Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Mùa Uyên Ương - Thơ: Phan Khâm - Nhạc: Hồ Bảng - Ca Sĩ: Hương Giang


Thơ: Phan Khâm
Nhạc: Hồ Bảng
Ca Sĩ: Hương Giang

Nỗi Đọa Đày Nơi Nhân Thế…

 

Tiếc Làm chi tuổi đời qua mau quá
Nhớ làm chi những bức hoạ trần gian
Mộng mơ chi những hình bóng phai tàn
Ta mơ ước một ngày tan gió lạnh
Hãy quên đi phút chạnh lòng hiu quạnh
Để cho lòng thanh thản lúc chia tay
Xác thân ta đầy doạ những tháng ngày
Nơi cõi nhớ còn mong ngày trở lại …


KGDalat
feb 25-2023

Chung Đời Trong Lạc Loài

 

Chim én bay về đâu
Ngập ngừng đôi cánh nhỏ
Rừng rũ lá phai màu
Vườn xưa vàng úa cỏ

Người con gái cúi đầu
Nghe linh hồn bỏ ngỏ
Chữ tình chết đã lâu
Vực sầu đêm trăn trở

Ðôi bàn tay gầy guộc
Ðôi mắt vờn xanh xao
Ðôi chân đà bỏ cuộc
Tim óc mềm hư hao

Ta nhen nhúm mà chi
Bếp lửa hóa tro tàn
Khơi dậy nào ích gì
Hay vẫn lạnh tro than

Về đâu cõi hư không
Về đâu chốn thiên đường
Về đâu mái tóc bồng
Nay bạc đầu phong sương

Cam đời trong gỗ mục
Chung đời trong lạc loài
Bơi trong dòng nước đục
Ðau quằn cả đôi vai

Ta như bờ cát lở
Trước đợt sóng bạo tàn
Loài hoa rừng than thở
Với gió núi đồi hoang

Bên hàng rào tinh tú
Ðịa cầu bớt nghiêng chao
Xuân lòng ta mấy nụ
Rơi rớt tựa chiêm bao

Dường như là ảo ảnh
Nghe lao đao nửa vời
Ngập hồn ta theo nắng
Nắng ủ sầu lên ngôi

Nguyễn Phan Ngọc An

Ôn Cố Tri Tân



Ôn cố tri tân ngẫm sự đời
Thế nhân sao lắm chuyện trêu ngươi
Anh hùng ẩm hận ngày suy vận
Đồ điếu nghênh ngang buổi trái thời
Tháng tận ước, sinh cơn hoán đổi
Năm tàn mong, nẩy cuộc xoay dời
Bại thành dẫu có do thiên định
Tận lực, biết đâu chuyển được trời


Nhất Hùng

Bài Hát Của Người Phương Nam


Năm 1919-1920 giới Thi Văn Việt từng rúng động với "Hạn Mạn Du Ký" bằng Hán Văn, trong đó có Nam Phương Ca Khúc và bản dịch ra chữ Quốc Ngữ là Hồ Trường, đăng trên Nam Phong Tạp Chí. Riêng Hồ Trường, đã có rất nhiều tranh luận về các từ ngữ trong bài dịch. Sự thật thế nào? Chúng Ta cùng nhau nhận định điều này qua các nguyên tác Hán Văn Nam Phương Ca Khúc và Hồ Trường.

1/ Nguyễn Bá Trác và Hồ Trường

Nguyên bản trích từ Nam Phong tạp chí số 41 năm 1920. Trang 400 – 401:

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương
Trời nam nghìn dặm thẳm, mây nước một mầu sương
Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể đông chảy xiết sinh cuồng lan;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.

Nguyễn Bá Trác
(Có sửa các lỗi sai so với chính tả ngày nay và lỗi ấn loát. Huỳnh Hữu Đức)

Nguyễn Bá Trác (1881 – 1945) người làng Bảo An, nay là xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ ông học chữ Nho ở quê nhà, đến năm 1906 thi đỗ cử nhân ở trường thi Huế. Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà ái quốc trong phong trào Đông Du, ông ra Hà Nội học tiếng Pháp, để tiếp nhận Tân học. Khi phong trào bị đàn áp, ông trốn vào Nam Bộ.
Năm 1908, ông sang Nhật du học, nhưng dưới sức ép của Pháp, chính phủ Nhật đã giải tán phong trào Đông Du. Ông đành sang Trung Hoa rồi trở về Hà Nội năm 1914, làm ở Phòng báo chí Phủ Toàn quyền Đông Dương và chủ bút phần bài chữ Hán tờ Cộng thị cho đến năm 1916.
Năm 1917, ông nhận làm chủ bút phần Hán văn của Nam Phong tạp chí. Năm 1919, sau khi rời Nam Phong tạp chí, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần Vũ Quảng Ngãi, Thị lang Bộ Binh, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định.

Nguyễn Bá Trác để lại số lượng tác phẩm lớn, gồm cả chữ Hán và Quốc ngữ, Văn khảo cứu và Sáng tác, kể cả phần tự dịch tác phẩm chữ Hán sang chữ Quốc ngữ. Trong đó, được nhiều người biết đến hơn cả là tập Hạn Mạn Du Ký.
Thiên bút ký ghi lại cuộc hành trình kéo dài 6 năm, từ 1908 đến 1914 của ông qua các nước Thái Lan (ông gọi là Siam), Trung Hoa, Nhật Bản. Đó là một cuộc “xuất ngoại” vô cùng vất vả mà ông phải “nhập vai” để vượt qua nhiều tình huống éo le: lúc phải chui nhủi trong rừng rậm miền Trung, lúc phải giả làm tu sĩ Phật giáo ở Phú Yên, lúc phải nằm trong hầm tối chật hẹp dưới tàu thủy sang Thái Lan, lúc lang thang bị trinh thám Nhật theo dõi sát, lúc đối diện với cái sống cái chết trong chiến tranh ở đất nước Trung Hoa…
Tuy nhiên, ông cũng gặp không ít quý nhân tận tình giúp đỡ, yêu thương, như câu chuyện về một người Việt bị theo dõi tại Nhật Bản, được ông chép lại trong Hạn Mạn Du Ký đăng trên Nam Phong tạp chí số 38, năm 1920.

Hạn Mạn Du Ký gồm 14 chương, ghi lại hành trình gian khổ kéo dài 6 năm qua các nước Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản, Hồng Kông. Trong thời gian lưu trú tại Nhật Bản, đã để lại cho tác giả nhiều ấn tượng sâu đậm. Tác phẩm khi được dịch ra chữ Quốc ngữ và đăng trên báo Nam Phong đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Bàn về tác phẩm này, Phạm Thế Ngũ từng viết:
"Câu Việt văn khá mạch lạc suông sẻ, đôi chỗ đăng đối du dương. Những tình tiết ly kỳ của cuộc phiêu lưu nơi đất lạ đã đem lại cho câu chuyện nhiều vẻ hấp dẫn. Nhất là đối với các Nho gia ta khi ấy từng ôm cái mộng Đông du; nếu không thì trí não cũng đầy kỷ niệm văn chương về danh nhân, danh lam thắng cảnh Trung Hoa, đọc Hạn Mạn Du Ký của Nguyễn Bá Trác thật là thú vị."

Khi bàn về Hồ trường, một bài thơ nằm trong tập Hạn Mạn Du Ký, Quách Tấn giải thích thêm:
"Bởi lòng có thể dối được với nhân thế mà không thể dối được với văn chương. Vì sao vậy, vì văn chương phản chiếu tâm sự. Trừ phi tấm gương phản phúc tức văn chương không thành văn chương, thì tâm sự mới bị lệch lạc. Mà bài Hồ trường văn chương chân thực, không có chút giả tạo, nên đáng tin rằng lòng của Nguyễn Bá Trác lúc còn ở Hải ngoại chưa bị bùn danh lợi làm vẩn nhơ. Ít ra lúc làm bài Hồ trường, lòng Nguyễn Bá Trác lắng hết bùn danh lợi xuống dưới đáy sâu, nên văn chương mới được thanh tao thế ấy..."

(Theo Võ Thị Thanh Tùng-Đặng Phan Quỳnh Dao (thanhdiavietnam hoc).- Đà Nẵng Online - Phạm Hoàng Quân Báo Tuổi Trẻ)

2/ Những Dị Biệt Trong Hồ Trường

Qua bài dịch Nam Phương Ca Khúc sang chữ Quốc Ngữ, Nguyễn Bá Trác đã làm chùng bút mọi người, khi ông dịch Thơ có tựa là "Hồ Trường". Đây là một tuyệt tác. Vâng chắc chắn là thế, sau này sẽ khó có bài dịch nào đạt như vậy.
Có người không ngớt lời ca tụng. Cũng có người ngầm biết rằng hay, nhưng mặt ngoài vẫn nêu lên những lý do để chê bai!

Khi nghe Tôn Nữ Lệ Ba ngâm bài "Hồ Trường", dựa theo bản mà nhiều người cho rằng của con gái Ông Nguyễn Bá Trác? Từ bài ngâm này, có nhiều vị cho rằng bản in trên Nam Phong Tạp Chí là sai.
Tôi thật sự nghi ngờ về điều này, vì Nguyễn Bá Trác chính là người đăng bài vào Nam Phong Tạp Chí chứ không phải con gái ông.
Nếu so bản do Tôn Nữ Lệ Ba ngâm và bản đăng của Nam Phong Tạp Chí, có đến gần 20 sự khác biệt. Chúng ta cùng lấy cả hai để đối chiếu với bản Hán Văn và bản Hán Việt đăng trong Nam Phong Tạp Chí (do chính Ông Nguyễn Bá Trác đăng), như thế sẽ rõ ràng.
Trong phần đối chiếu này tôi có sửa những chữ sai chính tả hay do ấn loát: sé gan => xé gan, dậm =>dặm, thân thể => thân thế, chẩy => chảy, cuồng lạn => cuồng lan, sự ngiệp => sự Nghiệp.

Trong phần đối chiếu bên dưới, cụm Từ đứng trước là ở bản in Nam Phong Tạp Chí.

- "Xé gan bẻ cột" gốc là "phi gan chiết hạm (披 肝 折 槛)". Sở dĩ có người cho rằng "bẻ cật" là vì bản của con gái Nguyễn Bá Trác, cũng có người cho "cật (thận 肾) mới hợp với chữ "gan". Theo tôi nghĩ, có thể chữ cột và cật trên bản in gần giống như nhau. Cho dù lý do gì, "cật " hoàn toàn sai.

- Luân lạc hay lưu lạc: Nguyên văn bản Hán Văn hay Hán Việt không có. Dựa vào Tiểu sử của Nguyễn Bá Trác nếu xét hành trình của Nguyễn Bá Trác. Ông đi vòng vòng Thái, Tàu, Nhật chứ không dừng chân mãi ở một quốc gia nào, nên dùng chữ "Luân" hợp lý hơn.

- Tha hương hay tha phương: Nơi đất khách phải dùng "tha hương" mới đúng.
- Mây nước hay non nước: trong nguyên tác là "thiên vân 天 雲" có nghĩa "mây trời", như vậy có "mây" không hề có"non".

- "Học chưa thành" hay "chí chưa thành": nguyên tác"học bất cựu 學 不 就", có nghĩa học chưa hoàn tất, không có chữ "chí 志" nào ở đây cả.

- "danh chưa lập" hay "danh chưa đạt": nguyên tác "Lập công 立 功". Chữ "lập 立" là gầy dựng. Công danh không tạo, không gầy dựng thì làm sao đạt được?

- "bao lâu" hay "bao lăm" xét về nghĩa, "bao lâu" không xác định được thời gian, trong khi "bao lăm" thì thời gian bị giới hạn. Nguyên tác "hữu cơ thời 有 機 時" bao giờ có được thời cơ. Thời gian không xác định.

- "Vỗ tay" hay "Vỗ gươm": do 'Phủ Chưởng 拊 掌 có nghĩa là vỗ tay. Như thế không thể là vỗ gươm.

- Nghiêng đầu hay nghiêng bầu: trong nguyên tác không có, tuy nhiên cả hai đều cùng dấu Thanh, không cần phải thay đổi. Vả lại đang vỗ tay không thể nghiêng bầu.

- "Ai là tri kỷ" hay "ai người tri kỷ": do câu "an đắc tri nhất tri kỳ 安 得 知 一 知 己" rất vừa lòng nếu biết có ai hiểu mình. Hai đại danh từ "ai và người" đứng kề nhau là thừa.

- Nước bể hay nước biển: đồng thanh và đồng nghĩa sao phải sửa ?!

- Cuồng lạn hay cuồng loạn: như đã đề cập ở trên do lỗi ấn loát nên "cuồng lan" thành "cuồng lạn" vì "cuồng lạn" không có nghĩa. Còn cuồng loạn tuy có nghĩa, nhưng nằm trong câu " đông chi thủy vạn đội khởi cuồng lan 東 溟 之 水 萬 隊 起 狂 瀾" nên trở thành vô nghĩa.

- "Mưa tây sơn" hay "Mưa phương tây": từ câu :Tây sơn vũ tây sơn chi vũ 西 山 雨 西 山 之 雨" như thế sửa lại thành "phương tây, tây phương" là sai.

- "vì vụt hay vi vút": Vì vụt là tiếng gió thổi mạnh dưới thấp. Vi vút là tiếng gió thổi trên cao. Trong bài, cát đá dưới thấp bị di chuyển nên dùng chữ "vi vút" không đúng.

-"đá chạy cát dương" hay "cát chạy đá giương": giải nghĩa từ câu "bắc phong dương sa tẩu thạch 北 風 揚 砂 走 石" có nghĩa gió bắc làm cho cát phải bốc lên, bay lên và đá bị thổi lăn đi. Thế sao dịch là cát chạy đá giương (giương có nghĩa là mở rộng ra, làm to ra)?!!!

- "Ta hay Ta Ta", "ở hồ thỉ" hay "ư hồ thỉ" : đây chỉ là cách diễn ngâm mà thôi.

Qua những phân tích trên, có 2 vấn đề chính:

1/ Ý nghĩa của những chữ trong nguyên bản "Hồ Trường" đăng trên Nam Phong Tạp Chí hoàn toàn đúng với nguyên tác Hán văn cũng như Hán Việt.

2/ Những chữ mà thế hệ sau sửa đổi hầu hết đều sai, có những chữ vô nghĩa, làm lệch lạc ý nghĩa của nguyên tác Hán Văn và Hán Việt.

Thế nguyên nhân từ đâu khiến nhiều người cố tình sửa thơ của Nguyễn Bá Trác?

- Nhiều người cho rằng khi diễn ngâm phải sửa để thích hợp trong lúc diễn tả. Điều này đúng là không hợp lý. Ví dụ: Cật và Cột, Bể và Biển, Luân và Lưu, Tay và Gươm...và còn nhiều nữa, tất cả đều cùng một Thanh không hề làm biến đổi khi ngâm. Một nghệ sĩ khi ngâm bài thơ, họ có cách xử lý độ bổng trầm tùy theo từ ngữ của bài thơ.

- Không quan tâm đến các bản Hán Văn và Hán Việt, từ đó không hiểu được ý nghĩa các chữ nên dẫn đến sự tùy tiện. Việc này có thể xem như một hành động thiếu tôn trọng tác giả.

- Khi nhận xét hay nhìn sự việc gì, điều quan trọng nhất là khách quan, phải dựa trên văn bản, phân tích kỹ lưỡng mới đi đến kết luận. Không thể nhìn sự việc qua cảm tính.

Có một câu nói của Tuân Tử đáng cho đời sau nghiền ngẫm:

"Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy".

3/ Dịch Nam Phương Ca Khúc

Nam Phương Ca Khúc và bản dịch Hồ Trường đã từng gây chấn động trong giới thi ca từ năm 1919 đến nay.Trước đây, tôi từng mong muốn tìm ra bản Hán Văn Nam Phương Ca Khúc để dịch thơ. Sau khi có được trong tay, bắt đầu tìm hiểu và so với bản dịch Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, tôi lại chùng tay. Lý do rất đơn giản là bài dịch của Nguyễn Bá Trác thật là tuyệt, một bản dịch đã lột tả hết những ý tưởng của nguyên tác Hán Văn, chẳng những thế Hồ Trường còn bi hùng, phóng khoáng hơn.

Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng bài Hồ Trường hay hơn Nam Phương Ca khúc rất nhiều.

Nhưng vì quá yêu thích cũng như sức hấp dẫn từ Hồ Trường, nên tôi cố gắng dịch Nam Phương Ca khúc theo dạng Thơ.

         南 方 歌 曲 Nam Phương Ca Khúc

丈 夫 生 不 能 披 肝 折 槛 雖 世 扶 綱 常.
逍 遙 四 海 胡 雖 乎 此 鄉
回 頭 南 望 邈 無 極 兮 天 雲 一 色 徒 蒼 蒼
立 功 不 成 學 不 就 少 壯 有 機 時 兮 坐 視 百 年 身 世 軀 陰 陽
拊 掌 狂 歌 問 斯 世 芒 芒 天 地 安 得 知 一 知 己 兮 試 來 對 酌 佑 予 觴
予 觴 擲 向 東 溟 水 東 溟 之 水 萬 隊 起 狂 瀾
予 觴 擲 向 西 山 雨 西 山 之 雨 一 陣 何 汪 洋
予 觴 擲 向 北 風 去 北 風 揚 砂 走 石 飛 殊 方
予 觴 擲 向 南 天 霧 霧 中 有 人 開 口 一 飲 蘧 然 醉
天 地 宇 宙 渾 相 忘 予 不 醉 矣 予 行 予 志
男 兒 自 古 事 桑 弧 何 必 窮 愁 泣 枌 梓
(Không Biết Tác Giả)
(Huỳnh Hữu Đức biên soạn lại từ ảnh chụp của Phạm Hoàng Quân được đăng trên báo Tuổi Trẻ)

Phiên Âm Hán Việt

Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, tọa thị bách niên thân thế khu âm dương
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư thương.
Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan
Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương

Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử
(Nguyễn Bá Trác phiên âm Hán Việt)

Dịch Nôm:
                    Khúc Hát Của Người Phương Nam

Là người đàn ông có tài, sống trên đời này, sao không dũng cảm dùng cả tấm lòng thành, để gìn giữ trật tự mối giềng xã hội.
Quê hương nơi đâu sao cứ mãi ngao du bốn biển.
Quay đầu ngóng về phương nam xa mịt mù, mây trời một màu xanh ngắt.
Công danh không tạo dựng, học chưa hoàn tất, trai trẻ cả cuộc đời có bao nhiêu dịp, sao mơ mãi đến địa vị trong cõi đất trời.
Vỗ tay ngạo nghễ hát, hỏi cuộc đời này, giữa trời đất mênh mông, biết có ai là tri kỷ biết về ta, đến đây cùng ta uống chén rượu này.
Hướng chén rượu về biển Đông, nước biển đông dâng lên muôn con sóng dữ.
Hướng chén rượu về mưa núi Tây, mưa núi tây khiến nước sông lan tràn như biển cả.
Hướng chén rượu về ngọn gió Bắc, gió bắc mạnh làm cho cát bốc lên cao và đá cũng lăn đi đến nơi khác.
Hướng chén rượu về trời Nam mịt mù, giữa nơi mịt mù có người uống rượu một mình mở miệng cười vui.
Trời đất bao la ta như quên hết, sao không cho ta say hử? Ta làm theo chí hướng của ta.
Thân trai trẻ, từ trước đã mang chí hướng bốn phương, thì có gì phải than khóc với quê cha đất tổ
(Huỳnh Hữu Đức)

Dịch Thơ:

Bài Hát Của Người Phương Nam

Đấng làm trai sao chẳng phơi gan bẻ cột,
Hiên ngang gìn mối đạo cho đời.
Quê hương đâu?
Bốn biển kia sao còn mãi rong chơi.
Ngóng về Nam, trời nam thăm thẳm,
Chỉ một màu mây xanh biếc biếc xanh
Học chưa thành, danh như mộng,
Cuộc trăm năm, thân này há để thẹn non sông.
Tay vỗ nhịp ca, cất lời ngạo mạn:
"Biết ai hiểu mình, giữa cõi mênh mông?
Men nồng đây hãy cùng nhau uống cạn!"...
Chén rượu này ta biết gởi phương nao?
Gởi về biển đông,
Nước bể đông cuồn cuộn lắm ba đào.
Gởi về núi tây,
Mưa tây sơn từng trận mông mênh nước.
Gởi về bắc phương,
Gió bắc vùn vụt khiến đá lăn cát dậy .
Gởi về trời nam, trời nam mù mịt sương lan,
Trong chốn mịt mùng, có người đang say khướt:
Trời đất bao la làm sao nhớ được,
Rượu nào chẳng say,
Đường ta ta đi,
Chí ta đã định,
Thân trai xưa tự bốn phương hồ thỉ,
Hà cớ gì khóc thẹn với quê hương.

(Huỳnh Hữu Đức)

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn

Phiếm Về Chữ Hư

       HƯ 虛 thuộc dạng dữ dùng Chỉ Sự để Hội Ý trong CHỮ NHO..DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau:


Ta thấy:
        Phần Kim Văn Đại Triện gồm có 2 phần : Phần trên là hình tượng của một chiếc rương (hòm) được mở lên phía trên và mở xuống phía dưới; Phần dưới là hình tượng của 2 vách rương được mở sang phải và mở sang trái. Như vậy là chiếc rương đã được mở tung ra (Chỉ Sự) để cho thấy bên trong không có gì cả (Hội Ý). Nên HƯ có nghĩa đầu tiên là Không, là Trống lỏng, không có gì cả ! Nên ta có từ kép đầu tiên là:

     - KHÔNG HƯ 空虚 là Trống lỏng trống lơ, không có gì cả. Đão ngược lại là...
     - HƯ KHÔNG 虚空 là Chỉ khoảng không trống trơn không có gì cả; Nghĩa phát sinh là "Khi khổng khi không", chỉ việc làm không có chủ ý, chỉ tình cờ mà thôi, như khi thấy Thúy Kiều đi tìm cây trâm bị mất thì Kim Trọng đã đánh tiếng là :

                      Thoa nầy bắt được HƯ KHÔNG,
                   Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về.

      Khi sư Giác Duyên gởi Thúy Kiều cho Bạc Bà, thì Bạc Bà đã dùng đủ cách để hù dọa Thúy Kiều với mục đích là ép Thúy Kiều lấy Bạc Hạnh, nên mới :

                       HƯ KHÔNG đặt để nên lời, 
                 Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen.

      HƯ 虚 là Không, là Trống, nên trái với THỰC 實 là Có, là Thật, nên..
    - HƯ THỰC 虛實 hay THỰC HƯ 實虛 có nghĩa là Có và Không, Không và Có; Từ đó có nghĩa phát sinh là Phải Trái, Đúng Sai, Thật Giả, như: 

              Chuyện đó không biết HƯ THỰC ra sao?
Có nghĩa là :
              Chuyện đó không biết Thật Giả ra sao?
              Chuyện đó không biết Đúng Sai ra sao?
              Chuyện đó không biết Phải Trái ra sao?
Còn...
      Chuyện đó THỰC hay HƯ ? là Chuyện đó CÓ THẬT hay KHÔNG CÓ THẬT ? Ta có thành ngữ HƯ HƯ THỰC THỰC 虛虛實實, THỰC THỰC HƯ HƯ 實實虛虛 là nửa thực nửa hư, nửa có nửa không; không biết là Có hay là Không, không biết là Đúng hay là Sai, không biết là Phải hay là Trái. HƯ HƯ THỰC THỰC là Có có không không, như có mà không như không mà có, đây cũng là một chiến thuật trong phép hành quân.

      HƯ 虚 là Không có thực, nên HƯ DANH 虛名 là Tên tuổi không có thật, có nghĩa là Danh tiếng không giống như là lời đồn, chỉ mang Danh Hão. Có tiếng mà không có miếng, là Hữu danh vô thực, chỉ là Hư Danh mà thôi ! Ta có thành ngữ BẤT CẦU HƯ DANH 不求虚名 là Không cần có những tên tuổi hoặc tiếng tăm hão huyền không có thật.

      HƯ 虚 là Bỏ trống, không có phòng thủ, nên ta lại có thành ngữ THỪA HƯ NHI NHẬP 乘虚而入 là : Thừa lúc người ta để trống, không có phòng thủ mà xâm nhập vào hay đem binh đánh vào. Đây cũng là một chiến lược quân sự thường được áp dụng trong hành quân hoặc điều binh khiển tướng như trong bài thơ Đánh Cờ Người của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương :

                  Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
                  Ðem tốt đầu dú dí vô cung...

      HƯ 虚 còn là "Bỏ Trống Chỗ Ngồi" để cầu người hiền tài. Theo "Ngụy Công tử liệt truyện" trong Sử Ký của Tư Mã Thiên đời Tây Hán 西漢·司馬遷《史記·魏公子列傳》như sau :

      NGỤY Công Tử VÔ KỴ 魏公子無忌, tức là Tín Lăng Quân 信陵君 nổi tiếng chiêu hiền đãi sĩ của nước Ngụy, trong nhà luôn có ba ngàn thực khách đủ các hạng người. Một hôm, nghe nói có một ẩn sĩ tài danh đang là lính gát cửa Di Môn của thành Đại Lương tên là Hầu Doanh 侯赢. Ông cho người mang lễ vật đến mời nhưng Hầu Doanh không nhận. Ông bèn cho bày tiệc lớn rồi đích thân theo xe ngựa đi đón Hầu Doanh. Theo lễ tiết xưa nên ông ngồi phía bên phải, chừa ra một chỗ trống bên trái cho khách ngồi để tỏ lòng kính trọng. 
      Khi xe đến Di Môn thì Hầu Doanh không khách sáo gì cả, cứ bộ đồ lính gát cửa cũ mèn leo lên ngồi phía bên trái trên xe. Tín Lăng Quân tự mình cầm cương và tỏ ra rất kính trọng. Xe đang đi trên đường phố, Hầu Doanh lại nói với Tín Lăng Quân rằng :"Tôi có một ông bạn tên Chu Hợi 朱亥, là người hàng thịt trên phố nầy, ông có thể cảm phiền cho tôi ghé thăm một tí được không?". Tín Lăng Quân vui vẻ đồng ý. Hầu Doanh cố ý nói chuyện với Chu Hợi thật lâu để ngầm quan sát xem Tín Lăng Quân có tỏ ra bực mình khó chịu hay không; thấy Tín Lăng Quân nét mặt vẫn ôn hòa cầm dây cương đứng đợi, mới từ giả Chu Hợi lên xe. 
      Khi xe về đến phủ thì tất cả các tân khách cũng đều đang nóng lòng chờ đợi. Tín Lăng Quân cung kính mời Hầu Doanh ngồi lên ghế thượng khách và trịnh trọng giới thiệu đến mọi người. Khi rượu qua vài tuần, Hầu Doanh đứng dậy kính rượu cùng mọi người và nói rằng :"Tín Lăng Quân đây quả là người chiêu hiền đãi sĩ, biết tôi chỉ là người gát cửa Di Môn mà vẫn đích thân đến đón mời, dọc đường tôi lại cố ý muốn thăm bạn và cố ý nói chuyện thật lâu nhưng Ngài vẫn không tỏ ra khó chịu hay bực mình, quả là một người có lòng khoan dung nhân hậu. Từ rày về sau tôi nguyện sẽ lấy thân mình mà báo đáp". 
     Qủa nhiên, sau đó khi quân Tần bao vây thành Hàm Đan của nước Triệu; Bình Nguyên Quân của Triệu cầu cứu với Tín Lăng Quân của Ngụy. Vua Ngụy sợ thế lực của Tần, chỉ cho đại tướng Tấn Bỉ 晋鄙 dẫn mười vạn quân đóng ở biên giới án binh bất động để xem thời cơ. Bình Nguyên Quân nóng ruột, trách Tín Lăng Quân thất tín. Trong lúc đang tiến thoái lưỡng nan, may nhờ có Hầu Doanh bày kế trộm binh phù và cho đồ tễ Chu Hợi dùng chùy đánh chết đại tướng Tấn Bỉ, rồi đem binh đánh lui quân Tần giải vây cho nước Triệu. Hầu Doanh tự sát để tạ ơn tri ngộ của Tín Lăng Quân.



     Từ điển tích trên đây hình thành thành ngữ HƯ TẢ DĨ ĐÃI 虚左以待. Có nghĩa : Chừa trống chỗ bên trái mà đợi. Ý chỉ tôn trọng người được mời theo như lễ tiết của đời xưa. Điển tích nầy lại làm cho ta nhớ đến ba chữ HƯ TIỀN TỊCH 虛前席 là "Chừa trống chỗ chiếu ngồi phía trước mặt" trong bài thơ Giả Sinh 賈生 của Lý Thương Ẩn đời nhà Đường như sau :

                 宣室求賢訪逐臣,   Tuyên Thất cầu hiền phỏng trục thần,
                 賈生才調更無倫。   Giả Sinh tài điệu cánh vô luân.
                 可憐夜半虛前席,   Khả lân dạ bán HƯ TIỀN TỊCH,
                 不問蒼生問鬼神。   Bất vấn thương sanh vấn quỉ thần ! 
Có nghĩa:
      Tại Tuyên Thất cung  nhà vua muốn cầu người hiền tài nên hỏi thăm cả đến những thần tử bị trích biếm đi nơi xa. Trong số đó có Giả sinh tức Giả Nghị 賈誼 là người tài giỏi vô cùng. Đáng tiếc là trong lúc nửa đêm nhà vua đã rất trân trọng người hiền tài nên chừa chỗ chiếu ngồi phía trước mặt để cho Giả Nghị ngồi, nhưng lại không hỏi về những kế sách để an dân mà chỉ hỏi toàn chuyện quỉ thần không đâu !
      Nhà vua trân trọng người hiền tài là việc tốt, nhưng lại không biết dùng người cho đúng chỗ. Chả trách Giả Nghị buồn lòng mà chết khi chỉ mới có 33 tuổi mà thôi!

                   Tuyên Thất cầu hiền cả tội thần,
                   Giả Sinh tài trí giỏi vô ngần.
                   Tiếc thay chừa chỗ đêm khuya khoắt,
                   Chẳng hỏi dân đen hỏi quỉ thần!

      HƯ 虚 còn là Không Thực, như HƯ NGỤY 虚偽, HƯ GIẢ 虚假 là Giả dối, không có thật. Ta có nhóm từ HƯ NGỤY ĐÍCH NHỠN LỆ 虛偽的眼淚 là Những giọt nước mắt giả dối. HƯ CẤU 虛構 là Tưởng tượng kết hợp những chuyện hay những sự việc không có thật trong thế giới hiện hữu thành một câu chuyện có đầu có đuôi hẵn hoi. Ta có thành ngữ HƯ TRƯƠNG THANH THẾ 虚張聲勢 là Phô trương cái tiếng tăm thế lực không có thật để hù dọa người khác hoặc để khoe khoang. Như Sở Khanh đã khoe khoang với Thúy Kiều :

                    Rằng ta có ngựa truy phong,
                Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi.

      Khoe khoang đủ thứ : Có ngựa giỏi, có người dưới trướng mạnh mẽ, mà lại rủ "người ta" bỏ trốn, quả là kế sách của một gả Sở Khanh có khác !

      HƯ 虚 là Không Thực, nhưng BẤT HƯ 不虛 là "Không phải không thực", tức là THỰC. Ta thường nghe thành ngữ DANH BẤT HƯ TRUYỀN 名不虛傳. Có nghĩa : Tiếng đồn không phải là không thực; tức là "Tiếng đồn rất thực", là Đồn sao có vậy, là Đúng như là lời đồn đại; Tiếng tăm đúng như là lời loan truyền.

      HƯ 虚 là Không tự mãn, là không vụ lợi; như KHIÊM HƯ 謙虚 là Rất khiêm nhường, Khiêm tốn, không tự mãn. TÂM HƯ 心虛 là Lòng trống trơn, không vụ lợi, không bợn nhơ. Cây tre cây trúc ngày xưa là biểu tượng của người quân tử với lời khen tặng là TIẾT TRỰC TÂM HƯ 節直心虛. Có nghĩa : Các mắt tre thì thẳng còn trong lòng tre thì trống không, tượng trưng cho khí tiết của người quân tử "Thẳng Thắn và lòng Không Vụ Lợi", là tiêu chuẩn cần có của những người cầm cân nẩy mực, những người làm quan, những quan tòa của ngày nay... Nên khi về Việt Nam chấp chánh, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã "bê" nguyên một bụi tre vào trong các con dấu từ trung ương đến địa phương, với ngụ ý là những người có chức có quyền phải luôn luôn nhớ mình là công bộc của dân chúng, phải luôn luôn giữ đúng tinh thần TIẾT TRỰC TÂM HƯ 節直心虛 không quan liêu tham nhũng để phục vụ cho quần chúng nhân dân.             

     HƯ VINH 虚榮 là những cái Vinh dự hay Vinh hoa phú quý ở bề ngoài; những lời tán dương, xưng tụng đãi bôi không thực; Cái hào nhoáng ở bên ngoài chỉ làm thỏa mãn lòng ham muốn mà thôi; nên ta lại có 2 thành ngữ đối nghịch nhau là THAM MỘ HƯ VINH 貪慕虚榮 là những người thích được nghe và chuộng những cái hào nhoáng bên ngoài, và BẤT MỘ HƯ VINH 不慕虚榮 là những người không thích tán dương qúa đáng và cái vẻ xa hoa bề ngoài.

     HƯ 虚 còn có nghĩa là Yếu đuối về thể chất, như HƯ NHƯỢC 虛弱 chỉ Cơ thể yếu đuối dễ bệnh hoạn. Các bệnh về cơ thể như KHÍ HƯ 氣虛 là Hơi thở yếu ớt; HUYẾT HƯ 血虚 là máu huyết không đều, HƯ HẠN 虚汗 là Đổ mồ hôi trộm...  

     Trong văn phạm ta có những HƯ TỰ 虛字, HƯ TỪ 虛詞 bao gồm : Phó Từ 副词、Giới Từ 介词、Liên Từ 连词、Trợ Từ 助词、Thán Từ 叹词 và Tượng Thanh Từ 象声词. Cụ thể như các từ : Chi 之, Hồ 乎, Giả 者, Dã 也, Hề 兮, Yên 焉, Hỉ 矣... Như :

                 Phong tiêu tiêu HỀ... Vị thủy hàn,
                 Tráng sĩ nhất khứ HỀ... bất phục hoàn ! 

      Vì HƯ 虚 là Trống lỏng, là Chẳng có gì, là Không có gì cả... nên khi Nôm Hóa thì NÓ mang nghĩa tiêu cực hơn là tích cực. Ví dụ như ta thường nói :

                 Cái thằng đó, nó HƯ lắm!
Có nghĩa là : 
                 Cái thằng đó nó không biết gì cả!
                 Cái thằng đó nó vô dụng lắm!
                 Cái thằng đó không ra gì!
Nghĩa phát sinh :
                 Cái thằng đó nó xấu lắm!
                 Cái thằng đó không nên thân!
                 Cái thằng đó hư hỏng lắm!
         
        Từ "Không biết gì", Chữ HƯ trong tiếng Nôm còn diễn ý "Hư Hỏng", Hư việc, Hư sự, Hư hao  ... HƯ còn để chỉ những việc xấu xa, như :  HƯ THÂN MẤT NẾT và dùng để mắng người khác như : ĐỒ HƯ ĐỐN, ĐỒ HƯ ĐỒ THÚI !...

        Tục ngữ ca dao cũng có câu:

                           Con HƯ tại mẹ, cháu HƯ tại bà!
hay như:
                            Cá không ăn muối cá ươn,
                       Con cải cha mẹ trăm đường con HƯ!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

Những Ngày Em Còn Không - Thơ Phùng Quân - Nhạc Võ Tá Hân - Ca Sĩ Diệu Hiền


 Thơ: Phùng Quân 
Nhạc: Võ Tá Hân
Ca Sĩ: Diệu Hiền

Tinh Người Kỷ Nữ

 

Đêm nay mưa gió lạnh ngoài trời
Xin hãy vào đây một đêm thôi
Tiếng hát cung đàn cùng men rượu
Ngày mai lữ khách cũng đi rồi

Tôi người kỷ nữ của đêm thâu
Chuốc rượu làm vui kẻ giải sầu
Ai khách tình chung , ai tri kỷ
Ai người chia sẻ nỗi lòng nhau

Có người khách lạ một lần qua
Rũ áo phong trần bụi đường xa
Hương tình ngây ngất lòng vương vấn
Khách đến rồi đi , tôi lệ nhoà

Tôi vẫn chờ người trở lại đây
Bao mùa trăng khuyết với trăng đầy
Vẫn mơ vó ngựa về đầu ngõ
Sưởi ấm lòng đơn vui sum vầy

Mơ ước chỉ là ước mơ thôi
Khi người phiêu bạt bốn phương trời
Chút tình kỷ nữ nào ai biết
Ôm sầu lẽ bóng chỉ riêng tôi

Kim Phượng(Canada)

Xin Còn Gọi Tên Nhau

 
(Ảnh: Kim Oanh Phùng Canada)

Mây trắng vẫn … bay bay êm đềm
Sóng biển vỗ … nhè nhẹ bên em
Cát trắng mân mê chân chậm bước
Kỷ niệm ngược về như thước phim

Em gọi tên … anh vẫn im lìm!
Chỉ nghe tiếng nấc … tận đáy tim
Xa rồi ngày ấy vui phải biết
Tình giờ biền biệt tợ cánh chim

Vẫn xin còn mãi gọi tên nhau
Biển vắng nghe chăng tiếng ngọt ngào
Mây ơi có bay về phương đó
Nhắn người tim nhớ mỏi mòn đau

Phố vẫn hoang vu tự lúc nào
Chim chiều nhớ bạn cánh nghiêng chao
Em về trả hết lời gian dối
Chỉ xin còn mãi gọi tên nhau


Trúc Lan KTP 
02/ 23

( Sáng Tác Trưòng Sa - Tiếng Hát Kim Oanh Canada)

Là Em!


    (Ảnh: Thanh Chau)

Là Em!

Em là giọt sương của tôi
Trong veo em đến từ trời dễ thương
Có em vui cả phố phường
Không em có cả thiên đường cũng không..!

Thanh Chau
***
Cảm Tác:

Là Em!

Từ em là giọt sương mai
Bình minh thấp thoáng thân rày mong manh
Luyến lưu giây phút lìa cành
Hồn thiêng quấn quýt bên nhành vô ưu

Kim Phượng



Trữ Lập Không Thể Khấp - Nguyên Tác Hán Việt: Đặng Trần Côn

 

 Trữ Lập Không Thể Khấp  
(Nguyên Tác Hán Việt: Đặng Trần Côn)

Dữ ngã ước hà sở
Nãi ước Lũng Tây Sầm
Nhật trung hề bất lai
Tru diệp đâu ngã trâm
Trữ lập không thế khấp
Hoang thôn huyên ngọ cầm
Dữ quân uớc hà sở
Nãi ước Hán Dương kiều
Nhật vãn hề bất lai
Cốc phong xuy ngã bào
Trữ lập không thế khấp
Hàn giang khởi mộ trào

Đặng Trần Côn
***
Trữ Lập Không Thế Khấp
Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm

Hẹn cùng ta Lũng Tây Nham ấy
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm
Ngập ngừng lá rụng cành trâm
Đứng trông nghe dậy tiếng cầm xôn xao
Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ
Chiều lại tìm nào có tiêu hao
Ngập ngừng gió thổi chéo bào
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông
Đứng Đợi Âm Thầm Khóc

Đoàn Thị Điểm
***
(Mây Tần - PKT)

Cùng thiếp đã ước hẹn
Găp nhau đồi Lũng Tây
Nửa ngày chờ không thấy
Lá rụng vướng trâm cài
Đứng đợi âm thầm khóc
Xóm vắng chim gọi ai
Cùng chàng đã ước hẹn
Găp nhau cầu Hán Dương
Hết ngày người không thấy
Gió tung vạt áo bay
Đứng đợi âm thầm khóc
Triều ngập lạnh sông dài

Phạm Khắc Trí

Nguyệt Cầm (Xuân Diệu) - The Moon Lute(Thomas D. Le)

 

Nguyệt Cầm

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng trời trong đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề ...
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê. 

Xuân Diệu
***
Dịch Thơ:

The Moon Lute


The moon entered the lute's tune cold
The moon of love. Oh, moon of old!
The lute's sad voice ends in a plaintive note
As each teardrop is like a bell that tolls.

The cloudless sky makes a crystal clear night.
I shudder at such a shimmering light,
And hear the belle in her song die
While full moon shines on the blue stream.

Cold autumn grows colder in the clear moonlight
The lute is like the frightful water; oh so cold;
Glittering, a vengeful cry lifts its voice.
As moon misses Tam Duong, music misses the belle.

From four corners the music's light shines on the crystal sea
In midst of which my island soul struggles about.
As silver dew holds its tongue, the night holds its breath,
While a melancholy tune reaches up to the Khue star. 

Translated by Thomas D. Le
22 February 2009

Minh Đức Hoài Trinh & Nhạc Sĩ Phạm Duy.


Tôi tình cờ lướt trên Facebook và bắt gặp một bài viết khá hấp dẫn về sự cảm nhận qua hai ca khúc phổ thơ của Minh Đức Hoài Trinh, đó là “Kiếp nào có yêu nhau” và “Đừng bỏ em một mình”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Bài viết này đã tạo cho tôi chất kích thích từ đó tôi đã tham khảo thêm nhiều trang website để tìm hiểu thêm.
Trước khi đi vào hai ca khúc “Kiếp nào có yêu nhau” và “Đừng Bỏ Em Một Mình” nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.
Cá nhân tôi hiện tại là thành viên mới của VBVNHN DBHK, cũng tìm hiểu chút ít về sự hình thành của VBVNHN. Tôi xin nhắc đến vai trò chủ tịch VBVNHN của nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh
Hơn nữa nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh là người có công tái lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (1978-1979)

Sau khi Cựu Chủ tịch VBVN Cộng Hoà là thi bá Vũ Hoàng Chương (1969- 1973), từ nhà tù khám Chí Hoà (Do cộng sản bắt giam) vì bệnh nặng được thả ra, 5 ngày sau ông đã qua đời vào ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn hưởng thọ 60 tuổi (1916-1976).
Chức vụ Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam kể từ ngày đó xem như bỏ trống, trong thời gian này chính quyền cộng sản đã chiếm Miền Nam VN. Năm 1978. Trước tình trạng đàn áp nhân quyền khốc liệt tại Việt Nam, vài cựu hội viên VBVN tị nạn tại Âu Châu:

Đứng đầu là Ký giả Đạo Cù Trần Tam Tiệp, cùng với nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, Luật sư Trần Thanh Hiệp và thi sĩ Nguyên Sa, tích cực vận động tái thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Lưu Vong (sau này đổi thành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại) và chính thức ra mắt vào ngày 25-6-1978 tại Paris.
Một năm sau (1979) Đại hội PEN lần thứ 44 tại Brazil đã công nhậnVăn Bút Việt Nam Hải Ngoại là thành viên chính thức của PEN

Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh là chủ tịch đầu tiên VBVNHN nhiệm kỳ (1978-1979)

Sau này nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh phụ trách vai trò chủ tịch VBVNHN thêm một lần nữa nhiệm kỳ (2001-2002)

Bài viết này tôi chỉ ghi lại một vài điểm chính và nổi bật nhất về tiểu sử của nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh. (Theo nguồn Wikipedia tiếng Việt). Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, thân phụ là ông Võ Chuẩn Tổng Đốc Tỉnh Quảng Nam. Bà mất ngày 9 tháng 6 năm 2017 tại Huntington Beach, California USA. Bà là nữ Văn Sĩ, Phóng Viên chiến trường. Bà mang tên một số bút hiệu khác như Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử

Vốn là một tiểu thư xứ Huế, thuộc dòng tộc quan lại, cha bà là Tổng đốc tỉnh Quảng Nam. Năm 17 tuổi (1947) nàng ra Thanh Hóa để vào chiến khu kháng Pháp.

Duyên gặp gỡ nhạc sĩ Phạm Duy.


Phạm Duy gặp cô lần đầu khi theo gánh hát lưu diễn ở Huế, lần thứ hai trong chiến khu và lần thứ ba tại Paris Pháp.
“Phạm Duy đã viết về nàng một đoạn trong hồi ký như sau:

“Tôi bấy giờ đang là quân nhân, bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô.
Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con, ai cũng đều mê mẩn cô bé này.
Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp.
Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ.”

Cây đũa thần âm nhạc của Phạm Duy khi đã phổ nhạc cho bất cứ bài thơ nào thì bài thơ đó cùng với thi sĩ sẽ được chắp cánh bay cao.
Thiên tài âm nhạc Phạm Duy còn có một tâm hồn rất nhạy bén với thơ, mang đầy cảm xúc rất dễ hòa nhập và rung động vào từng ý thơ, đôi khi ông đã thay đổi lời thơ, thêm vào những câu thơ nhưng vần điệu mà vẫn chảy xuôi theo ý thơ và phù hợp với tổng thể của bài thơ, ông đã thực sự chắp cánh cho những bài thơ.

Trở lại với hai ca khúc Phạm Duy phổ thơ của Minh Đức Hoài Trinh. Cả hai ca khúc đều trở nên nổi tiếng trong nền âm nhạc VN. Kiếp Nào Có Yêu Nhau và Đừng Bỏ Em Một Mình.
Riêng ca khúc “Đừng bỏ em một mình” thơ Minh Đức Hoài Trinh, Phạm Duy phổ nhạc, là ca khúc nghe qua là cảm nhận được sự ma quái, lạnh người nhất từ lời thơ cho đến phần âm nhạc và phối âm. Tôi sẽ trình bày sau.

Cảm nhận về ca khúc “Kiếp Nào Có Yêu Nhau)”. Chúng ta nên đi vào những chi tiết đặc biệt của từng câu thơ lời nhạc, để nhận thấy tài năng cảm nhận và hoà nhập vào hồn thơ của nhạc sĩ Phạm Duy.

Nguyên bản bài thơ (Kiếp Nào Có Yêu Nhau) tác giả Minh Đức Hoài Trinh.

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi 
Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ
Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở
Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ
Lệ nhòa trên gối trắng 
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi
(Minh Đức Hoài Trinh)

Mở đầu ca khúc là câu hát “Đừng nhìn em nữa anh ơi! Hoa xanh đã phai rồi. Hương trinh đã tan rồi".
Trong nguyên bản bài thơ không có câu “Hương trinh đã tan rồi” đây là một trong những câu nhạc sĩ Phạm Duy đã tự ý thêm vào, một cách cố ý, khi phổ nhạc bài thơ. Tuy nhiên khi viết thêm lời thơ lại rất hợp với ý thơ.
Chúng ta thử so sánh lời ca khúc do nhạc sĩ Phạm Duy viết và nguyên bản bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh.Phải nói rằng nhạc sĩ Phạm Duy chỉ mượn ý bài thơ để viết nhạc, lời ca khúc được nhạc sĩ thay đổi, chỉ giữ lại ý thơ.

Đừng nhìn em nữa anh ơi
Hoa xanh đã phai rồi
Hương trinh đã tan rồi (bài thơ không có câu này)
Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi
Đôi mi đã buông xuôi, môi răn đã quên cười. “được thêm vào” Hẳn người thôi đã quên ta
Trăng Thu gẫy đôi bờ
Chim bay xứ xa mờ.
Gặp người chăng, gặp người chăng, nhắn cho ta
Hoa xanh đã bơ vơ đêm sâu gối ơ thờ.
Kiếp nào có yêu nhau
Thì xin tìm đến mai sau
Hoa xanh khi chưa nở
Tình xanh khi chưa lo sợ
Bao giờ có yêu nhau
Thì xin gạt hết thương đau
Anh đâu anh đâu rồi?
Anh đâu anh đâu rồi?
Đừng nhìn nhau nữa anh ơi
Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã (đã) quên rồi
Còn nhìn chi, còn nhìn chi nữa anh ơi
Nước mắt đã buông rơi theo tiếng hát qua đời
Đừng nhìn nhau nữa... anh ơi!

Đến cả lời thơ cũng được thay đổi từng câu, từng chữ, để lời thơ mang thêm tiếng nhạc vừa để tương ứng với âm vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc: Ví dụ:

“Trăng mùa thu gãy đôi” đổi thành Trăng thu gãy đôi bờ
“Chim nào bay về xứ” đổi thành Chim bay xứ xa mờ
“Hoa đời phai sắc tươi” đổi thành Hoa xanh đã bơ vơ
“Đêm gối sầu nức nở” đổi thành Đêm sâu gối ơ thờ.


Tâm hồn nhạc sĩ Phạm Duy rất đồng cảm và nhạy bén với thơ, sự rung động trong tâm hồn ông như hoà nhập vào hồn thơ, những ngôn từ của ông thay đổi làm thăng hoa thêm cho bài thơ và chắp cánh cho ca khúc và tên tuổi thi sĩ bay cao.
Nếu không nhờ nhạc sĩ Phạm Duy, thì tác giả bài thơ Kiếp Nào Có yêu Nhau, cũng không hề nổi tiếng đến như thế,
Thái Thanh, giọng hát vẫn được xem là gắn liền với nhạc Phạm Duy, cũng gắn liền với bài hát này. Những giọng ca sĩ khác, mỗi giọng hát có cách thể hiện riêng, với nhiều người yêu nhạc và yêu bài hát này, Thái Thanh vẫn là giọng hát thể hiện được trọn vẹn cái hồn của bài nhạc.

Đến ngày nay nhiều người vẫn còn nhớ giọng hát cao vút của Thái Thanh và “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” trong vở kịch “Áo Người Trinh Nữ” trình diễn trên Đài Truyền Hình Việt Nam (1967).
Vào thời điểm đó vở kịch đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả.

Gần đây nhất ca khúc “Kiếp nào có yêu nhau” do ca sĩ Thái Thanh trình bày đã tạo cảm hứng cho đạo diễn điện ảnh trẻ tuổi người Mỹ gốc Việt Dustin Nguyễn, mới hoàn thành bộ phim tình cảm mang tên (Bao Giờ Có Yêu Nhau)
Bộ phim đã ra mắt khán giả ngày 9 tháng 5 năm 2016. Đây cũng là tác phẩm thứ 3 của đạo diễn Dustin Nguyễn.
Đạo diễn Dustin Nguyễn đã tâm sự:
“Tôi chọn ca khúc ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’ làm nhạc phim vì nội dung bài hát quá phù hợp với chuyện phim. Ca khúc bất hủ ấy không chỉ nói về kiếp người, sự luân hồi, mà còn khắc họa cả câu chuyện tình bất hạnh, tiếc nuối. Bên cạnh đó, giọng ca của nghệ sĩ Thái Thanh mang màu sắc liêu trai, ám ảnh và cực kỳ ma mị. Ca khúc này được lồng ghép vào phim chắc hẳn sẽ chạm được đến trái tim khán giả.”

Ca khúc “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” phù hợp với giọng nữ hơn là giọng nam, dạo gần đây có nhiều ca sĩ tự ý đổi lời bài hát, nhất là những chữ (Em) sang (Anh) không phù hợp chút nào.
Ví dụ: Nam ca sĩ đổi chữ (Em) sang (Anh) nghe nó chướng làm sao, vì từ ngữ Hoa Xanh và Hương Trinh để dành cho phụ nữ, nếu anh ca sĩ nam (đàn ông) mà hát đổi lời thì hoá ra anh ta lại cái, đồng bóng hay BD (Gay) hay xao? Đừng nhìn anh! Đừng nhìn anh nữa…, em ơi!

Hoa xanh đã phai rồi!
Hương trinh đã tan rồi!
Trở lại với ca khúc (Đừng bỏ em một mình) Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh.
Chúng ta hãy đọc lại nguyên bản bài thơ:
Đừng bỏ em một mình
Khi trăng về lạnh lẽo 
Khi chuông chùa u minh
Chậm rãi tiếng cầu kinh
Đừng bỏ em một mình
Khi mưa chiều rào rạt
Lũ chim buồn xơ xác
Tìm nhau gục vào mình
Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh
Đừng bỏ em một mình
Đừng bắt em làm thinh
Cho em gào nức nở
Hoà đại dương mông mênh
Đừng bỏ em một mình
Biển đêm vời vợi quá
Bước chân đời nghiêng ngả
Vũ trụ vàng thênh thênh
Đừng bỏ em một mình
Môi vệ thần không linh
Tiếng thời gian rền rĩ
Đường nghĩa trang gập ghềnh
Đừng bỏ em một mình 
Bắt em nghe tiếng búa
Tiếng búa nện vào đinh
Hoà trong tiếng u minh
Đừng bỏ em một mình
Bóng thuyền ma lênh đênh
Vòng hoa tang héo úa
Yêu quái vẫn vô tình
Đừng bỏ em một mình
Cho côn trùng rúc rỉa
Cỏ dại phủ mộ trinh
Cho bão tố bấp bênh
Đừng bỏ em một mình
Mấy ngàn năm sau nữa
Ai mái tóc còn xinh
Đừng bỏ em một mình
(Minh Đức Hoài Trinh)

Khi ᴄa sĩ Hᴏànɡ Oanh thựᴄ hiện ᴄhươnɡ tɾình ρhát thanh Thi Văn Taᴏ Đàn năm 1995, nữ ᴄa sĩ ᴄó hỏi Minh Đức Hᴏài Tɾinh νề hoàn cảnh nào bà sáng tác bài thơ này.

Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh ᴄhᴏ biết như saᴜ:
“Một hôm tôi đến thăm νiếnɡ νiện bảᴏ tànɡ Mᴜséе dᴜ Léᴏn ở Pháρ, tôi thấy ᴄái xáᴄ ướρ khô ᴄủa 1 nɡười đàn bà 800-900 năm νề tɾướᴄ. Tôi ᴄhợt nɡhĩ đến ᴄᴏn nɡười này thời xᴜân tɾẻ ᴄó mái tóᴄ dài bᴜônɡ xᴜốnɡ lưnɡ. Mớ tóᴄ ᴄòn đó khá nɡᴜyên νẹn nhưnɡ ᴄòn đượᴄ baᴏ lâᴜ?

Tôi νiết bài thơ này khônɡ ρhải là lời ᴄủa 1 nɡười ᴄᴏn ɡái nói νới 1 nɡười ᴄᴏn tɾai, mà là lời ᴄủa ᴄᴏn nɡười bé nhỏ nói νới νũ tɾụ đứnɡ tɾướᴄ mặt đại dươnɡ mônɡ mênh. Thеᴏ tôi khônɡ ᴄó âm thanh nàᴏ ɡhê ɾợn bằnɡ âm thanh ᴄủa búa nện tɾên đinh ᴄùnɡ nhịρ điệᴜ ᴄủa tiếnɡ ᴄầᴜ kinh. Phải thứᴄ sᴜốt đêm mới hiểᴜ đượᴄ sự bᴜốt ɡiá ᴄủa νết ᴄhân lũ hồ tinh.”
Đừnɡ bỏ еm một mình đừnɡ bỏ еm một mình, trời lạnh quá, trời lạnh quá sao đành bỏ em một mình.
Câu nói được lập lại hai lần như nhắc nhở như nỉ nᴏn, như νan nài ᴄủa một ᴄô ɡái sớm lìa tɾần ở tᴜổi đời ᴄòn ɾất tɾẻ. Tɾᴏnɡ một bᴜổi ᴄhiềᴜ lộnɡ ɡió, áᴏ qᴜan ᴄủa ᴄô đượᴄ hạ xuống huyệt sâu nơi nɡhĩa tɾanɡ bᴜồn νà lạnh lẽᴏ.


Bài hát νới nhữnɡ từ “đừnɡ bỏ еm một mình” đượᴄ lặρ lại liên tụᴄ, tănɡ thêm ρhần ai ᴏán, bi thươnɡ, như là đặt nɡười nɡhе νàᴏ đúnɡ bối ᴄảnh ᴄủa một buổi chiều gió lộng trong nghĩa trang buồn, nɡhе ɾõ từnɡ lời ᴄầᴜ kinh đưa nɡười xuống mộ sâu đất lạnh

Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Trời lạnh quá trời lạnh quá sao đành bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Chiều lộng gió chiều lộng gió sao anh đành bỏ em
Lời nào đó lời nào đó
Tiếng ân tình hay tiếng cầu kinh
Nhạc nào đó nhạc nào đó
Nhạc gọi người hay nhạc gọi hồn
Đừng lặng thinh đừng lặng thinh
Với tiếng chày tiếng búa nện đinh
Đừng toả hương đừng toả hương
Khói hương vàng che khuất người thương
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đường về nghĩa trang mông mênh đừng bỏ em
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đường về nghĩa trang lênh đênh đừng bỏ em
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Cùng một lũ cùng một lũ côn trùng rỉa rúc thân hình
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Một mồ trinh chênh vênh chờ cỏ xanh
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đường về nghĩa trang mông mênh đừng bỏ em
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đường về nghĩa trang lênh đênh đừng bỏ em
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Cùng một lũ cùng một lũ côn trùng rỉa rúc thân hình
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Một mồ trinh chênh vênh chờ cỏ xanh
Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Vài ngàn đời sau nữa
Vài ngàn đời sau nữa
Vài ngàn đời sau nữa
Ai mái tóc còn xanh
(Lời ca khúc do nhạc sĩ Phạm Duy viết)

Lắng nghe lời ca khúc hòa quyện trong những nốt nhạc và phần hòa âm, nghe mà rợn người như Thần Chết đang hiện diện đâu đây.

“Nhạc gọi hồn hay nhạc gọi người, với tiếng chày tiếng búa nện đinh, rồi nghe tiếng côn trùng rúc rỉa thân mình” Nghe mà nổi cả da gà, ớn lạnh xương sống. Nghe trọn ca khúc là lời của cô gái trẻ vừa mới lìa đời, nằm trong quan tài mà tâm hồn vẫn quyến luyến cõi trần gian.

Nằm trong quan tài mà linh hồn còn nghe được tiếng búa đóng những cái đinh sắt trên nắp hòm gỗ, vang vọng tiếng cầu kinh của người thân và ngửi mùi nhang khói thoảng bay.
Rồi tiếng động va chạm khiêng quan tài, trên con đường ra nghĩa trang gập gềnh chao nghiêng.
Nghe tiếng sợi dây thừng kéo xuống huyệt sâu, những nắm đất ào ạt đổ lên huyệt mộ rồi lấp lại. để cho một lũ côn trùng rúc rỉa thân hình.
Đừng bỏ em một mình. Một mồ trinh chênh vênh chờ cỏ xanh. Thật là buồn thảm xót xa cho thân phận một kiếp người.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại một ca khúc thật tuyệt vời, nói lên thân phận con người, cát bụi trở về với cát bụi. đây cũng là lẽ vô thường của tạo hoá. Chúng ta hãy dành cho nhạc sĩ Phạm Duy và nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh lòng tri ân và lời cảm tạ chân tình, vì chỉ có những người nghệ sĩ tài năng mới để lại những tác phẩm tuyệt vời trong kho tàng văn học nghệ thuật. “Không có thi nhân, không có nghệ sĩ, con người sẽ chán ngấy vì sự đơn điệu của tự nhiên.” Danh hoạ Vincent Van Gogh.

Bài viết xin chấm dứt tại đây.
Viết xong ngày 25 tháng 2 năm 2023

Tế Luân
Tài liệu tham khảo:
- Wikipedia
- Lê Hữu – diendantheky.net

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

Tạ Tình - Thơ Từ Hoa - Nhạc Minh Huy - Tiếng Hát Huệ Chi


Thơ: Từ Hoa
Nhạc: Minh Huy 
Tiếng Hát: Huệ Chi

Về Chốn Thủy Cùng

 

Chỉ gặp một lần đã nhớ nhung
Ngày đêm tơ tưởng nghĩ mông lung
Môi hồng má lúm xinh huyền ảo
Mình hạc vóc mai đẹp lạ lùng
Chắc tại tâm đầu nên hạnh ngộ
Và vì ý hợp mới tao phùng
Lòng thầm ước trọn đời chung bước
Về đến chốn sơn tận thủy cùng

Nhất Hùng

Kỷ Niệm Phút Đầu Gặp Em