Không
kể thời tiểu học có giờ tập chép, cô đã bắt đầu tự nguyện bận rộn với
giấy bút từ khi chập chững vào trung học. Cô tập chép thơ, chép văn,
chép các danh ngôn... Cô ghi ghi, chép chép bất cứ thứ gì, cô nhìn thấy
mát mắt, cô đọc nghe êm tai. Cô còn có thời kỳ chép tranh nữa. Cô bắt
chước mấy ông họa sĩ của Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, vẽ các cô bé mắt to, tay
chống cằm, tay cầm cọng cỏ, hoặc vẽ các thiếu nữ dáng gầy guộc, trông cứ
như là những cây gậy biết suy nghĩ. Thuở mà cô chưa biết trái tim con
người nằm ở bên phải hay bên trái của lồng ngực, cô đã trích dẫn đâu đó -Trái tim là vật duy nhất, mà người ta có thể làm vỡ nhiều lần. Rồi cô lại sưu tầm câu khác - Con tim có lý lẽ riêng của nó, mà lý trí chẳng bao giờ hiểu được.
Thiệt ra, nào có phải cô thấm ý những câu nói ấy đâu. Mà, hình như cô
có tật “sính” chữ nghĩa có liên quan đến trái tim, con tim. Cứ vậy, cô
hay thơ thơ, thẩn thẩn với những ý tưởng gần xa, có dính dáng đến chữ
tim.
Biến
động 1975 xảy ra, khi cô đang năm cuối trung học đệ nhất cấp trường Nữ
Trung Học. Bấy giờ, ai nấy có cảm tưởng như đang bên bờ vực thẳm. Có bộ
ba chàng thanh niên hay đi chung với nhau đến quán cà phê nhà cô:
chàng-nhanh-nhẩu, chàng-trầm-lặng và chàng-tươi -vui. Họ là bạn trang
lứa với ông anh cô. Những ngày tháng đó, bao người trong tâm trạng nhấp
nhỏm, sắp sửa phải từ biệt quê nhà. Một chiều, chàng- nhanh- nhẩu đến
sớm, đến một mình, báo tin là chàng sẽ rời thị xã để đi thật xa. Chàng
hỏi, cô có lời nào cho chàng không. Thường, tính cô nghịch ngợm, có dịp,
là khuân ngay cái tủ đứng, kê vào miệng người ta, cho họ tắt tiếng
luôn. Nhưng hôm đó, không hiểu sao, cô chỉ hiền từ chúc chàng đi bình
yên, may mắn. Đến tối, chàng-nhanh-nhẩu trở lại quán, đi chung với bộ ba
như thường lệ. Chàng-trầm-lặng, thường ít nói, bỗng dưng bắt chuyện với
cô. Dường như chàng-trầm-lặng được lòng cô hơn, nhờ tính ít nói của
chàng. Chàng cũng đôi lời từ giã và hỏi cô có chúc gì chàng không. Vừa
lúc ấy, chàng-tươi-vui cười cười, góp lời chào. Chàng-nhanh-nhẩu cắt
ngang liền:
-Trễ rồi mấy ông bạn ơi!
Bao nhiêu lời chúc đẹp nhất của trái tim, cô ấy đã dành cho tôi rồi. Mà
mỗi người chỉ có một trái tim thôi mấy ông ạ!
Thấy chàng-trầm-lặng tiu nghỉu, trong khi chàng-nhanh-nhẩu đang nhơn nhơn, cô bèn thỏ thẻ:-Mỗi người chỉ có một trái tim. Nhưng mỗi trái tim lại có nhiều ngăn.
Thiệt
ra, cô chỉ muốn “cứu bồ” cho chàng-trầm-lặng thôi. Chứ lúc ở tuổi đó,
cô nào đã biết được chức năng của con tim đâu. Vậy mà, sau này, có lần
tình cờ gặp lại, nhanh-nhẩu-công -tử còn nhắc chuyện xưa. Rằng, thuở ấy,
chàng chỉ là một cậu bé mới lớn chưa hiểu đời. Mà nghe cô nói, tim cô
có nhiều ngăn, chàng rét quá. Bởi, ngay trong đời sống bình thường,
chàng đã cảm thấy vất vả tranh đua, nhưng vẫn thua kém bạn bè. Thì, dẫu
có may mắn chiếm được một ngăn nhỏ trong tim cô, trước sau gì chàng cũng
không giữ được. Cô đã cười khật khừ, bảo chàng: “Trời đất! Sao mà
nghiêm trọng hóa lời con trẻ”. Cô “tuyên bố” có vẻ ngông nghênh, vì hồi
đó cô có hiểu biết gì về tim đâu. Vì, kiểu điếc không sợ súng. Chớ tới
khi biết, thấy sự khác biệt giữa trái tim và quả tim, cô nào dám mau
miệng, lanh mồm như vậy.
Thời
gian vừa mới sau tháng tư năm 1975, không biết vì lẽ gì, tập thơ chép
tay của cô lọt vào mắt một ông thi sĩ bộ đội. Ông dán mắt trên những
trang của cuốn vở có bìa hình con nai, với các đường kẽ màu xanh nhạt.
Ông chăm chú đọc những câu thơ cô nắn nót:
"Yêu có phải là suốt đời níu giữ
Một điều gì không còn có ở trong tay
Yêu có phải là cần thay thế
Những cơn buồn vô cớ trong tôi..."
Sau bài thơ dài của Cao Thoại Châu, cô vẽ vài ba khúc cây ngoằn ngoèo, khẳng khiu. Rồi tiếp thêm mấy câu của Phùng Quán
"Yêu ai thì bảo rằng yêu
Ghét ai thì bảo rằng ghét..."
Ông bộ đội nhìn cô, đăm chiêu nhíu mày:
- Ối giời! Còn bé thế, mà sao lãng mạn quá...
Mặc dầu ngan ngán cái vỏ “cách mạng” của ông thi sĩ bộ đội, cô vẫn nghinh nghinh nhìn ông:
- Thứ nhất, tui không phải bé thế. Thứ hai, lãng mạn thì đã sao!
Nói
cho ngay, ông bộ đội gắn nhãn lãng mạn cho cô là hơi hố. Thật ra, cô
chép mấy câu thơ, vì cô nghe êm tai. Chứ cô đã có yêu hồi nào đâu, mà
đòi định nghĩa này nọ...
Dù đã “trang
bị” cho mình bao nhiêu là văn xuôi, văn vần của cổ kim đông tây, nhưng
trái tim cô dường như chỉ biết “học”, chứ chưa biết “hành” những kiến
thức về hoạt động của trái tim.
Một hôm, nhỏ bạn cùng lớp, rù rì:
-Ông bạn của ông anh tao đó, ổng biểu tao đưa bài thơ này cho mày nè.
"Em rực rỡ giữa phố chiều đô thị
Mỉm môi cười thơm ngát nụ tin yêu
Đời mở cửa và thiên đường mở cửa
Em đã vào xao xuyến biết bao nhiêu
....
Giờ đã biết tim em bằng đá cuội
Buổi quay về sám hối nhuộm vàng tay
Ngồi thật lâu bên tách cà phê cuối
Xin vẫy chào khói ảo vọng bay bay"
(Trầm Thụy Du)
Cô đọc, cười khúc khích với nhỏ bạn:
-Mày coi, tao có cần đi bác sĩ chụp quang tuyến, coi thử tim tao bằng đá cuội trắng, cuội vàng, cuội xám...
Nhỏ bạn, (chắc hơi bực bực giùm cho ông bạn của anh mình), lườm cô dài ngoằng, gắt:
-Khỉ đâu không! Ảnh nói thiệt, mà mày còn giỡn gì đâu à.
Cô
không trả lời, trả vốn với nhỏ bạn, để nó về trình lại với ông anh. Cô
cũng không kể cho nó nghe, rằng, cô đã gò bút trong màu mực tím, chép
bài thơ của “ảnh” vào cuốn tập của cô. Đọc lui, đọc tới bài thơ, cô
nghe, hình như những viên cuội trong tim cũng có lao xao...
Những
năm tiếp theo đó, nhiều biến động không ngừng của cuộc sống đã buộc cô
xao nhãng thú vui ghi chép của cô. Cô bước lên xe hoa khi tuổi cô được
một phần tư thế kỷ. Cô hết là cô bé mơ mộng, thơ thẩn. Cô yên vui chuyện
nhà. Cô thôi không chép thơ. Cô không còn tẳn mẳn, tìm tòi các danh
ngôn có chữ tim. Nhiều năm, cô chẳng quan tâm đến “sinh hoạt” của trái
tim cô. Nếu có, họa chăng, cô để ý đến những lời khuyên của bác sĩ, để
giữ cho quả tim khỏe mạnh mà thôi. Thỉnh thoảng bạn bè nhắc chuyện ngày
xưa. Cô nghe hờ hững. Có lúc như muốn buột miệng hỏi: “Ủa, mày chắc
không? Cái con nhỏ mà mày đang diễn tả nãy giờ là tao hả? ” Cuộc sống
của cô êm thắm, đơn giản. Cô hình như nhuần nhuyễn chia động từ “sống” ở
thì hiện tại và tương lai. Thật ra, quan niệm sống của cô chẳng hề liên
quan đến những kế hoạch năm năm, mười năm vớ vẩn của thời cô xất bất
xang bang chạy gạo ở quê nhà. Cuộc sống nơi quê người hối hả quá. Cùng
chồng con, cô lăng xăng với những dự tính đường gần, đường xa trước mặt.
Bao giờ trả dứt nợ mua nhà. Bao giờ con cái học hành xong. Thậm chí,
bao giờ cô sẽ lên chức bà nội, ngoại...
Tình
cờ cô gặp một người quen xưa. Gọi là người quen, nhưng chỉ là quen...
một chiều. Cô mù tịt, không thể nhớ anh là ai trong cái thị xã bé tí,
nơi cô đã sống thời thơ ấu gần bốn thập niên trước. Nơi xứ lạ, có người
nhắc đến quê nhà, bỗng nhiên, cô nao nao tiếc nuối vẩn vơ. Anh biết cô,
biết gia đình cô, biết bạn bè cô. Hỏi ra, anh và cô có rất nhiều kỷ niệm
chung ở chốn xưa xa lắc, xa lơ đó. Hỏi ra, anh nhớ những bài thơ mà cô
vẫn còn thuộc lòng. Hỏi ra, những bài hát anh thích là những lời nhạc cô
thương. Giữa những bận rộn của hành trình vào tương lai cô đã vạch sẵn,
cô chậm chân, lắng nghe con tim mình như có những nhịp nhộn vui, bất
ngờ. Qua những lời kể của anh, cô như thấy lại những ngày tháng thật êm
đềm trong không gian thân thiết. Nơi đó, hầu như ai cũng quen biết nhau.
Bởi thế, có người dám đùa rằng, dân cư của thị xã này, nếu không là bà
con họ hàng, thì hẳn là... bồ nhau. Thuở đó, nữ sinh chỉ măc áo dài khi
đến trường trung học. Đi học thêm, đi công chuyện, đi chợ... thì các cô
bé thường mặc đồ bộ. Quần tây, áo sơ mi chỉ mặc vào dịp tết hoặc đi dự
đại tiệc. Anh kể, anh hay thấy cô đi ngang qua nhà anh, trên đường đến
các lớp ngoại ngữ học thêm buổi tối. Cô không xuất hiện vớitóc dài tà áo vờn bay, mà gọn gàng trong trang phục của đồ bộ- áo quần may cùng loại vải. Thời trang hiện đại, người ta có thể lầm tưởng đồ bộ làpyjamas,
áo quần mặc ngủ. Nhưng thời của cô, được mặc đồ bộ thay thế áo đầm, là
đã có cảm tưởng mình sắp sửa làm người lớn. Đáp lễ với các câu chuyện
“cổ tích” của anh, cô thỉnh thoảng kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Nhớ đến
đâu, kể đến đó. Cô nghĩ, giống như giờ tập làm văn. Hồi nhỏ, cô giáo ra
bài tả cảnh ngày khai trường, tả người nông dân. Bây giờ, cô ghi lại
cảnh ngày cô bỏ trường mà đi, cô tả anh hàng xóm... Cô huyên thuyên kể
chuyện trường lớp ngày xưa. Cô tưởng anh sẽ vỗ tay tán thưởng, khen cô
tập làm văn giỏi. Mà sao cô chẳng nghe anh ừ hử như thường lệ. Cô khựng
lại, ủa sao vậy. Anh lừng khừng:
-Anh nghẹn.
Cô hỏi han:
-Có đau ốm, cảm cúm gì không?
Anh không trả lời câu hỏi, mà lại uể oải cắt nghĩa:
-Tiếng Hán có chiết tự, tiếng Việt của mình cũng vậy đó.
Cô
chống cằm suy nghĩ. Sao hè, để coi, mình thử chiết tự. Sau một hồi mằn
mò, lật xuôi, lật ngược mấy con chữ, cuối cùng cô nghe như mình đang lẩm
nhẩm đánh vần lúc còn học...mẫu giáo. Anh- nờ- ghen- nặng nghẹn. Cô vội
lập cập đính chính:
-Ui thôi mà! Chấp nê chi ba cái chuyện trời ơi đất hỡi hồi còn nhỏ dại.
Rồi
lâu lâu, cô sực nhớ chuyện này, chuyện nọ, người ấy, người kia... Cô rỉ
rả kể tiếp. Nghĩ, mình như người viết sử. Nhớ sao, biết sao thì kể vậy,
thuật nhi bất tác. Chớ cô có hề sử dụng chiến lược, chiến thuật “cách
sơn đả ngưu” gì đâu. Cô đang đều giọng đọc sử, anh bỗng ra dấu cắt
ngang. Anh xưng là Gã Khờ Đến Chậm. Ủa, anh đổi tên họ hồi nào vậy kìa.
Cô chưa kịp nêu thắc mắc của mình về chuyện danh xưng của anh, thì lại
nghe lời bàn của anh về công việc “sử học” của cô.
"Em đa tình lắm nên anh chẳng,
Có được ngăn nào trong tim em.
Em vô tình quá nhưng anh vẫn,
Kiên nhẫn nghe em kể chuyện tình."
Ôi chao, ngó bộ cô làm ơn mắc oán rồi. Cô suy nghĩ lung lắm.Cô
chợt nhớ mẩu đối thoại có liên quan đến trái tim của mấy thập niên
trước. Ô, hình như hồi đó cô tiên đoán đúng. Trái tim cô có rất nhiều
ngăn. Có những ngăn lớn cô dành cho đại gia đình và tiểu gia đình của
cô. Rồi lủ khủ bao nhiêu ngăn cho bạn bè, người quen, (cho dù có ông
nhạc sĩ rất nổi tiếng, đã ưu tư rằng "triệu người quen biết mấy người thân").
Bỗng nhiên, cô phát giác ra mình có cái tật mê chuyện ngày xưa. Mà đã
là tật, đâu bao giờ bỏ được. Nghe anh thuật chuyện, hồi đó thế này, hồi
đó như vầy... Cô thương thương cái con bé ngày ấy trong bộ đồ ca-rô
nhuyễn mầu xanh da trời, có nút vải thắt hình con bướm. Cô như thấy con
bé đang bước vội trên con đường chính của thị xã, đường Quang Trung.
Trong nhà bước ra, đi hoài phía tay phải sẽ thấy sông Trà Khúc. Đi miết
phía bên trái sẽ thấy sông Vệ. Con bé đi dọc bao nhiêu cửa hiệu. Nào là
nhà sách, tiệm thuốc tây, tiệm tạp hóa, nhà may... Con bé cẩn thận băng
qua đường ở ngã tư chính, rồi đi qua nhà anh. Con bé rẽ vào đường Võ
Tánh, rảo bước cho kịp giờ học tối. Có lẽ, anh chẳng hề huýt sáo, gây sự
chú ý của con bé. Mà thuở ấy, anh cũng chưa biết đến bài hát" chàng lặng đi theo nàng hát vu vơ mấy câu nhạc tình."Cho nên, nhiều ngày tháng đi trên con đường đó, ngang qua nhà anh, cô chưa lúc nào bối rối vì ánh mắt trông theo...
Bỗng nhiên, trong trí cô vang lên những lời nhạc tuyệt vời...
"Con tim tha hương thiết tha mong chờ Một nhịp cầu duyên nối qua đôi bờ..."
Cô ngồi yên thật lâu. Trái tim nhiều ngăn của cô như đang chông chênh lỡ nhịp...
Có đến, con đường đó, trao dùm đôi lời Rằng phương xa, vẫn nhớ, một người ...
Đàn em cũng thích chụp các con chim, châu chấu, chuồn chuồn, bướm…mà mỗi năm chụp được trong khoảng tháng 7, tháng 8 là em rất vui mừng. Vì biết biết các loại sinh vật này không phải dễ thấy, mà nếu chúng bay trở về lại vườn minh, tức là chúng chưa bị tuyệt chủng, và chắc vườn mình có cái gì làm chúng vẫn lui tới như bao năm trước.
Em xin gởi đến anh và quý vị hình con chuồn chuồn, con thứ nhất thuộc lọai chuồn chuồn kim có màu đen và xanh lục, chụp cuối tháng 7,năm 2018; con thứ hai màu vàng, lớn hơn và thường hay bay đàn, chụp tháng 8, năm 2020. Cách xếp đặt 4 cánh có khác nhau, 4 cánh của chuồn chuồn kim xuất phát từ 1 chổ, y như cánh quạt của máy bay trực thăng, và cái đuôi khá dài so với cái đầu và ngực/bụng. Còn với con chuồn chuồn màu vàng cam, 1 cặp cánh ở phía trước, 1 cặp ở phía sau.
Hình Ảnh: Vũ Quí Đài & Vĩnh Chánh
***
Chuồn Chuồn Ớt
Chuồn xanh, chuồn tím, chuồn vàng. Bắt được một đống nhưng nàng chẳng ưa. Trời buồn, trời đổ cơn mưa Run run tay cóng em chưa có chồng! Bỗng dưng tóm được chuồn hồng Cái đuôi ớt đỏ, cay nồng em ưng Động lòng chẳng thể dửng dưng Ngoài trông nhỏ bé, sánh cùng thép gang!
Mẹ đã mất từ lâu Chưa một lần chiêm bao thấy bóng mẹ Có lẽ ngày còn bé Mẹ nghiêm khắc nên lớn rồi vẫn sợ mẹ Lúc bé ở làng quê Roi vọt như cơm bữa Kịp khi ra Chợ Thủ Con lớn nên không nỡ roi vọt Nhưng không ngớt răn dạy Nhưng cũng có một lần Mẹ đang nằm bịnh Bà nội lại dằn thúc Mẹ giận lẩy bà mới kêu con lại Đứng kế bên giường nghe mẹ dạy Bất đồ nắm chặt tay con Tay kia rút phăng khúc củi gộc Phang liên tu bất tận Ai biết tính con bằng mẹ Mẹ biết con bề ngoài nhu thuận Bề trong cứng đầu ngỗ nghịch Nên cam chịu tiếng ác để răn dạy Cha mẹ sinh con trời sinh tính Biết vậy nhưng vẫn gắng sức Toan sửa tính cho con Cho con được thành nhơn Như lòng mong mỏi của mẹ Khi đặt tên con là Thành Nhơn Mẹ vốn là thôn nữ Chữ nghĩa đâu bao nhiêu Chỉ dạy con hai điều: Một là không được dối trá Hai là sống theo nhân nghĩa Chỉ có bấy nhiêu thôi Nói là nói vậy thôi Con mẹ cũng lớn rồi Vẫn nhớ lời mẹ dạy Không dám dối trá cầu lợi danh Cũng chuộng điều nhân nghĩa Chỉ khi nào lạng quạng Dấu để mẹ khỏi buồn Thật không dám dối trá Nhưng tới lần lập gia đình Mới thật là khổ não Biết con vì mối tình si Đang rơi vào cơn gió xoáy Bao nhiêu điều ngang trái Lại sợ con bị hại Thương con đứt ruột mà chẳng biết làm sao! Chỉ biết nhìn con ngơ ngẩn lặng thinh Ngày nay tuổi bảy lăm Những đêm nằm thao thức Muốn nghe lại lời mẹ một lần Không làm sao được nữa Mẹ mất đã từ lâu Nhờ ơn Mẹ mới Thành Nhơn
Đời Là Muôn Sắc
Đời tôi vốn dĩ muôn màu
Như cầu vòng ngự trên cao tuyệt vời
Tuổi thơ trong TRẮNG ai ơi
Hồn nhiên ca hát rong chơi suốt ngày
Đôi chín dài áo tóc bay
Tình HỒNG mộng ước ngày mai chung đường
Thư XANH trao nhận cổng trường
Ôi ! thời đẹp nhứt vấn vương nhớ hoài
Rượu nồng pháo ĐỎ theo ai
Tình đầu không vẹn cả hai lỗi thề
Trời buồn Phượng TÍM nảo nề
Mây như mang sắc XÁM về nhớ thương
Thế rồi làm kẻ ly hương
Buổi đầu ĐEN đủi tự thương thân mình
Lắm khi LAM lũ mưu sinh
Tũi thân lệ nhỏ nặng tình cố hương
Nhưng đời không sắc chán chường
Phải muôn màu mới gắng vương với đời
Áo NÂU chỉ mặc một thời
Cố công chịu khó chớ CAM số phần
Hãy tin tưởng vào bản thân
Lúa VÀNG ta gặt đời dần sáng tươi
Bây giờ đã có nụ cười
Sắc màu đã thắm một đời nhân sinh
- Cưng ở nhà ngoan nhé, con không được phá mẹ nhé. Hôm nay Thứ Sáu em khỏi nấu cơm, chiều anh về đưa em đi ăn rồi chúng mình đi nghe nhạc nghe em.
- Anh ơi, không phải lo cơm nước vậy em sang nhà Trang chơi, tiện thể học may quần áo cho bé nha! Trang có mấy mẫu quần áo và mũ trẻ con đẹp lắm. Anh về ghé nhà Trang đón em. Hay mình rủ vợ chồng Trang đi chơi luôn. Được không anh?
Khương lấy ngón tay quẹt quẹt lên chiếc mũi xinh xinh của vợ đang ngước lên đợi câu trả lời:
- Được rồi, có đi thì em sửa soạn đi cho sớm, đừng có lừng khừng mà mất bớt thời gian chơi với bạn đấy. Anh xong việc sẽ ghé nhà cô Trang đón em.
Ngọc đợi chồng vào hẳn trong xe, nổ máy rồi mới vẫy tay chào, quay vào nhà. Sau đám cưới Ngọc dọn về căn nhà này, ngôi nhà nhỏ, xinh xắn nằm trên đường Trần Khánh Dư, quận 1. Hai cây bông giấy đầy hoa tím bao phủ gần hết hàng rào song sắt cao với hai cánh cổng lớn trước nhà. Tiếp đến một sân vuông lót gạch tàu, sát vách hai bên hàng xóm có chừa lại một dẻo đất để trồng những cây hoa hồng, dâm bụt, thủy trúc, xen lẫn những đám hoa mười giờ, mào gà, bông dừa, cúc vàng, cúc tím thật vui mắt. Góc sân, gần hàng rào, chừa lại một ô đất vuông vừa để trồng một cây bông sứ lớn, hoa vàng, cành lá xum xuê đủ để làm mát mảnh vườn con. Qua cửa ra vào, bên trái, phòng khách bày bộ sa lông bọc vải màu cà phê sữa, từ đấy Ngọc có thể ngồi nhìn qua khung cửa sổ lớn, một khoảng trời xanh, một mảnh vườn nhỏ để thấy thanh thản tâm hồn.
Ngọc vừa thay quần áo vừa nghĩ đến Trang mà bật cười, nhớ lại hôm Ngọc đến báo tin, mời Trang đi dự đám hỏi của nàng. Trang đã tròn xoe mắt ngạc nhiên vì Ngọc đã quyết định nhanh quá và chàng rể lại là người xa lạ hoàn toàn. Trang đã đấm Ngọc thùm thụp, trách Ngọc sao kín tiếng, trong khi Trang có gì vui buồn cũng nói cho Ngọc biết. Quả thật là oan cho Ngọc, mọi chuyện diễn tiến nhanh chóng như có người sắp đặt, chính Ngọc cũng ngỡ ngàng. Khoảng thời gian đó bao nhiêu chuyện rắc rối, Vi hủy đám cưới, Linh bận rộn theo chồng về nước, Trang khổ sở vì chuyện làm dâu, chỉ có Kim Chi tương đối rảnh rang còn hay đến thăm bạn thì cô nàng lại bù đầu lo sửa soạn đi Mỹ vì vớt được một cái học bổng ngon lành. Các bạn chả còn một kẽ hở nào để cho nàng kể lể.
Một buổi chiều trong niên học cuối, mới thi xong một môn thực tập, Ngọc đi tắm ra, ngồi buồn thiu nhớ các bạn, cả nhà lại đi vắng, nàng đến ngồi trước chiếc Piano, dạo lại bản Moonlight Sonata mà cả năm không dợt. Ngọc như thả hồn vào tiếng nhạc, những ngón tay thoăn thoắt lướt trên phím ngà. Khi tiếng đàn vừa dứt Ngọc nghe tiếng chuông cửa vội vàng chạy ra. Cửa mở, một người đàn ông trẻ cao ráo, thanh lịch, ôm một gói quà trên tay như đứng đấy tự bao giờ. Cặp mắt to, đen, thật sáng nhìn nàng như cuốn hút:
- Xin lỗi cô, phải đây là nhà cụ Tham Minh?
-Dạ phải. Thưa ông, cha mẹ tôi đi vắng.
-Cô Bích Ngọc?
Người Ngọc nóng ran. Chàng tiếp:
-Xin lỗi cô, tôi hơi đường đột. Tôi là Khương, bạn anh Quân bên Pháp. Nhân dịp tôi về nước, anh Quân có gửi tôi đem quà về biếu hai cụ. Cô cũng có nét giống chị Nga. Ở bên ấy chúng tôi rất thân nhau, đến chơi với nhau luôn, thỉnh thoảng cũng nhắc đến những người thân.
Chàng ngập ngừng:
- Cô Ngọc ạ, tôi đứng say sưa thưởng thức tiếng đàn, đợi dứt bản nhạc tôi mới dám bấm chuông. Cô đàn hay lắm.
Ngọc ngượng chín cả người, à thì ra anh chàng nghe lén. Ngọc lí nhí:
- Mời anh Khương vào nhà chơi, anh làm Ngọc mắc cỡ quá, cả năm nay Ngọc không đụng tới cây đàn.
Buổi hội ngộ đầu tiên như thế. Sau khi tiễn khách ra về Ngọc chạy ngay vào phòng len lén nhìn mình trong gương. Sao hai má như hồng hơn, cặp mắt như sáng long lanh. Nhìn xuống thân mình, may quá, hôm nay nàng mặc bộ quần áo lụa trắng tươm tất. Quăng mình xuống giường, vùi đầu trong gối…Tại sao mình lại xao xuyến thế này. Tại sao choáng váng như mới nhấp một ngụm rượu ngọt ngày xuân. Tại sao ta lại ngây ngất, ngất ngây. Phải chăng Tiếng Sét Ái Tình.
Có tiếng nói như từ tiềm thức vang lên trong đầu Ngọc, “Này này, chỉ chọn trong những người đã chọn mình. Biết người ta có nghĩ đến mình không mà tơ với tưởng”
Những ngày sau đó Khương thỉnh thoảng đến chơi, đàm đạo với cha của Ngọc. Ngọc là con gái út, có ba anh, hai chị. Ngoài anh Quân và chị Nga đang ở bên Tây, Ngọc còn hai anh và một chị nữa đã lập gia đình. Biết cuối tuần các anh chị thường về thăm cha mẹ và cùng nhau xoa Mà Chược cho vui, Khương cũng hay đến tham dự và làm thân với cả nhà. Có dịp nhìn kỹ hơn Ngọc thấy Khương thật vạm vỡ, nước da nâu hồng khỏe mạnh, chiếc cằm hơi bạnh, cương nghị, miệng cười tươi với hàm răng trắng bóng. Hình ảnh của chàng khác hẳn với hình ảnh người trong mộng của nàng, người đàn ông trong mộng của nàng phải thanh mảnh, hào hoa phong nhã, đẹp trai như Alain Delon hay Anthony Perkins; khác hẳn hình ảnh lần đầu tiên nàng gặp, hôm ấy nàng chỉ nhớ hình dáng cao lớn và cặp mắt to đen. Có thể khi đến chơi thường chàng mặc quần áo kiểu thể thao, quần jean, áo thun nên những bắp thịt rắn chắc mới lộ ra.
Ngày cả nhóm học chung ở thư viện cùng đỗ ra trường, Hùng giữ lời hứa thết cả nhóm đi nghe nhạc ở phòng trà, thay vì đi “Đêm Màu Hồng” Hùng đổi ý đưa các bạn vào “Queen Bee”. Thì ra “Ba Trái Cà” muốn thưởng thức tài nghệ “Ba Trái Táo”! Khi Lệ Thu lên sân khấu với “Ngậm Ngùi”, tiếng hát thật nồng nàn, tha thiết: “Tay anh em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…”, tiếng nói của Hùng như rót nhẹ vào tai: “Hùng yêu cầu bài này để tặng Ngọc, để kỷ niệm ngày hôm nay”. Ngọc hơi sững người nhưng cũng bình tĩnh trả lời ngay: “Cám ơn Hùng, Lệ Thu hát bài này hay lắm”. Ngọc bâng khuâng nhớ Khương, sao người nói câu này không phải là Khương, nếu là chàng thì Ngọc đã nép vào người chàng, tựa đầu lên cánh tay chàng thay cho câu trả lời. Bằng linh cảm của một người con gái Ngọc biết Nguyên và Hùng có cảm tình đặc biệt với nàng. Học chung, cùng nhóm thực tập nên cả ba rất thân nhau, giúp đỡ nhau ngay những khi cần thiết. Ngọc rất quý Hùng và Nguyên nhưng chỉ là bạn thế thôi. Vượt qua giới hạn ấy rất khó. Ngọc vẫn nhớ hình ảnh của các chàng từ khi mới vào năm thứ nhất, những cậu học sinh mới rời Trung Học, mỗi sáng chực sớm ở cửa giảng đường để ùa vào, huých nhau giành chỗ. Những lúc sau buổi thực tập, mắm môi, mắm lợi rửa chai, rửa lọ. Những hình ảnh ấy như ăn sâu vào đầu óc Ngọc. Dù bây giờ các chàng đã là những ông Dược Sĩ bảnh chọe như ai, Ngọc vẫn chỉ coi như bạn và chỉ là bạn mà thôi.
Sau khi ra trường, việc giới thiệu anh Trí cho Ngọc không xong, Hà cũng tổ chức những bữa cơm thân mật gia đình, tạo cơ hội cho Ngọc gặp Tuấn, bạn của chồng Hà. Anh Tuấn cao ráo, bảnh trai, bác sĩ quân y, đã qua giai đoạn phải ra chiến trường nguy hiểm, phải chạm trán với hòn tên mũi đạn. Tuấn đã được đổi về làm việc tại khu tương đối an toàn nơi hậu cứ. Thật là một người lý tưởng, đủ điều kiện cho các cô gái kén chồng. Sao Ngọc vẫn thấy dửng dưng, không hề cảm xúc. Có thể Ngọc thấy có điều gì đó không hợp chăng hay là tại chưa đúng duyên, đúng số.
Ngồi trên xích lô đến nhà Trang, lại suy nghĩ miên man, Ngọc thấy mình thật diễm phúc, đã tìm được chốn nương tựa bình an. Sau mấy tháng qua lại, Khương đã đưa mẹ chàng đến chơi và hai cụ bà cũng rất tương đắc. Cha Ngọc biết ý cũng đã viết thư hỏi anh Quân rõ về tính nết và cuộc sống bên Pháp của Khương. Khi mẹ Khương nhờ người đánh tiếng thì cả nhà bỏ phiếu thuận, cha mẹ chỉ đợi sự đồng ý của Ngọc. Tiếp đến, bắt đầu vào niên học Khương được chính thức dạy tại trường Đại Học Khoa Học và một số giờ tại trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Ngọc nhận lời đứng tên cho một dược phòng tại một làng nhỏ ở Châu Đốc, nhận cuốn chi phiếu của họ để mỗi tháng tự ký tiền lương cho mình. Đời êm như mơ, đẹp như một bài thơ. Đám cưới Ngọc đã gần một năm, cái bụng tròn xoe đã hơn sáu tháng.
Tiếng giép lẹp xẹp trong nhà, bà cụ mẹ Tâm thò đầu ra, Ngọc cất tiếng chào:
- Bác ạ! Thưa bác Trang có nhà không ạ?
- Cô vào chơi, mẹ nó sang hàng xóm có tí việc. Cô đợi một tí, mẹ nó về ngay bây giờ.
Bà cụ kể lể:
Cô Tư bên cạnh nhà nhờ mẹ nó sang bắt hộ mấy cái bông kem để trang hoàng chiếc bánh sinh nhật của con cô ấy. Mẹ nó bắt mấy bông hồng đẹp lắm cô ạ. Cô ấy thấy chiếc bánh hôm sinh nhật thằng cu Bi nên nhờ.
Bà gọi cu Bi lại ôm vào lòng, hai bà cháu bi bô biểu diễn:
- Dạ cu Bi.
- Dạ
- Con mấy tuổi?
- Con lên hai.
- Con tuổi gì?
- Con tuổi Tý.
- Con cầm tinh con gì?
- Con cầm tinh con chuột chuột.
Tiếng thằng bé kéo dài chữ “chuột”. Hai bà cháu ôm nhau rúc rích cười. Thật là cảnh gia đình hạnh phúc. Ngọc rối rít khen thằng bé. Nét mặt cụ toát ra nỗi hãnh diện, sung sướng.
Ngọc ngồi hầu chuyện với cụ một lúc thì Trang về, chào mẹ chồng rồi kéo Ngọc lên lầu.
- Ngọc nè, ta mới có bầu, hai tháng rồi đấy!
- Mắn dữ nha, mà thằng cu Bi hai tuổi rồi mi sanh thêm cũng phải, cho nó có anh có em.
- Mi nói y như bà nội thằng cu Bi vậy. Cụ nói mợ có đẻ thì đẻ luôn một lèo, bận luôn một thể, tôi còn khỏe tôi trông cho. Ta chưa thấy ai yêu cháu như cụ. Trời ơi, cụ mê thằng cu Bi hết biết, ông Tâm cũng ra rìa.
- Mi với cụ hồi này sao?
- Huề!
- Giỏi! Sao em giỏi quá vậy? Chuyện gì xẩy ra mà lật ngược thế cờ vậy, kể coi!
- Từ ngày sanh thằng cu Bi, cụ mê cháu, hết dòm ta. Ta ra trường có lương nữa. Ta mướn luôn hai chị người làm cho cụ tha hồ sai bảo. Nói nào ngay mẹ và chị Trâm cũng “giáo dục” ta kỹ lắm, lúc nào cũng “Một sự nhịn chín sự lành”, chị Trâm sang chơi luôn, quà cáp biếu xén cụ, chịu khó ngồi nghe cụ tâm sự, rồi lại xin lỗi cụ vì ta là con út được nuông chiều nên…hư…Cụ quay lại bênh ta mới đã chứ, cụ cũng nhận là cụ hơi nóng nảy vô lý…
- Hay nhỉ!
- Nghĩ lại ta cũng quá đáng thật. Đi, về không xin phép lại còn cãi bướng. Bây giờ ta không cãi thì cụ không mắng mà cụ không mắng thì ta có gì để cãi…Hì hì …triết lý sống đấy em ạ.
- Giỏi! Còn gì nữa, nói tiếp!
- Hê, hồi này ta nấu ăn giỏi, làm bánh khéo lắm nha.
_Ờ, cụ nói mi sang hàng xóm trang hoàng bánh sinh nhật?
_Ừ, em mới lấy chồng, em lo du dương với chàng, em đâu có đến chơi với bạn bè đâu mà biết, mẹ ta nhờ cô Thế, bà cô giỏi gia chánh nhất họ dạy ta. Cô nói học ra Dược Sĩ mới khó chứ nấu nướng, cỗ bàn dễ ẹc, cháu mà để ý cháu còn giỏi hơn cô. Quả thật nấu ăn cũng là một cái thú mi ạ. Hôm nào sang đây ta cho mi thụ giáo!
Ngọc nhìn quanh căn phòng của vợ chồng Trang. Căn phòng nhỏ nhưng thật gọn gàng, cửa sổ nhìn sang cửa sổ phòng bên kia, qua một khoảng không gian trống, cũng nhìn thấy trời xanh. Ngọc mỉm cười nghĩ bụng, Trang đâu biết là chị Lan cũng đang truyền cho Ngọc những món ăn cầu kỳ còn những món thông thường thì mẹ và chị Lan đã rèn cho con nhỏ từ trước ngày đám cưới rồi. Mẹ không lo Ngọc vướng vào chuyện mẹ chồng nàng dâu vì hai bà cụ về sau thân nhau, tâm sự nhiều với nhau. Hai cụ cũng đều đã có con dâu và biết rằng cách tốt nhất là cho các con ở riêng, khỏi đụng chạm lúc đầu, cả hai cụ cùng đồng ý hai người đàn bà chung một bếp khó lắm, nếu tình cảm hai bên sứt mẻ thì khổ cho mọi người. Ngọc xoa xoa cái bụng tròn của mình, nghĩ đến Khương, buổi trưa trước khi đi làm chàng thường có một ly sinh tố mát và ăn cơm xong thì Ngọc đã làm sẵn những khuôn bánh Flan xinh xinh để trong tủ lạnh, món tráng miệng mà Khương rất ưa thích.
_ Nè, cái bụng mi to lắm rồi đó, ta có sẵn mấy cái áo đầm bầu chưa cần, mi lấy mà mặc, khi bụng ta bự ta lấy lại, khỏi may.
Tiếng Trang lôi Ngọc về thực tại. Nhớ đến việc chính là sang nhà Trang để mượn mấy mẫu áo trẻ con. Ngọc nói:
_Ta đang sửa soạn quần áo con nít, sang hỏi ý kiến mi đây.
_Khỏi may mất công, mi lấy quần áo thằng cu Bi về mà dùng. Trẻ con mau lớn lắm. Khi mi sanh bà con lại cho cả đống nữa, mặc không hết đâu. Khi rảnh ta sẽ đi cùng với mi sửa soạn chiếc giường cho công chúa hay hoàng tử sắp ra đời.
_Lát nữa ông Khương ghé đón ta, mời mi với ông Tâm đi ăn rồi đi nghe nhạc với vợ chồng ta nhá!
_Không được đâu, phải ở nhà, ai lại để cụ trông con mà đi chơi!
_Có người làm mà?
_Ừ, nhưng trừ những trường hợp bất khả kháng, vợ chồng ta không muốn cụ nghĩ ngợi lôi thôi.
Ngọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về con nhỏ này. Thôi thì miễn là Trang Hạnh Phúc. Thật sự Hạnh Phúc.
Ngồi trên xe với Khương, nghĩ về mấy đứa bạn thân, Linh, Vi, Thư, Hà, Kim Chi... Đã gần nửa năm nay Ngọc không liên lạc. Những ngày ríu rít bên nhau như đã xa vời. Ngọc nhủ thầm, phải viết thư cho Linh, Thư, Kim Chi, ba con nhỏ ở xa xem hồi này chúng nó ra sao.
Bụng Bích Ngọc đã to, nàng lẩm nhẩm tính, gần chín tháng rồi còn gì và tủm tỉm cười nhớ đến hình ảnh Khương xoa xoa cái bụng căng tròn của vợ, nói chuyện với con: “Cu ơi, cu à, cu không được làm đau mẹ nhé”. Chẳng biết là trai hay gái mà Khương cứ gọi con là thằng cu vì chàng cho rằng nó đạp mạnh, chắc chắn phải là con trai. Có những lúc Khương cười lên ha hả khi đụng vào môt cục tròn tròn, xinh xinh tự nhiên nổi gồ lên di động sau làn da bụng của vợ:” Bố nắm được đầu gối anh Cu rồi nhé” hoặc “Bố bắt tay cu đây này” và cứ thế, cứ xoa bụng vợ mà anh cu ơi, anh cu à, nói đủ thứ chuyện với con.
Hôm nay, sau một cơn mưa rào, cảnh vật trong sáng, tươi vui, sạch sẽ như người con gái mới vừa mới tắm gội. Qua khung cửa sổ, cây bông sứ đầy hoa vàng nổi hài hòa trên nền màu tím ngát của những chùm hoa giấy chi chít phủ gần hết bức tường rào, những bụi nước li ti còn bám trên hoa, còn đọng trên lá.
_ Trắng ơi, con với lấy giùm cô thùng đồ trên cao này con.
Con Trắng, con bé 14 tuổi mới được chị Lan đưa sang giúp việc cho Ngọc vì chị thấy Ngọc đã gần đến ngày sinh, le te chạy ra bắc ghế trèo lên đem chiếc rổ mây trên nóc tủ xuống cho cô chủ. Trong chiếc rổ, mấy hộp phấn, mấy chai xà bông tắm, dầu gội đầu và bột giặt cho em bé nằm thứ tự gọn gàng bên cạnh mấy bịch tã vải màu trắng còn mới nguyên, khăn tắm, yếm dãi, đồ dùng bé tí xíu thật dễ thương, tất cả đều do chị Nga và anh Quân bên Tây gửi về. Ngọc đã dặn anh chị đừng mua quần áo vì chưa biết là trai hay gái, vả lại quần áo sơ sinh đã có Trang đưa sang, vậy mà chị Nga cũng cố gửi thêm cho cháu một bộ khăn giường và chăn gối in hình những con gấu nhỏ thật dễ thương. Chị nói là chị chọn màu vàng lợt để dù trai hay gái cũng dùng được. Ngọc lấy chiếc va ly nhỏ xếp sẵn những thứ cần dùng, sửa soạn để hễ chuyển dạ là vào nhà thương vì nghe nói con so thường hay sanh sớm.
Mới cách đây mấy tuần Vi tất tả đem sang cho Ngọc lá thư của Kim Chi, hai nàng chụm đầu vào nhau mà cười khúc khích nhắc đến cô bạn nhí nhảnh, nghịch ngợm, ôn lại những chuyện tiếu lâm cô nàng kể mà cười bò. Chẳng biết cô nàng có chấm được chàng nào chưa, chỉ thấy lúc nào nàng cũng có những vệ tinh vây xung quanh. Kim Chi hình như có bạn trai nhiều hơn bạn gái và đối với trai hay gái nàng cũng đối xử thân thiết như nhau. Thấm thoắt mà đã hơn hai năm, người đi xa phóng tầm mắt nhìn xa, học hỏi biết bao điều, sắp ôm mảnh bằng Master oai phong về nước. Ở nhà Vi đã qua cơn sóng gió, hạnh phúc êm đềm, con bé Tường Vân đã biết đi. Trang yên bề gia thất, trở thành dâu hiền vợ đảm, thằng cu Bi hơn 2 tuổi và đứa thứ nhì chắc sanh sau Ngọc vài tháng. Hết bị cảnh mẹ chồng nàng dâu!
Ngọc lững thững bước ra vuông sân nhỏ, trời đã quang, mưa đã tạnh lâu rồi, tự nhiên nàng ngẫm nghĩ về cuộc đời, nàng sinh ra, lớn lên, học khổ sở cho có mảnh bằng rồi lấy chồng, sinh con. Cuộc đời tương đối êm đềm, hạnh phúc. Nhưng chẳng lẽ cuộc đời chỉ giản dị vậy sao. Ngọc nhớ Linh thật nhiều, những ngày nghỉ hè ở Đà Lạt Linh mới có dịp tâm sự với Ngọc. Linh muốn một cuộc sống bình yên, êm ả. Biết bây giờ Linh có hạnh phúc không. Con nhỏ dạt dào tình cảm, cuộc sống nội tâm thật phong phú, không biết ở xứ Mỹ xa xôi ấy, Jim có thể bù đắp lại những thiếu thốn tình cảm của kẻ xa nhà, Jim có lấp đầy những nỗi nhớ nhung cha mẹ, anh em, quê hương xứ sở của vợ không. Tưởng tượng đến Linh một mình sống cô đơn nơi xứ lạ quê người mà thương Linh quá. Hương Thư lâu ngày cũng vắng tiếng, chẳng thấy thư từ, không biết có chuyện gì xảy ra, hay cô nàng đang bận học thi. Ngọc bước từng bước thong thả, đầu óc bâng khuâng nghĩ về năm đứa bạn gái rất thân học chung dưới mái trường TV từ năm đệ thất đến đệ nhất. Biết bao kỷ niệm vui buồn. Tự nhiên thấy nhớ, nhớ các bạn thật nhiều.
Việc hậu sự của niên trưởng LTCD thế kỷ 21, BS Hoàng Ngọc Khôi, sẽ hoàn tất vào ngày thứ ba 15/06/2021. Để tưởng niệm anh, tuần này Nhóm xin mời quý vị đọc bài Tống Biệt cuối cùng (trong 3 bài) của Vương Duy. Chúc mọi người mạnh khỏe, vạn sự an lành
Thân kính
Thư ký
Lộc Bắc
Ngoài bài 渭城曲 - 送元二使安西 Vị Thành khúc -Tống Nguyên Nhị sứ An Tây, Vương Duy còn có ba bài thơ nói về cảnh tiễn bạn mà Con Cò sẽ phân thành 3 đề tài: Tiễn Biệt 1: 送別(下馬飲君酒) Tống Biệt (Há Mã Ẩm Quân Tửu), Tiễn Biệt 2: 送別(山中相送罷) Tống Biệt (Sơn Trung Tương Tống Bãi) và Tiễn Biệt 3: 送別(送君南浦淚如絲) Tống biệt (Tống quân Nam Phố lệ như ty).
Mỗi bài Tiễn Biệt có một đặc điểm. Đặc điểm của bài Tiễn Biệt 2 là: Tiễn bạn đi rồi, năm sau vẫn còn nhớ bạn canh cánh trong lòng.
Tiễn biệt bạn ở ngoài mé núi xong; Thì chiều xuống; đóng cổng lại. (Tự nghĩ rằng) Năm tới, khi cỏ mùa xuân xanh lại, Không biết bạn có về đây hay không?
Dịch thơ:
Tiễn Biệt (Vừa Tiễn Bạn Trên Núi)
Tiễn chân nhau trên núi, Chiều buông cổng then cài. Sang năm khi xuân tới, Bạn thân có về đây?
Chú giải
* Vương tôn: Phiếm chi người quyền quý; cũng chỉ người trai trẻ nói chung; trong bài này vương tôn chỉ bạn trẻ, bạn quý, không có nghĩa quan liêu. Trong bài 賦得古原草送別 Phú Đắc Cổ Nguyên Thảo Tống Biệt, Bạch Cư Dị có hai câu kết: 又送王孫去 Hựu tống vương tôn khứ, 萋萋滿別情 Thê thê mãn biệt tình ( Con Cò dịch là: Lại tiễn người trai trẻ, Lê thê sầu chia phôi.
Lời bàn của Con Cò:
Tâm trạng của Vương Duy ra sao, sau khi tiễn bạn trên núi?
"Tiễn bạn trên núi xong thì ta về nhà ngay và đóng cổng không tiếp ai nữa. Ta tự hỏi: đến mùa xuân năm sau, khi hoa cỏ xanh tươi, chả biết bạn có vể đây thăm ta hay không?” Mấy câu này cho biết Vương Duy lúc nào cũng nghĩ tới bạn. Người bạn này ông không nói rõ là ai nhưng hiển nhiên là một người được ông và bạn bè vô cùng kính trọng và nhớ thương.
Câu ngũ ngôn “王孫歸不歸 vương tôn quy bất quy?” là linh hồn của bài thơ. Nó cũng là câu mà diễn đàn LTCT thế kỷ 21 mượn tiễn biệt đại ca Hoàng Xuân Thảo; biết anh đã sang thế giới khác nhưng vẫn ước mơ anh trở về!
Con Cò
***
Góp ý của Bát Sách:
Tống Biệt (Sơn Trung Tương Tống Bãi) của Vương Duy.
Sơn trung tương tống bãi, Nhật mộ yểm sài phi, Xuân thảo minh niên lục, Vương tôn quy bất quy.
Bài này cũng không nhiều chữ khó, lại ngắn gọn, BS rất thích, vì tuy thơ ngắn mà lại nói được nhiều. - Bãi: ngừng nghỉ; thôi; chữ trợ từ ở cuối câu, có nghĩa là xong.
- Yểm: che dấu, đóng (cửa) - Sài: củi; gỗ vụn. Cũng có âm là tái: giữ, ngăn chặn. - Phi: cánh cửa. - Vương tôn: theo ÔC thì là chữ chỉ bạn thân, nhưng với khả năng hạn hẹp của mình, BS cố tìm mà không thấy chỗ nào giải thích như ÔC. Chắc phải nhờ anh Tâm hay Đạo Mò.
Nếu hiểu là con cháu của tôn thất thì không hợp với bài thơ, vì mấy người đó sao lại thân thiết tới thăm Vương Duy đang ở chỗ nghèo nàn (sài phi) như vậy?
(Sau khi chia tay nhau ở trong núi, lúc chiều xuống, thì đóng cánh cửa bằng gỗ tạp. Tự hỏi rằng, năm tới, khi cỏ xuân xanh mướt, chẳng biết vương tôn có trở về thăm mình không?)
Thì ra, ở một mình, cô đơn nhớ bạn, biết bạn có nhớ mình mà về thăm không? Lời thơ tha thiết, nhưng ẩn chứa một ý an phận thủ thường, nhẫn nhục, rất tội nghiệp...
Chữ LỤC, dùng như một động từ, quá hay, đến nỗi sau này, Vương An Thạch đời Tống, đã dùng chữ đó trong câu “Xuân phong hựu LỤC giang nam ngạn”.
Bản dịch:
Trong núi vừa tiễn khách, Chiều xuống đóng cửa cây, Sang năm cỏ xuân biếc, Vương tôn có về đây?
Bát Sách. *** Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:
Tống Biệt (Sơn Trung Tương Tống Bãi) của Vương Duy
Trong núi vừa tiễn bạn Chiều xuống đóng cổng sài Xuân tới khi cỏ thắm Người có về lại đây?
Góp ý của Huỳnh Kim Giám:
Nếu Con Cò vẫn còn muốn làm thi nhạc giao tình thì cho Cò bài Tiễn Đưa (Nguyên Sa - Song Ngọc).
@ ÔC trả lời Giám:
Vậy thì quyết định phối hợp bài hát Tiễn Đưa (Nguyên Sa & Song Ngọc - Tâm Hảo hát) với bài thơ Tống Biệt (Sơn Trung Tương Tống Bãi) thành một bài thi-Nhạc-Giao-Tình mang tên Tiễn Biệt 2 của Vương Duy.
Mấy tháng trước, Ông Cò đưa ra bài thơ Tống Biệt của Vương Duy và mời các thành viên góp ý. Trong bài có nêu 2 chữ Xuân Thảo, biệt hiệu của huynh trưởng Hoàng Ngọc Khôi và huynh Hoàng Ngọc Khôi cũng có góp 4 câu thơ; Bây giờ đọc lại cả bài thật bồi hồi xúc động.
Thanh Vân không biết viết gì, vì đầu óc đặc sệt, đọc tới đọc lui bài rồi xếp lại, nhắm mắt buồn. Người Pháp nói: “những nỗi đau lớn nhất thì lặng câm, những đau đớn nhỏ mới bộc lộ”. Có lẽ đúng vì khi thật sự buồn người ta không diễn tả được gì hết chỉ âm thầm ôm nỗi buồn trong lòng thôi.
"Les grandes douleurs se taisent, les petites se plaignent"
Hay:
"Les douleurs légères s’expriment, les grandes douleurs sont muettes "
(câu này của Triết gia người Ý Sénèque, ở thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên)
Trong Diễn Đàn LT 21 bé nhỏ của Ông Cò chỉ có hơn chục thành viên, nên sinh hoạt từ 3 năm nay mọi người gần gũi, thân thiện và xem như trong một mái nhà. Có khi cãi nhau vì một ý nghĩa của bài thơ Đường (hay “gì gì” đó…) không khoan nhượng nhưng lúc nào cũng trong tình huynh đệ tỷ muội gắn bó và hoà ái. Cùng chia sẻ vui buồn, cay đắng ngọt bùi nên giờ đây huynh trưởng ra đi làm mọi người buồn não ruột. Huynh Đỗ Hữu Tước khóc làm Thanh Vâncũng rơi lệ.
Tiễn anh mùa hạ bao thương nhớ Tiếc nuối khôn cầm...giọt lệ sa!..
Bài nhạc Tiễn Đưa do Tâm Hảo hát cũng buồn. Thôi chia tay huynh Hoàng Ngọc Khôi, cầu chúc huynh đi an nhàn, thảnh thơi nơi nước Chúa. Thanh Vân mượn mấy câu thơ Tống Biệt Hành của Thâm Tâm để tiễn anh:
Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thẳm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? Đưa người ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình một dửng dưng... ............. Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Thanh Vân *** Góp ý của Phí Minh Tâm:
Nguyên tác: Phiên âm: Dịch thơ: 送別*-王維 Tống Biệt –Vương Duy Tiễn biệt
山中相送罷 Sơn trung tương tống bãi, Tiễn nhau giữa núi đồi, 日暮掩柴扉 Nhật mộ yểm sài phi. Khép cổng tối trời rồi. 春草明年綠** Xuân thảo minh niên lục, Xuân đến cỏ xanh lại, 王孫歸不歸 Vương tôn quy bất quy? Có còn đến viếng tôi?
bài ngũ ngôn tứ tuyệt 20 chữ có 2 dị bản: * Tựa: Sơn Trung Tống Biệt 山中送別 hoặc Tống Hữu送友 thay vì Tống Biệt 送别 ** Câu 3: niên niên 年年= mỗi năm thay vì minh niên 明年=năm sau
Bài trong sách Vương Hữu Thừa Tập Tiên Chú - Đường - Vương Duy 王右丞集箋注-唐-王維 có thể nói là nguyên thủy của Vương Duy:
Bỏ các ghi chú và dị bản của tựa, hai mộc bản có tựa bài thơ là Tống Biệt 送别 và câu 3 xài 2 chữ minh明 niên年.
Các sách bên dưới cho thấy các dị bản tùy tác giả sách hơn là khuynh hướng thời đại hay tựa bài thơ. Sách có tựa Tống Biệt 送别:
Vương tôn: Hán Ngữ Đại Từ Điển cho 9 định nghĩa. Hai nghĩa gần nhất cho bài thơ là: con cháu của vua hay hàng quý tộc hoặc tên gọi người tôn kính. Theo tôi, Vương tôn (ông Vương tôn kính, gọi bạn một cách kính trọng), người khách đây chính là Vương Duy vì ông không là gia chủ nhà nghèo sống ở núi đồi. Trong bài này cũng như trong bài Tống Biệt (Hạ mã ẩm quân tửu) trước đây, tác giả là người được tiễn đưa.
Bài thơ 4 câu 5 chữ dùng các từ ngữ đơn giản để miêu tả tình bằng hữu trong cảnh thanh bần. Tiễn biệt không tiệc tùng, không rượu chè như thường tình, mà chỉ có núi đồi và cây cỏ. Gia chủ lại còn mong khách trở lại năm sau khi cây cỏ xanh tươi trớ lại.
A Parting by Wang Wei
We bid each other farewell in the hills,
As day meets dusk, I closed the twig door.
Next year, the spring grass will be green again,
But will my honoured friend return once more?
Tưởng nhớ anh Hoàng Ngọc Khôi:
Anh Khôi có viết chi tiết về Tiễn Biệt đăng trong bài LTCD 173a. Theo anh, thế gian có 3 loại tiễn biệt: nhân gian, không gian và thời gian. Thông thường, còn sống là có ngày gặp lại. Chết là vĩnh biệt. Tuy nhiên theo Thiên Chúa giáo, người tốt còn gặp nhau lại ở Thiên Đàng bên Chúa. Theo Phật giáo, khi chết con người hoặc đi đầu thai hoặc vào Niết Bàn, một thế giới vô vi, không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt… Định luật bảo tồn năng lượng (energy) và khối lượng (mass) trong khoa học vật lý, hoá học cũng nói tương tợ như thế. Phỏng theo bài Tống Biệt của Vương Duy, tôi viết hai bài bên dưới để nhớ anh Khôi:
Tạm Biệt
Anh đi vào lúc phải dừng chơi, Đại dịch hoành hành khắp khắp nơi. Dù cỏ vào Xuân xanh trở lại, Anh em không có Hoàng Ngọc Khôi. Tiễn biệt dù không giữa núi đồi, Văn chương trần thế để lại thôi. Giờ đây nhàn rổi không giờ khắc, Bên Chúa Ba Ngôi anh thảnh thơi.
Phí Minh Tâm
*** Góp ý của Lộc Bắc: Tiễn Bạn 2
Tiễn nhau nơi mé núi Ngày hết cửa cài xong Xuân Thảo xanh năm tới Đại huynh ghé lại không?
Tiễn đưa niên trưởng Hoàng Xuân Thảo về nước Chúa bằng đôi câu đối: Đại dịch, mới hai tháng bỗng tắt đi, lìa bạn, lìa bè về Nước Chúa. Đa tài, gồm chục danh đương bừng sáng, bỏ thơ, bỏ phú* nhập Thiên Đàng. *tác phẩm dang dở “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng” viết chung với Bát Sách Nguyễn Thanh Bình.
Lộc Bắc *** Góp ý của Đồ Cóc:
Góp Tiễn
Bóng bạn khuất qua đường đèo Mảnh trăng lơ lửng cheo leo trên trời Thế là biệt tiếng, biệt hơi Giờ này năm tới xin mời cố hương
Đồ Cóc
*** Góp ý của Đỗ Tước:
Đàn chủ ÔC đã chọn bài "Tiễn biệt 2" của Vương Duy để tiễn đưa đại sư ca cố vấn của nhóm -trong đó có thơ dịch góp ý của người-khiến đàn em bùi ngùi thương cảm quá! Từ nay sẽ vắng bóng những lời góp ý thâm thuý, những kiến thức bao la, những lời khuyên bao bọc của đàn anh. Không ngậm ngùi sao được khi TTK diễn đàn Lộc Bắc trăn trở "Xuân Thảo xanh năm tới... Đại huynh ghé lại không?..". Cỏ thì xuân nào cũng xanh, nhưng ACE trong diễn đàn hết dịp nghe những bài thơ mới của sư ca phổ nhạc, hết dịp đọc những văn chương sử liệu công phu người viết!
Với nỗi tiếc thương huynh trưởng, đàn em xin "TIỄN BIỆT" Anh:
Xuân thảo đại ca bỏ chúng ta Thiên đường, hạ giới rộng bao la Người về đất chúa lòng thanh thản Kẻ ở cõi trần dạ xót xa Nghị luận góp bàn nay lỡ dở Thi ca phổ nhạc cũng phôi pha Tiễn anh mùa hạ bao thương nhớ Tiếc nuối khôn cầm...giọt lệ sa !...
Đỗ Hữu Tước *** Góp ý của Kim Oanh:
Mấy hôm nay đầu óc em rối tung, không nghĩ được gì. Nhưng em cố gắng góp lời để tiễn đưa bậc đàn anh đáng kính, anh Hoàng Xuân Thảo, được an nghỉ thảnh thơi nơi Nhà Chúa. Hy vọng anh sẽ đọc được tấm lòng của cô em út mãi mãi dành cho anh.
Kính anh!
Tiễn Biệt
Tiễn nhau mé núi ngoài Chiều xuống cửa then cài Cỏ biếc khi xuân đến Bạn hiền sớm lại đây?
Kim Oanh
***
Tưởng nhớ anh Hoàng Ngọc Khôi
Đưa người ta không đưa sang sông ….
Trong thơ văn Việt, sông đây không phải là con sông Styx của thần thoại Tây phương hay Nại Hà cách trở âm dương trong tín ngưỡng Á Đông, nhưng cũng như Thanh Vân, tôi nghĩ liền đến câu đầu bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm khi được tin anh Khôi lìa cõi trần.
Chúng ta được hân hạnh đi chung một quảng đường đời với anh Khôi, kẻ ngắn người dài, nhưng ngay những người chỉ quen biết anh Khôi vài năm gần đây như tôi cũng có được một ấn tượng /niềm tin rõ ràng rằng đời vẫn còn có những người như anh, đáng mến và đáng kinh. Không như các bạn, tôi hầu như không biết gì về tài ba của anh Khôi trong các bộ môn văn-thi-nhạc-họa, một phần vì không biết đời có anh cho đến vài năm sau này, nhưng chính vì thế, tôi có một cái nhìn về anh và một ký ức khác các bạn về anh.
Đối với tôi, anh Khôi là mẫu người với một lối sống mà tôi muốn theo: sống để tìm và tạo ý nghĩa cho sự hiện hữu của ta trên trần thế. Mặc dù lúc sinh thời anh Khôi cũng có thấy các vấn đề thời cuộc và chính trị, anh để tâm vào văn nghệ để tìm quên, để mãi nhớ rằng cho dù đời là vô thường, ta nên sống thế nào để vẫn nhận chân được rằng vũ trụ bao la nầy đầy vẽ đẹp để ta ngợi ca, tán dương, và để thấy đời đáng sống.
Sống để quên đi quá khứ đau buồn, để bước vào tương lai, và giữ niềm hy vọng rằng đa số người trong nhân loại luôn luôn chi mong hai chữ bình an để có cơ hội giữ gìn nhân tính thay vì để thú tính, hận thù, mặc càm làm lương tâm cắn rứt và ngăn cản ta được ngủ yên hằng đêm.
Anh Khôi là người cho tôi thêm cơ hội nhận chân rằng đời vẫn đáng sống, đường ta ta cứ đi, cho dù đường nào cũng sẽ chấm dứt bên một giòng sông. Sống như anh Khôi mới là sống có ý nghĩa và các bạn cũng như tôi sẽ không quên cái gương anh để lại cho đời.
Huỳnh Kim Giám
送別(送君南浦淚如絲) Tống Biệt (Tống Quân Nam Phố Lệ Như Ty) - Vương Duy
Nguyên bản Dịch âm 送別(君南浦淚如絲送) Tống Biệt (Tống Quân Nam Phố Lệ Như Ty)
君南浦淚如絲送 Tống quân Nam Phố lệ như ty, 君向東州使我悲 Quân hướng Đông Châu sứ ngã bi. 為報故人憔悴盡 Vị báo cố nhân tiều tuỵ tận, 如今不似洛陽時 Như kim bất tự Lạc Dương thì. Vương Duy *** Chú giải
Bài thơ này được viết năm 723 lúc Vương Duy 22 tuổi, khi bị đày khỏi kinh đô do sự tranh chấp của giới sĩ phu và các quý tộc nhà Đường. Ty: tơ, những thứ gì dài và nhỏ, ở đây nói tới dòng lệ.
Dịch nghĩa
Tiễn bạn (Tiễn anh Nam Phố lệ như sương)
Tiễn anh Nam Phố lệ nhỏ thành dòng Anh đi về hướng Đông Châu mà tôi thì buồn rầu Làm cho cố nhân quá đỗi tiều tụy (ủ rũ) Như hiện thời, không (còn vui) như thời kỳ ở Lạc Dương.
Dịch thơ Tiễn bạn (Tiễn anh Nam Phố lệ trào tuôn)
Tiễn anh Nam Phố lệ trào tuôn Anh tới Đông Châu mỗ thấm buồn Xui khiến cố nhân tiều tụy qúa Không như chốn cũ Lạc Dương thương.
Lời bàn của Con Cò
Bài này Lộc Bắc chọn một ngày trước khi nhóm nhận được tin anh Khôi mất nên ÔC muốn nhân tiện bàn về cái duyên trong đạo Phật. Chữ duyên được hiểu rất rộng rãi trong Phật học: là sự kết hợp ngẫu nhiên (có thể coi như tiền định) giữa hai (hoặc) nhiều người vì một lý do thiêng liêng. Xin nói vắn tắt trong hai trường hợp sau đây:
1/ Khi trai gái gặp nhau, hợp nhau, yêu nhau rồi cưới nhau; đó là duyên đến. Khi vì bất cứ lý do gì mà xa nhau (hết yêu, tử vong...) là duyên hết. Nguyễn Du nói về chữ duyền này trong Truyện Kiều rất rõ: Khi duyên đến thì Thúc Sinh yêu Thúy Kiều. Khi hết duyên (bị Hoạn Thư đánh ghen) thì Thúc Sinh ngậm ngùi than: “ Liệu mà cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi! ”. Thúy Kiều cũng vì hiểu nghĩa của chữ duyên mà tha cho tội chết khi Hoạn Thư nói rằng: “ Tôi đã dứt tình không theo khi nàng ăn cắp chuông vàng Khánh ngọc chốn đi ".
2/ Cuộc gặp gỡ giữa đại ca Hoàng Xuân Thảo (Hoàng Ngọc Khôi) với anh chị em trong nhóm là cái duyên văn nghệ: chúng ta tình cờ biết nhau trong tuổi hưu trí để chung vui trong thú văn chương rồi thân nhau như anh em một nhà mặc dầu chưa hề quen biết nhau, thậm chí cả đời chưa gặp nhau một lần. Cái duyên này cũng khăng khít lắm: khi duyên hết (anh Khối từ trần; giống như Vương Duy tống biệt bạn hiền… ) tất nhiên nảy sinh buồn phiền. Anh Khôi là người hiểu điều này sâu xa nhất. Và chúng ta, mỗi người đã để ra 15 phút tĩnh tâm trong ngày 2 tháng 6 năm 2021 để tưởng niêm anh Khôi.
Cầu xin anh Khôi vui hưởng ăn lạc dưới chân Thiên Chúa.
***
Góp ý của Bát Sách:
Tống Biệt (Tống Quân Nam Phố Lệ Như Ty). -Vương Duy.
Tống quân Nam Phố lệ như ty, Quân hướng Đông Châu sứ ngã bi, Vị báo cố nhân tiều tuỵ tận, Như kim bất tự Lạc Dương thì.
Bài này cũng ngắn, và ít chữ khó, nhưng có vài điều gây thắc mắc cho BS.
- Sứ: sai khiến; ví như; liên quan đến ngoại giao.
- Vị: vì; để cho, làm cho; khiến; chưa (quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Thuật hoài của Đặng Dung)
- Báo: báo cáo, báo đáp.
- Nam Phố ở đâu, Đông Châu ở đâu, BS tìm không ra. Anh Tâm và Đạo Mò giúp hộ.
- Theo Thi viện, Trần Trọng San, Chi Điền, thì Vương Duy sinh năm 699. Theo Vũ Thế Ngọc thì Vương sinh năm 701. Vậy năm nào đúng? Vương đậu Tiến Sĩ khi 21 tuổi, vậy là năm 720 hay 722? Theo Vũ Thế Ngọc, thì sau khi thi đỗ, Vương được bổ làm Đại Nhạc Thừa, và năm sau, vì tranh chấp thế lực chốn quan trường, ông bị vạ lây, và bị biếm đi làm Tham Quân ở Tế Châu, lúc đó là năm 723, ông 22 tuổi. Vương lang thang xa kinh đô 10 năm, vậy ông tiễn ai, năm nào mà làm bài thơ đó? Theo ý bài thơ, thì lúc đó Vương còn ở Kinh đô Lạc Dương, tức là trước khi bị biếm.
Giải nghĩa bài thơ:
Tiễn anh ở Nam Phố, nước mắt tôi như tơ, Anh đi về hướng Đông Châu, khiến tôi buồn bã, Chưa báo anh biết, người xưa tiều tụy hết sức, Lạc Dương bây giờ không như ngày xưa nữa.
Bản dịch:
Tiễn anh Nam Phố lệ như tơ, Anh tới Đông Châu, tôi ngẩn ngơ, Chưa báo người xưa tiều tụy lắm, Lạc Dương hồi đó khác bây giờ.
Bát Sách. *** Góp ý của Hoàng Xuân Thảo:
Thơ Dịch:Tống Biệt
Tiễn Nam Phố, hạt lệ như sương Bạn tới Đông Châu, ta thấm buồn Chưa báo người xưa giờ tiều tụy Chẳng như lúc còn ở Lạc Dương.
Hoàng Xuân Thảo
***
Cảm Đề:
Tiễn Biệt
Tiễn nhau quán cóc lai rai Dăm ly bia bọt chẳng ai ngó ngàng Con sông lát nữa sẽ sang Anh về chốn ấy mênh mang đất trời Chôn đi quá khứ cuối đời… Khỉ ho, cò gáy buồn ơi là buồn
Đồ Cóc *** Góp ý của Phí Minh Tâm:
Nguyên bản: Phiên âm: 齊州送祖二 Tề Châu Tống Tổ Nhị
送君南浦淚如絲 Tống quân Nam Phố lệ như ty, 君向東州使我悲 Quân hướng Đông Châu sứ ngã bi. 為報故人憔悴盡 Vị báo cố nhân tiều tụy tận, 如今不似洛陽時 Như kim bất tự Lạc Dương thì.
Mộc bản trong Vương Hữu Thừa Thi Tập của Vương Duy (Đường) và Lưu Thần Ông (Tống) cho bài Tống Biệt không dị bản trong khi mộc bản của Ngự Định Toàn Đường Thi có tựa bài là Tề Châu Tống Tổ Nhị 齊州送祖二 với dị bản tựa Tống Biệt 送別.Ngoài ra câu 2, dị bản xài chữ Chu周(nhà Chu) thay vì Châu州 (khu đất).
Ghi chú:
Bài thơ có vài địa danh thời cổ đại Trung Hoa, khó xác định vị trí chính xác. Tề Châu: là nơi Vương Duy bị đi đày. Theo Lê Nguyễn Lưu, là huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Tây ngày nay. Tuy nhiên theo một tài liệu khác, Tề Châu nay là huyện Trường Thanh, tỉnh Sơn Đông. Theo Hán Ngữ Đại Từ Điển, Tề Châu chỉ Trung Hoa thời cổ đại. Như thế vùng Sơn Đông, Sơn Tây đều hợp lý.
Tổ Nhị: không biết là ai? Theo tôi đoán, chính là Vương Duy với nhiều lý do: Tề Châu là vùng Ông bị đi đày. Trong 2 bài Tống Biệt trước đây, Ông là người được tiễn đưa.
Ồng có một bài Tống Biệt khác với tựa đề Tề Châu Tống Tổ Tam trong đó Tổ Tam là Tổ Vịnh, bạn thơ thân thiết hơn 20 năm của họ Vương. Bài thơ được làm lúc bị biến ở Tề Châu. Nam Phố: khu phố ở bến phía Nam, có nguồn gốc từ bài từ Cửu Ca. Hà Bá 九歌·河伯 của Khuất Nguyên, người nước Sở trước thời Chiến Quốc: “Tử giao thủ hề đông hành, tống mỹ nhân hề nam phổ 子交手兮东行, 送美人兮 南浦 Hãy đến phương Đông và tiễn mỹ nhân Nam Phố.” Về sau, các thi nhân Đường Tống Nguyên dùng Nam Phố điển tích để chỉ biệt ly.
Địa danh Nam Phố không xác định. Có thể Nam Phố là ở Nam Xương tỉnh Giang Tây. Nhiều bài thơ được kết hợp với vị trí này. Mà cũng có thể là ở Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc?
Một điều chắc chắn là Nam Phố trong bài thơ của Vương Duy không phải nói đến một trong 2 địa danh này. Vũ Hán cách Trường An 740 km về hướng Đông Nam và Nam Xương cách Trường An 1100km. Đông Châu: nói chung là vùng đất ở phía Đông Trường An. Lạc Dương: thủ đô của Trung Hoa thời Đông Chu, cách Trường An 400km về hướng Đông, thời Đương gọi Lạc Dương là Tây Kinh (?)
Dịch Thơ:
Tiễn Biệt
Tiễn người Nam Phố khóc như mưa Anh đến Ðông Châu thương xót đưa Mong ước bạn hiền mau hết khổ Nay chẳng như thời Lạc Dương xưa. Farewell by Wang Wei
Say goodbye to Nan Pu with a lot of tears You are heading for Dong Zhou I see you off with lot of sadness Hope your suffering will soon end Nowadays is not the time of old Luo Yang.
Phí Minh Tâm
***
Góp phỏng dịch của Lộc Bắc:
Tiễn Bạn
Tiễn người Nam Phố lệ như tơ Người hướng Đông Châu mỗ thẫn thờ Nhờ nhắn, người xưa tiều tụy lắm Hiện nay chẳng giống Lạc Dương đô!
Lộc Bắc
***
Tiễn Người
Phố Nam mưa lệ tiễn người Đông Châu thương xót dạ vời vợi đau Người xưa tiều tụy quá mau Lạc Dương hiện tại còn đâu thuở nào!
Kim Oanh
***
Góp Ý của Thân Hữu:
Thưa anh Bảo và các anh chị,
Chưa khi nào thấy bài thơ của Vương Duy lại ứng với hoàn cảnh hiện tại của chúng ta đến thế này với sự ra đi của anh Hoàng Xuân Thảo.
Người xưa tiễn bạn sao buồn quá: Nam Phổ tiễn anh lệ vương vương Đông Châu hướng ấy, tôi xót thương Anh đi với dáng người tiều tụy Tôi về ngơ ngác chốn Lạc Dương.
Còn chúng ta hôm nay, nơi trần gian này, thương tiếc anh Hoàng Ngọc Khôi:
Nơi đây tôi nhỏ lệ xót thương Anh đi chốn ấy, luống đoạn trường Oán trách bệnh kia sao tàn nhẫn Nơi đây anh em sầu vương vương.
Mỹ Lan tức cảnh sinh tình viết mấy câu chia sẻ với anh em thế thôi, không dám múa rìu qua mắt thợ, chỉ muốn nói lên lòng thương tiếc một người anh tài hoa cũng đã có lúc cầm phấn như mình. Tuy lúc sinh tiền anh em có suy nghĩ khác nhau về chuyện đời thường nhưng không dính dáng gì sự quý trọng về con người của anh mà nay chỉ giữ lại chút kỷ niệm ngắn ngủi của một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nơi quê người.
Quản Mỹ Lan
***
Xin thân kính gửi bài nhạc Người Xưa Đưa Tiễn để cùng tiễn đưa Bác Sĩ Hoàng Ngọc Khôi (Hoàng Xuân Thảo) an vui trên Thiên Đàng.
Hợp Tan là chuyện xảy ra nhiều lần trong cuộc đời từ xưa tới nay và mãi mãi sau này. Người xưa đưa tiễn sao buồn thế. Ở một sân ga hay bến tàu? Ta với người bao năm xa cách. Mới trùng phùng đã tiễn đưa nhau. Người xưa đưa tiễn ôi buồn quá. Ta với người nay cũng thế sao?
Cuộc tình ấy bỗng một lần chợt đến Tắt sao trời mắt rực sáng đê mê Trong bóng đêm mùi hương áo cũ về Hong hơi thở ủ đôi bờ vai ấm
Đoá mộng đầu ngạt ngào hồn say đắm Thấm đời nhau tình yêu dấu thuở nào Gió đông về xô đọng giấc chiêm bao Bàng hoàng thức mộng đời trong cơn bão. Kim Oanh
Mỗi lần nghĩ tới Tỉnh đưởng Chương Thiện tôi lại mắc cười! Đó là Tỉnh Đường làm bằng cây lá!. Chả là vì hồi đó chiến tranh mở rộng, người ta thành lập một loạt các tỉnh mới! Tỉnh Chương Thiện (Vị Thanh sau này) , tỉnh Phú Bổn ở Yaun Pa ( một phần của Cao Nguyên ) Tỉnh Bình Tuy ( một phần của Phan Thiết ) tỉnh Hậu Nghĩa (Huyện Đức Hòa ,Đức Huệ bây giờ). đây là những điểm nóng! Phe tả xâm nhập, đánh phá, khuynh đảo!
Ôi! Chiến tranh tàn khốc! Nghe nói " Mới " tưởng bở! Nhưng dân thì thở dài... vỉ đêm đêm nghe tiềng đại bác! Tôi khoái nhất cái tỉnh Chương Thiện vì nó không giống ai!!! Nó là con đưởng quan trọng để giữ cả tỉnh nam Cần Thơ. Xưa kia đi từ Cần Thơ qua Rạch Giá phải theo con đường qua phà Cái Tư. Nay thì Vị Thanh là trung tâm của tay nam Cần Thơ. Khi người ta thành lập tỉnh Hậu Giang thì Vị Thanh phát triển rất mau.
Thị xã Long Mỹ rất sung, con đưởng số 6 rất đẹp, cầu Cái Tư xây rất hoàng tráng. Những xã như Vị Thủy, những ngã ba như Gò Quao, Sóc Ven càng lên đởi. Tóm lại, những tỉnh mới mà người ta lập thời đó, bây giờ chỉ có Chương Thiện là giầu đẹp hơn cả.
Tỉnh Phú Bổn chỉ là chống con đường xâm nhập từ Tây Nguyên xuống đồng bằng(cái ông Nguyễn Bính Thinh chỉ vì lên An Khê và bị thương nên lấy bút hiệu là An Khê luôn).
Bình Tuy là con đường nam tiến của Phan Thiết. Huyện Hàm Tân không giầu, nhưng La Gi gần đó lại lên Thị Xã. Đặc biệt là cái anh Hậu Nghĩa.
Củ Chi thì không có gì đặc biệt, Nhưng Đức Hòa thì có đấy, đặc biệt là giáp Miên! Cái vùng gọi là Mỏ Vẹt được người ta tới hoài (xưa ông Lê Duẩn đã từng xâm nhập miền Nam qua đường này). Nay thì người ta kiến thiết hơi hơi đồ sộ, chắc mời gọi người Miên qua đây đánh bạc vì từ Nong Pênh qua đó cũng gần(!), Ngày nay nói đến hậu Nghĩa thì người ta xa lạ lắm!
Tóm lại thời bình người ta cũng ngó tới những nơi hẻo lánh để chứng tỏ ta đây cũng biết lo cho dân nghèo!!!