Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

Lạc Vào Thiên Thai



Cuối Năm, uống rượu một mình,
Chưa say... mà chợt... thấy hình bóng ai?
“Giáng Tiên”, mắt phượng, mày ngài
Ô hay! Đâu phải Bồng Lai chốn này!

Men “Hoàng-hoa-tửu” ngất ngây,
Cùng Nàng chuốc chén, vui vầy Tất Niên
Nụ hôn, người đẹp trao duyên...
Quanh tôi, cảnh vật bỗng nhiên khác thường!

Đông, Tây, Nam, Bắc... bốn phương,
Ngàn hoa rực rỡ, tỏa hương ngạt ngào
Gió bay, rơi rắc lá Đào
Dường như tôi đã lạc vào Thiên Thai!

Từ trong mờ ảo sương mây,
Bốn con Hạc trắng lượn bay la đà
Ô kìa!... bốn nàng Tiên Nga
Ngồi trên lưng Hạc, hiện ra dần dần...

“Hoàng Mai” nữ chúa mùa Xuân,
“Ỷ Lan” mùa Hạ, muôn phần đẹp xinh
Mùa Thu “Kim Cúc” đa tình
Mùa Đông “Thanh Trúc” dáng hình như mơ!

Mỗi Năm gồm có bốn mùa,
Bốn nàng Tiên Nữ ngây thơ chủ trì
Tôi, chàng Nghệ Sĩ tình si
Trọn Năm, yêu hết! Kể chi bốn Nàng!

Xin cho tôi sống trong Mơ,
Để tôi viết trọn “Bài Thơ Yêu Đời”
Bốn con Hạc đã... về Trời!
“Hoàng-hoa-tửu” cũng hết rồi... Tôi Say!!!

Trần Quốc Bảo

Richmond, Virginia

Tiểu Thu Chúc Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019



Thơ Yết Hậu - Phần 1



Bài Xướng:

XUÂN
“Yết hậu”
Én đà so cánh dệt bình an
Lữ thứ về đây chớ ngại ngần
Để thấy Mẹ ngồi soi tuổi lửa*
Xuân…
*Ai biết lửa mấy tuổi

MAI

Trầm tư cốt cách bậc trang đài
Vẫy gió đông về kịp mãn khai
Tùng trúc gối sương chờ hội ngộ
Mai …

TÙNG

Bên ghềnh sừng sững dáng ung dung
Thanh thản uy nghi chốn bụi hồng
Kết nghĩa tuế hàn cùng cố hữu*
Tùng …

Như Thị
*Tuế hàn tam hữu
(Tùng ,Trúc,Mai ba người bạn mùa đông)
***
Các Bài Học Thể Yết Hậu:
1/ XUÂN
Mừng Mẹ tâm lành chốn thái an
Phải chăng nước mạch mãi trong ngần
Dạt dào mát mẻ vì con trẻ
Xuân…

MAI
Lặng lẽ mình em kệ chốn đài
Hương đằm người đợi vẫn thường khai
Thương nhau cánh mỏng dầu sương thấm
Mai …

TÙNG
Mạnh mẽ coi thường những bất dung
Càng tươi phong thái sớm mai hồng
Ngàn năm sương tuyết cùng hai bạn *
Tùng …

Phan Tự Trí
* (Tùng, Trúc, Mai-ba người bạn mùa đông-Tuế hàn tam hữu)
***
2/
XUÂN
Pháo nổ làm sao gọi thái an
Khói như mây phủ trắng trong ngần
Vườn ai mai, cúc vàng mong đợi
Xuân ...

MAI
Tưởng là kim nhũ điểm tô đài
Mỗi nụ vàng tươi sắc thịnh khai
Rực rỡ cành xuân xanh lá biếc
Mai...

TÙNG
Bách tán chia đôi vạt nắng hồng
Sân chùa không thắm sắc phù dung
Tam quan gió nhẹ lùa hiu hắt
Tùng...

Hawthorne 19 - 1 - 2019
Cao Mỵ Nhân
***
3/
XUÂN

Gửi gắm đôi dòng ước được an
Mai chiều sức khỏe sống tươi ngần
Quê chờ én dệt mùa tươi mới
Xuân...

MAI
Tàn đông tiết chuyển nụ phô đài
Đến hẹn mùa dâng tỏa sắc khai
Nghĩa kết tình đời vui tái ngộ
Mai...

TÙNG

Phong sương lặng lẽ vẻ nghi dung
Tỏa bóng lam già chẳng ngại ngùng
Kệ nắng mưa dầm tình cố cựu
Tùng...

Hương Thềm Mây
GM.Nguyễn Đình Diệm
***
4/
XUÂN

Đông miên ba tháng cạn dần dần
Ấm áp hơi dương đã tới tuần
Cánh én đưa thoi đang ngóng đợi
Xuân

MAI
Hoa cúc,phương mơ giấc ngủ dài
Chon von sườn núi tựa chờ ai
Đuôi hàng "Tứ Quý " (*) cây nào Đứng ?
Mai

TÙNG
Đầu hàng "Tứ Quý" dáng hào hùng
Thét gió gào mưa chẳng ngại ngùng
Để Trúc ,cú,mai nương dưới bóng
Tùng

 Lạc Thủy Ðỗ Quý Bái
***
5/
XUÂN
Mưa gió quanh năm nhớ bảo an
Dân nghèo đón Tết khổ vô ngần
Mẹ hiền nấu bánh cời than lửa
Xuân…

MAI
Vài đóa trên cao dáng diễm đài
Nụ xanh chờ tới lúc bung khai
Đầu năm nở lộc chào mừng TẾT
Mai

TÙNG
Cây tùng trước gió vẫn thong dong
Đứng vững dù cho nắng đốt hồng
Nóng bức tuôn ra dòng nhựa chảy
Tùng..

NS-Canada
***
6/
XUÂN
Tân niên quen chúc phúc khang an
Chẳng ngại chẳng e chẳng có ngần
Suốt tháng quanh năm lưu cảnh sắc
Xuân

MAI
Cánh đà rơi hết gắng lưu đài
Quý hạt, yêu dòng, nhị thắm khai
Mỗi dịp tân niên tô cảnh sắc
Mai

TÙNG
Đất quê màu mỡ khó bao dung
Vách núi cheo leo nở dáng hồng
Vững trái vươn mình dù thế hiểm
Tùng

Trần Như Tùng
***
7/
XUÂN

Năm cùng tháng tận, dạ đà an
Én lượn trời xanh, mây trắng ngần
Thiên hạ mừng vui đang đón đợi
Xuân

MAI
Một thời giá lạnh ủ trong đài
Chờ gió xuân về, hoa nở khai
Gội nắng dầm mưa, tùng trúc đợi
Mai

TÙNG
Bền bỉ bốn mùa sống trung dung
Cam chịu mưa sa với nắng hồng
Đợi lúc đoàn viên cùng cố hữu
Tùng

Người nay
***
8/
XUÂN

Nấu bánh ngồi canh thức mới an
Hăm ba tiễn Táo kẻo tần ngần
Gia Thừa Kỷ Hợi mừng năm mới
Xuân

MAI
Ngoài Bắc đông đào hoa nở khai
Trong Nam thiếu nữ cũng trang đài
Đề huề cây cảnh bông gì quý...
Mai

TÙNG
Sừng sững xanh um đẹp nhất vùng
Ngang hàng cội bách đứng ung dung
Trúc mai tam hữu nay còn thiếu ...
Tùng

Mai Xuân Thanh

Thơ Yết Hậu - Phần 2



Bài Xướng:

XUÂN
“Yết hậu”
Én đà so cánh dệt bình an
Lữ thứ về đây chớ ngại ngần
Để thấy Mẹ ngồi soi tuổi lửa*
Xuân…
*Ai biết lửa mấy tuổi

MAI

Trầm tư cốt cách bậc trang đài
Vẫy gió đông về kịp mãn khai
Tùng trúc gối sương chờ hội ngộ
Mai …

TÙNG

Bên ghềnh sừng sững dáng ung dung
Thanh thản uy nghi chốn bụi hồng
Kết nghĩa tuế hàn cùng cố hữu*
Tùng …

Như Thị
*Tuế hàn tam hữu
(Tùng ,Trúc,Mai ba người bạn mùa đông)
***
Các Bài Học Thể Yết Hậu:

1/
XUÂN
Rạng rỡ mai, đào…cảnh thái an
Dòng sông đất Mẹ tỏa trong ngần
Thuyền yêu cập bến ân tình nở
Xuân…

MAI
Thắm nở chồi non đẹp cánh đài
Yêu đời trẩy lá đợi hoa khai
Non ngàn lộng lẫy nàng xuân nở
Mai…

TÙNG
Bão tố quây cuồng, cũng chẳng dung
Thân cành vững mạnh rất tươi hồng
Ung dung tuế nguyệt chào non nước
Tùng…

Đức Hạnh 
 21 01 2019
***
2/
XUÂN
Cuối năm phơi phới bởi tâm an
Dẫu tuyết ngoài hiên phủ trắng ngần
Gói ghém đôi vần thơ lặng đón
Xuân!

MAI
Vàng tươi, tựa rỡ giữa xuân đài
Em đến bao người vẫy bút khai
Duyên dáng nghiêng mình trong nắng ấm
Mai!

TÙNG
Mưa to, bão lớn vẫn thong dong
Sừng sững uy nghi giữa nắng hồng
Quân tử ngàn đời danh vẫn rạng
Tùng ! 

Thy Lệ Trang
***
11/
XUÂN
Chúc nhau năm mới được khang an
Phúc, Lộc, Tài, Danh gấp bội phần
Gia đình họp mặt vui như hội
Xuân ...

MAI
Thanh tao mảnh khảnh tựa gương đài
Đợi tiết Xuân sang mở nhụy khai
Sắc hoa vàng rạng rỡ khắp nơi
Mai ...
TÙNG
Từ lâu đứng đó vẽ thư dung
Chiêm nghiệm đời qua lăng kính hồng
Bão táp nắng mưa xem như không
Tùng ... 

Hồng phượng
***
12/
XUÂN
Qua rồi cái thuở lắm gian truân
Thắm thoát thời gian tuổi ngũ tuần
Vội vã đông tàn năm mới đến
Xuân

MAI
Bên thềm liễu rũ bóng hình ai
Dáng nhỏ thơ ngây nét diễm đài
Quân tử phải lòng trao ước hẹn
Mai

TÙNG
Bên lòng giữ vẹn mối tình chung
Nắng táp mưa sa gió bão bùng
Đã nguyện ước thề nguyền tạc dạ
Tùng

Lá úa
***
13/
XUÂN
Hương trà lượn khói tỏa thanh an
Trên nhánh huệ thơm nở trắng ngần
Trước ngõ mai vàng bung nụ thắm
Xuân

MAI
Chẳng mong làm cảnh chốn đền đài
Dân dã vui cùng nụ thắm khai
Nhựa ủ hàn đông chờ tận hiến
Mai

TÙNG
Thấy đời tạm bợ kiếp phù dung
Vui sớm tàn rơi đóa diễm hồng
Chọn cõi an thường tranh thủy mặc
Tùng

Lý Đức Quỳnh
***
14/
XUÂN
Nét đẹp chan hoà giấc mộng an
Rừng hoa nở rộ đẹp vô ngần
Muôn chim nhảy hót trên cành lá
Xuân

MAI
Rực rỡ vàng tươi nét các đài
Đầu cành sáng toả nụ hoa khai
Tươi hoà pháo nổ vui ngày Tết
Mai

TÙNG
Lạnh lẽo cây tàn chẳng thứ dung
Mùa đông vẫn mãi nét kiêu hùng
Trăm năm đứng vững gìn phong độ
Tùng 


Minh Thuý 
24 tháng 1_2019
***
15/
XUÂN
Năm mới vui mừng ,chúc lạc, an
Sớm mơi,giọt nắngvẫn trong ngần
Bầu trời quang đãng chim bay lượn
Xuân

MAI
Lóng lánh sương mai tụ đọng đài
Chờ mong nắng rọi để hoa khai
Vàng bông nhuỵ đỏ cành xanh biếc
Mai

TÙNG
Trên cao mỏm đá đứng ung dung
Hùng dũng hiên ngang giữa ánh hồng
Thi thố can tràng trong bão táp
Tùng

Thanh Hoà
***
 16/
XUÂN
Năm mới cầu mong mọi sự an,​
Mai đào bung cánh đẹp vô ngần.​
Trăm hoa đua nở đang chào đón​
Xuân

​MAI
Trăm hoa sợ lạnh trốn trong đài,​
Chờ nắng ấm lên để mãn khai.​
Đón tết mọi nhà đều chẳng thiếu​
Mai

​TÙNG
Đông lạnh thu tàn tuyết bất dung,​
Sương mù gió bấc nắng phai hồng.​
Bốn mùa xanh tốt không hề úa​
Tùng

 
Nguyễn Thị Mỹ-Ngọc
Jan.22/2019
***
  17/ 
Cảm Tác:
XUÂN
“Trám yết hậu”

Én đà so cánh dệt bình an
Lữ thứ về đây chớ ngại ngần
Để thấy Mẹ ngồi soi tuổi lửa
Xuân về ríu rít tiếng chim ngân

MAI
Trầm tư cốt cách bậc trang đài
Vẫy gió đông về kịp mãn khai
Tùng trúc gối sương chờ hội ngộ
Mai vàng nở rộ gió nghiêng lay

TÙNG
Bên ghềnh sừng sững dáng ung dung
Thanh thản uy nghi chốn bụi hồng
Kết nghĩa tuế hàn cùng cố hữu
Tùng xanh che mát cả trời đông

Trầm Vân

Con Bích La Nhà Đệ Tử



Nhà đệ tử, lúc đó có nuôi hai con chó. Chó mẹ có tên "cò" vì lông nó toàn một màu trắng như sương, con trai nó thì đệ tử đặt cho cái tên "phèn" vì nó bị lai con mực nhà hàng xóm nên lông có màu hơi vàng. Nhưng vì ba của đệ tử thấy nó từ khi sanh ra rồi lớn lên lúc nào cũng ú na, ú nần nên sửa tên nó lại là Bích La (thật sự là vậy không phải ba lít Đường Xuồng mà Lý sư thúc đề cập đâu nha)

Quê nhà đệ tử ở xã Mong Thọ quận Kiên Tân. Thật ra đệ tử không sanh ra ở đó, nơi đó chỉ là chỗ chôn nhau cắt rún của bốn đứa em.
Đệ tử được sanh ra ở quận Lấp Vò tỉnh Sa Đéc, nơi đó là quê bên nội, bên ngoại. Đệ tử chưa lần nào nhận mình quê ở Lấp Vò cả. Cũng không biết lý do, hay nguyên nhân là sao nữa. Chỉ là không thích mà thôi. Lúc nào và bất cứ có ai hỏi về quê quán đệ tử vẫn luôn luôn và mãi mãi trả lời câu:
- Quê tôi đó "Rạch Giá thân yêu" Xã nghèo Mong Thọ.

Xã Mong Thọ nằm trên đường liên tỉnh số 8 từ Rạch Giá đi Long Xuyên, Cần Thơ chuyển qua quốc lộ 4 đi lên Sài Gòn. Về phía gần biển, giáp với thị trấn Rạch Sỏi nơi đó có phi trường Rạch Sỏi với phị đạo ngắn ngủn chỉ võn vẹn có 1200 mét, vậy mà dân chúng thời ấy rất là hãnh diện đặt ra nhiều bài ca vọng cỗ để ca ngợi. Phía trên hướng Long Xuyên, giáp xã Thạnh Đông còn mấy mặt khác thì đệ tử không nhớ nó giáp ranh với địa phương nào.
Sở dĩ đệ tử kể dài vòng như vậy là vì thời đó nó nghèo quá cở thợ mộc đi. Toàn xã có 10 ấp mà 6 ấp nghèo rớt mồng tơi chỉ có ấp Hòa An có ngôi chợ nằm trong đó thì hơi khá chút xíu, ấp Hòa Bình và Hòa Lợi nằm trên trục giao thông cũng đở đở, còn ấp Hòa Thuận nằm phía bên kia sông nơi có nhà của đệ tử thì cũng nghèo mạt nhưng mà chưa có rệp và mồng tơi cũng chưa rớt. 

Toàn xã chỉ có một ngôi trường sơ cấp, học xong lớp 3 là phải lều chỏng lên quận để thi vào lớp nhì rồi. Phải 2 năm sau khi đệ tử vào học đệ Thất thì xã Mong Thọ mới mở tới lớp nhì.
Thuở nhỏ sống gần như trong "hóc bà tó" nên chơi toàn là dân ruộng, đứa nào khá một chút thì học tới lớp nhất vì khi thi vào đệ Thất, thì 9 đứa lên học trên trường quận chỉ còn sót lại một mình đệ tử mà thôi. Còn 8 người kia đều trở về nối nghiệp cày bừa. 
Chính vì thế đệ tử rất ít bạn bè chỉ có mấy người học chung lớp mà thôi, thân vài ba mạng ngồi gần, còn bao nhiêu chỉ biết chứ không chơi chung. 

Vì là nhà nghèo nên đi học một buổi còn buổi kia về đến nhà là ra ruộng làm phụ cha mẹ .Tùy theo thời vụ mà có những công việc khác nhau như: Xạ lúa, cấy lúa gặt lúa, đập lúa ..v..v . 
Mùa nước thì đi cắm câu, giăng lưới đặt lờ... Mùa khô thì bắt chuột, bắt rắn, đâm lươn..v..v..
Học buổi sáng buổi chiều ra đồng, còn học buổi chiều thì buổi sáng chỉ làm chuyện lặt vặt trong vườn mà thôi...

Một hôm đệ tử đi đuổi chuột với 2 người bạn cùng xóm, khi về ngang qua một trại ruộng cách nhà chừng 3 cây số.Trại trống trơn, chủ không biết đi đâu. Đang đi thì có một cô chó con nhỏ cở bằng bắp chân với bộ lông màu trắng mướt cứ chạy lắn quắn theo chân mãi, đuổi cách gì nó cũng không chịu trở về trại.
Ba người ra tới ngoài đất cày, đi xa trại hơn 500 mét mà con chó vẫn còn lẽo đẽo theo sau. Thấy nó mệt le lưỡi thằng Tài nói:
- Ê! Con chó nó muốn theo mầy về nhà đó. Hay mầy đem nó về nhà nuôi đi.
Thuở đó muốn nuôi chó chỉ cần hỏi xin người nào có chó con là được rồi. Ở quê không ai bán chó con bao giờ. Nhưng chủ trại không có đó, nếu bắt đại, hóa ra mình ăn cắp của người ta sao? Nên đệ tử làm thinh không thèm trả lời. Đi thêm một đổi chừng trăm mét nửa con chó mệt quá vừa chạy theo vừa kêu ẳng, ẳng.
Ba đứa thấy vậy đi chậm lại cố ý chờ, khi nó theo kịp đến gần thì vẩy đuôi mừng quýnh. Thằng Hùng thấy con chó dễ thương nên nói:
- Ê Long! Mầy không dám bắt thì tao bắt về nuôi à nghen?
Thằng Tài can:
- Nhà mầy có hai con chó mực rồi còn bắt về làm gì nữa? Bộ tính nuôi lớn cho ba mầy xào lăng hả?
- Nhưng mà thằng Long nó không bắt, bộ tụi mầy tính để cho nó chết giữa đồng à?
Đệ tử và thằng bạn kia đuối lý làm thinh. Vậy là thằng Hùng để giỏ chuột xuống quay lại định ôm con chó theo. Nó vừa đụng vô là con chó cò nhỏ quào nó mấy cái rồi quay đầu bỏ chạy tuốt.Thằng Tài cười hả hả:
- Thấy chưa? Tao nói rồi con chó nó biết mầy đem nó về nuôi ăn thịt, nó đâu có thèm, mầy mà đụng nó lần nữa nó cắn chứ không thèm quào đâu đó.
Thấy nó quay đầu trở về trại nên đệ tử an tâm nói:
- Nó về nhà rồi chắc không sao đâu.
Ba đứa tiếp tục đi về nhà nhưng đi chưa đầy 10 phút thì lại nghe tiếng ẳng ẳng phía sau. Đệ tử quay đầu lại nhìn, thì thấy con chó chạy theo nữa. Lần nầy thằng Hùng không thèm đếm xỉa tới nó. Thằng Tài lại nói:
- Long! Đâu mầy lại bắt nó thử coi. Nếu nó không cắn tức là "ông bà" cho mầy, vậy thì cứ ôm về mà nuôi đại đi, ai nói mầy ăn cắp thì tụi tao làm chứng cho.
Thằng Hùng thì móc lò một câu:
- Còn như nó cắn thì mầy tìm ông Năm lấy nọc cho, sợ gì ?
Thấy giọng cười đểu cán của nó đệ tử liền bỏ giỏ chuột xuống đất quay đầu trở lại. Lần nầy con chó cò không biết vì mệt hay sao mà nó nằm mẹp vẫy đuôi lia lịa. Đệ tử bồng nó lên, nó rút đầu nhụi nhụi vào mình, đệ tử tội nghiệp nên đem nó về nuôi.
Trên đường về đệ tử dặn hai thằng bạn:
- Ê! Tụi mầy nói dùm là tao xin của ông Sáu chứ đừng nói là chôm của người ta nghe hông? Nếu không thì tao bị no đòn đó. Biết chưa ?

Con chó Cò càng lớn càng khôn, càng giỏi, bắt chuột giữ nhà số dách, đệ tử đi học về còn ở dưới xuồng chưa bước lên bờ nó ở trên bờ hí hửng vẫy đuôi lia lịa.
Bốn anh em đệ tử thương nó vô cùng. 
Nhà gặt lúa kéo về chưa đập, nó ra nằm ngoài trời để giữ lúa, mua hàng đem về bán nó xuống nhà sau ngủ giữ hàng, nó đi chơi bất cứ nơi đâu đệ tử chỉ cần huýt sáo là nó chạy về ngay...
Mỗi năm con chó cò đẻ một lứa, thường thường là 4 con, vì ở xóm người ta nuôi toàn chó mực, con cò đẻ ra chưa khi nào có một đứa con giống nó, không ra mực cũng ra luốt, luốt hoặc là phèn có khi ra thành con đốm chổ trắng chổ đen...

Càng về già con cò đẻ càng ít đi, đệ tử muốn chừa lại một con để nuôi, nhưng chờ hoài chưa thấy nó đẻ ra con chó nào lông toàn trắng như nó cả.
Đến khi đệ tử học đệ Nhị, đầu năm đó con cò chỉ đẻ duy nhất có một con màu luốt luốt hơi vàng vàng. Sợ nó không đẻ con nữa, mất giống nên đệ tử không cho ai hết, mặc dù ba của đệ tử đã không biết mà hứa cho người khác rồi. 
Ba đứa em gái và má của đệ tử cũng đoàn kết một lòng nhất định không cho còn phèn mà để dành nuôi.
Ông già bị lép vế chịu thua nhưng trong lòng ức lắm. Con phèn sanh ra là con một, đầy đủ sữa mẹ nên lớn mau như thổi, lúc nào cũng mập ú, mẹ nó săn chuột đem về cho nó ăn, không biết vì được nuông chiều quá nên hư hay sao mà con phèn không bao giờ chịu theo chó mẹ đi bắt chuột. 
Dụ dổ hay là bắt buộc cách mấy, buột nó ra ruộng thì nó chỉ chạy lòng vòng rồi lẻn trở lại nhà nằm chờ mẹ nó săn chuột về ăn mà thôi.
Đệ tử tập hoài không được, nên chán quá không thèm ngó ngàng gì tới nó nữa, nhưng cũng không phải là ghét bỏ.
Con "phèn" chỉ giỏi có một việc duy nhất là đuổi gà, gà vịt hàng xóm mà léo hánh tới trước cửa nhà là con "phèn" rượt chạy xịt khói. Nó chỉ rượt thôi chứ không bao giờ cắn gà của hàng xóm.
Ba của đệ tử thấy nó dở quá cứ đòi làm thịt hoài nên sửa cái tên "phèn" thành Bích La. Ổng ta hăm nó thiếu điều muốn mẻ răng. Còn nhỏ em Út thì cưng con "phèn" lắm có đồ ăn là chừa cho nó.

Rồi một hôm nhà có khách từ Sa Đéc lên chơi. Là chú Mười bạn thân hồi đời cố lũy nào đó của ba đệ tử. Hai người đang dẫn nhau đi thăm mấy người quen cùng ở Sa Đéc lên Rạch Giá định cư lập nghiệp chung .
Vừa đi học về, bước vô nhà đã thấy nhỏ em ngồi ôm con bích la khóc:
- Em làm gì mà không đi học? Còn ngồi đó ôm con chó khóc vậy?
Bé Ngân quẹt nước mắt nói:
- Ba nói một lát nữa ổng làm thịt con bích la đãi chú Mười.
Đệ tử biết ông già mình khoái thịt chó xào lăng nhưng chỉ đi nhậu thịt chó nhà hàng xóm chứ chưa bao giờ làm thịt chó ở nhà. Lý do đơn giản là má đệ tử không cho .
- Vậy má đâu? Mà ba đòi làm thịt chó trong nhà?
- Má đi Tân Hiệp thăm cô Năm bịnh rồi.
Đệ tử thấy chuyện không ổn nên gọi cô em kế lại dặn:
- Em dẫn con bích la đi xuống xóm dưới trốn đi, để anh hai ra đồng bắt chuột về đãi chú mười.

Đệ tử nói xong thì cấp tốc thay quần áo xách xà vi và cây len rồi huýt gió kêu con chó cò theo hộ tống ra ruộng liền. 
Vừa đi vừa cố huýt gió tìm con chó cò thì phía sau con bích la đang chạy theo, ủi ủi vào chân đệ tử. 
Đệ tử rất lấy làm lạ vì từ trước tới giờ nó lười biếng chưa bao giờ thèm ra đồng bắt chuột cả. Hổng lẻ trời sắp xập xuống tới nơi rồi hay sao? Hay là nó có linh tính nếu mà hôm đó ở nhà sẽ bị bắt làm tiết canh. 
Con bích la đi ruộng chưa phải là điều làm đệ tử ngạc nhiên kích động, cái mà nó làm cho đệ tử ngạc nhiên là từ trước tới giờ nếu nó gặp chuột thì phập giữa con rồi lắc qua lắc lại làm bầm dập mình mẩy cho đến khi con chuột ngủm củ tỏi mới thôi, nếu nó đem con chuột lại rồi nhả ra, thì chỉ có nước vất bỏ cho cá vồ ăn, chứ không còn xài vào việc gì được nữa.
Hôm đó nó cắn chuột rạo rạo ngay đầu y chang mẹ nó lúc còn trẻ. Hai mẹ con nó chun vô đám cỏ nằm rình, đệ tử chỉ cần đuổi cho chuột chạy về phía chúng là xong chuyện. Cũng kể từ hôm đó nó thế mẹ nó theo đệ tử đi đồng. Nếu đệ tử không rảnh thì nó săn chuột tha về cho mẹ nó vì con chó cò của đệ tử đã già quá rồi chỉ còn đi tới đi lui trong nhà mà thôi...
Ba đệ tử thấy con bích la có hiếu với mẹ, lại biết đi đồng bắt chuột nên cũng bỏ ý định làm thịt nó và cũng từ lúc đó ổng cũng bỏ luôn không rớ tới thịt chó xào lăng, tiết canh, hoặc dồi hay là chó nấu đậu...
Bạn bè lối xóm mời, nói cách gì ổng cũng từ chối không thèm đụng đũa vô nữa...

Khi đệ tử vào học ở trường Sư phạm VĩnhLong con bích la ở nhà theo đứa em kế ra đồng săn chuột thế mẹ nó. Hai tháng sau lần đầu em về thăm nhà, con bích la cũng thế mẹ nó vẫy đuôi chào, còn xác con chó cò của em được chôn sau vườn nhà. 
Con bích la cũng chết sau ngày em vượt biên không lâu. Hai đứa bạn kế bên nhà một đứa đi quân dịch chết trận ở Vị Thanh còn một thằng bị rắn cắn phải chặt bỏ hai ngón tay để cứu mạng, vì thế nên bị lính chê, ở nhà buồn tình nhậu quá, khi lội ngang qua sông bị dộp bẻ cũng chết theo một năm sau ngày mất nước...
Chuyện em kể có thật 99 % Các sư thúc có tin hay nói là thằng đệ tử nầy chỉ phịa cho vui, vậy cũng đành phải chịu. 
Chuyện những con chó khôn ngoan đệ tử nghe kể cũng nhiều, đọc qua cũng không ít, nhưng thấy thì chỉ có một mà thôi...

Lanh Nguyễn

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2019

Năm Mới Tuyệt Vời



Thơ: Huỳnh Hữu Đức (Bút Hiệu Quên Đi)
Thơ Tranh: Kim Oanh


Hình Như


Hình như ngọn gió mang hương cũ
Ngây ngất ngón đàn dạo khúc xuân
Âm điệu trào dâng hồn lắng đọng
Tiếng lòng hòa nhịp thoáng bâng khuâng

Hình như sóng mắt mang cuồng lũ
Dào dạt tim nồng dạo khúc thương
Nỗi nhớ âm thầm dòng lệ nhỏ
Mưa khuya ray rức suốt đêm trường

Hình như giấc ngủ chưa tròn giấc
Lắng tiếng thở dài trăn trở đêm
Mộng thực mơ hồ nghe réo gọi
Tiếng người năm cũ xót xa thêm


Kim Phượng

From Cupped Hands - Ki no Tsurayuki

Đôi Nét về Tác Giả:
Ki no Tsurayuki (?, 872 - 30 Tháng Sáu, 945) là một tác giả, nhà thơ và người cai trị của thời Heian. Ông được biết đến như là người biên soạn chính của Kokin Wakashū và là tác giả của Tosa Diary, mặc dù điều này đã được xuất bản ẩn danh.
Tsurayuki là con của Ki no Mochiyuki. Trong những năm 890, ông trở thành một nhà thơ của waka, những bài thơ ngắn viết bằng tiếng Nhật.Waka của ông được bao gồm trong một trong những tuyển tập thơ quan trọng của Nhật Bản



From Cupped Hands

From cupped hands
Droplets cloud
The mountain spring-
It’s not enough-as from you
Am I parted.

Ki no Tsurayuki
***
Phỏng Dịch:

Từ búp tay cuộn
Vụn nhỏ mây tuôn
Xuân nguồn không đủ
Khi nửa tôi buông


Kim Oanh 

Thăng Long





Bài Xướng:
Thăng Long

Thăng Long đô hội phồn hoa
Hương xông xạ ướp lụa là đẹp xinh
Tiệc tùng xe ngựa rập rình
Quận Công , Quận Chúa đầy sân đầy đường
Nhà quan Tham Tụng giầu sang
Mà sao Nguyễn Thiếp chê tràn chẳng kiêng
La Sơn cách mấy dặm nghìn
Qua Thăng Long để một nhìn triều Lê
Đường hoa còn nặng lòng quê
Vời trông Hồng Lĩnh quay về đi thôi

Chân Diện Mục
***
Bài Họa:

Ray Rức Hồn Quê

Sơn hà trời biển gấm hoa
Non xanh nước biếc thật là xinh xinh
Ngoại bang tham vọng luôn rình
Mưu mô thâm độc lấn sân lấn đường
Vung tiền mua lũ hám sang
Biển ta lũ cướp lan tràn nào kiêng
Hoàng Trường đảo có đôi nghìn
Giặc đang chiếm giữ mắt nhìn buồn lê
Xót lòng hai chữ hồn quê
Mong sau con cháu lấy về mới thôi.


Quên Đi

Vịnh Trư Bát Giới



Bài Xướng:

Vịnh Trư Bát Giới

Nguyên Soái Thiên Bồng ấy lão Trư,
Ba mươi sáu phép lộng huyền hư.
Tiểu thơ Cao Lão Trang ... là nợ,
Sư phụ Đường Tam Tạng ... phải tu.
Bát Giới tĩnh tâm thôi vướng bận,
Ngộ Năng dưỡng tánh hóa ôn nhu.
Tây phương Phật Tổ công phong thưởng,
Sứ Giả Tịnh Đàn ấy lão Trư!

Đỗ Chiêu Đức

***
Bài Họa: 

Kỷ Hợi - "Trư Bát Giới" 

Hung hăng Bát Giới tiếng tăm "Trư" (1) 
Nguyên Soái trên trời rõ thực hư (2) 
Bị đọa Dê Xồm tên lãng tử 
May nhờ Tam Tạng bậc chân tu 
Đường Tăng, đệ tử, yêu tinh nhược 
Ba Ngộ : Không, Năng, Tịnh giả nhu (3) 
Dưỡng tánh Thiên Bồng nên Sứ Giả (4) 
An nhiên tự tại vẫn chàng "Trư" ! 

Ngày 31/12/2018 
Mai Xuân Thanh 

(1) Theo phò Tam Tạng với tên đầy đủ là Trư Bát Giới 
(2)Thiên Bồng Nguyên Soái là Tướng trên trời 
(3) 3 Ngộ : Tôn Ngộ Không, Trư Ngộ Năng và Sa Ngộ Tịnh là 3 đệ tử của Đường Tăng Tam Tạng cùng đi thỉnh kinh Phật 
(4) Sứ Giả : Sau cùng Trư Bát Giới thỉnh được kinh xong được phong chức Sứ Giả Tịnh Đàn đạt thành chánh quả nhà Phật 
***
Trư Bát Giới

Phạm tội lưu đày,Bát Giới Trư 
Si cuồng dục lạc tính còn hư 
Tham nhiều gái đẹp lòng nay đắm 
Hỏng bấy nhân lành kiếp trước tu 
Tiên cảnh chưa thông đường tấn,thối 
Cõi người khó tỏ phép cương,nhu 
Nhờ công sư phụ thường khai trí 
Chuyển thói dâm tà chướng nghiệp Trư 

Lý Đức Quỳnh

Tờ Lịch Đầu Năm



Tờ Lịch Đầu Năm


Tờ lịch đầu năm đã xé xong
Bâng khuâng một chút ở trong lòng
Tương lai sắp đến còn hy vọng
Dĩ vãng qua rồi hết đợi trông
Mong ước quê Cha cây trĩu nụ
Nguyện cầu đất Mẹ lúa thơm đồng
Hai mươi mười chín niềm tin mới
Dân Việt an bình chốn Viễn Đông


songquang
1/1/2019
***
Bâng Khuâng Hết Tết
Chúc mừng năm mới, nghĩ chưa xong
Cảm thấy băn khoăn tự đáy lòng
Thử hỏi ngày mai còn tết đợi
Hay như tuần trước lại thơ trông
Quê hương gió loạn cuồng tâm bão
Viễn xứ mây sa kín mặt đồng
Tống cựu nghinh tân đâu cũng vậy
Bắc Nam cách trở tựa tây đông ...

Hawthorne 1 - 1 - 2019

Cao Mỵ Nhân
***

Ngày Đầu Năm

Tiệc tùng họp mặt mới vừa xong
Cảm giác lâng lâng rộn cõi lòng
Năm mới mang theo nhiều hứa hẹn
Ngày đầu đáp ứng những chờ trông
Biển sông xanh biếc, thuyền gom cá
Ruộng rẫy vàng tươi, lúa ngập đồng
Xã hội an bình, người hạnh phúc
Gia đình con cháu mãi thêm đông.

Phương Hà
***

Lạnh Lùng Đông

Trơ cành cây cối, tái tê đông.
Lau lách đìu hiu, tuyết trắng đồng.
Rực rỡ pháo hoa người thích thưởng
Não nề mưa gió kẻ ngùi trông.
Bạn bè thưa vắng im lìm tiệc
Giọng hát già nua bứt rứt lòng.
Tờ lịch đầu năm vừa rộn rã
Đã lìa trần thế lánh đời xong !

Mailoc
01-02-19
***
Nhìn Cuốn lịch Mới

Ngắm nhìn cuốn lịch mới thay xong
Rạo rực chồi mơ bám rễ lòng
Năm cũ bao điều chưa toại nguyện
Xuân này vạn sự thỏa niềm trông
Tự do kết nụ tươi bình đẳng
Dân chủ thăng hoa thắm đại đồng
Nước Việt nguồn Nam hòa biển cả
Quy về một mối cháu con đông.

Lý Đức Quỳnh
 3/1/2019
***
Nàng Xuân Tung Cánh

Xuân cười rạng rỡ trổ vừa xong !
Xuân nở muôn hoa ngát tận lòng
Xuân đến muôn người trao ước vọng
Xuân chào cuộc sống nhớ hương đồng
Xuân đơm lộc mới tình mơ mộng
Xuân nẩy chồi xanh cảnh lập đông
Xuân hát cho đời bao khát vọng
Xuân mừng đất Mẹ thỏa chờ trông…

Đức Hạnh
03 01 2018
***
Giã từ ngày vui.

Vừa tiễn hai con trở lại xong
Rưng rưng khoé mắt quặn đau lòng
Mươi ngày niên cuối vui xum họp
Chục tháng, năm tròn khổ ngóng trông...
Bương trải phương xa,người khác biệt
Nhớ nhung chốn cũ, cảnh tương đồng
Xa Quê, xứ lạnh,sương giăng lối
Tuyết trắng thiên thần, ngập giá đông

Thanh Hoà
***
Tờ Lịch Đầu Năm

Ngày đầu tờ lịch MỘT TÂY : xong !
Một chút bâng khuâng tự đáy lòng.
Một thoáng bồi hồi còn ngớ ngẩn ...
Một niềm vui mới lại chờ trông !
Một tia hy vọng cùng bằng hữu ...
Một chút lạc quan với cộng đồng !
Một kiếp một đời qua nháy mắt ...
Sao không vui trọn buổi tàn đông ?!

Đỗ Chiêu Đức
01-02-2019
***
Nỗi Niềm Đầu Năm

Đầu năm cúc nở mới vừa xong
Đã thấy đào hương ngát cõi lòng
Ly rượu chờ ai chiều mãi đợi
Tách trà ngóng bạn mắt hoài trông
Chợt thương xứ lạ sương mờ phố
Lại nhớ quê xưa lúa rực đồng
Kẻ ở người đi ngày khắc khoải
Xuân về chưa hết lạnh trời đông

Trầm Vân
***

Xuân Chờ
“Họa đảo vận”
Lạnh lùng khốn quẫn buổi tàn đông
Cám cảnh nông phu giữa ruộng đồng
Vui với điền viên nào ước vọng
Chơi cùng tuế nguyệt chẳng chờ trông
Bốn mùa lam lũ mà yên bụng
Năm tháng hàn vi vẫn đẹp lòng
Đã thấy mầm non trồi rạo rực
Xuân chờ người cũ cấy cày xong

Như Thị
***

Xuân Tha Hương

Cái nợ làm trai chưa trả xong,
Tha phương đất khách quặn đau lòng.
Lìa xa nguồn cội buồn khôn tả,
Hoài vọng quê cha tủi ngóng trông.
Con cháu Lạc Hồng đi khắp nẻo.
Cành Nam chim Việt nhớ hương đồng.
Vui xuân Kỷ Hợi trời mưa lạnh,
Chạnh nỗi niềm lo cào tuyết đông.


Ngô Văn Giai
Virginia, Jan 03/2019
***
Lịch Mới Rơi Vài Tờ

Xé từng tờ lịch bỏ đi xong
Đầu tháng giêng nay nắng ấm lòng
Dĩ vãng vàng son luôn ngó lại
Tương lai rực rỡ vẫn chờ trông
Tết Tây Âu Mỹ tiền vô túi
Kỷ Hợi Á Châu lúa ngập đồng
Nhớ bạn Sài Gòn đây kỷ niệm
Thương ai Hòn Ngọc đó phương đông


 Mai Xuân Thanh,
Ngày 03/01/2019

Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc Bài Trường Thi Đoạn Trường Ngâm Khúc Của Đỗ Quý Bái


Nhà thơ Đỗ Quý Bái là đàn chủ Diễn đàn “ Một Lối Vào Đường Thi” kỳ 22 này. Anh mời ta đi dạo vườn thơ với bốn bài thơ: Thanh Bình Điệu kỳ I của Lý Bạch, Tương Tiến Tửu cũng cuả Lý Bạch, Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị và bài Đoạn Trường Ngâm Khúc mà anh là tác giả. Anh chỉ dịch hai bài thơ đầu, bài thứ ba anh giới thiệu bản dịch của Phan Huy Thực còn bài cuối anh nói bị ảnh hưởng của Tỳ Bà Hành, bài thơ anh “chỉ đọc qua một lần mà thuộc nằm lòng ngay như biết từ kiếp xa xưa nào đó.” 

Cấu trúc bài thơ của anh cũng na ná như Tỳ Bà Hành, một đêm trên bến Thủ Thiêm một du tử đang ngồi câu, chẳng thấy cá ngậm mồi mà cảm thấy mình đang ngậm mối sầu xa quê và thời thế, chợt nghe tiếng sáo vẳng tới, nghe như bày tỏ giúp tấm lòng của mình nên tìm tới người thổi sáo và được người này kể chuyện đời của người này cùng bảy người chiến hữu: 

Bến Thủ Thiêm đêm trường bó gối 
Gác cần câu ngậm mối sầu miên 
Buồn cho thế cuộc đảo điên 
Biết cùng ai tỏ nỗi phiền xa quê... 

còn trong bài thơ của Bạch Cư Dị thì cũng là một đêm khuya trên bến Tầm Dương, một ông quan bị biếm tiễn đưa khách, chợt nghe vẳng lại tiếng tỳ bà nên cũng tìm lại và được người gảy đàn, một thiếu phụ kể lại cuộc đời hồng nhan đa truân của mình: 

Nội dung của hai bài thơ cũng quy về một vấn đề mà chính nhà thơ ĐQBái cũng tự chú giải là Tài mệnh tương đố hay Chữ tài liền với chữ tai một vần.Cuộc đời của người ca nương khi còn trẻ đã huy hoàng một thời, được bao khách hào hoa theo đuổi tới khi hoa tàn, đành phải kết duyên với một lái buôn trọng tiền bạc hơn tình nghĩa, nên dùng tiếng đàn thay cho lời than thở, ngờ đâu lại cũng là hoàn cảnh của khách tri âm, một Giang châu Tư mã bị biếm trích, cho nên đồng thanh tương ứng, đồng cảm tương cầu, vừa thương cảm cho số phận của kẻ đàn, vừa buồn tủi cho thân phận mình mà lệ rơi đẫm tà áo xanh. 

Trong bài thơ Đoạn Trường Ngâm Khúc thì người đàn là một thương phế binh trong một trận pháo kích khiến bảy chiến hữu đều tử thương chỉ còn mình sống sót nhưng lại bị cụt giò. Thế là bao nhiêu chí lớn, đội trời đạp đất, trả nợ núi sông đều tan tành ra mây khói và đêm nay thương nhớ bằng hữu mà dùng tiếng sáo bày tỏ nỗi lòng. Trong các bằng hữu anh kể rõ tên bác sĩ Phạm Văn Bách đã hi sinh tại mặt trận Tây Uyên và để lại biết bao thương nhớ cho một người yêu đã từng cùng nhau thề non hẹn biển. 

Bạch Cư Dị tả tiếng đàn cũng là tiếng lòng của ca nương, ĐQBái tả tiếng sáo để nói lên nỗi lòng của người thương phế binh, hai hoàn cảnh, hai số phận nhưng chung một nỗi niềm buồn tủi cho thân phận kiếp người. Xin mời nghe Tiếng đàn tỳ bà: 

Nghe não nuột mấy dây bứt rứt 
Dường than niềm tấm tức bấy lâu 
Chau mày tay gẩy khúc sầu 
Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn 

Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt 
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu 
Dây to nhường đổ mưa rào 
Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng 

Tiếng cao thấp lần chen liền gảy 
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu 
Trong hoa oanh ríu rít nhau 
Suối tuôn róc rách chảu mau xuống ghềnh 

Tiếng sáo: 
Nghe chua xót bầm gan tím ruột 
Nghe thảm sầu tê buốt óc tim 
Nước cau mày lệ im lìm 
Trăng tà ảm đạm khuất chìm trời tây 

Gió gây gấy chở đầy nuối tiếc 
Mây bàng hoàng đặc sệt hờn căm 
Trầm như ma rú cõi âm 
Cao như trời thẳm bặt tăm phi thuyền 

Giốc trủy vũ ré lên nức nở 
Đồ rê mi rung vỡ sao khuya 
Trắng sông sương muối ủ ê 
Hàng dừa hiu quạnh lê thê dâng sầu... 

Hai bài thơ, bài Tỳ Bà hành của Bạch Cư Dị và bài Đoạn Trường Ngâm Khúc của Đỗ Quý Bái cách nhau cả một ngàn mấy trăm năm mà tưởng như cùng đồng thời, cùng một nhân sinh quan, cùng một triết thuyết và cùng gây cho người đọc một cảm xúc “ Buồn ơi xa vắng mông mênh là buồn”. 
Bạch Cư Dị khi nghe đàn tỳ bà khúc cuối: 

Nghe não nuột khác tay đàn trước 
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi 
Lệ ai chan chứa hơn người? 
Giang châu Tư mã đượm mùi áo xanh. 

Người nghe thổi sáo trong thơ Đỗ Qúy Bái: 

Tiêu âm đã xót xa não nuột 
Tâm sự thêm tê buốt khối sầu 
Anh hùng vận bĩ càng đau 
Thương ai lã chã lệ châu hai hàng. 

Tuy nhiên hai nhà thơ cách nhau cả trên ngàn năm này chỉ đồng hành tới đây thôi còn cái nguyên nhân của nỗi buồn vạn cổ rất khác nhau. Cái buồn của Bạch Cư Dị chỉ giới hạn cho một cá nhân dù cá nhân đó là ca nương kia hay chính ông còn nỗi buồn của Đỗ Qúy Bái thì lớn rộng hơn nhiều, anh buồn không những chỉ riêng cho cá nhân người thương phế binh, cá nhân PVBách mà còn buồn cho cả một thế hệ trai trẻ chưa trả được nợ cho núi sông, anh buồn cho cả một đất nước đã trải qua nhiều cảnh tượng tang thương mà nước mắt anh lã chã cũng là để khóc cho cả một cõi người lẫn cõi đời. 

Về hình thức hay thể thơ, Phan Huy Thực dùng thể song thất lục bát để diễn dịch và Đỗ Qúy Bái cũng dùng thể thơ này. Tôi đã đọc nhiều thơ của anh và thấy thể thơ song thất lục bát là sở trường của anh. 

Về lời thơ, anh viết ra như tự cõi lòng nên đọc lên nghe thấm thía, buốt óc, nhức tim chứ không phải là những lời lẻ hời hợt, gọt dũa tầm thường. 

Bài thơ Tỳ Bà hành có tất cả 22x4=88 câu kể là đã khá dài, bài Đoạn Trường Ngâm Khúc còn dài hơn gấp đôi, gồm 54x4=216 câu mà tài tình ở chỗ các đoạn nối nhau rất mạch lạc, gắn bó như thể một hơi dài chứ không rời rạc, đứt quãng hay chắp nối. Tôi thực phục tài anh Bái đã cả tiếng lại dài hơi. Anh xứng đáng là một mõ trong làng thơ. 

Anh Bái không dịch bài Tỳ Bà Hành cho nên tôi xin giới thiệu bản dịch của BS Nguyễn Văn Bảo, bút hiệu Con Cò. BS Bảo rất mãn nguyện với bài thơ dịch Tỳ Bà Hành này và nêu ra những chỗ đắc ý mà tôi thấy rất xác đáng, còn BS Nguyễn Thượng Vũ đã hạ bút là bài thơ dịch hay không kém gì những bài từng được công nhận là tuyệt tác. Phần tôi rất thích thú, xem đi đọc lại nhiều lần, khi so sánh với nguyên bản, lúc đối chiếu với các bản dịch khác và rất khâm phục thi tài của người bạn tuy chỉ mới kiến kỳ danh bất kiến kỳ hình nhưng kiến thi như kiến nhân, đồng thời cũng nhận thấy nhận định của BS Vũ là rất chuẩn xác. 


Khúc Ca Tì Bà 

Bến Tầm Dương đêm đưa chân khách 
Ngàn phong lau luồn lạch gió thu 
Ta xuống ngựa khách ngừng đò 
Tiệc không đàn sáo rượu hờ trên môi 
Giờ phân ly sao vui để uống? 
Lúc chia tay trăng sáng đầy sông 
Tì bà văng vẳng giữa dòng 
Khách chưa vội trẩy ta không muốn rời 
Dò tiếng hỏi ai chơi đàn đó? 
Tì bà ngưng thuyền nọ ngại ngần 
Cho thuyền chèo sát lại gần 
Khêu đèn thêm rượu tiếp tân chào mời 
Mời mọc mãi khiến người chọn lựa 
Ôm tì bà che nửa mặt hoa 
Vặn đàn thử tám dây tơ 
Dẫu chưa nên khúc đã ưa lòng người 
Ý thanh tao nhạc thời ẩn ức 
Dường phô bày buồn bực bấy nay 
Vờn năm ngón nhíu chân mày 
Giãi bày tâm sự tám dây ngàn hàng 
Dây vuốt nhẹ tiếng đàn dìu dặt 
Thoạt Nghê Thường sau thoắt Lục yêu 
Dây to xầm xập mưa rào 
Nỉ non dây nhỏ thì thào niềm riêng 
Đang nỉ non hòa thêm xầm xập 
Như hạt châu rơi ngập mâm vàng 
Như oanh ríu rít cành lan 
Như ghềnh đá chảy suối tràn dòng xuôi 
Suối ngưng đọng đàn chơi ngừng bặt 
Đàn nghỉ ngơi tiếng nhạc cũng im 
Nỗi niềm u uất vươn lên 
Âm vang so với im lìm còn thua 
Bình bạc bể nước khua lai láng 
Vó câu ròn sang sảng gươm đao 
Bốn dây móng phẩy mạnh vào 
Tiếng như xé lụa. Dạt dào. Đàn xong. 
Thuyền tứ phía tuyệt không tiếng nói 
Giữa dòng sông trăng rọi trắng ngà 
Móng đàn cài lược dây tơ 
Chỉnh y. Khép nép. Đứng chờ nghiêm trang: 
“Xưa kinh đô vốn hàng dân nữ 
Cồn Hà mô cư ngụ cửa nhà 
Mười ba tuổi thạo tì bà 
Giáo phường đệ nhất tài ba hơn người 
Kẻ sành điệu hết lời thán phục 
Ả Thu Nương ghen tức điểm trang 
Ngũ Lăng trai trẻ trao khăn 
Mỗi khi tấu nhạc hồng khăn đầy nhà 
Lược trâm vàng gẫy pha nhịp gõ 
Rượu thưởng tài hoen ố quần hồng 
Tháng năm vui thú mặc lòng 
Trăng thu lần lữa xuân nồng trôi qua 
Em tòng quân dì đà khuất núi 
Nhan sắc theo sớm tối tàn phai 
Ngựa xe thưa thớt bên ngoài 
Tuổi già kết tóc với người thương nhân 
Chồng ham lợi khinh phần ly biệt 
Nẻo Phù Lương tháng trước buôn trà 
Thuyền không thiếp đậu ven bờ 
Quanh thuyền trăng giãi sông xưa lạnh lùng 
Đêm thanh vắng mộng vùng thơ ấu 
Lệ trong mơ lăn xấu má hồng” 
Tì bà nghe đã mủi lòng 
Lại thêm nàng kể sao không ngậm ngùi? 
Cùng một lứa chân trời lưu lạc 
Gặp nhau đâu cần trước quen nhau 
Rời kinh năm ngoái dãi dầu 
Tầm Dương dất trích bệnh lâu chưa lành 
Nẻo Tầm Dương vắng tanh âm nhạc 
Suốt quanh năm đàn hát chẳng nghe 
Bồn thành ẩm thấp nặng nề 
Quanh nhà mọc những lau tre cỗi cằn 
Từ sáng chiều nghe toàn âm lậu 
Vượn hú sầu rướm máu quốc kêu 
Sông xuân hoa sớm trăng chiều 
Một thân. Một hũ. Một điều:ta say. 
Rừng có nhạc thôn này cũng có 
Tiếng líu lo làm khó tai ta 
Đêm nay nghe khúc tì bà 
Tâm hồn sảng khoái tưởng là nhạc tiên 
Khoan từ giã đàn thêm khúc nữa 
Tì Bà Hành soạn sửa vì nàng 
Vâng lời. Do dự. Nhặt khoan 
Tám dây rung động tiếng đàn thăng hoa 
Nhạc sầu thảm không như khúc trước 
Khách trong thuyền sướt mướt lệ sa 
Lệ ai suối chảy chan hòa? 
Giang Châu tư mã đẫm tà áo xanh. 

Lời bàn của Con Cò: 

Để dễ biểu hiện nguồn thơ của nguyên bản tôi luôn luôn dùng nguyên thể thơ để dịch. Nhưng với bài này (và vài bài nữa như bài Trường Hận Ca), nếu dùng nguyên thể thất ngôn trường thiên thì rất khó mô tả cái réo rắt của tiếng đàn và nỗi lòng thầm kín của người trong cuộc. Thể song thất lục bát là thể lý tưởng để mô tả ngững khó khăn đó. Chỉ có một khó khăn nho nhỏ: tuy câu bát cho thêm một chữ (so với câu thất của nguyên bản), nhưng câu lục lại ít bớt một chữ. Tôi đã hết sức cố gắng để khắc phục trở ngại đó. Tỷ dụ câu “Thập tam học đắc tì bà thanh” nghĩa là mười ba tuổi đã học được trọn vẹn nghệ thuật tấu tiếng đàn tì bà. Tôi đã diễn tả ý đó̀ trong sáu chữ: Mười ba tuổi thạo tì bà. Một tiền bối lão thành đã dịch là: “Học đàn từ thuở mười ba”. Câu của ông phạm hai lỗi: 1/ dịch sai. Nghệ sĩ này đã học thành thạo (đắc) ở tuổi mười ba chứ không phải bắt đầu học ở tuổi đó. 2/ thiếu ý (không specific), cô học đàn tì bà chứ không học thứ đàn nào khác. 

Tôi đã tuyệt đối tránh được lỗi ngây ngô (giống như chữ mùi trong câu “Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh) của vị tiền bối lão thành đó. Thỉnh thoảng tôi cũng phạm vài lỗi ép vận nhưng không phạm lỗi lạc vận (rất kỵ trong song thất lục bát hoặc lục bát). 

Sau đây là dăm tiểu xảo đã được tôi xử dụng để tô điểm cho bài dịch: 

1/ Tám dây móng phẩy mạnh vào (rất gợi hình lúc nghệ nhân đánh cả 8 dây để chấm dứt bài nhạc) 
Tiếng như xé lụa. Dạt dào. Đàn xong.(dùng 3 dấu chấm, ngắt câu bát thành ba câu nhỏ để diễn đạt những biến chuyển dồn dập mà tác giả đưa ra trong một câu thất) 

2/ Vâng lời. Do dự. Nhặt khoan (cùng một dụng ý như trên) 

3/ Vượn hú sầu rướm máu cuốc kêu. (dịch trọn vẹn được nỗi cô đơn của Bạch Cư Dị lúc bị biếm) 

4/ Móng đàn cài lược dây tơ (động tác lúc nghệ nhân ngừng chơi) 

Tuy nhiên, cũng có một vài khuyết điểm khó tránh: dịch một bài gần một trăm câu mà trước đó đã có cả chục danh nhân dịch thì khó mà tránh được dăm chỗ giống nhau.. Xin được thông cảm. 

Bs Hoàng Xuân Thảo

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2019

Thơ Tranh: Xuân Đất Khách


Thơ: Lá Úa( Hồng Vân)
Thơ Tranh: Kim Oanh


Xuân Mơ



Trăng già im ngủ trước hiên
Sương mù lãng đãng, bưng biền sao giăng
Trên đời lắm cảnh hợp tan
Mây sầu lặng lẽ đón làn thu phong

Bây chừ tuyết đã rời đông
Ngọn đèn hiu hắt cõi lòng buồn tênh!
Não phiền thao thức tàn canh
Ô kià bất chợt tâm bình khởi lên!

Vui buồn há gọi ngẫu nhiên?
Giật mình tỉnh thức say miền chân như
Thế gian chốn tạm giã từ
Sang thuyền khua mái qua bờ đến nơi

Lành thay được hoá thân người!
Hạt ươm quả hạnh dường nuôi chính mình
Hiểu lầm...quên chữ biện minh
Giờ đây góp nhặt câu kinh lẽ thường

Rộn ràng vui chuyến hành hương
Mai đào hé nụ tỏ tường gió đông
Phương xa gắng giữ cội nguồn
Ngày xuân lễ Phật...thầm mong được mùa!

Như Thu

Mòn Mỏi Trông Chờ



Kỷ Hợi đã về theo ngựa trạm
Mai vàng óng ả dọc đường Xuân.
Đông tàn lạnh lẽo tràn muôn nẻo
Xuân sớm tưng bừng rộn rã Xuân.
Én liệng đưa thoi mây ngũ sắc
Nồm lên lướt nhẹ đất thanh tân
Bạn bè trang lứa còn ai nữa?
Mòn mỏi trông chờ một bước chân!

Thành phố Vinh, Sau Noen.
Huy Phương