Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Mục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Mục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2025

Xích Bích Hoài Cổ 赤壁懷古 - Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng.

Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn)

Mời bạn đọc bài này để thấy Nguyễn Du đã mượn câu nào của Đỗ Mục cho Truyện Kiều.

Nguyên tác Dịch âm

赤壁懷古            Xích Bích Hoài Cổ

折戟沉沙鐵未銷 Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
自將磨洗認前朝 Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
東風不與周郎便 Đông phong bất dữ Chu lang tiện
銅雀春深鎖二喬 Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.

Chú thích:

赤壁 Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. Đời Tam Quốc, Chu Du nhờ gió đông nổi lên mới dùng hoả công đốt cháy các chiến thuyền của Tào Tháo.
周郎 Chu Lang: Tức Chu Du, trong quân gọi là Chu lang.
銅雀 Đồng Tước: Tào Thào xây đài Đồng Tước để dưỡng lão, nền cũ giờ còn ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam.
二喬 Nhị Kiều: Tức Đại Kiều, vợ của Tôn Sách, và Tiểu Kiều, vợ của Chu Du. Khi Khổng Minh khích Chu Du đánh Tào Tháo, có nói rằng: “Tào Tháo thường nói xây đài Đồng Tước để khi chiếm được Đông Ngô, sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về ở đây để mua vui lúc tuổi già”.

Dịch nghĩa

Xích Bích hoài cổ

Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết,
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua.
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du,
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khoá chặt hai nàng Kiều.

Dịch thơ

Xích Bích Hoài Cổ

Mũi kích chìm sâu sắt chửa tiêu,
Tự tay mài dũa nhớ tiền triều.
Gió đông chẳng giúp Chu lang đủ...
Đồng Tước khóa xuân Tiểu Đại Kiều.

Lời bàn:

Đỗ Mục đã dùng hai câu 3 & 4 (Đông phong bất dữ Chu lang tiện, Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều: nếu gió đông không đủ mạnh để giúp Chu lang thì đài Đồng Tước đã khóa xuân hai nàng Kiều của Đông Ngô) để kết thúc một bài thơ vinh lịch sử xuất sắc nhất thế giới. Thường thì thơ vịnh lịch sử rất khô khan (dễ gây nhàm chán), nhưng họ Đỗ đã lãng mạn hóa nó bằng hai câu này.

Nguyễn Du đã mượn câu 4 của bài này trong Truyện Kiều và dịch là“Một đài Đồng Tước khóa xuân hai Kiều”. Ngọn bút của họ Nguyễn tài khéo đến mức khiến độc giả quên hẳn họ Đỗ. Họ Nguyễn cũng đã từng mượn một câu thơ bay bướm nhất Đường thi của Thôi Hộ (Đào hoa y cựu tiếu đông phong: hoa đào như cũ cười với gió đông nhưng ông đã dịch câu này không hoàn hảo (Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông) vì cụm từ năm ngoái đã gây nên ngộ nhận: Hoa đào của năm ngoái (đã khô héo rồi) thì làm sao còn cười với gió đông được nữa? Tổng cộng Nguyễn Du đã mượn hàng trăm câu thơ Hán để tô điểm cho Truyện Kiều. Nếu Truyện Kiều không phải là một tác phẩm sáng tác bất hủ thì nó cũng xứng đáng là một phóng tác kiêm dịch thuật bất hủ.

Con Cò
***
Chuyện xưa Xích Bích

Cát vùi mũi kích vẫn chưa tiêu
Mài kích chùi lau hiện ấn triều
Nếu gió không lùa cho Xích Bích
Hai Kiều, Đồng Tước nhốt đìu hiu

Thanh Vân
***
Thời Tam Quốc, Tào Tháo có xây Đài Đồng Tước vào năm 210, rất xa hoa, tráng lệ để dưỡng già. Đài này cạnh sông Chương Hà, ở Nghiệp Thành, thuộc tỉnh Hà Nam, có 3 lầu, lầu giữa cao nhất, hai lầu bên cạnh thấp hơn, nối với lầu giữa bằng 2 cầu Ngọc Long và Kim Phượng. Đồng Tước Đài Phú của Tào Thực tả như sau:

Lập song đài ư tả hữu hề,
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng,
Liên nhị kiều ư đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.

(Lập hai đài phía trái và phải,
Có Ngọc Long và Kim Phượng,
Hai cây cầu nối đông và tây,
Như cầu vồng sáng chói không gian)

Trước khi xẩy ra trận Xích Bích, Đô Đốc nước Ngô là Chu Du còn do dự, thì Vũ Hầu Gia Cát Lượng đã khích Du bằng cách nói về đài Đồng Tước, và sửa đổi 2 câu thơ của Tào Thực thành:

LÃM nhị kiều ư đông NAM hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.
(Ngắm, hay bồng bế 2 kiều ở phía đông nam,
Để cùng vui sớm tối.)

Trong bài phú, 橋 kiều là CẦU, viết với bộ mộc; câu của Vũ Hầu, 喬 kiều là họ KIỀU, viết với bộ khẩu.

Hai KIỀU ở phía Đông Nam là Đại KIỀU vợ Tôn Sách, và Tiểu KIỀU vợ Chu Du ở Đông Ngô. Bồng hai nàng KIỀU ở Đông Ngô, cùng vui sớm tối thì Chu Du sao chịu được, phải đánh thôi. Và đã thắng nên mới có bài thơ của Đỗ Mục.

Xích Bích Hoài Cổ

Kích gẫy, cát vùi, sắt chửa tiêu,
Rửa mài nhận dấu biết tiền triều,
Gió đông chẳng giúp Chu Lang được,
Đồng Tước đài xuân nhốt nhị Kiều,

Bát Sách.
(Ngày 29/11/2025)

***
(i) Bài Đồng Tước Đài Phu của Tô Thức: Bài phú này gồm 252 chữ trong 40 câu. Trong phần góp ý bên trên của Bát Sách trích từ câu thứ 11 đến câu 14.

Đổng Tước đài
Nguyên tác:

立雙臺於左右兮,
有玉龍與金鳳。
連二橋於東西兮 / 攬二喬於東南兮,。,
若長空之蝃蝀。 / 樂朝夕之與共

Trích ĐồngTước đài phú, Tô Thức Khổng Minh sửa 2 câu

Phiên âm:

Lập song đài ư tả hữu hề,
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phụng.
Liên nhị kiều ư đông tây hề, / Lãm Nhị Kiều ư Đông Nam hề
Nhược trường không chi đế đống / Lạc triêu tịch chi dữ cộng

Phỏng Dịch:

Lập hai đài ở phải trái hề
Có Ngọc Long với Kim Phụng
Nối hai cầu ở đông tây hề /Ẵm hai Kiều ở đông nam hề
Như cầu vồng giữa trời rộng /Vui sớm chiều cùng chung sống

Nhớ Xưa Xích Bích

Giáo gãy cát vùi sắt chửa tiêu
Tự tay mài rửa rõ tiền triều
Gió đông chẳng giúp Chu Du thắng
Đồng Tước thâm nghiêm khóa nhị kiều

Sắt chửa tiêu, giáo chìm cát phủ
Mài rửa xong, triều cũ rõ ràng
Gió đông nếu phụ Chu lang
Khóa xuân Đồng Tước hai nàng Kiều xinh!

Lộc Bắc
Nov25
***

Nguyên tác: Phiên âm:

赤壁*- 杜牧 Xích Bích*- Đỗ Mục

折戟沈沙鐵未銷 Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu
自將磨洗認前朝 Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
東風不與周郎便 Đông phong bất dữ Chu Lang tiện
銅雀春深銷二喬 Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều

* Bài thơ trong các sách cổ Trung Hoa có tựa là Xích Bích. Xích Bích Hoài Cổ 赤壁懷古 là tựa của một bài từ điệu Niệm Nô Kiều 念奴嬌 do văn hào Tô Thức viết năm 1082.

Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Tam Thể Đường Thi - Tống - Chu Bật 三體唐詩-宋-周弼
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-楊士弘
Cổ Thi Kính - Minh - Lục Thì Ung 古詩鏡-明-陸時雍
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi Chú:

Xích Bích: một khúc sông trên Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. Đời Chiến quốc, Chu Du nhờ gió đông nổi lên mới dùng hỏa công đốt cháy các chiến thuyền của Tào Tháo, nay là núi Trì Tế ở phía tây nam huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc.
Chiết kích: kích bị hỏng; kích là một vũ khí cổ xưa
Nhận tiền triều: công nhận chiết kích là di tích của triều đại Đông Ngô
Chu Lang: là Chu Du, nguyên soái của Đông Ngô
Đồng Tước: lâu đài, trên mái có một con chim tước bằng đồng lớn, do Tào Tháo xây cất ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Bắc ngày nay, để vui chơi
Nhị Kiều: là hai con gái của Kiều Công, Đông Ngô. Đại Kiều là vợ của Tôn Sách và Tiểu Kiều là vợ của Chu Du. Khi khích Chu Du đánh Tào Tháo, Khổng Minh có nói rằng: "Tào Tháo thường nói xây đài Đồng Tước để khi chiếm được Đông Ngô, sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về ở đây để mua vui lúc tuổi già.''

Dịch nghĩa:

Nhớ Chuyện Xưa Xích Bích

Mũi kích gãy chìm trong cát, sắt chưa tiêu mòn hết,
Sau khi tự mình giũa mài đánh bóng, đã nhận thấy dấu vết triều đại qua.
Nếu gió đông không thuận lợi giúp Chu Du trong trận Xích Bích,
Thì có lẻ quân Tào đã thắng và hai nàng Kiều đã bị bắt giữ ở đài Đồng Tước trong mùa xuân đen tối.

Dịch thơ:

Xích Bích

Kích vùi trong cát chưa tiêu,
Giũa mài thấy dấu của triều ngày xưa.
Gió Đông nếu phụ Chu Du.
Chắc Xuân Đồng Tước cũng lưu hai Kiều.

The Purple Cliff by Du Mu
Translation by Witter Bynner:

On part of a spear in the sand still not rusted
I have burnished the symbol of an ancient kingdom...
Except for a wind aiding General Chou Yu,
Spring would have sealed both Ch'iao girls in Copper-Bird Palace.

The Crimson Cliff by Du Mu
Translation by Betty Tseng

Buried deep in the sand are broken lances, have yet rust are their spearheads,
I wash them up and recognise they are from a historic period.
Had the easterlies not blown in General Zhou's favour,
Cao's Tower of Bronze Peacocks would have held hostage the nubile Qiao sisters.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý: 

Xích Bích=赤壁 ở đâu?


Xích là đỏ thẩm, bích là vách núi nhưng các bờ Trường Giang vùng nam Vũ Hán bây giờ không nơi nào có vách núi hay bờ sông có màu đỏ. Trường Giang chảy quanh co trong một bình nguyên dưới Vũ Hán và lòng sông đã dời chỗ nhiều lần trong lịch sử, thường sau mỗi lần lũ lụt xói mòn bờ sông, tạo thành những khúc sông chết hình vành móng ngựa (曲=khúc trong tiếng Tàu). Một phần cũng vì thế, các địa danh hai bên bờ Trường Giang cũng đi vào lịch sử, và từ 1350 năm nay các nhà sử học đã tranh luận ồn ào (舌战群儒=thiệt chiến quần nho) về địa điểm Xích Bích. Người ta biết chắc đây không phải là Xích Bích ở Hoàng Châu (黃州) của Tô Đông Pha. Các khai quật khảo cổ gần đây phát hiện những di tích vũ khí thời Hán gần địa danh 蒲圻=Bồ Kì, Hồ Bắc và chính quyền Hoa Lục chính thức đổi tên Bồ Kì thành Xích Bích Thị để lôi cuốn du khách.

Hai chữ 赤壁 trong hình dưới trên bờ sông phía nam của Bồ Kì-Xích Bích Thị đã được biết từ hơn một ngàn năm.

Xích Bích có thật, cho dù chi tiết trận đánh (208-9) thì tùy người kể vì ta không thể tin hoàn toàn chính tác giả Trần Thọ của bộ Tam Quốc Chí nguyên thủy, khỏi cần nói đến các hư cấu của La Quán Trung trong bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa . Hai nhân vật "nhị Kiều" cũng có thật nhưng chuyện Gia Cát Lượng dùng Đổng Tước đài để nói khích Chu Du thì lại là chuyện hư cấu vì Tào Tháo xây đài đó năm 210, sau trận Xích Bích và Tào Thực làm bài phú cho đài năm 212. Trong bài phú đó không có câu nào nói về hai đài Kim Hổ và Băng Tỉnh, hay về nhị Kiều. La Quán Trung chép lại nguyên văn bài phú trong bộ truyện Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa và thêm vào bảy câu (銅雀臺賦). Hai câu mới sau câu 7 của nguyên tác là thế này:

立雙臺於左右兮, 有玉龍與金鳳 lập song đài ư tả hữu hề, hữu ngọc long dữ kim phụng
攬二喬於東南兮, 樂朝夕之與共 lãm nhị Kiều ư đông nam hề, nhạc triêu tịch chi dữ cộng

Theo người ni nghĩ, họ La dùng sự hiểu sai sử liệu của Đỗ Mục để đặt bày hư cấu về việc Khổng Minh nói khích Chu Du. Có hai "tường thuật" khác nhau về chuyện Khổng Minh, Lỗ Túc, và Chu Du bàn luận cách đối phó với Tào Tháo, nhưng không có sử liệu nào nói về vai trò của nhị Kiều hết.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Liễu Tuyệt Cú 柳絕句 - Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng.

Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Với 28 chữ của con yêu tinh Liễu Tuyệt Cú, Đỗ Mục đã tả hết được vẻ đẹp của liễu Phàn Xuyên, quê nội của mình. Mời các bạn thưởng thức

Nguyên tác           Dịch âm

柳絕句                   Liễu Tuyệt Cú

數樹新開翠影齊 Sổ thụ tân khai thuý ảnh tề,
倚風情態被春迷 Ỷ phong tình thái bị xuân mê.
依依故國樊川恨 Y y cố quốc Phàn Xuyên hận,
半掩村橋半掩溪 Bán yểm thôn kiều bán yểm khê.

Chú giải:

樊川 Phàn Xuyên là quê nội của tác giả, ở phía nam kinh thành Trường An, cách hơn 30 dặm. Cuối đời, khi từ Hồ Châu về kinh đô làm việc, ông cư ngụ tại đây.

數 sổ: một số.
翠 thuý: xanh biếc.
齊 tề: ngay ngắn, đều nhau, chỉnh tề.
翠影齊 thúy ảnh tề: hình ảnh đồng đều, xanh biếc.
倚風情態 ỷ phong tình thái: ở trạng thái dựa vào gió đông.

Dịch nghĩa

Mấy cây liễu vừa ra lá non, màu xanh biếc đồng đều,
Phất phơ trước gió xuân làm say mê.
Chạnh nhớ liễu nơi quê nội Phàn Xuyên cũng vậy,
Liễu xanh nửa che cây cầu quê, nửa che dòng suối.

Dịch thơ

Tuyệt Cú Về Liễu

Lá mọc non tươi sắc thắm xanh
Gió xuân phe phẩy đẹp như tranh
Y như cố quốc Phàn Xuyên gợi
Phủ nửa cầu tre nửa suối xinh

Lời bàn:

Đỗ Mục thấy liễu ở đây đẹp như liễu của quê nội Phàn Xuyên cho nên chạnh nhớ đến quê nội của mình. Ông muốn nói rằng liễu là linh hồn của quê nội; nhìn thấy liễu ở đây cũng như nhìn thấy quê nội vậy. Ông rất tự hào về bài thơ tuyệt cú tả liễu của của quê nội Phàn Xuyên: Liễu của quê nội Phàn Xuyên mọc ở chân cầu tre bắc qua suối, một nửa cây phủ cái cầu tre, một nửa cây kia phủ một khúc suối. Đẹp vô cùng.

Con Cò
***
Lời Đẹp Về Liễu.

Nẩy lá hàng cây biếc một mầu,
Xuân về gió lộng đắm lòng nhau.
Phàn Xuyên nhớ quá hờn quê cũ,
Nửa phủ giòng sông nửa xóm cầu.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Nov. 22/2025.
***

Liễu đẹp thướt tha

Xanh biếc một màu nhánh liễu non
Gió Xuân ve vãn vuốt cành thon
Quê nhà bỗng nhớ Phàn Xuyên cũ
Dáng liễu bên cầu nước suối trong

Thanh Vân
***
Tuyệt Cú Liễu

Búp lá dăm cây sắc biếc khoe
Gió xuân phơ phất dễ say mê
Nhớ nhung chốn cũ Phàn Xuyên đó
Nửa rủ cầu quê nửa suối che.

Lộc Bắc
Nov2025

***
Đỗ Mục là thần tượng của Bát Sách. Liễu Tuyệt Cú là một bài thơ rất hay của Đỗ, gợi nhiều cảm hứng nên BS đã tra cứu, loay hoay muốn dịch, nhất là sau khi đọc lời bàn của ÔC. Khi nhận được góp ý của anh Giám, BS phân vân, không biết tin ai, vì anh nói Phàn Xuyên không phải quê nội của Đỗ, mà là biệt thự của Trung Thư Xá Nhân, chức cuối cùng của ông khi về triều sau nhiều năm lang bạt vì bị thuyên chuyển. Phàn Xuyên ở hướng nam Tràng An. Theo tiểu sử thì Đỗ người huyện Vạn Niên, quận Kinh Triệu, nay là Tràng An, tỉnh Thiểm Tây. Vậy thì Vạn Niên và Phàn Xuyên không chừng là một, và đúng là quê nội của Đỗ. Tôi nghĩ như vậy vì 2 lý do:

1) Làm quan thì phải ở trong thành, đâu được ở biệt thự xa nơi đi chầu.
2) Tới cuối đời mới ở Phàn Xuyên, không lẽ lúc đó mới lấy chỗ ở làm hiệu? Hiệu phải có từ lúc vào đời chứ.

Và BS đồng ý với ÔC, nhất là vì lời bàn rất hay.
BS chỉ thắc mắc về chữ Hận ở câu 3: Phàn Xuyên hận, nỗi hận của Phàn Xuyên, hận vì người phải ở trong triều, chẳng trở về?
Tề là nghiêm, đều, cùng, tề chỉnh, nhanh, tên nước, triều đại. Tề nữ thì lại là con về, theo Nguyễn Tôn Nhan.
Ỷ là dựa vào.
Tình thái là tình hình.
Bị là mền, mặt ngoài, đến, tới, đắp lên, mặc áo, mang, vác, chịu, đủ, đội mũ…
Mê là bị mê hoặc, say đắm.
Yểm là che, đóng cửa (yểm sài phi)

Đây là bài dịch thoát:

Liễu 

Vài cây nhú lá mướt mầu xanh,
Đong đưa cùng gió ngẩn ngơ cành,
Tựa liễu Phàn Xuyên quê cũ hận,
Nửa che cầu xóm, nửa khe quanh.

Bát Sách.
(Ngày 23/11/2025)

Nguyên tác: Phiên âm:

柳-杜牧 Liễu - Đỗ Mục

數樹新開翠影齊 Sổ thụ tân khai thúy ảnh tề
倚風情態被春迷 Ỷ phong tình thái bị xuân mê
依依故國樊川恨 Y y cố quốc Phàn Xuyên hận
半掩村橋半拂溪 Bán yểm thôn kiều bán phất khê

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 万首唐人绝句-宋-洪迈
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石仓历 代诗选-明-曹学佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐 诗-清-圣祖玄烨

Sách thời Tống viết tựa đơn giản là Liễu và viết câu 4 Bán yểm thôn kiều bán phất khê. Sách thời Minh cho tựa là Liễu Tuyệt Cú và viết câu 4 với 2 chữ yểm. Sách thời Thanh cũng xài tựa và chữ như sách thời Minh, nhưng có cho thêm chữ phất là dị bản (thật sự chữ yểm mới là dị bản vì có sau bản thời Tống)

Ghi chú:

Thúy ảnh tề: hình ảnh xanh biếc và đồng đều
Tình thái: tình huống và trạng thái, tình hình
Y y: mơ hổ chỉ liễu rũ mềm mại, hoài niệm gắn bó với quê hương
Phàn Xuyên: tên dòng nước, vùng đất quê hương của Đỗ Mục (nay là Tây An, Thiểm Tây), nằm phía nam kinh đô Trường An.

Dịch nghĩa:

Liễu Liễu

Sổ thụ tân khai thúy ảnh tề
Mấy cây liễu mới ra lá non, màu xanh biếc đồng đều,
Ỷ phong tình thái bị xuân mê
Dựa vào gió liễu có hình dáng quyến rũ của mùa xuân.
Y y cố quốc Phàn Xuyên hận
Bỗng chạnh lòng nhớ lại quê hương Phàn Xuyên,
Bán yểm thôn kiều bán phất khê
Liễu xanh nửa che cây cầu làng quê, nửa phất phơ trên dòng suối.

Dịch thơ:

Liễu

Lá non mới nở rủ xanh mờ,
Đón dựa gió xuân liễu nhởn nhơ.
Chạnh nhớ Phàn Xuyên liễu xóm cũ,
Nửa che cầu ván nửa phủ bờ.

Sweeping Willows by Du Mu

Several newly blossoming willow trees show their uniform lush green; their graceful forms against the wind captivate the eye with spring's charm.

The sorrow for my hometown in Fanchuan is reluctant to part, half of a weeping willow hides the village bridge and half swinging gracefully over the rushing stream

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

倚風情態被春迷 Ỷ phong tình thái bị xuân mê
依依故國樊川恨 Y y cố quốc Phàn Xuyên hận

Tựa đề bài thơ là Liễu tuyệt cú (柳絕句) nhưng nếu không có từ liễu đó thì có thể người đọc không nghĩ rằng Đỗ Mục đang tả cảnh liễu xanh tươi mà muốn thổ lộ tâm tình về một tình thái (情態) khác.

Y y (依依) là một (động) từ kép với các nghĩa nhớ, nuối tiếc. Phàn Xuyên (樊川) không phải là tên quê nội của họ Đỗ như Thi Viện nói [quê của Đỗ Mục và ông nội, tể tướng Đỗ Hựu (杜佑) là Vạn Niên, Thiểm Tây, bây giờ là Lâm Đồng, một phần của Tây An] mà là Phàn Xuyên biệt thự nơi trung thư xá nhân (中書舍人) họ Đỗ ở lúc cuối đời. Phàn Xuyên cũng là phong ấp của Vũ Hầu, danh tướng Phàn Khoái (樊哙) đời Tây Hán, hướng nam Tràng An, nơi có sông Duật (潏河) chảy qua. Vì có biệt thự ở Phàn Xuyên, thi nhân họ Đỗ dùng biệt hiệu là Phàn Xuyên cư sĩ (樊川居士). Người đọc cần nhớ rằng thi nhân họ Đỗ có hoài bão văn võ toàn tài và đã từng viết chú thích cho cuốn Tôn Tử Binh pháp.

Nếu hiểu các từ kép và nhân/địa danh như thế thì người đọc phải phân vân thi nhân họ Đỗ đang ở đâu mà lại nuối tiếc cố quốc (故國) khi thấy liễu xanh che cầu và che dòng suối. Và ông đang hận (恨) chuyện gì ?! Phải chăng đây lại là một bài thơ nữa phản ảnh sự thất vọng của Đỗ Mục về hoạn lộ của mình?

Huỳnh Kim Giám
---------------
@ Ý kiến của Phí Minh Tâm:

Phàn Xuyên (樊川) không phải là tên quê nội của họ Đỗ ...
Nhiều trang web Trung Hoa cho Phàn Xuyên nay là Tây An, Thiểm Tây:
Tự điển Hán Ngữ 汉典“樊川”词语的解释 Phàn Xuyên 樊川 là:
水名。在今陕西省长安县南。其地本杜县的樊乡。汉樊哙食队_此,川因以得名。
thủy danh 。 tại kim thiểm tây tỉnh trường an huyện nam 。 kì địa bổn đỗ huyền đích phàn hương 。 hán phàn khoái thực đội _ thử , xuyên nhân dĩ đắc danh

Tên một con sông. Nằm ở phía nam huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây. Khu vực này ban đầu là trấn Phàn, huyện Đỗ. Con sông được đặt theo tên của Phàn Khoái, một vị quan nhà Hán chuyên cung cấp lương thực cho quân lính.

Trang Sưu Vân 诗词 杜牧 柳绝句 viết về Phàn Xuyên:

《樊川诗集注》唐·裴延翰《樊川文集序:「长安南下杜樊乡,郦元注《水经》,实樊川也…
《 phiền xuyên thi tập chú 》 đường · bùi duyên hàn 《 phiền xuyên văn tập tự 》: trường an nam hạ đỗ phàn hương , li nguyên chú 《 thủy kinh , thật phàn xuyên dã …

<Chú thích cho Tuyển tập thơ Phàn Xuyên> Thời Đường, lời tựa của Bùi Ngạn Hàn cho Tuyển tập thơ Phàn Xuyên: "Phía nam Trường An có trấn Đỗ Phàn, nơi Lý Uyên đã chú thích *Thủy Kinh* (Kinh Thủy Kinh), quả thực là Phàn Xuyên….

Trang web Bách Khoa Bách Độ 柳绝句_百度百科 viết về Đỗ Mục:

杜牧(803年-约852年)字牧之,号樊川居士,京兆万年 (今陕西西安) 人,晚年居樊川别墅,世称“杜樊川”,与李商隐并称“小李杜”,著有《樊川文集》

đỗ mục (803 niên - ước 852 niên ) tự mục chi , hào phàn xuyên cư sĩ , kinh triệu vạn niên ( kim thiểm tây tây an ) nhân , vãn niên cư phàn xuyên biệt thự , thế xưng “ đỗ phàn xuyên ”, dữ lý thương ẩn tịnh xưng “ tiểu lý đỗ ”, trứ hữu 《 phàn xuyên văn tập 》.

Đỗ Mục (803-852), tự là Mục Chi, hiệu là Phàn Xuyên Cư Sĩ , người quê ở Vạn Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây). Về già, ông sống ở phủ Phàn Xuyên và được gọi là "Đỗ Phàn Xuyên". Ông còn được gọi là "Tiểu Lý Đỗ" cùng với Lý Thương Ẩn soạn thuật “Phàn Xuyên Văn Tập”.

Phí Minh Tâm

***
@ Huỳnh Kim Giám trả lời Bát Sách:

Vậy thì Vạn Niên và Phàn Xuyên không chừng là một, ... BS

Muốn biết 樊川=Phàn Xuyên có phải là Vạn Niên chăng thì không khó lắm. Trích đăng dưới đây là trang zh.Wikipedia cho 樊川:

古地名,位于今陕西西安南郊。发源于秦岭的潏河在杜曲、韦曲一带的几十公里区段,因为是汉朝名将樊哙的食邑,被称为樊川。樊川风景美丽,唐朝是许多豪门府第所在,例如杜、韦二族。另外也是唐朝佛教中心,有兴教寺等名刹。诗人杜牧以家乡为号,故称为杜樊川. cổ địa danh, vị vu kim Thiểm Tây, Tây An nam giao。 Phát nguyên vu Tần Lĩnh đích Duyệt Hà tại Đỗ khúc, Vi khúc nhất đái đích kỉ thập công lí khu đoạn, nhân vi thị Hán triều danh tương Phàn Khoái đích thực ấp, bị xưng vi Phàn Xuyên。 Phàn Xuyên phong cảnh mĩ lệ, Đường triều thị hứa đa hào môn phủ đệ sở tại, lệ như Đỗ, Vi nhị tộc。 Lánh ngoại dã thị Đường triều phật giáo trung tâm, hữu hưng giáo tự đẳng danh sát。 Thi nhân Đỗ Mục dĩ gia hương vi hào, cố xưng vi Đỗ Phàn Xuyên.

[người đọc có thể để ý rằng tài liệu nói Phàn Xuyên ở hướng nam (nam giao) của Tây An, tên mới của Tràng An ngày xưa.]

Trong khi đó Vạn Niên ngày xưa là Lâm Đồng ngày nay - Lintong trong khung chấm đỏ, hình Google Maps ở dưới.

và ta có thể để ý rằng Lâm Đồng/Vạn Niên nằm ở hướng đông-bắc của Tây An/Tràng An, không phải ở hướng nam như Phàn Xuyên. Dãy núi dưới đáy hình là phần chân núi hướng bắc của rặng Tần Lĩnh; sông Duyệt chảy xéo hướng tây-nam giữa Xi'An và Tần Lĩnh. Con sông Phàn Xuyên trong tài liệu của anh Tâm là Duyệt Hà và vì nó chảy qua phong ấp của Phàn Khoái, nó được gọi là Phàn Xuyên. Phóng đại hình GM lên thì ta có thể thấy sông Duyệt (Yuehe) đó.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2024

Góc Đường Thi: Cung Từ 宮詞 - Đỗ Mục

Nguyệt minh hoa lạc hựu hoàng hôn

Đỗ Mục 杜牧 (803-852) Thi nhân đời Đường. Tự là Mục Chi 牧之. Người đất Kinh Triệu Vạn Niên (Nay là Tây An của tỉnh Thiểm Tây). Từng nhậm chức Trung Thư Xá Nhân (Trung Thư Tỉnh có biệt danh là Tử Vi Tỉnh), nên người đời còn gọi ông là Đỗ Tử Vi 杜紫微. Đỗ Muc xuất thân trong gia đình quyền thế hiển hách, thuộc thế gia của dòng họ Đỗ đất Kinh Triệu, là cháu 16 đời của nhà Quân Sự đời Tây Tấn Đỗ Dự 杜預. Ông với Đỗ Phủ mặc dù cùng là hậu duệ của Đỗ Dự, nhưng chi phái khác xa. Đỗ Phủ là con của Đỗ Đam, còn Đỗ Mục là con cũa Đỗ Doãn là con út của Đỗ Dự, ông nội của Đỗ Mục là Đỗ Hựu, Tể tướng nổi tiếng của nhà Đường, ông ta chịu ảnh hưởng rất lớn của Tổ phụ, cha là Đỗ Tòng Uất làm quan đến chức Giá Bộ Viên Ngoại Lang. Đỗ Mục rất tự hào về gia thế của mình.
Đỗ Mục giỏi cả văn, thơ. Văn chịu ảnh hưởng của Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên, thơ thì chịu ảnh hưởng của Lý Hạ, đồng thời với Bạch Cư Dị, nhưng ông không chịu ảnh hưởng của Bạch, mà còn có ý kiến khác độc đáo hơn Bạch nữa. Ông với Lý Thương Ẩn 李商隱 hợp thành một cặp LÝ ĐỖ của buổi Tàn Đường. (Cặp LÝ ĐỖ của buổi Thịnh Đường là Lý Bạch 李白 và Đỗ Phủ 杜甫).

Sau đây là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Cung Từ 宮詞 rất nổi tiếng của ông:


宮詞(其一)           Cung Từ (Kỳ Nhất)

蟬翼輕綃傅體紅, Thiền dực khinh tiêu phó thể hồng,
玉膚如醉向春風。 Ngọc phu như tuý hướng xuân phong.
深宮鎖閉猶疑惑, Thâm cung tỏa bế do nghi hoặc,
更取丹沙試闢宮。 Cánh thủ đan sa thí tịch cung.

* Chú thích:

- THIỀN DỰC 蟬翼 còn đọc là THUYỀN DỰC : là Cánh của con ve sầu.
- KHINH TIÊU 輕綃 : là loại lụa nhẹ được dệt bằng tơ sống, thường có màu đỏ nên còn được gọi là HỒNG TIÊU 紅綃. Trong bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị có câu :
五陵年少爭纏頭, Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu,
一曲紅綃不知數。 Nhất khúc HỒNG TIÊU bất tri số.

Có nghĩa:

Các chàng thiếu niên của đất Ngũ Lăng tranh nhau mà khen thưởng, nên chỉ đàn một khúc thì được không biết bao nhiêu là tấm Lụa Hồng.
- PHÓ THỂ 傅體 : là Áp sát, Bó sát lấy thân thể.
- NGỌC PHU 玉膚 : là Làn da trắng như ngọc ngà.
- TỎA BẾ 鎖閉 : TỎA là Khóa; BẾ là Đóng, nên TỎA BẾ là Khóa kín lại.
- DO 猶 : là Còn, vẫn còn, hãy còn.
- ĐAN SA 丹沙 : là Cát màu đỏ, còn gọi là Chu Sa, một lọai thảo dược.
- THÍ 試 : Ở đây không có nghĩa là THI, mà có nghĩa là THỬ.
- TỊCH CUNG 闢宮 : là THỦ CUNG SA 守宮沙 : Theo Nhan Sư Cổ 顏師古 đời Đường : Thủ Cung 守宮 là tên một loại côn trùng, còn gọi là Bích Hổ 壁虎 (Cọp trên vách) ta gọi là con Thằn Lằn. Các thuật gia chuyên môn bắt nuôi trong hộp kín, cho ăn chất chu sa, nên toàn thân đỏ lên, đến khi đúng phân lượng thì nghiền nát thành chất cát màu đỏ, điểm lên thân người phụ nữ, thì màu đỏ suốt đời không tan, chỉ khi nào giao hợp với nam nhân thì màu đỏ mới biến mất. Theo truyền thuyết là để giúp đàn bà giữ gìn trinh tiết, tránh tà dâm; gọi là Thủ Cung hay Tịch Cung cũng thế.

* Nghĩa bài thơ:

Bài Từ Trong Cung(Kỳ một)

Tấm áo lụa mỏng nhẹ như cánh ve bó sát lấy cơ thể một màu hồng thắm; Làn da trắng như ngọc như đang say trong gió xuân ấm áp. Trong cung sâu khóa kín im ỉm nầy nhưng vẫn còn nghi hoặc ngại ngần, nên lại phải dùng thủ cung sa để thử lại cho nhà vua biết là mình vẫn hãy còn trinh trắng.

Tội nghiệp! Không biết là nhà vua có nhìn nhõ ngó ngàng gì đến mình hay không, lại khéo lo vớ vẩn! Ăn mặc cho đẹp, cho hấp dẫn; Làn da trau chuốt cho thật trắng thật xinh, lại điểm Thủ cung sa để cho nhà vua biết là mình vẫn hãy còn trinh nguyên... làm hết cách có thể làm được chỉ với mục đích cuối cùng là : Được nhà vua chiếu cố đến ! Nhưng, hãy đọc tiếp bài 2 sẽ rõ...

Muôn hồng nghìn tía đua tươi,
Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần.
(Cung Oán Ngâm Khúc)


宮詞(其二)     Cung Từ (kỳ nhị)

監宮引出暫開門, Giám CUNG dẫn xuất tạm khai môn,
隨例須朝不是恩. Tuỳ lệ tu triều bất thị ân.
銀鑰卻收金鎖合, Ngân thược khước thu kim toả hợp,
月明花落又黃昏. Nguyệt minh hoa lạc hựu hoàng hôn.

* Chú thích:

- GIÁM CUNG 監宮 : là người có trách nhiệm giám sát các cung nữ trong cung cấm. Có thể là một Thái giám hay một cung nhân già nào đó được phân công. Khác với GIÁM QUAN 監官 là một chức quan có nhiệm vụ giám sát xem xét các việc trong cung tuỳ theo công việc được phân công.
- TÙY LỆ 隨例 : là theo lệ thường, Ví dụ như một tháng được chầu vua 2 lần, 3lẩn, 4 lần... gì đó chẳng hạn.
- TU TRIỀU 須朝 : là Phải đi chầu, bắt buộc phải đi chầu vua.
- BẤT THỊ ÂN 不是恩 : Không phải là ân trạch (đặc biệt) của vua.
- NGÂN THƯỢC 銀鑰 : là Cái chìa khóa bằng bạc.
- KHƯỚC THU 卻收 : Lại bị thu đi. Chữ KHƯỚC còn được viết như sau : 却.
- KIM TỎA HỢP 金鎖合 : là Cái ống khóa bằng vàng lại khóa lại.
- HỰU 又 : có nghĩa là Lại. HỰU HOÀNG HÔN 又黃昏 Có nghĩa : Hoàng hôn rồi lại hoàng hôn nữa, chỉ "hết ngày này qua ngày khác" như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều khi Thúy Kiều bị lọt vào lầu xanh là:

Song sa vò võ phương trời,
Nay HOÀNG HÔN đã LẠI mai HÔN HOÀNG hoàng.
Lần lần thỏ bạc ác vàng,
Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn !...

* Nghĩa bài thơ:
Bài Từ Trong Cung

Người Giám Cung tạm thời mở cửa để dẫn hết các cung nữ trong cung đó ra; Chỉ là theo lệ phải đi chầu chớ không phải là được đặc biệt hưởng ơn mưa móc gì của nhà vua cả. Rồi sau đó, chiếc chìa khóa bằng bạc lại được lấy đi khi ống khóa bằng vàng đã bóp khóa lại. Và... các cung nữ lại phải mõi mòn nhìn trăng sáng rồi trăng lại tàn, hoa nở rồi hoa lại rụng, hoàng hôn rồi lại hoàng hôn ... ở trong thâm cung bơ vơ buồn bã!
Cung son gác tía được bảo vệ bằng khóa bằng vàng, chìa bằng bạc sang cả vô cùng ! Nhưng cái sang cả hào nhoáng đó đã khóa chết bao nhiêu tuổi xuân, đã bức tử bao nhiêu tình xuân phơi phới của các nàng cung nữ đang độ xuân thì. Chầu vua chỉ là chiếu lệ, hoạ hoằn lắm, may mắn lắm mới được nhà vua để ý chiếu cố đến, vì ở hậu cung giai lệ hơn cả ba ngàn người, ba ngàn cung phi mỹ nữ nhưng nhà vua mỗi đêm chỉ "yêu" được có "một nàng" mà thôi, nên...

Cảnh hoa lạc nguyệt minh hôm ấy,
Lửa hoàng hôn như cháy tấm son.
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng,
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa!
(Cung Oán Ngâm Khúc)

* Diễn Nôm:

 Cung Từ  (kỳ nhất)

Áo lụa đào xinh tựa cánh ve,
Gió xuân da ngọc chẳng buồn che.
Cung sâu khóa kín còn nghi hoặc,
Mượn thủ cung sa thử lại khoe.

Lục nát:
Lụa đào mỏng, ôm sát mình,
Gió xuân say đắm da xinh trắng ngần,
Thâm cung khóa kín ngại ngần,
Thủ cung sa thử bao lần khoe vua.

 Cung Từ  (Kỳ nhị)

Giám cung tạm mở cửa cung môn,
Theo lệ chầu vua chớ chẳng hơn,
Sau đó khóa vàng chìa bạc cất,
Trăng tàn hoa rụng lại hoàng hôn!

Lục bát:

Giám cung mở cửa dẫn ra,
Chầu vua theo lệ không là ân riêng.
Khoá vàng chìa bạc cất liền,
Trăng tàn hoa rụng triền miên hôn hoàng!
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2024

Cung Từ Kỳ 1 宮詞其一 - Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguyên tác Dịch âm

宮詞其一              Cung Từ Kỳ 1 

蟬翼輕綃傅體紅 Thiền dực khinh tiêu phó thể hồng,
玉膚如醉向春風 Ngọc phu như túy hướng xuân phong.
深宮鎖閉猶疑惑 Thâm cung tỏa bế do nghi hoặc,
更取丹沙試辟宮 Cánh thủ đơn sa thí tịch cung.

Dịch nghĩa

Lụa quý mỏng như cánh ve sầu ôm trọn tấm thân hồng hào
Da thịt như ngọc trắng như say như tỉnh hướng đón gió xuân
Trong cung sâu, mọi cửa đều khoá chặt, như là nghi ngờ sẽ có những tình cảm không lường
Nên phải lấy những viên đơn sa để thử xem phận lãnh cung ra sao

Dịch thơ

Bài Ca Trong Cung Kỳ 1 

Lụa mỏng cánh ve phủ mỹ nhân,
Da ngọc say sưa ngóng gió xuân.
Thâm cung khóa kín còn nghi hoặc,
Vẫn lấy đơn sa xét thủ dâm? *

Con Cò
***
Bài Hát Trong Cung Kỳ 1
 
Cánh ve lụa trắng quấn thân ngà
Ngọc thể còn phong kín nhuỵ hoa
Cung điện ai người đang… bẻ khoá?
Sao còn chế thuốc “thủ cung sa”!!!

Kiều Mộng Hà
July.13.2024
***

Bài Ca Trong Cung Kỳ 1

Mong manh lụa mỏng phủ thân ngà,
Da ngọc chờ xuân gửi gió qua.
Ngờ vực cung sâu luôn khóa kín,
Cấm cung vẫn phải thử đan sa,

Mỹ Ngọc 
July 15/2024
***
Bài Hát Trong Cung Kỳ 1

Áo lụa mỏng manh dáng ngọc ngà
Chờ vua ân sủng mây mưa sa
Thâm cung cửa đóng then gài chặt
Bột đỏ đan sa thử thách hoa?

Thanh Vân
***
Bài Ca Trong Cung Kỳ 1

Cánh ve lụa quý phủ thân hồng
Da ngọc như say đón gió đông
Khóa chặt lầu vàng chưa chắc hẳn
Đơn sa thử tiếp chốn thâm cung

Lộc Bắc
***
Góp Ý Cho Bài Cung Từ Kỳ Nhất Của Đỗ Mục.

Có một số chữ khó, và một số nghi vấn cần được giải thích.

- Thiền là con ve sầu.
- Dực là cánh.
- Tiêu, với bộ mịch là tơ, lụa, la.
- Phó là giúp.
- Thể là thân thể, hình trạng, quy chế.
- Phu là da, cũng có nghĩa là đẹp đẽ, nông cạn, to lớn.
- Do có nhiều nghĩa lắm, ở đây có nghĩa là giống như.
- Thủ là lấy, chọn (như thủ sĩ)
- Thí là dùng, thử, xét nghiệm, dò xét.
- Tịch là tội.
- Đơn sa, như anh Giám nói, là một hợp chất mầu đỏ để trang trí, kể cả nghệ thuật nữ trang, phấn sáp. 

BS nghĩ rằng đơn sa giống như thủ cung sa của các nữ đồ đệ phái Nga Mi, mầu đỏ, được sư phụ chấm lên cánh tay. Nếu ai phạm giới, như Kỷ Hiểu Phù lấy Dương Tiêu thì thủ cung sa biến mất. Tại sao nó biến mất thì BS chưa bao giờ hiểu. ACE nào biết thì giảng giùm.

Dịch nghĩa::

Tấm thân hồng hào được phủ bằng lụa mỏng như cánh ve,
Làn da ngọc say mê chờ đợi nhà vua (nhưng vua không tới)
Cung sâu khóa kín như vậy mà vua còn nghi ngờ,
Nên lấy đơn sa tỏ lòng trung trinh để tránh bị đầy vào lãnh cung.

Dịch Thơ

Bài Ca Trong Cung Kỳ Nhất.

Cánh ve lụa mỏng phủ thân hồng,
Da ngọc như say đợi gió đông,
Cung sâu khóa kín còn nghi hoặc,
Lại cấy đơn sa đọa lãnh cung!

Bát Sách.
(ngày 13/07/2024)


Đỗ Mục 杜牧 Du Mu

宮詞二首 其一 Cung Từ Nhị Thủ Kỳ 1

Thiền dực khinh tiêu phó thể hồng
Ngọc phu như túy hướng xuân phong
Thâm cung tỏa bế do nghi hoặc
Cánh thủ đan sa thí tích cung
Mộc bản trong các sách:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全 唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Thiền dực: đôi cánh của một con ve sầu, thường được sử dụng như một ẩn dụ cho những vật cực kỳ nhẹ và mỏng

Khinh tiêu: lụa mỏng nhẹ
Ngọc phu: da ngọc trắng và mịn
Như túy: như say rượu
Xuân phong: làn gió ấm áp của mùa xuân, ẩn dụ cho ân sủng của vua
Thâm cung: cung điện sâu thẳm, cung điện vua chúa ngày xưa
Do nghi: hoài nghi có chuyện khác thường

Đan sa

Đan sa: một hợp chất lưu huỳnh và thủy ngân (cinnabar = mercuric sulfide = HgS), nguyên liệu chính để tinh chế thủy ngân; khoáng chất màu đỏ, dùng làm bột màu; tên một vị thuốc Bắc, còn được gọi là chu sa 朱砂; ngày xưa, nó được sử dụng như một trong những chất để chế thuốc tiên, trị “ngũ tạng bách bịnh”, nuôi dưỡng tinh thần, làm dịu tâm hồn, thông hơi thở, làm sáng mắt, diệt trừ ma quỷ…; bột đan sa còn được sử dụng trong cung điện để kiểm soát quan hệ tình dục của cung nữ (bằng cách chấm bột đỏ lên tay chân, thân thể mà không cho bôi rửa).

Đan丹: còn được phiên âm là “đơn”, nhưng không có từ “đơn sa” trong tự điển Hán Việt.
Thí: thử nghiệm
Tích cung: bảo vệ cung điện

Dịch nghĩa:

Bài Hát Trong Cung Kỳ 1

Áo lụa quý mỏng như cánh ve sầu ôm gọn những tấm thân hồng hào,
Da thịt như ngọc trắng như say hướng đón ân sủng của vua.
Trong cung, mọi cửa khóa chặt như là nghi ngờ có chuyện lạ,
Nên phải lấy bột đan sa tìm cách để bảo vệ thâm cung.

Hai câu đầu chỉ cung nữ ăn mặc mỏng manh hở hang để lôi kéo sự chú ý của vua. Câu 3 cửa cung khóa chặt vì lúc nào cũng nghi ngờ (vì làm sao tránh) có gian dâm. Còn thử dùng bột đan sa để cố bảo vệ cái hình thức trung trinh vì không có yêu thương chân thành.

Dịch thơ:

Tiếng Hát Trong Cung kỳ 1

Áo lụa mỏng manh phủ tấm thân,
Mịn màng da ngọc hướng hoàng ân.
Cửa cung khóa chặt do nghi hoặc,
Lấy bột đan sa khép nữ tần.

Song Of The Palace 1 by Du Mu

Silk robes as thin as cicadas’ wings cover beautiful pink bodies,
White pearl skins aim like drunk at attracting the emperor’s attention.
All doors of the palace are always locked because of suspicions,
Cinnabar powder is used in an attempt to protect the palace prudity.

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

更取丹沙試辟宮 cánh thủ đan sa thí tích cung

Vì là thơ thất ngôn tứ tuyệt, nhưng các chủ từ trong bài thơ toàn thuộc loại ẩn dụ nên khó hiểu và khó … dịch! Hai câu đầu tả trang phục và nhan sắc của người cung nữ, và câu 蟬翼輕綃=thiền dực khinh tiêu (áo lụa nhẹ và mỏng như cánh ve sầu) gợi ý rằng nàng ăn mặc rất khêu gợi. Chủ từ của câu thứ 3 lại không phải là người cung nữ vì dĩ nhiên việc khóa kín thâm cung phải do lệnh vua và là việc làm của các hoạn quan.

Thế thì ai là người 疑惑=nghi hoặc? Đa số người, kể cả người Tàu, hiểu nghi hoặc như nghi ngờ, không tin, nhưng hiểu thế thì chủ từ là ai? ai không tin? Và người ni tìm không ra định nghĩa cho cụm từ 疑惑 trong các từ điển Hán-Việt, Wiktionary cho ta nghĩa to not be convinced (hay to be unconvinced) – không được thuyết phục – và nghĩa này cho người đọc hiểu cung nữ muốn hỏi tại sao nàng không chinh phục được nhà vua.

Nghĩa nguyên thủy của 辟=tích là trừng trị rồi dần có các nghĩa cai trị, vua, v.v…; và tích cung ở đây là cung vua. Động từ 試=thí có thể hiểu là thăm dò và câu ‘thí tích cung’ hàm ý nàng cung nữ tìm cách được vua cho diện kiến. Nàng không hiểu vì sao nhan sắc và ăn mặc khêu gợi vẫn chưa đủ để vua được thuyết phục nên nghĩ đến cách dùng đan sa.

丹砂=đan sa hay 硃砂=chu sa là một hợp chất màu đỏ thẫm của thủy ngân (HgS), được người Ai Cập và Hoa Lục ngày xưa dùng làm phẩm nghệ thuật, trang trí kể cả nghệ thuật nữ trang, chế tạo phấn sáp. Có thể rằng cung nữ nghĩ nàng có thể mê hoặc vua nếu môi má đỏ hồng như đang thẹn thò. Đan sa cũng là thành phần chính trong các thuốc trường sinh bất từ thời Thương qua thời Đường và có thể cũng là một nguyên của sự yểu tử hay loạn trí của vài hoàng đế Tàu.

@ Mirordor bổ sung thêm về thủ cung sa:

守宫砂=thủ cung sa. Thủ cung sa là một sản phẩm của huyền thoại và nhà y học Tô Kinh (蘇敬) thời Đường đã nghi ngờ là không có thật.

「蝘蜓又名蠍 虎,以其常在屋壁,故名守宮,亦名壁宮。飼 朱點 婦 人,謬說也。」「 yển đình hựu danh hiết hổ, dĩ kỳ thường tại ốc bích, cố danh thủ cung, diệc danh bích cung。 tự chu điểm phụ nhân, mậu thuyết dã。[Dịch: yến đình (thằn lằn) còn có tên hiết hổ, thường ở trên tường nhà, tên cổ là thủ cung, còn được gọi là bích cung. Chuyện nuôi "chu điểm phu nhân" (phu nhân chấm đỏ) là chuyện huyễn.]

Tác giả Trương Hoa (张华) triều Tấn kể trong sách Bác Vật Chi (博物志) rằng Đông Phương Sóc chỉ Hán Vũ Đế cách kiểm nghiệm đàn bà còn trinh chăng; Đông Phương Sóc là một nhân vật bán huyền thoại vừa được gọi là thằng hề trong triều, vừa được xem là trích tiên với nhiều giai thoại liên hệ với các thần tiên của Hoa Lục.

Huyền thoại nói có hai cách tạo thủ cung sa. Cách thứ nhất là dùng đan sa nuôi con tắc kè - tên Hán bây giờ là bích hổ (壁虎) nhưng tên cổ là thủ cung (守宫) - hàng ngày và sau khi nó ăn chừng 7 cân đan sa (~3.5kg) thì nó sẽ biến thành màu đỏ và bị giã trong cối một ngàn lần thành ... 守宫砂=thủ cung sa. Không có khoa học gia nào thời nay có thể tin được chuyện có thể nuôi sống tắc kè hay thằn lằn bằng HgS, khỏi nói đến chuyện biến nó thành thuốc thánh. Cách thừ nhì đơn giản hơn, chỉ việc bỏ một cục đan sa giữa bốn chân con thằn lằn thì nó sẽ biến thành cát thủ cung, dĩ nhiên khó mà có thật.

Nhìn con Gecko gecko như thế này thì việc tin huyền thoại dùng nó để chế tạo thủ cung sa có lẽ không khó hiểu lắm. Sự thật là thế nhưng Đỗ Mục nghĩ thế nào về công dụng của đan sa thì người ni không hay!


Huỳnh Kim Giám




Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan 寄揚州韓綽判官 - Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Đỗ Mục có lý tưởng khôi phục thịnh thế của nhà Đường nên chú ý nghiên cứu các vấn đề kinh tế, quân sự, viết những bài chính luận bàn về trị loạn, thủ chiến, chú giải cả bộ binh thư Tôn Vũ. Trong sinh hoạt ông phóng túng tự do, không câu nệ tiểu tiết, coi thường lễ giáo. Về văn học, ông có những kiến giải tiến bộ, “lấy ý làm chủ, lấy khí làm phụ, lấy từ ngữ chương cú làm binh vệ” (Đáp Trang Sung thư), làm văn vì sự việc chứ chẳng phải “không ốm mà rên” (vô bệnh thân ngâm). Ông cố gắng đem chủ trương ấy vào trong sáng tác nên có ý nghĩa hiện thực khá mạnh, khả dĩ nối tiếp dư phong Bạch Cư Dị.

Đỗ Mục có nhiều bài thơ ưu thời mẫn thế, nặng lòng lo cho dân cho nước (Cảm hoài, Quận trai độc chước, Hà hoàng, Tảo nhạn, ...) hoặc bi phẫn khiển trách bọn hôn quân bạo chúa (Quá Ly Sơn tác, Quá Hoa Thanh cung, ...), cũng có bài cảm tác về đời người vì bản thân lận đận, bất đắc chí (Cửu nhật Tề sơn đăng cao, Lạc Dương trường cú, ...). Một số vần thơ ngắn trữ tình của ông là những bài xuất sắc nhất. Mỗi bài vừa là một bức tranh màu sắc tươi tắn, vừa là một tâm tình nhàn nhã, có khi phảng phất buồn, lãng mạn mà không suy đồi (Sơn hành, Bạc Tần Hoài, Thán hoa, Giang Nam xuân, ...). Thơ thất ngôn tứ tuyệt của ông rất được ưa thích, ngay vịnh sử cũng không khô khan (Xích Bích hoài cổ, Kim Cốc viên, Đề Ô giang đình,...). Ông có thể dựng nên những cảnh đẹp trong một khuôn khổ ngắn gọn; ý tình hàm súc được diễn đạt qua những lời lẽ điêu luyện. Ông không trội ở ngôn từ hoa mỹ bóng bẩy, cũng không trội ở chỗ cầu kỳ, quái đản mà bằng ngòi bút nhẹ nhàng vẽ nên những cảnh sắc đẹp đẽ, rung động lòng người một cách rất tự nhiên...

Nguyên tác          Dịch âm

寄揚州韓綽判官 Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan 

青山隱隱水遙遙 Thanh sơn ẩn ẩn thuỷ diêu diêu (dao dao),
秋盡江南草未凋 Thu tận Giang Nam thảo vị điêu.
二十四橋明月夜 Nhị-Thập-Tứ-Kiều minh nguyệt dạ,
玉人何處教吹簫 Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu.

Chú giải

隱隱 ẩn ẩn: lúc ẩn lúc hiện, mờ mờ, ẩn hiện.
遙遙 diêu diêu (còn đọc là dao dao): xa xa.
凋 điêu: tàn lụi, héo rụng.
教 giáo: dạy dỗ, báo cho biết

* Nhị-Thập-tứ-Kiều: Còn có tên là Hồng Dược kiều, ở huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô. Tương truyền rằng thời xưa có 24 cô gái đẹp thổi ống tiêu tại đây, nên cầu mang tên này.

Dịch nghĩa:

Gửi Phán Quan Hàn Xước  Dương Châu

Núi xanh mờ mờ nước xa xa,
Giang Nam cuối thu cỏ còn chưa xơ xác.
Tại Nhị-thập-tứ-kiều (cầu 24-kiều-nữ) đêm trăng sáng,
Không biết người ngọc ở đâu để nhờ dạy thổi ống tiêu.

(Dương Châu giờ là huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô).

Dịch thơ:

Gửi Phán Quan Hàn Xước  Dương Châu

Non xanh ẩn hiện nước xa xa,
Thu tại Giang Nam cỏ chửa già.
Nhị-Thập-Tứ-Kiều* đêm trăng sáng,
Mỹ nhân nào thổi ống tiêu ta?

Lời bàn:

Một bài thất ngôn tứ tuyệt bất hủ: ý tứ hàm súc, lời thơ điêu luyện, văn phong lãng mạn, cảnh sắc khêu gợi. Hãy mổ xẻ từng câu:

- Câu 1:
Non xanh ẩn hiện nước xa xa, Câu mở đề mờ ảo, báo trước một màn giao hoan khép hở, giống như diễn ra sau bức màn the thâm…

- Câu 2:
Thu tại Giang Nam cỏ chửa già. Gái thu (gái xồn xồn) tại Giang Nam vẫn còn xuân (câu này ngụ ý rằng cỏ tại “ngã ba Ông Tạ” của 24 cô gái xồn xồn miền Giang Nam chưa héo). Khéo vô cùng.

- Câu 3:
Nhị-Thập-Tứ-Kiều* đêm trăng sáng, Báo hiệu một màn sexy tuyệt vời sắp diễn ra trên cầu “Hai-Mươi-Bốn-Kiều- nữ” … giữa đêm trăng.

- Câu 4:
Mỹ nhân nào sẽ dạy ta thổi ống tiêu? Câu này là một ước mơ: không biết người đẹp nào (trong số 24 kiều nữ) sẽ biểu diễn thổi ống tiêu của ta? Một màn sexy tuyệt hảo. Dịch thoát là: Mỹ nhân nào thổi ống tiêu ta?
Màn Monica thổi ống tiêu của Bill Clinton trong phòng bầu dục tòa Bạch Ốc cuối thế kỷ 20 thua xa cảnh này! (Clinton cho 1 cô gái thổi ống tiêu lén lút trong phòng bầu dục giữa ban ngày nên thân bại danh liệt; Đỗ Mục chọn 1 trong 24 cô kiều nữ thổi ống tiêu công khai cho mình trong đêm trăng trên cầu thì được hậu thế chiêm ngưỡng!). Ai cao tay hơn ai?

Tái bút:

Cái đầu đề cũng ẩn một ý độc đáo: một bài thơ sexy như vậy, đáng nhẽ phải gửi cho một gã đa tình thì lại gửi cho phán-quan Hàn Xước. Chả biết phán quan họ Hàn phán thế nào?

Đọc một bài thơ Đường toàn bích có thể đoán được tác giả là ai. Muốn biết biệt tài của Lý Bạch thì cần đọc đủ loại thơ của ông (ngũ ngôn & thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn & thất ngôn bát cú, ngũ ngôn & thất ngôn trường thiên, cổ phong) vì loại thơ nào ông cũng có những bài trác tuyệt. Nhưng muốn biết biệt tài của Đỗ Mục thì chì cần đọc ngũ ngôn hoặc thất ngôn tứ tuyệt là đủ. (Diễn đàn LTCD thế kỷ 21 sẽ ra mắt khoảng 20 bài thơ tứ tuyệt của Đỗ Mục).

Con Cò
***
Nguyên Tác: Phiên Âm:

寄揚州韓綽判官 Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan

杜牧 Đỗ Mục

青山隱隱水迢迢 Thanh sơn ẩn ẩn thủy điều điều
秋盡江南草未凋 Thu tận Giang Nam thảo vị điêu
二十四橋明月夜 Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ
玉人何處教吹簫 Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu

Bài thơ được khắc đăng trong nhiều sách:

Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Đường Nhân Vạn Thủ Tuyệt Cú Tuyển - Tống - Hồng Toại 唐人萬首絕句選-宋-洪遂
Đường Âm - Nguyên - Dương Sĩ Hoằng 唐音-元-楊士弘
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁
Sách của Vi Hộc cho tựa là Ký Nhân 寄人. Sách đời Thanh cho dị bản trong câu 1: 遙遙diêu diêu thay vì 迢迢điều điều.

Ghi Chú:

Hàn Xước: không có chi tiết về cuộc đời, là bạn đồng nghiệp của Đỗ Mục. Vào thời Đường Văn Tông Đại Hòa năm thứ bảy đến năm thứ chín (833-835), Đỗ Mục làm Tiết độ sứ Chưởng thư ký Hoài Nam, Hàn Xước làm Phán quan Hoài Nam. Đỗ Mục về Trường An làm Giám sát Ngự sử làm tặng bài thơ này. Sau khi Hàn Xước qua đời, Đỗ Mục có làm bài thơ Khốc Hàn Xước 哭韓綽. Triệu Hổ 趙嘏/Tiết Phùng薛逢cũng có làm một bài thơ cho Hàn Xước tựa Tống Hàn Giáng Quy Hoài Nam Ký Hàn Xước Tiền Bối送韓絳歸淮南寄韓綽先輩.
Dương Châu: giờ là huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô.
Ẩn ẩn: mơ hồ, không rõ ràng
Điều điều: chỉ nước sông chảy dài xa xôi.
Diêu diêu: khoảng cách xa, cũng như điều điều
Giang Nam: thời Hán Đường là khu vực phía nam sông Dương Tử gồm tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam và Giang Tây.
Nhị thập tứ kiều: Có 2 giả thuyết:
Tên là cầu Hồng Dược của gia đình họ Ngô, ở huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô. Thời xưa có 24 cô gái đẹp thổi sáo tại đây, nên cầu có tên này.

Dương Châu thời Đường rất phồn thịnh. Thành cổ nam bắc hơn mười lăm dặm, đông tây hơn bảy dặm có 24 cây cầu với hướng và tên được ghi trong Mộng Khê Bút Đàm- Bồ Bút Đàm 夢溪筆談-補筆談 đời Bắc Tông.
Ngọc nhân: mỹ nhân chỉ ca kỹ Dương Châu; một ý cho là Hàn Xước vì Đỗ xài chữ ngọc thay vì mỹ.

Dịch Nghĩa:

Gởi Phán Quan Hàn Xước Ở Dương Châu

Núi xanh mờ mờ hai bên dòng nước trôi xa xa,
Giang Nam cuối thu cỏ cây còn chưa xơ xác.
Tại cầu Nhị Thập Tứ đêm trăng sáng,
Ai biết người ngọc dạy thổi sáo bây giờ ở đâu?

Dịch Thơ:

Gởi Hàn Xước

Nước trôi xa thẳm núi xanh mờ
Thu hết Giang Nam cỏ xác xơ
Hồng Dược cầu xưa trăng sáng tỏ,
Hỏi người dạy sáo đâu bây giờ.

To Official Han Chao of Yang Zhou by Tu Mu

The mountains are fade blue on the two sides of the far away flowing river,
The grass begins to wither in Jiang Nan at the end of autumn.
The moon is bright at the Twenty Four Lady bridge,
Where does the fair lady teach flute nowdays?

To Judge Han Chuo by Tu Mu
Translation by Ying Sun © 2008

From mist the green hills emerge and afar the river flows.
Grass still grows in Jiangnan, yet the end of fall is close.
Over the Twenty-Four Bridges the bright moon glows.
Where the fair lady teaches the flute no one knows. 

Phí Minh Tâm:
***
Gửi Phán Quan Hàn Xước Ở Dương Châu.

Mờ ảo non xanh nước thẳm sầu,
Thu tàn cỏ úa cảnh Dương Châu.
Cầu Hai Bốn dưới đêm trăng sáng,
Người ngọc năm nào dậy sáo đâu?

Mỹ Ngọc 
Dec. 29/2023.
***
Góp ý:

韓綽=Hàn Xước. Không có sử liệu nào về phán quan Hàn Xước cả nhưng Đỗ Mục cũng có một bài thơ tựa đề 哭韓綽=khốc Hàn Xước

平明送葬上都門 bình minh tống táng thượng đô môn
紼翣交橫逐去魂 phất sáp giao hoành trục khứ hồn。
歸來冷笑悲身事 quy lai lãnh tiếu bi thân sự
喚婦呼兒索酒盆 hoán phụ hô nhi tác tửu bồn

(nghĩa đại khái là sau khi dự lễ hạ huyệt Hàn Xước, thi nhân về nhà cảm thấy buồn vì thân phận và hô hoán vợ con đem rượu.)

Ho Đỗ buồn vì thấy đời người ngắn ngủi, chí nguyện không thành, hay vì nguyên ủy của cái chết của Hàn Xước thì không ai hay nhưng bài thơ gửi họ Hàn làm trước đó, sau khi Đỗ đã rời Dương Châu.

二十四橋=Nhị Thập Tứ kiều. Từ thời Tống, không còn ai biết đây là tên của một cái cầu hay của 24 cầu và có lẽ chỉ anh Minh Di có đủ tài liệu để tìm! Chúc Mục (祝穆, thời Tống) viết rằng nhà Tùy xây 24 cái cầu ở Dương Châu, mỗi cầu có một tên riêng, nhưng học giả Thẩm Quát (沈括, cũng thời Tống) xác quyết rằng có 24 cái cầu ở vùng đó nhưng chỉ còn sáu cái trong thời ông. Thời bây giờ người vùng Dương Châu vẫn còn dùm cụm từ 二 十=nhị thập để chỉ số nhiều hay tất cả (tựa như trường hợp 三十六 của tam thập lục kế). Giả thuyết, hay huyền thoại, trong thời Thanh nói có một cây cầu tên Ngô gia kiều (吳家磚) hay Hồng Dược kiều (紅藥橋) và có 24 kiều nữ (嬌女, và ta nên để ý rằng 嬌/đẹp là từ đồng âm của 橋/=cầu) thường thổi sáo trên cầu.- nguồn gốc 'tân thời" cho điển cố 玉人何處教吹簫=ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu; huyền thoại cũng nói thi nhân hay tụ họp trên cầu ngâm thơ (念詩=niệm thi) và ở Dương Châu bây giờ còn có một con đường tên 念四=Niệm Tứ; người địa phương viết thành 廿四=nhập tứ (vì 念 và 廿 là hai từ đồng âm theo pinyin niàn) nhưng 廿 cũng có nghĩa là nhị thập nên tên cầu 'Niệm Tứ' biến thành Nhị Thập Tứ.

教吹簫= giáo xuy tiêu nghĩa là sao? Đỗ Mục muốn nói người đương thời không còn biết thổi sáo, chuyện kiều nữ thổi sáo chỉ là huyền thoại, hay khung cảnh bên cầu không còn quyến rũ?

Huỳnh Kim Giám

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

Tặng Biệt kỳ 1 - 贈別其一 Đỗ Mục (Vãn Đường)


Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng.

Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng túng, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Chia ly diễn ra ở mọi tuổi, ở mọi tầng lớp, nên thơ tả chia ly có nhiều sắc thái khác nhau. Hãy thử tìm đặc thù của chia ly trong hai bài Tặng Biệt kỳ 1 & 2 của Đỗ Mục:

Nguyên tác Dịch âm

贈別其一 Tặng Biệt kỳ 1

娉娉嫋嫋十三餘 Phinh phinh niệu niệu thập tam dư,
豆蔻梢頭二月初 Đậu khấu sao đầu nhị nguyệt sơ.
春風十里揚州路 Xuân phong thập lý Dương Châu lộ,
卷上珠簾總不如 Quyển thượng châu liêm tổng bất như.

豆蔻 đậu khấu: Cây đậu khấu mọc ở xứ nóng, quả như quả nhãn, thứ trắng gọi là bạch đậu khấu, thứ đỏ gọi là hồng đậu khấu đều dùng để làm thuốc. Đậu khấu còn có nghĩa là thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi.

Dịch nghĩa

Tặng Lúc Chia Tay kỳ 1

Mảnh mai yểu điệu, mới hơn mười ba tuổi,
Như hoa đậu khấu trên ngọn cây mới nở lúc tháng hai.
Gió xuân thổi trên mười dặm đường Dương Châu,
Rèm châu đều cuốn lên, nhưng chẳng có ai giống như nàng.

Dịch thơ

Tặng Lúc Chia Tay kỳ 1

Eo thon yểu điệu độ mười ba
Đậu khấu tháng hai vừa nở hoa
Dương Châu chục dặm gió xuân thổi,
Vén hết rèm châu ai cũng thua

Con Cò
***
Các Bài Phỏng Dịch Khác:

Tặng Lúc Chia Tay

Hơn mười ba yểu điệu mình mai,
Đậu khấu đầu cành nở tháng hai.
Chục dậm Dương Châu xuân gió thổi,
Tung rèm châu sánh kịp không ai.

Lục bát.

Mười ba tuổi lẻ mảnh mai,
Như hoa đậu khấu tháng hai cành đầu.
Gió xuân chục dậm Dương Châu,
Thổi tung rèm gấm ai đâu đẹp bằng.

Mỹ Ngọc 
Feb. 17/2024.
***
Biệt Khúc (Kỳ 1)

Tuổi chớm mười ba đã thấy xinh
Tháng hai hoa khấu nhụy băng trinh
Dương châu mười dặm gió xuân dịu
Nét đẹp hoa kia vội … ẩn mình

Kiều Mộng Hà
Austin 19.2.24
***
Tặng Lúc Chia Tay Kỳ 1

Mười ba yểu điệu đẹp xinh thay
Đậu khấu phát hoa chớm tháng hai
Mười dặm Dương Châu xuân gió thổi
Rèm châu cuốn hết, chẳng ai tày!

Lộc Bắc
***
Tặng Biệt kỳ 1 

Tặng biệt ly người đẹp
Mười ba thon thả nét kiều hoa
Đậu khấu tháng hai sắc mặn mà
Mười dặm Dương Châu Xuân gió mộng
Vén rèm đẹp nhất dáng kiêu sa

Thanh Vân
***
Tặng Lúc Chia Tay Kỳ 1

Yểu điệu mười ba dáng dịu dàng
Như hoa đậu khấu tháng hai sang
Dương Châu mười dặm gió xuân thổi
Rèm vén nàng xinh đẹp ngỡ ngàng

Kim Oanh
***
Góp ý: 

Luôn tiện, BS đọc bài Tặng Biệt kỳ 2 thì thấy là tặng biệt thật, tả đêm chia tay, đêm cuối cùng của cặp tình nhân, với 2 câu chót mà BS rất thích:

Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt,
Thế nhân thuỳ lệ đáo thiên minh.

(Ngọn nến có lòng, thương tiếc cho cuộc biệt ly,
Vì người mà nhỏ lệ cho tới khi trời sáng,)

- Hai chữ thứ hai và ba trong câu đầu, phiên âm là niệu niệu, niễu niễu, hay niểu niểu đều được cả, Nguyễn Tôn Nhan dùng niểu niểu.
- Chữ thứ ba trong câu 2, với bộ mộc, phiên âm là Tiêu hay Sao đều đúng cả.

 Tặng Lúc Biệt Ly Kỳ Nhất

Xinh xinh, yểu điệu khoảng mười ba,
Đậu khấu đầu cành chớm nở hoa,
Dương Châu mười dặm xuân lùa gió,
Cuốn rèm ai nấy cũng thua xa.

Bát Sách.
(Ngày 17/02/2024)

***
Nguyên tác: Phiên âm:

贈別其一-杜牧 Tặng Biệt Kỳ 1 - Đỗ Mục

娉娉褭褭十三餘 Phinh phinh niệu niệu thập tam dư
豆蔻梢頭二月初 Đậu khấu tiêu đầu nhị nguyệt sơ
春風十裏揚州路 Xuân phong thập lý Dương Châu lộ
卷上珠簾總不如 Quyển thượng châu liêm tổng bất như

Mộc bản trong các sách:

Lý Nghĩa San Thi Tập Chú - Đường - LýThương Ẩn 李義山詩集注-唐-李商隱
Tài Điều Tập - Thục - Vi Hộc 才調集-蜀-韋縠
Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi Chú:

Phinh phinh niệu niệu: hình dung dịu dàng tốt đẹp
Tiêu đầu: trên cùng của cành cây


Elettaria cardamomum

Đậu khấu: tên khoa học Elettaria cardamomum , mọc ở xứ nóng, quả như quả nhãn, thứ trắng gọi là bạch đậu khấu, thứ đỏ gọi là hồng đậu khấu đều dùng để làm thuốc. Đậu khấu thường được sử dụng chỉ thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi, ẩn dụ chỉ các trinh nữ.

Xuân phong: gió xuân, không khí hòa hợp
Dương Châu: thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô
Châu liêm: rèm ngọc trai trên xe hoặc nhà, ẩn dụ có người phụ nữ đẹp phía sau
Tổng bất như: cũng không bằng

Dịch Nghĩa:

Tặng Biệt Kỳ 1    

Phinh phinh niệu niệu thập tam dư 
Đậu khấu tiêu đầu nhị nguyệt sơ 
Xuân phong thập lý Dương Châu lộ 
Quyển thượng châu liêm tổng bất như 

Tặng Vĩnh Biệt Kỳ 1

Với thân hình xinh đẹp thon thả, nàng mới hơn mười ba tuổi
Trông giống như ngọn cây đậu khấu lúc đầu tháng hai.
Gió xuân trên mười dặm đường đến Dương Châu
Có cuốn hết rèm châu lên, cũng chẳng ai bằng được nàng.

Bình luận:

Tương truyền vào cuối đời Đường Văn Tông, một hôm Đỗ Mục dạo chơi Hồ Châu thuộc Tỉnh Triết Giang gặp một bà già dắt theo cô thiếu nữ hơn 10 tuổi rất đẹp, nhiều hứa hẹn trở nên giai nhân tài sắc và đoan trang. Đỗ Mục vô cùng cảm mến, bèn thưa với Lão bà hẹn 10 năm nữa sẽ đến xin cưới cô gái. Hơn 10 năm sau, Đỗ Mục mới xin được thuyên chuyển làm Thứ Sử Hồ Châu. Kể từ buổi sơ ngộ đến lúc tìm lại đã 14 năm trôi qua, cô gái đã lấy chồng được 3 năm và có 2 con. Đỗ Mục rất thương tiếc, nên làm bài Trướng Thi/Thán Hoa để tỏ hối tiếc và tự trách mình bỏ lỡ cơ hội.

Bài thơ này của Đỗ Mục miêu tả và tặng thiếu nữ mà ông đã gặp, ước hẹn cưới và lỗi hẹn. .

Dịch thơ:

Tặng Vĩnh Biệt Kỳ 1

Đẹp xinh yểu điệu quá mười ba
Như khấu tháng hai chớm nở hoa
Mười dặm Dương Châu xuân gió mát
Chẳng ai sánh được nét mặn mà.

A Gift on Parting 1 by Du Mu

So slender, so graceful, she is probably older than thirteen,
Like a bud on a twig in the second month.
On the ten miles to Yang Chow, I have not seen
When all the bead curtains are raised, anyone more lovely.

Parting I by Du Mu
Translation by Witter Bynner

She is slim and supple and not yet fourteen,
The young spring-tip of a cardamon-spray.
On the Yangzhou Road for three miles in the breeze
Every pearl-screen is open. But there's no one like her.

A Parting Gift I of II by Du Mu
Translation by Betty Tseng

Delicate and graceful when she has barely turned thirteen,
Like tender cardamom sprigs come February's new moon.
Spring breezes waft along the three-mile long Yangzhou Avenue,
Up rolled many beaded screens yet there is none that is her equal in view.

Parting by Du Mu
Translation by Jiang Shao Lun 江紹倫

Part 1

娉娉裊裊十三余 Slender and graceful she is in early teens
豆蔻梢頭二月初 Like a cardamom tip with growing hints
春風十裏揚州路 Vernal breezes warm up ten miles of scenic roads
卷上珠簾總不如 Behind roll up curtains her beauty brilliantly shows

Part 2

多情卻似總無情 Deeply in love yet we appear not to be
唯覺尊前笑不成 Drinking to part we smile not on how to begin
蠟燭有心還惜別 The candle has a wick just as we have a heart
替人垂淚到天明 Through the night it sheds tears for us before we part

Phí Minh Tâm
***
Góp ý:

Đậu khấu còn có nghĩa là thiếu nữ xinh xắn mười ba, mười bốn tuổi.

Người ni không tìm thấy trang nào trên internet giải thích tại sao người Hoa Lục thời xưa - hay từ thời nào? - dùng thành ngữ 豆蔻年华=đậu khấu niên hoa để chỉ con gái 13-14 tuôi vì các trang có dẫn nguồn đều đưa ta đến bài thơ Tặng Biệt của Đỗ Mục!

豆蔻年华: 豆蔻年华,是一个汉语成语,拼音是 dòu kòu nián huá,意思是指少女十三四岁。 代指少女的青春年华。 出自唐·杜牧《赠别》诗。chỉ thiểu nữ thập tam tứ tuế。đại chỉ thiểu nữ đích thanh xuân niên hoa。xuất tự đường· Đỗ Mục "Tặng Biệt" thi。

Rất có thể rằng điển cố đậu khấu niên hoa ra đời sau – hay từ - bài thơ của họ Đỗ. Câu giải thích cụm từ 豆蔻 đến từ HVTĐ của Đặng Thế Kiệt và phản ảnh sự kiện rằng ta không thể tin các tài liệu ra đời sau 1975. Đậu khấu (Wurfbainia sp.) là tên chung của nhiều loài cây thân thảo, có củ, họ nhà gừng. Và người nào đã từng trồng gừng ở quê hương thì biết các loài cây này không có thân nên không có chuyện có hoa trên ngọn cây. Một loại quả bà con với đậu khấu mà các người quen nấu phở biết đến là cardamom hay thảo quả (草果).

Lá và hoa của đậu khấu như thế này và tại sao đậu khấu lại tượng trưng cho con gái 13-14 tuổi thì người ni chịu thua:


Huỳnh Kim Giám