Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

Khổ Vì Yêu - Thơ Cao Nguyên Nhạc Nguyên Bích - Ngọc Quy


Thơ: Cao Nguyên 
Nhạc: Nguyên Bích
Tiếng Hát: Ngọc Quy  
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan



Xế Chiều Mùa Lạnh



Đông đã đến nơi này…len khắp nẻo
Lạnh thấu xương hay vừa đủ rùng mình
Vợ chồng già lê chân từng bước nhỏ
Tay trong tay tợ như thuở xuân tình


Họ trân trọng mỗi giây còn có được
Âu yếm nhau dù má hóp răng long
Dắt dìu dưới trời mịt mù tuyết đổ
Đùa cợt cười vui như thuở tuổi hồng

Thân còm cõi, con tim còn sôi nổi
Tình nồng nàn trôi theo cánh thời gian
Không màn đến những xế chiều mùa lạnh
Thả hồn bay cùng gió núi mây ngàn

Anh Tú
Đông Bắc Hoa Kỳ
December 11, 2019


Nói Với Người Trong Mộng



Gửi đến em bài thơ không niêm nhỏ
Chút ân tình vàng võ thiết tha vui
Anh thương em nhiều lúc muốn mở lời
Nhưng lại sợ tình em hờ hững gió

Anh không hiểu sao mình không dám ngỏ
Ngại ngùng chăng khi lời ngỏ gió bay
Em ơi em tình đẹp chẳng quên ngày
Tình cũng lạ gặp nhau mình cũng lạ

Nói thương em lòng anh ray rứt quá
Sợ không còn níu được bước chân em
Con chim hồng bay bổng giữa trời đêm
Không mỏi cánh dù gặp nhiều dông bão

Hồn lưu lạc nghe sầu vương trên áo
Sợi tóc buồn trĩu nặng chút hương thơ
Đến với em không phải chuyện tình cờ
Duyên thơ nhạc hai tâm hồn như một

Anh biết em chỉ yêu lòng chân thật
Một trái tim ăm ắp nghĩa yêu thương
Bước em đi trên những khúc đoạn trường
Giữa vinh nhục hèn sang thời buổi khó

Anh thương em từ ngày vừa gặp gỡ
Em như trăng anh như kẻ lữ hành
Soi đường anh đi trên cuối cuộc tình
Và tiếp nối những gì còn dang dở

Anh gặp em coi như đời đầy đủ
Yêu Cúc vàng hoa nở mãi trong tâm
Mốt mai đây khi anh đã âm thầm
Về cõi khuất lúc chiều tàn nắng tắt

Nàng thơ ơi tình xưa dù chiu chắt
Tình yêu nào sớm muộn cũng chân mây
Thời gian đi thân thiết cũng cạn ngày
Xin được mãi yêu em trong mộng đẹp

Anh làm thơ hình như Trời cho nghiệp
Nghiệp dĩ hồng từ thuở tóc còn xanh
Anh gặp em như nhận được duyên lành
Từ em đó những ước mơ tìm thấy

Trái tim anh em đã từng vực dậy
Cuối mùa tàn lại nở giữa rừng thơ
Anh yêu em chưa có một bao giờ
Chắc Thượng Đế đã cho niềm hạnh phúc

Vì tình anh héo tàn trong vô thức
Nên yêu em chỉ trong tiếng thơ thần
Dù em ở xa hay đã thật gần
Xin được tạ ơn em bằng tất cả.

Anh yêu em như hoa lòng vạn đoá
Dâng người tình trong mộng của hôm nay
Nàng thơ ơi xin nhận tiếng thơ này
Để anh được có thêm hơi thở muộn.

Hoa Văn
Trích Thi tập “Dòng Thơ Cho Em”



Lệ Tràn Thơ



Xướng:
Lệ Tràn Thơ

Chán rồi tất cả chuyện tầm phơ
Nó khiến ta thêm nỗi phạc phờ
Cứ bảo rằng hoa ru cõi mộng
Nào ngờ tại gió hú trời mơ
Tưởng sao năm cánh soi mây tỏ
Hoá đất ngàn thu phủ khói mờ
Sông núi nào xưa đang đổi sắc
Mắt già hay lệ tủi tràn thơ...

Cao Mỵ Nhân
***
Bài Họa:
Lòng Này Sao Giãi...

Ai kìa râu tóc bạc phơ phơ
Suối nước trong veo há phỉnh phờ
Trường kiếm rỉ hoen nghìn mộng ước
Chiến bào sờn úa một trời mơ
Ôm đàn gảy nhịp âm cung lạc
Vói mắt nhìn quê biển sóng mờ
Hôm sớm mõ chuông tìm cõi tịnh
Lòng nầy sao giãi mấy vần thơ

Thiền Sư Xóm Núi NgôĐìnhChương

***
Nuối Tiếc

Ngỡ ngàng tóc đã bạc phơ phơ
Có phải thời gian khéo phỉnh phờ?
Nhớ lại độ nào, thêm nỗi nhớ
Mơ về phương ấy, rã niềm mơ
Bao năm xa cách tàn cơn mộng
Một thuở xông pha khuất nẻo mờ
Ta vẫn u hoài trong dáng núi
Ngậm ngùi nuối tiếc chuỗi ngày thơ

Nguyễn Kinh Bắc
***

Cãn Nguồn Thi Hứng


Chán lắm rồi, bao chuyện phất phơ
Làm cho ta ngất mệt bơ phờ
Đinh ninh suối vắng đưa đường mộng
Rốt cuộc rừng già khép lối mơ
Cứ nghĩ thời gian liều thuốc bổ
Ngờ đâu năm tháng cảnh sương mờ
Đường trần hiu quạnh ta lê bước
Sức lực hao mòn cạn ý thơ....

Trịnh Cơ
***
Rượu Còn Thèm Rót


Lệ chảy tràn mi kết nụ thơ
Bởi chưng quê cũ cách xa mờ
Vì đâu đất Mẹ luôn tang tóc
Đã khiến lòng người hết mộng mơ
Mưa dập từng cơn, thân rã rượi
Gió vùi bao bận, dạ bơ phờ
Say mèm, rượu cạn run tay rót
Mấy sợi tóc già bay phất phơ

Songquang
 
***
Đừng Để Nàng Thơ Tôi Đi

Mái đầu nay đã bạc phơ phơ
Mấy chuyện ruồi bâu cũng mệt phờ
Sức mọn nào đâu thôi khỏi ước
Tài hèn chi đó có mà mơ
Còn mưa sáng tản mây chìm lắng
Hết nắng chiều buông khói lặng mờ
Suốt kiếp dẫu đền chưa khép nợ
Cũng đừng hắt hủi tội nàng thơ.

Phan Tự Trí
***
Bốn Mùa


Lau sậy trên nương, gió phất phơ;
Bóng in hồ, dáng liễu Thu phờ.
Mau rơi ...tuyết phủ Đông: êm mộng.
Chóng đổ .. mưa tuôn Hạ: ấm mơ.
Sau ngõ, lá hoa khoe sắc thắm;
Trước sân, cây trái toả hương mờ.
Màu Xuân tươi sáng, sao sầu thảm?
Đau xót thương tình ái lụy thơ.

Thảo Chương Trần Quốc Việt
***
Giọt Thơ

Nắng Hạ chiều tàn gió phất phơ
Lang thang lẩn thẩn sắc bơ phờ
Tâm lùa ánh sáng phơi đường mộng
Mắt nhuộm hoàng hôn trải giấc mơ
Lúc tỉnh xanh xao bờ cỏ dại
Khi say trắng xoá cảnh sương mờ
Sầu dâng bóng tối thêm hiu quạnh
Mực bút đêm trường lệ thấm thơ

Minh Thuý
***
Gởi Bạn Thơ

Với tóc trên đầu đã bạc phơ
Ra vô ngắm cảnh thở hơi phờ
Đâu còn khí thế mà mung mánh
Cũng vắng thân quen để mộng mơ
Khi nắng chiều buông lam khói lạnh
Lúc màn đêm xuống ánh trăng mờ
Riêng ngồi,cốc rượu buồn chờ nhắp
Nghiêng ngả nâng lên đợi bạn thơ.

Thái Huy

Đất Phương Nam I - Thủ Đức Trước Năm 1975



Thủ Đức Trước Năm 1975

Vùng đất Ngãi An chính là vùng Thủ Đức về sau nầy. Đây là một trong những vùng đất trù phú nhất của vùng đất Gia Định. Trước năm 1975, Thủ Đức có nhiều ruộng mía, và một số rất lớn mía làm đường được Thủ Đức cung cấp cho nhà máy đường Hiệp Hòa. Dưới thời Pháp thuộc, huyện Ngãi An được chuyển sang cho tỉnh Gia Định. Trong suốt hai thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa (1954-1975), Thủ Đức vẫn tiếp tục là một quận của tỉnh Gia Định. Thủ Đức nằm về cực bắc của tỉnh Gia Định, là cửa ngõ đi vào Gia Định từ các tỉnh miền Trung và miền Đông Nam Phần như Đồng Nai, Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Tuy, Vũng Tàu, Long Khánh, Bình Tuy, vân vân. Từ xưa đến nay, Thủ Đức vẫn luôn là một vùng dân cư đông đúc, chợ búa tấp nập, thương mãi phồn thịnh với nhiều khu công nghiệp và chế xuất vững chắc. Trước năm 1975, Thủ Đức là quận trù phú nhất của tỉnh Gia Định. Theo thống kê của bộ Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1970, quận Thủ Đức(9) có tổng diện tích khoảng 200 cây số vuông, với tổng dân số khoảng 184.989 người trong 15 xã. Thủ Đức nằm sát cạnh Sài Gòn, trước năm 1965, từ Sài Gòn lên Thủ Đức thường phải đi qua Cầu Bông tại Đa Kao, vào vùng Bà Chiểu, qua ngã tư Bình Hòa và ngã năm Bình Hòa, qua cầu Băng Ky, cầu Bình Lợi, cầu Gò Dưa, rối đến cầu Ngang trước khi vào chợ Thủ Đức. Theo con đường nầy thì từ Sài Gòn lên Thủ Đức khoảng 15 cây số, nơi đây có nhà ga xe lửa đi miền Trung. Sau năm 1965, chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng thêm xa lộ Biên Hòa, qua khỏi nhà máy xi măng Hà Tiên, đến khu làng Đại Học Thủ Đức, rồi rẽ trái tại ngã tư Xa Lộ để vào chợ Thủ Đức. Nếu quẹo phải là đi vào trường bộ binh Thủ Đức.
Về phương diện tôn giáo, ngay từ thời các chúa Nguyễn, vùng Gia Định, Sài Gòn và Thủ Đức đã từng là trung tâm tôn giáo cho toàn cõi Nam Kỳ. Ngay từ những thế kỷ XVII, XVIII và XIX, các nhà sư từ miền ngoài đã vào Nam xây dựng chùa chiềng. Hiện tại vùng Thủ Đức có rất nhiều chùa, như chùa Huê Nghiêm, chùa Huỳnh Võ, chùa Long Nhiễu, chùa Vạn Quang, chùa Pháp Trí, chùa Vô Ưu, chùa Thiên Phước, chùa Nhất Trụ, chùa Bửu Long, chùa Thanh Sơn, chùa Xá Lợi, chùa Kiều Đàm, chùa Pháp Bảo, và chùa Thiên Minh. Bên cạnh đó, Thủ Đức còn có một số nhà thờ Thiên chúa như nhà thờ Francisco, nhà thờ dòng Đa Minh, nhà thờ Tu Viện Khiết Tâm, nhà thờ họ đạo Thủ Đức, và Hội Thánh Tin Lành Hiệp Phú. Về phía Cao Đài Tam Kỳ Phổ Độ thì có Thánh Thất Liên Hoa Cửu Cung tại xã Linh Xuân. Về đình miễu, Thủ Đức còn có rất nhiều ngôi đình cổ như đình Phong Phú trong xã Tăng Nhơn Phú. Ngoài ra, Thủ Đức còn có nhiều kiến trúc đáng kể như Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Đức, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, một trong những trường quân sự nổi tiếng nhất tại Đông Nam Á. Kế bên trường Bộ Binh Thủ Đức là trường Sĩ Quan Thiết Giáp. Bên cạnh đó còn có nhiều kiến trúc đáng kể khác như trường Đại Học Thủ Đức, làng Đại Học Thủ Đức, trường Dòng Lasan Thủ Đức, trường Quân Nhạc Việt Nam Cộng Hòa, và nhà thờ Cổ Vinh, vân vân.
Bên cạnh những kiến trúc tôn giáo vừa kể, hiện tại trong phạm vi quận Thủ Đức còn có khu lăng mộ của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, ngoại tổ của vua Thiệu Trị. Cụ Hồ Văn Bôi là cha của bà Hồ thị Hoa, phối thất của vua Minh Mạng, người đã sanh ra hoàng từ Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị sau nầy. Tại làng Phong Phú, thuộc tổng An Thủy, có ngôi đình cổ Phong Phú. Sau năm 1940, làng Phong Phú được đổi tên thành Tăng Nhơn Phú, nhưng ngôi đình vẫn giữ tên Phong Phú. Từ Sài Gòn theo xa lộ Biên Hòa, qua khỏi làng Đại Học Thủ Đức, rẻ phải tại ngả tư xa lộ, đi về hướng trường Bộ Binh Thủ Đức, khoảng hơn một cây số, chúng ta sẽ thấy bên tay phải là ngôi đình Phong Phú. Từ ngoài cổng đình đi vào bằng một con đường đá ong quanh co, hai bên là những khu vườn cây ăn trái, bên trái là chùa Linh Phong, xa hơn chút nữa là đình Phong Phú. Đây là một trong những ngôi đình cổ nhất ở miền Nam. Theo các bậc kỳ lão địa phương thì ngôi đình nầy đã được xây dựng trên hai thế kỷ nay. Theo họ, sở dĩ đình không có tên của vị thành hoàng bổn cảnh cũng như không có sắc phong vì sau khi Nguyễn Ánh tái chiếm thành Gia Định, dân trong vùng xây dựng ngôi đình để thờ một vị tướng của Tây Sơn tên là Nguyên Hóa nên họ không dám nói tên và cũng chính vì vậy mà đình cũng không có sắc phong của các vua nhà Nguyễn. Năm 1948, trong thời chiến tranh Việt-Pháp, đình bị thiêu hủy hoàn toàn. Sau năm 1954, cư dân trong vùng xây dựng lại ngôi đình trên nền cũ, nhưng đến năm 1968, trong trận Tết Mậu Thân, đình lại bị thiêu rụi lần nữa. Năm 1969, cư dân trong vùng lại tái xây dựng theo như mô hình hiện nay.

Trước Năm 1975, Thủ Đức Đã Từng Là Mảnh Sân Sau Của Thành Phố Sài Gòn:

Sau năm 1955, mặc dầu Thủ Đức đã được phát triển rất mạnh về mọi phương diện, từ xây cất đến công thương nghiệp và kỹ nghệ thuộc loại lớn nhất thời VNCH, như nhà máy dệt Vimytex, nhà máy sửa hộp Foremost, nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy nước Đồng Nai, nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, nhà máy kim khí Vikimco, nhà máy làm tôle Vinaton, vv..., và bên cạnh những khu rừng cao su, Thủ Đức vẫn còn có những ruộng lúa, những khu vườn cây ăn trái xanh mát ở nhiều nơi. Chính vì vậy mà cư dân thành phố Sài Gòn trước năm 1975 thường gọi Thủ Đức là mảnh sân sau của Sài Gòn, vì sau những ngày làm việc mệt nhọc họ có thể đi Thủ Đức nghỉ xả hơi. Có nhiều lý do khiến cư dân Sài Gòn trước năm 1975 chọn Thủ Đức làm nơi nghỉ xả hơi cuối tuần, vì thứ nhất Thủ Đức không xa Sài Gòn, thứ nhì trong thời chiến tranh Quốc Cộng, Thủ Đức là vùng tương đối có an ninh hơn các vùng phụ cận khác, thứ ba như trên đã nói Thủ Đức hãy còn những ruộng lúa và những khu vườn cây ăn trái xanh mát ở nhiều nơi, và thứ tư là vùng Thủ Đức có nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng như món nem nướng Thủ Đức đã nổi tiếng từ thời còn Pháp thuộc. Phải nói vào khoảng những thập niên 1920 đến 1950, nem Thủ Đức nổi tiếng vào bậc nhất của đất Nam Kỳ, nhưng sau năm 1955, nhiều nơi ở Lái Thiêu và Sài Gòn cũng mở nhà hàng chuyên bán nem nướng cũng rất ngon, không kém gì nem Thủ Đức, nên số lượng người đi Thủ Đức ăn nem cuối tuần đã giảm đi rất nhiều. Nói tóm lại, dưới thời VNCH (1955-1975) khi mà Thủ Đức chưa bị hoàn toàn đô thị hóa, mỗi cuối tuần đều có hàng ngàn thị dân nghèo và trung lưu của vùng Sài Gòn lên đây nghỉ xả hơi, và họ có nhiều nơi để lựa chọn, một là họ có thể lên Thủ Đức nghỉ xả hơi và thưởng thức món nem nướng “số dách” tại đây, hai là họ có thể lên Lái Thiêu hoặc Bình Dương ăn trái cây. Trong khi đó những người khá giả hơn có thể đi Long Hải hay Vũng Tàu tắm biển.

Thủ Đức Sau Năm 1975:
Đến Sau năm 1975, chánh quyền mới bãi bỏ và sáp nhập toàn thể lãnh thổ tỉnh Gia Định vào thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), quận Thủ Đức đổi thành huyện Thủ Đức. Chánh quyền mới xây thêm một con lộ mới từ Sài Gòn đi Thủ Đức, từ đường Hồng Thập Tự(10), qua ngã tư Hàng Xanh, theo quốc lộ 13, qua cầu Bình Triệu, qua ngã tư Bình Triệu rẽ phải để đi về hướng Cầu Gò Dưa. Xe đò đi từ Thủ Đức xuống Gia Định thường qua hai ngã cầu Bình Lợi và ngã tư Hàng Xanh. Trước năm 1975, giữa Cầu Gò Dưa và chợ Thủ Đức hãy còn rất nhiều cánh đồng lúa, xen kẽ những khu vườn cây ăn trái, nhưng sau năm 1975 người ta cất nhà dầy đặc dọc theo con đường nầy, biến Thủ Đức hoàn toàn thành một quận nội thành(11), chứ không còn cảnh quang nửa quê nửa chợ như trước đây nữa. Đến năm 1997, chánh quyền mới lại chia huyện Thủ Đức ra làm 3 quận: quận Thủ Đức, quận 2 và quận 9. Quận Thủ Đức mới(12) có diện tích khoảng 4.726 mẫu tây, với tổng dân số khoảng 151.818 dân, gồm 12 phường. Trong khi quận 2 có 6 xã(13). Quận 9 cũng có 6 xã(14).
Trước năm 1975, cảnh quang Thủ Đức hãy còn nửa quê nửa chợ, nhưng kể từ năm 1975 trở về sau nầy, Thủ Đức đã hoàn toàn bị đô thị hóa. Một trong những lý do chính khiến Thủ Đức không còn nửa tỉnh nửa quê do bởi hiện tại phạm vi của quận Thủ Đức thời trước đã trở thành những quận nôi thành: quận Thủ Đức, quận 2 và quận 9. Riêng quận Thủ Đức mới về bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía nam giáp sông Sài Gòn, phía đông giáp quận 2, và phía tây giáp quận 12, bao gồm các phường Linh Đông, Linh Trung, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh và thị trấn Thủ Đức, với diện tích khoảng 48 cây số vuông và dân số 175.165 người, theo thống kê năm 1997. Chính vì thế mà nhiều công trình hạ tầng cơ sở đã được xây dựng, đặc biệt là hệ thống giao thông và điện nước. Về diện tích canh tác, toàn quận Thủ Đức ngày nay chỉ còn khoảng 2.000 mẫu đất trồng trọt, nhưng trong một tương lai rất gần sắp tới, 2.000 mẫu đất ruộng vườn còn lại nầy cũng sẽ chịu chung số phận đô thị hóa. Tuy nhiên, về mặt công nghiệp, ngày nay Thủ Đức có rất nhiều nhà máy cũng như xí nghiệp của cả trong nước lẫn nước ngoài, như các công ty sơn ICI, công ty thuốc thú y BIOS Pharmachemie của Bayer, công ty Panasonic, công ty nước ngọt Cocacola, công ty nhớt Castrol, vân vân. Riêng tại phường Linh Trung có khu chế xuất Linh Trung với diện tích trên 150 mẫu đất, được xây dựng từ năm 1993. Khu chế xuất nầy quy tụ khoảng 32 công ty ngoại quốc với tổng số vốn đầu tư lên tới trên 170 triệu Mỹ kim. Đến năm 1996, Thủ Đức có thêm khu công nghiệp Linh Trung-Linh Xuân, rộng trên 450 mẫu, và khu công nghiệp Bình Chiểu, rộng khoảng 200 mẫu. Về thương mãi, ngoài những ngôi chợ đã có từ trước như Bình Triệu, Linh Xuân, Phước Long, Hiệp Phú, Tăng Nhơn Phú, Tân Phú, vân vân, quận Thủ Đức còn có rất nhiều khu thương mại lớn tại các phường Hiệp Bình Chánh, Tam Bình, Bình Chiểu, và Linh Xuân. Về mặt du lịch, hiện tại quận 9(15) có khu du lịch Suối Mơ trong phường Long Bình, khu du lịch Suối Tiên trong phường Tân Phú, Sân Chim trong phường Long Thạnh Mỹ, đây là một cù lao của sông Đồng Nai. Công viên Lịch Sử Văn Hóa Dân Tộc có diện tích trên 400 mẫu đất, hiện đang được xây dựng trong phường Long Bình, thuộc quận 9. Công Viên Nước Sài Gòn, tọa lạc trong phường Linh Đông, và Thế Giới Nước tọa lạc trong phường Long Thạnh Mỹ, thuộc quận 9. Ngay từ trước năm 1975, Thủ Đức đã rất nổi tiếng là xứ nem, với đủ các loại nem từ nem chua đến nem nướng. Ngoài ra, Thủ Đức còn là quê hương của những loại hoa kiểng cung cấp cho các vùng Sài Gòn-Gia Định.
Không riêng gì các vùng Sài Gòn, Gia Định hay Thủ Đức, mà hình như bất cứ nơi nào của vùng một thời mang tên Nam Kỳ Lục Tỉnh đều bàng bạc những kỷ niệm về một thời mang gươm đi mở cõi của tiền nhân. Riêng về vùng đất “Sài Gòn, Gia Định và Thủ Đức” ngày trước là cái nôi phát triển văn hóa, chính trị và kinh tế chính yếu của dân tộc Việt Nam trên bước đường Nam Tiến. Ngày nay, khu nầy cũng chính là nơi có tiềm năng kinh tế rất lớn, nhờ có những ưu điểm thuận lợi về giao thông thủy bộ và đường sắt. Nói tóm lại, lúc nào vùng đất “Sài Gòn, Gia Định và Thủ Đức” cũng đi đầu trong công cuộc phát triển kinh tế, không riêng của miền Nam, mà còn cho cả nước nữa.

Chú Thích:

(1) Theo các di chỉ khảo cổ từ thời Pháp thuộc đã cho thấy trên các vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là Phước Long, Bình Long, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Đức, Gia Định, Sài Gòn, vân vân, đã có cư dân cư trú từ thời tiền sử. Văn hóa của những cư dân cổ nầy có liên hệ tới văn hóa đá cũ tại các vùng Xuân Lộc, Lộc Ninh và Định Quán, liên hệ tới văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn tại vùng Suối Chồn, liên hệ tới văn hóa đá mới tại vùng Cầu Sắt, liên hệ tới văn hóa đá mới và đồng tại các vùng Núi Gốm, Bến Đò, An Sơn, liên hệ tới văn hóa đồng-sắt tại các vùng Dốc Chùa, Suối Chồn và Rạch Núi, liên hệ tới văn hóa Sa Huỳnh tại các vùng Hàng Gòn, Thủ Đức, Phú Hòa, Giồng Phệt, và Giồng Cá Vồ, liên hệ tới văn hóa Đông Sơn tại các vùng Bình Phú, Vũng Tàu, Lộc Ninh, Lộc Khánh và Phú Chánh. Ngoài ra, toàn vùng, trong đó có Thủ Đức đều có những di chỉ liên hệ tới văn hóa Óc Eo và Hậu Óc Eo. Điều nầy cho chúng ta thấy trước khi vương quốc Phù Nam được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau tây lịch thì đa phần các bộ tộc cổ đã cùng nhau sống cộng cư chứ chưa có sự phân định cương vực và lãnh thổ một cách rõ ràng.
(2) Các cư dân cổ trong vùng nầy bao gồm người Mạ, Stiêng, Mnông, Cơho, Churu, vân vân, mà người Việt gọi họ là “Man” hay “Mọi”. Đặc biệt là người Mạ với địa bàn cư trú trải rộng từ Đồng Nai xuống tận đến Mỹ Tho. Theo B. Bourotte trong Essai d’histoire des populations montagnardes du Sud – Indochinois jusqu’à 1945, Saigon 1955, tr. 31, tuy phải triều cống Cao Miên, Mạ vẫn là một tiểu quốc tự do. Tiểu vương Chê Mạ cai trị khắp vùng Tây Nam trên lưu vực sông La Ngà và về phía Bắc trên cao nguyên Di Linh và Lâm Đồng ngày nay.
(3) Tệ nạn buôn bán nô lệ người Mạ của người Khmer chỉ chấm dứt khi người Việt đến đây thiết lập bộ máy hành chánh để trên vùng đất nầy. Tuy nhiên, lúc đầu những lưu dân Việt Nam cũng cần một số đông tôi tớ để phụ giúp trong chuyện khai hoang nên nạn mãi nô vẫn tiếp diễn. Theo Phủ Biên Tạp Lục: “Từ các cửa biển như Cần Giờ, Soài Rạp... đi vào toàn là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn ngàn dặm... Nhà Nguyễn cho dân được tự nhiên chiếm đất... Lại cho họ thâu nhận người Mọi từ trên đầu nguồn xuống để mua làm đầy tớ, đứa ở, sai khiến, hầu hạ...”
(4) Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, từ đời các tiên hoàng, tức thời các chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên, vùng Mô Xoài là nơi mà người Việt đã đến khai phá và định cư sớm nhất. Cũng theo Trịnh Hoài Đức, vùng Mô Xoài, tức Bà Rịa ngày nay là vùng địa đầu của Trấn Biên, tức là vùng mà những lưu dân người Việt đặt chân vào để khai phá mở mang vùng Nam Kỳ ngày nay.
(5) Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, trước khi người Việt đến khai khẩn vùng Đồng Nai thì nơi đây hãy còn là một vùng rừng rậm cả mấy ngàn dặm, nơi chỉ có một vài cộng đồng cư dân của các bộ tộc cổ cư trú mà thôi.
(6) Theo hồi ký của Christoforo Borri, một giáo sĩ người Ý, đã từng sống tại xứ Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1622: “Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bày trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh Oudong thì dân chúng Khmer, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh.”
(7) Theo số liệu của Bộ Thông Tin Văn Hóa VNCH năm 1970.
(8) Vì theo nghị định số 3 CP do Thủ Tướng CSVN Võ văn Kiệt ký ngày 6 tháng 3 năm 1997, quận Thủ Đức ngày trước được tách ra làm 3 quận: Thủ Đức, quận 2 và quận 9.
(9) Quận Thủ Đức gồm 15 xã: Long Thạnh Mỹ, Long Bình, Phú Hữu, Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng, Linh Xuân, An Phú, Phước Long, Tam Bình, Linh Đông, Hiệp Bình, Long Trường, Long Phước, Tăng Nhơn Phú, và Phước Bình.
(10) Bây giờ là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
(11) Theo Tập Bản Đồ Hành Chánh Việt Nam và Danh Mục Các Đơn Vị Hành Chánh Việt Nam của Tổng Cục Thống Kê, xuất bản vào năm 1993, huyện Thủ Đức trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh, gồm thị trấn Thủ Đức và 20 xã: Linh Đông, Hiệp Bình Chánh, Linh Xuân, Hiệp Bình Phước, Linh Xuân, Linh Trung, Tam Phú, Tam Bình, Phước Long, Phước Bình, Tân Phú, Hiệp Phú, Tăng Nhơn Phú, Long Thạnh Mỹ, Long Bình, Long Phước, An Phú, Bình Trưng, Phú Hữu, Long Trường, và Thạnh Mỹ Lợi.
(12) Quận Thủ Đức mới có 12 phường: Linh Đông, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Linh Xuân, Linh Chiểu, Trường Thọ, Bình Chiểu, Linh Tây, Bình Thọ, Tam Bình, và Linh Trung.
(13) Quận 2 bao gồm các xã An Phú, Bình trưng, An Khánh, Thủ Thiêm, và Thạnh Mỹ Lợi.
(14) Quận 9 bao gồm các xã Phước Bình, Tăng Nhơn Phú, Long Trường, Phước Long, Tân Phú, và Hiệp Phú. 
(15) Thuộc phạm vi huyện Thủ Đức ngày trước.

Người Long Hồ
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.

Links xem tiếp:


Thứ Năm, 12 tháng 12, 2019

Xin Còn Gọi Tên Anh - Thơ Nhật Huy - Nhạc Nhật Thu


Thơ: Nhật Huy 
 Nhạc: Nhật Thu
Tiếng Hát: Thúy Huyền
Thực Hiện: Đặng Hùng

Nhẹ Nhàng Nỗi Nhớ Thả Trôi



Nhẹ nhàng nỗi nhớ thả trôi
Như là buổi sáng rối lời chim ca
Chúc em phương ấy an hòa
Trong veo ánh mắt như là ngày xưa

Nhẹ nhàng như lắc thắc mưa
Cho dài nỗi nhớ che dù tình yêu
Nhẹ nhàng như tiếng khua chèo
Dòng sông hò hẹn gió reo mơ màng

Nhẹ nhàng mái tóc em ngoan
Xõa dài xuân đến hân hoan nụ cười
Tình tôi đậu giữa bờ môi
Tìm nơi trú trọ những hồi hộp thương

Nhẹ nhàng là những nỗi buồn
Quanh co trong lối thiên đường xa xăm
Ơn em má đỏ môi trầm
Nụ hôn đắm đuối như gần như xa

Trót rồi tình lỡ chuyến phà
Tình em lơ lửng đóa hoa vô thường
Tim còn sợi tóc em vương
Cột thơ tôi với mùi hương xa vời

Đông về đôi ngả xa xôi
Biết lòng em có chia đôi lạnh lùng
Có cầm dù biếc che chung
Cho ngàn kỷ niệm nhớ nhung theo về?

Trầm Vân

Kiếp Đàm Lan



Lan mấy đóa lạc loài sơn dã
Uổng mùi hương vương giả lắm thay!
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Kiếp Đàm Lan


Lạc loài sơn dã mấy cành lan
Vương giả hương bay khắp núi ngàn
Thoáng nở thoáng tươi thương số kiếp
Chợt tàn chợt úa uổng dung nhan
Đàm hoa nhất hiện thôi than oán
Tàn nguyệt tây trầm biếng đim trang
Nhất thế nhất sinh như nhất mộng
Đoản trường thọ yểu tận quy san!

Đỗ Chiêu Đức

Lan Hồng



(Ảnh của Yên Nhiên)

Nàng lan dồi má phấn hồng
Dáng sen nở nụ, lạ trong lẫn ngoài
Hương mầu thoảng nhẹ ban mai
Ngắm lan lại nhớ búp đài cánh sen
Áo hoa tươi nở trước đèn
Tưởng như hoa nước vượt miền Thủy Cung
Bay lên đồi núi chập chùng
Dạo chơi thả bộ trên rừng thưởng lan 

Locphuc

***
Pink Orchid

She—an exquisite and mesmerizing blossom
Dabbles her cheeks with powder and rouge
The morning air is faintly scented with her fragrance
Beholding her beauty, I remember a certain lotus bud
Her dazzling floral petals open up before the lighting
Like an iridescent flower from abyssal depths
Flying off towards the rolling hills
Strolling in the forests
To savor the magnificent beauty of orchids

Có phải nàng kỳ hoa dị thảo
Thương chốn này ảo não ghé thăm?
Rạng ngời như đóa trăng rằm
Lung linh ngân nhũ tới nằm kề bên
Rỡ ràng đẹp tợ búp sen

Yên Nhiên

Bình Một Bài Thơ Như Thế Nào?


Bình thơ là một thú tiêu khiển không thể thiếu trong sinh hoạt nghệ thuật, nó giống như thú làm thơ vậy. Nhiều người coi việc làm thơ là món ăn tinh thần nên ngày nào cũng sáng tác một hai bài thơ. Vì là một nghệ thuật để tiêu khiển nên việc bình thơ là cả một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi người bình phải vượt qua để có được một bài bình coi được! Lời bình giống như cái duyên của một phụ nữ. Có người bình đọc nghe hào hứng khởi sắc, lời văn ngọt ngào chan chứa tình cảm, hoặc lâng lâng tha thiết cũng có người bình bài thơ đó nhưng nghe khô khan cằn cỗi, giống như một phụ nữ chưa kịp lớn đã già ! Tôi chưa có một quá trình rèn luyện lâu dài trong việc bình thơ như các tác giả nổi tiếng : Hoài Thanh Hoài Chân, Lê trí Viễn, Xuân Diệu hay Kim Thánh Thán bên Tàu, nhưng cũng học được nhiều điều hữu ích xin trình bày để các bạn tham khảo.

Một người bình thơ hay, khiến cho người đọc cảm thấy thích thú, sảng khoái, còn tác giả bài thơ thì thấy khích lệ để sáng tác nhiều bài nữa. Trái lại người bình vụng về sẽ gây thất vọng nơi bạn đọc và làm nản lòng tác giả bài thơ. Ta có thể sánh người bình thơ như một cô ca sĩ, ca sĩ trình bày bài hát hay, truyền cảm thì bài hát sẽ được nhiều người ưa thích và ca sĩ cũng được mến mộ hoan nghênh! còn bài hát hay mà ca dở thì cũng bỏ đi. Cho nên vai trò người bình rất quan trọng. Hay dở của một bài thơ còn tùy thuộc vào lời bình và giá trị của bài thơ đó!

Trước hết bản thân người bình thơ phải thích thơ văn mới được , bạn nảo không thích thì khó bình được hay. Chính sở thích nầy mới khiến bạn học hỏi, miệt mài viết bài bình, nó giống như thời học sinh, nếu bạn không thích toán thì đừng theo ban B toán, hãy chọn ban A Vạn vật cho xong kẻo thi hoài cũng không đậu!

Muốn bình một bài thơ cho thật hay thật sâu sắc, bạn cần trang bị cho mình một số kiến thức căn bản về văn học, thơ văn . Đòi hỏi nầy hơi khó nên nhiều bạn bỏ cuộc. Tôi tin rằng nếu bạn cố gắng học hỏi thì vấn đề sẽ không còn khó nữa. Hiện nay tôi thấy người làm thơ thì nhiều còn người bình thơ thì quá ít.

Bạn cần nhớ tổng quát nền văn học Việt Nam từ thơ văn cổ điển cho tới thơ văn hiện đại, phải biết nó biến chuyển như thế nào, diện mạo ra sao trong mỗi thời kỳ văn học. Ở đây nói về thơ văn nên bạn phải thông thạo luật thơ, cách gỉeo vần, âm điệu v.v. thì mới xếp loại được bài thơ. Bài thơ cổ phong mà bạn cho rằng đó là bài thất ngôn bát cú Đường luật truyền thống rồi cho rằng tác giả làm sai luật, thì tội nghiệp cho tác giả biết chừng nào ! Ví dụ như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (Thôi-Hiệu (崔顥) sinh năm 704, mất năm 754, thời Nhà Đường (618-907), đời vua Đường-Huyền-Tông) nếu cho rằng bài thơ sai luật thơ Đường thì quá đáng ! Một bài thơ nổi tiếng cả ngàn năm nay bây giờ đọc lại vẫn thấy hay mà thực ra chỉ là phá thể của thơ Đường ở một vài chỗ, nên đừng bảo là thơ Đường làm sai luật!

Một số các nhà thơ nhà văn ở trong nước cũng như hải ngoại đã nghiên cứu phê bình văn học hoặc bình thơ in thành sách như: Vũ Thanh Việt (Thơ lãng mạn và những lời bình), Mã Giang Lân(thơ Xuân Diệu và những lời bình)... Ở hải ngoại thì có: Trần văn Nam ( Trong dòng cảm thức văn học Miền Nam, nhận định thi ca hải ngoại ), Trần Đình Tuyến ( Nhà thơ và nhà văn hải ngoại quyển I&II), Diên Nghị( Cõi thơ tìm gặp), Nguyễn Thùy(Khung trời hướng vọng), Song Nhị ( Lời rao giảng của thơ), Đặng Tiến ( Vũ trụ thơ), Vĩnh Phúc ( Lý luận và phê bình thơ) v.v. Tất cả đều bình thơ theo cách riêng của mình không ai giống ai ! nghĩa là mỗi người một vẻ!

Bên cạnh hiểu biết về thơ văn nếu bạn biết làm thơ thì bài bình của bạn sẽ vững chắc hơn, đầy đủ hơn.

Nói về phương pháp thì có nhiều cách : cổ điển hoặc tân thời. Về cổ điển thì có tính cách giáo khoa, nặng về thi cử, điển hình có quyển "VN thi văn giảng bình" của Hà Như Chi hoặc "Thơ văn bình giảng" của Phạm văn Diêu, ấn hành cách nay hơn nửa thế kỷ. Còn phương pháp tân thời thì không theo sát bố cục của sách trên mà họ phân tích, bình thơ theo nguồn cảm hứng và theo tình cảm chứa trong bài thơ. Họ cho rằng đó là nghệ thuật tiêu khiển tinh thần thì cứ để những suy nghĩ tràn ra một cách tự nhiên mà không để lệ thuộc vào một quy định hay một rào cản nào. Cách nầy có ưu điểm là khiến người đọc thơ cảm thấy thoải mái, tránh được sự nhàm chán thường thấy.

Đi vào nội dung bài bình, ta có phần mở bài, phải làm sao mở bài một cách tự nhiên để dẫn độc giả vào khu vườn có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Kết luận cũng vậy, ta khép vấn đề như thế nào để khi đọc xong, người ta thấy cảm xúc bùi ngùi, lâng lâng nỗi nhớ, vừa thông cảm vùa nuối tiếc một cái gì đó mà họ chưa nhận ra ngay.

Sau khi mở bài thì tiếp theo là nói xuất xứ bài thơ. Bài thơ đựoc tác giả sáng tác trong thời gian nào , hoàn cảnh ra sao? Có liên hệ gì với lịch sử thời đó không? Nhờ thông tin nầy ta có thêm dữ liệu để bàn luận trong phần thân bài, làm sáng tỏ thêm nỗi lòng thực sự của tác giả, bài bình sẽ sâu sắc hơn. Thực tế có nhiều bài thơ ta không biết tác giả sáng tác năm nào, hoàn cảnh ra sao vì ta không liên lạc được với tác giả hoặc giả người ấy đã qua đời mà không để lại bút tích.

Phần nội dung tức thân bài, ta cần hiểu rõ tác giả muốn nói gì? Phải đọc đi đọc lại vài ba lần để bảo đảm mình đã hiểu ý tác giả kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng nhứt là những ẩn ngữ hoặc ẩn dụ. Khi viết lời bình mình phải thông cảm với nỗi lòng, tâm trạng của tác giả như chính mình là vai chánh vậy, có thế những lời bình mới tự nhiên sâu sắc, lột tả được những ý nghĩ thầm kín bên trong, gây cảm hứng cho người đọc. Ta cần phân tích triệt để tâm lý nhân vặt (vui, buồn, hứng khởi, thất vong...) hoàn cảnh bế tắc dẫn tới quyết định làm ảnh hưởng tới cuộc đời nhân vật về sau. Chính cái "đột biến" đó mới khiến cho cho người đọc tò mò muốn biết câu chuyện diễn tiến ra sao, kết quả thế nào ( tốt hay xấu). Đó là nội dung còn hình thức thì sao? Cũng quan trọng không kém vì thơ văn là một nghệ thuật nên cách sử dụng từ ngữ trong thi ca cũng phải được coi trọng. Người bình thơ phải thấy được nét đặc thù nầy. Ta phải đi tìm cách mà tác giả sử dụng từ ngữ xem có gì đặc biệt không? Có đúng chỗ, chính xác không? Có chỗ nào ẩn dụ không? Từ ngữ sử dụng có diễn tả hết tâm trạng tác giả? Có dùng biện pháp tu từ không? Có tượng thanh tượng hình không? Ví dụ đọc 3 câu thơ của Quang Dũng tả đôi mắt người Sơn Tây ta thấy tác giả sử dụng từ ngữ thật đặc sắc để tả đôi mắt người đẹp Sơn Tây, qua đó gởi gấm niền tâm sự nhớ thương người "em gái" cũng là người mà tác giả yêu mến:

"Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
-------------------------
"Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây..."

Chỉ vài từ ngữ mà lột tả được vẻ đẹp của đôi mắt và nét kiêu sa của người con gái. Cũng qua đôi mắt tác giả thấy được tâm trạng của người "em gái" khi phải lìa thành vào vùng kháng chiến, ly hương theo lịnh tiêu thổ kháng chiến của VM, trong lúc đó tác giả cũng vào binh đội, hành quân qua Lào, khoảng thời gian 1948. Chính thời gian "thoát ly" nầy ông xa gia đình cha mẹ anh em và xa cả người thương, khiến lòng ông chùng xuống. Tĩnh từ kép "u uẩn" có nghĩa là dấu kín trong lòng, trong tim không bày tỏ ra ngoài, tức buồn âm thầm lặng lẽ không biết tỏ cùng ai.

[Bài thơ được Quang Dũng viết tặng cho người tình của ông, một kỹ nữ xinh đẹp. Chiến cuộc nổ ra, nàng lìa thành vào vùng kháng chiến, chàng thành quân nhân lên đường chống giặc Pháp như bao trai tráng thời tao loạn].

"Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương", Cụm từ nầy nầy kết hợp với "u uẩn" khiến nỗi buồn tăng lên cao chất ngất vì đây là nỗi buồn của người bỏ thành về vùng "giải phóng" hoang vu xa vắng nên thiếu thốn mọi phương tiện vật chất, đã thế còn xa gia đính, người thân, hàng xóm cũ...và cả người yêu ! Tất cả nỗi buồn ấy được lồng vào khung cảnh trời chiều mênh mông quạnh vắng thì còn buồn nào hơn? Tâm trạng nầy là của người yêu và cũng là của tác giả ! Nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng từ ngữ rất đắc vị !thật suất sắc!

Tiếp theo là vấn đề trích dẫn tài liệu để chứng minh một ý tưởng nào đó chứa trong bài thơ. Ví dụ tả tâm trạng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du thì sau khi phân tích, phê bình, đánh giá đoạn thơ trên, ta cần dẫn chứng thêm một cảnh khác cũng gây buồn tượng tự của một tác giả khác. Dẫn chứng để củng cố lập luận, bổ sung hay mở rộng. Tài liệu có thể lấy từ trong văn học hoặc trong âm nhạc. Viêc làm nầy khiến độc giả tránh đựoc sự đơn điệu nhàm chán, họ sẽ thích thú khi bạn dẫn chứng được những tài liệu dồi dào với một bút pháp linh động, sắc bén.
Ví dụ tả tâm trạng Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du viết:

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

Ta viết lời bình:

Tác giả đã vẽ ra một không gian nhỏ bé đang dần chôn chặt tuổi xuân của cuộc đời Kiều, trong lầu ngưng bích này, Kiều đang bị giam lõng chốn lầu xanh, mất tự do. Bốn bề non xanh bát ngát nhưng nàng không được ra ngoài nhìn ngắm. Kiều không có ai làm bạn, chỉ có mỗi vầng trăng là người bạn tâm tình. Và chiếc đèn khuya le lói đơn độc gây cảm xúc đau đớn, với biết bao nhiêu nỗi cô đơn "bẽ bàng mây sớm đèn khuya", Kiều dật dờ trong tĩnh lặng: nửa cảnh, nửa tình, khiến nàng lo lắng sợ hãi.

Đây là một bức tranh đa dạng, phong phú về ngoại cảnh và tâm trạng, khắc hoạ nỗi đau buồn, mà Kiều đang nếm trải.
Ta có thể tìm thêm ý liên kết bởi một bài thơ (hay đoạn thơ) khác có nội dung tương tự bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, chẳng hạn trong "Chinh phụ ngâm" có một đoạn thơ thể hiện tâm trạng của người phụ nữ đáng thương thời chiến tranh, loạn lạc:

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Ta viết tiếp những lời bình:

Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng, thê lương. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!

Ta có thể dẫn chứng thêm lời bài hát "Tàu đêm năm cũ" của Trúc Phương nói lên tâm sự buồn đau đầy nước mắt trong một lần đưa tiễn người yêu tại sân ga vào một đêm đông giá lạnh :
"Trời đêm dần tàn tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn. Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay. Gió khuya ôi lạnh sao, ướt nhẹ đôi tà áo..."

Những dẫn chứng liên quan sẽ làm cho bài bình trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Sau khi viết xong phần nội dung ta kết thúc bài viết bằng kết luận. Kết luận là tóm tắt ý đã trình bày nhung cần đua một vài ý kiến riêng để bổ túc nội dung bài thơ tức là ý kiến mở rộng để độc giả suy nghĩ đến một vấn đề khác có liên hệ tới bài thơ nhằm gây hứng thú, thỏa mãn thị hiếu độc giả để khi đọc xong người ta cảm thấy vừa lòng, nhẹ nhõm!

Sau cùng khi hoàn tất bài bình bạn như trút hết gánh nặng, cảm thấy sảng khoái, nhưng đừng quên đọc lại. Đọc lại bài viết cũng là điều hứng thú qua đó mình có thể tự đánh giá sơ khởi giá trị bài viết và cũng để thưởng thức thành quả của mình. Điều quan trọng là sửa những lỗi chánh tả mà khi viết mình không nhận ra. Có những lỗi thông thường về cách hành văn cũng có khi lỗi do kiến thức chưa đạt trình độ hoặc nhớ không chắc, cần tham khảo lại sách vở.

Trên đây là những ý kiến thô thiển về cách bình một bài thơ( cũng có thể là một tập thơ hay một bài văn xuôi) tôi muốn gởi đến bạn đọc. Trên thực tế đôi khi người bình chỉ ghi vắn tắt theo cách "chớp nhoáng" như vài nét chấm phá của một bức tranh thủy mạc, nhưng vẫn thấy hay ! Chúc các bạn thành công!

Nguyễn Cang
6/12/18

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2019

Đêm Mơ Thánh Nữ - Thơ Hư Vô - Nhạc Trần Chương Lương




Thơ: Hư Vô
Nhạc: Trần Chương Lương
Hòa Âm:Thanh Hùng
Tiếng Hát: Nguyên Trường
Video: Bùi tấn Vinh


Xuân Cảm



Mỗi độ xuân về gợi nhớ nhung
Quê hương giờ cách biệt muôn trùng
Người đi dĩ vãng còn u uẩn
Kẻ ở tương lai vẫn mịt mùng
Rượu chỉ dâng sầu lên chất ngất
Thơ càng đưa ý đến mông lung
Thề xưa hẹn cũ còn nguyên đó
Ta thấy trong ta những thẹn thùng

Ta thấy trong ta những thẹn thùng
Buồn riêng còn nặng nỗi đau chung
Nhìn hoa chợt nhớ thời oanh liệt
Nghe pháo mà thương thuở vẫy vùng
Vận nước đành mang bao thống hận
Nợ nhà cam chịu những lao lung
Quê người nắng ấm mùa xuân đến
Lòng kẻ tha hương vẫn lạnh lùng

Lòng kẻ tha hương vẫn lạnh lùng
Ơn đời thông cảm đã khoan dung
Kìa bao dang dở làm chưa hết
Lại lắm oan khiên nói chẳng cùng
Đã chán đọc hoài thơ lạc vận
Còn buồn nghe mãi nhạc sai cung
Một mai nếu gặp người năm trước
Ta hỏi riêng ta có ngại ngùng?

Ngân Sơn

Xin Hỏi



Xin hỏi vầng trăng già hay trẻ
Mà sao buồn tẻ ánh trăng non
Hay bỡi trăng buồn đời cô lẻ
Sợ xa chú cuội gác lầu son.

Xin hỏi biển gì mà sóng vỗ
Ngày đêm giông tố quá nhiệm mầu
Sóng yêu biển mặn như hơi thở
Mà sao cam phận sóng bạc đầu?

Xin hỏi mây trời từ đâu đến
Lang thang mát mẻ buổi đầu thu
Mưa còn nhỏ giọt như định mệnh
Sương xuống chiều lên khói mịt mù.

Xin hỏi nhánh sông về mấy ngã
Cho con bìm bịp gọi nước lên
Lục bình lênh đênh về xứ lạ
Qua nẽo đường xa chẳng biết tên.

Xin hỏi đời người bao niên kỷ
Mà đầy khổ nạn kiếp long đong
Xoay vòng tròn “sinh, lão, bệnh, tử”
Để lúc ra đi chẳng bận lòng ?!

Dương hồng Thủy

Thì Thôi - Thì Thôi Mộng Đã...



Thì Thôi

Đêm về đếm bước cô đơn
Chỉ nghe tiếng gió lẫy hờn quanh đây
Đường về ủ rũ hàng cây
Lòng riêng mượn gió nhờ mây ngỏ tình
Gió còn ghẹo nguyệt lung linh
Mây cao hờ hững lặng thinh lững lờ
Thì thôi tình nhốt vào thơ
Lấy ai tri kỷ họa nhờ đôi câu


Kim Phượng
***
Cảm Tác:


Thì Thôi Mộng Đã Lạc Vào Ngõ Khuya


Chờ tri kỷ vào thơ âm chữ
Tuổi thanh xuân vận tứ xưa tình
Em thời mắt biếc môi xinh
Dưới hoa và nắng lung linh tơ vàng

Đêm nguyệt lửng lơ ngang nhánh lá
Gió thu se sắt dạ nhớ ai
Khói sương giăng kín dặm ngoài
Ngăn hình bóng cũ sông dài trắng mây

Chờ tri kỷ về đây dòng hoạ
Tím mực thương yêu đoá hồng trao...
Tỉnh ra! Lệ gối nghẹn ngào
Thì thôi mộng đã lạc vào ngõ khuya

Nhị( Cố Quận)
***
Thôi Thì... 


"Lấy ai tri kỷ hoạ nhờ đôi câu"

Thi nhân thả bút vài câu
Ước mong tri kỷ bắc cầu vào thơ
Mượn vần mây trắng lững lờ
Viết trang tiểu phẩm mờ mờ lung linh
Từ xa vang lại ân tình
Vờn qua cơn gió rập rình hàng cây:
Hồn thơ tri kỷ còn đây
Đông Tây cùng dạo gót giày cô đơn


Chinh Nguyên / HNT
Oct.22.19
***
Cà Phê Nhớ


Cà phê buổi sáng đậm màu nâu
Pha với sương lam chạnh nỗi sầu
Tàn Hạ vàng cành hoa héo héo
Chớm Thu tím ngọn cỏ rầu rầu
Người đi nuối tiếc vòng tay cũ
Kẻ ở hoài mơ giấc mộng đầu
Tình nhốt vào thơ buồn cất cánh
Lấy ai tri kỷ họa đôi câu?


Duy Anh
Nov. 2, 2019
***
Thôi Thì

Thôi thì, tri kỷ họa vài câu
Không đem vận nhốt nỗi sầu vào thơ
Vì sao người bước hững hờ?
Lại còn ghẹo gió lững lờ trêu trăng!
Lòng riêng nuối tiếc hay chăng?
Để cho giấc mộng khôn ngăn nổi buồn
Cõi lòng cảm thấy cô đơn
Người ơi! Hãy bớt giận hờn ...cho nghen!

songquang
20191109

Ngày Tri Ân Nhà Giáo 2019


Xúc động và cám ơn Luật Sư Hồ Trung Thành, CHS Phan Thanh Giản, nhân Ngày Tri Ân Nhà Giáo vừa qua, đã cho phổ biến một số hình ảnh Thầy Cô trước 1975, người mất người còn, đã bao năm qua rồi, đã bao nhiêu thay đổi rồi, mà anh Thành vẫn còn giữ được, qúy hoá lắm  ̣
Trong niềm thương tiếc một người bạn rất thân qúy, chúng tôi xin được chia xẻ với các học trò cũ và các bạn của Giáo Sư Phùng Quang Lộc, một số hình ảnh chụp (khoảng 2 năm trước khi anh lâm bệnh rồi mất vào mấy năm sau), trong ngày 2 bố con chúng tôi qua thăm anh chị ở Blois, bên Pháp, hơn 10 năm về trước.
Cầu chúc an lành cho chị Phùng Phạm Đức Hạnh, cháu Phùng Lương Việt và cho tất cả chúng ta ̣ Trân trọng,
PKT 11/26/2019