Hiển thị các bài đăng có nhãn Án Kỷ Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Án Kỷ Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

Túy Lạc Thác 醉落魄 - Án Kỷ Đạo

 

醉落魄                   Túy Lạc Thác 

天教命薄。            Thiên giao mệnh bạc.
青樓占得聲名惡。Thanh lâu chiếm đắc thanh danh ác.
對酒當歌尋思著。Đối tửu đương ca tầm tư trước.
月戶星窗,           Nguyệt hộ tinh song.
多少舊期約。       Đa thiểu cựu kỳ ước.

相逢細語初心錯。Tương phùng tế ngữ sơ tâm thác.
兩行紅淚尊前落。Lưỡng hành hồng lệ tôn tiền lạc.
霞觴且共深深酌。Hà thương thả cộng thâm thâm chước.
惱亂春宵, Não loạn xuân tiêu,
翠被都閑卻。 Thúy bị đô nhàn khước.

 晏幾道            Án Kỷ Đạo
***
Chú thích

1-Túy lạc thác 醉落魄: tên từ bài (lạc thác có nghĩa là khốn đốn), tên khác là nhất hộc châu 一斛珠, oán xuân phong 怨春风, chương đài nguyệt 章台月. Bài này có 2 đoạn, 57 chữ, mỗi đoạn 5 câu, 4 trắc vận. Cách luật:

X X X T vận
X B X T B B T vận
X X X X B B T vận
X T B B cú
X T X X T vận.

X X X T vận
X B X T B B T vận
X X X X B B T vận
X T B B cú
X T X X T vận.

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2-Thiên giao 天教: trời khiến cho.
3- Thanh lâu 青樓: nguyên chỉ nhà lầu nơi phụ nữ quý tộc ở. Tới cuối thời kỳ lục triều (khoảng thời nhà Tùy) thì chữ “Thanh lâu” được dùng để chỉ “Kỹ viện 妓院: nơi kỹ nữ ở”.
4- Chiếm占: lấy được, chiếm được.
5- Ác惡: tội lỗi, dơ bẩn.
6- Đối tửu đương ca對酒當歌: trích dẫn một câu thơ trong bài “Đoản hành ca 短歌行” của Tào Tháo đời Tam Quốc, ý nói cuộc đời đoản tạm.
7- Tầm tư 尋思: suy nghĩ, dầy vò.
8- Nguyệt hộ tinh song 月戶星窗: chỉ nơi cư trú u tĩnh cách biệt.
9- Đa thiểu 多少: chỉ số lượng, những, các.
10- Cựu kỳ ước 舊期約: ước hẹn cũ.
11- Tế ngữ 細語: nói nhỏ, thì thầm.
12- Sơ tâm 初心: bản ý, bản nguyện. Trong bài này có nghĩa là ý tưởng ban đầu.
13- Hồng lệ紅淚: nước mắt của phụ nữ. Chuyện xưa kể lại rằng vua Ngụy Văn Đế 魏文帝 yêu mến người đẹp Tiết Linh Vân 薛靈芸, phái người đến triệu nàng vào cung. Nàng Tiết Linh Vân nghe nói phải xa lìa phụ mẫu thì than thở sụt sùi suốt ngày cho đến khi lên xe, nước mắt rơi ướt áo, lấy cái ống nhổ hứng nước mắt thì ống nhổ đã nhuộm đỏ. Cho đến khi vào cung thì nước mắt trong ống nhổ đã đông lại như máu. Về sau chữ hồng lệ được dùng để phiếm chỉ nước mắt nữ giới.

14- Hà thương 霞觴: cái chén uống rượu quý.
15- Thả 且: hãy, vả chưng.
16- Chước 酌: rót rượu.
17- Não loạn 惱亂: ưu phiền, phiền não.
18- Thúy bị 翠被: tấm chăn có thêu hình lông chim phỉ thúy 翡翠.
19- Khước 卻: trợ ngữ có nghĩa là “rồi, mất”. Nhàn khước 閑卻: bị bỏ không rồi.

Dịch Nghĩa

Trời khiến cho mệnh bạc.
Lầu xanh mang tiếng tội lỗi.
Suy tư về cuộc đời đoản tạm.
Ở nơi cư trú cách biệt với ngoại giới,
Những hẹn ước cũ (của nam giới) đều như bào ảnh.

Khi tụ họp nhau (bạn cùng thanh lâu), thì thầm than vãn, suy nghĩ lúc xưa của mình đã sai.
Hai hàng nước mắt tuôn rơi trước chén rượu.
Chỉ còn cùng nhau rót đầy chén rượu (tiêu sầu).
Buồn phiền suốt đêm xuân,
Cái chăn phỉ thúy (cùa lứa đôi) bị hoàn toàn bỏ không.

Phỏng Dịch

Túy Lạc Thác - Mệnh Bạc

Trời khiến mệnh bạc.
Lầu xanh từng trải thanh danh ác.
Cuộc đời đoản tạm không dừng bước.
Kín cổng cao tường,
Phụ rẫy bao lời ước.

Thì thầm than vãn đời sai lạc.
Trước ly dòng lệ rưng đôi mắt.
Chén ngọc cùng nhau chung thù tạc.
Phiền não đêm xuân,
Gối chiếc chăn lạnh nhạt.

HHD 
12-2020
***
Bản Dịch:

Túy Lạc Thác

1/

Trời xui mệnh bạc
Lầu xanh mang tiếng không được tốt
Suy tư về cuộc đời rượu khướt
Nhà cửa trăng sao
Ít nhiều quên thệ ước

Gặp nhau than thầm mình sai lạc
Lệ hai hàng trước rượu rơi rớt
Chỉ biết cùng nhau rượu đầy rót
Phiền muộn đêm xuân
Chăn xanh lãng quên mất!

2/

Trời khiến xui mệnh bạc
Tiếng xấu gái lầu xanh
Suy tư khi rượu khướt
Nhà cửa trăng sao đành
Ít nhiều quên thệ ước

Gặp nhau than lầm lạc
Trước chén lệ hai hàng
Cùng nhau rượu đầy rót
Muộn phiền đêm xuân sang
Chăn xanh lãng quên mất!

 Lộc Bắc
Jan21

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2023

Sinh Tra Tử 生查子 - Án Kỷ Đạo

 
生查子             Sinh Tra Tử 

關山魂夢長,Quan sơn hồn mộng trường,
魚雁音塵少。Ngư nhạn âm trần thiểu.
兩鬢可憐青,Lưỡng mấn khả liên thanh,
只爲相思老。Chỉ vi tương tư lão.

歸夢碧紗窗,Quy mộng bích sa song,
說與人人道。Thuyết dữ nhân nhân đạo.
真個別離難,Chân cá biệt ly nan,
不似相逢好。Bất tự tương phùng hảo.
晏幾道                      Án Kỷ Đạo

Chú Thích

1 Có người cho rằng bài này là của Vương Quan王觀. Lại có người cho rằng bài này là của Đỗ An Thế杜安世.
2 Sinh tra tử生查子: tên từ bài. Tên khác là “Tương hòa liễu相和柳”, “Mai khê độ梅溪渡”, “Mạch thương lang陌上郎”, “Ngộ tiên tra遇仙楂”, “Sầu phong nguyệt愁風月”, “Lục la quần绿羅裙”, “Sở vân thâm楚云深”, Mai hoà liễu梅和柳”, “Tình sắc nhập thanh sơn晴色入青山” v.v. Bài này có 40 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 2 trắc vận. Cách luật vào thời Vãn Đường rất lỏng lẻo. Đến thời Tống thì mới được chỉnh đốn quy củ hơn. Dưới đây là Cách luật của Hàn Ác韓偓 thời Vãn Đương:

X X X X X cú
X T B B T vận
X X T X B cú
X T B B T vận

X X X X B cú
X T B B T vận
X T T B B cú
X X X B T vận

3 Quan sơn 關山: quan ải và sơn xuyên.
4 Hồn mộng 魂夢: linh hồn.
5 Ngư nhạn 魚雁: mượn dùng để chỉ thư từ.
6 Âm trần音塵: tin tức.
7 Khả liên (lân) 可憐: đáng thương.
8 Quy mộng 歸夢: mộng được về quê.
9 Bích sa song 碧紗窗: cửa sổ treo màn lụa xanh.
10 Nhân nhân 人人: người thân của mình.
11 Chân cá 真個hay chân cá 真箇: xác thực, chân chính.

Dịch Nghĩa

Hồn mộng tôi thường bứt rứt lo lắng (cho người đi xa) đường quan ải sơn xuyên (vất vả).
Rất ít có thư từ và tin tức gửi về.
Đáng thương cho (tuổi xuân của tôi) 2 chòm tóc mai còn xanh (như tơ).
Chỉ vì tương tư mà thành ra già nua.

Mộng lúc chàng về cùng đứng bên song rủ màn lụa xanh (kể lể tâm sự).
Nói với người rằng:
Biệt ly thật là khó chịu đựng,
Chẳng như đoàn tụ là tốt lành.

Phỏng Dịch:

Sinh Tra Tử - Hồn Chinh Phụ

Đường quan sơn diệu vợi,
Có mấy khi thư lại.
Thương cảm mái đầu xanh,
Tương tư già ái ngại.

Mơ bên song sánh vai,
Trao đổi lời tương ái.
Xa cách đời gian nan,
Đoàn tụ người mong đợi.

HHD 
2-2020
***
Bản Dịch

Sinh Tra Tử

Quan ải giấc mộng dài
Thư từ, tin ít có
Thương thay mái tóc xanh
Tương tư mau già khổ

Mộng về bên lụa song
Nói cho người thân rõ
Biệt ly thật khó khăn
Không được như đoàn tụ!

Lộc Bắc
Jan21 (Án Kỷ Đạo)

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

阮郎歸 - 晏幾道 Nguyễn Lang Quy – Án Kỷ Đạo

阮郎歸 - 晏幾道 Nguyễn Lang Quy – Án Kỷ Đạo

天邊金掌露成霜。 Thiên biên kim chưởng lộ thành sương.
雲隨雁字長。         Vân tùy nhạn tự trường.
綠杯紅袖趁重陽。 Lục bôi hồng tụ sấn trùng dương.
人情似故鄉。         Nhân tình tự cố hương.

蘭佩紫,                Lan bội tử,
菊簪黃。                Cúc trâm hoàng.
殷勤理舊狂。        Ân cần lý cựu cuồng.
欲將沉醉換悲涼。Dục tương trầm túy hoán bi lương.
清歌莫斷腸。       Thanh ca mạc đoạn trường.

Chú Thích

1 Nguyễn lang quy 阮郎 歸: tên từ bài. Tên khác là “Bích đào xuân 碧桃春”, “Túy đào nguyên 醉桃源”. Tên “Nguyễn lang quy” bắt nguồn từ truyện Lưu Thần 刘晨, Nguyễn Triệu 阮肇 lạc thiên thai, ở nửa năm, nhớ nhà đòi về. Vì vậy từ này có âm điệu buồn bã. Bài từ này có 47 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 4 bình vận. Dưới đây là cách luật của Lý Dục 李煜:

X B X T T B B vận
X B X T B vận
X B X T T B B vận
X B X T B vận
  
X X T cú
T B B vận
X B X T B vận
X B X T T B B vận
X B X T B vận

2 Kim chưởng 金掌: vua Hán Võ đế 漢武帝 vì cầu trường sinh, xây Bách Lương đài 柏梁臺 (có bản chép là thần minh đài 神明臺) trong Kiến Chương cung 建章宫 ở Trường An 長安, trên đài có tượng 1 người tiên bằng đồng tay nâng 1 cái khay hứng những giọt sương. Bàn tay này gọi là “Kim chưởng”. Có người nói rằng chữ Kim chưởng ở đây là ám chỉ Kinh đô Biện Kinh 汴京.
3 Nhạn tự 雁字: đàn nhạn khi bay thường xếp thành hàng gọi là nhạn tự 雁字.
4 Lục bôi 绿杯: chén rượu mầu xanh lục, chỉ rượu ngon.
5 Hồng tụ 红袖: tay áo mầu hồng, chỉ mỹ nhân.
6 Sấn 趁: nhân dịp.
7 Trùng dương 重陽: tiết trùng dương vào ngày mùnh 9 tháng 9 âm lịch.
8 Nhân tình 人情: tình người.
9 Lan bội tử 蘭佩紫= Bội tử lan 佩紫蘭: đeo hoa lan tím trên nguời.
10 Cúc trâm hoàng 菊簪黃: cài hoa cúc vàng trên đầu.
11 Ân cần 殷勤: trong bài này có nghĩa là háo hức
12 Lý 理: luyện tập. Lý cựu cuồng 理舊狂: làm lại những việc không chịu câu thúc xưa.
13 Trầm túy 沉醉: say mèm.
14 Bi lương 悲涼: bi ai, thê lương, buồn thảm.
15 Thanh ca 清歌: ca hát.
16 Đoạn trường 斷腸: đứt ruột, buồn nát lòng.

Dịch Nghĩa

Bàn tay vàng ở chân trời hứng những giọt lộ, lộ đã ngưng tụ thành đám sương.
Giữa từng mây dài rộng, đàn nhạn xếp thành hàng bay.
Nhân dịp tiết trùng dương, mọi người vui chơi, nâng chén rượu ngon, mỹ nữ múa tay áo hồng.
Nhân tình ấm áp như ở cố hương vậy.

Thân đeo hoa lan tím,
Đầu cắm hoa cúc vàng.
Háo hức diễn lại những việc cuồng hoan xưa kia.
Muốn đem cơn say mèm đánh đổi sự buồn thảm thất ý.
Ca hát chớ hát những bài buồn làm nát cõi lòng.

Phỏng Dịch

Hãy Vui Hôm Nay


Kinh đô xa thẳm lộ thành sương.
Đàn nhạn vào mây khuất nẻo đường.
Rượu ngọt Trùng dương tay áo thắm,
Nhân tình ấm áp tựa quê hương.

Đeo lan tím cúc vàng cài tóc,
Háo hức theo xưa nếp sống cuồng.
Muốn đổi buồn đời say túy lúy,
Thanh ca chớ hát khúc thê lương.


HHD
 
2-2020
***
Bản Dịch:

Nguyễn Lang Quy


1-

Trời thẳm tay vàng móc tụ sương
Theo mây nhạn thành hàng
Chén xanh, áo đỏ tiết trùng dương
Tình người như cố hương

Đeo lan tím
Trâm cúc vàng
Nao nức diễn hoan cuồng
Muốn đem say khướt đổi bi thương
Ca hát tránh đoạn trường!


2-

Trời thẳm tay vàng móc hóa sương
Theo mây một giải nhạn chung đường
Rượu ngon áo đẹp trùng dương tiết
Ấm áp ân tình tựa cố hương!

Lan tím trên thân, trâm cúc hoàng
Hân hoan diễn lại việc điên cuồng
Muốn đem say khướt, bi thương đổi
Chớ hát bài ca gợi đoạn trường!


Lộc Bắc 
Dec 20

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Lâm Giang Tiên 臨江仙 – Án Kỷ Đạo



臨江仙 - 晏幾道 Lâm Giang Tiên – Án Kỷ Đạo


身外閒愁空滿, Thân ngoại nhàn sầu không mãn,
眼中歡事常稀。 Nhãn trung hoan sự thường hy.
明年應賦送君詩。 Minh niên ưng phú tống quân thi.
細從今夜數, Tế tùng kim dạ sổ,
相會幾多時。 Tương hội kỷ đa thì.

淺酒欲邀誰勸, Thiển tửu dục yêu thùy khuyến,
深情惟有君知。 Thâm tình duy hữu quân tri.
東溪春近好同歸。 Đông khê xuân cận hảo đồng quy.
柳垂江上影, Liễu thùy giang thượng ảnh,
梅謝雪中枝。 Mai tạ tuyết trung chi.

Chú Thích
1- Lâm giang tiên臨江仙: tên từ bài. Tên khác: “Uyên ương mộng鸳鸯梦”, “Tạ tân ân謝新恩”, “Nhạn hậu quy雁後歸”, “Họa bình xuân畫屏春”, “Đình viện thâm thâm庭院深深”. Bài này có 60 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 5 câu, 3 bình vận. Cách luật:

X T B B X T cú
X B X T B B vận
B B B T T B B vận
T B B T T cú
X T T B B vận

X T X B X T cú
B B X T B B vận
X B B T T B B vận
B B X T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Thân ngoại身外: ngoài thân mình ra. Thân ngoại nhàn sầu không mãn 身外閒愁空滿: Xung quanh ta đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng vô cớ, bản khác chép “Thân ngoại nhàn sầu không mãn nhãn 身外閒愁空滿眼: những mối sầu bâng khuâng trên đời đầy trước mắt”.
3- Không mãn 空滿 = sung mãn đầy rẫy.
4- Hy 稀: ít, hiếm. Bản khác chép “di 移: dời đổi”.
5- Ưng 應: nên, phải.
6- Phú 賦: ngâm vịnh.
7- Tống quân thi 送君詩: bài thơ tiễn anh ra đi.
8- Tế 細: kỹ lưỡng. Bản khác chép “ thí 試: thử”.
9- Sổ 數: đếm.
10- Tương hội 相會 = tương tụ 相聚: tụ họp, sum vầy.
11- Kỷ đa thì幾多時: có bao nhiêu thời gian.
12- Thiển tửu 淺酒: tiểu ẩm, uống ít rượu (cho vui). Thiển tửu dục yêu thùy khuyến: muốn uống ít rượu mà không có bạn nhậu mời mọc nhau. Bản khác chép “Thiển tửu dục yêu thùy cộng hoan 淺酒欲邀誰共歡: muốn uống rượu mà không có bạn cùng chung vui”.
13- Yêu 邀: mong cầu, cầu được.
14- Khuyến 勸: khuyến tửu 勸酒, mời mọc nhau uống rượu.
15- Đông khê 東溪: suối bên phía đông, phiếm chỉ nơi có cảnh đẹp.
16- Cận 近: gần, bản khác chép “Tận 盡: hết”.
17- Liễu thùy 柳垂: Cành liễu rủ xuống.
18- Mai tạ 梅謝: hoa mai tàn.
19- Tuyết trung ch i雪中枝: cành nằm trong tuyết phủ.

Dịch Nghĩa

(Bài này Án Kỷ Đạo làm để tặng người bạn trong yến hội)

Trên đời đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng,
Chuyện vui thường ít thấy.
Sang năm nên ngâm vịnh những bài thơ đưa tiễn anh.
Từ đêm nay sẽ kỹ lưỡng đếm,
Còn sum họp với anh được bao lâu nữa.

Uống rượu không có người bầu bạn mời mọc nhau,
Mối thâm tình chỉ có mình anh biết.
Dòng suối mé đông phong cảnh đẹp, mùa xuân sắp hết, tôi với anh hãy cùng đến chơi,
Xem nước phản ánh cành liễu rủ ven sông,
Xem cành mai tàn ẩn vùi trong tuyết.

Phỏng Dịch

Bạn Tâm Đầu


Thế gian sầu muộn vốn nhiều,
Chuyện vui chẳng thấy bao nhiêu trên đời.
Sang năm đưa tiễn anh rồi,
Từ nay đếm kỹ những ngày bên nhau.

Rượu ngon muốn uống bạn đâu?
Thâm tình chỉ có tâm đầu là anh.
Suối đông xuân hết tàn nhanh,
Cùng nhau xem liễu rủ cành nước trong.
Hoa mai vùi tuyết ven sông.


HHD 
12-2020
***
Bản Dịch:

Lâm Giang Tiên


1-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trong mắt chuyện vui ít có khi
Nên ngâm năm tới, tiễn quân thi
Từ đêm nay đếm kỹ,
Sum họp được bao kỳ

Chẳng ai mời chiêu chút rượu
Thâm tình chỉ có anh hay
Suối xinh xuân đến rủ nhau về
Trên sông bóng liễu rủ
Mai tàn cành tuyết che


2-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trước mắt chuyện vui ít có khi
Ngâm nga năm tới tiễn quân thi
Gặp bao kỳ, từ nay đếm kỹ

Muốn chút rượu say, ai mời nhỉ?
Thâm tình riêng chỉ có anh hay
Suối xinh, xuân lại đến xum vầy
Sông in bóng liễu, mai vùi tuyết
 
Lộc Bắc 


Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Phiếm Thanh Ba Trích Biến 泛清波摘遍 - Án Kỷ Đạo



泛清波摘遍 - 晏幾道 Phiếm Thanh Ba Trích Biến

催花雨小, Thôi hoa vũ tiểu,
著柳風柔, Trước liễu phong nhu,
都似去年時候好。Đô tự khứ niên thời hậu hảo.
露紅煙綠, Lộ hồng yên lục,
僅有狂情鬥春早。Tận hữu cuồng tình đấu xuân tảo.
長安道。 Trường An đạo.
鞦韆影裏, Thu thiên ảnh lý,
絲管聲中, Ty quản thanh trung,
誰放豔陽輕過了。Thùy phóng diễm dương khinh quá liễu.
倦客登臨, Quyện khách đăng lâm,
暗惜光陰恨多少。Ám tích quang âm hận đa thiểu.

楚天渺。 Sở thiên miểu.
歸思正如亂雲,Quy tư chính như loạn vân,
短夢未成芳草。Đoản mộng vị thành phương thảo.
空把吳霜鬢華,Không bả ngô sương mấn hoa,
自悲清曉。 Tự bi thanh hiểu.
帝城杳。 Đế thành yểu.
雙鳳舊約漸虛,Song phụng cựu ước tiệm hư,
孤鴻後期難到。Cô hồng hậu kỳ nan đáo.
且趁朝花夜月,Thả sấn triêu hoa dạ nguyệt,
翠尊頻倒。 Thúy tôn tần đảo.
 
Án Kỷ Đạo
***
Chú Thích:
1- Phiếm thanh ba 泛清波 là một bài hát dài. Trích biến 摘遍là cắt giảm đi vài đoạn điệp khúc. Phiếm thanh ba trích biến là tên bài từ do Án Kỷ Đạo sáng tác. Bài này có 106 chữ, 2 đoạn, đoạn trước 11 câu, 5 trắc vận, đoạn sau 10 câu và 6 trắc vận.

Cách luật:

B B T T cú
T T B B cú
B T T B B T T vận
T B B T cú
T T B B T B T vận
B B T vận
B B T T cú
B T B B cú
B T T B B T T vận
T T B B cú
T T B B T B T vận

T B T vận
B T T B T B cú
T T T B B T vận
B T B B T T B cú
T B B T vận
T B T vận
B T T T T B cú
B B T B B T vận
T T B B T T cú
T B B T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; cú: hết câu; vận: vần

2- Thôi hoa vũ 催花雨: mưa bụi vào đầu mùa xuân sẽ giúp cho hoa chóng nở.
3- Trước著: dựa vào, tiếp xúc với.
4- Phong nhu 風柔: trong bài này, có nghĩa là gió dịu êm của mùa xuân hay đơn giản là “gió xuân”.
5- Thời hậu 時候: khí hậu, thời tiết.
6- Lộ hồng yên lục 露红烟绿: giọt sương trên hoa và khói sương bao trùm cỏ xanh.
7- Tận hữu cuồng tình盡有狂情: tất cả tình cảm say cuồng. Bản khác chép “cận hữu僅有 chỉ có”.
8- Đấu xuân tảo 鬥春早: tranh lấy lúc chớm vào xuân (mà vui chơi).
9- Trường An Đạo 長安道: những con đường trong thành Trường An.
10- Thu thiên 鞦韆: cái xích đu.
11- Ty quản 絲管: đàn sáo, phiếm chỉ âm nhạc.
12- Phóng 放: ném bỏ.
13- Diễm dương 豔陽: ánh dương quang sáng láng mỹ lệ.
14- Quyện khách 倦客: người khách mệt mỏi, tác giả tự chỉ mình.
15- Ám tích 暗惜 = ám tự trân tích 暗自珍惜: kín đáo, ngầm, âm thầm quý trọng. Quang âm光陰: thời gian.
16- Sở thiên楚天: vùng trời phía nam sông Trường Giang, ngày xưa thuộc nước Sở.
17- Quy tư 歸思: nghĩ đến việc đi về (nhà, quê).
18- Đoản mộng vị thành phương thảo短夢未成芳草: Muốn nằm mơ thấy quê hương cũng chưa thành. Tác giả muốn dùng điển tích xưa, ông Tạ Linh Vận 謝靈運 ở xa nhà, đêm nằm mơ thấy người em họ ở quê là Huệ Liên 惠連. Sáng ra lúc tỉnh dậy ông nghĩ ra câu thơ “Trì đường sinh xuân thảo 池塘生春草”.
19- Ngô sương 吴霜: tóc bạc. Điển tích từ câu thơ của Lý Hạ李賀 đời Đường唐 “Ngô sương điểm quy mấn吴霜點歸鬢: sương ở đất Ngô điểm lên mái tóc lúc về”.
20- Hoa華: bạc trắng.
21- Thanh hiểu 清曉: buổi sáng sớm.
22- Đế thành 帝城: kinh thành nơi vua ở.
23- Yểu杳: xa xăm mờ ảo.
24- Song phụng雙鳳: đôi hài của nữ giới, mũi hài thêu con chim phụng. Trong bài này chữ song phụng ám chỉ người yêu của tác giả tức là nàng Tiểu Hồng小鸿.
25- Cựu ước 舊約: ước hẹn cũ với người yêu.
26- Cô hồng 孤鸿: Nàng Hồng cô đơn, chỉ Tiểu Hồng, 1 trong 4 người ca nữ có liên quan mật thiết với tác giả là Tần蘋, Vân雲 Liên蓮, Hồng鸿. (Chữ Tần 蘋, cũng đọc là bình, hoặc có khi viết là bình苹).
27- Sấn趁: thừa dịp.
28- Thúy tôn 翠尊: chén uống rượu bằng lục ngọc hay chạm lục ngọc, đại chỉ chén uống rượu tinh xảo.
29- Tần đảo頻倒: nhiều lần rót (rượu).

Dịch Nghĩa

Mưa bụi giúp cây chóng ra hoa,
Gió xuân mơn trớn lên cây liễu (làm cành lá chóng xanh),
Khí hậu mùa xuân năm nay cũng đẹp như năm ngoái.
Giọt sương (lộ) đọng trên cánh hoa hồng và sương khói (vụ) bao trùm cỏ xanh,
Mọi người đem hết tình cảm cuồng nhiệt tranh thủ chớm xuân (mà vui chơi).
Những con đường trong thành Trường An.
Hình ảnh những cây xích đu (lắc lư),
Thanh âm những buổi hòa nhạc sáo đàn,
Ai lại bỏ qua thời quang đẹp đẽ như thế này,
(Tôi là) người khách du ngoạn ngắm cảnh, mệt mỏi,
Có ít nhiều ân hận, âm thầm nghĩ đến thời gian quý trọng.

Bầu trời phương nam (đất Sở) bao la thăm thẳm.
Nghĩ đến việc về nhà chính rối bời như mây loạn,
Muốn được nằm mơ thấy về nhà cũng không thành.
Uổng để mái tóc nhuốm sương bạc trắng,
Tại sáng sớm tự bi thương.
Kinh thành xa vời vợi,
Không thực hiện được lời hẹn ước với người yêu mến,
Làm Tiểu Hồng cô đơn chờ đợi, tôi không đến được theo hạn kỳ.
Hãy thừa dịp (thưởng ngoạn cảnh đẹp) sáng hoa nở chiều trăng sáng,
Rót rượu chén quý (giải sầu).

Phỏng Dịch

Nhớ Quê


Mưa phùn giục giã hoa xinh,
Gió xuân nhẹ thổi lay cành liễu thưa.
Tiết trời vẫn đẹp như xưa,
Cánh hồng sương đọng, khói mờ cỏ xanh.

Yêu xuân đem hết nhiệt tình,
Vui xuân thỏa thích đường thành Trường An.
Xích đu lãng đãng bên đàng,
Âm thanh trầm bổng miên man sáo đàn.

Ai người nhẹ bỏ dương quang,
Tôi người du khách lỡ làng than van.
Âm thầm tiếc nuối thời gian,
Bao nhiêu buồn bã dặm ngàn quê hương.

Trời nam xa thẳm một phương,
Nhớ quê dằng dặc mây vương loạn trời.
Hằng đêm mộng mị rã rời,
Vẫn chưa thấy được mảnh đời làng xa.

Tóc xanh sương phủ mầu hoa,
Sớm mai soi kính mắt nhòa bi thương.
Đế kinh xa cách dặm trường,
Nhớ người thục nữ yêu đương đợi chờ.

Dần dà lỡ hẹn người mơ,
Phụ người chiếc bóng sững sờ bên song.
Thôi đành ngắm cảnh cho xong,
Trăng chiều hoa sớm, rượu đong chén đầy.


HHD 
10-2020

Bản Dịch:
Phiếm Thanh Ba Trích Biến


1-

Dục hoa mưa bụi
Gió xuân liễu đùa
Giống như năm trước, thời tiết tỏ
Sương hoa, khói cỏ
Tận hưởng cuồng tình xuân tranh thủ
Trường An lộ
Đu tiên hình ảnh
Thanh âm sáo đàn
Ánh dương đẹp trôi ai nỡ bỏ?
Khách mỏi đến thăm
Thầm quý môt thời hận lớn nhỏ

Rộng Trời Sở
Nhớ quê, lòng loạn như mây
Mộng ngắn chưa thành hương cỏ
Rượu uống bạc trắng tóc tai
Bi thương sáng tỏ
Thành xa quá
Dấu yêu hẹn cũ dần nguôi
Hồng đơn, hạn kỳ bỏ lỡ
Thừa dịp trăng đêm, hoa sớm
Rượu san chén quý

2-

Hoa mưa, xuân liễu lả lơi
Giống như năm trước tiết thời đẹp thay
Sương hoa, khói cỏ phơi bày
Tình cuồng tận hưởng, vui vầy sáng tinh

Trường An lộ, đu tiên hình
Thanh âm đàn sáo lung linh khắp đường
Ai đâu nỡ bỏ ánh dương
Đến thăm khách mỏi thầm thương một thời

Trời Nam xa thăm thẳm
Nhớ quê loạn như mây
Mộng về giờ chưa thỏa
Rượu uống bạc tóc tai

Bi thương từ sáng sớm
Kinh thành tận thiên thai
Hẹn cũ dấu yêu nhạt
Hồng chiếc đợi mong hoài

Nhân trăng đêm, hoa sớm
Chén quý rượu nghiêng chai!

Lộc Bắc
Dec20

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

Nam Hương Tử 南鄉子 - Án Kỷ Đạo



南鄉子 - 晏幾道     Nam Hương Tử - Án Kỷ Đạo

淥水帶青潮。        Lục thủy đái thanh triều.
水上朱闌小渡橋。Thủy thượng chu lan tiểu độ kiều.
橋上女兒雙笑靨,Kiều thượng nữ nhi song tiếu yếp,
妖嬈。                    Yêu nhiêu.
倚著闌干弄柳條。Ỷ trước lan can lộng liễu điều.

月夜落花朝。        Nguyệt dạ lạc hoa triêu.
減字偷聲按玉簫。Giảm tự thâu thanh án ngọc tiêu.
柳外行人回首處,Liễu ngoại hành nhân hồi thủ xứ,
迢迢。                    Điều điều.
若比銀河路更遙。Nhược tỷ ngân hà lộ cánh diêu.

Chú Thích:


1- Nam hương tử南鄉子: nguyên là tên một ca khúc của Đường giáo phường, sau dùng làm tên từ bài. Từ này có đơn điệu và song điệu. Song điệu từ có 56 chữ, đoạn trên và đoạn dưới đều có 4 bình vận. Cách luật:

X T T B B vận
X T B B T T B vận
X T X B B T T cú
B B vận
X T B B X T B vận

X T T B B vận
X T B B T T B vận
X T X B B T T cú
B B vận
X T B B X T B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Lục thủy 淥水: nước trong xanh.
3- Thanh triều青潮: nước xanh dâng cao.
4- Chu lan 朱闌: lan can sơn đỏ.
5- Tiểu độ kiều小渡橋: cây cầu nhỏ.
6- Song tiếu yếp 雙笑靨: đôi má lúm đồng tiền.
7- Yêu nhiêu 妖嬈: xinh đẹp tình tứ.
8- Lộng 弄: chơi đùa, nghịch.
9- Liễu điều 柳條: cành liễu.
10- Nguyệt dạ lạc hoa triêu 月夜落花朝: mượn câu thơ của Bạch Cư Dị 白居易trong bài từ “Nhất thất lệnh 一七令”:

“明月夜, 落花時 Minh nguyệt dạ, Lạc hoa thì.
“能助歡笑, 亦傷別離 Năng trợ hoan tiếu, Diệc thương biệt ly”. 

Đêm trăng sáng, Lúc hoa rụng.
“Có thể giúp vui cười, Cũng cảm thương nỗi biệt ly
”.

Án Kỷ Đạo đã đổi chữ “Thì” thành chữ “Triêu” để áp vận cho câu thơ.

11- Cũng có người nói chữ “Hoa triêu花朝” (đọc là “triêu = sáng sớm”) ở đây là chỉ “Hoa triêu tiết 花朝節”, còn gọi là hoa thần tiết 花神節, bách hoa sinh nhật百花生日 hay hoa thần sinh nhật 花神生日: lễ tiết vào ngày mùng 2, 12, 15, 22 tháng 2 âm lịch tùy theo địa phương, được cho là ngày sinh nhật của muôn hoa. Nếu hiểu theo nghĩa này thì chữ “Hoa triêu” hoàn toàn lạc lõng trong câu thơ và nguyên câu thơ “Nguyệt dạ lạc hoa triêu” cũng hoàn toàn lạc lõng trong toàn bài thơ.
12- Giảm tự thâu thanh 減字偷聲: từ điệu giảm bớt lời và tiết tấu.
13- Án按: chiếu theo.
14- Ngọc tiêu 玉簫: ống tiêu bằng ngọc, ống tiêu đẹp tốt.
15- Hành nhân 行人: người đi xa.
16- Hồi thủ 回首: quay đầu nhìn lại.
17- Điều điều 迢迢: xa xôi.
18- Nhược 若: như là.
19- Tỷ (bỉ) 比: so với
20- Ngân hà 銀河: dải ngân hà.

Dịch Nghĩa

Nước trong xanh dâng tràn.
(Trên bờ có) lan can sơn đỏ với cây cầu nhỏ.
Trên cầu có người thiếu nữ cười hai má lúm đồng tiền,
Xinh đẹp tình tứ,
Dựa lan can chơi đùa cành liễu.

Đêm trăng sáng và buổi mai hoa rụng. (là những lúc hoan tiếu hoặc thương cảm nỗi biệt ly)
(Thiếu nữ) án chiếu từ điệu bớt chữ, bớt tiết phách để thổi ngọc tiêu.
Người đi ở ngoài rặng liễu quay đầu nhìn lại,
Ở thật xa,
Như là còn xa hơn dải ngân hà (trên trời).

Phỏng Dịch:

Tiếng Tiêu Sầu


Nước xanh trong vắt dâng tràn,
Cầu ngang nho nhỏ lan can mầu hồng.
Trên cầu cô bé đứng trông,
Hồn nhiên hai má lúm đồng tiền duyên.
Đẹp xinh tình tứ dịu hiền,
Vin cành dương liễu nỗi niềm ai hay.

Đêm trăng, hoa rụng sớm mai,
Giúp người hoan tiếu, thương đời biệt ly.
Ngọc tiêu một khúc sầu bi,
Thoáng qua khóm liễu người đi đoạn trường.
Quay đầu nhìn lại buồn vương,
Ngân hà mờ ảo con đường xa xăm
.

HHD 
11-2020
***
Bản Dịch:

Nam Hương Tử


1-
Nước xanh dâng sóng triều
Trên nước, rào đỏ bé xinh cầu
Trên cầu, thiếu nữ hai má lúm
Đẹp sao
Đùa chơi cành liễu đứng dựa rào

Đêm trăng, hoa rụng nhiều
Giảm lời, bớt phách thổi ngọc tiêu
Rặng liễu người đi quay đầu lại
Dặm sâu.


2-
Nước xanh lục, triều dâng tràn
Trên hồ, cầu nhỏ lan can tô hồng
Trên cầu, má lúm tươi nồng
Đùa chơi cành liễu bên hông dựa rào

Trăng thanh hoa rụng biết bao
Giảm lời, bớt phách sáo gieo tiếng sầu
Người đi rặng liễu quay đầu
Quan san cách trở dặm sâu luyến tình!


Lộc Bắc
Dec20


Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2022

Lâm Giang Tiên 臨江仙 – Án Kỷ Đạo



臨江仙 - 晏幾道 Lâm Giang Tiên – Án Kỷ Đạo


鬥草階前初見, Đấu thảo giai tiền sơ kiến,
穿針樓上曾逢。 Xuyên châm lâu thượng tăng phùng.
羅裙香露玉釵風。 La quần hương lộ ngọc thoa phong.
靚妝眉沁綠, Tịnh trang mi thấm lục,
羞臉粉生紅。 Tu kiểm phấn sinh hồng.

流水便隨春遠, Lưu thủy tiện tùy xuân viễn,
行雲終與誰同。 Hành vân chung dữ thùy đồng.
酒醒長恨錦屏空。 Tửu tỉnh trường hận cẩm bình không.
相尋夢裡路, Tương tầm mộng lý lộ,
飛雨落花中。 Phi vũ lạc hoa trung.


Chú Thích:
1 Lâm giang tiên臨江仙: tên từ bài, gồm 58 chữ, 2 đoạn, mỗi đoạn 3 bình vận. Cách luật của bài này so với cách luật của Từ Xương Đồ 徐昌圖có chỗ tương đồng:


X T B B X T cú
X B X T B B vận
B B B T T B B vận
T B B T T cú
X T T B B vận

X T X B X T cú
B B X T B B vận
X B B T T B B vận
B B X T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần
2 Đấu thảo 鬥草: hay còn gọi là đấu bách thảo 斗百草là trò chơi của thiếu nữ và nhi đồng thời xưa trong dịp tết đoan ngọ端午, dùng 2 cọng cỏ móc vào nhau xem cọng nào đứt.
3 Xuyên châm穿針: vào lễ “Thất xảo tiết七巧節” nhằm ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, các thiếu nữ lển lầu cầu xin “Chức nữ織女” ban cho kỹ xảo dệt vải, may vá…
4 Tăng phùng曾逢: gặp nhau thêm (lần nữa).
5 La quần 羅裙: quần lụa, quần của phụ nữ.
6 Hương lộ 香露: sương đọng trên cỏ.
7 Ngọc thoa phong 玉釵風: ngọc thoa cài đầu của nữ nhân rung động trước gió.
8 Tịnh trang 靚妝: trang điểm kỹ càng.
9 Mi thấm lục 眉沁綠: chân mày tô vẽ mầu lục.
10 Kiểm phấn 臉粉= phấn kiểm粉臉: gương mặt thiếu nữ, mặt thoa phấn.
11 Lưu thủy tiện tùy xuân viễn 流水便隨春遠: nước chẩy theo tùy mùa xuân mà đi xa. Tác giả mượn câu thơ của Lý Dục 李煜 “Lưu thủy lạc hoa xuân khứ dã 流水落花春去也: nước chẩy hoa trôi xuân đi mất” để nói thời gian trôi qua đã lâu.
12 Hành vân行雲: trong bài này chữ hành vân chỉ người thiếu nữ được yêu mến không biết ở nơi đâu.
13 Chung 終: sau cùng, cuối cùng.
14 Trường hận長恨: mối hận dài
15 Cẩm bình 錦屏: bình phong bằng gấm, ám chỉ trong nội thất.
16 Tương tầm 相尋: tìm nhau.
17 Phi vũ 飛雨: mưa nhỏ, mưa bụi.

Dịch Nghĩa:

Lần đầu gặp nàng ở bậc thềm khi nàng chơi đấu cỏ với chúng bạn,
Lần nữa gặp nàng ở trên lầu trong lễ tiết cầu chức nữ xin kỹ xảo may dệt.
Quần lụa của nàng thấm những giọt sương cỏ. Thoa ngọc của nàng rung động trong gió.
Nàng trang điểm đẹp đẽ, chân mày thấm mầu xanh lục,
Khi gặp tôi, nàng e thẹn má phấn ửng hồng.

Dòng nước chẩy cũng như mùa xuân đã đi xa (Thời gian trôi đi),
Cuối cùng thì nàng đang ở nơi đâu, cùng với ai?
Sau cơn say, tỉnh rượu cảm thấy mối hận lòng dằng dặc, căn phòng trống không.
Chỉ còn tìm nhau trong cơn mộng,
(trong lúc ngoài trời) Hoa rơi lả tả dưới làn mưa bụi bay.

Phỏng Dịch

Lâm Giang Tiên - Người Xưa Nay Đã Về Đâu


Đấu thảo trước thềm mới gặp,
Xuyên châm lầu thắm trùng phùng.
Hạt sương quần lụa ngọc thoa rung.
Nhã trang mi phớt lục,
Má phấn thẹn ươm hồng.

Nước chẩy xuân tàn xa cách,
Người xưa nay với ai cùng.
Tỉnh say ôm hận chốn phòng không.
Tìm nhau trong giấc mộng,
Hoa bụi quyện không trung.


HHD 
2-2020
***
Bản Dịch:
Lâm Giang Tiên


1-

Lần đầu trước thềm đấu cỏ
Sau, cầu xin Chức nữ, tương phùng
Quần lụa sương thấm, thoa ngọc rung
Điểm trang mày xanh lục
Thẹn e, má ửng hồng

Nước chảy theo xuân xa thẳm
Mây trôi ai đã cùng chung?
Tỉnh rượu, hận dài phòng trống không
Chỉ tìm trong giấc mộng
Hoa rơi mưa bụi lồng!


2-

Lần đầu đấu cỏ trước thềm
Lần sau lầu thượng thấy em khẩn cầu
Quần sương thấm, thoa rung mau
Điểm mày xanh lục, má mầu hồng pha

Theo xuân nước chảy về xa
Mây trôi nay đã ai hòa tình chung?
Hận dài tỉnh rượu phòng không
Chỉ tìm trong mộng, mưa giông hoa tàn!


Lộc Bắc
Dec20