Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Những Thất Bại Của Quân Mông Cổ

 
 
Bây giờ bàn đến những thất bại quân sự của đoàn Quân Mông Cổ

Đoàn quân có tiếng là bách chiến bách thắng của quân Mông cổ, thực ra không phải là không có thất bại .. Thất bại ở đây là không là những trận lẻ tẻ, mà là những trận tầm vóc to lớn, hao binh tổn tướng không phải hàng ngàn mà là hàng chục ngàn chiến binh. Là những chiến dịch qui mô thay đổi cả những dự tính tương lai của Đế quốc. Những Thất Bại này có tầm vóc trọng đại vì đã chặn đứng tham vọng bành trướng đế quốc Mông cổ. Khi đề cập chiến trận này, ta cũng nên biết dấu móc thời gian nào cho những lần thất bại.

Ta theo thứ tự triều đại Mông cổ:

Đại Hãn 1: Thiết mộc Chân trở thành Thành Các Tư Hãn ( lúc này Quách Tỉnh còn Bé, đang luyện cung tên với sư phụ Triết Biệt, và Giang Nam Thất Quái. Cũng có thể khi Thành Cát tư Hãn dẫn quân chinh phục các xứ Viễn Tây, lúc đó Quách Tỉnh theo chân 7 sư phụ quay về Trung Thổ và đã gặp Hoàng Dung)

Đại Hãn 2: Oa khát Đài

Đại Hãn 3: Quý Đô - mất sớm
Đại Hãn 4: Mông Kha ( có lẻ lúc này Quách Tỉnh Tử thủ Thành Tương Dương. Nhà Tống chưa diệt vong. Đã có Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá) và vị Đại Hãn này mượn đường phía Nam đanh vào Nam Tống.Đó là lý do Mông cổ đánh vào Đại Việt lần 1
Đại Hãn 5: Hốt Tất Liệt hay Nguyên ThếTổ ( Hoàng Đế Nhà Nguyên)..Thống nhất Trung Hoa, Hốt Tất Liệt bắt đầu tung quân chinh phục các nước lân cận.Sự xăm lăng Đại Việt xẩy ra vào thời kỳ này.

Mặc dù sở hữu sức mạnh quân sự bách chiến bách thắng và từng tạo nên một đế chế rộng lớn nhất lịch sử, quân đội Mông Cổ vẫn trải qua những thảm hại do địa hình không phù hợp, khí hậu khắc nghiệt hoặc chiến thuật xuất sắc chống trả của đối thủ.

1. Trận chiến Ain Jalut (1260) Chạm trán với quân đội Ai Cập

Trận Ain Jalut diễn ra vào ngày 3 tháng 9 năm 1260 tại thung lũng Jezreel (nay thuộc Israel/Syria). Đây là trận chiến lịch sử khi quân đội Ai Cập thuộc triều đại Mamluk, do Sultan Qutuz và tướng Baybars chỉ huy, đã đánh bại hoàn toàn đạo quân Mông Cổ. Thất bại này đã chặn đứng bước tiến của người Mông Cổ tại Trung Đông.


Bối cảnh lịch sử

- Quân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Hãn Hốt liệt Ngột (Hulagu Khan) đã tàn phá Baghdad năm 1258 và chiếm Damascus.
- Sau khi Hốt liệt Ngột rút phần lớn lực lượng về phía đông, tướng Mông Cổ lúc đó là Khiếp Đích Bất Hoa (Kitbuqa) tiếp tục dẫn khoảng 20.000 quân tiến đánh Ai Cập.
- Triều đại Mamluk tại Ai Cập quyết định đem quân vượt biên giới để đối đầu trực diện với mối đe dọa này.
- Diễn biến chính
- Dụ địch mai phục: Tướng Baybars dùng chiến thuật nhử mồi, đưa một phần quân Mamluk ra khiêu chiến rồi vờ rút lui để lừa quân Mông Cổ vào sâu trong khu vực đồi núi
- Phản công bao vây: Khi quân Mông Cổ tiến lên cao và rơi vào bẫy, toàn bộ chủ lực quân Ai Cập bất ngờ xuất hiện từ các sườn đồi để bao vây và tấn công dữ dội
- Kết cục: Quân Mông Cổ chiến đấu rất gan góc nhưng bị áp đảo hoàn toàn. Chỉ huy Kitbuqa cùng phần lớn quân Mông Cổ tại trận địa đã tử trận.

Tóm tắt: Tướng Mamluk (Baibars) áp dụng chính chiến thuật giả vờ rút lui của Mông Cổ để dụ họ vào bẫy phục kích; đồng thời lực lượng Mông Cổ bị suy giảm do phần lớn quân chủ lực phải rút về phía Đông sau cái chết của Mông Kha Hãn.

- Ý nghĩa lịch sử

Bối cảnh & Kết quả: Quân Mông Cổ chạm trán với lực lượng Mamluk (Ai Cập) tại Palestine. Đây là lần đầu tiên quân Mông Cổ bị đánh bại toàn diện trong một trận chiến mở trên bộ và không thể khôi phục lại thế tiến công

Từ đó Đại Quân Mông Cổ không dám đương đầu với quân Ai cập nữa.
Hệ quả : là Quân Ai Cập đã bảo vệ Trung Tâm Thế giới Hồi giáo khỏi sự tàn phá hoàn toàn và củng cố vững chắc quyền lực của vương triều Mamluk tại Ai Cập và là một điểm son là đã:

Chấm dứt huyền thoại về sự bất bại trên chiến trường của đế quốc Mông Cổ ở phương Tây.

2. Chiến tranh Mông – Nguyên với Việt Nam (Đại Việt & Champa)


Chiến dịch tại Việt Nam gồm 3 lần tấn công Đại Việt:

1. Lần 1 (1257 – 1258):

Đại Hãn chủ trương xâm lăng: Mông Kha (Möngke Khan).
Western Xia: Tây Hạ, Dali: Đại Lý. Song Empire: Nam Tống Jarchen Jia : Nữ chân

Chi tiết: Mông Kha giao nhiệm vụ cho em trai là Hốt Tất Liệt (Kublai Khan) cùng tướng Ngột Lương Hợp Đài (Uriyangkhadai) dẫn quân chinh phục vương quốc Đại Lý (nay thuộc vùng Vân Nam, Trung Quốc) Tiêu diệt nước này trong một thời gian thật ngắn , tiến đánh Đại Việt nhằm tạo thế gọng kìm vây đánh nhà Nam Tống từ phía Nam.

Ngột Lương Hợp Đài làm chủ tướng đem quân đánh Đại Việt nhằm mở đường ép Nam Tống từ phía Nam.
Sau khi quân ta bắn mù mắt sư giả Sài Thung. Đại Hãn Mông Kha nổi giận, xua quân đánh Đại Việt sau khi chiếm đóng và làm cỏ nước Đại Lý (Dali) vùng Vân Nam ( lúc này chắc Đoàn Dự dùng Lăng Ba Di Bộ chạy trốn rồi)
Kết quả: Quân Trần đánh bại quân Mông Cổ tại trận Đông Bộ Đầu (1258)

Vua Việt Nam: Trận kháng Mông lần này được chỉ huy bởi Thái sư Trần Thủ Độ dưới quyền Vua Trần thái Tông.

Chiến tranh Mông-Đại Việt lần đầu 1257-1258
 
Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 1 chống quân Nguyên

Khái quát

- Năm 1226, dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, nữ hoàng nhà Lý là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức là vua Trần Thái Tông. Nhà Trần chính thức thay nhà Lý.

- Sau khi chính thức nắm quyền cai trị, nhà Trần ra sức củng cố nội chính và chấm dứt một số di sản của nhà Lý.

- Trong khi đó tình hình chiến sự và chính trị ở phương Bắc càng trở nên rối ren, Trung Quốc từ lâu đã bị chia cắt. Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn của nước Kim thuộc tộc người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt.

- Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt nhà Nam Tống.

- Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay), lâm le tiến đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối mà lại còn cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ. Sứ giả Sài Thung bị bắn mù mắt. Đại Hãn Mông Kha nổi giận và chiến tranh bùng nổ vào năm 1258 khi Uriyangqatai cùng con trai là Aju đem 3 vạn quân Mông Cổ và 1,5 vạn quân Đại Lý tấn công Việt Nam. Quân Mông Cổ mau chóng giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng rồi cũng bị quân Đại Việt đánh bật.

Cuộc chiến năm 1258 chỉ diễn ra trong vòng khoảng nửa tháng, cuối tháng 1 năm 1258.

- Công lớn lần này là Thái Sư Trần Thủ Độ, vua Trần Thái Tông quyết chiến để giữ nguyên bờ cỏi . Nếu trận chiến kháng Mông lần 1 này thất bại, Việt Nam bị đô hộ, chưa chắc có lần 2 : Trần nhân Tông , Trần Hưng Đạo và vua tôi nhà Trần kháng Nguyên vẻ vang như trong sử sách ghi chép mà chúng ta ai ai cũng thuộc lòng và hảnh diện. Việc sách sử Việt Nam phớt lờ công trạng của Thái Sư Trần Thủ Độ trong cuộc chống Nguyên giữ Việt Nam khỏi rơi vào tay Mông Cổ và tránh khỏi bị xóa tan không còn đấu vết như nước Đại Lý của họ Đoàn.... quả là một điều bất công. Anh chị nghĩ sao?

Lần 2 (1284 – 1285):


Đại Hãn chủ trương cuộc xâm lăng: Hốt Tất Liệt (Kublai Khan / Nguyên Thế Tổ).

Hai mươi năm sau, không cần đi đường qua Đại Việt, Mông Cổ đánh bại và thôn tính toàn nước Tống. Đế quốc Nguyên được thành lập trên lãnh thổ Mông Cổ và Trung Quốc. Đế quốc này tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình ra phía Đông tới Nhật Bản, và xuống phía Nam. Để thực hiện ý đồ tiến xuống phía Nam, nhà Nguyên đã tiến hành chiến tranh với ChiêmThành và Myanma trước. Nhưng quân và dân Chiêm Thành đã kháng chiến thắng lợi, khiến cho quân Nguyên không thực hiện được ý đồ lấy Chiêm Thành làm bàn đạp. Ở Myanma năm 1277, quân Mông Cổ cũng chịu những thiệt hại quân sự và phải rút lui. Đại Việt trở thành nơi phải bị khuất phục Đế quân Mông Cổ có thể tiếp tục chiến lược hướng Nam. Dưới chiêu bài đề nghị nhà Trần mở đường cho đại quân Nguyên đi qua chinh phạt Chiêm Thành, quân Nguyên tìm cách tấn công Đại Việt lần thứ 2.

Chi tiết: Thoát Hoan làm tổng chỉ huy tiến đánh Đại Việt, kết hợp với Toa Đô đánh từ Champa ra. Quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thực hiện "vườn không nhà trống" và đánh tan quân Nguyên


Triều Vua Việt Nam kháng Nguyên : vua Trần lúc này là Trần Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông. Trần Hưng Đạo là thống soái.

Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống quân Nguyên
Khái quát

- 27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh xâm lăng nước Đại Việt. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch).

- Lần này, quân Nguyên chuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn. Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến xuống, còn có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang.

· Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi. Quân Đại Việt liên tục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật (Yên Bình), sông Đuống. Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biên giới, quân Nguyên đã chiếm được thành Thăng Long. Triều đình nhà Trần rút lui theo sông Hồng về Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên. Mọi nỗ lực phản kích của các vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại. Từ phía Nam,Toa Đô( Sogetu) dẫn quân từ Chiêm Thành tiến lên hướng Bắc, dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tại vùng Nghệ An-Thanh Hóa. Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam do Toa Đô đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa.

- Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực. Nhà Trần thực hiện tiêu thổ kháng chiến khiến quân Nguyên không thể lấy được lương thực từ dân bản địa. Trong khi đó, quân Đại Việt đã nhanh chóng chấn chỉnh đội ngủ và chờ đợi đối phương mệt mỏi, suy giảm nhuệ khí. Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa, Đại Việt phản công. Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long.

- Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đã bị tập kích tại sông Cầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh Bình. Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh. Cánh quân phía Nam bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết (Khái Châu)

Lần 3 (1287 – 1288):

Đại Hãn chủ trương: Hốt Tất Liệt (Kublai Khan / Nguyên Thế Tổ).

Chi tiết: Hốt Tất Liệt quyết tâm phục thù nhưng lại thất bại hoàn toàn sau chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng (1288) của quân dân nhà Trần.
Triều vua Việt Nam : và cũng được sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dưới triều Trần Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông

Bản đồ mô tả cuộc kháng chiến lần thứ 3 chống quân Nguyên

- Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngủ, bổ sung lực lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288. Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào Đại Việt.

- Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộ lẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bị mất hết vì bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, vì bão biển, vì đi lạc. Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước.

- Khác với 2 lần trước, lần này quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính kìm chân. Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên.

- Vì đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn. Cánh thủy quân của Nguyên đã bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển. Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đã bị quân Đại Việt tấn công dữ dội.

Chấm dứt chiến tranhSau thất bại lần thứ ba năm 1288 ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ - Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Có năm sắp tiến quân thì chánh tướng chết nên hoãn binh, năm sau định đánh thì phó tướng lại chết nên lại đình chỉ việc tiến quân. Tới năm 1294 lại mới thôi ý định đánh Đại Việt.

Lý do Mông Cổ Ba lần tiến quân xuống phía Nam đều thất bại hoàn toàn trước nhà Trần.

Nhà Trần quyết tâm kháng Mông triệt để
Khối đại đoàn kết "Quân dân một lòng": Nhà Trần xây dựng được tinh thần đồng lòng từ trên xuống dưới.
Ý chí vương thất và tướng lĩnh thể hiện rõ qua Hội nghị Bình Than.
Ý chí của toàn thể nhân dân thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng với tiếng hô đồng thanh "Đánh!".
Chiến thuật "Tiêu Thổ Kháng Mông", dùng địa hình Sông rạch chằng chịt chủ động rút lui tiêu hao lực lượng địch, địa hình đầm lầy sông rạch đánh ngược lại làm địch quân không thể dùng thế mạnh kỵ binh. Nổi tiếng là trận chiến ở Bến Chương Dương, cửa Hàm Tử, Vạn Kiếp và trận thủy chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng năm 1288.

Bản lĩnh và quyết tâm của bộ chỉ huy tối cao:

Thái sư Trần Thủ Độ khẳng định ở lần 1: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ hạ đừng lo".
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định ở lần 2: "Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã".
Tuyên ngôn Hịch tướng sĩ thổi bùng khí thế dũng cảm, coi việc giữ nước là nghĩa vụ thiêng liêng.

Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lãnh rất xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm có dòng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản

3.Mông Cổ xâm lược Nhật Bản (1274, 1281)

- Bối cảnh & Kết quả: Hốt Tất Liệt hai lần cử hạm đội khổng lồ vượt biển tấn công Nhật Bản nhưng đều bị tiêu diệt.

- Nguyên nhân chính: Kỵ binh Mông Cổ không phát huy được thế mạnh trên biển; các chiến thuyền gặp phải những trận bão biển dữ dội (được người Nhật gọi là Kamikaze - Thần Phong) nhấn chìm phần lớn quân lương và lực lượng.

- Trận chiến này nói lên sự yếu kém thủy chiến của quân đội Mông Cổ mặc dù đã chuẩn bị kỷ lưỡng đối phó với sự chổng đở của các Samurai và 2 Cơn Bảo lớn Kamikaze

Hai lần Mông Cổ đánh Nhật Bản



· Lần thứ nhất (Năm 1274 - Trận Bun'ei):

- Hơn 30.000 đến 40.000 quân Mông Cổ, Trung Quốc và Triều Tiên tấn công các đảo Tsushima, Iki và tiến vào vịnh Hakata (đảo Kyūshū).

- Quân Mông Cổ dùng chiến thuật ném bom (hỏa khí), cung tên độc và đánh theo đội hình đông đảo.

- Các Samurai lúc đầu bỡ ngỡ với lối đánh tập thể của Mông Cổ.

- Một cơn bão lớn bất ngờ nổi lên vào ban đêm. Nó đã tàn phá phần lớn thuyền chiến của Mông Cổ, buộc họ phải rút lui.

· Lần thứ hai (Năm 1281 - Trận Kōan):

- Quân Nguyên - Mông huy động lực lượng lớn hơn nhiều, gồm khoảng 140.000 quân với hàng ngàn chiến thuyền chia làm hai đường tiến công.

- Quân Nhật dưới sự lãnh đạo của Hổ Tố Thì Tông (Hojo Tokimune) đã xây tường đá dọc bờ biển vịnh Hakata để ngăn địch đổ bộ.

- Hai bên giằng co suốt nhiều tuần trên biển và bờ biển.

- Vào tháng 8 năm 1281, một trận cuồng phong cực lớn (bão biển/thần phong) đã quét qua vùng biển Kyūshū, đánh đắm phần lớn hạm đội Mông Cổ.

- Nguyên nhân thất bại của quân Mông Cổ

- Bão biển (Kamikaze): Thiên nhiên bất lợi là đòn chí mạng phá hủy các hạm đội vượt biển của Mông Cổ cả hai lần.

- Sự kháng cự của Samurai: Người Nhật chiến đấu ngoan cường để bảo vệ đất nước.

- Khó khăn hậu phương: Vận chuyển lương thực, vũ khí qua đường biển dài ngày khiến quân Mông Cổ kiệt quệ và mất thế chủ động.

4. Các chiến dịch tại Java / In-đô-nê-xi-a (1293)

- Bối cảnh & Kết quả: Hốt Tất Liệt cử thủy quân phạt Java để trừng phạt vua Kertanegara.

- Nguyên nhân chính: Quân Mông Cổ không quen với khí hậu nhiệt đới oi bức và bệnh tật miền nhiệt đới, đồng thời bị Raden Wijaya (người sáng lập đế chế Majapahit) dùng mưu kế lừa gạt rồi bất ngờ phản công, buộc phải rút quân về nước.

5. Chiến dịch xâm lược Miến Điện (1277–1287) và Chăm Pa (1282–1285)

- Bối cảnh & Kết quả: Các cuộc tiến quân sa lầy và không thể thiết lập quyền kiểm soát lâu dài.

- Nguyên nhân chính: Khí hậu nóng ẩm, rừng rậm rậm rạp và sự kháng cự dẻo dai bằng chiến tranh du kích khiến kỵ binh Mông Cổ tổn thất nặng nề vì bệnh tật và thiếu lương thảo.

SORRY ANH CHỊ …VẪN CHƯA HẾT CÂU CHUYỆN về MÔNG CỔ … NÊN CHƯA CÓ ĐỌAN KẾT ĐƯỢC

XIN RÁNG theo dõi ...vài bài nữa

Lê minh Đức (YK6774) Sưu Tầm và Biên Soạn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét