Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

Mộng Tưởng - Thơ: Phạm Phan Lang - Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Kân Ngọc Thúy


Thơ: Phạm Phan Lang
Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Kân Ngọc Thúy

Chỉ Là Mơ…

  

Dòng sông dĩ vãng đã trôi xa...
Một cánh chim bay biệt quê nhà
Phương người thu muộn vàng nỗi nhớ
Phương này xuân cạn úa tàn hoa.

Sông xưa dĩ vãng chảy ngược dòng
Mang về chốn cũ mỏi mòn trông
Bến cũ đò neo đêm trăng tỏ
Hạnh phúc giao hòa thỏa ước mong.

Sông này dĩ vãng chỉ là mơ...
Bến vẫn kiên tâm mỗi khắc chờ
Tình mãi trơ gan cùng tuế nguyệt
Chẳng thể lòng thuyền ngoảnh làm ngơ.

Kim Oanh

Tự Cảm

 

" Tuổi trẻ nước còn lo ngăn giặc
Bạch đầu vong quốc nhớ cố hương"

Sinh trong thời buổi nước loạn ly
Giúp nước đến cùng vận suy vi
Nước mất oan khiên tù biệt xứ
Nhà tan khốn nạn lụy thê nhi
Triều trước chính quyền chưa trong sạch
Nay thời quân cướp chính nghĩa chi
Chong đèn tâm huyết khô tóc bạc
Đối bóng bao năm dạ kiên trì.
1985

05/06/2025
TônThất Hùng



Long Hổ Hội


Tôi với anh chắc quen từ tiền kiếp
Nên kiếp này gặp lại nhận ra ngay
Từ dáng đi giọng nói đến cau mày
Quả giống hệt như người trong tiền kiếp

Bởi thế mới có chuyện chàng và thiếp
Thiếp với chàng se kết thành một đôi
Tuy một đôi nhưng vẫn là hai người
Hai cá tánh bảo sao đừng khẩu chiến

Kẻ sanh năm thìn, người cầm tinh hổ
Khi đề huề như long hổ phong vân
Như gió mây luôn quấn quít ân cần
Khi bất đồng thành long tranh hổ đấu

Chẳng ai nhường ai long hổ quyết đấu
Là nước lã người dưng anh với tôi
Công bằng lẽ phải quyết cãi tay đôi
Ai chịu nhịn khi đối phương vô lý

Long hổ gì cuối cùng cũng đuối lý
Bong bóng xì hơi còn nói được gì
Đã vợ chồng thôi cố chấp làm chi
Trừ phi đã hết nợ duyên tình nghĩa

Dẫu sao phu thê một ngày cũng nghĩa
Trẻ mặn nồng già làm bạn đỡ nâng
Biết bao người khao khát một người thân
Để chia sẻ những tháng ngày sau cuối

Người Phương Nam

Lãnh Tuyết Sầu 冷 雪 愁 - Trần Văn Lương



Dạo:

Đông qua, Xuân ấm trở về,
Sao con tim vẫn não nề giá băng.

Cóc cuối tuần:

冷 雪 愁


獨 步 帶 愁 到 雪 山,
冷 花 飄 落 滿 巖 磐.
林 中 溪 水 號 蠻 曲,
冰 下 墓 碑 憶 舊 顏.
舉 足 登 壇 遊 遠 地,
回 頭 洒 淚 泣 鄕 關.
縱 然 冬 盡 陽 溫 盛,
亡 國 之 心 永 凍 寒.

陳 文 良

Âm Hán Việt:

Lãnh Tuyết Sầu

Độc bộ đái sầu đáo tuyết san,
Lãnh hoa phiêu lạc mãn nham bàn.
Lâm trung, khê thủy hào man khúc,
Băng hạ, mộ bi ức cựu nhan.
Cử túc đăng đàn du viễn địa,
Hồi đầu sái lệ khấp hương quan.
Túng nhiên đông tận, dương ôn thịnh,
Vong quốc chi tâm vĩnh đống hàn.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Nỗi Sầu Tuyết Lạnh

Một mình mang nỗi buồn đến núi tuyết
Hoa lạnh rơi (phủ) đầy đá núi.
Trong rừng, nước suối gào khúc nhạc man rợ,
Dưới nước lớp đá, mộ bia nhớ đến dung nhan cũ.
Cất bước bắt đầu đi thăm đất xa lạ,
Quay đầu nhỏ lệ thương khóc quê nhà.
Cho dù mùa đông hết, hơi ấm mặt trời hưng vượng,
(Nhưng) con tim (kẻ) mất nước vĩnh viễn lạnh cóng.

Phỏng dịch thơ:

Nỗi Sầu Tuyết Lạnh


Bước lẻ gánh sầu vượt đỉnh cao,
Thạch bàn, hoa tuyết lượn xôn xao.
Nhôn nhao, nước suối trào tung tóe,
Lặng lẽ, mộ bia bể nghẹn ngào.
Chốn lạ, chân nhôn nhao rộn rã,
Quê xưa, hồn vật vã lao đao.
Lưu vong dù có bao Xuân ấm,
Lòng vẫn giá băng tự thuở nào.


Trần Văn Lương
Cali, 5/2025
Lời than của Phi Dã Thiền Sư:

Chân vui đất lạ sao lòng dạ vẫn xốn xang.
Phong cảnh thì đâu đâu cũng chẳng khác biệt
gì nhiều nhưng tâm tình lữ khách thì chắc gì
ai đã giống ai.
Trên quê người mùa Đông rồi sẽ đi qua và
mùa Xuân với nắng ấm lại về, nhưng lòng người
mất nước sao vẫn mãi lạnh căm.
Hỡi ơi!

***
Sầu Tuyết Lạnh

Núi tuyết đơn côi, trĩu nặng lòng
Cánh hoa lạnh giá rớt mông lung
Suối reo cuồng loạn nhạc man rợ
Nước chẩy bâng khuâng bia tưởng dung
Cất bước ngẩn ngơ thăm đất lạ
Quay đầu lệ đẫm nhớ quê hương
Đông tàn, nắng chói trời hưng phấn
Tìm kẻ tha hương mãi giá băng


Mùi Quý Bồng
(05/01/2025)


Nhìn Lại Nền "Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa" Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến - Góc Hoài Niệm Xưa


Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa là Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh Trung học, và 101.454 sinh viên Đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ ( trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” (liberalic) được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).

1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.


Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời VNCH:

1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân..

Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

Giáo dục tiểu học:


Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000[9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104

Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.
Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).

Giáo dục trung học:



Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).
Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học trước 1971 sau 1971

lớp năm lớp một
lớp tư lớp hai
lớp ba lớp ba
lớp nhì lớp tư
lớp nhất lớp năm

Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp

lớp đệ thất lớp sáu
lớp đệ lục lớp bảy
lớp đệ ngũ lớp tám
lớp đệ tứ lớp chín

Tên các lớp trung học đệ nhị cấp

lớp đệ tam lớp mười
lớp đệ nhị lớp 11
lớp đệ nhất lớp 12

Trung học đệ nhất cấp:

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.

Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Trung học đệ nhị cấp:

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.
Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban Vạn vật; ban Toán; ban Văn chương và ban Văn chương Cổ ngữ – thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]
1970 623.000 9.069

Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên). Thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm. Mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài thí sinh đậu hạng này, có năm không có. Kế tiếp là hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20)Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh; và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.
Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường
Trung-học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở).

Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung học Kiểu mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân khoa Sư phạm của Viện Đại học Cần Thơ.

Trung học kỹ thuật:

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM).
Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử
Các trường tư thục và Bồ đề:
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466..

Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).

Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng..
Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học:

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

Số liệu giáo dục bậc đại học:
Niên học Số sinh viên
1960-61 11.708[45]
1962 16.835[10]
1964 20.834[10]
1974-75 166.475[46]

Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng Kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao học hay Tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteurde troisième cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).

Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.
Bổ sung của đọc giả Trần Thạnh (26.12.2013):
VNCH có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:
Theo hệ thống của Pháp (ngày trước):
– Cử Nhân (Licencié), Cao học (DEA), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (Doctorat de 3è cycle), Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État).
Theo hệ thống của Hoa Kỳ:
– Cử Nhân (Bachelor), Master (trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này: Cao Học (người chuyển bài), Tiến Sĩ (PhD).
Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. ( Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người ).

Từ “Thạc Sĩ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp (agrégation). Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).
Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v… gọi tắt là Y Khoa, Luật Khoa, Văn Khoa,... - người chuyển) hoặc Trường hay Trường Đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…).

Trong mỗi Phân khoa Đại học hay Trường Đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v..v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).
Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).

Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.
Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.

Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.

Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.

Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.

Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.

Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.

Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu:

Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.

Các trường đại học cộng đồng:

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.

Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.

Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:

Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.

Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sát nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

Các trường nghệ thuật:

Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.

Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.
Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.
Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.

Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…

Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.
Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965–1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

Phan Huy Quát: sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng trưởng Giáo dục Quốc gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nguyễn Thành Giung: sinh năm 1894 tại Sa Đéc; tiến sĩ vạn vật học (Viện Đại học Khoa học Marseille); Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục 1952-53 thời Quốc gia Việt Nam, kiêm Phó Viện trưởng Viện Đại học Hà Nội.

Trần Hữu Thế: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học (1952), từng dạy học ở Lyon (Pháp) và làm giáo sư ở Trường Đại học Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục; từng làm Đại sứ của Việt Nam Cộng hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958 chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng hòa.

Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại học Cần Thơ vào năm 1966.

Trần Ngọc Ninh: sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, giáo sư Văn minh Đại cương và Văn hóa Việt Nam tại Viện Đại học Vạn Hạnh; Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa.[98]

Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng trưởng Giáo dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]

Nguyễn Lưu Viên: sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, Bệnh viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục rồi Phó thủ tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa ở Hội nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.

Ngô Khắc Tĩnh: sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Đỗ Bá Khê: sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Southern California); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở miền Nam Việt Nam và được xem là “cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam”. Ông còn thiết lập Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974 dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ) và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.

Nguyễn Thanh Liêm: sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên thời Đệ nhị Cộng hòa.

Các Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục: 
Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình

ĐÁNH GIÁ

Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:

“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
…
Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )

Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:

“Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…”

Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

“Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.

Ngô Trọng Vĩnh Sưu Tầm 





Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Nguyệt Cầm - Thơ: Ý Nhi - Nhạc: Văn Duy Tùng - Ca Sĩ: Tuyết Mai


Thơ: Ý Nhi
Nhạc: Văn Duy Tùng
Ca Sĩ: Tuyết Mai

Đẹp Hơn Chuyện Thần Tiên

 

Chuyện tình mình đẹp hơn cổ tích
Ly kỳ hơn, tình diễm tuyệt sắt son
Như trái táo, cắn vào thật là ngon!
Không hối tiếc ta yêu nhau tha thiết!

Chuyện tình mình sôi nổi hơn tiểu thuyết
Có đủ mùi ngọt bùi chát chua cay
Như rượu nhẹ một ly chẳng thể say
Mà ngây ngất ngọt thơm hơn là đắng

Chuyện tình mình mơ màng hơn mây trắng
Mây vô tư, mây bay mãi không ngừng
Chuyện tình mình đẹp hơn cả vầng trăng
Vầng trăng sáng đêm rằm ta cùng ngắm

Chuyện tình mình hay hơn là thần thoại
Anh yêu em, yêu bất chấp rủi may
Cảm ơn anh đã yêu em si dại
Đã yêu em trọn hết cuộc đời này!

Chuyện tình mình, tình vĩnh cửu ngọt ngào
Như sao sáng trên trời cao, sáng chói!
Ở bên anh, hiểu được chân hạnh phúc
Có được anh, đời sống quá an vui!

Như câu cuối chuyện thần tiên cổ tích
"They lived happily forever..."
"Họ sống rất hạnh phúc trọn đời và mãi mãi..."
Chuyện tình mình đẹp tuyệt như thế đó
Chuyện tình mình hiếm có ở thế gian

Như Nguyệt

Thời Gian


Thời gian sao lặng lẽ trôi,
Bốn mùa thoáng chốc Xuân rồi lại Thu
Cánh hoa mỏng mảnh còn đâu,
Thời gian có xót có sầu cho hoa?!

Bóng câu vùn vụt thoáng qua,
Hây hây má thắm giờ đà nhăn nheo.
Yêu kiều dáng vóc còn đâu?,
Cổ lai bất hứa bạc đầu mỹ nhân!

Hoàng triều hưng phế vân vân,
Tháp ngà sụp đổ bao lần đổi thay,
Điêu tàn vùi lấp u hoài,
Rừng xanh núi thẳm có hay chăng là!?

Thời gian ơi, hãy đợi ta,
Cùng nhau sánh bước sao mà vội phi?
Đường trần sanh ký tử quy,
Chung cùng rồi cũng xanh rì cổ khâu!

Sắc không nào có gì đâu,
Không không sắc sắc cho sầu lòng ai
Mang thân tứ đại những ngày,
Trả về tứ đại nghe dài ngẩn ngơ,

Tiếc chi một tấm thân hờ
Nghìn thu cát bụi ơ hờ vùi sâu.
Thân như sương khói mịt mù
Cuộc đời vốn dĩ phù du vô thường!

Liệu mà vun đắp tình thương!!!...

Đỗ Chiêu Đức
04-11-2025

Lệ Sử


có ngờ từ buổi tiễn đưa
Tử biệt đã sẵn khi vừa sinh ly

Người thức từng đêm theo vận nước
Lệ sông Gianh thấm ướt ngàn sao
Tội những người đi xanh tóc mượt
Kéo về chết thảm trắng chân hào

Em có nghe rền theo thiên cổ

Lời nguyền rủa động suốt thiên thu
Em có nghe rì rào sóng vổ
Nợ tiền khiên kêu réo oán thù

Người vác nát tan lầm lũi bước

Chín tầng thảm họa bủa giăng giăng
Người chết hai lần không thấy được
Cõi dương gian sống giữa mộ phần

Tôi thức trắng đêm sầu trắng mất
Ngó dòng sông nhỏ hệt chỉ tay
Ai xắn lằn dao đau xé đất
Để rần rần máu chảy đêm ngày
Tôi đã khóc tin anh chết trẻ
Cánh dù xưa giởn gió chín tầng
Anh nổ súng, trăm năm bỗng nhẹ
Đất sững sờ, trời cũng bâng khuâng

Tôi đã khóc đêm anh trốn trại

Xác vắt hờ, rào kẻm gai cao
Tay bấu víu mộng đời bất toại
Mắt nhớ người ấp lạnh hôm nào
Tôi đã khóc tin em vượt biển
Xác bập bềnh vùi lấp bãi hoang
Em rồi tới cõi không hư huyễn
Tự do thường đổi giá trái ngang
Ôi đảo khổ, người hung, biển dữ
Mộng tan hoang hờn gió tha phương
Ai cắm vội hàng bia kẽ chữ
Sống lênh đênh, chết lỡ độ đường
Tôi đã khóc khi thuyền cặp bến
Hồn lao đao, rừng lảo đảo cao
Ngó trùng trùng người ngơ ngác đến
Ngó cờ vàng ba vết đỏ cào
Em có biết mùa đi rất lạ
Tháng trọng xuân, lòng bỗng lạnh tanh
Tim thắc thỏm nỗi niềm khó tả
Dường trong ta, thương phế không lành !
Ôi xứ sở muôn trùng, bỗng nhớ
Những oán hờn trầm tích chưa tan
Tôi đã sống tột cùng tan vỡ
Chờ tin vui nhúm lại tro tàn
............

Ôi ... đất nước có còn vui kịp
Một đời tôi héo úa từng giờ !

Cao Vị Khanh

Những Sự Kiện Và Nhân Vật - Tháng 4

 
01/4:

Ngày mất của Trịnh Công Sơn - (28/2/1939 – 01/4/2001) -Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn của tân nhạc và nằm trong danh sách những nghệ sĩ âm nhạc Việt Nam có lượng đĩa bán chạy nhất. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc).Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly, danh ca gắn liền tên tuổi với hàng trăm ca khúc của ông và thế hệ sau là Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một diễn viên và một ca sĩ (ông từng biểu diễn một số bài hát do chính mình sáng tác). Ông từng là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập phụ san Thế Giới Âm Nhạc (Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

02/4:

- Ngày mất của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô 18/5/1920 – 02/42005) -Trong thời gian làm giáo hoàng, John Paul II đã thực hiện các chuyến đi đến 129 quốc gia,đi hơn 1.100.000 kilômét (680.000 dặm) trong khi thực hiện điều đó. Ông liên tục thu hút được đám đông lớn, một số trong số đó là đám đông lớn nhất từng được tập hợp trong lịch sử loài người, chẳng hạn như Ngày Giới trẻ Thế giới Manila năm 1995, đã tập hợp tới bốn triệu người, là cuộc tụ họp của giáo hoàng lớn nhất từ trước đến nay, theo Vatican.Các chuyến thăm chính thức sớm nhất của John Paul II là đến Cộng hòa Dominica và Mexico vào tháng 1 năm 1979

- 1805 - Tác giả truyện cổ tích Hans Christian Andersen (1805-1875) sinh ra tại Odense, Đan Mạch. Ông đã sáng tác 168 câu chuyện cổ tích dành cho trẻ em bao gồm các tác phẩm kinh điển Công chúa và Hạt đậu, Nữ hoàng Tuyết và Chim Họa mi.

- 1840 - Nhà văn người Pháp Emile Zola (1840-1902) sinh ra tại Paris. Các tác phẩm của ông bao gồm một loạt 20 cuốn sách được gọi là Tiểu thuyết Rougon-Macquart trong đó ông định nghĩa đàn ông và phụ nữ là sản phẩm của di truyền và môi trường, miêu tả họ là nạn nhân của chính đam mê và hoàn cảnh sinh ra của họ. Về sau, ông tham gia giải quyết vụ Dreyfus, một vụ bê bối chính trị-quân sự trong đó Đại úy Alfred Dreyfus bị buộc tội oan là bán bí mật quân sự cho người Đức và bị đưa đến Đảo Quỷ.

- 1982 - Chiến tranh Quần đảo Falkland nổ ra khi quân đội Argentina xâm lược và chiếm đóng thuộc địa của Anh nằm gần mũi Nam Mỹ. Người Anh đã trả đũa và đánh bại người Argentina vào ngày 15 tháng 6 năm 1982, sau mười tuần chiến đấu, với khoảng 1.000 sinh mạng.
- 2005: Ngày mất của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II - (18/5/1920- 02/4/2005) -Trong thời gian làm giáo hoàng, John Paul II đã thực hiện các chuyến đi đến 129 quốc gia,[94] đi hơn 1.100.000 kilômét (680.000 dặm) trong khi thực hiện điều đó. Ông liên tục thu hút được đám đông lớn, một số trong số đó là đám đông lớn nhất từng được tập hợp trong lịch sử loài người, chẳng hạn như Ngày Giới trẻ Thế giới Manila năm 1995, đã tập hợp tới bốn triệu người, là cuộc tụ họp của giáo hoàng lớn nhất từ trước đến nay, theo Vatican.Các chuyến thăm chính thức sớm nhất của John Paul II là đến Cộng hòa Dominica và Mexico vào tháng 1 năm 1979-

03/4

-1783 - Nhà văn người Mỹ Washington Irving (1783-1859) sinh ra tại Thành phố New York. Các tác phẩm của ông bao gồm; Rip Van Winkle, The Legend of Sleepy Hollow và các tiểu sử lịch sử như Life of Washington.

- 1860 - Ở miền Tây nước Mỹ, dịch vụ Pony Express bắt đầu khi người lái xe đầu tiên khởi hành từ St. Joseph, Missouri. Với giá 5 đô la một ounce, những lá thư được chuyển đi 2.000 dặm đến California trong vòng mười ngày. Những người lái xe Pony Express nổi tiếng mỗi người lái từ 75 đến 100 dặm trước khi trao thư cho người lái xe tiếp theo. Tổng cộng có 190 trạm cách nhau khoảng 15 dặm. Dịch vụ này kéo dài chưa đầy hai năm, kết thúc khi máy điện báo trên bộ hoàn thành.++ 04/4:
- 1887 - Nữ thị trưởng đầu tiên được bầu tại Hoa Kỳ khi Susanna M. Salter trở thành thị trưởng của Argonia, Kansas.
- 1949 - Mười hai quốc gia đã ký hiệp ước thành lập NATO, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Các quốc gia đoàn kết để phòng thủ quân sự chung chống lại mối đe dọa bành trướng của Liên Xô vào Tây Âu.
- 1968 - Nhà lãnh đạo Dân quyền Mục sư Tiến sĩ Martin Luther King bị bắn chết bởi một tay súng bắn tỉa ở Memphis, Tennessee. Với tư cách là người đứng đầu Hội nghị Lãnh đạo Cơ đốc giáo miền Nam, ông đã ủng hộ cuộc kháng chiến bất bạo động để chấm dứt áp bức chủng tộc và đã được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1964. Ông được nhớ đến nhiều nhất với bài phát biểu Tôi có một giấc mơ tại Cuộc diễu hành Dân quyền năm 1963 tại Washington. Cuộc diễu hành đó và những nỗ lực khác của King đã giúp thông qua Đạo luật Dân quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền bỏ phiếu năm 1965. Năm 1986, Quốc hội đã thiết lập ngày Thứ Hai của tuần thứ ba trong tháng Giêng là ngày lễ quốc gia để vinh danh ông.
-04/4/1802: Nhà cải cách xã hội người Mỹ Dorothea Dix (1802-1887) sinh ra tại Hampden, Maine. Bà đã thành lập một ngôi nhà cho các bé gái ở Boston khi mới chỉ là thiếu niên và sau đó đã đấu tranh cho các điều kiện nhân đạo trong các nhà tù và trại tâm thần. Trong Nội chiến Hoa Kỳ, bà là giám đốc các nữ y tá.
- 04/4/1884: Đô đốc Nhật Bản Isoroku Yamamoto (1884-1943) sinh ra tại Nagoya, Honshu. Ông là chiến lược gia chính đứng sau cuộc tấn công thất bại của Nhật Bản vào Đảo Midway vào tháng 6 năm 1942, cuộc tấn công đã thay đổi cục diện cuộc chiến chống lại Nhật Bản. Ông đã thiệt mạng vào ngày 18/4//1943, sau khi người Mỹ chặn được các báo cáo vô tuyến về nơi ở của ông và bắn hạ máy bay của ông.
- 05 /4/1923 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (05 /4/1923 – 29/9 /2001) là một sĩ quan, chính khách người Việt Nam, từng giữ chức tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Chủ tịch Đảng Dân chủ và Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội trong giai đoạn 1967–1975. Trong cương vị một trung tướng bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu được hội đồng tướng lĩnh bầu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, trở thành Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa vào năm 1965. Là một chính trị gia theo đường lối chống cộng mạnh mẽ, ông đắc cử tổng thống sau khi giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1967 và nắm giữ cương vị này cho đến khi từ chức chỉ vài ngày trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

06/4:

-1896 - Sau 1500 năm gián đoạn, Thế vận hội đầu tiên của thời kỳ hiện đại được tổ chức tại Athens, Hy Lạp.- 1917 - Sau cuộc bỏ phiếu của Quốc hội chấp thuận tuyên chiến, Hoa Kỳ đã tham gia Thế chiến thứ Nhất ở Châu Âu.
- 1994 - Cuộc diệt chủng bắt đầu ở Rwanda khi một chiếc máy bay chở tổng thống Rwanda và Burundi bị bắn hạ. Họ đã họp để thảo luận về cách chấm dứt sự thù địch sắc tộc giữa các bộ tộc Hutu và Tutsi. Sau khi họ qua đời, Rwanda rơi vào hỗn loạn, dẫn đến xung đột diệt chủng giữa các bộ tộc. Hơn 500.000 người đã thiệt mạng và hai triệu người phải chạy trốn khỏi đất nước.
-- Nghệ sĩ thời Phục hưng Raphael (1483-1520) sinh ra tại Urbino, Ý. Ông đã tạo ra một số kiệt tác vĩ đại nhất thế giới bao gồm 300 bức tranh có chủ đề về Madonna - Đức Mẹ Maria . Ông qua đời vào đúng sinh nhật lần thứ 37 của mình tại Rome.

Raffaello Sanzio da Urbino hiện được biết đến rộng rãi trong tiếng Anh là Raphael là một họa sĩ và kiến trúc sư người Ý của thời kỳ Phục hưng đỉnh cao. Các tác phẩm của ông được ngưỡng mộ vì sự rõ ràng về hình thức, dễ sáng tác và thành tựu trực quan của lý tưởng Tân Platon về sự vĩ đại của con người Cùng với Leonardo da Vinci và Michelangelo, ông tạo thành bộ ba truyền thống của những bậc thầy vĩ đại của thời kỳ đó. Raphael Madonna of the Meadow, khoảng năm 1506, sử dụng bố cục hình kim tự tháp của Leonardo cho chủ đề về Gia đình Thánh Gia

08/4 

Ryan White qua đời ở tuổi 18 do biến chứng của bệnh AIDS. Khi còn nhỏ, White, một người mắc bệnh máu khó đông, đã mắc Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do truyền máu. Năm 10 tuổi, anh bị cấm đến trường. Sau đó, anh chuyển đến Cicero, Indiana cùng mẹ, nơi anh được các học sinh chấp nhận vào trường . Khi hoàn cảnh khó khăn của anh được công khai, anh đã trở thành người nổi tiếng quốc tế và giúp thúc đẩy sự hiểu biết về căn bệnh đáng sợ này.

09/4:

-1865 - Sau hơn 500.000 người Mỹ tử vong, Nội chiến thực sự kết thúc khi Tướng Robert E. Lee đầu hàng Tướng Ulysses S. Grant tại ngôi làng Appomattox Court House. Lễ đầu hàng diễn ra tại nhà của Wilmer McLean. Các điều khoản đầu hàng do Tướng Grant viết cho phép quân Liên minh miền Nam giữ ngựa và trở về nhà. Các sĩ quan được phép giữ kiếm và vũ khí bên minh. -1898- Diễn viên kiêm ca sĩ người Mỹ gốc Phi Paul Robeson (1898-1976) sinh ra tại Princeton, New Jersey. Nổi tiếng nhất với vai diễn trong The Emperor Jones, ông cũng có một thời gian dài trên sân khấu Broadway trong vở Othello của Shakespeare. Năm 1950, trong bối cảnh cơn cuồng loạn chống Cộng đang diễn ra, Robeson đã bị từ chối cấp hộ chiếu Hoa Kỳ sau khi ông không ký vào bản tuyên thệ về việc ông có từng là thành viên của Đảng Cộng sản hay không.

10/4:

-1942 - Trong Thế chiến II ở Thái Bình Dương, Cuộc diễu hành tử thần Bataan bắt đầu khi các tù nhân người Mỹ và Philippines bị buộc phải diễu hành trong sáu ngày từ một sân bay ở Bataan đến một trại gần Cabanatuan. Khoảng 76.000 tù binh chiến tranh Đồng minh bao gồm 12.000 người Mỹ đã bị buộc phải đi bộ 60 dặm dưới ánh nắng chói chang mà không có thức ăn hoặc nước uống đến trại tù binh chiến tranh, khiến hơn 5.000 người Mỹ thiệt mạng. Bataan là một tỉnh của Philippines nằm trên toàn bộ bán đảo Bataan trên Luzon. Tỉnh này thuộc vùng Central Luzon. Tỉnh lỵ là Thành phố Balanga. Tỉnh giáp các tỉnh Zambales và Pampanga về phía bắc. Bán đảo nhìn ra Biển Đông về phía tây, vịnh Manila về phía đông. Trận Bataan giữa quân đội Mỹ và Philipin đã diễn ra ở đây trong đệ nhị thế chiến. Tỉnh này cũng có nhà máy điện hạt nhân Bataan ở Morong. Morong cũng từng là nơi đặt trại tạm trú từ năm 1980 đến 1994 cho 400.000 người tỵ nạn Đông Dương, đa số là thuyền nhân Việt Nam khi đợi chờ ngày đi định cư. Năm 2013 nhà chức trách địa phương cho lập nhà Bảo tàng Thuyền nhân (The Boat People Museum) ở khu vực trại cũ.-1945 - Trại tập trung của Đức Quốc xã tại Buchenwald đã được quân đội Hoa Kỳ tự do hóa (giải phóng). Nằm gần Weimar ở Đức, Buchenwald được thành lập vào tháng 7 năm 1937 để giam giữ tội phạm và là một trong những trại tập trung lớn đầu tiên. Sau đó, nơi này bao gồm cả người Do Thái và người đồng tính và được sử dụng làm trung tâm lao động nô lệ cho các công ty Đức gần đó. Trong tổng số 238.980 tù nhân Buchenwald, 56.545 người đã thiệt mạng. Sau khi giải phóng, Tổng tư lệnh quân Đồng minh, Tướng Dwight D. Eisenhower và các chỉ huy cấp cao khác của Hoa Kỳ đã đến thăm trại phụ ở Ohrdruf. Quân đội Hoa Kỳ cũng buộc thường dân Đức từ các thị trấn gần đó vào trại để chứng kiến cảnh tàn sát.

11/4:

- Nhà hùng biện người Mỹ Edward Everett (1794-1865) sinh ra tại Dorchester, Massachusetts. Năm 1863, tại lễ khánh thành Chiến trường Gettysburg, ông đã có bài phát biểu chính kéo dài hai giờ. Sau đó, Tổng thống Abraham Lincoln đã có bài phát biểu khoảng hai phút để đọc Diễn văn Gettysburg.

-1847: - Nhà xuất bản Joseph Pulitzer (1847-1911) sinh ra tại Budapest, Hungary. Ông đến Mỹ vào năm 1864 và chiến đấu trong thời gian ngắn trong Nội chiến cho Liên bang. Sau đó, ông bắt đầu sự nghiệp đáng chú ý trong lĩnh vực báo chí và xuất bản. Các tờ báo của ông bao gồm St. Louis Post-Dispatch và New York World. Ông cũng tài trợ cho trường báo chí tại Đại học Columbia và thành lập một quỹ cho Giải thưởng Pulitzer, được trao hàng năm cho sự xuất sắc trong báo chí.
-1968 - Một tuần sau vụ ám sát Martin Luther King, Đạo luật Dân quyền năm 1968 đã được Tổng thống Lyndon B. Johnson ký thành luật. Luật này cấm phân biệt đối xử trong nhà ở, bảo vệ những người lao động vì quyền công dân và mở rộng quyền của người Mỹ bản địa.

-1970 - Apollo 13 được phóng từ Cape Kennedy lúc 2:13 chiều. Năm mươi sáu giờ sau khi bay, một bình oxy phát nổ trong mô-đun dịch vụ. Phi hành gia John L. Swigert nhìn thấy đèn cảnh báo đi kèm với tiếng nổ và nói, "Houston, ở đây chúng tôi đang gặp sự cố ". Sau đó, Swigert, James A. Lovell và Fred W. Haise chuyển vào mô-đun mặt trăng, sử dụng nó như một "thuyền cứu sinh" và bắt đầu chuyến trở về Trái đất đầy nguy hiểm, hạ cánh an toàn vào ngày 17 tháng 4.
- 1983 - Harold Washington trở thành thị trưởng người Mỹ gốc Phi đầu tiên của Chicago, nhận được 51 phần trăm số phiếu bầu. Được bầu lại vào năm 1987, ông đã bị một cơn đau tim dẫn đến tử vong tại văn phòng của mình bảy tháng sau đó.

12/4:

-1945 - Tổng thống Franklin D. Roosevelt đột ngột qua đời tại Warm Springs, Georgia, sau khi bị xuất huyết não. Ông đã giữ chức Tổng thống từ ngày 4/3/1933, đắc cử bốn nhiệm kỳ liên tiếp và đã đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc Đại suy thoái và vượt qua Thế chiến II.
Franklin Delano Roosevelt[a] (30/1/1882 – 12 /4/1945), còn được gọi là FDR, là tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ, tại vị từ năm 1933 cho đến khi qua đời vào năm 1945. Ông là tổng thống Hoa Kỳ tại vị lâu nhất và là người duy nhất tại vị hơn hai nhiệm kỳ. Hai nhiệm kỳ đầu của ông tập trung vào việc chống lại cuộc Đại suy thoái, trong khi nhiệm kỳ thứ ba và thứ tư chứng kiến ông chuyển trọng tâm sang sự tham gia của Hoa Kỳ vào Thế chiến II.
- 1961 - Nhà du hành vũ trụ người Nga Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ. Ông đã bay trên tàu vũ trụ Vostok I của Liên Xô lên độ cao 187 dặm (301 km) so với mặt đất và hoàn thành một quỹ đạo duy nhất trong chuyến bay kéo dài 108 phút. Thành công ngoạn mục của Nga đã làm gia tăng Cuộc đua vũ trụ đang diễn ra giữa người Nga và người Mỹ. Hai mươi ba ngày sau, Alan Shepard trở thành người Mỹ đầu tiên bay vào vũ trụ. Tiếp theo là lời kêu gọi công khai của Tổng thống Kennedy vào năm 1962 để đưa một người Mỹ lên mặt trăng trước khi thập kỷ này kết thúc.
- 1981 - Chuyến bay tàu con thoi đầu tiên diễn ra với việc tàu Columbia được phóng lên vũ trụ với các phi hành gia John Young và Robert Crippen trên tàu. Columbia đã ở trong không gian 54 giờ, thực hiện 36 vòng quỹ đạo, sau đó hạ cánh tại Căn cứ Không quân Edwards ở California.

13/4

1743: Thomas Jefferson (1743-1826) sinh ra tại Quận Albermarle, Virginia. Ông là một tác giả, nhà phát minh, luật sư, chính trị gia, kiến trúc sư và là một trong những bộ óc thông minh nhất của những năm 1700. Ông là tác giả của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ và sau đó giữ chức Tổng thống Hoa Kỳ thứ 3 từ năm 1801 đến năm 1809. Ông mất vào ngày 04/7/1826, cùng ngày với người bạn cũ và đối thủ chính trị một thời của ông là John Adams.

14/4:

-1775 - Tại Philadelphia, hội bãi nô đầu tiên tại Hoa Kỳ được thành lập với tên gọi "Hội giải cứu những người da đen được tự do bị giam giữ bất hợp pháp trong cảnh nô lệ".
-1828 - Noah Webster xuất bản cuốn từ điển tiếng Anh theo phong cách Mỹ đầu tiên với tên gọi là Từ điển tiếng Anh của Hoa Kỳ.
-1865 - Tổng thống Abraham Lincoln bị bắn và tử thương khi đang xem vở kịch Our American Cousin tại Nhà hát Ford ở Washington. Ông được đưa đến một ngôi nhà gần đó và qua đời vào sáng hôm sau lúc 7:22 sáng.

15/4:

1817 - Trường học đầu tiên của Mỹ dành cho người khiếm thính do Thomas H. Gallaudet và Laurent Clerc thành lập tại Hartford, Connecticut.
-1912 - Tại vùng biển băng giá ngoài khơi Newfoundland, tàu chở khách hạng sang Titanic chở 2.224 người đã chìm lúc 2:27 sáng sau khi đâm phải một tảng băng trôi ngay trước nửa đêm. Hơn 1.500 người chết đuối trong khi 700 người được tàu chở khách Carpathia cứu, tàu này đã đến nơi khoảng hai giờ sau khi Titanic chìm.

Titanic là chiếc tàu vượt đại dương chở khách chạy bằng động cơ hơi nước đã đi vào lịch sử ngành hàng hải vì vụ tai nạn hàng hải đã xảy ra với nó cũng như những bí ẩn liên quan. Tên chính thức của nó là RMS Titanic (RMS là viết tắt của Royal Mail Ship). Tàu bắt đầu được đóng vào năm 1909 và được hạ thủy năm 1912. Là con tàu lớn, hiện đại, lộng lẫy và sang trọng nhất lúc đó, Titanic mang theo tham vọng thống trị tuyến đường biển xuyên Đại Tây Dương của công ty sở hữu nó, hãng vận tải biển The White Star Line. Tuy nhiên, trong chuyến vượt Đại Tây Dương đầu tiên và cũng là cuối cùng của nó vào tháng 4 năm 1912, Titanic đã đắm .Vụ đắm tàu này đã đi vào lịch sử như là vụ tai nạn hàng hải nghiêm trọng nhất trong thời bình.Thảm họa Titanic đã là đề tài cho hàng loạt các cuộc điều tra, kiện tụng, giả thuyết ly kì đồng thời dẫn đến các thay đổi lớn trong quy định an toàn hàng hải quốc tế. Titanic cũng trở thành bối cảnh và đề tài cho rất nhiều tác phẩm văn học, hội họa và điện ảnh
RMS Titanic khởi hành từ Southampton ngày 10 tháng 4 năm 1912

16/4:

-1995 - Iqbal Masih, một cậu bé người Pakistan lên tiếng phản đối lao động trẻ em, đã bị bắn chết. Năm bốn tuổi, cậu đã bị bán làm nô lệ để làm thợ dệt thảm và bị xiềng xích vào khung cửi trong sáu năm tiếp theo. Năm mười tuổi, cậu đã trốn thoát và bắt đầu lên tiếng, thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi trở thành diễn giả chính trong một hội nghị lao động quốc tế tại Thụy Điển.- Nhà tiên phong hàng không người Mỹ Wilbur Wright (1867-1912) sinh ra tại Millville, Indiana. Vào ngày 17 tháng 12 năm 1903, cùng với anh trai Orville, anh em nhà Wright đã thực hiện chuyến bay thành công đầu tiên của một chiếc máy bay có động cơ. Họ bay trong 12 giây và được 120 feet. Đến năm 1905, họ đã chế tạo được một chiếc máy bay có thể bay trên không trong nửa giờ, thực hiện các vòng hình số tám và các kiểu bay lượn trên không khác. Wilbur qua đời vì sốt thương hàn vào tháng 5/1912.

- Nghệ sĩ hài Charlie Chaplin (1889-1977) sinh ra tại London. Ông bắt đầu sự nghiệp ở đại nhạc hội tạp kỹ và được nhà sản xuất phim người Mỹ Mack Sennett phát hiện. Sau đó, ông đến Hollywood để làm phim câm, phát triển nhân vật phim hài 'Little Tramp'. Các tác phẩm kinh điển của Chaplin bao gồm The Kid, The Gold Rush, City Lights và Modern Times. Năm 1940, ông thực hiện The Great Dictator chế giễu Adolf Hitler, người có ngoại hình giống Chaplin. Về sau, Chaplin bất hòa với người Mỹ, nhưng đã trở lại vào năm 1972 để nhận Giải thưởng Viện hàn lâm đặc biệt. Năm 1975, ông được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ.
-18/4/1906 - Trận động đất ở San Francisco xảy ra lúc 5:13 sáng, sau đó là một đám cháy lớn do bếp lò bị lật đổ và đường ống dẫn khí bị vỡ. Đám cháy bùng phát không thể kiểm soát trong ba ngày, thiêu rụi hơn 10.000 mẫu Anh tài sản và cướp đi sinh mạng của 4.000 người.

19/4:

-1943 - Người Do Thái ở Khu ổ chuột Warsaw đã tổ chức một cuộc nổi loạn vũ trang chống lại quân đội SS của Đức Quốc xã đang cố gắng trục xuất họ đến các trại tử thần.
-1989 - Bốn mươi bảy thủy thủ Hoa Kỳ đã thiệt mạng do một vụ nổ ở tháp pháo trên tàu USS Iowa trong cuộc tập trận pháo binh ngoài khơi Puerto Rico.
-1995 - Một vụ nổ bom xe lớn đã phá hủy toàn bộ mặt bên của một tòa nhà liên bang chín tầng ở Thành phố Oklahoma, giết chết 168 người, bao gồm 19 trẻ em bên trong một nhà trẻ. Một cựu chiến binh -được tặng huân chuong trong Chiến tranh vùng Vịnh -sau đó đã bị kết án vì vụ tấn công.

20/4:

- Adolf Hitler (1889-1945) sinh ra tại Braunau am Inn, Áo. Là người lãnh đạo Đức Quốc xã từ năm 1933 đến năm 1945, ông đã tiến hành một cuộc chiến tranh mở rộng ở châu Âu, gây ra cái chết của khoảng 50 triệu người thông qua xung đột quân sự và trong cuộc diệt chủng Holocaust mà Đức Quốc xã đã cố gắng tiêu diệt toàn bộ dân số Do Thái ở châu Âu.

-1914 - Những người thợ mỏ ở Ludlow, Colorado, đã bị Vệ binh Quốc gia do công ty khai thác mỏ trả tiền tấn công. Những người thợ mỏ đang tìm kiếm sự công nhận của Liên đoàn Công nhân Mỏ Thống nhất của họ. Năm người đàn ông và một cậu bé đã bị giết bởi hỏa lực súng máy trong khi 11 trẻ em và hai phụ nữ bị thiêu chết khi khu lều trại của những người thợ mỏ bị phá hủy.-1999 - Vụ xả súng chết người nhất trong lịch sử Hoa Kỳ xảy ra ở Littleton, Colorado, khi hai học sinh có vũ trang bằng súng và thuốc nổ xông vào Trường trung học Columbine vào giờ ăn trưa, sau đó giết chết 12 bạn học và một giáo viên và làm bị thương hơn 20 người khác trước khi tự sát.

21/4:

-1836 - Trận San Jacinto giữa quân Texas do Sam Houston chỉ huy và quân Mexico do Santa Anna chỉ huy diễn ra gần Houston ngày nay. Quân Texas đã đánh bại quân Mexico một cách quyết liệt, giành được độc lập.-1918 - Trong Thế chiến thứ nhất, Nam tước Đỏ (Manfred von Richtofen) đã bị bắn hạ và tử trận trong Trận Somme. Ông được ghi nhận đã hạ 80 mạng người trong vòng chưa đầy hai năm, lái một chiếc máy bay ba tầng cánh Fokker màu đỏ. Các phi công Anh đã mang được thi thể của ông về và chôn cất ông theo đầy đủ nghi lễ quân đội.


22/4:

-1864 - "In God We Trust" được ghi trên tất cả các đồng tiền mới đúc của Hoa Kỳ theo Đạo luật của Quốc hội- Vladimir Lenin (1870-1924) sinh ra tại Simbirsk, Nga. Ông đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Nga tháng 10 năm 1917 lật đổ Sa hoàng Nicholas và mở đường cho chế độ Cộng sản khắc nghiệt. Sau khi ông qua đời vào năm 1924, thi thể của ông được ướp xác và trưng bày tại Quảng trường Đỏ của Moscow, trở thành một ngôi đền được hàng triệu người viếng thăm trong những năm còn Liên Xô.

23/4:

- Được Knesset của Israel thành lập làm Ngày diệt chủng Holocaust để tưởng nhớ sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc xã giết hại.

Quốc hội Israel hay Knesset (tiếng Hebrew: הַכְּנֶסֶת [haˈkneset] là cơ quan lập pháp đơn viện của Israel.Quốc hội có quyền làm luật, bầu và miễn nhiệm tổng thống, bầu thủ tướng, phê chuẩn Nội các, giám sát hoạt động của chính phủ, bầu và miễn nhiệm tổng kiểm toán nhà nước, tước quyền miễn trừ của các thành viên Quốc hội, bỏ phiếu bất tín nhiệm mang tính xây dựng đối với chính phủ và tự giải tán. Quốc hội cũng có thể bị thủ tướng giải tán. Quốc hội tiếp tục làm việc cho đến khi Quốc hội khóa mới được bầu xong. Quốc hội họp tại Givat Ram, Jerusalem. Bầu cử Quốc hội được tổ chức theo hệ thống đại diện tỷ lệ.
- William Shakespeare (1564-1616) sinh ra tại Stratford-on-Avon, Anh. Nổi tiếng là nhà văn có ảnh hưởng nhất trong tiếng Anh, ông đã sáng tác 36 vở kịch và 154 bài sonnets, bao gồm Romeo và Juliet, Hamlet và The Merchant of Venice.
- James Buchanan (1791-1868) là Tổng thống thứ 15 của Hoa Kỳ sinh ra tại Cove Gap, Pennsylvania. Ông là người độc thân duy nhất sống trọn đời tại Nhà Trắng, chỉ phục vụ một nhiệm kỳ từ năm 1857 đến năm 1861.

24/4

- 1915 - Tại Tiểu Á trong Thế chiến thứ nhất, cuộc diệt chủng đầu tiên trong thời hiện đại bắt đầu bằng việc trục xuất các nhà lãnh đạo Armenia khỏi Constantinople và sau đó là cuộc thảm sát của Young Turks. Vào tháng 5, các cuộc trục xuất tất cả người Armenia và cuộc thảm sát hàng loạt của người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu, dẫn đến việc loại bỏ hoàn toàn người Armenia khỏi Đế chế Ottoman và tất cả các vùng đất Armenia lịch sử. Ước tính có từ 800.000 đến hơn 2.000.000 người Armenia bị sát hại.===Tiểu Á (tiếng Hy Lạp: Μικρά Ασία Mikra Asia), hay Anatolia (Ανατολία, có nghĩa là "mặt trời mọc", "phía đông") là một bán đảo của châu Á mà ngày nay thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, bắc giáp với Biển Đen, nam giáp Địa Trung Hải, ngăn cách với châu Âu bởi biển Aegea và biển Marmara (đều thuộc Địa Trung Hải) ở phía tây và giáp với phần đất đai rộng lớn còn lại của châu Á ở phía đông. =====The Young Turks (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman: ژون تركلر được thành lập như một phong trào đối lập rộng rãi theo chủ nghĩa lập hiến vào cuối Đế chế Ottoman chống lại chế độ chuyên chế của Sultan Abdul Hamid II (trị vì 1876–1909). Tổ chức mạnh nhất của phong trào, và cũng là tổ chức hỗn tạp nhất, là Ủy ban Liên minh và Tiến bộ (CUP, được thành lập năm 1889), mặc dù mục tiêu, chiến lược và thành viên của tổ chức này liên tục thay đổi trong suốt thời kỳ trị vì của Abdul Hamid. Đến những năm 1890, The Young Turks chủ yếu là một mạng lưới trí thức lưu vong lỏng lẻo và hay gây tranh cãi, những người kiếm sống bằng cách bán báo cho những người đăng ký bí mật.

-2011- Ngày mất của bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, đã qua đời "hồi 2 giờ sáng Chủ Nhật, trùng ngày lễ Phục Sinh 2011, tại một bệnh viện ở Rome, Ý". Bà Trần Lệ Xuân sinh năm 1924 tại Hà Nội trong một gia đình danh giá: thân mẫu của bà là cháu ngoại của vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại, nhà vua cuối cùng của triều Nguyễn.Thân phụ của bà là Luật sư Trần Văn Chương, người từng giữ chức Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ.
Trần Lệ Xuân : 22/8/1924 -24/4/2011), thường được gọi là Madame Nhu, trên thực tế là Đệ nhất phu nhân của Nam Việt Nam từ năm 1955 đến năm 1963. Bà là vợ của Ngô Đình Nhu, anh trai và cố vấn chính của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Vì Diệm là người độc thân suốt đời và vì bà và gia đình sống cùng nhau tại Dinh Độc Lập, nên bà được coi là đệ nhất phu nhân.
Được biết đến với những bình luận mang tính kích động tấn công và lên án gay gắt cộng đồng Phật giáo Nam Việt Nam và ảnh hưởng cũng như sự hiện diện mạnh mẽ của Hoa Kỳ tại đất nước này, bà đã phải sống lưu vong ở Pháp sau khi chồng bà, Nhu và anh rể, Diệm, bị ám sát vào năm 1963.

25/4

1874: Nhà phát minh ra radio Guglielmo Marconi (1874-1937) sinh ra tại Bologna, Ý. Ông là người tiên phong trong việc sử dụng điện báo không dây vào những năm 1890. Đến năm 1921, phát minh của Marconi đã được phát triển thành điện thoại không dây (radio thoại).

26/4:

-1986 - Tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Ukraine, một vụ nổ đã gây ra sự tan chảy của nhiên liệu hạt nhân và phát tán một đám mây phóng xạ vào khí quyển, cuối cùng bao phủ hầu hết châu Âu. Một khu vực rộng 300 dặm vuông xung quanh nhà máy đã được sơ tán. Ba mươi mốt người được báo cáo đã tử vong trong khi dự kiến sẽ có thêm một nghìn trường hợp ung thư do bức xạ. Sau đó, nhà máy được bao bọc trong một ngôi mộ bê tông kiên cố để ngăn chặn việc phát tán thêm bức xạ.
-1994 - Cuộc bầu cử đa chủng tộc được tổ chức lần đầu tiên trong lịch sử Nam Phi. Với khoảng 18 triệu người da đen bỏ phiếu, Nelson Mandela đã được bầu làm tổng thống và F.W. de Klerk làm phó tổng thống.
-1785: Nghệ sĩ và nhà tự nhiên học người Mỹ John J. Audubon (1785-1851) sinh ra tại Haiti. Ông đã vẽ những bức tranh minh họa giống như thật về các loài chim ở Bắc Mỹ.

-1822: - Kiến trúc sư cảnh quan Frederick Law Olmsted (1822-1903) sinh ra tại Hertfors, Connecticut. Ông đã giúp thiết kế một số công viên nổi tiếng nhất ở Mỹ bao gồm Công viên Trung tâm ở New York, chuỗi công viên kết nối Emerald Necklace ở Boston và Công viên Quốc gia Yosemite.

- 1894: Nhà phát xít Rudolf Hess (1894-1987) sinh ra tại Alexandria, Ai Cập. Ông là Phó Quốc trưởng của Đức Quốc xã và là thành viên trong vòng tròn thân cận của Hitler. Vào ngày 10 tháng 5 năm 1941, ông đã thực hiện một chuyến bay một mình bất ngờ và nhảy dù xuống Scotland với ý định đàm phán hòa bình với người Anh. Tuy nhiên, người Anh đã nhanh chóng bắt giữ ông và giam giữ ông trong suốt thời gian đó. Sau chiến tranh, ông bị đưa đến Nuremberg và bị đưa ra xét xử cùng với những tên Quốc xã cấp cao khác. Ông qua đời trong cảnh bị giam cầm vào năm 1987, là tội phạm chiến tranh cuối cùng của Nuremberg.

27/4:

- 1865: - Trên sông Mississippi, thảm họa tàu hơi nước tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ xảy ra khi một vụ nổ trên tàu Sultana giết chết gần 2.000 hành khách, chủ yếu là lính Liên bang từng là tù nhân chiến tranh và đang trở về nhà.

-1791: - Nhà phát minh ra máy điện báo Samuel F.B. Morse (1791-1872) sinh ra tại Charlestown, Massachusetts. Ông đã phát triển ý tưởng về máy điện báo điện từ vào những năm 1830 và gửi đi thông điệp đầu tiên của mình "What hath God wrought?"Chúa đã làm gì - wrought: thì quá khứ của work- cổ ngữ) -vào năm 1844 trên đường dây điện báo đầu tiên, chạy từ Washington, D.C., đến Baltimore. Việc xây dựng đường dây điện báo đầu tiên được Quốc hội tài trợ (30.000 đô la) sau khi Morse không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ tài chính nào khác. Sau khi Western Union được thành lập vào năm 1856, các đường dây điện báo đã nhanh chóng được kéo dài từ bờ biển này sang bờ biển khác ở Mỹ.

-1822: - Tướng Nội chiến và Tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ Ulysses S. Grant (1822-1885) sinh ra tại Point Pleasant, Ohio. Trong chiến tranh, ông được đặt biệt danh là "Người đầu hàng vô điều kiện" Grant và được trao quyền chỉ huy quân đội Liên bang. Ông giữ chức Tổng thống từ năm 1869 đến năm 1877 trong một chính quyền bị tai tiếng. Sau đó, ông tiếp tục viết hồi ký và qua đời vào năm 1885, chỉ vài ngày sau khi hoàn thành.

28/4

1945 - Hai mươi ba năm cai trị của Phát xít ở Ý đã kết thúc đột ngột khi những người du kích Ý bắn cựu độc tài Benito Mussolini. Các nhà lãnh đạo khác của Đảng Phát xít và bạn bè của Mussolini cũng bị giết cùng với tình nhân của ông, Clara Petacci. Thi thể của họ sau đó bị treo ngược và bị đám đông ném đá và la ó ở Milan.

29/4:

-1992 - Bạo loạn nổ ra ở Los Angeles sau thông báo rằng bồi thẩm đoàn ở Simi Valley, California, đã không kết án bốn cảnh sát Los Angeles bị buộc tội đánh đập một người đàn ông Mỹ gốc Phi được ghi hình lại.

-1863 -Nhà xuất bản người Mỹ William Randolph Hearst (1863-1951) sinh ra tại San Francisco. Là con trai của một thợ mỏ vàng, năm 1887 ông bỏ học Harvard để tiếp quản tờ San Francisco Examiner đang trên đà phá sản mà cha ông đã mua lại. Ông đã cứu tờ Examiner, sau đó đến New York và mua tờ New York Morning Journal để cạnh tranh với Joseph Pulitzer. Phong cách báo chí "vàng" giật gân của Hearst đã bán được số lượng báo chưa từng có và bao gồm cả việc thúc đẩy chiến tranh với Cuba vào năm 1897-98. Ông mở rộng sang các thành phố khác và xuất bản tạp chí, sách và phim. Ông cũng phục vụ trong Quốc hội và suýt trở thành thị trưởng của Thành phố New York.

-1901: Nhật hoàng Hirohito (1901-1989) của Nhật Bản sinh ra tại Tokyo. Năm 1926, ông trở thành vị vua thứ 124 trong một dòng dõi lâu đời và sau đó chủ trì Nhật Bản thời chiến do Thủ tướng theo chủ nghĩa quân phiệt Hideki Tojo lãnh đạo. Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử, ông đã có bài phát biểu trên radio kêu gọi người dân của mình ngừng chiến đấu. Sau chiến tranh, ông vẫn là nguyên thủ quốc gia mang tính biểu tượng trong chính phủ nghị viện mới của Nhật Bản. Năm 1946, ông từ bỏ quyền lực của mình và sau đó theo đuổi sở thích của mình về sinh học biển, trở thành một chuyên gia được công nhận trong lĩnh vực này.

30/4:

-1789 - George Washington trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên khi ông tuyên thệ nhậm chức trên ban công của Tòa nhà Liên bang ở góc Phố Wall và Phố Broad Streets tại Thành phố New York.
-1948 - Người Do Thái Palestine tuyên bố độc lập khỏi sự cai trị của Anh và thành lập nhà nước Israel mới. Đất nước này nhanh chóng trở thành điểm đến của hàng chục nghìn người sống sót sau thảm sát Holocaust của Đức Quốc xã và là đồng minh mạnh mẽ của Hoa Kỳ.
-1967 - Võ sĩ Muhammad Ali bị tước chức vô địch quyền anh hạng nặng thế giới sau khi từ chối gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Ông đã tuyên bố được miễn trừ tôn giáo.

Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. CS gọi là Ngày giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước, hoặc ngày Sài Gòn sụp đổ (Fall of Saigon, cách gọi của báo chí phương Tây), tất cả người VIỆT lưu vong gọi là Ngày Quốc hận và Tháng Tư Đen. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh cùng nội các tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày này là kết quả trực tiếp của Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 và là một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Thành phố Sài Gòn sau đó bị đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh. 
Phiên bản xe tăng T-54A (cùng loại với xe 843 gốc) được sơn số hiệu 843, là 1 trong 2 chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập.

Kết quả

Kết thúc chiến tranh Việt Nam
Chính phủ cách mạng lâm thời giành chính quyền trên toàn miền Nam Việt Nam, bắt đầu chuẩn bị việc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam
Hoa Kỳ di tản tất cả các nhân viên ngoại giao, quân sự và dân sự khỏi miền Nam Việt Nam.

Thái Lan
Sưu Tầm & Dịch