THẤT NGÔN TỨ TUYỆT 七言四絕 còn được gọi là "Thất ngôn Tuyệt cú 七言絕句" và gọi cho gọn lại là THẤT TUYỆT 七絕; là một thể tài, một loại hình thi ca đặc sắc của Trung Hoa, thuộc phạm trù của lối thơ cận thể; Có xuất xứ sâu xa từ đời Tây Tấn, Nhạc phủ của Nam Triều và Dân ca của Bắc Triều trong thời Nam Bắc Triều, diễn tiến và phát triển đến đời Đường thì hoàn chỉnh và toàn thịnh.
THẤT NGÔN TỨ TUYỆT mỗi bài gồm có bốn(4) câu. Mỗi câu gồm có bảy(7) chữ. Mỗi bài gồm có hai mươi tám chữ(28), có Niêm, Luật nghiêm cẩn, Đối thì không bắt buộc; Được gieo ít nhất là hai(2) Vần : Ở cuối câu 2 và câu 4; Thường thì được gieo ba(3) Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4; Như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều du Thanh Minh và tảo mộ Đạm Tiên vậy. Thúy Kiều đã:
Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.
Chỉ BỐN CÂU BA VẦN nên lời lẽ rất xúc tích, chắt lọc, tinh luyện để diễn hết ý muốn nói, thường hàm xúc gợi tình với ý tại ngôn ngoại... Dễ ngâm vịnh để biểu ý biểu tình, hay ca ngâm để diễn tình diễn ý... Từ đời Đường đến nay có rất nhiều giai tác với đủ cả các đề tài, như Hoài cổ, Vịnh sử, Tình Bạn, Tình yêu, Hoài bão, Du sơn, Ngoạn thủy... Bây giờ là mùa THU, ta sẽ bắt đầu với các bài "TUYỆT CÚ" có liên quan đến mùa thu nhé !
1. THU TỪ 秋詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫:
LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772-842)tự là Mộng Đắc 夢得, người đất Lạc Dương, là thi nhân và là một triết gia đời Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Trinh nguyên thứ 9, lại trúng tuyển vào Bác Học Hoằng Từ Khoa. Năm Trinh nguyên thứ 11 lại được tuyển vào Sĩ Khoa Lại Bộ, quan phong đến chức Thái Tử Hiệu Thư. Năm Vĩnh Trinh nguyên niên (805) Bị vua Đường Thuận Tông biếm khỏi Trường An đày làm Lang Châu Tư Mã. Tuy quan trường thất ý, chìm nổi trong nghịch cảnh ở dân gian, Lưu vẫn giữ cho mình một tâm lý lạc quan và làm những bài thơ tràn đầy thi ý của một thi nhân. Sau đây là bài Thất ngôn Tuyệt cú THU TỪ của ông làm trong khoảng thời gian đi đày nầy :
秋詞 THU TỪ
自古逢秋悲寂寥, Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
我言秋日勝春朝。 Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
晴空一鶴排雲上, Tình không nhất hạc bài vân thượng,
便引詩情到碧霄。 Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu !
* Chú thích:
- THU TỪ 秋詞 : là "Bài TỪ về mùa THU". TỪ 詞 là tên của một thể loại THƠ, nhưng có thể có câu dài ngắn khác nhau, có thể gieo cả Vần Bằng và Vần Trắc; dễ ngâm vịnh và dễ phổ nhạc, thường thấy trong Nhạc Phủ với các thể loại khác như : Dẫn 引, Khúc 曲, Hành 行...
- 寂寥 Tịch Liêu : TỊCH MỊCH 寂寞 Vắng vẻ và LIÊU LẠC 寥落 Lưa thưa. BI TỊCH LIÊU 悲寂寥 : Buồn vì cảnh thu vắng vẻ và cây lá lưa thưa.
- Xuân Triêu 春朝 : là Sáng xuân; Ở đây chỉ chung "Những ngày mùa xuân".
- Tình Không 晴空 : TÌNH 晴 là Nắng ráo; KHÔNG 空 là Bầu trời. TÌNH KHÔNG 晴空 là Bầu trời nắng ráo, chỉ "Trời quang mây tạnh" chỉ "Bầu trời thu xanh ngắt".
- Nhất Hạc Bài Vân Thượng 一鶴排雲上 : là "Một con hạc rẻ mây bay vút lên".
- Thi Tình 詩情 : là Tình thơ; Ta nói là "Hồn thơ", "Tâm hồn thơ thẩn".
- Bích Tiêu 碧霄 : BÍCH 碧 là Xanh biếc; TIÊU 霄 là Bầu trời. BÍCH TIÊU 碧霄 là "Bầu trời thu xanh biếc". TIÊU còn có ý chỉ CỬU TIÊU 九霄 là Chín tầng trời.
* Nghĩa bài thơ:
Bài Từ Mùa Thu
Từ xưa hễ đến mùa thu là mọi người sẽ buồn vì cảnh hắt hiu lơ thơ vắng vẻ.
Riêng ta thì bảo rằng "Những ngày mùa Thu hơn hẵn những ngày mùa Xuân".
(Chỉ cần có) Một con hạc rẻ mây vút lên trên bầu trời xanh nắng ráo" Sẽ...
Khiến cho hồn thơ cũng sẽ bay bổng lên tận chín tầng mây xanh biếc !
Với thân phận của một kẻ đi đày, lại nhằm lúc vào thu lạnh lùng với heo may hiu hắt, mà hồn thơ lại lai láng như thế nầy, thì cũng quả thật là hiếm thấy!
*Diễn Nôm:
THU TỪ
Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
Hồn thơ cũng vút tận mây xanh!
Lục bát:
Ngàn xưa THU gợi niềm sầu,
Riêng ta THU vẫn hơn màu xuân sang.
Trời xanh cánh hạc ngút ngàn,
Hồn thơ cũng ngút tận ngàn mây xanh!
2.THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中 của Vương Kiến 王建:
VƯƠNG KIẾN (768—835)tự Trọng Sơ 仲初, người đất Dĩnh Xuyên (tỉnh Hà Nam hiện nay). Xuất thân hàn vi, cả đời bất đắc chí, từng đầu quân một thời gian; Mãi đến 46 tuổi mới xuất sĩ làm Huyện Thừa, sau thăng lên chức Thiểm Châu Tư Mã, nên người đời thường gọi là Vương Tư Mã. Năm Đường Đại Hòa thứ 5 mới thăng lên chức Thứ Sử Quang Châu. Ông và Trương Tịch rất thân nhau và cùng nổi tiếng về thơ Nhạc Phủ. Được người đời xưng tụng là "Trương Vương Nhạc Phủ 張王樂府". Thơ ông thường phản ảnh đời sống cơ cực của dân nghèo, lưu lại hậu thế với "Vương Tư Mã Tập 王司馬集". Sau đây là một bài Tứ Tuyệt tả một đêm thu rất nên thơ và tràn đầy thi vị của ông :
十五夜望月寄杜郎中 THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG
中庭地白樹棲鴉, Trung đình địa bạch thụ thê nha,
冷露無聲濕桂花. Lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa.
今夜月明人盡望, Kim dạ nguyệt minh nhân tẫn vọng,
不知秋思落誰家? Bất tri thu tứ lạc thuỳ gia ?
* Chú thích:
- THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG 十五夜望月寄杜郎中:
Đêm rằm ngắm trăng gởi ông Lang Trung họ Đỗ. ĐỖ LANG TRUNG là Đỗ Nguyên Dĩnh 杜元颖, bạn của Vương Kiến, Lang Trung chỉ là chức quan mà thôi.
- Địa Bạch 地白 : là Đất trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng soi.
- Vô Thanh 無聲 : là "Không có tiếng động"; Trong câu có nghĩa là "Âm thầm, lặng lẽ".
- Tận Vọng 盡望 : có nghĩa là "Đều ngắm. đều thấy".
- Thu Tứ 秋思 : là Tứ Thu, là Ý thu, là Cảm nhận về mùa thu.
- Lạc 落 : là Rơi, là Rụng, là Rớt vào...
* Nghĩa bài thơ:
ĐÊM RẰM NGẮM TRĂNG GỞI ÔNG LANG TRUNG HỌ ĐỖ
Đất trong sân nhà trắng lên vì sương xuống và vì ánh trăng rằm soi rọi, có những con qụa đậu trên cây trong sân nhà.
Sương lạnh âm thầm tạo nên những hạt móc làm ướt những cành hoa quế.
Đêm nay trăng sáng chắc mọi người mọi nhà đều trông thấy và ngắm nhìn.
Không biết là "ý thu" đêm nay sẽ rơi vào nhà của ai đây ?!
THU TỨ là tình thu, là ý thu, là tâm tình của những người đồng điệu cùng nghĩ và cùng nhớ đến nhau trong đêm thu trăng sáng. Chữ LẠC đã rất mơ hồ và nên thơ : Có được bao nhiều người cùng cảm nhận được cái đẹp, của đêm thu như tôi và bạn trong đêm nay ? Thật vô cùng nên thơ và ý vị !
* Diễn Nôm:
THẬP NGŨ DA VỌNG NGUYỆT KÝ ĐỖ LANG TRUNG
Trong sân sáng trắng qụa nương cây,
Lặng lẽ sương sa hoa quế lay.
Trăng sáng đêm nay ai chẳng ngắm,
"Ý thu" ai biết... lạc nhà ai ?!
Lục bát:
Sân sáng trắng, quạ nương cây,
Quế hoa thấm ướt sương đầy trời cao.
Đêm nay cùng ngắm trăng sao,
Ý thu... ai biết lạc vào nhà ai ?!
3.THU OÁN 秋怨 của La Nghiệp 羅鄴:
LA NGHIỆP 羅鄴 (825-900?) người đất Dư Hàng (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ông là thi nhân ở cuối đời Đường, có tiếng là THI HỔ 詩虎 (Con Cọp trong thơ), xuất thân trong một gia đình Viêm Thiết Lại 鹽鐵吏 (quan trông coi về muối), cùng với La Ẩn, La Cầu 羅隱、羅虬 trong họ tộc, được người đời xưng tụng là "Giang Đông Tam La 江東三羅". Ông lúc trẻ số phần lận đận, thi mãi mà không đậu được Tiến sĩ. Những năm từ Hàm thông đến Càn phù ông nổi tiếng về thơ thất ngôn luật thi và tứ tuyệt. Cuối đời sống lưu lạc ngoài vùng biên tái, làm Mạc phủ lại cho Thiền Vu Đô hộ Phủ, được nhà thơ Vi Trang là Lại Bộ Thị Lang lúc bấy giờ tấu trình lên nhà vua và được vua ban hàm Tiến Sĩ Cập Đệ. Còn để lại một "La Nghiệp Thi Tập 羅鄴詩集" nổi tiếng với các câu như :
年年点檢人間事, Niên niên điểm kiểm nhân gian sự,
唯有春風不世情。 Duy hữu xuân phong bất thế tình.
Có nghĩa:
Năm năm kiểm điểm chuyện đời,
Chỉ gió xuân chẳng khiến người bâng khuâng!
Thật cảm khái! Mỗi năm kiểm điểm lại chuyện của người đời, thì chỉ có gió xuân là vô tư nhất, thoải mái nhất, mang ấm áp dễ chịu đến với tất cả mọi người không phân biệt sang hèn qúy tiện gì cả ! Nhân còn trong mùa thu, mời đọc thêm một bài thất ngôn tứ tuyệt THU OÁN 秋怨 cũng rất nổi tiếng của ông sau đây:
秋怨 THU OÁN
夢斷南窗啼曉烏, Mộng đọan nam song đề hiểu ô,
新霜昨夜下庭梧。 Tân sương tạc dạ há đình ngô.
不知簾外如珪月, Bất tri liêm ngoại như khuê nguyệt,
還照邊城到曉無。 Hoàn chiếu biên thành đáo hiểu vô?!
* Chú thích:
- ĐOẠN 斷 : là Đứt, Dứt, Gãy; nên Mộng Đoạn 夢斷 là Mơ nửa chừng bị dứt ngang, là Giật mình tỉnh mộng.
- HIỂU 曉 : là Buổi sáng sớm; Hiểu Phong 曉風 là Gió sớm; Hiểu Ô 曉烏 là Tiếng quạ kêu buổi sáng khi sương xuống.
- ĐÌNH NGÔ 庭梧 : là Cây ngô đồng trồng trong sân nhà.
- KHUÊ 珪 : là một loại ngọc, đá qúy; Ta thường gọi là Cẩm Thạch, có màu xanh có màu trắng. Khuê Nguyệt 珪月 chỉ Vầng trăng sáng như ngọc Khuê màu trắng.
- ĐÁO HIỂU 到曉 là Tới Sáng. HOÀN...ĐÁO HIỂU VÔ 還...到曉無? Là câu Nghi vấn có nghĩa : "Còn... tới sáng không ?"
* Nghĩa bài thơ:
Nỗi Oán Hờn Trong Mùa Thu
Giật mình tỉnh mộng vì nghe tiếng quạ ban sáng đang kêu oang oác bên song cửa sổ phía nam; Nhìn ra thấy sương thu mới của đêm qua còn phủ đầy trên cây ngô đồng trong sân nhà. Không biết rằng ở ngoài bức rèm châu cái vầng trăng tròn vành vạnh như miếng ngọc Khuê kia, cũng soi rọi thâu đêm suốt sáng ở tận mãi xứ biên thành xa xôi đó hay chăng ?!
Trong cảnh nệm ấm chăn êm, chỉ giật mình tỉnh mộng khi nghe tiếng qụa kêu, rồi thấy sương thu mới đang rơi đây trên cây ngô đồng mà xúc cảnh sinh tình rồi ưu tư lo lắng cho người ở tận biên thành xa xôi, không biết cái vầng trăng tròn tỏa ánh sáng ấm áp kia cũng đem cái ánh sáng ấm áp đó mà soi rọi suốt đêm cho người lính thú đang trực canh gác giặc ở tiền đồn hiu hắt đó hay không ?! Khéo là lo lắng ngẩn ngơ, vầng trăng cũng như là gió xuân vậy đến với tất cả mọi người chớ chẳng vị riêng ai cả ! Nhưng đây cũng là tấm lòng của người cô phụ vọng phu, luôn luôn khắc khoải nhớ mong đến kẻ chinh phu ở ngoài biên ải xa xăm vạn dặm.
* Diễn Nôm:
THU OÁN
Tỉnh mộng quạ kêu ngóng cửa song,
Đêm qua sương mới ướt ngô đồng.
Ngoài rèm trăng tỏ như khuê ngọc,
Có chiếu biên thành suốt sáng không ?!
Lục bát:
Qua kêu chợt tỉnh giấc nồng,
Ngoài sân sương phủ ngô đồng đêm qua.
bên rèm lặng ngắm bóng nga,
Suốt đêm có chiếu người xa biên thành ?!
KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN!
4. THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG 天津橋春望 của UNG ĐÀO 雍陶:
UNG ĐÀO 雍陶(805—?) tự là Quốc Quân 國钧, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy.
天津橋春望 THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG
津橋春水浸紅霞, Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,
煙柳風絲拂岸斜。 Yên liễu phong ty phất ngạn tà.
翠輦不來金殿閉, Thuý liễn bất lai kim điện bế,
宮鶯銜出上陽花。 Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.
雍陶 Ung Đào
* Chú thích:
- THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.
- TẨM 浸 : là Ngâm nước, là Chìm trong nước.
- HỒNG HÀ 紅霞 : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.
- PHẤT 拂 : Có bộ Thủ 扌là Tay bên trái. Nên có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đung Đưa...
- THUÝ LIỄN 翠輦 : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.
- HÀM 銜 : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.
- THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 (667). Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn (755-763), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn (702-805) thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !
* Nghĩa bài thơ:
NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN
Khi ta lên cầu Thiên Tân để ngắm vẻ xuân thì thấy ráng chiều đỏ thắm như in ở dưới nước. Tơ liễu như mây như khói theo gió đung đưa bên bờ sông trong ánh nắng chiều. (Thiên nhiên của mùa xuân thì vẫn đẹp như thuở nào) Nhưng... xe của Vua đã không còn ngự đến nữa, và điện vàng thì đóng kín im ỉm, những con chim oanh cũng bỏ cung mà tha cả những cánh hoa của Thượng Dương Cung bay ra bên ngoài!
Thật cảm khái! Mùa xuân thì cảnh vật mỗi năm vẫn thế, nhưng thời thịnh trị phồn vinh của nhà Đường thì một đi không trở lại! Chẳng những hành cung bị bỏ phế mà chim én, chim oanh cũng đã bỏ đi rồi, lại còn tha cả những đóa hoa của cung Thượng Dương để bay ra ngoài nữa chớ!
Một điều thật thú vị là... Bài thơ nầy thường "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN với cách giải thích như sau :
Cảnh xuân đẹp bên cầu Thiên Tân với ráng chiều đỏ thắm, với liễu rũ như tơ ở hai bên bờ, làm cho nàng cung nữ chợt động tình xuân, nhưng xe vua không tới và điện vàng thì luôn khóa kín, khiến nàng càng tủi phận mình hơn khi thấy chim oanh tha một cánh hoa ra khỏi Thượng Dương Cung. Hoa còn được chim tha ra ngoài chớ thân phận của mình biết ngày nào mới được giải thoát cho đây ?!
Qủa là một sự hiểu lầm đầy thi vị !!!...
* Diễn Nôm:
NGẮM XUÂN BÊN CẦU THIÊN TÂN
Thiên Tân bóng nước ráng in hồng,
Tơ liễu mơ màng bên bến sông.
Chẳng thấy xe vua cung khóa kín,
Ngậm hoa oanh nọ vượt tường đông!
Lục bát:
Nước xuân in bóng ráng chiều,
Bên cầu tơ liễu hiu hiu gió lùa!
Điện vàng khóa, vắng xe vua,
Thượng Dương hoa được oanh vừa tha ra!
Ta vừa đọc qua bài Thiên Tân Kiều Xuân Vọng của Ung Đào, một bài thơ hoài cổ cảm khái trước tang thương biến đổi, do vật đổi sao vời mà làm nên, nhưng lại "bị" hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN, còn bài thơ Thu Tịch của Đỗ Mục là một bài thơ CUNG OÁN thì lại rất ít người phát hiện ra cái OÁN của nó. Nên tôi mới đề tựa cho 2 bài nầy là :"KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !" Chuyện văn chương lắm lúc oái oăm, lắt léo mà lại thú vị vô cùng !
Mời tất cả cùng đọc lại bài thơ sau, so sánh nghiền ngẫm để cảm nhận cái hay ho sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng, thi vị của văn thơ !....
5. THU TỊCH 秋夕 của Đỗ Mục 杜牧:
秋夕 THU TỊCH
銀燭秋光冷畫屏, Ngân chúc thu quang lãnh họa bình
輕羅小扇撲流螢。 Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh
天街夜色涼如水, Thiên giai dạ sắc lương như thủy
臥看牽牛織女星。 Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .
* Chú thích:
- Ngân Chúc 銀燭 : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.
- Họa Bình 畫屏 : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.
- Khinh La 輕羅 : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài " Khinh La Tiểu Phiến " : Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ xưa thường cầm trên tay.
- Phốc 撲 : Là chụp bắt.
- Lưu Huỳnh 流螢 : LƯU 流 là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh : là Sao xẹt. HUỲNH 螢 : là con Đom đóm. Nên LƯU HUỲNH là "Đom đóm đang bay lượn".
- Thiên Giai 天街 : GIAI 街 là đường phố. THIÊN GIAI : không phải là đường phố ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.
- Lương Như Thủy 涼如水 : là Mát như nước.
* Nghĩa bài thơ:
ĐÊM THẤT TỊCH
Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.
* Diễn Nôm:
THU TỊCH
Lung linh nến trắng bình phong lạnh,
Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.
Lấp lánh sao trời trong như nước,
Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .
Lục bát:
Bình phong thu lạnh se se,
Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay
Trời thu như nước mát thay,
Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !
Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ... Rất bình dị và rất nên thơ ! Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán!... Này nhé
... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của các vương hầu vua chúa, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành, trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không ! Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ? ! Duy chỉ có nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...
Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên.... mà thôi!
"Bách niên" mà chỉ gặp nhau vào đêm "Thất Tịch" hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì!!!
Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái "Oán" trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :
... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!...
Khi...
Cái OÁN đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động!
Bản thư pháp của Đỗ Chiêu Đức
Hẹn bài dịch tới!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét