Thứ Tư, 13 tháng 3, 2024

Nhạt Nhòa - Sáng Tác: Tuấn Khanh - Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng


Sáng Tác: Tuấn Khanh
Tiếng Hát: Phạm Cao Tùng

Vĩnh Cửu

 

Người đem rắc những tơ vàng
Để mùa thương nhớ mơ màng vì ai
Sánh vai vượt cạn lên mây
Đấp xây hạnh phúc mộng đầy khó quên
Dẫu xa thầm nhủ gọi tên
Tạc lòng khắc dạ hương nguyền có nhau
Lúc vui buồn lẫn khổ đau
Như trầu cau bện ngạt ngào men say
Sắt son xưa vẫn như nay
Căn nhà vĩnh cửu ấp đầy tình thơ.


Kim Oanh

Cội Mai Già

 

Tuổi Thơ Ấu nơ xinh cài trên tóc
Mây vờn bay trong lòng mắt xoe tròn
Miệng sơn ca nắc nẻ tiếng cười ròn
Ngón tay ngọc vân vê hàng cúc bấm

Tuổi Niên Thiếu như vầng dương hé ló
Như bầy chim ríu rít gọi bình minh
Như giàn hoa nở rực rỡ tươi xinh
Như cánh cửa đầu đời cho cuộc sống

Tuổi Hồng thắm đỏ bờ môi phụ nữ
Hừng hực hương nồng cơ bắp nam nhi
Mái tóc cỏ non mịn màng xanh mượt
Mắt long lanh phản ánh nét xuân thì

Tuổi Hoa Niên như mặt trời ngự đỉnh
Như tàng cây đứng vững trước phong ba
Nhưng thời gian khiến tóc tuyết sương pha
Sức hoạt động tiêu hao dần sinh khí

Tuổi Hoàng Hôn đường trần thu ngắn lại
Còn gì không hay một cội mai già?
Trong rỗng ruột ngoài héo khô cành lá
Rồi nát tan thành cát bụi không gian!

ChinhNguyên/H.N.T. 
 Mar.8.2024 (641)
(Mô phỏng Tâm Ca Bốn Mùa /CN-HNT #626 2023, lhvl Nov.19.23)

Bất Ngờ Đôi Mắt Cố Nhân

 

Lời Bài Hát:

Đôi Mắt Người Xưa

Chuyện tình của tôi tan vỡ từ lâu rồi
Tưởng không bao giờ còn nhớ
Nhưng bỗng một hôm trên đường ra phố thị
Tôi gặp người yêu ngày nào

Đôi mắt ưu tư thật buồn nàng nhìn tôi
Rồi quay mặt bước đi như không hề quen biết
Cũng đôi mắt này năm xưa lạc vào hồn tôi
Trong những đêm không ngủ
Trông đèn nhìn khói thuốc bay

Em dĩ vãng đôi mình được dệt thành bao kỷ niệm
Từ khi mới quen nhau
Ôi đôi mắt người xưa bao lần khóc ướt vai tôi
Trong những đêm giận hờn

Rồi ngày tháng êm trôi cuộc đời chia hai lối
Bỗng một hôm có thiệp hồng
Báo tin vui tin em lấy chồng
Khi về bên ấy em có nhớ người xưa không

Người tình của tôi xa cách từ bao ngày
Tưởng không bao giờ gặp nữa
Cơn gió chiều nay vô tình mang nỗi buồn
Cho kỷ niệm thêm nghẹn ngào

Thôi trách nhau chi chuyện tình dù dở dang
Đã tan thành khói sương xin quên vào dĩ vãng
Đôi mắt người xưa xin đừng buồn vì tôi
Cho trái tim tôi ngủ quên chuyện tình xưa lỡ làng

Nhạc Sĩ Ngân Giang
***
Chuyển Thể:

Bất Ngờ Đôi Mắt Cố Nhân


Tình tôi tan vỡ lâu rồi
Tưởng không còn nhớ tới người năm xưa
Bỗng một hôm thật bất ngờ
trên đường ra phố người xưa lại về

Thật buồn đôi mắt ai kia

nhìn tôi xa lạ không hề vấn vương
rồi quay mặt bước qua đường
đường ai nấy bước, đoạn trường chia tay!
Năm xưa đôi mắt đẹp này
đã từng siêu lạc đã bay vào hồn
tôi không ngủ suốt canh trường
chong đèn nhìn khói thuốc vờn bóng đêm

Giờ đây tưởng vẫn còn em
vẫn còn kỷ niệm êm đềm bên nhau
Nhớ ơi đôi mắt năm nào
bao lần lệ ướt thấm vào vai tôi
những đêm hờn giận xa xôi

Thế rồi ngày tháng êm trôi cuộc đời
chia hai lối mộng chập chùng
Bỗng một hôm có thiệp hồng báo tin
em theo chồng dệt duyên tình
Em về bên ấy nhớ … xưa không?

Người tình xa cách muôn trùng
Tưởng không gặp nữa không cùng ….
chiều nay Cơn gió vô tình
mang buồn kỷ niệm mình Cho thêm nhớ nhau
nghẹn ngào đừng trách chi nhau
niềm đau dĩ vãng cất vào lãng quên
mối tình đầu dẫu gọi tên
cũng như sương khói bay lên đỉnh trời
xin đôi mắt ấy vì tôi
đừng buồn quá khứ chia phôi ngỡ ngàng
Cho tim tôi ủ mộng vàng
Để quên đi chuyện lỡ làng tình xưa

Đèo Văn Trấn

Chạnh Nhớ Sài Gòn


Đường Tự Do năm 1969 (Rue Catinat) Thủ Đô Việt Nam Cộng Hòa Sài Gòn

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay
Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa
Niềm đau nói mấy cho vừa
Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

(Bốn câu thơ trên đã được nhạc sĩ Nam Lộc đọc trong DVD Asia 68 Sài Gòn nỗi nhớ (Saigon Nostalgia) được thực hiện trong 3 shows liên tiếp ở Syracuse, tiểu bang New York trong hai ngày 23-24/4/2011)

Đâu còn những buổi hoàng hôn
Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu
Tự Do rực rỡ muôn màu
Maxim dìu bước em vào thiên thai
Duy Tân bóng mát trải dài
Queen’s Bee vang tiếng hát ai dặt dìu
Đường Trần quốc Toản thân yêu
Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng
Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền
Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương
Đường về Gia Định muôn phương
Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều
Đa Kao xe cộ dập dìu
Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy
Lăng Ông Bà Chiểu giờ đây
Còn đâu hương khói những ngày đầu Xuân
Từ Cây Thị đã bao lần
Loanh quanh đưa lối đến gần Cây Mai
Qua Cầu Khánh Hội chia hai
Lối đi Thương Cảng dấu hài còn in
Quán ăn Chợ Lớn linh đình
Phú Lâm ngả rẽ tâm tình từ lâu
Sàigòn thôi hết ngọc châu
Sàigòn thôi hết công hầu bá vương
Còn chăng là những đau thương
Thảm sầu tang tóc trăm đường đắng cay
Bao lâu nữa có một ngày
Quân ta vùng dậy diệt loài sài lang
Sàigòn phất phới cờ vàng
Non sông vang khúc khải hoàn từ đây./.

Toronto một chiều mưa chạnh nhớ về Sài Gòn
Nguyên Trần

Ðức King Kong


Trong lớp 9AB này người tôi chơi thân nhất là Vũ Văn Ðức. Tôi chơi thân với Ðức kể từ khi chúng tôi học chung năm lớp tám. Ðức cao, đô con, nước da ngăm đen. Chân tay nó mọc đầy lông. Ðức có tướng đi dềnh dàng như con khỉ đột trong phim King Kong của Mỹ. Phim King Kong mà tôi muốn nói đó là phim do đạo diễn John Guillermin được trình chiếu lần đầu vào năm 1976. Ngoài cái tướng dềnh dàng to lớn ra, Ðức còn bị cận thị nặng. Trên khuôn mặt to bành của nó lúc nào cũng đeo cặp mắt kiếng.

Thời chúng tôi đi học, hễ đứa nào mang mắt kiếng đều bị bạn bè chọc ghẹo. Ðức cũng không ngoại lệ. Nhưng do cái tướng dềnh dàng của nó nên không có đứa nào trong lớp dám chọc. Chỉ có tôi hay cà khịa Ðức mỗi lúc chúng tôi có giờ ra chơi. Không biết sao hồi đó tôi gan thiệt. Những lần ra chơi, tôi hay đứng trước mặt Ðức, dơ hai ngón tay đan chéo vào nhau, đưa tới đưa lui trước mặt nó, rồi hỏi:
- Hê... Ðức, đố mày đếm được mấy ngón tay?
- Cái thằng oắt con kia, tao bị cận chứ đâu có mù!
- Ừa mày không mù, nhưng tối nào mày cũng muốn mù dzớ được con Hồng Hà Nhi...
Rồi tôi nói lớn, cốt để cả lớp cùng nghe:
- Ê mấy đứa bây ơi... Thằng Ðức cống King Kong nằm mơ mù dzớ con Hồng Hà Nhi nè tụi bây...
Tôi vừa la lớn vừa chạy lòng vòng trong lớp rồi ba chân bốn cẳng phóng vụt ra khỏi lớp học, đến sân trường. Ðức giận dữ với gương mặt gầm gừ. Nó rượt theo tôi. Mỗi lần thấy cái tướng chạy của Ðức, tôi vừa chạy vừa cười. Tôi luôn khiêu khích Ðức làm nó thêm tức tối. Nó cố chạy thật nhanh để bắt tôi cho bằng được.

Ở trong lớp, tôi là đứa nhỏ con nhất. Nhưng tôi có đôi chân nhanh nhẹn nên thường trốn được những lần rượt đuổi của Ðức. Mỗi lần tôi chọc Ðức, nó rượt. Tôi chạy. Chúng tôi như mèo rượt chuột. Nếu Ðức thọp được cổ tôi thì khỏi phải nói, nó đánh cho một trận nhừ đòn. Nó kẹp nách tôi lên rồi quất vào mông như người ta đánh đòn con nít ngỗ nghịch, hư hỏng. Rồi nó còn ôm tôi quay vòng, xong thả xuống, như kiểu như người ta quay con dế cồ lửa trước khi cho đá nhau. Nếu như Ðức không thọp được tôi và hết giờ chơi, nó cũng nguôi cơn giận sau khi vào lớp. Ðức không có tánh thù dai để rồi ghi hận, trả thù cái kiểu quân tử Tàu, "trả thù mười năm chưa muộn". Nếu Ðức thù dai chắc tôi sẽ ăn đòn nhừ tử với nó và còn lâu tôi mới dám chọc Ðức King Kong.
Tôi không nhớ rõ cho tới khi nào thì tôi mới hết chọc Ðức và chúng tôi trở thành bạn, rồi thân như bây giờ. Chắc có lẽ vì chọc và đánh nhau nên chúng tôi thân nhau cũng nên? Giống như trong phim kiếm hiệp mà tôi thường nghe mấy chàng đại hiệp anh hùng hay nói: "Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách; không đánh không quen biết..." Chắc trường hợp của chúng tôi cũng vậy?

Nhà của Ðức ở dưới xóm biển, cách trường chúng tôi khoảng mười phút đi bộ về hướng quốc lộ số Một và cách nhà tôi chừng 15 phút về hướng Tây Bắc. Trong xóm Ðức ở có mấy người bạn cũng học chung với chúng tôi như thằng Thủy và con Hà Ngọc Hồng Nhi; người mà chúng tôi gọi là Hồng Hà Nhi. Nhà của Ðức cách nhà Nhi vài căn. Gia đình Ðức sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Ba Ðức có chiếc thuyền chèo ba lá nho nhỏ để đánh bắt gần bờ khi những ngày biển yên sóng lặng. Không như những gia đình khác trong xóm chài này, họ đều có những chiếc xuồng hay ghe lớn, như có ghe máy F10. Khá giả hơn như ông Hợi, chẳng hạn, có cả một cặp ghe máy ba lốc với giàn máy cào lưới dài cả trăm mét. Mạ Ðức mỗi sáng đi ra bến cá phụ giúp việc cho các chủ ghe trong xã. Người ta cần giúp gì thì bà làm việc đó. Nói chung gia đình của Ðức nghèo so với những người dân quanh xóm. Ðức có tất cả bốn anh em, nó là con trai trưởng. Sau Ðức là con Nhật, thằng Pháp và thằng Ý.

Khi chúng tôi chơi thân với nhau, Ðức rủ tôi về nhà nó chơi. Lần đầu đến nhà Ðức, nó kêu các em lại và bắt xếp hàng từ lớn tới nhỏ, như kiểu nhà binh, rồi nó giới thiệu từng đứa em cho tôi quen biết:
- Ðây là ba đứa em của tao. Con Nhựt, 12 tuổi. Thằng Pháp, 9 tuổi. Thằng Ý, 5 tuổi. Còn đây là anh Nam, bạn của Hai. Mấy đứa chào anh Nam đi.
- Dạ… Em chào anh Nam...
- Dạ… Em chào anh Nam...
- Dạ… Em chào anh Nam...
Nghe nó giới thiệu rồi ba đứa em vòng tay cúi đầu chào tự nhiên tôi thấy mình "có chức có quyền” ghê gớm. Giới thiệu xong, nó nhìn qua đứa em gái và nói:
- Nhựt, mày ở nhà coi em nha. Hai dắt bạn Hai ra ngòi chơi cho biết. Nếu có cá Hai bắt dìa chiên nướng cho mấy đứa ăn.
- Dạ...
Tôi theo chân Ðức đi ra khỏi căn nhà tranh vách đất của nó. Chúng tôi đi thẳng về hướng Ðông Nam, ra biển. Vừa ra khỏi nhà, tôi cà khịa nó:
- Hê… Ðức sao ba má mày không kiếm thêm một đứa nữa rồi đặt tên Mỹ, biết đâu gia đình mày được đi Mỹ như ba của hai anh em thằng Thủy, thằng Sơn?
- Cái thằng này cà kịa nữa. Nhà tao bốn đứa ăn còn không đủ, thêm đứa nữa là thành ngủ quỹ để ăn cướp hay hốt cát ăn hả mậy?
- Ngũ quỷ là năm thằng mới ngũ quỷ. Mà cát đất gì mày ơi... Có Mỹ rồi thì ăn bánh mì bơ, pate chứ...
- Thôi mày đừng cà khịa tao nữa. Ừa... Hồi nào tới giờ mày có đi xuống ngòi chưa?
- Ngòi? Ngòi gì? Hồi nãy tao nghe mày nói với mấy đứa em là xuống ngòi bắt cá. Tao định hỏi mà chưa kịp ...
- Mày không biết ngòi hả? Ngòi như sông, như suối dzậy, nhưng gần biển. Nước chảy ra chảy dzô liên tục, cả ngày. Hôm nay tao dắt mày đi cho biết. Nếu trúng con nước tao chỉ mày bắt cá đối con dzìa nướng hay chiên. Cá đối nướng, hay chiên giòn, chấm muối ớt ăn ngon Ngon tuyệt cú mèo luôn.
Nghe Ðức tả mà lòng tôi thấy nôn nao. Chúng tôi rời khỏi nhà, đi chừng mười phút, tôi thấy trước mắt mình là một đầm lầy với những bụi cây nho nhỏ nhô lên. Ðến gần, có một con lạch nhỏ nối giữa khu đầm lầy và bờ biển. Buổi sáng, thủy triều rút. Nước từ trong đầm chảy ra nhè nhẹ, êm đềm. Ðức nhìn con nước, vui mừng nói:
- Số mày hôm nay hên nha. Trúng con nước rồi, chắc có cá.
Nói chưa dứt câu, Ðức chạy một mạch xuống lạch nước. Nó dạng hai chân ra đứng chờ. Tôi đứng bên bờ cát đưa mắt nhìn nó, hỏi:
- Mày đang làm gì đó?
- Tao đang chờ cá đối bơi ra để bắt chứ chi. Xuống đây bắt cá với tao.
- Tao có thấy con nào đâu mà bắt.
- Mày xuống đây mới thấy. Ðứng đó sao thấy.

Tôi lội xuống nước, đứng gần Ðức, chờ đợi. Buổi sáng, nước mát lạnh từ trong sông ngòi chảy ra cho tôi một cảm giác khoan khoái, dễ chịu. Mực nước cạn chỉ trên mắt cá chân chừng một gang tay. Tôi bắt chước theo Ðức, đứng dang hai chân chờ đợi. Khoảng vài phút trôi qua, trên mặt nước, chúng tôi thấy những lằn nước di chuyển. Ðức nhanh chân chạy theo những lằn nước ấy. Rồi nó ngồi bệt xuống thật nhanh, hai tay ôm mặt nước, chụp bên phải bên trái liên tục. Sau vài lần chụp lên, chụp xuống, Ðức bắt được một con cá với vảy bạc lấp lánh. Nó quăng con cá lên bờ. Sau khi nó ném xong, nó nói với tôi:
- Nam, mày lượm con cá đối rồi đào cái hục bỏ dzô trong cho khỏi mất dấu.
Tôi phóng lên bờ, lượm con cá nhỏ, tròn tròn, cỡ chừng ba ngón tay chụm lại. Con cá nhảy đành đạch trong tay tôi. Tôi nhìn con cá rồi hỏi lại nó:
- Lấy gì đào hục bây giờ?
- Thì mày lấy tay đào chứ lấy gì? Cái thằng này hỏi như trên trời rớt xuống.
Chưa nói xong câu, thằng Ðức lại ném lên bờ thêm một con cá đối nữa. Con cá lần này to hơn chút xíu. Lượm được hai con cá, tôi thích quá. Tôi vội đào cái lỗ to bằng cái rổ đi chợ, bỏ hai con cá bỏ vào lỗ rồi chạy xuống nước nhìn coi cách thằng Ðức bắt cá. Thấy nó rượt đuổi mấy con cá đối mà tôi ngỡ ngàng. Cái thằng Ðức dềnh dàng như King Kong và bị cận thị nặng, vậy mà nhanh nhẹn quá. Nó khác xa so với thằng Ðức King Kong ở trường, trong lớp. Tôi thầm thán phục sự nhanh nhẹn khi Ðức bắt cá. Tôi hỏi Ðức:
- Ê… Ðức... Sao trên trường tao thấy mày chậm chạp, cục mịch mà sao giờ tao thấy mày nhanh vậy?
- Thằng này hỏi khéo, chậm sao bắt được cá...
- Ừa, nhưng... Mày cận mà nhìn nhanh vậy?
Ðức cười hề hề, rồi nói câu cố hữu của nó:
- Tao cận chứ không có mù... Tao đeo mắt kiếng mà mày...
- Ờ... Ờ... Mày hay thiệt... Ðâu mày chỉ tao cách bắt với.
- Ừa... Mày lại đây đứng gần tao, khi nào có cá tao sẽ chỉ mày.
Tôi đi tới đứng sát bên Ðức, chờ đợi. Chúng tôi đứng chừng vài phút thì những vệt nước chạy trên mặt lại xuất hiện. Ðức chỉ vào những vệt nước ấy và nói:
- Ðó mày thấy chưa? Một bầy cá đối đó. Có hai cách bắt. Mày có thể đứng im không nhúc nhích chờ cá tới gần rồi chụp. Hai là mày rượt theo chúng, khi tới gần, ngồi bệt xuống rồi lấy tay bắt. Cá một bầy, có con sẽ đụng trúng mày, mày bắt thôi. Thử đi...

Tôi nghe theo cách chỉ dẫn của Ðức và làm thử. Tôi rượt theo đàn cá rồi ngồi xuống…
Giống như Ðức nói, có vài con cá bơi tán loạn, húc vào người tôi. Một con chui tọt vào cái quần tà lỏn của tôi, tôi vội chụp lại, cười ngặc nghẻo. Ðó là lần đầu tiên tôi bắt được con cá đối trong đời.
Chúng tôi đuổi bắt những đàn cá đối đến trưa, khi thủy triều lên rồi mới trở về nhà. Ðức cởi chiếc áo thun của nó ra, gom hết mớ cá bỏ vào áo rồi tụm lại, đem về. Về đến nhà, ba đứa em của Ðức chạy lại hỏi:
- Hôm nay có cá không Hai?
- Ðược bộn, mấy chục con. Ðủ chiên cho mấy đứa ăn cơm. Con Nhựt có nấu cơm chưa?
- Dạ rồi. Em đang dần cơm cho chín ở trỏng.
- Mình chiên hay nướng vậy Hai?
- Hôm nay Hai có bạn, chiên dầm mắm ớt tỏi nha?
- Nhưng nhà mình làm gì còn dầu mà chiên?
- Thì mày lấy chén ra bà Ba mua chịu hai ngàn bạc dầu phộng dìa cho tao chiên.
- Dạ.
Trong khi chờ đợi con Nhật vào trong bếp lấy cái chén sành đi ra quán tạp hóa đầu xóm mua ít dầu, Ðức lấy thau rổ ra sau nhà làm cá. Nó đi đến cái lu nước, lấy gáo dừa múc nước đổ vào thau. Thấy nó không có đem dao thớt, tôi thắc mắc hỏi:
- Mày không lấy dao hay thớt lấy gì làm cá?
- Cá đối này không cần dao thớt gì hết. Chỉ cần móc mang trong và ruột là chiên được.
Thấy tôi ngơ ngác đứng nhìn, Ðức tiếp:
- Mày chờ tao làm xong mớ cá này rồi dắt mày ra giếng tắm rồi mình nhậu.
Ðức dùng hai ngón tay móc mang, móc ruột cá xong, rửa sạch, bỏ vào rổ để cho ráo nước. Nó gọi hai đứa em trai đang chơi đá gà bằng cọng cỏ trước sân, căn dặn chúng:
- Pháp, Ý... Hai đứa đứng canh chừng rổ cá cho Hai để Hai dắt anh Nam ra giếng tắm rồi dzìa chiên cá cho mấy đứa ăn cơm nha.
- Dạ...
- Lo mà coi chừng, đừng ham chơi chó mèo ăn là chết dzới tao.
- Dạ, em biết rồi.

Ðức tới cạnh lu nước cầm cái gầu bằng thiết đi ra cái giếng lộ thiên ở ngã ba đường múc nước tắm. Ðức múc một gàu nước rồi xối từ trên đầu xối xuống. Tắm xong, nó múc thêm một gàu nước khác, nói với tôi:
- Mày ngồi xuống để tao xối cho.
Tôi nghe vậy cảm thấy tự ái, nên nói:
- Mày làm tao như em mày không bằng. Mày tắm đi rồi đưa gàu đây. Tao tự múc.
Tôi múc gàu nước lên, xối từ trên đầu xuống. Dòng nước mát rượu giữa buổi trưa cuối hè, tôi thấy rất sảng khoái, dễ chịu. Tắm xong, chúng tôi về lại nhà Ðức.
Ðến nhà, Ðức đi vô buồng ngủ, tìm cho tôi bộ đồ của nó, đưa cho tôi. Ðức nói:
- Mày mặc đỡ bộ đồ của tao đi. Bộ này tao mặc chật lắm rồi. Mạ tao để dành cho thằng Pháp lớn chút nữa nó mặc.
Tôi cầm bộ đồ trên tay đứng ngó quanh chưa biết tính sao thì thấy nó vô tư tụt quần tà lỏn xuống thay tỉnh bơ như chốn không người. Nó thay quần áo xong, quay qua nhìn tôi hỏi:
- Sao mày không chịu thay đi? Thay xong rồi ra dắt cho nó khô chút nữa bận có mà dìa.
- Thay ở đây?
- Chứ ở đâu.
- Lỡ như...
- Ờ... Ờ... Tao biết rồi. Ðể tao đóng cánh cửa lại cho mày thay quần. Cái thằng cu có chút tẹo mà cũng bày đặt mắc cỡ.
- Mày biết gì mà nói...
- Thì nhìn cái tướng của mày là tao biết cỡ nào rồi... Ha... Ha...
Chúng tôi thay quần áo xong, xuống bếp chiên cá chuẩn bị bữa cơm trưa. Hôm nay Ba Mạ của Ðức được người ta thuê chặt mía làm đường đến chiều tối mới về. Nên ở nhà chỉ có bốn anh em tự chăm sóc lẫn nhau. Chiên cá xong, Ðức bưng nồi cơm lên. Nó quay sang nói với tôi:
- Mày giúp tao bưng dĩa cá lên trên nhà rồi chờ tao làm mắm ớt tỏi. Mình nhậu.

Chúng tôi để nồi cơm và dĩa cá ở giữa sàn nhà đất. Ðặt nồi cơm xuống, Ðức đi xuống bếp tìm ớt, tỏi, đường trên cái kệ gỗ dưới bếp để làm mắm. Chắc nhà nó không có ớt, nên Ðức gọi nhỏ em:
- Nhựt ơi... Mày đâu rồi?
Con Nhựt nghe gọi, chạy xuống bếp trả lời:
- Dạ, Hai gọi có chi không?
- Mày chạy qua nhà chị Nhi xin cho Hai vài trái ớt coi. Ðịnh làm mắm mà không có ớt. Con Hồng Hà Nhi là chúa ăn cay, chắc nhà nó có ớt. Mày qua đó xin giùm Hai...
- Sao Hai không đi mà cứ kêu em quài. Em đang đan lưới mà.
- Ði giùm Hai đi... Con gái xin dễ hơn... Nhanh lên rồi còn dìa ăn cơm.
Con Nhật đi rồi, tôi nói với Ðức:
- Chỉ còn một tháng nữa là mình vô lớp 9 rồi, nhanh ghê...
- Ừa... Học xong lớp 9, chắc mày đi Nha Trang học tiếp. Còn tao sẽ nghỉ ở nhà đi biển cho ông Củi xóm chài...
- Sao mày không học tiếp?
- Học sao được mà học. Tao còn ba đứa em nheo nhóc. Mười lăm tuổi, lớn rồi cũng phải lo phụ gia đình chứ mậy.
Nghe Ðức tâm sự, tôi cảm thấy buồn buồn, nhưng rồi lại quên ngay khi con Nhật về đưa cho Ðức một bụm ớt hiểm. Nhật nói:
- Nè... Hai... Chị Nhi cho luôn một mớ ớt. Chỉ hỏi xin dìa làm gì. Em nói dầm mắm ăn cơm với cá lá.
- Cái con này... Nói chi vậy?
- Thì chỉ hỏi, em trả lời.
- Ừa… Thôi… Mày kêu thằng Pháp, thằng Ý ra sau rửa tay, đặng ăn cơm.
- Dạ.

Chúng tôi ăn cơm chung với nhau. Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi ăn cơm với món cá đối lá chiên giòn ăn luôn cả vảy lẫn xương. Ôi món cá đối lá chấm mắm ớt tỏi, ngon tuyệt cú mèo như thằng Ðức King Kong đã diễn tả.
Ăn cơm xong, chúng tôi dọn dẹp thì trời cũng gần xế chiều. Ðức hỏi tôi:
- Mày muốn ra biển chơi không?
- Chắc hôm khác. Giờ tao phải về chứ đi từ sáng tới giờ sợ mẹ tao trông.
- Ừa... Ðể tao coi áo quần mày khô chưa đã.
Ðức đưa tay lên sờ bộ quần áo của tôi, rồi nói:
- Nó còn âm ẩm. Nhưng không sao. Mày thay đi, mặc ra biển chơi chút xíu, khi nào khô rồi dìa.
- Cũng được.
Tôi lấy quần áo đem vô nhà thay rồi cùng Ðức đi ra biển. Thằng Pháp, thằng Ý, thấy chúng tôi đi, tụi nó hỏi:
- Hai anh đi đâu nữa vậy? Cho tụi em đi với.
- Tụi tao đi ra biển chút rồi dìa. Ðể bữa nào anh Nam tới nữa, tao dắt hai đứa đi xuống ngòi bắt còng cho đá, chịu không?
- Hay... Hay... Hoan hô anh Hai...
- Ừa, ở nhà chơi đi rồi chút Hai dìa.

Chúng tôi đi ra biển, ngồi dưới gốc dừa nhìn mây trời... Biển cuối hè dìu dịu mát.

Thy Võ

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

Huyền Diệu – Miracles – Lưu Nguyễn Đạt (Thơ Tranh – Poésie & Peinture)



Sáng Tác & Thực Hiện: Lưu Nguyễn Đạt

Mừng Sinh Nhật Thầy

 

Ân cần cất bút chúc đôi lời,
Sinh nhật tháng nầy đã đến nơi.
Cầu chúc an vui niềm hạnh phúc,
Hằng mong khỏe mạnh sống yêu đời.
Ý thơ cao vút mây xanh thẳm,
Hồn mộng chơi vơi nước rạng ngời.
Bát tứ lão ông đương ích tráng,*
Đồng nhan hạc phát tạ ơn trời!

Đỗ Chiêu Đức
03-04-2024  
* LÃO ĐƯƠNG ÍCH TRÁNG 老當益壯 : Già rồi mà còn khỏe mạnh một cách mạnh mẽ. Lời trong bài Đằng Vương Các Tự của Vương Bột, người đứng đầu Tứ Kiệt trong buổi Sơ Đường.
* ĐỒNG NHAN HẠC PHÁT 童顏鶴髮 : Gương mặt dung nhan còn trẻ như hài đồng, tóc thì trắng bạc như là lông chim hạc. Thành ngữ chỉ những người già mà mặt mày còn tươi rói như thanh niên, mặc dùtóc đã bạn trắng như lông chim hạc rồi!
 

Em - Chất Vị Ngọt Ngào!

 

Buổi sáng nay ta ôm tròn kỷ niệm
Vuốt yêu thương hôn chất vị ngọt ngào
Áo ấm dài vừa giặt & sấy hôm nao
Còn phảng phất dạt dào hương em gửi

Ta yêu em thật nhiều ... nhưng ngại nói
Sợ em cười ... diệu vợi - giống cải lương
Nên làm thơ dùng từ ngữ thông thường
Ðể nhắn nhủ ... tình thương ta dành ... Bé

Nó bao la ngập tràn hơn bốn bể
Và ngút ngàn như thể núi Trường Sơn
Ta yêu em với tất cả tâm hồn
Dẫu bận rộn nhưng hồn luôn tìm nhớ!

Biết không em ... người vợ hiền xinh nhỏ?

Diệm Nguyễn

Nét Xuân Tươi

 

Nghe con chim hót rót vào tai
Sực tỉnh rằng xuân đến thật rồi
Ngắm đất, ngắm trời, êm ả quá
Nhìn đâu cũng thấy nét Xuân tươi

Hoa cỏ mỉm cười thêu áo mới
Mặt trời mủm mỉm bước lên đồi
Cánh bướm dập dờn... trao ước hẹn
Thơ ta chan chứa ... bút đang đòi

Từng vần đua chạy trên trang giấy
Gửi về bên ấy một niềm vui

Sóng sông e lệ: "thơ tình quá!"
Con đò chầm chậm ...lững lờ trôi


Thư Khanh

(Bên sông Fremont một ngày thật đẹp)
 

Cảm Nghĩ Về Luật Thơ

 

Trò chơi nào cũng có những luật lệ riêng của chúng. Thơ cũng không ngoại lệ, cũng có Luật thơ.
Thế Luật Thơ là gì? Luật thơ chính là những nguyên tắc, những qui định, những điều mà người làm thơ phải tuân theo. Tùy vào thể loại, mỗi loại thơ có những qui tắc khác nhau.
Từ việc giao thoa văn hóa giữa các nước, Việt Nam chúng ta ngày nay sử dụng khá nhiều dạng thơ, Tây có, Tàu có, cùng với thơ bản địa. 

A - Thơ Tây Phương

Căn bản, thơ của Tây Phương thường gieo vần Độc vận hoặc Liên vận ở cuối câu. Ảnh hưởng của thơ Tây Phương đã mang đến cho chúng ta một dạng vào đầu thế kỷ 20, dạng này được gọi là Thơ Mới.
       Thí dụ:
1/ Trích Đoạn Après La Bataille   
                       Tác Giả Victor Hugo

Mon père, ce héros au sourire si doux,
Suivi d’un seul housard qu’il aimait entre tous
Pour sa grande bravoure et pour sa haute taille,
Parcourait à cheval, le soir d’une bataille,
Le champ couvert de morts sur qui tombait la nuit.
Il lui sembla dans l’ombre entendre un faible bruit.
...
Đây là bài thơ Liên Vận, gieo vần từng cặp câu.

2/ Trích Đoạn Il Pleure Dans Mon Coeur
                           Paul Verlaine
Il pleure dans mon coeur
Comme il pleut sur la ville;
Quelle est cette langueur
Qui pénètre mon coeur? 

Ô bruit doux de la pluie
Par terre et sur les toits!
Pour un coeur qui s'ennuie
Ô le chant de la pluie! 
....
Bài thơ này Liên Vận, cứ 4 câu sử dụng Độc Vần, vần được gieo ở các câu 1,3 và 4.

3/Trích đoạn: Stances- 
                  Tác giả: Puskin

Avez-vous vu la tendre rose,              
L’aimable fille d’un beau jour,          
Quand au printemps à peine éclose,   
Elle est l’image de l’amour ?             
Telle à nos yeux, plus belle encore,
Parut Eudoxie aujourd’hui :
Plus d’un printemps la vit éclore,
Charmante et jeune comme lui.
....
Bài thơ này theo dạng Liên Vận và gieo vần cách câu.

B - Thơ Trung Hoa

1/ Thơ Cổ Phong: lề, thói xưa (Cổ Thể : thể cách xưa)
Đây là thể thơ có trước nhà Đường bên Tàu, không có luật lệ nhất định. Vần gieo có thể Bằng hoặc Trắc.

    關雎              Quan Thư  1

關 關 雎 鳩,  Quan quan thư cưu     
在 河 之 洲。  Tại hà chi châu.    
窈 窕  淑 女, Yểu điệu thục nữ,
君 子  好 逑。 Quân tử hảo cầu. 

Bài thơ này thuộc dạng Đoản Thiên, Độc Vận và gieo vần ở các câu 1,2 và 3.

長 干 行  其二    Trường Can Hành Kỳ 2
         
家 臨 九 江 水      Gia lâm Cửu Giang thuỷ   
來 去 九 江 側      Lai khứ Cửu Giang trắc.    
同 是 長 干 人      Đồng thị Trường Can nhân   
生 小 不 相 識。  Sinh tiểu bất tương thức. 
                崔顥                       Thôi Hiệu

 Bài thơ này gieo vần Trắc, cách câu. 
   
            Trích Đoạn:
 龍城琴者歌              Long Thành Cầm Giả Ca
             阮攸                                             Nguyễn Du
龍城佳人                       Long thành giai nhân  
不記名字                       Bất ký danh tự      
獨善絃琴                       Ðộc thiện huyền cầm      
舉城之人以琴名           Cử thành chi nhân dĩ cầm danh
學得先朝宮中供奉曲    Học đắc tiên triều cung trung “Cung phụng” khúc
自是天上人間第一聲。Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh.    
 ... 
Bài thơ theo dạng Trường Thiên, số chữ trong câu tùy tác giả, gieo vần Cách Câu, Liên Vận

Qua phần trình bày bên trên, chúng ta thấy, thơ Tây phương và thơ Cổ Phong của Trung Hoa, có một số nét tương đồng như cách gieo vần, số chữ trong câu cũng như số câu trong bài thơ.

2/ Thơ Đường Luật (Cận Thể hay Tân Thể: dạng mới, dạng gần nhất)

Đây là dạng thơ xuất hiện đời Nhà Đường bên Tàu, có những qui định khắc khe nhất: Luật Thanh ( tạo sự trầm bổng), Vần (tạo sự liên tục êm ái xuôi tai), Đối (tạo sự phản biện hay đồng thuận, bổ nghĩa cho nhau, làm rõ hơn ý tưởng của bài thơ), Niêm (Sự liên kết chặt chẽ về âm luật giữa các câu thơ với nhau), và sau cùng là Bố Cục(tạo sự kế tục trong ý thơ, tránh trường hợp đầu Ngô Mình Sở, mỗi câu mỗi ý). Người làm thơ phải tuân theo các luật này.

   曲江 其二           Khúc Giang Kỳ Nhị    
                 杜甫                               Đỗ Phủ 
 
朝回日日典春衣      Triều hồi nhật nhật điển xuân y
 每日江頭盡醉歸     Mỗi nhật giang đầu tận tuý qui
 酒債尋常行處有     Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
 人生七十古來稀     Nhân sinh thất thập cổ lai hi
 穿花蛺蝶深深見     Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến
 點水蜻蜓款款飛     Điểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi
 傳語風光共流轉     Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
 暫時相賞莫相違     Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.

C- Thơ Việt Nam
 
Do ảnh hưởng văn hóa từ các quốc gia khác, nên chúng ta có nhiều loại thơ, thơ du nhập từ nước ngoài và thơ bản địa.

1- Thơ Mới và Thơ Tự Do

Thơ Tự Do xuất hiện và phát triển từ những năm đầu của hậu bán thế kỷ 20. Đây là dạng thơ phá bỏ các luật lệ trước Nó. Thơ viết thiếu vần kém điệu, nhiều lúc nghe hơi chói tai, phóng bút rất tùy hứng, đôi khi rất khó hiểu. Hai nhân vật nổi cộm của loại thơ này là Thanh Tâm Tuyền và Quách Thoại.

Thơ Mới phát nguyên từ lối thơ của người Pháp. Các nhà thơ thấy thơ Pháp không hạn định số câu, số chữ, không niêm, không đối, có nhiều cách gieo vần, nên mới đem thể ấy áp dụng vào thơ của chúng ta.

Trích Đoạn: Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ

        ... Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
            Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
            Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
            Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
            Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
            Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
            Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
            Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
            Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
            Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?...

Trích Đoạn Tiếng Trúc Tuyệt Vời của Thế Lữ

            Tiếng địch thổi đâu đây,
            Cớ sao mà réo rắt?
            Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt,
            Mây bay... gió quyến mây bay...
            Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt
            Như hắt hiu cùng hơi gió heo may...

2- Thơ Đường Luật
Đây là Dạng thơ mà các triều đại trước của Ta, thường sử dụng trong các kỳ thi chọn nhân tài. Tất cả qui luật đều tuân thủ theo luật của Thơ Đường Luật, có nghĩa là tôn trọng 5 qui tắc bắt buộc.

         Đêm Thu Nghe Tiếng Quạ Kêu
                                        của Quách Tấn

            Từ Ô Y hạng rủ rê sang,
            Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng...
            Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,
            Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng.
            Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
            Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
            Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi,
            Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

3- Thơ Truyền Khẩu

Thơ truyền khẩu của nước ta có nhiều dạng như Tục Ngữ, Ca Dao...Nhưng lãng mạn và tình cảm nhất chính là Ca dao. Khác với thơ nước ngoài, Ca dao Việt Nam vừa gieo vần cuối câu, lại còn gieo vần ở giữa câu. Có một điều rất đặc biệt trong Ca Dao của chúng ta, đó là sự phóng khoáng, không cứng nhắc, chủ yếu sao cho có vần có điệu, nghe xuôi tai và dễ nhớ là được.

             Lạy trời mưa xuống
             Lấy nước tôi uống
             Lấy ruộng tôi cày
             Lấy đầy bát cơm.

Trong Ca Dao, có một thể quan trọng, thường có dạng câu 6, câu 8 chữ, được gọi là thơ Lục Bát:

                Trong đầm gì đẹp bằng sen 
       Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng  
              Nhụy vàng bông trắng lá xanh
        Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Tuy nhiên, thơ Lục bát không bắt buộc chỉ có câu 6 và 8, mà có thể thêm bớt số chữ trong câu:

                     Biết thì thưa thốt
         Không biết thì dựa cột mà nghe

             Sơn Bình Kẻ Gốm không xa  
     Cách một cái quán với ba quãng đồng
        Bên dưới có sông bên trên có chợ
           Ta lấy mình làm vợ nên chăng
              Tre già để gốc cho măng.
Hay là:
                     ...Thành Hà-nội năm cửa chàng ơi  
           Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng   
                    Nước sông Thương bên đục bên trong  
         Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh...

Thơ Lục Bát ngoài gieo vần Bằng còn có thể gieo vần Trắc:

                    Tò vò mà nuôi con nhện
             Đến khi nó lớn nó quện nhau đi
                       Tò vò ngồi khóc tỉ ti
            Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào.
Hay là:
                 Tình thương gươm trường không sợ   
            Sét đánh bên mình duyên nợ không buông.

Qua những thí dụ về thơ Lục Bát, chúng ta nhận thấy có một điều rất đặc biệt, đó là sự uyển chuyển, phóng khoáng, dễ dãi, không cứng nhắc trong khi làm thơ. Chính vì thế, khi các nhà nghiên cứu; các học giả tổng hợp về ca dao để tìm qui tắc chung cho Thơ Lục Bát, các vị đưa ra luật thơ Lục Bát chỉ mang tính tương đối mà thôi, bởi vì bản chất thơ Lục Bát giống như những người bình dân lam lũ, không thích những ràng buộc những qui định nghiêm khắc.

D- Kết Luận

Trong môn bóng đá có nhiều hình thức chơi: Bóng đá 11 người, Bóng đá trong nhà, Bóng đá bãi biển. Mặc dù cũng là bóng đá, nhưng mỗi loại đều có một vài luật lệ riêng.
Thơ cũng giống thế, có nhiều loại thơ, mỗi loại có những nguyên tắc và qui luật riêng như trình bày bên trên, chỉ cần nhìn vào các điểm riêng này, chúng ta có thể biết đó là loại thơ gì.
Ngày nay, có một vài nhóm thơ, một số người cho rằng làm thơ chỉ vui chơi giải trí, không cần thiết hay bắt buộc phải theo đúng luật. Đây là quan điểm rất sai lầm, trò chơi nào cũng có những luật riêng, khi chấp nhận chơi, chúng ta phải tôn trọng những qui tắc dù khắc khe, nếu không thể làm thơ theo Luật, thì chúng ta có thể chọn thể loại khác để chơi, cớ sao lại phải thay đổi luật lệ đã được qui định từ trước?
Nói chung, chính những luật đã tạo nên nét độc đáo riêng, sắc thái riêng cho thơ, khiến cuộc chơi càng thêm thú vị và hấp dẫn hơn đối với người chơi.

Huỳnh Hữu Đức

Chu Trung Dạ Vũ 舟中夜雨 - Bạch Cư Dị(Trung Đường)

 

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, mười lăm tuổi đã bắt đầu làm thơ. Ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức. Ông thường nói: "Làm văn phải vì thời thế mà làm... Làm thơ phải vì thực tại mà viết, mục đích của văn chương là phải diễn đạt tình cảm của nhân dân”. Thơ ông mang đậm tính hiện thực, lại hàm ý châm biếm nhẹ nhàng kín đáo. Họ Bạch chủ trương thơ ca phải giản dị để dân chúng đều hiểu được; tình cảm, tư tưởng phải giàu tính nhân dân, nói được nỗi lòng của mọi người trước thế sự. Thơ ông rất trữ tình. Khi ông bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, ba bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, hồ sen… đều có đề thơ của mình.

Mỗi câu trong bài Chu Trung Dạ Vũ mang một yếu tố buồn. Chất buồn trong hai câu kết là trọng tâm của bài thơ.

Nguyên tác  Dịch âm

舟中夜雨     Chu Trung Dạ Vũ

江雲暗悠悠 Giang vân ám du du
江風冷修修 Giang phong lãnh tu tu!
夜雨滴船背 Dạ vũ trích thuyền bối
夜浪打船頭 Dạ lãng đả thuyền đầu
船中有病客 Thuyền trung hữu bệnh khách
左降向江州 Tả giáng hướng Giang Châu.

Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815) Bạch Cư Dị bị giáng chức và đổi đi làm tư mã Giang Châu.

Dịch thơ:

Trong Thuyền Mưa Đêm

Mây trên sông đen màu
Gió trên sông lạnh mau
Mưa gõ thuyền trên nóc
Sóng xô thuyền ngay đầu
Trong thuyền một khách bệnh
Bị biếm tới Giang Châu

Lời bàn 

Lúc kết thúc bài này là lúc buồn nhất đời của Bạch Cư Dị nhưng ông vẫn chế ngự được nỗi đau, không đến độ trầm cảm như Đỗ Phủ. Một phần vì ông không nghèo như họ Đỗ và trong thời ông sống không nhiều giặc giã như thời Đường Minh Hoàng. Họ Bạch tả nỗi buồn của một người ngồi trong một con thuyền chở mình tới nơi an nghỉ (chưa phải nơi an nghỉ cuối cùng).

Câu 1:
Tả đám mây đen trên đầu; chưa buồn mấy…
Câu 2:
Tả gió lạnh thổi trên sông; cũng chưa buồn nhiều…
Câu 3:
Tả mưa gõ trên mui thuyền; bắt đầu buồn nhiều hơn…
Câu 4:
Tả sóng xô ngay mũi thuyền; dường như nỗi buồn đang sửa soạn dâng lên…
Câu 5:
Tạm ngừng tả buồn, để nói tới vai chính trong thuyền đang bệnh nặng, báo động nỗi buồn lớn nhất sắp tới…
Câu 6:
Nỗi buồn lớn nhất tới rồi: Tuổi già + bệnh nặng + cô đơn + bị biếm đi Giang Châu xa vạn dặm chờ chết = Ắt là buồn Nhất.

Bạch Cư Dị tả nỗi buồn bị biếm bằng bài thơ ngũ ngôn lục cú, trông thì đơn sơ, nhưng thực ra nó là một nỗi buồn tiệm tiến (buồn lớn dần tới khi không thể buồn hơn… ). Bái phục.

Tái bút:

Có vài dị bản đổi cụm từ dạ vũ (mưa đêm) thành vũ dạ (đêm mưa) nhưng ÔC vẫn đồng ý với Thi Viện với 4 chữ trong đầu đề Chu Trung Dạ Vũ vì những lý do sau đây:

Trong 4 câu đầu tác giá đã nhấn mạnh 4 chữ vân, phong, vũ, lãng trong 4 cụm từ giang vân (mây trên sông), giang phong (gió trên sông), dạ vũ (mưa trong đêm), dạ lãng (sóng trong đêm) mà ÔC đã dịch thoát trong bài dịch ngũ ngôn lục cú nguyên bản của họ Bạch.

Con Cò
***
Các Bài Dịch Khác:

***
 Đêm Mưa Trong Thuyền

Mây sông tối sẫm màu
Gió sông thổi lạnh sao
Mưa đêm rơi tí tách
Sóng vỗ mũi thuyền chao
Trong thuyền có người ốm
Giáng chức trực Giang châu

Kiều Mộng Hà
Austin.3.2.24
***
Đêm Mưa Trong Thuyền.

Mây sông phủ ngút dài
Gió lạnh thổi tung bay.
Mưa đêm ngoài mái táp,
Sóng gió mũi thuyền lay.
Bên trong người mỏi mệt,
Đến Giang Châu lưu đầy.

Lục Bát.

Mây sông phủ kín mịt mù,
Gió sông lạnh lẽo vi vu từng hồi.
Mưa đêm trên mái đổ rơi,
Mũi thuyền gió táp sóng nhồi lắc lư.
Trong thuyền người mỏi mệt nhừ,
Giang Châu thẳng tới an cư lưu đầy.

Mỹ Ngọc 
Mar. 2/2024.
***
Đêm Mưa Trong Thuyền

Bên sông mây vần vũ
Gió lạnh thổi vù vù
Mưa đêm rơi ào ạt
Sóng dập vỗ lắc lư
Trong thuyền người yếu mệt
Đày Giang Châu tít mù

Thanh Vân
***
Đêm Mưa Trong Thuyền 

Mây sông tối mịt mù
Gió sông lạnh vi vu
Mưa đêm mui thuyền gõ
Sóng đêm dập thuyền đầu
Trong thuyền có khách bệnh
Bị giáng hướng Giang Châu

Mây sông đen sẫm mịt mù
Gió sông lạnh lẽo vi vu kinh người
Mưa đêm mui lá rụng rơi
Sóng đêm vùi dập đầy vơi mũi thuyền
Trong khoang khách bệnh triền miên
Một thân bị giáng hướng miền Giang Châu

Lộc Bắc
***
Trong Thuyền Mưa Đêm

Mây giăng xám, trên sông sương khép
Gió vi vu, lạnh khiếp kinh người
Mui thuyền rả rích mưa rơi
Sóng đêm vỗ mạn buồn ơi tháng ngày
Trong khoang người bệnh đèn lay
Một thân phụng mệnh lưu đày Giang Châu!

Kim Oanh
Mar 2024
***
Nguyên tác: Phiêm âm:

舟中雨夜-白居易 Chu Trung Vũ Dạ - Bạch Cư Dị

江雲暗悠悠 Giang vân ám du du
江風冷修修 Giang phong lãnh tu tu!
夜雨滴船背 Dạ vũ trích thuyền bối
風浪打船頭 Phong lãng đả thuyền đầu
船中有病客 Thuyền trung hữu bệnh khách
左降向江州 Tả giáng hướng Giang Châu.

Dị bản:

Tựa bài thơ theo sách của BCD là Chu Trung Vũ Dạ 舟中雨夜 (Đêm Mưa Trong Thuyền).

Sách của Huyền Diệp cho một dị bản trong câu 4, chữ dạ夜=đêm thay vì phong風=gió. Chữ phong風 nguyên thủy của BCD đầy đủ ý nghĩa, tuy nhiên dị bản chữ dạ夜 cân đối, đẹp về hình thức (giang江 trong câu 1 và 2, dạ夜 trong câu 3 và 4).

Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山詩集-唐-白居易
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏長慶集-唐-白居易
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Ghi chú:

Du du: rộng lớn và xa xôi, lang thang, dằng dặc
Tu tu: từ tượng thanh chỉ âm thanh của gió và mưa
Phong lãng: gió và sóng trên mặt nước
Bệnh: ốm đau, mệt mỏi
Tả giáng: bị giáng/cách chức
Giang Châu: nằm trên sông Dương Tử, cách Trường An khoảng 1000 km hướng đông nam, nay là thành phố Cửu Giang 九江, tỉnh Giang Tây 江西

Dịch nghĩa:

Chu Trung Vũ Dạ Đêm Mưa Trong Thuyền

Giang vân ám du du Mây đen trên sông dằng dặc,
Giang phong lãnh tu tu Gió lạnh trên sông thổi vù vù.
Dạ vũ trích thuyền bối Mưa đêm nhỏ giọt hai hông thuyền,
Phong lãng đả thuyền đầu Sóng gió vỗ mũi thuyền.
Thuyền trung hữu bệnh khách Trong thuyền có người mỏi mệt,
Tả giáng hướng Giang Châu Bị lưu đày đi Giang Châu.

Dịch thơ:

Đêm Mưa Trong Thuyền

Trên sông mây dằng dặc,
Gió lạnh thổi triền miên.
Bên ngoài mưa thảnh thót,
Sóng gió vỗ đầu thuyền.
Bên trong người mệt mỏi,
Giang Châu tận nam biên.

Raining Night in the Boat by Bai Ju Yi

Dark clouds on the river floated in the distance,
Cold winds blew incessantly.
Rain drops hit the sides of the boat in the night,
Wind and waves battered its bow.
A tired traveller in the boat,
Was exiled to Jiang Zhou.

Phí Minh Tâm

***
Bài của ÔC, theo Thi Viện, là Chu Trung DẠ VŨ, theo anh Tâm thì là VŨ DẠ. BS tìm trong mấy cuốn sách mình có thì chỉ tìm được bài này trong sách của Khương Hữu Dụng và Chi Điền Hoàng Duy Từ, cả hai đều ghi DẠ VŨ. Và phân vân, không biết theo ai. Thôi thì MƯA ĐÊM hay ĐÊM MƯA thì cũng vậy thôi.

Khi dịch thì Trong Thuyền Mưa Đêm, hay Trong Thuyền Đêm Mưa có gì khác nhau. Nhưng câu sau nghe có vẻ hợp lý hơn, nên BS ngả về phía anh Tâm.

# Du là xa vời, lo lắng, buồn phiền.
Du Du làm BS nhớ tới câu tống quân khứ hề tâm du du trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn mà bà Đoàn Thị Điểm đã dịch là đưa chàng lòng dằng dặc buồn. Chữ dằng dặc này hay lắm.

# Tu là tu hành, tu sửa, cao, xa, lâu dài.
# Trích là giọt nước. Nếu động từ thì là nhỏ xuống, rơi xuống.
# Bối là lưng. Bối thuyền là mui thuyền.

Trong Thuyền Đêm Mưa

Mây sông tối âm u,
Trên sông gió lạnh lùa,
Mui thuyền mưa đêm nhỏ,
Đầu thuyền sóng đêm khua,
Trong thuyền có khách bệnh,
Biếm Giang Châu mút mùa…

Như đã nói ở trên, BS thích chữ dằng dặc để dịch du du. Tu tu là lâu dài, BS dịch là đằng đẵng cho có vẻ Việt Nam, mà phải theo thể lục bát:

Mây sông dằng dặc đầy trời,
Gió sông đằng đẵng lùa hơi lạnh về,
Mui thuyền mưa nhỏ tỉ tê,
Đầu thuyền sóng vỗ bốn bề xôn xao,
Trong thuyền có khách đang đau,
Bị đầy tới tận Giang Châu tít mù..

Bát Sách.
(Ngày 03/03/2024)

***
@ Phí Minh Tâm trả lời:

Bạch Cư Dị ghi chép đầy đủ thơ của ông trong hai bộ sách còn lưu truyền đến ngày nay. Do đó nếu có sai lầm thì do người ngày nay sai, không do thi nhân. Cả hai sách của BCD :
Bạch Thị Trường Khánh Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白氏長慶集-唐-白居易
Bạch Hương San Thi Tập - Đường - Bạch Cư Dị 白香山詩集-唐-白居易

và các sách chữ Hán khác đều cho tựa bài thơ là Chu Trung Vũ Dạ.

Chỉ thấy tựa Chu Trung Dạ Vũ ở VN, nhưng trước sau lại không giống nhau khi dịch ra Việt ngữ sai là Trong Thuyền Đêm Mưa thay vì Trong Thuyền Mưa Đêm (nghe hơi chướng tai nhưng dịch đúng). pmt

***
Góp Ý Thêm:

Tựa đề Chu Trung Dạ Vũ chỉ xuất hiện trong các trang internet tiếng Việt. Có vài bài thơ dưới tựa đề "舟中夜雨=chu trung dạ vũ", do các thi nhân thời Tống, Minh và Thanh làm nhưng chỉ có độc một bài thơ dưới tựa đề 舟中雨夜=chu trung vũ dạ trong các trang tiếng Hán với tên tác giả là Bạch Cư Dị, cho dù họ Bạch cũng có làm một bài thơ dưới tựa đề 夜雨 không tả cảnh ban đêm hay cơn mưa mà lại nói về tình tương tư. Cụm từ 'dạ vũ' thông thường hơn trong thi văn Hoa Lục nên người đọc phải phân vân tại sao họ Bạch lại dùng 'vũ dạ'.

Theo luật văn phạm Tàu, chữ đứng sau của 雨夜 là danh từ và là chữ chính để suy ra nghĩa của câu theo ý tác giả. Và vì thế, cho dù toàn bài thơ tả cảnh mưa quanh thuyền trên sông, trọng tâm của bài thơ nằm trong chữ 夜=dạ và hàm ý tâm trạng/tương lai 暗悠悠=ám du du của thi nhân/chính trị gia họ Bạch, lần đầu tiên bị biếm ra khỏi Tràng An (左降向江州=tả giáng hướng Giang Châu) vì cá tính bộc trực của ông ta làm các quyền thần trong triều lo ngại rằng ông sẽ làm chìm thuyền công danh của họ.

舟=chu là hình tượng của cuộc đời của họ Bạch đang trôi nổi bồng bềnh trong bão táp triều đình. 修修=tu tu là cụm từ chỉ thanh (擬聲詞) diễn tả tiếng gió thổi ù ù và gợi ý những lời đồn đãi xôn xao trong triều.

Huỳnh Kim Giám

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2024

Tình Tự Mùa Xuân - Nhạc & Lời: Từ Công Phụng - Trình Bày: Phạm Anh Dũng


Nhạc & Lời: Từ Công Phụng
Trình Bày: Phạm Anh Dũng

Cảm Tác Ngày Đổi Giờ

 

Hoa Thịnh Đốn hôm nay đổi giờ
Chạnh lòng hoài niệm nghĩ vu vơ
Ngày như gió thoảng nhanh không tưởng
Tháng tựa nước trôi lẹ chẳng ngờ
Tóc mượt buổi nao chừ hóa bạc
Mắt trong thuở ấy đã thành mờ
Thời gian tựa bóng câu qua cửa
Đời ngắn khác gì một một giấc mơ


nhất hùng

Sống Đạo

  

Thơ & Trình Bày: Minh Lương