Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Có Một Điều Hiện Hữu: Pháp Luân


Sách viết rằng "phép của Phật gọi là pháp luân, Đức Phật thuyết pháp thì gọi là pháp luân hay chuyển (lăn) bánh xe pháp luân!"

Viện Đại Học Đà Lạt là một cơ sở giáo dục được thành lập do giáo hội công giáo, điều hành Viện cũng đa số là người công giáo... thế nhưng sinh viên thì gồm đủ các tôn giáo khác nhau và trong khuôn viên của trường có một bánh xe pháp luân! Như thế thì món quà kỷ niệm cuả Đại học Sư Phạm Huế tặng cho trường mình ắt hẳn phải mang một ý nghĩa sâu xa lắm! Có khác gì các anh chị ngoài Huế nhắc cho các bạn Đà Lạt rằng hãy yêu quý lời giảng dậy dạy của thầy Thầy vì các bài vở giảng huấn của các thầy ở trường đâu khác gì những lời hay đẹp của Đức Phật đã ban cho chúng sinh!

Tôi đã học ở trường như các anh chị khác, thế mà người thì biết có bánh xe pháp luân, người thì thấy bánh xe pháp luân từng ngày mà tôi thì không, dù tôi vẫn nghe lời giảng huấn của các Thầy thầy, từng ngày bánh xe pháp luân vẫn xoay tròn chung quanh tôi! Quả là điều lạ lùng, có đó mà vẫn không có đó, khác gì "sắc tức thị không, không tức thị sắc !"

Những lời thầy dậy dạy ngày xưa, luôn luôn còn đó nhưng cũng biến hoá hóa nhiều qua thời gian, không gian và cũng chính những lời thầy (ấy), khi đến với mình thì khác khi đến với người, dù ngồi cùng bàn, học cùng một bài học! Nếu không chẳng hoá ra chỉ sản sinh ra những con người theo khuôn đúc! Có những người cha người mẹ sung sướng, hãnh diện khi thấy con hơn mình khi họ nói rằng "con hơn cha là nhà có phúc". Có những người thầy cảm thấy hãnh diện khi thấy học trò giỏi giang hơn mình, thành tựu được những công trình lớn hơn mình, và tất cả các lớp người ấy đều hình như vẫn theo dòng chẩy chảy của pháp luân!

Bánh xe kia bằng đá, đã hiện hữu ở đấy mấy mươi năm qua và còn ở đấy mãi mãi vài ngàn năm nữa nếu không có những biến cố long trời lở đất xảy đến. Nó nằm yên đó hay nó vẫn âm thầm quay hoài quay mãi? Ai biết được? Chỉ biết rằng người đã thấy nó thì biết rằng nó hiện hữu, và cũng hiểu rằng nó vẫn xoay vần theo thời gian, nhưng người chưa từng thấy nó thì không biết nó có mặt ở đấy hay không nghĩ gì về nó cả, không thấy nó quay hay không quay nhưng trong cái mông lung vô tận của thời gian, bánh xe pháp luân ấy vẫn có, vẫn quay, vẫn chuyển vì lời thầy vẫn được loan truyền, vẫn được rao giảng như lời Chúa, lời Phật luôn luôn được sống lại, được nhớ lại hằng ngày trong đời sống chúng ta. Lời giảng của thầy cô, lời giáo huấn của cha mẹ, lời hay ý đẹp học được ở trường đời, tất cả những "xoay vần " đó một khi đã được bắt đầu thì sẽ theo ta mãi mãi trên quãng đời còn lại.

Đời người cũng như là dòng chẩy chảy luân lưu của con sông, liên tu bất tận, không bao giờ ngưng. Khi nhìn làn nước trong dòng sông, nước ấy vẫn chẩy và ta vẫn tưởng như luôn luôn là nước ấy nhưng biết đâu rằng có rất nhiều phân tử nước đã bốc hơi, đã bay lên chín từng mây và đến một lúc nào đó trở thành những hạt nước mưa, bay trở về nguồn để lại rơi xuống dòng nước bạc đang chẩy kia. Vậy thì dòng chẩy đã theo một chu trình bất biến nhưng đồng thời cũng theo một chu trình biến! Vì cũng có người nói rằng không ai tắm trên cùng một dòng sông hẳn là muốn nói lên ý đó. Cái vòng tròn không dứt ấy điển hình là bài Thề Non Nước của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:

Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mua về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi...

Đi liền với ý niệm pháp luân là luân hồi vì hễ cái gì hiện hữu thì nó cũng nằm trong dòng chảy của vạn vật, đến rồi đi nhưng đi rồi sẽ lại đến. Luân hồi là một trong những hình thái của pháp luân. Và cũng vì tin có luân hồi nên khi sống ở đời này ta phải làm điều tốt để dành cho đời sau vì muốn cho bánh xe pháp luân quay đến đâu mà cỏ phiền não và mê hoặc bị diệt sạch đến đấy thì chính chúng ta phải đừng bao giờ đi gieo cỏ phiền não, đừng bao giờ làm những điều xấu xa mà hãy gieo hạt tốt để được quả ngon cho đời mình và cả đời con cháu...

Không chỉ lời Phật, lời Chúa ban mà ngay cả những lời đạo đức cha mẹ dậy dạy, những kiến thức thầy truyền cho, ta hãy mang theo trên đường đời và gieo rắc cho con cháu, cho thế hệ sau để cho xã hội ngày thêm tốt đẹp, tiến bộ... Bánh xe Pháp Luân bằng đá mãi mãi nằm yên kia trên một ngọn đồi trong khuôn viên của Viện Đại Học Đà Lạt nhưng lời Phật dậy dạy, lời Thầy thầy phải được sống động, phải được rao giảng muôn nơi có như thế ý nghĩa của hai chữ pháp luân vừa là lời Phật vừa là chuyển lời Phật khi ấy mới thật sự vẹn toàn và thật sự hiện hữu trong ta.

Dalat en Provence, tháng 8/2007
Quản Mỹ Lan

Lăng Ông Bà Chiểu Và Mả Ngụy

 

1* Mở bài

Hàng năm, trong ba ngày Tết, lăng Ông Bà Chiểu tràn ngập rừng người đi lễ, một số lớn là người Hoa trong Chợ Lớn. Bên trong khói nhang mù mịt đến nghẹt thở.

Ban đầu người dân vùng Sài Gòn Chợ Lớn đến lăng mộ để tưởng niệm công ơn của ông, nhưng những thế hệ sau tin tưởng rằng lăng mộ của một vị thần hiển linh, đề cầu an và cầu phước.

Sau lễ, họ hái lộc đầu xuân khiến cho cây cối chung quanh bị chặt cành, bẻ lá do những người tham lam cho rằng cành lớn và dài thì có nhiều lộc.

Khu mộ nầy đã có một thời bị triều đình vua Minh Mạng trừng phạt người đã chết, bằng cách lấy xích sắt xiềng lại rồi đánh vào mộ 100 roi trước khi san bằng nấm mộ. Triều đình cho đó là mả của loạn thần, gọi là Mả Ngụy. Nhưng hai tiếng Mả Ngụy được chính thức gọi tên là mồ mả của gần hai ngàn người trong thành Bát Quái, có liên quan đến cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, chống lại triều đình vua Minh Mạng.

2* Lăng Ông Bà Chiểu

2.1. Vị trí


Lăng Ông Bà Chiểu gọi tắt là Lăng Ông, có tên Thượng Công Miếu, là khu lăng mộ của Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832), tọa lạc tại số 1 đường Vũ Tùng thuộc phường 1 quận Bình Thạnh thành phố Sàigon ngày nay.

Diện tích 18,500 mét vuông, nằm kế bên khu chợ Bà Chiểu cho nên thường gọi là Lăng Ông Bà Chiểu. Nhiều người ở nơi khác thường hiểu lầm là cái lăng thờ Ông và thờ Bà tên Chiểu. Đây là lăng thờ Tả Quân Lê Văn Duyệt, và do tục lệ kiêng cử tên, cho nên thường gọi là Lăng Ông Bà Chiểu.

2.2. Lịch sử của Lăng Ông


Mộ phần được trùng tu Mộ của Lê văn Duyệt và phu nhân
Đền thờ Lê Văn Duyệt bên trong lăng Ông Mộ Lê Văn Duyệt và phu nhân

Do thù oán với vua Minh Mạng, cho nên sau khi chết, mồ mả của Lê Văn Duyệt bị vua cho san bằng, xiềng lại bằng xích sắt, đánh trên mộ 100 roi, dựng bia khắc 8 chữ "Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử" (Chỗ tên lại cái Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm Tân sửu (1841) vua Thiệu Trị (con của Minh Mạng) cho phá bỏ xiềng xích và đắp lại mộ.
Năm 1848, vua Tự Đức (cháu vua Minh Mạng) mới truy phong lại và ban phẩm tước cho con cháu của Lê Văn Duyệt. Ông Lê Văn Duyệt được truy phong là "Vọng các công thần, chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân, quận công". Quan chức làng Long Hưng tỉnh Mỹ Tho (Định Tường, Tiền Giang) tìm ra được Lê Văn Niên, con của bà Lê Thị Hổ (em Lê Văn Duyệt), Niên gọi ông bằng cậu. Trả lại 32 mẫu ruộng làm của hương quả thờ cúng họ Lê.

Phần mộ được đắp lại cho rộng thêm và sửa sang lại miếu thờ. Trong khu vực lăng còn có phần mộ của vợ ông là bà Đỗ Thị Phận cùng 2 cô hầu.

2.3. Thờ cúng


Hàng năm có 2 lễ hội lớn tại lăng, đó là ngày giỗ của Tả quân Lê Văn Duyệt, từ ngày 1 đến 3 tháng 8 âm lịch. Và ngày hội đầu xuân, mồng một và mồng 2 Tết.

Khi Lê Văn Duyệt mất, dân gian xem ông như một vị thần, vì vậy việc thờ cúng, tế lễ mang nghi thức thờ thần, tế thần, không giống như ngày lễ tưởng niệm anh hùng dân tộc như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Huỳnh Đức, mà mang tính dân gian như lễ vía Bà Chúa Xứ hoặc vía Điện Bà ở Tây Ninh (Núi Bà Đen)


Số người dự đến cả chục vạn người, trong đó số người Hoa chiếm phân nửa. Bởi vì lúc sinh thời, Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt có những chính sách giúp đỡ cho cộng đồng người Hoa, phát triển ngành nghề và an cư lạc nghiệp ở quê hương thứ hai của họ là Sài gòn Gia Định, Việt Nam.

3* Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832)


Tả quân Lê Văn Duyệt là bậc khai quốc công thần, là vị tướng giỏi, phò Chúa Nguyễn Ánh vạn dặm trường chinh, từ khi Chúa Nguyễn còn gian nan bôn tẩu cho đến lúc lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long.

Ông người làng Hòa Khánh, huyện Cái Bè tỉnh Mỹ Tho (Định Tường, Tiền Giang). Thân phụ là Lê Văn Toại, gốc Quảng Nghĩa, dời vào sống ở Định Tường. (Mỹ Tho-Tiền Giang)

Ông theo chúa Nguyễn Phúc Ánh từ lúc 17 tuổi. Đến năm 1789, ông bắt đầu đứng vào hàng tướng lãnh của Chúa Nguyễn.

Tài năng Lê Văn Duyệt sáng chói, khi ông chỉ huy đánh tan hải quân của nhà Tây Sơn ở cửa Thị Nại (Qui Nhơn) vào năm 1801.
Trận đánh được ghi vào sử nhà Nguyễn là “Trung hưng đệ nhất võ công” (Võ công oanh liệt nhất của công cuộc trung hưng nhà Nguyễn)

Năm 1793, Lê Văn Duyệt cùng với các tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Võ Di Nguy, và Võ Tánh, theo Nguyễn Ánh đi đánh Qui Nhơn, lấy được Diên Khánh và Bình Khương, rồi sau đó chiếm được biển Thị Nại rồi Đà Nẳng.
Lê Văn Duyệt phá được quân Tây Sơn, bắt sống phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phạm Văn Sách.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long phong cho Lê Văn Duyệt, Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân.

Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định Thành hai lần. Lần thứ nhất từ 1813 đến 1816, lần thứ hai từ 1820 cho đến lúc qua đời năm 1832. Ông rất có uy quyền, ai ai cũng kính phục, gọi ông là "Ông Lớn Thượng".

Các nước lân cận đương thời đều sợ oai phong của ông, gọi ông là "Cọp Gấm Đồng Nai", là một trong ngũ hổ tướng bao gồm Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức, và Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu.
Lê Văn Duyệt đã thành lập hai cơ quan từ thiện: "Anh Hài", để rèn luyện võ nghệ cho trẻ thích việc kiếm cung, và "Giáo Dưỡng" để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương và nghề nghiệp.

Hàng năm, ông tổ chức hai lễ lớn: Lễ triều kiến vua và Lễ duyệt binh. Mỗi năm, vào Tết Nguyên Đán, vua Cao Miên phải sang chúc thọ vua Việt Nam tại thành Phiên An. (Thành Gia Định được Lê Văn Duyệt xây đắp thêm). Cứ vào ngày 30 Tết thì vua Miên phải có mặt tại thành Phiên An để ngày hôm sau, Tả quân tiến hành Lễ chúc thọ tại Vọng Cung.

Ngoài ra, ngày mồng 6 tháng giêng thì tổ chức Lễ xuất binh để thị oai với các nước láng giềng.
Dưới sự cai trị của ông, sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội, văn hóa và quân sự của Thành Gia Định, trải dài từ Bình Thuận tới Cà Mau, Hà Tiên. Tài năng và công đức của ông được người dân Nam Bộ hết lòng tôn kính.

Lê Văn Duyệt qua đời ngày 28-8-1832, thọ 69 tuổi.

4* Sự hiềm khích giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt

Lê Văn Duyệt không ủng hộ vua Minh Mạng lên ngôi, mà ủng hộ con của Hoàng tử Cảnh, khi vua Gia Long hỏi ý kiến, trước khi băng hà.
Lê Văn Duyệt đã dùng quyền “tiền trảm hậu tấu” xử chém Huỳnh Công Lý, là cha của một quý phi được vua Minh Mạng sủng ái.

Lê Văn Duyệt nhiều lần vượt quyền, hoặc làm sai ý kiến của triều đình, nhất là sau khi vua Gia Long qua đời.
Do trước kia, Lê Văn Duyệt được hưởng quyền "Nhập triều bất bái" (Vào triều không cần phải lạy) cho nên sau nầy Lê Văn Duyệt không chịu quỳ lạy vua Minh Mạng.

Lê Văn Duyệt ủng hộ các nhà truyền giáo châu Âu, làm nghịch ý vua Minh Mạng.
Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, không biết chiều ý vua cho nên bị ghét.

Nhưng nguyên nhân chính là chính sách trung ương tập quyền của vua Minh Mạng, bãi bỏ chức vụ Tổng trấn của thời Gia Long, chức vụ nầy cho phép đại diện nhà vua trông coi các tỉnh trong địa hạt. Tổng trấn Gia Định Thành quản lý 6 tỉnh Nam Bộ.

5* Vua Minh Mạng “trị tội” sau khi Lê Văn Duyệt qua đời

Khi còn sống, Lê Văn Duyệt nắm giữ binh quyền rất lớn cho nên vua Minh Mạng vốn thù ghét nhưng không làm gì được.

Năm 1832, ngay sau khi Lê Văn Duyệt mất, thọ 69 tuổi, vua Minh Mạng thi hành chánh sách tập trung quyền lực bằng cách bãi bỏ hai chức vụ Tổng trấn Bắc Thành, và Tổng trấn Gia Định Thành. Tất cả trở thành tỉnh trực thuộc triều đình Huế. Tại mỗi tỉnh có chức Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát sứ, và Lãnh binh cai quản.

Gia Định Thành hay Thành Phiên An được đổi lại thành tỉnh Gia Định do Nguyễn Văn Quế làm Tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm Bố chánh, và Nguyễn Chung Đạt làm Án sát.

Khi đến nhậm chức Bố chánh, Bạch Xuân Nguyên tuyên bố rằng thừa hành mật chỉ của triều đình truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt.
Bản án được thành lập, trong đó Lê Văn Duyệt can tội tham nhũng, lạm dụng quyền lực, có mưu đồ tạo phản, chống lại triều đình như việc tu chỉnh thành Bát Quái và việc đóng tàu.

Đồng thời, nhiều thuộc hạ của Lê Văn Duyệt bị bắt giam, trong đó có con nuôi là Lê Văn Khôi. 16 người nhà của Lê Văn Duyệt bị giết chết hết.
Bản án có 7 tội phải bị chém đầu, 2 tội phải bị thắt cổ và một tội phải đi sung quân.

Vua Minh Mạng phê trong bản án rằng "Tội của Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc kể ra cũng không hết, nói ra đau lòng. Dù có chẻ quan tài ra mà giết thêm một lần nữa cũng đáng tội. Nhưng nghĩ hắn chết đã lâu, và đã bị truy đoạt các quan tước, xương khô trong mả, cho nên chẳng cần phải gia hình chi nữa cho uổng công. Vậy tổng đốc thành Phiên An (Gia Định) đến mả của hắn, cuốc bỏ nấm mộ, san bằng mặt đất và dựng lên một bia đá khắc mấy chữ thật to "Đây là chỗ tên “lại cái” lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước" (Quyền yếm Lê Văn Duyệt thụ pháp xử)

Phẩm hàm của cha ông bị tước, bia mộ bị đục xóa, điền ruộng bị tịch thu, nhà thờ họ tộc tại làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức Quảng Ngãi bị voi của quan quân đem về tàn phá.

Lê Văn Duyệt là ái nam ái nữ bẩm sinh chớ không phải tự hoạn để làm thái giám. Sau nầy, ông lập được nhiều công, vua Gia Long gả cho ông một cung nữ tên Đỗ Thị Phận về làm vợ, mặc dù biết ông là bán nam bán nữ.
Mộ của Lê Văn Duyệt bị san bằng, bị xiềng lại bằng xích sắt và đánh trên mộ 100 hèo. Đó là thời gian mà mộ của Lê Văn Duyệt bị gọi là Mả Ngụy.
Và sau nầy, sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn bất thành, tất cả 1,831 quân bại trận đều bị giết và cùng chôn chung một mồ tập thể, cũng gọi đó là Mả Ngụy.

6* Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình

6.1. Lê Văn Khôi

Lê Văn Khôi tên thật là Nguyễn Hữu Khôi, người Cao Bằng. Do khởi binh làm loạn nên bị quân triều đình đánh đuổi, phải chạy vào Thanh Hóa và gặp Lê Văn Duyệt làm kinh lược ở đó, nên Khôi ra xin đầu thú.
Lê Văn Duyệt tin dùng và nhận làm con nuôi, đổi tên là Lê Văn Khôi rồi đem về Gia Định thành cất nhắc làm Phó vệ úy.

6.2. Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình

Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời thì Bạch Xuân Nguyên bắt giam Khôi. Lê Văn Khôi ngầm liên lạc với thủ hạ bên ngoài, đêm 5-7-1833 ông cùng 27 thuộc hạ phá ngục, đột nhập vào tư dinh giết chết cả nhà Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, và giết luôn Tổng đốc Nguyễn Văn Quế.

Lúc đó, Gia Định Thành có những người bị tội ở Bắc Hà bị đày vào Gia Định, họ gọi là lính hồi lương. Thành phần nầy theo Lê Văn Khôi khởi binh.

Lê Văn Khôi chiếm thành Bát Quái. Tổ chức lễ thắp đuốc tại mộ Lê Văn Duyệt, và tuyên bố bất phục triều đình. Ủng hộ An Hòa là con trai của hoàng tử Cảnh (Nguyễn Phúc Cảnh). Tối hôm đó giết chết tên tổng đốc mới nhậm chức là Nguyễn Văn Quế.

6.3. Lê Văn Khôi đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ

Nhiều quan lại do triều đình cử vào Gia Định Thành bị giết hoặc bỏ chạy. Quân nổi dậy của Lê Văn Khôi nhanh chóng phát binh đánh chiếm 6 tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ.
Chỉ trong ba ngày toàn bộ sáu tỉnh nằm trong tay quân nổi dậy.
Lê Văn Khôi làm chủ thành Phiên An. Nhiều quan văn võ triều đình ra đầu thú.
Ông đúc ấn tự xưng là Đại nguyên soái rồi phong cho thuộc hạ vào những chức vụ Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Hậu quân, Thủy quân, Tượng quân…
Tháng 8 năm 1833, vua Minh Mạng cử Trương Minh Giảng và các tướng đem thủy, bộ và tượng binh vào đánh quân nổi dậy của Lê Văn Khôi.
Quân triều đình lấy lại các tỉnh Nam Bộ.
Trước thắng thế của quân triều đình, địa chủ, phú hào các nơi không dám ủng hộ và tiếp tế cho quân nổi dậy nữa.

6.4. Quân nổi dậy thất trận

Một tướng giỏi của Lê Văn Khôi là Thái Công Triều, kéo quân ra đầu hàng quân triều đình và được cử đi đánh Thành Gia Định. Thế lực quân nổi dậy suy yếu.

Lê Văn Khôi nhờ giáo sĩ Tây phương sang cầu viện Xiêm La (Thái Lan). Xiêm La vốn có ý đồ chiếm Đại Việt nên nhận lời đưa quan sang trợ chiến.
Lê Văn Khôi còn mời giáo sĩ người Pháp là Joseph Marchand và các giáo sĩ Công Giáo người Việt vào trong thành trợ chiến. Những giáo sĩ người Việt giữ vai trò lãnh đạo lực lượng Công Giáo địa phương, đánh lại quân triều đình.

Năm 1834, quân triều đình đánh bại quân Xiêm La chiếm lại toàn bộ 6 tỉnh miền Nam và chuyển sang vây thành Bát Quái.
Trong khi thành bị vây thì Lê Văn Khôi chết vì bịnh thủng. Con trai là Lê Văn Cù, mới 8 tuổi, được cử lên thay.

Trong khi Thành Bát Quái bị bao vây thì bịnh dịch tả hoành hành. Súng đạn hư hỏng và cạn dần. Lương thực dự trữ còn nhiều nhưng bị ẩm mốc. Tinh thần và sức lực của quân nổi dậy suy sụp, chao đảo và ly tán.
Ngày 8-9-1835, quân triều đình chia làm 8 mũi theo đồ hình Bát Quái ào ạt tấn công. Quân nổi dậy kháng cự không nổi. Bị thua.

6.5. Mả Ngụy
Cánh đồng mồ mả

Mả Ngụy hay Mả Biền Tru là những mồ chôn tập thể gần 2,000, gồm những người tham gia hoặc có liên hệ đến cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, chống triều đình.

Thành Bát Quái là một vị trí phòng thủ vô cùng lợi hại do những kỹ sư công binh người Pháp thiết kế và xây dựng. Hàng vạn quân thủy bộ binh của triều đình bao vây tấn công suốt hơn hai năm mới chiếm được thành.

Quân nổi dậy và dân chúng trong thành và cả ngoài thành vài dặm, bao gồm già trẻ, trai gái gì cũng đem ra giết sạch. Tổng số người chết lên tới 1,831 người. Những mồ tập thể đó gọi là Mả Ngụy.

Sách Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện viết: “…bè đảng a dua, không cứ già trẻ trai gái ở trong thành và ở vài dặm ngoài thành, đều chém ngay rồi đào hố to vất thây, lấp đất, chồng đá làm gò, dựng bia khắc đây là “nơi bọn nghịch tặc bị giết, để tỏ quốc pháp”

Vị trí của những ngôi mộ được cho là ở vùng ngã sáu đầu đường Phan Thanh Giản và Lý Thái Tổ, quận Ba Sài Gòn. Vùng nầy trước kia là cánh đồng rộng lớn hoang vu với nhiều lùm cây um tùm.

Cái tên Mả Ngụy được người dân nói đến trong thời gian họ còn sợ vua Minh Mạng, nhưng về sau không ai gọi tên ấy nữa, mà gọi là “đồng mả lạng” Người Pháp gọi đó là “cánh đồng mồ mả” vì có quá nhiều mả.

Sáu người bị kết tội chủ mưu bị đóng cũi giải về Huế nhận án lăng trì, gồm có: Lê Văn Cù, 8 tuổi, con của Lê Văn Khôi, giáo sĩ người Pháp là Joseph Marchand (Cố Du), một người Hoa tên Mạch Tấn Giai, và Nguyễn Văn Hoành, Nguyễn Văn Trắm và Nguyễn Văn Bột. Trên đường bị giải về kinh đô một người tử tử.

Sau cuộc nổi dậy, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái kiên cố và cho xây lại thành nhỏ hơn, ít kiên cố hơn là Thành Gia Định hay Phượng Thành, Phụng Thành.
Sự nổi dậy của Lê Văn Khôi kéo dài 3 năm.

6.6. Xử Lăng Trì (Tùng xẻo hay Bá đao)

1). Giáo sĩ Joseph Marchand bị xử lăng trì.


Ba giờ sáng ngày 30-11-1835, bảy phát súng thần công nổ vang kêu gọi mọi người đến tham dự cuộc xử án.

Giáo sĩ Marchand (cha Du) và bốn thủ hạ thân tín của Lê Văn Khôi được đưa ra khỏi cũi. Các tử tội phải lột áo ra nửa người xã xuống đến ngang lưng, quần thì xắn lên tới đùi rồi được đưa đến cửa Ngọ Môn trình diện và phải phục lạy nhà vua năm lạy.

Vua Minh Mạng tỏ vẻ giận dữ ném cờ hiệu xuống đất. Đó là dấu hiệu không ân xá lần cuối cùng.
Lính trói năm tử tội vào năm cọc cắm sẵn, giáo sĩ Marchand bị trói vào vọc thứ hai.
Dân chúng bị đuổi lùi ra 30 thước. Mỗi tử tội có ba người lý hình, một cầm kềm, một cầm dao và một người lo đếm cho đủ số 100 lát cắt. Trước đó lính đã nhét vào miệng tử tội và cột chặt để không thể kêu la được.

Sau một hồi trống, bọn lý hình đưa cái kềm đã nung lửa đỏ vào nhiều chỗ trên thân thể tội nhân. Cứ thế, dao và kềm lấy từng miếng thịt đỏ máu. Sau cùng bọn lý hình cắt lớp da trên trán cha Du, lật xuống che mặt rồi cắt từng miếng trên hai bên ngực, sau lưng, tay chân.
Cha Du giãy dụa, quằn quại, ngước mặt lên trời rồi gục đầu xuống. Lìa đời.

Tiếp theo quân lính cắt lấy đầu của ông. Cởi dây trói, bổ thân hình ra làm bốn để đem đi ném xuống biển. Còn thủ cấp các tử tội thì đem bêu ở nhiều nơi rồi được trả về kinh đô, bỏ vào cối giã cho nát để rắc xuống biển.

2). Tổng quát về tội lăng trì

Chữ Hán "Lăng trì" có nghĩa là "Lấn lên một cách chậm chạp".

Tội tùng xẻo là một trong những hình phạt tàn nhẫn và dã man, được dùng rộng rãi ở Trung Quốc và ở VN thời phong kiến.
Đây là một hình thức ghê rợn nhất trong các án tử hình. Phạm nhân vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng. Có những trường hợp dùng dao xẻo cả phân nửa thân thể mà nạn nhân vẫn còn giãy dụa.

Đao phủ còn có nhiệm vụ là không để cho chết một cách nhanh chóng. Tức là đã có quy định là phải thực hiện bao nhiêu nhát xẻo mới được cho chết.

Nạn nhân bị trói chặt vào một cây cột, sau đó bọn khoái tử thủ (đao phủ) chặt hết chân tay, rồi dùng dao xẻo từng miếng thịt cho đến chết. Thịt lóc ra được trưng bày nơi công cộng để răn đe dân chúng.

7* Nói thêm về thành Bát Quái

Thành Bát Quái là một khu vực mà ngày nay là trung tâm thành phố Sàigon. Nó là một công sự phòng thủ nằm trong Gia Định Thành, mà Chúa Nguyễn Ánh chọn làm kinh đô, còn gọi là Gia Định Kinh.

Năm 1790, chúa Nguyễn Ánh nhờ 2 sĩ quan công binh người Pháp là Victor Olivier de Puymanel (Tên Việt là Nguyễn Văn Tín) và Théodore LeBrun vẽ họa đồ và huy động 30,000 dân phu xây thành theo lối kiến trúc Vauban, tức là nặng về mặt phòng thủ. Thành mang hình Bát Quái là định hướng về phong thổ Á Đông kết hợp với mỹ thuật của dân tộc.

Tường thành cao 4.8 mét toàn bằng đá ong Biên Hòa. Có 8 cổng đặt theo tên Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Trong thành có các đồn lính, các kiến trúc tôn giáo như chùa Cây Mai, chợ búa, các khối ngành thủ công, các cửa hàng, kho hàng, khu dân cư...
Vì tình hình bất an, nhiều người Hoa ở Hà Tiên và Định Quán chạy về Sàigon, gần thành Bát Quái tạo thành khu vực Chợ Lớn.
Dân cư trong Gia Định Thành vào năm 1819 có khoảng 180,000 người bản địa và 10,000 người Hoa.

Năm 1801, nhờ sự hỗ trợ của người Pháp, Nguyễn Ánh đánh bại được quân Tây Sơn, thống nhất Việt Nam, lập triều Nguyễn, lên ngôi hiệu là Gia Long, và dời đô ra Huế năm 1811.

8* Kết luận

Lê Văn Duyệt là một tướng tài trong ngũ hổ tướng của nhà Nguyễn. Ông là người chánh trực, công bằng, nhân ái và một mực trung thành với nhà Nguyễn.

Vua Gia Long đã từng ủy nhiệm cho ông trọn quyền giải quyết tranh chấp giữa Xiêm La (Thái Lan) và Chân Lạp (Cao Miên). Hai quốc gia nầy một mực kính trọng ông.
Ông có công làm phát triển kinh tế, văn hóa và quân sự của miền Nam, được người dân tôn kính và thờ như một vị thần.

Ông bị vua Minh Mạng trừng phạt một cách oan uổng cho nên sau đó, con và cháu của Minh Mạng là Thiệu Trị và Tự Đức giải oan cho ông. Phục hồi danh dự và phẩm chức.
Vụ án oan đưa đến cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, kéo theo cái chết của gần hai ngàn người trong và ngoài thành Bát Quái.

Trường nữ trung học Gia Định lấy tên của ông đặt cho trường, đó là trường Lê Văn Duyệt.

Trúc Giang MN
Minnesota ngày 2 năm 2022

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

Nhạt Nhoà - Nhạc Sĩ Tuấn Khanh - Tiếng Hát Bảo Côn


Nhạc Sĩ: Tuấn Khanh 
Tiếng Hát: Bảo Côn

Như

 

Như một thoáng vấn vương
Lúc trời chiều nhạt nắng
Như nỗi nhớ niềm thương
Quện sâu vào năm tháng
Như khoảnh khắc vô thường
Vụt bay đi mất dạng...

Quýdenver

Thu Quạnh Quẽ

 

Nắng rực bên thềm trải sách phơi
Lần trang nhật ký dạ bời bời
Ngày nao sóng bước nhìn mây biển
Thuở ấy kề vai ngắm nhạn trời
Những tưởng nên duyên tròn sự nghiệp
Nào ngờ gãy gánh lỡ cơ ngơi
Riêng mình lặng lẽ từng thu quạnh
Vọng bóng con tàu lướt dặm khơi

Kim Phú 
 (Họa Vần)

Cuộc Đời Phù Vân

 

Xem hoa, sớm nở tối tàn,
Nhìn mây tụ lại, rồi tan cuối trới.
Ngắm dòng sông, lững lờ trôi,
Cho ta cảm nhận, cuộc đời phù vân!

Ngày nào bừng tiết lập Xuân,
Rồi Thu cũng tới, đầy sân lá vàng.
Dù thường dân, đến Nữ Hoàng,
Trăm năm, rồi cũng xe tang cuối đường!

Con người, trong cõi vô thường,
Hữu sinh hữu tử, lẽ đương nhiên rồi.
Công danh phú quí buông xuôi,
Theo nhau vĩnh biệt cuộc đời phù vân.

Nữ Hoàng cho đến thường dân,
Ra đi còn được thế nhân lưu truyền:
Ấy là những vị “Đại Hiền”!
Xác về cát bụi, Hồn thiêng về Trời!

Trải muôn thế hệ qua rồi!
Như sông nước chảy. như trời mây tan,
Như hoa sớm nở tối tàn!
Cuộc nhân sinh, thực rõ ràng “phù vân!”

Trần Quốc Bảo

Richmond, Virginia

Thăm Trần Quốc Bảo

 

Thăm hỏi Nhà Thơ viết rất hay!
Thăm người cầm bút thật mê say
Thăm nhiều sáng tác tràn như suối!
Thăm khách Tao Nhân ở chốn này!

Trần thế Ta Bà chắc chán rồi?
Trần ai vận nước chẳng ngừng trôi!
Trần gia hạnh phúc nên còn viết?
Trần nghĩa vinh nhân vẫn đắp bồi!

Quốc biến ra đi quyết đại thành!
Quốc Gia dũng liệt tỏ hùng anh!
Quốc uy vạn thuở Quân, Minh Thánh!
Quốc sĩ muôn năm rạng Đức Lành!

Bảo kiếm trong tim sáng lạ thường!
Bảo dân thoát khỏi mọi tai ương
Bảo tồn tiết liệt thơm danh Việt!
Bảo quốc thành công sánh liệt cường!

Đức Hùng

Sydney, Úc Châu, 22/09/2022

Hôm Nay Là Ngày Đầu Của Mùa Thu

( Ảnh của Tác giả)

Thời tiêt vùng Nam Cali có phần dịu lại, ngồi trên bàn PC nhìn ra trời bên ngoài bổng thấy lòng mình hứng khởi muốn viết một chút gì về mùa Thu. Và mong sẽ nhận được những đáp trả mênh mang khác về Thu từ các huynh tỷ. Nhất là những bài về cảnh mùa Thu tại Paris, Boston, Montreal, hay cả tại Melbourne/ Sydney…

Đúng vậy. Mùa Thu là mùa trong năm dễ gây cảm xúc vì những gợi nhớ bao kỷ niệm sầu thương. Có lẻ quý vị ở Miền Đông/ Bắc sớm xao xuyến, man mác vì khí trời làm lá cây chóng vàng, rơi rụng ngập lối với "công viên chiều qua rất ngắn". Rừng cây hai bên đường, đồi này qua núi nọ, trùng trùng màu vàng tươi, vàng cam, vàng đỏ, vàng nâu, vàng cháy, điệp những màu của Thu bát ngát.

Mong mùa Thu về bên tôi. Nghe thật mong manh. Như một lời cầu xin thì đúng hơn. Vì mùa Thu tiêu biểu cho lá rời cành, của từ biệt chia phôi. Cho một thoáng nhớ, một thoáng yêu rồi một thoáng ngậm ngùi. Là cơn lạnh trong tim, phút đơn côi trong lòng. Niềm thương nhớ tưởng như đã chết nay bổng tràn về "Trong mắt em mùa Thu về đây, nghe nhớ thương nặng chỉu vai gầy". Khi mây xám lãng đãng màu sương khói, hình ảnh nào đẹp hơn sân ga thị trấn nhỏ với con tàu vừa rời đi để lại người em bơ vơ ở cuối đường, hay một bóng người lầm lủi lê bước dưới

Không như ở nơi khác, Nam Cali vẫn còn nóng ban ngày dù đêm mát nhẹ. Nhiệt độ giữa đêm và ngày cách nhau trên 20 Độ. Nắng nơi đây vẫn chưa cũ dù bắt đầu nhạt màu. Lạnh về đêm chưa đến vì tình Hè chưa hết. Nơi đây làm gì có "Lá rơi hàng xóm lá bay sang", hay "lá úa rơi nhiều quá, lá tiển người đi xa". Cũng chẳng có Thu mây ngàn đầy luyến thương. Hay những chiều nắng đến bâng khuâng.

Thế nhưng, vào một buồi sáng trời bổng trở chứng với cơn mưa nhẹ trong đêm, tôi chợt bắt gặp em đứng tựa bên song cửa, đôi mắt buồn, hững hờ nhìn những giọt thuỷ tinh đọng trên lá hoa Tigôn ngoài patio. Em nghĩ gì? Sầu mộng? Thương xót một linh hồn? Vương vấn một hình xưa? Vì cũng trong ánh mắt hằng ngày tôi vẫn nhìn, lần này ánh mắt em thật đăm chiêu, sâu thẳm và mộng tưởng. Hoàn toàn không có tôi trong đó!? Đợi khi em qua thăm Mẹ, tôi cuộn mình làm một bài thơ, loại ghen bóng, hờn mát. Thu Chợt Đến. Cho trọn ngày hôm nay:

"Em ngồi đó, thương vừng trán đăm đăm
Từng chiều qua, nắng thoát
hồn mê dại
Đôi mắt buồn, mở lớn,
hình ai đấy?
Tóc gọi sầu, khi Thu vừa chợt đến.

Thoáng trong mơ mùi hương thời tình tự
Buổi ban đầu, lòng nặng trĩu
Không quên
Bao tiếng cười, trăng, gió,
Cuốn xung quanh
Vẫn một lòng, ôm mộng
Nhớ người xưa.

Mây vần vũ, cuốn lốc, đời trôi dạc
Thuyền em đi, chập chùng sóng trong đêm
Cố nhân ơi, tuyệt tình cốc, xin hảy
Kéo em vào,
huyệt mở,
tình thiên thu.

Em yêu, nơi đây lá cây chưa kịp vàng ở sân trước nhà chúng mình. Gió chưa đủ lạnh làm úa tàn thời gian. Lá, nếu có rơi vì cơn gió chướng, thì cũng rơi từng chiếc một. Kịp cho chúng mình theo dỏi từng chiếc rời cành, vất vưởng bay trước khi rơi trên thảm cỏ còn xanh. Từng chiếc một. Không quá nhiều một lần khiến em choáng ngộp. Và cũng chẳng hề quá nhanh để chúng mình kịp ơ thờ nhìn theo chiếc lá bay bay. Như tôi từng thầm thì với em "Đừng vội vã nghe em, hảy cho anh một lần. Được nhìn em thiết tha, trong nụ cười thơ yêu".

Cảm xúc đầu Thu đến nhanh, viết vội những cảm xúc khi nhà vắng. Ta với Ta. Nay xin chia sẻ với quý huynh tỷ. Và chúc nhau một ngày bình an.

Vĩnh Chánh

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

Vàng Phai Mấy Lá - Đoàn Chuẩn & Từ Linh-Tiếng Hát Thu Vàng


Sáng Tác: Đoàn Chuẩn & Từ Linh
Tiếng Hát:Thu Vàng 
Thực Hiện: Hoàng Khai Nhan

Hai Mùa Thu Nhớ

 

(Tiếng lòng gởi cho người bạn đời đã khuất)

Trời trở lạnh, lá vàng bay lả tả
Một mùa Thu về nữa đó, Em ơi
Hai Thu trước, Em còn xem Cúc nở
Mùa Thu nầy Em đang ở đâu rồi?

Ta đã mất nhau hai mùa lá đổ
Anh ngồi đây ôn lại kỷ niệm xưa
Ta có nhau khi sớm nắng chiều mưa
Thuở hai chúng ta còn trên quê Mẹ.

Em đi rồi, Anh cô đơn quạnh quẽ
Trên quê người, trong kiếp sống tha hương
Người ra đi, đễ lại nỗi nhớ thương
Kẻ ở lại, ray rứt niềm thương nhớ

Gác trọ cô đơn, nhiều đêm trăn trở
Chạnh lòng buồn, tưởng nhớ đến người xưa.

Trần Công/Lão Mã Sơn


Thu Tao Ngộ

 

Từ giã Cali về thăm xứ lạ
Lòng nghe như rộn rã một thâm tình
Tưởng đâu đây xuân trào trên cánh lá
Và nắng xuân hội tụ giữa bình minh

Ta cảm xúc bởi bao niềm rung động
Xa cố hương người Việt vẫn xum vầy
Vui họp mặt vang giữa trời lồng lộng
Một mùa Thu Tao Ngộ nghĩa tình đầy…

Duyên văn nghệ kết nên tình bằng hữu
Cõi văn chương tha thiết đến vô cùng
Ðời phong ba thêm thác ghềnh mưa lũ
Lưu lạc xứ người lòng vẫn thủy chung

Xin cảm tạ đến những người bạn quý
Ðã chung lưng xây dựng đẹp tình người
Mai tôi về sẽ thấy lòng phơi phới
Nhớ những chân tình đã tới cùng tôi

Ta cạn chén mừng ngày vui tao ngộ
Dòng sông Seine nước vẫn lặng lờ trôi
Tháp Eiffel đèn rực trời thành phố
Ôi Kinh Ðô Ánh Sáng đẹp tuyệt vời…

Mai ta về sẽ nhớ từng khuôn mặt
Ghi sâu vào trong khối óc lưu vong
Cho ngàn năm tình Việt Nam thắt chặt
Trang sử xanh lưu dấu giống Lạc Hồng

Xin trang trọng tri ân qua bút mực
Cảm tạ đời… đa tạ những tình thân
Góc trời Âu, một chiều Thu Tao Ngộ
Ðậm tình người.... làm tim mãi bâng khuâng …

nguyễn phan ngọc an 
Kỷ niệm một mùa thu

Bóng Thu Về

 

Lá rụng rơi vàng trải trước sân
Hồn thu đã thấp thoáng xa gần
Cành lay lại ngỡ cung đàn vọng
Gió thổi dưng ngờ tiếng nhạc ngân
Sắc ảo đan mơ lòng nữ sĩ
Sương mờ gợi cảm dạ hiền nhân
Bâng khuâng tiếc hạ âm thầm vắng
Dẫu biết mùa thay đổi tiếp vần

Minh Thuý Thành Nội
Tháng 9/6/2021

Đã Có Một Thời

  

Đã có một thời ta quen nhau
Đường Nguyễn Du quán gió bụi đầy
Lá me rơi bám bờ tóc xõa
Tay vướng sợi gầy mặc gió bay

Đã có một thời ta yêu nhau
Bờ môi ngon dấu nụ hôn đầu
Vai nghiêng đêm gối niềm trăn trở
Sợ sáng mai này sẽ phía sau...

Đã có một thời không lối đi
Đường lênh đênh mất bóng xuân thì
Giữa thương yêu lẫn nhiều nghi kỵ
Cũng đành lòng theo cuộc phân ly !

Đã có một thời ta lãng quên
Chiều trôi theo mây trắng rất buồn
Tóc xưa chắc ngắn rồi nhung nhớ
Theo vết môi hằn chuyện áo cơm

Đã có một thời xin ngủ yên
Đường chim bay ngày ấy mỏi mòn
Làm sao nhốt được mùi hương cũ
Trong trái tim đầy bao vết thương...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long

Tất Cả Đều Hay


- Bảo thủ. Cái Tôi là nhất.
- Quan tâm về số lượng hơn chất lượng
- Coi trọng hình thức hơn nội dung.
Có lẽ đây là bản chất của đa số người Á Đông, trong đó có người Việt chúng ta?
Có phải đây là những nỗi ám ảnh cho sự tiến bộ chăng?
Không biết đúng không. Nhưng nhìn vào xã hội hiện tại, ta thấy quá nhiều lạm phát. Gần như tất cả đều lạm phát.

Lạm Phát Học Sinh Giỏi

Nhìn vào thành tích các trường, từ Tiểu Học cho đến Trung Học, muốn tìm học sinh kém thật là khó. Học sinh có giỏi thật chăng. Điều này Trường nào cũng công nhận, nó được thể hiện qua thành tích cuối niên học. Niên học kết thúc hoàn mỹ. Các Thầy Cô đã cố gắng để Ban Giám hiệu không phải thua sút các trường khác. Làm đúng ý các cấp lãnh đạo. Và cũng vui lòng phụ huynh học sinh. Tôi thật sự giựt mình, khi có một phụ huynh tâm sự:
" Cháu nó học dở quá, con của người ta năm nào cũng có giấy khen Học Sinh Giỏi, còn con mình chỉ trung bình với kém. Cháu mới nói với Giáo viên chủ nhiệm, thì được câu đáp: Thế chị muốn cháu có giấy khen Học Sinh Giỏi không?".
Đúng là phụ huynh thì muốn bằng chị bằng em, còn giáo viên có cách biến học sinh kém thành học sinh giỏi!

Lạm Phát Học Vị Học Hàm

Để nhận xét đúng về trình độ dân trí một địa phương, thời đại nào cũng thế, chỉ cần tìm hiểu nơi đây có bao nhiêu giáo sư, tiến sĩ...bộ máy chính quyền có nhiều người có bằng cấp cao hay không? Có bao nhiêu nhà sách, các thể loại sách bán. Có bao nhiêu trường học, sự uy tín, khả năng đóng góp nhân tài cho xã hội...

Có lẽ vì thế, mà ngày nay các trường Đại Học, Cao Đẳng, Học Viện mọc lên khắp nơi, tỉnh nào cũng có. Theo tin báo điện tử Vietnamnet , thống kê của bộ Giáo Dục và Đào Tạo ngày 11/8/2017, số lượng trường Đại Học, Cao Đẳng và Học Viện là 235 trường với 1.767.879 sinh viên. Bộ phận giảng huấn 72.972 người ( trong đó, kể cả những người chưa đủ khả năng và trình độ thực sự) cũng không đủ giảng viên.
Theo vietnamnet.vn ngày 06/3/2014, vào năm 2013, Việt Nam có trên 24.300 Tiến sĩ. Số phục vụ ngành đào tạo Đại học và Cao Đẳng 9.152 người. Số còn lại hơn 15.000 đa số phục vụ trong bộ máy chính quyền.
Đáng mừng hay đáng lo? khi chúng ta được khen là có số lượng Học Vị sau đại học, Học Hàm đứng đầu Đông Nam Á tính trên tỷ lệ dân số.
Thầy đã thế còn Trò? Số sinh viên tốt nghiệp đạt rất cao, không dưới 90%, Vàng thau lẫn lộn. Trong đó, chắc rằng thau sẽ chiếm đa số. Thế rồi mọi đội ngũ Cô Cử, Cậu Cử tạo nên một đoàn quân thất nghiệp, phải đi làm các việc chỉ cần biết chữ; trình độ bậc Cơ Sở hay Trung học.
Như thế, trình độ dân trí nước ta có thật sự cao chăng? Hay chỉ là mèo khen mèo dài đuôi?

Lạm Phát Lời Khen

- Ồ giỏi quá! thêm bước nữa đi con...
Tiếng khen reo mừng của người mẹ, khuyến khích đứa con vừa chập chửng những bước đầu tiên trong đời.
Một tiếng khen mang ý nghĩa tốt đẹp, quý biết dường nào. Lời khen xuất phát từ đáy lòng, mang đến cho người nhận sự khích lệ lớn lao, sẽ làm tăng sự tự tin và cố gắng hơn.
Ngày trước, Nguyễn Vĩnh có bài viết gây xôn xao dư luận : "Gì Cũng Cười", còn chúng ta giờ đây "Gì Cũng Khen". Hay cũng khen, dở cũng khen, chẳng biết gì cũng khen.
Nhìn các diễn đàn trên mạng Internet, có những trang, khen nhau là chính. Tôi viết, anh khen, anh viết, tôi khen. Anh và tôi, chúng ta có xứng đáng được khen chăng?
Chỉ biết rằng lời khen xuất phát từ phép lịch sự, tính cả nể, dễ dãi của người Việt chúng ta.
Trên các trang mạng, chủ yếu chỉ vui đùa giải trí, nên chuyện khen nhau cần gì đúng sai? người ta khen mình thì mình khen lại thôi. Đấy chẳng qua là "Có đi có lại mới toại lòng nhau".
Hay là điều này xuất phát từ bản chất háo danh, nặng về cái tôi. Ở ta, của ta cái gì cũng hay, cái gì cũng đúng, cái gì cũng tốt đẹp hơn của người. Thích được khen và có ác cảm với người chê, dẫn đến việc các Người điều hành Trang Web, cùng các Cộng Tác Viên khen nhau vô tội vạ. Tự hào và hảnh diện, như ngầm bảo với mọi người chúng tôi là những người hay, giỏi?

Có cần thế không?

Không bàn về những lạm phát khác, với những lạm phát trên, chúng ta kết luận thế nào?
- "Ôi xã hội Việt Nam của tôi, một xã hội không có người dở, không có người kém. Tất cả đều giỏi, tất cả đều hay!"

Huỳnh Hữu Đức 
(2017)

Nhờ "Bản Đồ Bụng" Sẽ Biết Cơn Đau Bụng Do Nguyên Nhân Nào Gây Ra


Bright Side chia sẻ với các bạn "bản đồ bụng" để giúp bạn phần nào hiểu được những nguyên nhân gây ra những cơn đau ở bụng để có cách xử lý phù hợp.

Đau bụng là một trong những tình trạng sức khỏe phổ biến nhất mà tất cả chúng ta đều từng trải qua theo thời gian. Có rất nhiều lý do khác nhau gây đau ở khu vực này. Đó là lý do tại sao việc xác định đúng vấn đề để điều trị theo cách tốt nhất có thể là vô cùng quan trọng.

1. Bụng trên bên phải


Phần bụng này chứa túi mật và gan, vì vậy những nguyên nhân gây đau phổ biến nhất ở khu vực này thường được kết nối với các cơ quan này.
Nếu bạn trải qua cơn đau đột ngột, dữ dội tỏa ra vai phải và xuất hiện sau khi ăn một bữa ăn nhiều chất béo, có thể bạn bị sỏi mật.
Những cơn đau nhói hoặc chuột rút âm ỉ lan đến vai hoặc lưng phải của bạn và kéo dài trong vài giờ có thể là dấu hiệu cảnh báo viêm hoặc nhiễm trùng túi mật.
Một cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói có thể đến và tự biến mất thường cho thấy bạn bị viêm gan - một bệnh phổ biến ở gan.

2. Bụng trên giữa


Phần bụng này bao gồm tá tràng, phần đầu tiên của ruột non và một phần lớn của tuyến tụy.
Nếu bạn thường xuyên bị đau lan ra lưng và trở nên trầm trọng hơn khi ăn, đặc biệt là ăn thực phẩm có nhiều chất béo, đây có thể là dấu hiệu của viêm tụy.
Đau dữ dội và đau ở khu vực này kèm theo triệu chứng buồn nôn, nôn, tiêu chảy và sưng bụng thì có thể là do thoát vị vùng thượng vị.
Nếu có cảm giác nóng rát ở ngực cùng với các triệu chứng như ho, đau họng, vị axit trong miệng, đầy hơi, buồn nôn, nôn và đầy hơi thì đó thường biểu hiện chứng ợ nóng hoặc khó tiêu.
Nếu bạn bị ợ nóng trở nên tồi tệ hơn khi bạn cúi xuống hoặc nằm xuống cùng với đau ngực và ợ hơi, có thể bạn bị thoát vị tạm thời.
Trong trường hợp có cơn đau trở nên tồi tệ hơn giữa các bữa ăn hoặc vào giữa đêm và có thể được làm dịu đi nhờ ăn uống thì có thể là một triệu chứng của loét tá tràng.

3. Bụng trên bên trái


Phần lớn nhất của dạ dày của bạn tập trung ở vùng bụng trên bên trái, do đó, bất kỳ cảm giác bất thường nào trong khu vực này thường chỉ ra vấn đề với cơ quan này.
Đau dữ dội, dai dẳng kèm theo buồn nôn hoặc nôn có thể là dấu hiệu của đau hoặc viêm dạ dày.
Đau rát thường dữ dội hơn khi dạ dày trống rỗng thì có thể là do loét dạ dày.

4. Bên phải và trái ở giữa bụng


Thận của bạn nằm ở phần bên phải và bên trái của bụng, ở mỗi bên của cột sống. Đôi khi đau ở những khu vực này cũng có thể được gây ra bởi các vấn đề với ruột già của bạn.
Cơn đau ở bên bạn tỏa ra sau lưng và kèm theo sốt, ớn lạnh, tiêu chảy và buồn nôn có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị nhiễm trùng thận.
Cơn đau dữ dội lan tỏa vào vùng bụng dưới và xuất hiện từng đợt có thể là dấu hiệu cảnh báo sỏi thận. Bạn cũng có thể bị buồn nôn, nôn, sốt, cần đi tiểu liên tục và có máu trong nước tiểu nếu đúng là do sỏi thận gây ra.
Cơn đau có hoặc không có đầy hơi xuất hiện cùng với phân cứng và khô mà khó vượt qua có thể là triệu chứng của táo bón.

5. Bụng giữa


Bất kỳ cảm giác khó chịu trong phần bụng của bạn có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề trong ruột non và ruột già của bạn.
Đau bụng và chuột rút đi kèm với tiêu chảy nghiêm trọng, mệt mỏi, sốt và giảm cân cho thấy bạn đang bị viêm ruột.
Nếu bạn bị đau cùng với nôn mửa, tiêu chảy và không có khả năng truyền khí hoặc phân, đó có thể là dấu hiệu sớm của tắc nghẽn ruột non.
Nếu bạn bị sưng đau hoặc phình ra gần rốn kèm theo khó chịu ở bụng thì có thể là do thoát vị rốn.

6. Bên trái bụng


Bên cạnh thận trái của bạn, khu vực này cũng chứa ruột kết xuống của bạn có thể bị nhiễm trùng hoặc viêm do chế độ ăn uống không lành mạnh, lão hóa và một số nguyên nhân phổ biến khác.
Đau liên tục và kéo dài cùng với đau bụng, sốt, buồn nôn và nôn là những triệu chứng điển hình nhất của viêm túi thừa hoặc viêm ruột kết xuống của bạn.

7. Bụng dưới bên phải


Phần bụng này bao gồm ruột thừa - một cơ quan nhỏ lưu trữ vi khuẩn có ích, thúc đẩy quá trình tiêu hóa tốt và hỗ trợ hệ thống miễn dịch của bạn.
Nếu thấy đau nhói, chán ăn, buồn nôn, nôn và sốt... thì đó là những triệu chứng phổ biến nhất của viêm ruột thừa cần được điều trị y tế ngay lập tức.

8. Bụng dưới giữa


Bàng quang và cơ quan sinh sản của bạn nằm ở phần này của bụng.
Đau quặn bụng, cảm giác nóng rát khi bạn đi tiểu và thay đổi màu sắc của nước tiểu có thể là dấu hiệu chỉ ra nhiễm trùng bàng quang.
Đau vùng chậu đột ngột và nghiêm trọng có thể kéo dài trong nhiều tháng cũng là triệu chứng phổ biến của một số vấn đề với cơ quan sinh sản của bạn.

9. Bụng dưới bên trái


Một phần rất lớn của ruột già của bạn nằm ở đây, đó là lý do tại sao nếu bạn gặp một số vấn đề với cơ quan này, bạn rất có thể sẽ bị đau ở vùng bụng dưới bên trái.
Đau bụng đi kèm với chuột rút, đầy hơi, khí dư, tiêu chảy hoặc táo bón có thể là triệu chứng của hội chứng ruột kích thích.
Thông tin được trình bày trong bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin. Vì vậy, khi bị đau ở bất kì vị trí nào vùng bụng, bạn có thể có cách xử lý tạm thời và sau đó nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán chính xác.

Theo Tr. Thu
(Tiểu Thu sưu tầm)