Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Nhớ

 

Ta nhớ em như gió nhớ mây 
Như sông nhớ biển nước dâng đầy 
Như chim lẻ bạn buồn quên hót 
Như tiếng đàn ai chợt đứt dây...

Em có nghe gì khi xa nhau?
Ngoài sân thư viện nắng phai màu 
Mắt buồn em nhuộm phai màu nắng 
Hay nắng phai vì ta vắng nhau..?

Ta nhớ em như son nhớ môi 
Như trường nhớ tiếng học sinh cười 
Đường qua thư viện buồn hiu hắt 
Lối cũ ta về bóng lẻ loi...

Ta nhớ em như lá nhớ cây 
Như vòng tay nhớ lấy vòng tay 
Như tim nhớ máu từng giây phút 
Dù phút giây buồn hay đắm say....

Nhược Thu

Dĩ Vãng



Đôi lứa bỗng dưng thành dĩ vãng
Tưởng rằng hạnh phúc sẽ bền lâu
Bao năm tình nghĩa chia cay đắng
Mà cũng chia nhau những ngọt ngào

Sao đành lòng bỏ em ra đi
Em chưa hề nghĩ đến phân ly
Căn bệnh hiểm nghèo trong phút chốc
Mang anh ra khỏi thế gian này!

Nhà cao cửa rộng với kim cương
Tiền tài danh vọng cũng vô thường
Chẳng giữ cho em người dấu ái
Anh xa rồi suốt kiếp đau thương!

Em gào thét đến chín tầng mây
Không ai trả lại mối duyên này
Hồn anh khuất nẻo vầng mây xám
Để em tiếc nuối tình nồng say

Anh ở đâu bên kia thế giới
Tim em đau nhói lúc về đêm
Cảnh vật vẫn còn nguyên vẹn đó
Mà bóng người thương đã khuất chìm !

Không còn ai mỗi sớm tinh sương
Vẽ Vòng Nguyệt khuyết mặt người thương
Ai cài khuy áo cho em nữa
Và biết bao điều. Ôi! Uyên ương!

Dĩ vãng sẽ chìm theo thời gian
Mà lòng thương nhớ chẳng hề tan
Hồn thiêng xin dõi theo người cũ
Cho mộng đêm về đỡ giá băng .

Hoàng Phượng
5 /11 / 22

Lâm Giang Tiên 臨江仙 – Án Kỷ Đạo



臨江仙 - 晏幾道 Lâm Giang Tiên – Án Kỷ Đạo


身外閒愁空滿, Thân ngoại nhàn sầu không mãn,
眼中歡事常稀。 Nhãn trung hoan sự thường hy.
明年應賦送君詩。 Minh niên ưng phú tống quân thi.
細從今夜數, Tế tùng kim dạ sổ,
相會幾多時。 Tương hội kỷ đa thì.

淺酒欲邀誰勸, Thiển tửu dục yêu thùy khuyến,
深情惟有君知。 Thâm tình duy hữu quân tri.
東溪春近好同歸。 Đông khê xuân cận hảo đồng quy.
柳垂江上影, Liễu thùy giang thượng ảnh,
梅謝雪中枝。 Mai tạ tuyết trung chi.

Chú Thích
1- Lâm giang tiên臨江仙: tên từ bài. Tên khác: “Uyên ương mộng鸳鸯梦”, “Tạ tân ân謝新恩”, “Nhạn hậu quy雁後歸”, “Họa bình xuân畫屏春”, “Đình viện thâm thâm庭院深深”. Bài này có 60 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 5 câu, 3 bình vận. Cách luật:

X T B B X T cú
X B X T B B vận
B B B T T B B vận
T B B T T cú
X T T B B vận

X T X B X T cú
B B X T B B vận
X B B T T B B vận
B B X T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Thân ngoại身外: ngoài thân mình ra. Thân ngoại nhàn sầu không mãn 身外閒愁空滿: Xung quanh ta đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng vô cớ, bản khác chép “Thân ngoại nhàn sầu không mãn nhãn 身外閒愁空滿眼: những mối sầu bâng khuâng trên đời đầy trước mắt”.
3- Không mãn 空滿 = sung mãn đầy rẫy.
4- Hy 稀: ít, hiếm. Bản khác chép “di 移: dời đổi”.
5- Ưng 應: nên, phải.
6- Phú 賦: ngâm vịnh.
7- Tống quân thi 送君詩: bài thơ tiễn anh ra đi.
8- Tế 細: kỹ lưỡng. Bản khác chép “ thí 試: thử”.
9- Sổ 數: đếm.
10- Tương hội 相會 = tương tụ 相聚: tụ họp, sum vầy.
11- Kỷ đa thì幾多時: có bao nhiêu thời gian.
12- Thiển tửu 淺酒: tiểu ẩm, uống ít rượu (cho vui). Thiển tửu dục yêu thùy khuyến: muốn uống ít rượu mà không có bạn nhậu mời mọc nhau. Bản khác chép “Thiển tửu dục yêu thùy cộng hoan 淺酒欲邀誰共歡: muốn uống rượu mà không có bạn cùng chung vui”.
13- Yêu 邀: mong cầu, cầu được.
14- Khuyến 勸: khuyến tửu 勸酒, mời mọc nhau uống rượu.
15- Đông khê 東溪: suối bên phía đông, phiếm chỉ nơi có cảnh đẹp.
16- Cận 近: gần, bản khác chép “Tận 盡: hết”.
17- Liễu thùy 柳垂: Cành liễu rủ xuống.
18- Mai tạ 梅謝: hoa mai tàn.
19- Tuyết trung ch i雪中枝: cành nằm trong tuyết phủ.

Dịch Nghĩa

(Bài này Án Kỷ Đạo làm để tặng người bạn trong yến hội)

Trên đời đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng,
Chuyện vui thường ít thấy.
Sang năm nên ngâm vịnh những bài thơ đưa tiễn anh.
Từ đêm nay sẽ kỹ lưỡng đếm,
Còn sum họp với anh được bao lâu nữa.

Uống rượu không có người bầu bạn mời mọc nhau,
Mối thâm tình chỉ có mình anh biết.
Dòng suối mé đông phong cảnh đẹp, mùa xuân sắp hết, tôi với anh hãy cùng đến chơi,
Xem nước phản ánh cành liễu rủ ven sông,
Xem cành mai tàn ẩn vùi trong tuyết.

Phỏng Dịch

Bạn Tâm Đầu


Thế gian sầu muộn vốn nhiều,
Chuyện vui chẳng thấy bao nhiêu trên đời.
Sang năm đưa tiễn anh rồi,
Từ nay đếm kỹ những ngày bên nhau.

Rượu ngon muốn uống bạn đâu?
Thâm tình chỉ có tâm đầu là anh.
Suối đông xuân hết tàn nhanh,
Cùng nhau xem liễu rủ cành nước trong.
Hoa mai vùi tuyết ven sông.


HHD 
12-2020
***
Bản Dịch:

Lâm Giang Tiên


1-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trong mắt chuyện vui ít có khi
Nên ngâm năm tới, tiễn quân thi
Từ đêm nay đếm kỹ,
Sum họp được bao kỳ

Chẳng ai mời chiêu chút rượu
Thâm tình chỉ có anh hay
Suối xinh xuân đến rủ nhau về
Trên sông bóng liễu rủ
Mai tàn cành tuyết che


2-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trước mắt chuyện vui ít có khi
Ngâm nga năm tới tiễn quân thi
Gặp bao kỳ, từ nay đếm kỹ

Muốn chút rượu say, ai mời nhỉ?
Thâm tình riêng chỉ có anh hay
Suối xinh, xuân lại đến xum vầy
Sông in bóng liễu, mai vùi tuyết
 
Lộc Bắc 


Văn/ Thơ/ Ca Từ Nguyễn Đình Toàn, Như Một Lời Tuyên Cáo!

(Nguyễn Đình Toàn)

Dẫn Nhập: Tuần cuối của Tháng 4, 2022 vừa qua vùng Little SG có một sinh hoạt gọi là Ra Mắt Sách trong ngày 24 nơi nhà sách Tự Lực lớn nhất vùng Nam Cali (cũng của toàn hải ngoại), nay biến cải thành cơ sở bán trà và dược phẩm. Buổi Ra Mắt Sách có mặt hai Danh Tính Lớn/Lớn Nhất của nền Văn Học Miền Nam trước 1975 ở Sàigòn và sau 1975 nơi hải ngoại: Nhà Văn Niên Trưởng Doãn Quốc Sỹ, và Nguyễn Đình Toàn. Buổi RMS có sự tham dự của Diễn Viên Điện Ảnh Kiều Chinh và vài nhân sự thuộc giới viết văn, làm báo, hội hoạ trong vùng. Là khách mời tham dự, Cô Nhã Lan, Đài Little Sàigòn có nhận xét..“Khi hỏi chuyện, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ 100 tuổi (sinh 1923) chỉ ngồi cười không nhớ!, và Nhà Văn Nguyễn Đình Toàn (sinh 1936) thì: “Tay run không ký tròn chữ được trong tập "Thơ Và Ca Từ”. Bài viết nầy vì thế được viết nên nhằm nói cho ra lẽ: Hình Tướng -Tính Chất-Tiếng Lời riêng biệt của Nhà Văn-Nhà Thơ-Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Toàn mà buổi (gọi là) RMS kia không một ai nhắc nhở đến. Một tiếng cũng không.

#1- Một: Suốt một thời gian qua hơn nửa thế kỷ cầm viết, bản thân anh luôn (tự) giữ nguyên tắc: Không viết hay nói đến những nhân vật trong giới văn học-nghệ thuật đương thời còn sống.. Cụ thể (nếu) nói, viết về Nguyễn Chí Thiện, Bùi Bảo Trúc, Đào Vũ Anh Hùng.. chỉ sau khi những người bạn nầy đã qua đời. Anh tự giải thích về “nguyên tắc tự biên/tự diễn” nầy như sau: Những nhân sự trong giới văn học-nghệ thuật là thành phần xã hội mà bản thân (là một Người Lính tác chiến) không có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, vật chất hay tinh thần. Không viết/nói về họ cũng để tránh rơi vào khuyết điểm/mà nói thật là một cái bẩy những người cầm bút Miền Nam trước 1975, hoặc sau nầy ở hải ngoại hầu như thường vấp phải: Ấy là quá xưng tụng, tung hộ hoặc mặt đối lập là phê phán, chỉ trích theo quan điểm cá nhân vô cùng chủ quan. Những hiện tượng đấu đá/chia rẻ chính trị lại càng rõ nét, ngay tại hôm nay tại vùng Nam Cali, nơi Little Saigon.
Thế nhưng, hôm nay anh cần nói về Nhà Văn Niên Trưởng Nguyễn vì hai lẻ, khách quan và chủ quan mà thiết nghĩ buổi RMS ngày 24 Tháng 4 vừa qua phải có mục đích và yêu cầu trình bày đủ/chính xác về Sự Lớn Lao của Chữ và Người Nguyễn Đình Toàn – Qua tác phẩm cuối cuộc của một Tác Giả với độ tuổi 90 còn làm việc, sau cơn bão lửa rúng động tận căn cơ mấy chục triệu người Miền Nam/Cũng toàn thể Việt Nam suốt 47 năm sau Ngày 30 Tháng 4/1975. Sự đơn giản tưởng như một phép lạ nầy sao không ai thấy ra? Sao không ai nói ra?

Anh cần phải nói lên cũng vì còn mấy ai hiện nay nơi hải ngoại, ở trong nước biết rõ, đủ về người và việc (thuộc văn, báo giới mà bản thân anh hằng dự phần từ 1960’s) tại những năm 50, 60 nơi Miền Nam, ở Sài Gòn.. Số lượng người nầy càng ngày càng giảm sút nhanh chóng do thời gian, sinh hoạt xã hội mà thoáng rất ngắn những sự kiện, con người mươi năm trước đã hóa nên cũ kỷ, mau chóng lãng quên.. Về mặt khách quan, cho dẫu bản thân là một người lính đơn vị đóng ở Phi Trường Biên Hòa, nhưng mỗi lần về phép Sàigòn thường đến quán La Pagode (Cái Chùa), góc đường Tự Do/Lê Thánh Tôn nơi tụ họp thường xuyên giới làm báo, viết văn Sàigòn để gặp những bạn bè cùng thế hệ (Phần đông gốc người Bắc, hay Trung) chưa phải động viên, nhập ngũ. Tới Quán Chùa, anh thường thấy NĐT, người đàn ông gầy, ngồi lặng lẽ trong chiếc ghế bành màu đỏ với chiếc tẩu thuốc. Cách ngồi trầm tĩnh với ống tẩu tạo cho ông một cách thế riêng biệt rất dễ nhận trông đám đông ồn ào xởi lởi của một quán nước, nơi tập trung của giới người chuyên nghề “nói và viết”. NĐT vốn rất ít nói, có nói cũng chỉ với tiếng nhỏ, ngắn lời.. Tuy nhiên mỗi lời nói ngắn, nhỏ kia chứa đựng sức nặng đáng kể khó ai phản bác, chống đở. Ví dụ nhận xét về một nhân vật đang giữ chức vụ cao trong chính quyền hay có những tuyên bố lớn tiếng, ồn ào, thái độ, đi đứng mạnh mẽ trong khi thể hình không mấy cao lớn.. NĐT đưa nhận xét: Nện gót giầy kêu to, vung tay mạnh mẽ, tuyên bố ồn ào không làm cho người.. cao thêm chút nào cả! Kẻ bị/được nhận xét không (thể) có được một lời, một tiếng phản đối! Đối với một gã trẻ tuổi giảo hoạt trong giới báo chí, sinh hoạt thanh niên sinh viên, đám đông trong quán nước phê phán:”Đấy chỉ là một tay lợi dụng cơ hội.. “. NĐT cười nhạt, cất ông tầu khỏi môi, nói tiếng chậm: “Các ông ông nói thế oan cho nó! Nó chỉ lăm le lợi dụng cơ hội!!” Bàn nước chững lại không một ai biết được sau khuôn mặt bình thản kia có những phản ứng dữ dội ngấm ngầm thế nào? Từ lời nói, việc làm như vừa kể ra, dẫu không phải là người thân cận, anh nhìn thấy NĐT quả thật là một người có bản lãnh, sắc sảo đáng quý trọng. Ông không hề lớn tiếng, khoa trương, lớn lối. Đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật 1973 với giá hiện kim tương đương 40 lượng vàng, được hỏi sao không mua chiếc xe hơi đi cho nhàn hạ. Ông cuời kín đáo: Thì đi Honda cũng sang chán.
Nhận xét khách quan như trên về NĐT thêm được củng cố sau năm 1968 khi gia đình người em gái có chồng là nhân viên hành chánh Ban Mê Thuột đổi về Tỉnh Gia Định. Gia đình em anh trở nên là hàng xóm thân thiết với nhà NĐT qua hai căn nhà đối lưng trong Khu Làng Báo Chí Thủ Đức. Sau năm 1975, bản thân anh, gia đình em, và NĐT đồng lâm cơn đại loạn cùng lần nước mất nhà tan mà sống qua mỗi ngày, mỗi đêm là một lo sợ. Gặp lại ở Mỹ, vùng Nam Cali, anh và NĐT là hai người cầm bút còn (sống) sót của Miền Nam vẫn tiếp tục công việc từ trước 1975 ở Sàigòn: Chiến Đấu/Viết KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI CHẾ ĐỘ CS Ở HÀ NỘI. Sự mến mộ trước 1975 nay thành một Lòng Kính Phục toàn phần cố kết.

#2- Hai: Hiện nay, nước Việt Nam bên kia Thái Bình Dương bị độc trị bởi một chế độ chủ trương tận diệt tất cả di sản của người, và việc VNCH. Chủ trương độc hại nầy được hiện thực với Nghị Quyết 36 nhằm đánh sập Hệ Thống Chính Trị-Kinh Tế-Văn Hóa-Xã Hội” của Người Việt Tỵ Nạn CS nơi hải ngoại. Chiến dịch NQ36 nầy được khỏi động từ 2008 với mục tiêu điễn hình cụ thể, Vùng LittleSàigòn, Nam Cali. Trong cuộc chiến đấu không cân sức quyết liệt nầy – CHỮ/LỜI CỦA NĐT NÓI CHUNG/CỤ THỂ QUA THƠ VÀ CA TỪ CÓ GIÁ TRỊ CÔNG LỰC VÔ CÙNG MẠNH MẼ.

Trước tiên, liên quan đến những cuốn sách viết trong một thời gian dài từ sau thập niên 1950, 60.. đến trước 1975 và sau 1975 ở hải ngoại; không CHỈ tiểu thuyết, truyện ngắn mà bao gồm CẢ THƠ VÀ CA TỪ như cuốn sách giới thiệu hôm cuối tháng 4. Nhằm để trình bày đầy đủ, người viết xử dụng hai tiểu luận: Một của NTVinh, hai của Lưu Na về NĐT. Hai tiểu luận của hai tác giả khác xa thế hệ, viết trước, sau 1975 ở SG, và nay ở hải ngoại. Từ bài viết của NTVinh và Lưu Na với hai nhận định khác hẳn.. Từ đấy, có thể tìm ra Điểm CHUNG NHẤT VỀ NĐT mà chúng ta muốn nêu rõ. Trước tiên nói về Văn.


Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ Sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Nên từ ngày khởi cuộc ông đã có câu xác nhận với cách tự tin: Tôi qua Sông Hồng, lên Hà Nội một thân không đàn anh, bậc thầy nào nào giúp sức! Di cư vào Nam 1954, ông cộng tác với hầu hết các nhật báo, tuần báo. giai phẩm ở SG (do các bạn gốc người miền Bắc chủ trương, điều hành); biên tập viên Đài Phát Thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề. Tác phẩm đầu tiên, Chị Em Hải do NXB Tự Do,1961. Là tác phẩm đầu tay mang dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm sau nầy qua hơn một thập biên ở Miền Nam. Chị Em Hải, được Phạm Xuân Ninh (Nhà Thơ Hà Thượng Nhân) chuyển tới nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do. Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, văn tài của Nguyễn Đình Toàn từ cuốn sách đầu tiên đơn giản nầy. Hơn một thập niên sau, 1973 Áo Mơ Phai ra đời hiện thực con đường đã được vạch ra từ giòng chữ đầu tiên trong Chị Em Hải nhưng được nâng lên bởi một kỹ thuật/nghệ thuật tinh tế hơn. Trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai: "Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên.. Nhân vật chính trong tác phẩm là thành phố Hà Nội.. Thành phố như giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi NĐT xa Hà Nội mới 17 tuổi.” Ông nói: Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử.. Ôi chính xác và cảm động biết bao, NĐT đã thấy trước Nỗi Đau của lần Mất Sài Gòn từ trước hơn ai hết của Ngày 30/4/1975. Và đây là lãnh vực RIÊNG của Nhạc Nguyễn Đình Toàn –Một Vùng Đất không hề chung đụng, ảnh hưởng, tác động bởi bất cứ ai, so với những nhạc sĩ chuyên nghiệp như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn..

#3-Ba: Điểm đầu tiên cần phải nói tới là Nhạc NĐT đưa đến cho người nghe, người hát những ca từ mà (có thể) họ không (cần) biết là của ai vì đó là LỜI CỦA NGƯỜI-CỦA CUỘC ĐỜI MÀ TÁC GIÀ - Nhà Văn-Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Toàn đã viết nên từ rung động tinh tế chân thành với chữ nghĩa giản dị, trong suốt – Chữ thấy ra nơi Chị Em Hải, trong Áo Mơ Phai.. Nhạc/Ca Từ NĐT một lãnh vực độc đáo riêng mà bản thân anh dẫu là một kẻ thô thiển đứng ngoài cuộc của nhạc giới, cũng đã có những rúng động đến đổi lạ với chính mình qua nhiều lần lần tự hỏi .. Có thể những chữ nghĩa đơn giản/ca từ có thể tạo rung động lòng người đến thế sao? Cảm ứng nầy người viết xin mượn từ nhận định của Nhà Văn Nữ thuộc thế hệ thứ hai nơi hải ngoại –Lưu Na đã viết nên một cách chính xác.. “Lời nhạc của ông thường là những lưỡi dao đâm suốt tim .. Khi lớn lên, sau 1975 ở VN chưa bao giờ được nghe tên NĐT.. Giờ đây, ra hải ngoại nghe nhạc NĐT thì hóa ra đã nghe từ lúc nhỏ.. Em Đến Thăm Anh Đêm 30, Tình Khúc Thứ Nhất.. Rồi đến ca khúc thời kỳ sau của NĐT, bài Hãy Thắp Cho Anh Một Ngọn Đèn.. Lời ca hay ở chỗ giản dị, mà đúng một cách đớn đau, những con chữ của cuộc sống đời thường được tóm lại, đưa vào với một nốt nhạc, kêu lên đúng cái âm vang khổ đau, ray rứt của tâm hồn.” Vâng, mỗi Người Việt/Mỗi Người Việt Miền Nam cần thắp sáng cho nhau một ngọn đèn để hy vọng, để vượt sống 47 năm sau lần miền Nam sụp vỡ, Sài Gòn mất tên.. Sài Gòn ơi! Bản thân người viết cũng như bao nhiều người Sàigòn vẫn còn nguyên Mối Đau.. Sàigòn ơi Ta mất Người như người đã mất tên. Như giòng sông nước quẩn quanh buồn. Như người đi cách mặt xa long. Sàigòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên. như mộ bia đá lạnh hương nguyền. Như trời sâu đã bỏ đất sầu. Cám ơn Nguyễn Đình Toàn. Cám ơn Người Viết Ca Từ NĐT.

#4-Bốn: Dẫu viết văn, viết nhạc qua mọi hình thái biểu hiện - NĐT trước tiên, chung nhất vẫn là/luôn là Một THI SĨ tức là Người Viết Văn-Viết Nhạc-Soạn Kịch- Viết Nhạc Chủ Đề.. vv Tất cả chỉ là hóa thân từ một tâm chất Một Thi Sĩ tức là Người Viết/Sống/Với Thơ là Một.

Phần định nghĩa nầy hoạ chăng chỉ riêng một mình NĐT mới (có thể) trả lời chính xác. Tuy nhiên với tư thế, cảm ứng của người trình bày về một tác giả mà bản thân có mối kính trọng riêng thì anh có thể trả lời với kinh nghiệm chủ quan, và hoàn cảnh, điều kiện khách quan như sau: Con người, tất cả con người đều có chung những nhu cầu vật chất, tinh thần tổng quát trong cuộc nhân sinh – Nhưng người Làm Thơ có một nhu cầu riêng: SỐNG/VIẾT THƠ LÀ MỘT - TỨC SỐNG/VIẾT/THƠ LÀ MỘT. Ngày trước, Nguyễn Du phải viết Truyện Kiều; thời đại chúng ta Bùi Giáng; Tô Thùy Yên phải làm Thơ. Tương tự Phạm Duy phải viết Nhạc. Trường hợp của NĐT anh nghĩ cũng không khác. Cụ thể hơn, buổi ra mắt sách (chắc là cuối cuộc) ngày 24 Tháng 4 vừa rổi là một tập Thơ: Thơ và Ca Từ - Những chữ nghĩa của ông đúc kết trong tác phẩm cuối cuộc nầy. Chúng ta hãy đọc lại những lời khốc liệt: Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi. Bằng sức người vô hạn. đầu đội tram tấn bom. Tim mang nghìn dấu đạn. Tôi đã đổ mồ hôi. Đổ máu tươi. Để mong ở lại đây. Dù thế nào. Cũng ở lại đây…Không thế nào có những chữ, lời can đảm, chịu đựng hơn thế nữa. Những chữ, lời đã chuẩn bị thấy ra từ ngày 17 tuổi, 1954 khi xa Hà Nội với.. những đêm khuya, những buổi chiều. Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội.. chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu- Di cư vào Nam. (Áo Mơ Phai). Thơ nay được viết (lại) sau năm 1975 vì những gì (chế độ cộng sản Hà Nội) đốt được thì đã không còn.. Tất cả hình ảnh của ngày phát giải Văn Học Nghệ Thuật 1973 (với Áo Mơ Phai) và tất cả sách Nguyễn Đình Toàn được/bị xếp vào loại “văn hoá đồi truỵ” nên tất cả bị tịch thu và trở thành "Tro Than", như tên một tác phẩm định mệnh trong chiến dịch đốt sách khắp Miền Nam sau 30 Tháng 4, 1975. Nhưng như một phép lạ có thật, chiếc huy chương bằng đồng mạ vàng của giải thưởng năm 1973 đã được một người trẻ tuổi mua lại trên vĩa hè Hà Nội và giao lại cho ông. Và quả thật là một phép lạ, trong vóc dáng gầy guộc thêm mang bịnh lao phổi từ thập niên 60, Người Viết Thơ NĐT đã vượt sống với một tinh thần chiến đấu quyết liệt.. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù mịt mùng xa xăm. Một ngọn đèn trong đêm mờ ám. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù chẳng còn hơi ấm. Và kỳ diệu biết bao.. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Để dù trong xa vắng. Em còn được cháy trong lòng anh. Ai trong chúng ta có thể nói những lời yêu thương đơn giản nhưng thắm thiết đến nhường nầy. Cách nói của “Những Người Viết Thơ”: Thế rồi, tôi sẽ đi tìm. Tìm em như thể là Người Đầu Tiên (Bùi Giáng); Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian nầy để gặp em.. TTY. Cám ơn thêm một lần. Cám ơn rất nhiều lần những THI SĨ từ Miền Nam. Của Miền Nam

Hậu Từ: Bài viết có thể kết thúc nơi đây với ý kiến của Nguyễn Đình Toàn khi trả lời phỏng vấn của Hoàng Khởi Phong trên hệ thống RFA năm 2006. Ông có lời tường trình: "Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. Tôi viết cuốn sách đó (Áo Mơ Phai, SG, 1973-Pnn) chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử (Hà Nội-1954-Pnn) cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết". Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn được NTVinh so sánh với diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957. Camus nhận định rằng: Ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử. Và Albert Camus cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử. Qua hai nhận định nầy, anh có thể kết thúc bài viết như sau: Không có thể bảo: Ai khổ hơn Ai? Kẻ làm nên lịch sử hay số đông thường nhân (vô tình/cố ý) phải nhận mối oan nghiệt lịch sử ấy. Và nhà văn hay người dân dã muốn hay không muốn cũng phải nhận lấy. Chỉ riêng NĐT thì nói rõ TÔI ĐÃ CỐ BÁM LẤY ĐẤT NƯỚC TÔI - Rất đông Người Việt cũng đã có quyết tâm ấy. Chỉ khác chúng ta không có điều kiện để nói ra như Nhà Văn-Thi Sĩ Nguyễn Đình Toàn mà thôi.
Nguyễn Đình Toàn lớn lao đến ngần nào.

Phan Nhật Nam
CA, 12/5/2022
Địa Ngục mở ra hằng ngày nơi An Lộc,
Việt Nam, Tháng 4, 5/1972

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Bến Thu


Từ thuyền tách bến xa bờ
Trăng buồn vò võ dõi chờ người hay
Thu tàn đông lạnh gầy vai
Bên dòng sông khát khao say giấc nồng


Thơ& Hình Ảnh: Kim Oanh
Thu Melbourne 2022

Sáng Nay Mới Thực Là Xuân



Sáng nay mới thực là xuân 
Chim đang ca hát từng vần ca dao 
Cuối sông ai giặt yếm đào 
Đầu non ai cửi yếm đào ra phơi
Buồm căng lồng ngực ra khơi 
Thiên thai đâu phải ở nơi cõi nào
Nàng thơ ơi, ta ngỡ chiêm bao 
Tóc mây thơm ngát tựa đầu vai anh 
Liễu xanh khoe sắc khuynh thành 
Đã qua ác mộng chiến tranh lâu rồi 
Đâu đâu cũng nở nụ cười 
Ngắm Trời trẻ lại, nay Trời đang Xuân 


Thư Khanh
Seatle ( Sáng Bình minh tuyệt đẹp )

Tưởng Nhớ


Nhắn nhau nhờ gió đưa tin
Nhờ mây đùn lại tạo hình dáng thương
Mời nhau vũ khúc nghê thường
Đưa nhau đến tận cuối đường tình chung

Cho nhau hạnh phúc lúc chờ*
Lòng cùng chung hướng cùng mơ êm đềm

Nguyễn Cao Khải
* Ý thơ của Phượng

Nhớ Pleiku

 

Ta đi trăm ngả địa đàng
Lối về mây trắng hôn hoàng trao em
Kể từ giã biệt Tây Nguyên
Còn ôm mãi cả hồn thiêng núi rừng

Cuộc đời lúc đục lúc trong
Lúc vui vạn sự lúc cùng cực đau
Gặp em ân nghĩa buổi đầu
Bút hoa để mấy lần dâu bể người

Đêm vàng võ hắt hiu vơi
Trăng suông mấy thuở bên trời thiết tha
Ngổn ngang tâm sự nhạt nhoà
Lòng đi còn lại dáng pha phôi hồng

Mộng đời để tắt niềm mong
Đẩy đưa nào biết hồn chùng bước mau
Vẫn ta nhớ thuở ban đầu
Dấu xưa còn lại tình sầu nét hoa

Hoa Văn

La Reina - Hoàng Hậu(ChẩmTáNhân)

Mời nghe một bản nhạc hay của Christina Aguilera
 

La Reina

Dicen por ahí que el tiempo lo cura todo
Dicen que también con el alcohol se olvida todo
Pero dudo que tú puedas conseguir de algún modo
Olvidar mis besos, que si los peso, valen más que el oro
Olvidar mis besos, que si los peso, valen más que el oro
Y lloré, y lloré, y lloré
El día que tú te fuiste
Y juré, y juré, y juré
Que ningún hombre volverá a ponerme triste
Y aunque sigas siendo el rey y no haya nadie que te comprenda
Aunque sigas siendo el rey, te quedaste sin la reina
¡Mujeres! Jajaja
¿Dónde están mis reinas?
¡Eso! Jajaja
Sé que tú vives de placeres
Que te llueven las mujeres
Y caminas sin paraguas
No te importa a quién hieres
Yo sé que al final del día
Por las noches tú me piensas
Eres más que un descarado
Un bandido y sinvergüenza
Por eso vas a rodar (por eso vas a rodar)
Como aquella piedra en tu camino
Por eso vas a rodar (por eso vas a rodar)
Pero no vas a encontrarme en tu destino
Lloré, y lloré, y lloré
El día que tú te fuiste
Y juré, y juré, y juré
Que ningún hombre volverá a ponerme triste
Y aunque sigas siendo el rey y no haya nadie que te comprenda
Aunque sigas siendo el rey, te quedaste sin la reina
Aunque sigas siendo el rey, no eres nadie sin la reina

***
Dịch Thơ:

Hoàng Hậu


Người ta nói thời gian chữa lành tất cả
Và rượu sẽ giúp ta mọi thứ lãng quên.
Nhưng bằng cách nào đi nữa em không tin
Là anh không nhớ những nụ hôn bỏng cháy
Của em, hơn cả vàng, tính về trị giá.
Em đã khóc, đã khóc, em đã khóc nhiều
Ngày anh bỏ đi, em khóc biết bao nhiêu.
Và em thể, sau này, thế nào đi nữa,
Sẽ không một gã đàn ông nào có thể
Làm em buồn.
Dù anh nghĩ anh là vua,
Mà hiểu anh không có ai. Anh là vua,
Anh tưởng thế, nhưng là vua không hoàng hậu.
Nực cười thật! Ha! Ha! Ha! Ha! Phụ nữ!
Các bà hoàng, các hoàng hậu của ta đâu?
Cười chết được! Ha! Ha! Ha! Họ giờ đâu?
Anh vẫn muốn sống trong sắc mầu lạc thú
Phụ nữ rơi rớt quanh anh như mưa đổ
Và anh bước đi đầu bỏ ngỏ, không dù.
Không cần bận tâm đã làm khổ những ai,
Nhưng em vẫn biết đến phút cuối mỗi ngày
Trong đêm tối, sẽ không ai anh nghĩ đến,
Chỉ mình em. Em vẫn biết là anh táo tợn,
Một thảo khấu, một kẻ bậm trợn, vô luân,
Và vì thế, nên anh cứ mãi lăn tròn
Như hòn đá trên con đường anh rong ruổi.
Nhưng anh sẽ không gặp em nơi đoạn cuối
Em đã khóc, mắt lệ tuôn, tới cạn khô.
Không một gã đàn ông nào, em đã thề,
Sẽ còn làm em sa vào vòng khổ lụy,
Làm em buồn. Dù anh nghĩ anh là vua,
Mà hiểu anh không có ai. Anh là vua,
Anh tưởng thế, nhưng là vua không hoàng hậu.
Dù anh vẫn nghĩ anh là vua vậy đó
Nhưng vua không hoàng hậu: đồ bỏ, anh ơi!


Chẩm Tá Nhân(phóng tác)
05/12/2022

Màu Mắt Hoàng Hôn


Buổi chiều Thứ Sáu trước khi tan sở Lệ Nga đến kề tai tôi nói nhỏ:
Ngày mai Hà đến nhà mình dùng cơm nhé!
Sao khách sáo vậy? Ăn cơm bình thường hay có gì đặc biệt không?
Lệ Nga mỉm cười:
Thú thật là mình nhân bữa cơm nầy sẽ giới thiệu với các bạn người mà mình định tiến đến hôn nhân. Mình chỉ mời có bốn người thôi.
Nhất định mình sẽ đến. Không phải vì để ăn cơm mà mình muốn nhìn thử xem anh chàng nào đã xoa dịu được nỗi đau xưa và chinh phục được trái tim băng giá của Nga.

Tôi từ giã Nga ra về lòng thấy vui, buồn lẫn lộn. Vui vì thấy Nga đã tìm được bến đỗ cho đời cô nhưng nghĩ đến thân phận mình, một nỗi xót xa vẫn còn âm ỉ mãi chưa nguôi. Đã hơn 20 năm rồi, sự chờ đợi đã mỏi mòn, niềm hy vọng cho một cuộc tương phùng gần như tắt lịm. Tôi như con thuyền chơi vơi giữa biển khơi, không còn khả năng lèo lái để tìm phương hướng. Anh đang ở đâu? Về đâu? Có còn trên cõi đời hay đã nằm sâu dưới đáy huyệt lạnh âm u muôn đời không trở dậy? Kỷ niệm của chúng mình là một trang tình sử đẹp, không thể xóa nhòa trong tôi dù thời gian vô tình lướt nhanh ngoài song cửa.

Tôi đi chầm chậm về hướng Employee’s Parking Lot. Buổi chiều dần xuống, màu nắng vàng lung linh theo từng cơn gió nhẹ, những cánh hoa Jacaranda tím lãng mạn rơi lác đác trên nền cỏ xanh, và bầu trời đang đi vào giây phút đẹp nhất của buổi hoàng hôn…Những buổi hoàng hôn như thế nầy tôi thường nhớ về anh, về những buổi chiều hai đứa lang thang trên con đường vắng.Tôi bỗng như nhìn thấy anh trước mặt, mái tóc ngắn nhuốm màu sương gió, gương mặt thanh tú, đôi mắt u ẩn buồn như chứa đựng cả một trời thương nhớ đang âu yếm nhìn tôi…
* * *
Mùa Hè năm ấy trên chuyến xe đò trở về nhà sau một niên học dài, lòng tôi nôn nao, hớn hở vì sắp được sum hợp với gia đình. Trên xe tôi ngồi hàng ghế sát lối đi, hàng ghế bên kia là một thanh niên ngồi đối diện. Anh ta mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen nên nổi bật màu da ngâm đen sạm nắng của mình. Tôi đoán chắc đây là một anh lính vì nét phong trần không thể che giấu dưới bộ đồ thư sinh được. Xe chạy một lúc tôi thấy chóng mặt và buồn nôn.Tôi cắn răng chịu đựng, thầm cầu mong mau đến nơi cho sớm. Không ngờ những cử chỉ vụng về đó lại khiến anh chàng kia chú ý. Anh ân cần hỏi tôi:
Cô có sao không? Hình như cô không được khỏe?

Tôi cố nín thở, im lặng vì sợ mở miệng trả lời anh thì hậu quả không biết ra sao nên chỉ nhìn anh rồi lắc đầu quay mặt sang chỗ khác để tránh những câu hỏi tiếp theo của anh. Không ngờ như thế vô tình làm anh càng chú ý đến tôi nhiều hơn. Hành lý của tôi chỉ có một va li nhỏ để dưới chân và một cái bóp mang trên vai.Trên va li có gắn một tấm card visit để phòng khi bị thất lạc với hàng chữ:
Lê Thị Yên Hà.
Giáo Sư Trường Trung Học……Tỉnh …..
Khi tôi quay nhìn lại thấy anh ghi vội vã địa chỉ tôi rồi cho vào túi áo.Tôi vờ như không thấy gì cả.

Buổi trưa mùa hè, ngoài trời nắng chói chang nhưng không gay gắt vì những cơn gió nhẹ như ru lướt thướt thổi qua. Bầu trời bao la xanh thẳm, những đám mây trắng trôi bồng bềnh, lang thang vô định như cuộc chiến đang trùm phủ quê hương nầy chưa biết sẽ về đâu, đến bao giờ? Nhìn anh lính trước mặt tôi bỗng thấy bồi hồi xúc động. Màu da ngâm đen của anh không làm xấu đi đôi mắt u buồn mang chút lãng mạn dưới đôi mày rậm cương trực nhưng thanh tú. Gương mặt nầy ngày còn là thư sinh chắc có nhiều cô bạn say đắm. Thấy tôi nhìn có vẻ quan sát, anh chỉ mỉm cười không nói gì.

Khi xe đến bắc Mỹ Thuận tất cả hành khách phải xuống xe, tôi và anh cũng đi theo mọi người. Khi đi ngang qua hàng trái cây tôi dừng lại và mua khá nhiều quà về cho các em. Thấy tôi xách nhiều đồ anh lên tiếng:
Để tôi tiếp giùm cho cô. Cô xách nhiều nặng quá.
Dạ không sao đâu anh, tôi xách được mà. Lâu ngày về nhà mua chút quà cho vui vậy thôi.
Cô Hà chu đáo quá.
Ồ, sao anh biết tên tôi?
Anh cười:
Biết được mới hay chứ!
Tôi sực nhớ lại lúc trên xe anh đã lén ghi tên và địa chỉ tôi rồi. Tôi nói:
Như vậy không công bằng đâu vì tôi không biết tên anh.
- Tôi tên Hồ Hải. Trần Hồ Hải .
Tôi nhìn anh kỹ hơn một chút rồi nói:
Tên anh nghe phong trần và mang nhiều mộng lớn quá nhỉ?
Vâng! Bố tôi muốn tôi sau nầy được vẫy vùng ngang dọc, tung hoành bốn phương cho thỏa mộng làm trai.
Bây giờ anh đã được toại nguyện chưa?
Có lẽ có, cũng có lẽ chưa.
Vì Sao? Câu nói của anh hơi mâu thuẫn đó.
Anh cười và lắc đầu;
Nếu có thời gian tôi mới nói được nhiều hơn. Bây giờ tôi với cô sắp chia tay rồi. Mong có dịp khác sẽ tâm sự nhiều.
Tôi mỉm cười:
Còn dịp khác sao?

Ngay lúc đó anh tài xế lên tiếng gọi hành khách trở lên xe nên câu chuyện chúng tôi đành gián đoạn. Khi ngồi lại trên xe chúng tôi không tiện chuyện trò tiếp. Xe chạy được khoảng khá xa anh xuống xe và từ giã tôi:
Tôi phải xuống ở đây vì gần đơn vị của tôi rồi. Hy vọng được gặp lại cô Hà.
Dạ, chào anh.
Sau khi anh đi rồi tôi hỏi anh tài xế:
Chỗ nầy là đâu vậy anh?
Ở đây thuộc quận Long Hồ tỉnh Vĩnh Long đó cô. Anh lính nầy chắc thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh.
Sao anh biết vậy?
Anh tài xế cười:
Tôi thấy mấy ông Sư Đoàn 9 BB hay đóng quân quanh vùng nầy lắm.
Mùa hè năm ấy tôi hưởng trọn hạnh phúc với cha mẹ, với các anh chị em và được về quê ngoại vui chơi thỏa thích nên quên hẳn câu chuyện trên xe với anh lính xa lạ kia.

Đầu niên học tôi trở lại trường với bổn phận và trách nhiệm của người thầy giáo. Trời đã vào Thu mây xám giăng giăng buồn, lá vàng rụng rơi tản mạn trên lối đi, gió về mang chút se se lạnh …gợi lên một nỗi cô đơn trống vắng trong tâm hồn cô giáo trẻ.Trong sân trường vẫn ngập tràn những tà áo trắng, những chiếc quần xanh quen thuộc của các nam, nữ sinh nhưng sao tôi bỗng thấy mình như bơ vơ, lạc loài xa lạ. Đó chắc là tâm tư của cô gái tuổi đôi mươi tôi cũng không giải thích được vì sao? Tại sao?


Có một ngày vào giờ giải lao, chú tùy phái của trường mang đến cho tôi một phong thư. Ngoài bìa thư không đề tên người gửi chỉ có địa chỉ KBC thôi. Tôi phân vân giây lát rồi mở ra đọc vì thư gửi đúng địa chỉ và tên tôi:

KBC… ngày…tháng….năm….

Cô Yên Hà thân mến,

Chắc cô ngạc nhiên lắm khi đọc thư tôi? Cô còn nhớ một người tên Hồ Hải đã đi chung chuyến xe về miền Tây với cô ba tháng trước không?

Tôi không biết nhà cô, chỉ có địa chỉ chỗ trường cô thôi.Tôi đoán giờ nầy cô đã trở lại trường nên mạo muội viết vài dòng thăm cô. Chắc cô có một kỳ nghỉ hè vui vẻ vì được sum hợp với gia đình? Riêng tôi từ ngày chia tay cô cho đến nay cũng có vài chuyện xảy ra, nếu cô thích có dịp tôi sẽ kể cho cô nghe. Đời lính của tụi tôi không có nhiều thời gian nghỉ phép như giáo chức các bạn. Chúng tôi đi vội vã rồi trở về cũng vội vã.

Tôi tha thiết muốn nhận một tình bạn nơi cô, không biết cô có chấp nhận không, nên thư nầy tôi chưa dám nói gì nhiều, mục đích chính là hỏi thăm sức khỏe cô thôi.
Hy vọng được cô hồi âm nếu cô nhận tôi là bạn.
Chúc cô luôn trẻ đẹp, có sức khỏe để giảng dạy tốt.

Ký tên - Trần Hồ Hải.

Sau hai ngày đắn đo suy nghĩ tôi quyết định viết thư trả lời chấp nhận tình bạn của anh. Những ngày tháng ở đây xa nhà, vắng người thân, thiếu bạn bè chia sẻ buồn vui nên tôi rất cô đơn.Thành phố nầy ngập tràn hình ảnh và âm thanh của chiến tranh. Những tiếng đại bác bắn đi, những tiếng pháo kích vọng về, tiếng chiến đấu cơ ầm ỉ nhả đạn, tiếng trực thăng tải thương lên, xuống, những ánh hỏa châu bùng sáng giữa đêm đen đem đến cho tôi một cảm giác bất an, phập phồng lo sợ từng ngày, từng đêm. Tôi liên tưởng đến Hải, anh cũng đang sống nơi ngập tràn đạn bom, khói lửa, sinh tử rình rập từng phút từng giây nhưng anh vẫn phải kiên cường chịu đựng. Cuộc đời của những chàng trai đôi mươi như anh phải thiệt thòi, hy sinh tất cả cho nước non, cho quê hương dân tộc…Tôi bỗng thấy có nhiều cảm tình với anh và tôi đã chấp nhận một người bạn mới để cùng san sẻ cho nhau niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống.

Hải thật vui mừng khi nhận được thư tôi và kể từ đó chúng tôi liên lạc nhau thường xuyên. Một niên học dài đằng đẵng trôi qua, chúng tôi đã thành đôi bạn thân gắn bó nhờ những lá thư xanh.

Lại một mùa hè đến, tôi khăn gói trở về với gia đình. Năm nay cô giáo trẻ không còn hồn nhiên vui vẻ như xưa, lúc nào cô cũng buồn man mác, ưu tư như đang thiếu vắng một cái gì đó. Rồi bỗng vào một ngày nắng đẹp của mùa Hạ, có một chàng trai tìm đến nhà cô khiến cô vui mừng khôn tả. Đó là chàng chiến binh mang trên vai áo huy hiệu Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Hải đã đến thăm tôi sau một năm dài quen biết. Chúng tôi rất mến thương và quý trọng đối phương.Tôi đang tha thiết muốn được gặp mặt anh thì anh bỗng xuất hiện như người cầm ánh đuốc soi đường cho tôi giữa đêm tăm tối. Hải cho biết anh đang đi công tác và sẽ ở lại đây một tuần. Anh nói chỉ có thể gặp tôi vào mỗi buổi chiều thôi.

Hôm ấy là lần đầu tiên chúng tôi chính thức hẹn hò. Qua những cánh thư xanh tình cảm đã nẩy nở âm thầm nhưng chúng tôi chưa dám nói ra. Chiều nay cuối mùa Hạ, chút nắng hờ còn giăng mắc trên những hàng cây phượng, cây sao, trãi dài trên con những con đường thênh thang im vắng. Lá rơi nhiều và mây trời như ngừng đọng trong đôi mắt anh, đôi mắt đặc biệt đã gây cảm tình trong tôi ngay từ phút giây đầu gặp gỡ, tôi như thấy cả một trời hoàng hôn trong đó. Tôi đã âm thầm đặt tên cho đôi mắt anh là: “ Đôi mắt hoàng hôn”.

Chúng tôi tìm một quán nước nhỏ, vắng vẻ bên bờ sông để dễ bề tâm sự. Anh kể cho tôi nghe về tuổi thơ của anh, gia cảnh và cuộc đời binh nghiệp bằng một giọng trầm buồn, ngọt ngào, êm ái. Tôi yên lặng lắng nghe anh, hồn bâng khuâng xao xuyến. Tôi yêu mến tất cả những gì anh có, anh rất chân thành không che giấu gì cả. Anh đã không ngần ngại nói rằng đã yêu tôi từ lâu. Anh mong mỏi được trở thành người bạn trai duy nhất của tôi. Anh bảo rất nhớ tôi trong những đêm nơi tuyến đầu heo hút, những chiều buồn rời rã sau một cuộc giao tranh, những đêm nhìn trăng treo giữa đỉnh trời cao mà không ngăn được nỗi nhớ nhung dào dạt.

Anh kéo tôi vào lòng, đưa tay vuốt tóc tôi, tôi không phản đối và nắm lấy tay anh siết chặt. Dù không trả lời anh nhưng cử chỉ đó đã gián tiếp nói với anh là tôi đã chấp nhận tình yêu của anh rồi.

Hoàng hôn dần xuống, ráng chiều đỏ rực cuối chân trời, trên cao mây bồng bềnh bay ngang hờ hững, gió vi vu rung nhẹ mấy hàng cây, bầy hải âu bay lượn từng đàn giữa khung trời tuyệt mỹ. Ngoài xa dòng sông đang rì rào bủa sóng, âm vang như một cung nhạc tình cổ điển. Tôi ngước lên nhìn Hải, tôi chìm đắm trong đôi mắt mang màu trời hoàng hôn buồn vạn thuở của chàng và Hải cúi xuống trên môi tôi …rất lâu.

Những buổi chiều sau đó chúng tôi đã trở thành đôi tình nhân yêu nhau thắm thiết. Hải cho biết trong năm nay anh trai chàng cưới vợ nên Hải hẹn mùa hè năm sau sẽ mang sính lễ đến gia đình tôi. Hải nói:
Tuy mình chưa làm lễ hỏi nhưng trong thâm tâm anh, em đã là vị hôn thê của anh rồi
Em không tin đâu. Nhỡ anh gặp một cô gái đẹp nào rồi sẽ quên mất em thì sao?
Anh cười, tát nhẹ vào má tôi:
Nếu anh gặp người đẹp anh sẽ quên em thì tình yêu mình đâu còn ý nghĩa gì chứ! Yêu một người là vì yêu chính con người đó không có gì thay thế được. Em hiểu không?
Em hiểu rồi. Anh yêu em vì em là Yên Hà phải không?
Anh cười:
Em thông minh đó, đúng vậy.
Nếu có một người giống hệt như em thì sao?
Nhưng chắc chắn người đó sẽ không có tâm hồn và trái tim của em. Trái tim em và anh đã cùng chung nhịp thở với nhau rồi.

Thôi được rồi em tin anh.Từ nay em sẽ coi như mình là vị hôn thê của anh vậy.
Chúng tôi trở về khi màn đêm vừa buông xuống, thành phố hắt hiu đèn vàng soi bóng hai đứa bên nhau. Tôi nắm chặt bàn tay của Hải như muốn giữ mãi chàng bên tôi.

Rồi Hải trở về đơn vị, về với cuộc đời phong sương, với những cuộc giao tranh đang chờ đợi. Vắng anh tôi thấy buồn hiu hắt và hiểu được thế nào nỗi nhớ nhung da diết một người:

“Ngày nào cho tôi biết, biết yêu anh rồi tôi biết tương tư.
Ngày nào biết mong chờ, biết rộn rã buồn vui đợi anh dưới mưa.
Ôi, biết đem tin nầy vắng như lòng giấy, tình yêu lấp đầy…
Ngày nào lòng tôi đã biết vui, biết buồn ôm mối tương tư.
Ngày nào cánh Thiên Đường đã mở hé, tình yêu là trái táo thơm..” *


Hải đi rồi tôi cũng trở lại trường tiếp tục những ngày tháng buồn tênh nơi một tỉnh lẻ xa xôi. Những lá thư vẫn mang niềm nhớ thương tha thiết cho nhau. Đó là lẽ sống, là niềm vui, là động lực cho tôi đủ nghị lực để sống trong những ngày xa anh. Bỗng một cơn bịnh nặng đến với tôi vào cuối tháng Ba 1975. Nhà trường cho tôi nghỉ phép nên tôi thu xếp về nhà cho đến hết bịnh mới trở lại.

Về đến quê nhà, khi cơn bịnh vừa được trị dứt thì giông bão tang thương từ đâu chụp xuống quê hương vào Tháng Tư 1975.

Tình hình lúc đó hỗn loạn, kinh hãi, lo âu. Anh trai tôi đang phục vụ tại Tiểu Khu Phong Dinh, anh có bạn là Hạm Trưởng một tàu Hải Quân nên anh đem cả gia đình chúng tôi theo tàu ra khơi tìm Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ để lánh nạn.Trong lúc hốt hoảng, cấp bách tôi chỉ biết nghe theo sự sắp xếp của anh mình thôi. Chuyến đi định mệnh đó đã làm tôi mất Hải vĩnh viễn.

Sau bao nhiêu khó khăn trắc trở, cuối cùng tôi đến Hoa Kỳ và định cư tại Nam California.Tôi được đi học, có việc làm, đời sống đã ổn định không còn lo lắng điều gì.

Cuộc sống đều đều như một cái máy khiến tôi buồn chán, nhất là mỗi lần nhớ về anh.Tôi được biết những ngày đầu năm 1975 đơn vị anh đi tăng viện nhiều nơi nên tôi đã mất liên lạc với anh từ những ngày đó. Sau biến cố 30/4/75 không biết anh ra sao, ở đâu? Tôi cố tìm hỏi thăm tin tức anh nhưng không ai biết gì cả. Chuyện tình của tôi và Hải coi như đã dở dang rồi, dù tôi cố gắng đợi chờ nhưng hình như đã không còn hy vọng. Đêm từng đêm nghĩ về anh tôi nghe lòng xót xa, ray rứt. Chúng mình đã thật sự lỡ làng sao anh?

“ Thôi rồi còn chi đâu anh ơi, có còn lại chăng dư âm thôi.
Trong cơn thương đau men đắng môi.
Yêu rồi tình yêu sao chua cay, men nào bằng men thương đau đây?
Hỡi người bỏ ta trong mưa bay.
Phương trời mình đi xa, thêm xa. nghe vàng mùa Thu sau lưng ta.
Anh ơi anh ơi Thu thiết tha..”**


Có lần tôi được gặp một anh quân nhân đi diện HO cho biết đã từng ở chung trại với Hải ngoài Bắc, sau đó anh chuyển trại nên không biết Hải đã bị đưa đi đâu.Tôi thầm tạ ơn các đấng thiêng liêng vì anh còn sống sót. Dù biết rất có ít cơ hội nhưng tôi vẫn đợi, vẫn cầu mong một ngày được gặp lại anh. Và tôi đã chờ như thế bao nhiêu năm rồi, anh vẫn mịt mù bóng chim, tăm cá để tôi đớn đau, tuyệt vọng, trăn trở từng đêm, héo mòn tuổi xuân.

Tôi làm chung sở với Lệ Nga, chúng tôi rất thân và thương mến nhau như chị em ruột. Nga có một cuộc đời bi đát hơn tôi. Cô đã lập gia đình với một anh Thủy Quân Lục Chiến và có một cháu ba tuổi. Cuối tháng Ba năm 1975 Nga được tin anh mất tích ở miền Trung do một người bạn anh chạy về kể lại. Sau ngày 30/4 Nga không thấy chồng về nhà cô đã gởi con cho người quen và lặn lội khắp nơi hỏi thăm tin tức chồng. Năm, sáu tháng trời mòn mỏi tìm kiếm không được, cô tin rằng chồng mình đã chết thật rồi. Nỗi đau mất chồng chưa vơi thì đứa con thương yêu của cô bị sốt xuất huyết mà ra đi theo cha. Nga gần như điên loạn một thời gian khá lâu, sau đó cô quyết định bỏ xứ ra đi để tìm quên nỗi đau cùng cực trong quá khứ.

Lần nầy Nga đã gặp được một người chịu chấp nhận, chia sẻ buồn vui với cô nên Nga quyết định đi nửa đoạn đường còn lại cùng anh ta.

Nga tâm sự với tôi:
Anh ấy cũng có một nỗi đau dai dẳng bao nhiêu năm rồi. Hai đứa mình tìm đến nhau vì thông cảm được nhau. Hai tâm hồn tả tơi, rách nát vì khổ đau nên nương tựa vào nhau mà sống cho hết kiếp vậy thôi. Còn Hà, bạn định chờ đợi người ấy đến bao giờ?
Mình không biết, chỉ cảm thấy không quên được dĩ vãng nên chưa thể làm gì khác hơn.
Nga thở dài nhìn tôi rươm rướm nước mắt.
* * *
Chiều Thứ Bảy tôi đến nhà Nga như lời đã hứa, các bạn đã đến cả rồi. Bàn tiệc được đặt lộ thiên phía sau nhà dưới tàng cây Jacaranda mát rượi bên cạnh một cây sứ hoa trổ đầy cành tỏa hương thơm thoang thoảng. Thấy tôi đến các bạn reo lên:
A, Yên Hà tới rồi.

Một người đàn ông trẻ trong bọn bỗng đứng lên bước nhanh về phía tôi giương to mắt nhìn và miệng lắp bắp:
Cô là…Yên Hà?
Tôi nhìn anh ta, tay chân tôi bỗng run rẩy, tim dường như nghẹt thở, mắt mờ hẳn đi và không đứng vững được. Lệ Nga chạy đến nắm tay tôi:
Sao vậy Hà? Bạn bị bịnh à? Ngồi xuống đây mình lấy cho một ly nước mát sẽ khỏe lại thôi.
Người đàn ông chận Nga lại:
Không cần đâu Nga, tại anh cả. Yên Hà đây là… người yêu cũ của anh mà anh đã từng nói với Nga đó.
Sắc mặt Nga bỗng tái nhạt và đứng không vững giống như tôi nhưng Nga là người phụ nữ cương nghị và bản lãnh nên cô trấn tĩnh lại ngay và nói:

Hai người ngồi xuống trước đi, có chuyện gì sẽ nói sau.
Tôi như cái máy làm theo sự đặt để của nàng. Người đàn ông kia chính là Hồ Hải, người tôi đã yêu thương và chờ đợi bao lâu nay. Trước sự việc lạ lùng xảy ra các bạn tôi đều hết sức ngạc nhiên nhìn về phía Nga như dò hỏi. Nga điềm tỉnh lên tiếng:

Anh Hải đây là hôn phu của Yên Hà. Hai người thất lạc nhau nhiều năm giờ mới gặp lại, họ vẫn chờ đợi và tìm kiếm nhau. Buổi tiệc hôm nay Nga mời các bạn là để chúc mừng cho ngày đoàn tựu của họ.
Tôi quá đổi ngạc nhiên trước sự thể nầy nên kề tai Nga nói nhỏ:
Không thể như vậy được đâu Nga.

An tâm đi Hà. Nga chỉ mời các bạn tới dùng cơm chớ chưa nói lý do với họ gì cả. Nga chỉ mới bắt đầu với Hải, còn Hà tình yêu đã mọc rễ trong tim bạn rồi làm sao Nga xen vào được.
Hải đứng cạnh đó anh đã nghe những lời của Nga nên cúi đầu nói nhỏ:
Anh xin lỗi Nga, xin lỗi em thật nhiều Nga ơi!
Nga mỉm cười lên tiếng với mấy người bạn của chúng tôi:
Các bạn vào bếp phụ Nga một tay mang đồ ăn ra nhé!

Thế là tất cả bọn họ cùng kéo nhau đi. Còn lại tôi và Hải, mừng vui, ngỡ ngàng và cũng chua xót cho hoàn cảnh hiện tại. Tôi nhìn Hải không nói được lời nào dù 20 năm nay tôi có rất nhiều điều muốn nói với chàng nếu gặp lại. Hải lên tiếng:
Yên Hà à, mình được gặp lại nhau đúng là Thượng Đế còn thương xót chúng ta. Khoan nói những chuyện về anh cũng như về em. Bây giờ mình phải giải quyết vấn đề hiện tại.

Đúng vậy đó anh. Em không thể để Lệ Nga đau khổ nữa, cô ấy cũng đã tội nghiệp lắm rồi.

Hải nhìn tôi:
Còn em và anh không đáng tội nghiệp sao? Em đừng quá mặc cảm tội lỗi với bạn, mọi việc để anh quyết định. Anh từng hứa hẹn sẽ lập gia đình với Nga với điều kiện là nếu trước ngày thành hôn anh gặp lại người yêu cũ của anh, anh sẽ từ chối Nga và cô ấy cũng đã bằng lòng. Anh cố ý kéo dài việc nầy gần một năm rồi, không ngờ đây là ý của trời cao xui khiến cho anh tròn mong ước. Nga sẽ không phiền trách chúng ta đâu.

Nói xong Hải nhìn tôi âu yếm như ngày nào và nói:
Em không khác xưa nhiều, vừa gặp em anh đã nhận ra ngay. Một hình bóng thân yêu đã hằn sâu trong tim, trong tiềm thức của anh.

Tôi xúc động nghẹn ngào rưng rưng nước mắt.Tôi như người đang sống giữa cơn mơ, tuy tôi đã mỏi mòn chờ đợi, luôn hy vọng một buổi tương phùng nhưng vẫn còn bàng hoàng, ngơ ngác trước thực tại. Hải nắm chặt tay tôi, tôi đưa tay vuốt mái tóc bồng bềnh nhưng không còn nhuốm màu nắng gió sa trường của anh. Gương mặt nầy, dáng vóc nầy không có gì thay đổi và đôi mắt ấy…đôi mắt vẫn to, vẫn mang nét buồn u ẩn như chứa đựng cả một trời thương nhớ. Tôi nhìn thấy bóng hình tôi, những cánh hoa Jacaranda màu tím thẩm và cả màu nắng hoàng hôn loáng thoáng trong mắt anh.

Tôi sung sướng gục đầu vào vai Hải. Tôi cảm thấy mình hạnh phúc hơn lúc nào hết vì đã tìm được niềm mơ ước, tìm được “màu mắt hoàng hôn” năm nào của một cuộc tình tưởng đã vuột khỏi tầm tay:

“ Tình yêu đã trở lại, đôi mắt đêm ngày vơi hết đọa đày.
Tà áo em phơi bày, ngón tay em dài, tiếng yêu không lời…”

Vi Vân

* Bao Giờ Biết Tương Tư – Phạm Duy
** Tình Lỡ - Thanh Bình.

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

Thơ Tranh: Đêm Phật Đản Nhớ Bạn Thơ

  

Thơ: Sông Thu
Thơ Tranh: Kim Oanh


Mừng Phật Đản

 

Nghìn xưa Trăng đã xuống Trần gian
Thân hóa hài nhi phóng ánh quang
Nhiệm huyền bảy bước sen nâng gót
Thanh tịnh chín rồng tắm ngọc Thân ..!

Quả đất rung mừng Phật đản sanh
Cung trời trỗi nhạc phụng âm thanh
Chim muông lảnh lót reo an lạc
Hoa cỏ cựa mình nhú mầm xanh

Phật sử Quê ươm tự đáy lòng
Gieo trồng mạng mạch chói Tây đông
Chánh pháp trường tồn lan thế giới
Niêm hoa mật ngữ đóa sen hồng

Ta bà cung đón ánh bình minh
Nhóm lửa rọi soi diện mục mình
Vung đao bát nhã xua tăm tối
Lặng lẽ tâm nhiên pháp giới bình…!

Mừng phật Đản nụ cười xinh
Muôn người tay nối đạo tình chứa chan
Vầng Trăng ngón mộng- tâm an
Sông thôi khắc khoải mây ngàn phiêu linh

Mừng Phật Đản đuốc quang minh
Lành thay ! ánh lửa tự mình thắp lên
Giữa vô thường anh và em
Cùng nhau buông bỏ ghét ganh tị hiềm

Mừng Phật Đản bớt đảo điên
Dẫu phong ba vẫn như nhiên vuông tròn
Cầm ngũ uẩn nhẫm sắc- không
Khói Sương mây nước - một nguồn không hai!

Mừng Phật Đản phía tương lai
Đạo thường tại giữa trần ai muôn màu
Mừng Phật đản vọng ca dao
Chung giàn Âu Lạc bí bầu Việt Nam!

Lê Đăng Mành

Cảm Niệm Mùa Khánh Đản

 

Mùa xuân về đó em ơi
Vàng trong ánh ngọc, sạch trời tuyết mây.
Bốn phương trời tạnh mưa bay,
Hoa Ưu đàm nở, Phương nầy nguyệt viên.
Sen hồng đỡ bước siêu nhiên
Chân tâm hiện, Bóng tam thiên diệu vời.
Thuyền không một chiếc ra khơi,
Pháp âm vọng, tĩnh chưa người bến mê .
Ngàn dâu trắng cánh hoa lê,
Trăng sao mở hội lối về nguồn xưa.
Cát nằm bến vắng hay chưa,
Có nghe chăng, tiếng giữa mùa hoa đăng?
Giờ đây đâu cũng sông Hằng
Cũng Sơn Tuyết lãnh, cũng trăng diệu huyền.
Cũng Tỳ Ni rợp bóng thiền,
Cũng thành La Vệ, cũng miền Chơn Như.
Em ơi,Mùa xuân tháng tư
Dặm xưa, nay vẫn còn dư âm vàng.
Bóng NGƯỜI đẹp cả nhân gian
Đưa nhau ra khỏi con đàng tử sinh.

Mặc Phương Tử.

6 Nẻo Phiền Não



Hãy nghe Phật Pháp dậy rằng:
6 điều phiền não cùng sanh một thời.
Đã sinh ra kiếp con người.
Có ai thoát được một đời vô minh.
Con người là giống hữu tình .
Bao nhiêu ảo vọng làm mình đảo điên.
Náo loạn tâm trí triền miên.
Quên đi bản chất chính mình mà thôi .

1/ THAM thời quấy nhiễu đón mời.
Làm mình mê đắm cả đời chạy theo.
Ngũ dục lạc thú như keo.
Ăn uống ngủ nghỉ sao đeo mình hoài .
Nhan sắc quyến rũ tuyệt vời.
Danh vọng tiền bạc mấy ai chối từ.

2/ SÂN thì nổi nóng tạo thù.
Khi giận thì ghét như tù chung thân.
Khiến cho khó chịu bội phần.
Khổ đau mang đến tâm thân não nề .
Gây ra tội ác mọi bề .
Làm cho cuộc sống chẳng hề được yên.

3/ SI thì mê muội đảo điên.
Ngu si đần độn như xiềng xích ma.
Không phân thiện ác chánh tà.
Mất đi sáng suốt ác tà bủa vây.

4/ MẠN đeo ở ngực đêm ngày.
Cậy mình có chút quyền, tài tự kiêu.
Ra vẻ cao ngạo mọi điều.
Lên mặt hống hách tạo nhiều thị phi.

5/ NGHI thời những kẻ đa nghi.
Luôn luôn do dự chỉ vì không tin.
Trở ngại phát triển niềm tin.
Khiến cho trí óc bị kìm bị đâm .

6/ ÁC KIẾN nhận biết sai lầm
Là điều nguy hiểm, là mầm xấu xa
Không những làm hại người ta
Mà còn có hại cho ta nhiều đời

Gây ra tội lỗi ngập trời
Nhận thức không đúng ngàn đời đảo điên
Lánh xa sáu nẻo ưu phiền.
Ta được hưởng phước về miền Tịch Như.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Lâm Hoài Vũ
5/2018
(Trích thi tập Giấc Mơ Hoa)

Phật Đản Sanh - Buddha’s Birth Day (Thiện Phúc)


(Song ngữ)

Vào năm 563 trước Tây lịch, một cậu bé được sanh ra trong một hoàng tộc tại miền Bắc Ấn Độ. Hoàng tử này trưởng thành trong giàu sang xa xỉ, nhưng sớm nhận ra tiện nghi vật chất và sự an toàn trên thế gian không đem lại hạnh phúc thật sự. Ngài động lòng trắc ẩn sâu xa trước hoàn cảnh khổ đau quanh Ngài, chính vì vậy mà Ngài nhất định tìm cho ra chìa khóa đưa đến hạnh phúc cho nhân loại. 
Vào năm 29 tuổi Ngài rời bỏ vợ đẹp con ngoan và cung vàng điện ngọc để cất bước lên đường học đạo với những bậc thầy nổi tiếng đương thời. Những vị thầy này dạy Ngài rất nhiều nhưng không vị nào thật sự hiểu biết nguồn cội của khổ đau phiền não của nhân loại và làm cách nào để vượt thoát khỏi những thứ đó. Cuối cùng sau sáu năm tu học và hành thiền, Ngài liễu ngộ và kinh qua kinh nghiệm tận diệt vô minh và thành đạt giác ngộ. Từ ngày đó người ta gọi Ngài là Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong 45 năm sau đó Ngài chu du khắp miền Bắc Ấn để dạy người những gì mà Ngài đã chứng ngộ. Lòng từ bi và hạnh nhẫn nhục của Ngài quả thật kỳ diệu và hàng vạn người đã theo Ngài, trở thành tín đồ Phật giáo. Đến năm Ngài 80 tuổi, dù xác thân già yếu bệnh hoạn, nhưng lúc nào Ngài cũng hạnh phúc và an vui, cuối cùng Ngài nhập Niết Bàn vào năm 80 tuổi. Lìa bỏ gia đình không phải là chuyện dễ dàng cho Đức Phật. Sau một thời gian dài đắn đo suy nghĩ Ngài đã quyết định lìa bỏ gia đình. Có hai sự lựa chọn, một là hiến thân Ngài cho gia đình, hai là cho toàn thể thế gian. Sau cùng, lòng từ bi vô lượng của Ngài đã khiến Ngài tự cống hiến đời mình cho thế gian. Và mãi cho đến nay cả thế giới vẫn còn thọ hưởng những lợi ích từ sự hy sinh của Ngài. Đây có lẽ là sự hy sinh có nhiều ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Hiện nay vẫn còn nhiều bàn cãi về năm sanh chính xác của Đức Phật; tuy nhiên ý kiến của phần đông chọn năm 623 trước Tây Lịch. Ngày Phật đản sanh là ngày trăng tròn tháng 4. đó là một ngày tuyệt đẹp. Tiết trời trong sạch, gió mát thoang thoảng. Trong vườn trăm hoa đua nở, tỏa hương ngào ngạt, chim hót líu lo… tạo thành một cảnh tượng thần tiên ở thế gian để đón chào sự đản sanh của Thái Tử. Theo truyền thuyết Ấn Độ thì lúc đó đất trời rung động, từ trên trời cao tuôn đổ hai dòng nước bạc, một ấm một mát, tắm gội cho thân thể của Thái Tử. Ngày nay các quốc gia theo truyền thống Phật giáo, tổ chức ngày Đại lễ Phật Đản vào khoảng giữa tháng tư âm lịch. Cũng theo truyền thuyết Ấn Độ, ngày Phật Đản sanh đáng tin cậy, có lẽ vào ngày mồng 4 tháng 8; tuy nhiên, tất cả các nước theo Phật giáo lấy ngày trăng tròn tháng tư làm lễ kỷ niệm. Đối với cộng đồng Phật giáo, ngày lễ quan trọng nhất nhất là ngày lễ Phật Đản. Đó là ngày trăng tròn tháng tư. Hằng triệu người trên thế giới cử hành lễ Phật Đản. Ngày này được gọi là ngày Vesak tại xứ Tích Lan, ngày Visakha Puja tại Thái Lan. Vào ngày này, Phật tử tại vài xứ như Trung Hoa, Đại Hàn tham dự vào lễ “Tắm Phật.” Họ rưới nước thơm vào tượng Phật Đản Sanh. Việc này tượng trưng cho thanh tịnh nơi tâm ý và hành động. Chùa viện được trang hoàng bông hoa cờ phướn; trên bàn thờ đầy lễ vật cúng dường. Những bữa cơm chay được dọn ra cho mọi người. Người ta làm lễ phóng sanh. Đây được xem như là ngày thật vui cho mọi người. Theo truyền thống Nguyên Thủy, ngày Phật Đản sanh, có lẽ vào ngày mồng 8 tháng 4; tuy nhiên, tất cả các nước theo Phật giáo lấy ngày trăng tròn tháng tư làm lễ kỷ niệm. Đây là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của Phật giáo, vì ngày đó vừa là ngày Đức Phật đản sanh, thành đạo và đạt niết bàn. Theo truyền thống Đại Thừa, ngày rằm tháng tư là ngày mà các nước theo truyền thống Phật giáo tổ chức ngày lễ kỷ niệm Phật Đản sanh, xuất gia, thành đạo và nhập Niết bàn. Lễ Vesak gồm có một thời giảng pháp, một buổi quán niệm về cuộc đời Đức Phật, các cuộc rước xung quanh nơi thờ. Ngoài ra ngày Vesak còn là dịp nhắc nhở chúng ta cố gắng đạt tới Đại giác.

Dù Đức Phật đã nhập diệt, nhưng trên 2.500 năm sau những giáo thuyết của Ngài vẫn còn tế độ rất nhiều người, gương hạnh của Ngài vẫn còn là nguồn gợi cảm cho nhiều người, và những lời dạy dỗ của Ngài vẫn còn tiếp tục biến đổi nhiều cuộc sống. Chỉ có Đức Phật mới có được oai lực hùng mạnh tồn tại sau nhiều thế kỷ như thế ấy. Đức Phật không bao giờ tự xưng rằng Ngài là một thần linh, là con của thần linh, hay là sứ giả của thần linh. Ngài chỉ là một con người đã tự cải thiện để trở nên toàn hảo, và Ngài dạy rằng nếu chúng ta noi theo gương lành ấy chính ta cũng có thể trở nên toàn hảo như Ngài. Ngài không bao giờ bảo đệ tử của Ngài thờ phượng Ngài như một thần linh. Kỳ thật Ngài cấm chỉ đệ tử Ngài làm như vậy. Ngài bảo đệ tử là Ngài không ban phước cho những ai thờ phượng Ngài hay giáng họa cho ai không thờ phượng Ngài. Ngài bảo Phật tử nên kính trọng Ngài như một vị Thầy. 
Ngài còn nhắc nhở đệ tử về sau này khi thờ phượng lễ bái tượng Phật là tự nhắc nhở chính mình phải cố gắng tu tập để phát triển lòng yêu thương và sự an lạc với chính mình. Hương của nhang nhắc nhở chúng ta vượt thắng những thói hư tật xấu để đạt đến trí huệ, đèn đốt lên khi lễ bái nhằm nhắc nhở chúng ta đuốc tuệ để thấy rõ rằng thân này rồi sẽ hoại diệt theo luật vô thường. Khi chúng ta lễ lạy Đức Phật là chúng ta lễ lạy những giáo pháp cao thượng mà Ngài đã ban bố cho chúng ta. Đó là cốt tủy của sự thờ phượng lễ bái trong Phật giáo. Nhiều người đã lầm hiểu về sự thờ phượng lễ bái trong Phật giáo, ngay cả những Phật tử thuần thành. Người Phật tử không bao giờ tin rằng Đức Phật là một vị thần linh, thì không có cách chi mà họ có thể tin rằng khối gỗ hay khối kim loại kia là thần linh. Trong Phật giáo, tượng Phật được dùng để tượng trưng cho sự toàn thiện toàn mỹ của nhân loại. 

Tượng Phật cũng nhắc nhở chúng ta về tầm mức cao cả của con người trong giáo lý nhà Phật, rằng Phật giáo lấy con người làm nòng cốt, chứ không phải là thần linh, rằng chúng ta phải tự phản quang tự kỷ, phải quay cái nhìn vào bên trong để tìm trạng thái toàn hảo trí tuệ, chứ không phải chạy đông chạy tây bên ngoài. Như vậy, không cách chi mà người ta có thể nói rằng Phật tử thờ phượng ngẫu tượng cho được. Kỳ thật, từ xa xưa lắm, con người nguyên thủy tự thấy mình sống trong một thế giới đầy thù nghịch và hiểm họa. Họ lo sợ thú dữ, lo sợ không đủ thức ăn, lo sợ bệnh hoạn và những tai ương hay hiện tượng thiên nhiên như giông gió, bão tố, núi lửa, sấm sét, vân vân. Họ không cảm thấy an toàn với hoàn cảnh xung quanh và họ không có khả năng giải thích được những hiện tượng ấy, nên họ tạo ra ý tưởng thần linh, nhằm giúp họ cảm thấy thoải mái tiện nghi hơn khi sự việc trôi chảy thuận lợi, cũng như có đủ can đảm vượt qua những lúc lâm nguy, hoặc an ủi khi lâm vào cảnh bất hạnh, lại cho rằng thượng đế đã sắp đặt an bài như vậy. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, người ta tiếp tục niềm tin nơi “thượng đế” từ cha anh mình mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Có người cho rằng họ tin nơi thượng đế vì thượng đế đáp ứng những thỉnh nguyện của họ mỗi khi họ lo âu sợ hãi. Có người cho rằng họ tin nơi thượng đế vì cha mẹ ông bà họ tin nơi thượng đế. Lại có người cho rằng họ thích đi nhà thờ hơn đi chùa vì những người đi nhà thờ có vẻ sang trọng hơn những người đi chùa.

***
Buddha’s Birth Day

 

In the year 563 B.C. a baby was born into a royal family in northern India. He grew up in wealth and luxury but soon found that worldly comfort and security do not guarantee real happiness. He was deeply moved by the suffering he saw all around, so He resolved to find the key to human happiness. When he was 29 he left his wife and child and his Royal Palace and set off to sit at the feet of the great religious teachers of the day to learn from them. They taught him much but none really knew the cause of human sufferings and afflictions and how it could be overcome. Eventually, after six years study and meditation he had an experience in which all ignorance fell away and he suddenly understood. From that day onwards, he was called the Buddha, the Awakened One. He lived for another 45 years in which time he traveled all over northern India teaching others what he had discovered. His compassion and patience were legendary and he made hundreds of thousands of followers. In his eightieth year, old and sick, but still happy and at peace, he finally passed away into nirvana. It couldn’t have been an easy thing for the Buddha to leave his family. He must have worried and hesitated for a long time before he finally left. There were two choices, dedicating himself to his family or dedicating himself to the whole world. In the end, his great compassion made him give himself to the whole world. And the whole world still benefits from his sacrifice. This was perhaps the most significant sacrifice ever made.

Nowadays, there are still some discussions over the exact year of the Buddha’s birth; however, the majority of opinions favor 623 B.C. The Buddha’s birthday was the day of the full moon in May. It was a beautiful day. The weather was nice and a gentle breeze was blowing. All the flowers in the Lumbini Park were blooming, emitting fragrant scents, and all the birds were singing molodious songs. Together, they seemed to have created a fairy land on earth to celebrate the birth of the Prince, a coming Buddha. According to the Indian legendaries, at that time, the earth shook, and from the sky, two silvery currents of pure water gushed down, one was warm and the other cool, which bathed the body of the Prince. Nowadays, countries with Buddhist tradition usually celebrate the Buddha’s Birthday around the middle of the fourth month of the Lunar Year. Also according to Indian legends, the more reliable Buddha’s Birth Day, perhaps on the 4th month, 8Th day; however, all Buddhist countries obseve the Full Moon Day of the Lunar month of Vaisakha (April-May) as Buddha Birth Day Anniversary. For the Buddhist community, the most important event of the year is the celebration of the birth of the Buddha. It falls on the full-moon day in the fourth lunar month (in May of the Solar Calendar). This occasion is observed by millions of Buddhists throughout the world. It is called Vesak in Sri Lanka, Visakha Puja in Thailand. On this day, Buddhists in some countries like China and Korea would take part in the ceremonial bathing of the Buddha. They pour ladles of water scented with flower petals over a statue of the baby Buddha. This symbolizes purifying their thoughts and actions. The temple are elegantly decorated with flowers and banners; the altars are full of offerings. Vegetarian meals are provided for all. Captive animals, such as birds and turtles, are set free from their cages. This is a very joyous day for everyone. According to the Theravada tradition, the Buddha’s Birth Day, perhaps on the 4th month, 8Th day; however, all Buddhist countries observe the Full Moon Day of the Lunar month of Vaisakha (April-May) as Buddha Birth Day Anniversary. This is one of the major festivals of Buddhism because most Buddhist countries celebrate the day on which the Buddha was born, attained awakening, and passed into nirvana. According to the Mahayana tradition, the month corresponding to April-May, on the Full Moon day of which is celebrated the Birth, Renunciation, Enlightenment and Parinirvana of the Buddha. The Vesak celebration consists of the presentation of the teaching, contemplation of the life of Buddha, the process around the secred sites. Furthermore, Vesak festival goes beyond mere hirtorical commemoration; it is a reminder for each of us to strive to become enlightened.

Even though the Buddha is dead but 2,500 years later his teachings still help and save a lot of people, his example still inspires people, his words still continue to change lives. Only a Buddha could have such power centuries after his death. The Buddha did not claim that he was a god, the child of god or even the messenger from a god. He was simply a man who perfected himself and taught that if we followed his example, we could perfect ourselves also. He never asked his followers to worship him as a god. In fact, He prohibited his followers to praise him as a god. He told his followers that he could not give favors to those who worship him with personal expectations or calamities to those who don’t worship him. He asked his followers to respect him as students respect their teacher. He also reminded his followers to worship a statue of the Buddha to remind ourselves to try to develop peace and love within ourselves. The perfume of incense reminds us of the pervading influence of virtue, the lamp reminds us of the light of knowledge and the followers which soon fade and die, remind us of impermanence. When we bow, we express our gratitude to the Buddha for what his teachings have given us. This is the core nature of Buddhist worship. A lot of people have misunderstood the meaning of “worship” in Buddhism, even sincere Buddhists. Buddhists do not believe that the Buddha is a god, so in no way they could possibly believe that a piece of wood or metal is a god. In Buddhism, the statue of the Buddha is used to symbolize human perfection. The statue of the Buddha also reminds us of the human dimension in Buddhist teaching, the fact that Buddhism is man-centered, not god-centered, that we must look within not without to find perfection and understanding. So in no way one can say that Buddhists worship god or idols. In fact, a long time ago, when primitive man found himself in a dangerous and hostile situations, the fear of wild animals, of not being able to find enough food, of diseases, and of natural calamities or phenomena such as storms, hurricanes, volcanoes, thunder, and lightning, etc. He found no security in his surroundings and he had no ability to explain those phenomena, therefore, he created the idea of gods in order to give him comfort in good times, courage in times of danger and consolation when things went wrong. They believed that god arranged everything. Generations after generations, man continues to follow his ancestors in a so-called “faith in god” without any further thinkings. Some says they in believe in god because god responds to their prayers when they feel fear or frustration. Some say they believe in god because their parents and grandparents believed in god. Some others say that they prefer to go to church than to temple because those who go to churches seem richer and more honorable than those who go to temples.

Thiện Phúc