Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

Xuân Quạnh Vắng - Nhạc& Lời:Tuyết Phan - Hoà Âm: CVD - Ca Sĩ: Thùy Dương


Nhạc& Lời:Tuyết Phan
Hoà Âm: VCD
Ca Sĩ: Thùy Dương

Tìm Lại Dư Hương

 

Thêm năm nữa phải sống tha phương
Đất khách buồn tênh, lạnh thấm xương
Tranh tết an hoà khơi nỗi nhớ
Nhạc xuân rộn rã gợi niềm thương
Cố nhân buổi ấy tâm còn tưởng
Bằng hữu hôm nao trí vẫn vương
Thầm ước về ngay thăm phố cũ
Cùng em tìm lại chút dư hương


Nhất Hùng

Đau Hồn Cố Quốc



Chiều rơi vào mắt em buồn
Còn ta nay thật nhớ thương vô cùng
Cố hương xa cõi mịt mùng
Lối xưa tha thiết cõi lòng xót đau.

Chiều xưa cùng bước qua cầu
Nay ta ly cách nỗi sầu mênh mông
Đau hồn từng bước lưu vong
Chốn xa biền biệt ngõ gần cô đơn!

Giữa khuya gió giục cơn buồn
Đau hồn cố quốc nửa thương nửa sầu!!!

10-1-2024
Hàn Thiên Lương


Bút Tiếp Trang Đời - Hy Vọng Cuối Đời

 

Bút Tiếp Trang Đời

Mười ba Tết nữa tuổi tròn trăm
Bút tiếp trang đời vượt khó khăn.
Tứ gửi giao lưu say sáng tác,
Bài trao xướng hoạ thú gieo vần.
Cành Tâm nẩy lộc đan tình nước,
Gốc Đức đâm chồi dệt nghĩa dân.
Chân-Thiện-Mỹ gương soi chính đạo,
Rồng vàng* hy vọng biếc mầm xuân !

PMK 
Thi Đàn Việt -TTVHNCT/TW Hội NCT
*Ghi chú: năm Giáp Thìn 2024

***
Cảm Tác: Bút TiếpTrang Đời

Ao ước tuổi đời trọn một trăm
Không bao giờ gặp những khó khăn
Nhân thân: sức khoẻ còn tươi dáng
Văn nghiệp: hồn thơ vẫn đẹp vần
Đức Hạnh duy trì cùng mọi cấp
Thiện Chân phát triển với muôn dân
Tề gia trị quốc theo đường chính
Năm mới Giáp Thìn ngợp sắc Xuân

CN-HNT, 
Jan.6.2024 (636)

Xuân Tình(Tản Đà) - Giáp Thìn 2024 (Đức Hùng)

  

Bài Xướng(Hát Nói):

Xuân Tình

Mưỡu

Ấy ai xoay tít địa cầu,
Đầu ai nửa trắng pha màu xuân xanh.
Trông gương mình lại ngợ mình,
Phải chăng vẫn giống đa tình ngày xưa.

Nói

Tản Đà xuân sắc,
Mấy mươi năm chẳng khác nước cùng non.
Cảnh còn nguyên, người cũng vẫn còn,
Còn chẳng khác “khối tình con” như trước nhỉ.

Lịch kỷ phong sương thần bất dĩ,
Quy lai hà nhạc ngã do liên.
Cuộc trăm năm vương lấy mối trần duyên,
Dù kiếp trước thiên tiên nay cũng tục.

Đã trót hình hài trong dầu đục,
Giữ sao cho hòn ngọc lại Hàm Đan.
Muôn vàn nhờ cậy giang sơn,
Một ngày còn ở nhân gian ngại ngùng.
Chúa Xuân có hộ nhau cùng.

Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu

Ngày và Nơi sáng tác : Không rõ, chắc là trước năm 1939. Có thể ở vùng Khê Thượng, Bất Bạt, nay thuộc Ba Vì, Hà Nội, Việt Nam.

***
Bài Họa (Hát Nói):

Giáp Thìn 2024

Mưỡu

Đêm mơ dừng bước trên cầu!
Nhìn xa tuyệt diệu một mầu xanh xanh!
Đang “bay” về đấy! Giật mình!
Nhớ bài Hát Nói “Xuân Tình” năm xưa!

Nói

Thôi! Hãy quên đi “Tản Đà Xuân Sắc”!
Hoàn cảnh giờ đã “khác” mọi thứ! Khác đến cả “nước non”!
Tết Con Rồng! Mừng nay “thân mạng” vẫn mạnh khỏe! Vẫn “còn”!
Vội lấy bút ghi lại vài “cỏn con”! Được nhỉ?

Giáp Thìn sắp đến mà không “dĩ”!
Nguyên Đán đang qua lẽ tất “liên”!
Vạn sự trên đời rốt lại chỉ là một chữ “Duyên”!
Hành, Xử, Tâm, Tình, Nhân, Quả sẽ là “Tiên” hay “Tục”!

Có ai dại bương chải chạy đi tìm “bến đục”?
Nhưng hỡi ôi! Trong “mơ màng” lại thấy như “Ngọc Bích Hàm Đan”!
Rồng bay chín cõi xuyên san,
Vượt qua vạn khổ! Thế gian ngại ngùng!
Tài ba biến hóa không cùng!

Đức Hùng

Sydney, Úc Châu, 28/01/2024




Miên Man


Trích nhật ký. Sáng mồng hai Tết Nguyên Đán, trú xá Nam Nghi, đảo Phú Quốc, năm nào, hai bố con, biển êm, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai ,một đàn cá nhỏ, lớp cá lớn hơn ở dưới độ sâu hơn ,tất cả đều bơi lội thong dong thành từng nhóm ̣ Một mẩu bánh mì liệng xuống chỗ nào , lớp cá chỗ ấy ,lặng lẽ chia nhau ,không thấy cảnh chen lấn tranh giành cá lớn lấn lướt ăn hiếp hay nuốt cá bé ̣Miên man ̣Có phải, từ lúc bắt đầu có tri thức rồi mỗi ngày một văn minh tiến bộ đã là nguồn gốc của tội ác, loài người chúng ta đã bắt đầu tội lỗi, không còn tôn trọng và yêu thương lẫn nhau nữa, thản nhiên giết hại lẫn nhau ̣Có phải vì thế Đức Phật Thích Ca với thuyết Từ Ái đã phải từ bỏ xa hoa quyền quý để sống hoà đồng với đám cùng dân khốn khổ? Có phải vì thế Đức Khổng Phu Tử đã 1 đời thất bại vì 5 chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín? Có phải vì thế Lão Tử cuối đời cỡi con trâu xanh đi mất biệt sau khi viết để lại cho hậu thế cuốn Đạo Đức Kinh khoảng 5000 chữ tựu chung nói về chủ nghiã Vô Vi , khuyên nên sống tự nhiên thuận theo sư an bài của Tạo Hóa ? Có phải vì thế ở bên trời Âu, cách đây hơn 2000 năm , Đức Chúa Jesus đã phải chịu đóng đinh trên thập tự giá với tất cả đau đớn thân xác mà vẫn không cảnh tỉnh và cứu chuộc được tội lỗi cuả chúng sinh? Miên man ... Năm mới, hy vọng mới, với mấy câu kệ của Tiền nhân để lại cho con cháu chúng ta cho đến ngày nay:

"Xuân khứ bách hoa lạc 
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá 
Lão tòng đầu thượng lai 
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận 
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai "
(Thiền Sư Mãn Giác )

Xuân đi trăm hoa héo 
Xuân đến trăm hoa tươi
Dòng đời trôi trước mắt 
Trên đầu tóc bạc thôi 
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết 
Đêm qua đâu đó một đoá mai mới nở như một nụ cười tươi 
(PKT - Mây Tần)

Vâng, xin hãy cùng nhau thành tâm cầu nguyện cho niềm tin nhân loại Tôn Trọng và Yêu Thương Lẫn Nhau vẫn còn đâu đó và mau sớm trở lại để cho con cháu chúng ta chẳng những thụ hưởng được mọi tiện nghi vật chất của một đời sống văn minh tiến bộ hiện đại mà còn sẽ được sống trong cảnh thanh bình như đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội một sáng đầu năm nào bên bờ biển Thái Bình ̣Mong lắm thay!

06/05/2023
Phạm Khắc Trí


Tưởng Nhớ Nhà Thơ Đằng Phương

Nhà Thơ Đằng Phương (1924-1990)

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một nhân cách lớn, một trí thức dấn thân hoạt động chính trị cho đến lúc nhắm mắt. Đó là con người lý tưởng suốt đời tận tận tụy vì nước. Ông qua Pháp học ở Đại học Paris, đỗ Tiến sĩ Chính trị học Đại học Luật khoa và Khoa học Kinh tế Đại học Paris. Trước năm 1975 Ông dạy hầu khắp các trường đại học tại Việt Nam, kể cả các trường Cao đẳng Quốc phòng, Tham mưu cao cấp, và Đại học Chiến tranh Chính trị; Khoa trưởng Luật khoa và Khoa học Xã hội Cần Thơ. Giáo sư chuyên về Luật Hiến Pháp, Bang giao Quốc tế, thông thạo Pháp Anh và Hán văn. và tiếp tục dạy học sau năm 75 ở hải ngoại. Ngoài dạy học và sự nghiệp chính trị ông còn là nhà nghiên cứu văn hóa, và đã có nhiều tác phẩm văn hóa : Quốc Triều Hình Luật" với nội dung bách khoa bao gồm nhiều lãnh vực văn hóa lịch sử Việt Nam. Dân Tộc Sinh Tồn, chủ thuyết của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Các Tần Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung. Tên Họ Người Việt Nam …vv…và nhiều tác phẩm viết bằng ngoại ngữ Anh, Pháp.

Trong dòng Thi Ca Việt Nam của đầu thế kỷ trước, khuynh hướng Đường thi dần suy tàn, nhường chỗ cho phong trào lãng mạn của thơ Mới 1932- 1945. Vườn thơ Mới nở rộ do ảnh hưởng của dòng thơ lãng mạn Pháp khởi từ đầu thế kỷ 19. Thơ mới phá bỏ đi những luật lệ cấu trúc gò bó của thơ cũ, mà hướng về cái nhìn thẩm mỹ theo tư duy nghệ thuật, điều đó đã dẫn đến sự thông thoáng hơn, mở đường cho các thể thơ tự do, hiện đại sau này. Những nhà thơ của thời kỳ ấy đều là những tài năng xuất chúng, sáng tạo bằng con tim. Tính lãng mạn của nghệ thuật thơ Mới rất đa dạng : Tình yêu mơ mộng lứa đôi, sự diệu kỳ của thiên nhiên, sự thần bí, triết học, về tình quê hương, lãng mạn anh hùng…. Những thi sĩ như Xuân Diệu:"Cảm Xúc ", Thế Lữ:"Nhớ Rừng", TTKH: "Hai Sắc Hoa Ti Gôn", Quang Dũng: "Tây Tiến"....vv…

Quan niệm về sáng tác của thi nhân lúc bấy giờ được thi sĩ Xuân Diệu minh họa trong bài thơ Cảm Xúc viết năm 1933 tặng thi sĩ Thế Lữ:

Cảm Xúc

" Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến...".
( Xuân Diệu)

Con người từ khi xuất hiện thi tính lãng mạn cũng phát sinh. Nhà thơ đã thả hồn mình theo trăng sao để gởi về nơi xa xăm ấy một chút tình. Thơ tình chứa đầy chất lãng mạn, là lời ru tiếng nấc của con tim, như dòng suối mát hương thơm nâng niu tình yêu nên đôi khi ý thơ vượt trước thời đại, chối bỏ những ràng buộc luân lý xã hội đương thời còn khép kín. Chỉ có nhà thơ mới dám bộc lộ sự thầm kín lòng mình, bên cạnh chồng vẫn nhớ người yêu. Thi sĩ TTKH để lại bài thơ tình Hai Sắc Hoa Ti gôn viết năm 1937 còn lưu trong văn học mà một thời đã gây xôn xao đầy bao giấy mực:

Hai Sắc Hoa Tigôn

“ Từ đấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
“Người ấy cho nên vẫn hững hờ”.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tâm bóng một người…”
(TTKH)


Dù đang trong thời kỳ phong trào lãng mạn của thơ Mới thịnh hành, nhưng không phải thi nhân nào cũng thả hồn theo mây gió mơ mộng. Bài thơ Nhớ Rừng viết năm 1934 của thi sĩ Thế Lữ là một bản bi hùng ca lãng mạn. Bài thơ ẩn dụ, mượn lời con hổ bị giam hãm trong cũi sắt nằm nhớ rừng để thể hiện sự u uất của lớp những người thanh niên trí thức yêu nước khát khao đất nước được tự do.

Nhớ Rừng

"Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
….
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?...."
( Thế Lữ)

Bài thơ Tây Tiến viết năm 1948 của thi sĩ Quang Dũng là bản tình ca chiến trường. Nhà thơ dù ở bất cứ nơi đâu, hoàn cảnh nào, ngay khi làm người chiến sĩ ở chiến tuyến đang đối mặt với sự chết, nhưng tâm hồn thi sĩ vẫn mơ mộng viết lên bài hùng ca có chất lãng mạn rất con người. Ý thơ phong phú lãng mạn, đã không quên hình bóng người yêu trong lúc chiến đấu. Sự lãng mạn thể hiện trong câu « Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm » trong thời điểm đó là một sự mất cảnh giác chiến đấu, nhà thơ tâm sự với nhạc sĩ Trịnh Hưng khi hai người cùng bỏ về thành vào những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Câu thơ ấy đã gây bao hệ lụy đớn đau cho cuộc đời của thi sĩ Quang Dũng về sau này:

Tây Tiến

"Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
…………
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm… ".
( Quang Dũng)

Nói đến giáo sư Nguyễn Ngọc Huy không thể không nhắc tới thi phẩm Hồn Việt, do nhà xuất bản Đuốc Việt Sài Gòn in 1950. Đây là một thi tập chính khí ca nói về đất nước, anh hùng nghĩa sĩ lên đường tranh đấu cho độc lập của tổ quốc. Thơ của Đằng Phương là tiếng lòng, là nỗi niềm của ông đối với dân tộc, đất nước, dù ông không nhận mình là thi sĩ. Nhưng thơ Đằng Phương rất điêu luyện, hồn thơ chan chứa tình quê hương, là khí thế cách mạng, hồi chuông thức tỉnh người dân vùng lên trong hoàn cảnh nước nhà đang bị ách thực dân:

“Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ
Mở rộng lòng đón gió lạ nghìn phương...²
Tôi chỉ là một người dân đất Việt
Cảm nỗi buồn của kẻ mất quê hương
Nỗi nhục nhằn, nỗi khổ cực đau thương
Của nòi giống nghẹt trong cùm lệ thuộc...”

Trong số những bài thơ của Đằng Phương có bài thơ Anh Hùng Vô Danh đề “Tặng những chiến sĩ vô danh tranh đấu cho Tổ Quốc”. Hầu như không một học sinh trung học nào, trong khoảng các thập niên '50, 60, mà không học. Thuở ấy chúng tôi không hề biết nhà thơ Đằng Phương là giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Bài thơ dài, người viết xin trích vài đoạn và chút cảm nghĩ về bài thơ : Bài thơ làm theo thể tám chữ theo khuynh hướng thơ Mới. Bài thơ độc đáo vì ngoài ý nghĩa ca ngợi những anh hùng vô danh dám hy sinh mạng sống trên chiến trường vì tổ quốc.

"Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước."

Anh hùng vô danh ở đây ngoài những tử sĩ, ý nghĩa Anh hùng vô danh còn nói đến những tiền nhân đã bất chấp gian nguy khó nhọc và mạng sống để phá rừng, xẻ núi lấp đồng sâu làm cho đất cát hoang vu biến thành một giải sơn hà gấm vóc. Bài thơ mang chí hướng dân tộc chống ngoại xâm:

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Ðã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải sơn hà gấm vóc
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng,
Ðã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Ðể bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc,

. Tác giả đã thể hiện một phong cách kẻ sĩ, ca ngợi những người còn được gọi là anh hùng vô danh một khi họ đã xong nghĩa vụ với đất nước, lui về ở ẩn không ham danh lợi phú quý:

"Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Ðể sống lại cuộc đời trong bóng tối.
Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sổ sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Ðã hoà hợp làm linh hồn giống Việt."
(Đằng Phương)

Những anh hùng vô danh đặc điểm của họ là hành động một cách vô tư, thấy việc nghĩa thì làm chẳng hề nghĩ đến bản thân. Cuộc đời của những anh hùng vô danh là quá đẹp vì lúc sống đã dám hy sinh thân mình cho tổ quốc, nhưng khi lìa trần thịt xương của họ đã tan vào lòng đất hòa với cỏ cây làm mầm sống cho dân tộc và họ trở thành linh hồn của đất nước. Chúng ta hay nhắc đến hồn thiêng sông núi chính là hồn các anh hùng vô danh.

Hồn thơ tựa làn khói, mùi hương; mà hương thì vô ảnh người đời chỉ cảm nhận chứ không thấy được hình tướng, nhưng ngay cả lúc hữu hình hồn thơ hóa thể thành sợi khói vầng mây người đời đều nhìn thấy nhưng nào ai nắm bắt được ? Người làm thơ ước mơ lớn nhất của họ là để lại cho đời dăm ba tác phẩm hay ít bài thơ đắc ý, cho dù mai sau tác giả có đi vào quên lãng thì những vần thơ trác tuyệt đó vẫn là những đóa hoa muôn sắc tặng đời. Nhà thơ Đằng Phương làm nhiều thơ, những bài thơ Anh Hùng Vô Danh, ca ngợi những tử sĩ, người đã có công dựng nước và giữ nước chống ngoại xâm. Đó là bản hùng ca vô tận sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt.

Đỗ Bình

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2024

Mai Phi

Dương Quý Phi Ngọc Hoàn là người đẹp nổi tiếng của Đường Minh Hoàng, đến nỗi Thi Tiên Lý Bạch cũng làm bài Thanh Bình Điệu để ca tụng, và có lẽ mọi người đều biết. Bài này tôi viết về Mai Phi để anh chị em đọc chơi, và cảm thương cho số phận của nàng.


Theo Wikipedia, Mai Phi là một nhân vật hư cấu, nhưng theo Tuỳ Đường của Chử Nhân Hoạch, và nhiều tài liệu mà Bát Sách đã đọc thì nàng thật sự là một phi tần của Minh Hoàng.

Mai Phi tên là Giang Thái Tần (Wikipedia ghi là Thái Bình), quê ở thôn Mai hoa, phủ Điền, tỉnh Phúc Kiến, con của tú tài Giang Trọng Tốn, làm nghề thầy thuốc. Nàng thông minh, hiếu học, 9 tuổi đã thuộc Kinh Thi, 14 tuổi đã làm thơ, phú, tự ví mình như Tạ Đạo Uẩn, là nữ sĩ nổi tiếng thời Đông Tấn.

Lúc đó, Minh Hoàng đã có mấy ngàn cung nữ, vẫn sai Cao Lực Sĩ đi tìm thêm người đẹp đưa vào hậu cung, trong số đó có Giang Thái Tần, và nàng được nhà vua vô cùng sủng ái. Là người mặt hoa, da phấn, thân hình ẻo lả, mình hạc xương mai, nên múa rất đẹp và lả lướt, nhẹ nhàng, nhất là điệu Kinh Hồng Vũ do nàng sáng tác, khiến Minh Hoàng vô cùng yêu mến, ví Thái Tần như Triệu Phi Yến đời Hán. Nàng còn rành thổi bạch ngọc tiêu, làm thơ, phú.

Vì sinh ở thôn Mai hoa, Thái Tần thích hoa mai, nên Minh Hoàng cho trồng rất nhiều mai quanh cung điện nàng ở, gọi là Mai Đình. Các quan, muốn lấy điểm với nhà vua, thi nhau đem dâng các loài mai quý hiếm, nên vườn mai càng ngày càng đẹp. Vào mùa hoa nở, Thái Tần mặc xiêm y màu trắng, tha thướt đi dạo Mai Đình, đẹp như tiên nữ… Minh Hoàng bèn gọi nàng là Mai Phi.

Năm 737, Võ Huệ Phi, cháu Võ Tắc Thiên chết, Minh Hoàng có vẻ buồn nên Cao Lực Sĩ đem vợ của Thọ Vương Lý Mạo là Dương Ngọc Hoàn vào “giải khuây” cho nhà vua. Vì sợ mang tiếng tranh vợ của con, Minh Hoàng cho nàng làm đạo sĩ, đạo danh là Thái Chân, đến năm 745, sau khi đã cưới vợ khác cho Lý Mạo, nhà vua mới chính thức phong chức Quý Phi cho Ngọc Hoàn. Từ đó, có sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai phi.

Dương Phi có tâm cơ, nhiều mưu mẹo, lại cả ghen, lúc nào cũng giữ chặt lấy Minh Hoàng, tìm cách nói xấu đối thủ nên nhà vua cũng khó chịu, muốn thăm Mai Phi là người dịu dàng, hiền thục, nhưng sợ Dương Phi, phải đi lén… có khi bị bắt gặp thì Dương Phi mè nheo, tra hỏi, khóc lóc đủ điều. Dương gọi Mai Phi là Mai Tinh. Mai Phi thất thế, lại ngây thơ, chẳng nghĩ ra được mưu kế gì mà đối phó, chỉ trả thù bằng cách gọi Dương là Phì tỳ, (con hầu mập) cho hả giận.

Rốt cuộc thì Mai Phi bị đưa vào cung Thượng Dương, là nơi ở của những phi tần bị thất sủng. Nàng vô cùng buồn bã, đau khổ, mà phải âm thầm chịu đựng. Khi thấy ngựa trạm đem đồ tiến cống về kinh, Mai Phi hy vọng rằng họ mang những cây mai lạ cho mình như thời còn được sủng ái, nhưng họ mang lệ chi, tức trái vải cho Dương Quý Phi.

Nhớ tới việc Trần A Kiều bị thất sủng, nhờ Tư Mã Tương Như làm bài Trường Môn Phú dâng Hán Vũ Đế mà được phục sủng, Mai Phi nhờ Cao Lực Sĩ tìm người làm bài phú hộ mình. Cao đang lo nịnh Dương Phi nên từ chối, nên Mai Phi tự làm Lâu Đông Phú dâng vua, trong đó có những câu nghe rất thảm, vừa than thở, thương thân phận mình, vừa trách móc Dương Phi đã cướp hết những gì mình có:

# Lãn thiền mấn chi xảo sơ, bế lũng chi khinh luyện ( mái tóc mây thưa chải, tấm áo thêu biếng cài)
# Khổ tịch mịch ư thông cung, đản chú tư hồ lan điện (khổ tịch mịch tại thông cung, lại riêng nhớ nơi lan điện.)
# Huống nãi hoa tâm dương hận, liễu nhãn lộng sầu. (lòng hoa khơi hận, mắt liễu lộng sầu)
# Đoạt ngã chi ái hạnh, xích ngã vu u cung. (cướp của ta niềm ái ân, hạnh phúc, bỏ ta vào u cung).

Dương Phi đọc bài phú, rất tức giận, tâu với Minh Hoàng: “người này viết ra những lời oán trách bệ hạ, nên ban tội chết.” Nhà vua hiểu được lòng ghen ghét của đàn bà, nên bỏ ngoài tai, và trong lòng cũng ân hận vì đã để Mai Phi cô đơn, đau khổ.

Có lần, Minh Hoàng chợt nhớ đến nàng, vô cùng thương cảm, liền sai người đưa tặng một hộc ngọc (một hộc là 10 đấu). Tuy cảm động, nhưng vì tự ái, nàng từ chối, và gửi nhà vua bài thơ sau đây :

一斛珠                     Nhất Hộc Châu  

柳葉雙眉久不描, Liễu diệp song mi cửu bất miêu,
殘妝和淚污紅綃。 Tàn trang hòa lệ ố hồng tiêu,
長門自是無梳洗, Trường Môn tự thị vô sơ tẩy,
何必珍珠慰寂寥? Hà tất trân châu ủy tịch liêu.

# Cửu là lâu, đã lâu.
# Miêu là tả, vẽ, tô.
# Hoà: cùng, trộn lẫn, hợp với nhau.
# Tiêu : lụa nõn, tơ sống.
# Ố :dơ, bẩn.
# Tự thị: từ đó, từ lâu.
# Sơ: cái lược, chải đầu, cắt ra.
# Tẩy : giặt, rửa, làm sạch.
# Uý, uỷ : an ủi.

Dịch Nghĩa:

Đã từ lâu, không tô điểm đôi mày lá liễu,
Trang phục tàn tạ, hòa với nước mắt làm ố những sợi tơ màu hồng,
Từ lâu, cung Trường Môn không được lau chùi, chăm sóc,
Mấy hạt trân châu này làm sao an ủi được nỗi tịch liêu.

Phỏng dịch thơ:

Mày liễu lâu ngày chẳng điểm tô,
Xiêm tàn hòa lệ, ố màu tơ,
Trường Môn từ đó không lau chải,
Cô tịch trân châu giúp được mô?

Khi An Lộc Sơn nổi loạn, năm 755, tiến về Trường An, Minh Hoàng đem theo Dương Phi và một số quan quân, trong đó có Dương Quốc Trung, Cao Lực Sĩ, chạy vào Thục năm 756 mà quên Mai Phi. Đến Mã Ngôi, quân nổi loạn, giết Dương Quốc Trung, và đòi giết Dương Phi. Minh Hoàng không có cách nào khác, đành phải nghe theo, và Phi bị thắt cổ.

Trong lúc Minh Hoàng ở Thục, thì phe An Lộc Sơn có nội biến, Sơn bị con là Khánh Tự giết. Tướng giặc khác là Sử Tư Minh cũng bị con là Sử Triều Nghĩa giết, rồi Tự và Nghĩa lại bất hòa, nhờ vậy mà Thái Tử Lý Hanh, lúc đó đã lên ngôi là Túc Tông, với sự phò tá của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật, đã khôi phục được nhà Đường. Minh Hoàng được tôn làm Thái Thượng Hoàng, trở về kinh đô năm 758.

Mai Phi bị chết khi Trường An thất thủ. Theo truyền thuyết, thì nàng báo mộng cho Minh Hoàng, chỉ chỗ vùi thân, nên nhà vua sai người tìm được xương cốt, đem mai táng ở Mai Đình.

Lúc đó, nhà vua đã già, sống rất cô đơn, bên mình chỉ còn Cao Lực Sĩ. Một hôm, Cao tìm được bức tranh vẽ Mai Phi đem dâng. Minh Hoàng xem tranh, vô cùng xúc động, nhớ lại kỷ niệm xưa mà lệ tuôn trào…Và làm bài thơ sau đây:

題梅妃畫真            Đề Mai Phi Họa Chân

億昔嬌妃在紫宸,Ức tích kiều phi tại tử thần,
鉛華不御得天真。Duyên hoa bất ngự đắc thiên chân,
霜綃雖似當時態,Sương tiêu tuy tự đương thì thái,
爭奈嬌波不顧人。Tranh nại kiều ba bất cố nhân.
                             
# Chân là thật, thực như chân dung là dung nhan thật.
# Ức: 10 vạn. Nghi ngờ. Liệu, lường, yên ổn. Nhớ.
# Tích: xưa, cũ. Ức tích là nhớ chuyện xưa.
# Kiều là đẹp, mềm mại, đáng yêu..
# Tử là tím.
# Thần là cung vua. Tử Thần chỉ cung vua.
# Duyên, diên là bột chì để vẽ. Duyên hoa là phấn sáp.
# Ngự : thuộc về vua, dâng lên cho, hiến cho. Ngăn lại (phòng ngự, ngự hàn)
# Sương: là sương, hay màu trắng.
# Tiêu là lụa, tơ.
# Thái: thái độ, dáng vẻ, hình dạng.
# Tranh : tranh giành, bàn luận, sai, khác, nào, thế nào…
# Nại : sao mà, làm sao, nhưng mà..
# Ba: sóng nhỏ, long lanh. (nhãn ba là sóng mắt)
# Cố : quay lại nhìn.

Dịch nghĩa:

Nhớ xưa, phi đẹp ở trong cung vua,
Không được dùng phấn bột để vẽ chân dung,
Tơ lụa trắng tuy hợp với thời trang,
Sao mà sóng mắt đẹp không nhìn người nào vậy?

Phỏng dịch thơ:

Đề Bức Vẽ Chân Dung Mai Phi

Nhớ xưa người đẹp tại thâm cung,
Nào ai đã được vẽ chân dung,
Thời trang lụa trắng tuy phù hợp,
Sao làn sóng mắt ngó mông lung.

Bát Sách.
(Ngày 07/01/2024)

***
1/ Các Bài Dịch: 題梅妃畫真 Đề Mai Phi Họa Chân (Lý Cơ Long):

Đề Chân Dung Mai Phi.

Nghĩ chuyện cung tần tuyệt đẹp xinh,
Phấn màu cấm lấy vẽ tô hình,
Thời trang lụa trắng nhìn tuy hợp,
Nhưng chẳng nhìn ai sóng mắt tình.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jan. 8/2024.
***
Đề Thơ Trên Tranh Mai Phi.

Nhớ xưa diễm lệ cận kề nhau
Chẳng có chân dung! Bởi tại sao?
Lụa trắng tình mai tinh khiết quá
Dáng thanh sóng mắt gợn ba đào

Kiều Mộng Hà
Austin.1.08.24
***

Đề Vẽ Chân Dung Mai Phi


Nét đẹp phi tần chốn cấm cung
Chưa ai từng được vẽ chân dung
Vuông khăn lụa trắng thời trang hợp
Diệu vợi mắt vời thoáng nhớ nhung

 

Kim Oanh

***

Chân dung Mai Phi

Nhớ phi xinh đẹp chốn thâm cung
Nét phấn xứng đâu họa mỹ dung
Khăn lụa choàng vai trinh trắng sắc
Mắt ngài mơ mộng ngắm không trung


Thanh Vân

***

Đề Bức Chân Dung Mai Phi

Nhớ trước phi tần chốn cấm cung
Phấn chì không được vẽ chân dung
Khăn choàng lụa trắng thời trang hợp
Sóng mắt mãi hoài gởi chốn không!?


Lộc Bắc
Jan24

***

Nguyên tác: Phiên âm:

題梅妃畫真-李隆基 Đề Mai Phi Họa Chân - Lý Long Cơ

億昔嬌妃在紫宸 Ức tích kiều phi tại tử thần
鉛華不御得天真 Duyên hoa bất ngự đắc thiên chân
霜綃雖似當時態 Sương tiêu tuy tự đương thì thái
爭奈嬌波不顧人 Tranh nại kiều ba bất cố nhân



Hình có chép bài Tạ Tứ Trân Châu, nhưng không biết chắc có bài Đề Mai Phi Họa Chân
Sách có mộc bản của bài thơ này:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Tuyển Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御選唐詩-清-聖祖玄燁

Tựa bài thơ trong sách của Thánh Tổ Huyền Diệp có ghi chú: Mai Phi ngoại truyện, Giang phi danh Thái Tần, thiện chúc văn tự bỉ Tạ nữ, sở cư tất chủng mai thụ thượng, dĩ kì sở hảo hí danh Mai Phi. 梅妃外传,江妃名采蘋善,属文自比谢女,所居悉种梅树上,以其所好戏名梅妃. Truyện Mai Phi kể rằng Giang phi tên Thái Tần, nổi tiếng là người có tài viết văn nên tự ví với Tạ nữ, nơi chỗ ở có trồng nhiều cây mai, nên được đặt tên vui là Mai Phi theo sở thích.

Dịch nghĩa:

Đề Mai Phi Họa Chân Đề Bức Vẽ Chân Dung Mai Phi
Ức tích kiều phi tại tử thần Nhớ phi xinh đẹp ở trong thâm cung,
Duyên hoa bất ngự đắc thiên chân Không được vẽ chân dung với phấn bột.
Sương tiêu tuy tự đương thì thái Tuy khăn quàng lụa trắng rất hợp với thời trang,
Tranh nại kiều ba bất cố nhân Nhưng mà sao ánh mắt đẹp không nhìn ai hết vậy?

題梅妃畫真-李隆基 Inscription On Mei Fei Portrait by Li Long Ji
億昔嬌妃在紫宸 I remembered the pretty concubine living in the Palace,
鉛華不御得天真 She did not have a portrait with chalk powder.
霜綃雖似當時態 Although her white silk scarf was stylish,
爭奈嬌波不顧人 Her beautiful gaze was directed at noone.

Dịch thơ:

Đề Chân Dung Mai Phi


Nàng sống an bình nơi cấm cung,
Chưa từng được vẻ bức chân dung.
Khăn quàng lụa trắng thời trang tuyệt,
Ánh mắt nhìn ai vẽ nhớ nhung.


Chân Dung Mai Phi

Nhớ phi vui sống trong cung,
Chưa từng ai vẽ chân dung cho nàng.
Khăn lụa trắng hợp thời trang,
Ánh mắt xinh đẹp chẳng màng ngó ai.

Phí Minh Tâm
01-12-2024

2/ Các Bài Dịch: 一斛珠 Nhất Hộc Châu (Giang Thái Tần) 


Nhất Hộc Châu Của Mai Phi

Chàng tiếc đôi mày lá liễu sao?

Lệ rơi hoen ố áo tơ đào.
Trường Môn chẳng được ai chăm sóc,
Hà tất trân châu giảm nỗi đau?

Con Cò
***
Một Thùng Châu Báu

Kẻ vẽ mày ngài biếng tự lâu,
Xiêm y thấm lệ đã hoen mầu.
Trường Môn tự đó thôi chăn sóc,
Sao lấy trân châu xóa thảm sầu?

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Jan. 8/2024
***
Trả Lại Hộc Châu

Mắt phượng mày thanh chẳng điểm trang
Xiêm y lệ ố … khổ hồng nhan
Trường Môn lạnh lẽo giăng màn nhện
Nhìn hộc trân châu dạ lại càng…

Kiều Mộng Hà
Austin.1.08.24
***

Nhất Hộc Châu  


Mày liễu không tô đã tự lâu
Phấn son hòa lệ ngấn tơ nhầu
Trường môn quên lãng không trang điểm
Sầu thảm đâu cần đến ngọc châu


Kim Oanh

***
Trả Lại Trân Châu

Mắt ngọc đã lâu thiếu điểm trang
Xiêm tơ lệ ướt ố màu loang
Trường Môn không được ai chăm sóc
Trả lại trân châu thiếp chẳng màng

Thanh Vân
***
Một Hộp Ngọc

Mày liễu lâu ngày chẳng điểm tô
Áo nhàu nước mắt ố khăn tơ
Trường Môn từ đó không chăm sóc
Châu ngọc sao đền khổ biệt cư!?

Lộc Bắc

Jan24
***
Nguyên tác:       Phiên âm:

一斛珠-江采蘋 Nhất Hộc Châu – Giang Thái Tần


桂葉雙眉久不描 Quế diệp song mi cửu bất miêu
殘妝和淚污紅綃 Tàn trang hòa lệ ố hồng tiêu
長門自是無梳洗 Trường Môn tự thị vô sơ tẩy
何必珍珠慰寂寥 Hà tất trân châu ủy tịch liêu


Bài thơ này được đăng trong sách các đời Tống, Minh, Thanh:

Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú - Tống - Hồng Mại 萬首唐人絕句-宋-洪邁
Thạch Thương Lịch Đại Thi Tuyển - Minh - Tào Học Thuyên 石倉歷代詩選-明-曹學佺
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

với tựa là Tạ Tứ Trân Châu 謝賜珍珠. Tựa trong sách NĐTĐT (hình bên) có thêm ghi chú: Thượng tại Hoa Ngạc lâu, phong trân châu nhất hộc, mật tứ phi, phi bất thụ. 上在花蕚樓, 封珍珠 一斛, 密賜妃, 妃不受. Trên lầu Hoa Ngạc, vua bí mật trao tặng phi một hộc ngọc trai, phi không nhận.

Tựa Nhất Hộc Châu có thể bị nhầm với bài từ cùng tên của Lý Dục. Ngoài ra theo mộc bản trong các sách, chữ đầu trong câu 1 phải là 桂quế mà các văn bản của phe ta, cũng như vài trang web chữ Hán chép là 柳liễu, cả hai chữ đều có bộ 木 mộc đứng trước. Chữ liễu hợp với việc miêu tả chân mày phụ nữ hơn chữ quế, nhưng tôn kính thi nhân nên dùng đúng chữ.

Dịch nghĩa:

Tạ Tứ Trân Châu Từ Chối Châu Ngọc


Quế diệp song mi cửu bất miêu Đã lâu lắm, không còn vẽ chân mày lá quế,
Tàn trang hòa lệ ố hồng tiêu Áo quần cũ xưa hoen ố nước mắt.
Trường Môn tự thị vô sơ tẩy Từ đó, cung Trường Môn không được lau chùi,
Hà tất trân châu ủy tịch liêu Làm sao châu ngọc có thể an ủi được nỗi cô đơn.

謝賜珍珠-江采蘋 Refusing Precious Pearls by Jiang Cai Ping
柳葉雙眉久不描 Has been a long time since I painted my cinnamon leaf eyebrows
殘妝和淚污紅綃 My clothes are old and tainted with tears
長門自是無梳洗 Chang Men palace has not been cleaned since,
何必珍珠慰寂寥 How can pearls alleviate loneliness?

Dịch thơ:

Cảm Tạ Trân Châu


Mày quế lâu nay kẻ chẳng tươi,
Áo hoen nước mắt tân trang lười.
Trường Môn trống vắng không chưng dọn,
Bảo vật trân châu há thế người.

Tạ Từ Châu Ngọc

Bao năm mày quế không tô,
Y trang hoen ố chưa khô lệ sầu.
Trường Môn trống vắng đã lâu,
Ngọc ngà châu báu thế đâu được chàng.

Giang Thái Tần chỉ để lại có một bài thất ngôn tứ tuyệt. Theo Đường Thi Đại Từ Điển phiên bản tu chính, Giang Thái Tần, không rõ năm sinh và mất, là thiếp của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, người Phủ Điền (nay là Phúc Kiến). Vào đầu triều đại Khai Nguyên, Cao Lực Sì đã chọn nàng để phục vụ Huyền Tông. Theo Mai Phi Truyện của Tào Nghiệp, nàng thông minh và giỏi viết văn, hay so sánh mình với Tạ Đạo Uẩn. Dinh thự trồng đầy hoa mai, nên được Huyền Tông đặt tên vui là Mai Phi. Mai Phi chết trong loạn An Lộc Sơn. Theo một truyền thuyết, khi Đường Huyền Tông trở lại Trường An, nàng về báo mộng cho biết nơi bị vùi xác thân nên được vua cải táng. Theo một truyền thuyết khác đáng tin hơn là Đường Minh Hoàng thương nhớ nàng. Một hôm Cao Lực Sĩ tìm được một bức chân dung của Mai Phi đem dâng vua. Đường Minh Hoàng xem hình xúc động, có làm bài thơ Đề Mai Phi Họa Chân 題梅妃畫真 để nhớ người xưa.

Phí Minh Tâm
01-12-2024
***
Huỳnh Kim Gám Góp ý:

一斛珠= Nhất Hộc Châu không phải là tên một bài thơ mà là một bài từ.

Trữ Nhân Hoạch ( 褚人穫, không phải Chử) mà Bát Sách nói đến trong paragraphe thứ nhì là một tác giả thời Thanh (褚人穫, 1635年—?) và Tùy Đường là 隋唐演義=Tùy Đường diễn nghĩa, một cuốn tiểu thuyết dã sử, tựa như Tam Quốc Chí diễn nghĩa. Sau này Tàu làm nhiều phim dã sử dựa trên các mẫu truyện trong Tùy Đường và có thể rằng BS đọc về Mai Phi qua các bài cán ngố viết về bộ phim. Tên của Mai Phi không có trong bất cứ một sử liệu nào hết và được nêu ra lần đầu tiên trong Mai Phi Truyện (梅妃傳) thời nhà Nguyên nhưng gán tác giả cho Tào Nghiệp (曹鄴), một thi sĩ thời Đường.

Học giả Lỗ Tấn viết năm 1927 rằng Mai Phi là nhân vật hư cấu.và các nhà nghiên cứu Tàu thời nay bảo rằng quê hương Phủ Điền, Phúc Kiến của Mai Phi nằm dưới nước trong thời Đường Huyền Tông. Và vì Mai Phi là một nhân vật hư cấu thì dĩ nhiên bài thất ngôn tứ tuyệt này không thể là do nhân vật hư cấu Giang Thái Tần (江采蘋) làm!

Bảo Google tìm câu đầu bài thơ thì được tựa đề 謝賜珍珠=Tạ Tứ Trân Châu và câu này: '作者:佚名=Tác giả: dật danh' trong trang đầu tiên. Rất tiếc là tôi không thể mở được trang đó.


Phí Minh Tâm góp ý thêm:

Học giả Lỗ Tấn viết năm 1927 rằng Mai Phi là nhân vật hư cấu.

Lỗ Tấn cũng có lý lắm khi nói Mai Phi và người trong bức họa là hư cấu vì chính Đường Minh Hoàng cũng xác nhận Mai Phi chưa hề được vẽ chân dung. Nhưng bài thơ của ĐMH cũng xác nhận là có một Mai Phi sống trong cung. Cũng có thể hiểu được vì sao không có sử liệu gì về bà, vì Mai Phi không phải là một tên chính thức mà là một hý danh, tên vui do ĐMH đặt cho. Ngoài ra không thấy nơi nào nói Mai Phi không phải là Giang Thái Tần. Còn trang web có 謝賜珍珠=Tạ Tứ Trân Châu và câu này: '作者:佚名=Tác giả: ‘dật danh', có phải trang này"长门尽日无梳洗,何必珍珠慰寂寥。"诗词、名句赏析_读古诗词网 (dugushici.com) không?

Câu 作者:佚名=Tác giả: ‘dật danh' không áp dụng cho bài thơ 作者:江采萍, mà cho bản dịch nghĩa 译文 作者:佚名= dịch văn tác giả: dật danh.

Huỳnh Kim Giám trả lời:

Đúng là trang đó nhưng tôi không mở được trang (403 Forbidden) và chỉ có thể đọc hai dòng chữ này: 作者:佚名我很久沒有畫我的柳葉眉了, 面上的殘妝和著眼淚打溼了我的紅綃衣。 我自是很久沒有梳洗過了, 你也不必送一斛珍珠來安慰我的寂寥之心。 寫作背景. 更多. 作者 .. Các chữ đầu chuyển ngữ thành "tác giả: dật danh ngã ngận cửu một hữu họa ngã đích liễu diệp mi liễu, ..." tiếp theo đó là các câu thơ sau.

Tôi tìm được ý kiến của Lỗ Tấn trong trang này 江采蘋với một phần bình luận rất chi tiết về nguồn gốc của huyền thoại Mai Phi.

Bát Sách hỏi: 

Bài Nhất Hộc Châu do ai làm?

Bài Đề Mai Phi Hoạ Chân có phải của Minh Hoàng không? Nếu đúng của ông ấy thì sao lại nhắc tới Mai Phi nếu nàng là nhân vật hư cấu?

Huỳnh Kim Giám trả lời:

Các nhà nghiên cứu tìm ra nhiều yếu tố gợi ý rằng hai tên Giang Thái Tần và Mai Phi không phải là tên thật, và Lỗ Tấn là một người có uy tín trên văn đàn thế giới; vài tài liệu nói rằng có thể tên Giang Thái Tần đến từ một cách diễn dịch một bài thơ của Đỗ Phủ. Tôi quen đọc hư cấu (trong khi nghiên cứu kinh điển Phật giáo) và cũng thấy nhiều yếu tố gợi ý rằng Mai Phi Truyện là hư cấu. Một số người tìm cách bảo rằng chuyện Mai phi có thật nhưng tôi không tin họ được vì họ không thấy rằng bài Tạ Tứ Trân Châu không phải là một bài từ loại nhất hộc châu mà là một bài thất ngôn tứ tuyệt; người ta lẫn lộn vì cái hộp ngọc trai là một phần trong huyền thoại ĐMH và MP.

Tôi không bỏ công tìm ai là tác giả của bài Đề Mai Phi Họa Chân nhưng để ý đến cái tên Lý Long Cơ. Với cái tục kỵ húy của người Tàu, người đời sau có dám để tên "Lý Long Cơ" là tác giả không hay phải dùng các miếu hiệu Đường Huyền Tông, hay thụy hiệu Đường Minh Hoàng?

Huỳnh Kim Giám


Một Cõi Riêng Mang - Thơ:Đình Nguyên - Nhạc: Võ Tá Hân - Ca Sĩ: Quỳnh Lan



Thơ:Đình Nguyên
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Quỳnh Lan

Búi Tóc

 
(Ảnh:Búi Tóc- Nguyễn Thành Tài)


Một thuở tóc chấm ngang vai
Là lúc lòng đã vì ai thẹn thùng
Từ khi hứa hẹn thủy chung
Búi tóc thệ ước tương phùng sánh duyên
Dù cho chẳng vẹn hương nguyền
Trăm năm ướp mộng tóc huyền ấp yêu!

Kim Oanh

Ngày Vu Quy

 

Em là tiên nữ của mùa xuân
Loài hoa biết nói cõi hồng trần
Bên em hương tình thêm ngây ngất
Nghe xôn xao, rạo rực tiếng xuân.

Em mang cho anh, những ngày xanh
Qủa hồng duyên đỏ, vướng trên cành
Bước lên đồi cỏ, còn in dấu

Tửa vào vai nhau mái đầu xanh.

Đã mấy xuân qua nhớ nhau hoài
Đường tình chung lối đến tương lai
Tình vẫn hẹn hò, thêm nỗi nhớ

Anh đợi chờ em suốt đêm dài.

Anh thấy em cười đôi mắt vui

Tình trong duyên nợ đã định rồi

Hẹn ước cùng nhau đi đến cuối

Anh nắm tay em bước lên ngôi.


Lê Tuấn

01-20 -24


Tết Sinh Viên (2006)

 

(Tặng Tết Sinh viên,ĐH Iowa)


Các con là những mầm non,
Nhờ bầu sữa Mẹ, khôn ngoan trưởng thành.
Xuân về, đất mới long-lanh,
Hướng về quê cũ, lòng thành nhớ ơn!

Ban bè, cha-me, bà con,
Hội trường nô-nức, muôn lòng nở hoa.
Bàn thờ Tổ-quốc… ngọc ngà
Áo dài, khăn đóng, thướt tha liễu mềm!

Câu hò Vọng-cổ… miền Nam,
Dân-ca, chèo cổ, Thăng-long ngậm ngùi!
Miền Trung cát trắng, biển khơi,
Trường-sơn mưa nắng bao đời chở che!

Múa lân, ca nhạc lì-xì..
Đoàn-kết học tập, tạo nhiều danh thơm.
Chúc Thọ Trưởng lão, tạ ơn!
Chúc mừng trẻ nhỏ, mầm non đất lành!

Bữa ăn hương vị quê mình,
Bánh chưng, bánh tét, dưa hành, thịt quay..
Cả năm dồn lại một ngày,
Ôi, tiếng Mẹ-đẻ, dễ nghe quá chừng!

Chia tay ngập các nẻo đường..
Hình dáng thân mến… Sài-gòn, Cần Thơ..
Thị-trấn Iowa dưới sương mờ,
Hẹn năm sau gặp lại, tiếng thơ ngân dài!!

Tô Đình Đài

Khôn Nguôi

 

Tết tha hương chẳng có gì vui
Thiếu bạn rượu ngon chẳng muốn khui
Cứ nhớ ngày đồng kham cộng khổ
Nào quên buổi sẻ ngọt chia bùi
Chung lo khốn khó nhiều trăn trở
Cùng nếm chua cay lắm ngậm ngùi
Ôi thuở mạt thời bao nghịch cảnh
Nghĩ hoài thương lắm dạ khôn nguôi


Nhất Hùng

Chút Tâm Tình Với Chị Hồng Thuỷ


Em xin phép được nói thêm cảm nghĩ của em về chị Hồng Thuỷ.

Tháng 10.2023 khi nghe em sẽ có mặt tại Virginia, chị Hồng Thuỷ đa sốt sắng gọi em ghé ở với chị một hai hôm.
Em vui mừng lắm khi nghe chị gọi và cũng hồi hộp lắm.
Sáng sớm đó chị Hồng Thuỷ đi đón chị Mỹ ( chị Mỹ Hoàn) trước, sau đó hai chị đến đón em đang ở nhà bạn tại Falls Church.
Đoạn đường từ đó về Maryland hơi nhiều xe nhưng tay lái chị Hồng Thuỷ chắc chắn vững vàng khiến ngay chị Mỹ, cư dân tại Mỹ, phải suýt xoa thán phục.
Về nhà, chị Mỹ và em được đưa lên lầu cho mỗi người ngự riêng một phòng. Căn nhà nhiều phòng xinh xắn được Chị HT trưng bày rất mỹ thuật và rất ngăn nắp gọn gàng sạch sẽ.
Hỏi thăm mới biết chị tự lo lấy không nhờ người giúp việc. Em nễ quá, bấy nhiêu căn phòng mà một tay chị, một mình dọn dẹp hết.

Để đón khách, chị làm rất nhiều thức ăn, nào là món thịt nướng, món bún riêu cua, món. thịt bò filet xào, đặt mua bánh bột lọc bánh giò. Quá nhiều thức ăn chưa kể bánh trái của Bình An và Mẫu Đơn mang đến.
Chị Hồng Thuỷ nấu ăn ngon lắm các chị em ơi, các món chị tự tay làm đều phải gọi là cao thủ môn gia chánh Việt. Thịt nướng của chị sao mà mềm, juicy,thơm và chị nêm nếm sao mà vừa miệng quá. Món Bún riêu cua thì ngon đặc biệt với nhiều thịt cua làm dân bên Đức mê nhất món bún riêu như em mê mẫn.
Tháng 10, Maryland đẹp não nùng với lá đỏ lá vàng, chị Hồng Thuỷ đưa chị My và em đi thăm phong cảnh lá đổi màu để chị Mỹ tài hoa bấm cho em mấy tấm ảnh để đời.
Nhà có khách, gia chủ bận và mệt như thế nao, chị em mình ai cungx biết. Thế mà khi khách rút về phòng ngơi nghỉ thì chị Hồng Thuỷ sắp xếp dọn dẹp lại bếp núc và các chị em biết không, lúc đó là lúc chị HT ngồi vào máy lo đọc bài, viết lời giới thiệu bài cho Văn Bút.
Ui! Em không biết sức lực nào chị đảm đương hay như thế sau một ngày lái xe, tiếp khách! Ui, em phải gọi chị Hồng Thuỷ là super woman!

Chị Hồng Thuỷ nhiệt thành, hy sinh và rất rộng rải hào phóng với mọi người, đặc biệt là các chị em trong gia đình Cô Gái Việt. Em cám ơn chị thật nhiều.
Em cảm nhận được tấm lòng của chị Hồng Thuỷ và em hiểu vì sao chị được nhiều Hồng Phúc ban xuống đời chị như vậy.

 

Em có ngắm hình gia đình của chị Hồng Thuỷ và em thương mấy tấm hình này lắm lắm. Em gửi theo thư hình Ánh Chị lúc trẻ và lúc trung niên, hình nào Anh Chị cũng rất đẹp.

Thân mến,

Phi Nga

Ngũ Cổ Đại Phu Nhân

Ảnh bà Cò lúc 40 tuổi
Lời nói đầu

Tính tới bài này, Con Cò đã viết được 124 bài Liêu Trai Chí Dị thế kỷ 21 trong đó đã giới thiệu trên 130 bài thơ Đường và 15 bài thơ Việt do mình sáng tác. Tất cả những bài thơ Đường đều là những con yêu tinh đã sống trên dưới 1200 năm nên công lực rất thâm hậu. Mấy bài thơ Việt thì chưa mấy người biết tới. Chúng mới ra đời trong vòng 25 năm và sống lay lắt nhờ bà con thân thích thỉnh thoảng mớm thêm công lực. Bài thơ Dậy Đi Em ra đời tháng 6 năm 2005, lúc bà Cò ở năm thứ 2 của bệnh Alzheimer và bị cảm cúm trong một chuyến viễn du cách nhà nửa vòng trái đất. Bà nằm suốt ngày trong khách sạn không chịu dậy, không chịu ăn…… Nó được ghép với bài phú Ngũ Cổ Đại Phu Phu Nhân (viết ngày 30-1-2019) để thành đề tài LTCD thế kỷ 21 số 127.

Bài phú NGŨ CỔ ĐẠI PHU PHU NHÂN
(Phỏng theo Sử Ký của Tư Mã Thiên và Đông Châu Liệt Quốc)

Bách Lí Hề làm quan đại phu tại nước Ngu. Nước Tấn diệt nước Ngu. Hề bị bắt. Tấn Hiếu công gả con gái cho Tần Mục công và dùng Hề làm lính theo hầu sang Tần. Hề lấy làm xấu hổ (không cam lòng hầu hạ đàn bà, coi là việc hèn), bỏ trốn sang nước Uyển, làm nghề chăn bò. Sau Hề bị vua Sở bắt và cho làm lính giữ ngựa (Hề cam lòng giữ ngựa nhiều năm, không coi nghề giữ ngựa là hèn).

Tần Mục công nghe đồn Bách Lí Hề là người hiền, muốn sai người đem lễ vật tặng vua Sở để xin Hề về dùng. Tôn Công Chi can rằng: "Vua Sở bắt Bách Lí Hề chăn ngựa chỉ vì không biết y là người hiền. Chúa công làm như vậy khác gì mách cho vua Sở biết tài của y mà trọng dụng. Chi bằng chúa công gỉa vờ nêu cái tội theo hầu công nương nước Tấn sang làm dâu nước Tần mà bỏ trốn rồi dùng 5 bộ da dê mà chuộc y về đây để trị tội. Đó là kế của Tề Hoàn công đánh lừa nước Lỗ cho Quản Di Ngô thoát thân về Tề vậy".

Tần Mục công y kế, đón được Bách Lí Hề về nhưng thoạt nhìn thấy thân hình tiều tụy thì than rằng: "Tiếc thay! gìa qúa rồi!".
Bách Lí Hề thưa: "Nếu chúa công sai tôi bắt chim bay trên trời hoặc đuổi thú dữ trong rừng thì tôi gìa thực. Nhưng nếu khiến tôi bàn việc chính trị thì tôi còn trẻ hơn Lã Vọng mười tuổi. Ngày xưa, Lã Vọng lúc 80 tuổi mới được vua Văn Vương phong làm quốc phụ".
Tần Mục công lấy làm hài lòng và phong Bách Lí Hề làm tể tướng. Nước Tần trở nên thịnh vượng nhờ Bách Lí Hề. Người dân nước Tần gọi Bách Lí Hề là Ngũ Cổ Đại Phu (cổ: bộ da dê đậm màu, nhồi bông).

Đỗ Thị kết hôn với Bách Lí Hề từ thuở thơ ấu, hàn vi. Lúc gần sanh đứa con trai duy nhất (sau đặt tên là Mạnh Minh), thấy chồng cam tâm sống nghèo hèn bên cạnh vợ, nàng hết lòng khuyên chàng nên thoát ly gia đình để mưu cầu danh vọng. Hôm chồng ra đi, nàng mổ con gà mái đang ấp trứng trong ổ và nấu nồi cơm nếp gạo lức (kể như nửa gia tài của mình) để tiễn chân. Nàng kiên cường sống đời nghèo khổ. Sau cùng lưu lạc sang nước Tần. Mạnh Minh (lúc này đã ngoài 40 tuổi) vẫn quen thói lêu lổng, suốt ngày theo chúng bạn săn bắn làm kế sinh nhai.
Đôi lần nàng thấy Bách Lí Hề ngồi xe chạy qua mà không dám nhận. Hỏi ra thì biết vua Tần dùng 5 bộ da dê mua ông từ nước Sở về và tôn làm tể tướng. Nàng bèn cậy cục xin làm người giặt thuê trong dinh.
Một hôm, nhân lúc Bách Lí Hề ngồi nhà trên nghe phường nhạc tấu ở dưới thềm, nàng lân la tới xin hát tặng tể tướng một bài. Được cho phép, nàng ôm đàn mà ca rằng:

Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Nhớ ngày nào, tiễn biệt chàng; mổ con gà mái ấp, thổi nồi cơm gạo nâu. Chứ thương thì thương….nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khát hoài. Chứ thương thì thương…nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Chồng mặc gấm vóc, vợ đi giặt thuê. Chứ thương thì thương….nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề! 5 bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp tôi nước mắt chứa chan. Tới bây gìơ, thấy chàng ngồi đó, thiếp tôi ruột đứt từng cơn. Chứ thương thì thương… nay giầu sang, quên ta chăng?
Bách Lí Hề qúa đỗi ngạc nhiên và xúc động. Gọi lại gần. Hỏi rõ tên. Nhìn tận mặt. Nhận ra vợ mình. Bèn ôm nhau mà khóc.
Tần Mục công biết chuyện, tặng vàng lụa cho Đỗ Thị và phong Mạnh Minh làm quan đại phu, coi việc binh bị, dưới quyền tể tướng Bách Lí Hề. Vợ chồng, cha con, từ đó đề huề vinh hiển.

Suy Diễn:

Đọc bài ca bất hủ của Đỗ Thị, Con Cò nghĩ rằng tuy mình kém xa Bách Lý Hề về nhiều phương diện nhưng lại hơn Y một điều: cam lòng rửa đít cho bà Alzheimer (trái ngược với Bách Lý Hề không cam lòng theo hầu công nương nước Tấn sang làm dâu nước Tần). Cò bèn cảm hứng đặt lời hai cho đời mình. Bài rằng:

Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, Ta cưới nhau lúc tuổi tròn trăng. Chung sống keo sơn. 3 cuộc chiến tranh. 2 lần di tản. Chứ thương thỉ thương…..nay thanh bình, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, em chân lấm tay bùn, anh học trò thời loạn. Túng thiếu không sờn. Gian nguy không nản. Chứ thương thì thương….nay về hưu, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, em mù chữ, anh giảng bài. Em miệt mài, anh nhồi nhét. Chứ thương thì thương….nay chữ trả lại thày, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Tới hôm nay, em 80 tuổi rưỡi, anh sắp 81 rồi. Em phóng uế trên giường, anh vui lòng tắm rửa. Chứ thương thì thương….nay hôn mê, còn nhận ra ta chăng?
Bà Cò Alzheimer! Nhớ ngày nào, anh nhủ em đừng sợ chết, em rằng muốn chết trên tay anh. Chứ thương thì thương…. mai kia nếu được chết trên tay ta, còn nhận ra ta chăng?*
Ngày 30-1-2014 (1 năm trước ngày bà Cò mất).

Chú giải
*Một hôm, em có vẻ sợ chết. Anh khuyên em đừng sợ vì thánh thần cũng phải chết. Em cãi rằng em không sợ chết mà chỉ sợ không được chết trên tay anh…. Rồi mai đây em sẽ được chết trên tay anh nhưng chắc chắn em sẽ không nhận ra điều đó. Hơn một lần trong mỗi ngày, em vẫn than rằng anh phụ bạc, nỡ bỏ em mà đi biệt tăm (anh ở bên em từng giờ nhưng em cứ tưởng là người hàng xóm). Ngày xưa, em muốn chết trên tay anh giống như một tín đồ muốn chết trên tay giáo chủ. Bây giờ, anh giữ vững lời thề như giữ gìn tính mạng của mình. Nhưng nhiều năm qua, ngày nay và mãi mãi em sẽ không biết rằng em được chết trên tay anh! Cái "không biết" ấy là điều ân hận nhất trong đời ta đó! Bà Cò ơi!
(Đoản văn này viết hồi tháng giêng năm 2014, một năm trước khi bà Cò nhập diệt ngày 30-1-2015).

Bài thơ: Dậy Đi Em

Dậy đi em nắng đã lên
Hoa thơm đang ngóng trước thềm chờ ta
Dậy đi em nắng đã già
Hướng dương xoay mặt dần dà về tây
Dậy đi em nắng đã gầy
Và em vừa vặn một ngày chưa ăn
Dậy đi em dẫu khó khăn
Đau lưng cũng dậy chứ nằm mãi sao?
Đêm nay trăng vẫn ngọt ngào
Đêm mai anh biết thế nào cũng mưa
Dậy đi! Em đã dậy chưa?
Ăn tô cháo cá cho vừa lòng ai
Ngày đau đã kéo qúa dài
Ngày lành như những quân bài chia nhanh
Tuổi già như trái chin cành
Em ơi cố dậy cho mình khoan rơi./.

Tháng 6 năm 2005
Con Cò
***
Dịch bài thơ Dậy Đi Em ra tiếng Anh

Get Up, Darling

Get up my love, the sun has risen
Fragrant flowers are waiting for us out front

Get up my love, the sun is setting
To the west all sunflowers are slowly turning

Get up my love, the sun is weakening
For the whole day, you haven’t been eating

Get up my love, in spite of your plight
Even with back pain, don’t keep lying in bed

The moon is still sweet tonight
I know it will rain tomorrow night

So please get up, darling
Have a bowl of fresh-made fish porridge

Your days of ill health have lasted too long
While good days speed by like a quick hand of cards

Old age is similar to tree-ripened fruit
Try to get up, darling, to delay its fall.

Translated by Hoang-Tam
On the flight from Taipei to LA

***
Chuyện Cò nghe thật thảm thương
"dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng"
ngẫm ra từ thuở trùng phùng
một lòng một dạ thủy chung một đời
thương em dẫu chả nên lời
bên em, Cò chỉ rối bời ruột gan
ngày nào có thiếp có chàng
nay nhìn vợ quý hai hàng lệ rơi
rồi ngày hai đứa hai nơi
em về tiên cảnh, ta chơi vơi sầu...

Quản Mỹ Lan
***
Tình Cò

Tình Cò nghe kể lệ rơi ...
Nồng nàn, khắng khít chơi vơi một lòng
Từ cảnh ngơ ngác động phòng
Tới khi em mất trong vòng tay anh
Đớn đau lúc chim lìa cành
Nhớ em da diết năm canh sụt sùi
Sáu mươi năm tình thật mùi
Bây chừ tóc bạc lui cui một mình

Đồ Cóc
***

Góp ý của Lạc Thủy Đỗ Qúy Bái LTĐQB (trích một đoạn)

Tôi đưa tấm hình 33 năm trước có ý trình bầy cảnh gia đình vui vẻ trẻ trung đáng yêu như vậy mà mình có giữ nổi đâu. Vợ tôi một đời tần táo gây dựng gia đình đến lúc được các con báo hiếu thì không được hưởng vì mắc bệnh nan y Parkinson thêm lú lẫn sống đời thực vật dã gần chục năm rồi. Tất cả chi tiết đó đều nằm trong bài thơ tôi để kèm phía dưới đó. Đúng là trẻ Tạo đành hanh ghen sắc thắm. Ngày PHỤ NỮ mà nàng có được hưởng gì đâu phải không quý chị? Nhân ngày lễ PHỤ NỮ Tôi xin cầu chúc quý chị được hưởng hạnh phúc và may mắn hơn hiền thê của tôi, Chị CÒ cũng từng sống trong cảnh vợ tôi không biết mấy năm nhưng chỉ lú lẫn thôi còn đi lại được mà trước khi về theo ông bà lại hồi quang phản chiếu hát cho anh CÒ nghe bài ca từ thủa mới yêu nhau (câu này Lạc Thủy hiểu nhầm, Đỗ Thị, vợ của Bách Lý Hề hát chứ không phải bà Cò hát). ANH CÒ còn may mắn hơn tôi nhiều .
Trân trọng
LTĐQB

Thương Xót Hiền Thê Mồng Tám Tháng Ba

(Ngày Phụ Nữ)

Tháng ba mồng tám tới kia rồi,
Càng nghĩ càng thương xót vợ tôi:
Lạy mẹ theo chồng nơi lạ lẫm,
Ôm con kiếm việc chốn xa xôi.
Bốn lăm năm lẻ đầu thêm bạc,
Mấy chục niên dư má đốm mồi ...
Trẻ Tạo đành hanh ghen sắc thắm:
Ban cho bệnh nặng (*) khó nằm ngồi..
(*) Nàng mắc bệnh Parkinson

LTĐQB
***
Góp ý của Mõ (trích)

Xin cám ơn các sư ca sư tỷ đã bình loạn thật hay, giúp Mõ học thêm nhiều điều.
Sư ca Đồ Quỷ (phải bái làm thầy) trưng hình ngày xưa khiến Mõ nhìn mãi dung nhan hiền thục bà chị. Giàng ui, gái ba con (lớn tướng) trông mòn cả con mắt, còn anh "chân quê" hết mực ! Hay thiệt đó nhe. Chả trách anh trung thành suốt đời với chị là phải. Vợ đẹp, nết na hiền thục như rứa phải tôn là Tiên, là Phật !
Xin tiếp tục "kê tủ đứng" dzô văn thơ Cò huynh. Mong Cò huynh đánh chữ đại xá, tha thằng Mõ cái tội "láo lếu" ! Cụm từ ngữ (group of words) "Chứ thương thì thương" làm Mõ nhớ tới bài dân ca Hò ví dặm vùng Nghệ Tĩnh, có tựa đề "GIẬN MÀ THƯƠNG" (Xin xem lời ca bên dưới).
Trong thơ Cò huynh đâu hề có chút nào giận, mà chỉ có thương thôi. Mà thương và nhớ không để đâu cho hết đấy!
Mõ vẫn "bảo lưu" góp ý tử đầu : Cô Cò ! Bà Alzheimer ! Với "assumption" ông Cò sốt ruột, gọi giựt giọng, cố lay tỉnh bà Cò.
Bởi thế nên mới "ÔI THƯƠNG LÀ THƯƠNG" thật xúc động và thắm thiết.

Ngâm thơ:
Anh ơi khoan vội (mà) bực mình,
Em xin kể lại (mà) phân minh cho anh tỏ tường.

Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương

Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình
Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương

Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình

Ngâm thơ:
Chứ người ơi, em yêu anh cha mẹ nỏ ưng
Cấm em cửa trước thì em lại vòng ra cửa sau.
Em yêu anh cha mẹ đánh trăm roi,
Chứ xong rồi em đứng (ơ) dậy
Mà em quyết tâm thương chàng

Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương
Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình.

Bài viết hay và cảm động kỷ niệm ngày Phụ nữ mồng 8 tháng 3 năm nay.


***
Nghĩ lại ngày xưa đàn ông tệ bạc thật. Ngay như Bách Lí Hề là người hiền, có học, có tài kinh bang tế thế; khi hàn vi được vợ giục giã thoát ly gia đình để mưu cầu công danh cho thỏa chí tang bồng. Ngày ra đi vợ hy sinh nửa gia tài để làm lễ tiễn đưa mong chồng thỏa ước vọng. Lúc thành đạt thì chàng quên cả vợ lẫn con; may mà người vợ mưu trí và có tài thơ phú, ca hát nên chồng vợ, con cái mới có dịp đoàn tụ một nhà vinh hiển.
Ngày nay đàn ông khác hẳn: Lúc hàn vi cùng vợ hiền chung tay gầy dựng cơ đồ. Lúc nguy nan chung lòng thoát hiểm. Lúc bệnh hoạn chia xẻ nỗi đau, xả thân chăm sóc không phải một ngày một bữa mà đơn vị tính là hàng năm. Gương hi sinh của cánh đàn ông bây giờ thì rất nhiều, nhìn quanh ta có vô vàn điển hình.
Cò Ông chấp nhận làm công việc, mà Bách Lí Hề chê là hèn hạ không đáng làm, khi tuổi tác đã lớn, lớn hơn nhiều Bách Lí Hề lúc làm tể tướng.
Lạc Thủy Đỗ Quí Bái săn sóc vợ bị Parkinson và Alzheimer hàng chục năm.
Anh Phí Minh Tâm, cũng vậy nuôi vợ bịnh hết lòng không lời oán thán.
Và còn nhiều nhiều nữa trong số các bạn bè tôi.
Phụ nữ có ngày 8/3, đàn ông thời thuần hóa cũng có nhiều không ít như xưa. Chả biết khi nào có ngày Phụ thân?
Cám cảnh phe đàn ông chung tình chịu thương, chịu khó, LB nương vận bài Đường luật phía trên của Lạc Thủy với ý bài Bà Cò Alzheimer và 2 câu chót Dậy Đi Em của Cò Ông để chế ra bài này. Xin mời đọc:

Tháng  Ba

Ngày tám tháng ba tớ biết rồi.
Lặng thầm tính sổ cuộc đời tôi
Chiến tranh, di tản bao lần thoát
Túng thiếu, gian nan kiếm nắm xôi
Dạy dỗ i tờ, mây tóc mượt
Rửa chùi quên lãng, xác da mồi.
Em ơi cố dậy cho thêm sức
Trái chín tuổi già dễ rớt rơi!

Lộc Bắc
***
Tôi biết tiếng anh Cò từ lâu, mới được gặp nhau cách đây mấy tháng ở Cali, hai anh em rất tương đắc, nói chuyện quên cả thời gian. Tuy tôi may mắn còn đủ cặp, nhưng rất thông cảm với nỗi lòng của anh Cò, và cảm phục sự hy sinh của anh đối với chị. Anh Lộc Bắc chê Bách lý Hề quên vợ con, tôi nghĩ anh thiếu thông cảm: Bách già rồi, lại bận công vụ, hồi đó phương tiện giao thông khó khăn, không dễ gì tự đi tìm vợ con, mà sai người khác thì ngày đó chưa có máy chụp hình, lại xa nhau đã nhiều năm, làm sao mà tìm được .Vì Bách làm tể tướng, nổi tiếng, vợ mới biết đường mà mò ra. Chứng cớ là khi gặp vợ, Bách cũng không nhận ra. Nếu là người vô ơn, bạc nghĩa thì Bách đã lấy vợ khác, và khi gặp vợ cũ và con thì cứ lờ đi..
Vì không đủ tài làm cả bài thơ, tặng anh Bảo hai câu thôi:

Thương nàng, lòng những ngẩn ngơ,
Trăm năm hương lửa, xin chờ kiếp sau..

Bát Sách Nguyễn Thanh Bình
***
Anh Cò,
Rất xúc động đọc bài Dậy Đi Em cuả anh. Ai là người nam nhi tuổi bát thập dư mà không có hoàn cảnh và tâm tư tương tự, phải không anh?
Nguyên Chẩn đời Đường là bạn thân của Bạch Cư Dị viết nỗi lòng mình trong một bài điệu vong (thương người đã mất) 3 kỳ dù lúc đó mới 36 tuổi. Kiềm Lâu lấy vợ là Vi Tùng lúc còn hàn vi. Vi Tùng mất sớm lúc hai vợ chồng còn thiếu thốn mọi bề. Sau Kiềm Lâu làm quan đến chức Tể Tướng chân thành thương nhớ người vợ tào khang nên có làm bài thơ lời lẽ bình dị, thanh thoát và xúc động.

Khiển Bi Hoài Kỳ Tam

Nhàn toạ bi quân diệc tự bi
Bách niên đô thị kỷ đa thì
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do phí từ
Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng
Tha sanh duyên hội cánh nan ky.
Duy tương chung dạ trường khai nhãn
Báo đáp bình sanh vị triển my.

Dịch: Khiển Bi Hoài Kỳ 3

Thương nhớ nàng lại đau xót phận
Đời trăm năm lận đận xiết bao
Đặng Du số mệnh lao đao
Khóc người Phan Nhạc tốn hao mỹ từ
Chuyện chung huyệt tợ như hẹn gió
Duyên gặp nàng đâu có lần hai
Không sao chợp mắt đêm dài
Làm sao tìm lại Dương Đài thuở xưa.

Ghi Chú:
Kiềm Lâu: người nước Tề, rất nghèo nhưng sống ngay thẳng thanh cao. Có người nói chính là Nguyên Chẩn.
Vi Tùng: con gái cưng của quan tể tướng Tạ An.
Đặng Du: người đời Tấn, chạy loạn phải đem theo con và cháu. Gặp hoàn cảnh phải cứu hoặc con hoặc cháu, Đặng Du bỏ con cứu cháu vì nghĩ mình còn có thể có con, trong khi em đã chết không còn có con được nữa.
Phan Nhạc: người nước Tấn. Khi vợ mất làm 3 bài từ Điệu vong, lời lẽ hoa mỹ tình ý tha thiết. Từ của Phan Nhạc được so ngang với từ của Tống Ngọc
Dương Đài: nơi ở của Vu Sơn Thần Nữ. Tương truyền, Sở Tiên Vương đi chơi Cao Đường ngủ mơ thấy thần nữ dâng gối chiếu. Ở đây muốn nhắc đến người thương yêu.

Phí Minh Tâm

***
Anh Bảo ơi,
Kiến thức của anh thật quái dị nên khi vung kiếm chiêu số khó đoán! Tôi xin cám ơn anh cho lạc vào đào hoa đảo của Đông Tà đảo chủ dù biết anh cũng "kẹt".
Tôi viết riêng cho anh để anh tuỳ nghi như tôi đã giãi bầy.
Đọc bài này của anh, tôi thật xúc động và cảm thông với nỗi "sầu lẻ bóng" của anh. Bà xã tôi tuy kém tôi cả chục tuổi nhưng cũng xấp xỉ "cổ lai hy”. Bây giờ cũng cảnh 2 con khỉ già trong empty nest mà cái lẽ vô thường ai biết được. Tình nghĩa phu thê của Bách lí Hề… chia ly cay đắng nhưng kết còn có hậu, bẩy bó mới lập thân làm nhớ tới câu thơ Đỗ Phủ "Bi quân biệt lão lệ triêm cân, thất thập vô gia vạn lý thân, sầu kiến chu hành phong hựu khởi… bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân. "Hình ảnh ông già 7 bó mà vô gia cư, lên thuyền khi gió nổi, xa dần đầu bạc nhấp nhô sóng bạc đầu… cảm khái chi đâu! Nhớ bài hát “Nhìn con thuyền xa bến” của Lưu Bách Thụ... Tuy nhiên, về lòng thuỷ chung tôi thấy tể tưởng Án Anh hay hơn.
Bài thơ của anh thống thiết ân tình làm tôi thấy ngượng với chính mình. Tôi cũng có bài thơ "Nịnh vợ" nhưng không tha thiết như anh. Tôi chép ra đây để anh thấy những nỗi buồn say xỉn khi bà xã ham đi shopping…

Xa em dẫu chỉ một vài giây.
Mà tưởng đất trời hết muốn xoay
Nắng chói đứng chờ cho đỡ bực
Mưa dầm ngồi đợi để còn gây
Mải vui khiến gã buồn thui thủi
Ham sắm làm chàng say ngất ngây
Nếu định đi lâu thì bảo trước
Để anh lo tưới cỏ cùng cây!

Anh thấy 2 câu đề chan chứa tình cảm, nhưng 2 câu thực đã có vẻ "du côn”, bực lắm chờ nàng về còn gây. 2 câu luận trách móc nhưng 2 câu kết vuốt ve lại sẵn sàng tưới hoa cỏ vườn tược cho nàng.
Tôi có ông cậu làm chủ báo "Quê Hương" năm xưa ở Hà Nội. Ông từng là chủ tịch hội cao niên vùng Hoa Thinh Đốn. Khi bà mợ tôi mãn phần, ông làm thơ than khóc hoài. Phải thời gian lâu, ông mới vơi nỗi sầu và vui trong văn chương thơ phú khi ông có nhiều bạn văn thơ ở miền đông. Ông qua đời ở tuổi 91. Hồi ông tổ chức kỷ niệm 60 năm văn thơ, tôi cũng có bài thơ mà tôi mong "cụ" CÒ trưởng tràng cũng tìm được an ủi trong nhóm bạn và quên mối sầu..

Sáu mươi năm nặng nợ văn thơ
Vẫn cứ say mê chẳng thể ngờ
Thi tứ mượt mà tình với luỵ
Văn chương chau chuốt mộng cùng mơ
Da mồi nhưng trí còn minh mẫn
Tóc bạc mà lòng lại ngẩn ngơ
Mừng cụ bây giờ đầy mãn nguyện
Không sầu lẻ bóng, hết bơ vơ!

Thật tình bây giờ rõ hoàn cảnh anh, tôi tha thiết mong anh vững mạnh lèo lái con thuyền LTCD 21 cứ lướt sóng mà đi.

Đỗ Tước

***
Phỏng Dịch: Khiển Bi Hoài

Ngồi rảnh thương em tủi tấm thân,
Trăm năm thời vận có bao lần.
Đặng du tuyệt tự yên phần số,
Phan Lạc uổng thơ lập điếu văn.
Chung huyệt mù mờ sao đợi được,
Kiếp sau gặp lại khó vô ngần.
Chỉ còn chong mắt đêm không ngủ,
Hận nỗi bình sinh chẳng đáp ân.

Lục Bát:

Thương em nghĩ cũng thương đời,

Trăm năm có được bao thời cơ đâu.
Đặng Du vô hậu đành sầu,
Uổng thơ Phan Lạc khóc nhau điếu từ.
Huyệt chung là chuyện mù mờ,
Kiếp sau gặp lại mong chờ có không ?
Đêm dài thao thức mắt chong,
Thương nàng xưa khổ , hận không kịp đền.

Song Thất Lục Bát:

Ngồi nhàn rỗi thương em tủi phận,

Trăm năm dài thời vận bao lần.
Đặng Du vô hậu cam phần,
Uổng thơ Phan lạc điếu văn khóc tình.
Chôn cùng huyệt phiêu linh sao đợi,
Gặp kiếp sau duyên nối khó mong.
Đêm dài thức trắng mắt chong,
Ân tình lúc sống hận không kịp đền.

Mỹ Ngọc
***
Tưởng nhớ Bà Cò vĩnh viễn ra đi đã 9 năm rồi từ ngày 30/01/2015.

Vợ Chồng Gắn Bó

Tình nghĩa từ thời tuổi ấu thơ
Mười lăm mười sáu mối duyên tơ
Chiến tranh ba trận hai lần tản
Vẫn sống bên nhau mộng với mơ

Vào tuổi tám mươi em lú lẫn
Bên chồng nhưng nhớ rồi quên, nhớ
Trách anh phụ bạc để em sầu
Anh vẫn cạnh em không hững hờ

Em đã ra đi cõi vĩnh hằng
Trong vòng tay ấm yêu thương vợ
Tình mình lộng lẫy như trăng sáng
Thôi hẹn kiếp sau thỏa đợi chờ

Thanh Vân
28.1.2024
 ***
Anh Cò kính mến.
Út Kim Oanh xin kính gửi đôi lời tưởng nhớ Chị Cò đã xa anh 9 năm qua.

Hôm nay tưởng nhớ Chị Cò
Trong anh chất chứa một kho tình đầy 
Bao nhiêu nồng ấm vui say
Nương theo làn khói quyện bay lên trời
Cầu chị hạnh phúc nghỉ ngơi
Dương trần anh mãi đời đời chẳng quên!

Kính mến!

Út Kim Oanh
Melbourne 30.1.2024