lỡ dịch Indian thành Thiên Trúc từ lâu rồi.
Rất có thể rằng một người, Việt hay Nhật rành chữ Hán nhưng không rành thảo mộc học, biết mẫu đơn là thược dược trong tên tiếng Tàu nên cũng nghĩ Indian peony/Thiên Trúc mẫu đơn là thược dược. Điều này làm tôi liên tưởng tới chuyện trái cẳng ngỗng người Tây phương dịch Nho gia (儒家) thành Confucianism cho dù từ Nho có nghĩa là thuật sĩ-nhà chuyên môn chứ không dính dáng gì với Khổng Tử.
@ Huỳnh Kim Giám thắc mắc:
Không biết anh Tâm tìm ra giải thích "đào bích" cho cụm từ "bách diệp" ở đâu ra vậy. Google và Wiktionary chỉ cho hai nghĩa cho "bách diệp, một là cái lá sách, một phần của bao tử bò, hai là tàu hủ ky để làm đồ chay giả thịt. Bách diệp cũng nằm trong tên của một loại mành mành che cửa
@ Phí Minh Tâm trả lời:
Theo Google: Bách diệp (百葉): Tức là hoa đào nhiều cánh (đào bích).
Đào phai và đào bích là hai loại hoa đào Tết khá phổ biến và được nhiều người yêu thích.
Tự điển 国语辞典 Trang Sưu Vân cho 6 nghĩa, trong đó có:
百叶 拼音:bǎi yè 1.花瓣或枝叶重叠。
bách diệp bính âm :bǎi yè 1. hoa biện hoặc chi diệp trọng điệp 。
百叶 (bǎi yè) 1. Cánh hoa hoặc lá xếp chồng lên nhau.
@ mirordor viết thêm:
Thay vì tìm đào hoa bách diệp, nếu tìm 'bách diệp đào hoa" thì Google cho chúng ta Hàn Dũ thay vì Vương Kiến:
"百葉桃花" : 主要指代唐代文學家韓愈創作的七言絕句《題百葉桃花》,描寫花瓣繁複的桃花在晚春時節愈發紅艷、玲瓏,帶有擬人化的親切溫情。此詞亦指花瓣數量極多(重瓣)的桃花觀賞品種,常見於園林中,花朵較單瓣桃花更為豐腴、鮮豔。 "bách diệp đào hoa" chủ yếu chỉ Đại Đường đại văn học gia Hàn Dũ sáng tác đích thất ngôn tuyệt cú《 Đề Bách Diệp Đào Hoa》, miêu tả hoa biện phồn phức đích đào hoa tại vãn xuân thì tiết dũ phát hồng diễm, linh lung, đái hữu nghĩ nhân hóa đích thân thiết ôn tình。 thử từ diệc chỉ hoa biện sổ lượng cực đa (trùng biện) đích đào hoa quan thưởng phẩm chủng, thường kiến ư viên lâm trung, hoa đóa giác đan biện đào hoa canh vi phong du, tiên diễm.
Bài thơ 題百葉桃花 của Hàn Dũ như thế này:
百葉雙桃晚更紅 bách diệp song đào vãn canh hồng
窺窗映竹見玲瓏 khuy song ánh trúc kiến linh lung
應知侍史歸天上 ứng tri thị sử quy thiên thượng
故伴仙郎宿禁中 cố bạn tiên lang túc cấm trung
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét