Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Họp Mặt Gia Đình Kỹ Thuật Vĩnh Long - 2019

Qua rồi tuổi mộng một thời
Trái tim Kỹ Thuật bồi hồi chửa quên
(KimPhượng)

Thực Hiện: Nguyễn Phước Hiền
Kỹ Thuật Vĩnh Long Khóa 66

Bẽn Lẽn



Khách đang đi thơ thẩn
Chợt thấy bóng giai nhân
Từ trên lầu nhìn xuống
Lòng xuân khách ngại ngần
Bẽn lẽn nàng kéo tóc
Đưa sẽ lên môi xinh
Mắt nàng chớp mấy cái
Rồi cúi mặt làm thinh
Tự ái giục khách đi
Cảm tình như giữ lại
Lý trí đến kịp thì
Để lòng cam tê tái
Khi nàng ngẩng đầu thẳng
Khách đà khuất ngõ quanh
Bâng khuâng nàng đứng lặng
Đưa mắt nhìn trời xanh

Khôi Nguyên

Gặp Em



Gặp em ở giữa phố phường
Chào em ta ở chung đường ngàn hoa
Ồ! em nhan sắc lụa là
Đẹp như con gái làm ta gập ghềnh

Sài gòn xuân thật dịu êm
Em tung tăng nhảy như chim tung trời
Ngắm em quên hết bụi đời
Bám trên vai áo bên trời bôn ba

Con đườngNguyễn Huệ ngàn hoa
Anh ru giấc mộng trên tà áo em
Chúc nhau ngày tháng êm đềm
Như ngàn hoa nở bên thềm vui xuân.

Bằng Bùi Nguyên

Thu Buồn - Xuân Hạnh Phúc

    (Mt. Macedon, Melbourne-Ảnh: Kim Phượng)

Bài Xướng:


Thu Buồn

Còn đâu dáng mỏng nét u buồn
Dưới nắng thu vàng suối tóc buông
Nhan sắc đắm say chừng trí loạn
Tâm tư chao đảo đến tâm cuồng
Bận lòng chi nữa câu đoan thệ
Đã quyết quên rồi tiếng hứa suông
Bến cũ đò xưa ai lỗi hẹn
Tình em con nước mãi xa nguồn

Kim Phượng
***
Bài Họa:

Xuân Hạnh Phúc

Quên đi tất cả những Thu buồn
Chuông đỉnh giáo đường rộn rã buông
Tấp nập hân hoan vào thánh lễ
Trang nghiêm thanh thản xả si cuồng
Đón chào cuộc sống vui tươi mới
Từ giã niềm đau lạc thú suông
Dĩ vãng thay bằng Xuân hạnh phúc
Giòng sông ly biệt rẽ hai nguồn

ChinhNguyen/H.N.T.
Oct.28.2018
***
Cảm Tác:

Thu nhẹ tới
Cho tóc ai buông lơi
Hồn chơi vơi…
Hòa tâm vào chiếc lá
Mới xanh rồi vàng, rơi

dovaden2010


Người Trở Lại Hilo


Dù trở lại Hilo đã mấy tuần, đầu óc tôi vẫn còn bịn rịn quyến luyến bên kia bờ Thái Bình. Lúc thì ở bên mẹ, lúc thì bên các con, lúc thì bên các em, lúc thì bên các chú cô, bạn hữu. Một người rất vui từ hôm được choàng lên cổ vợ một vòng hoa khi nàng vừa rời khỏi con chim sắt khổng lồ chật cứng người. Chàng của tôi cười tươi như nụ Phong Lan mới nở. Lần này chàng xa vợ có ba tuần, không dài đằng đẵng như năm ngoái.

Lúc đợi lấy hành lý tôi nhớ lại buổi chiều hôm đó, tại phi trường LAX một nhân viên an ninh đã tốn thì giờ qúy báu của công để khám xét một túi xách nhỏ của tôi. Lý do là vì qua máy X-Ray họ trông thấy một điều gì vi luật. Tôi mang về một lọ trái cây có hơn 4 oz. nước đường của Trader Joe’s (bên Hilo không có tiệm này.) “Bà không thể mang theo hơn 4 oz. chất lỏng,” viên an ninh giải thích. Anh ta không hề hay biết là trong tôi có một hành lý vô hình, ngập sũng nhớ thương.

Rời khỏi phi trường Hilo, trời lất phất mưa trong không khí mát dịu của vùng hải đảo vào lúc chạng vạng, khi mặt trời đang chìm dần dưới mặt biển tím. Tôi bồi hồi gặp lại chàng sau 21 ngày xa cách. Nhưng chỉ trong chốc lát, không kiềm chế được cảm xúc, tôi đã yếu lòng cho phép chiếc vali vô hình mở toang và như một cơn lốc, đẩy ngược tâm trí tôi trở lại Quận Cam, nơi tôi mới rời xa sáu tiếng đồng hồ trước đó.

Mới đây nhất là hình ảnh đứa con đầu lòng đưa tôi ra phi trường. Nguyên một ngày hai mẹ con bên nhau, nhắc về những kỷ niệm ngày xưa khi con còn bé, chia sẻ những kinh nghiệm khi con giờ đã trưởng thành. Luật mới từ sau biến cố 9 tháng 11 năm nào đã không cho phép ai đưa thân nhân vào tận cửa máy bay. Đứa con vội vã ôm mẹ hôn từ biệt. Còn tôi từ từ tiến tới cánh cửa để vào bên trong hãng hàng không, tay xách nách mang, mắt còn cố dõi nhìn theo xe con, như muốn ghi lại trong tim hình ảnh con mình. Chưa gì đã nhớ con rồi. Cố dấu đôi mắt ưót, tôi bước nhanh qua khung cửa chia cách người ở và người đi.

Hai mươi mốt ngày trước, đứa con út đã phải lái chung quanh vòng đai phi trường sáu, bẩy lần vì không được phép đậu xe lại để chờ mẹ. Rồi cũng tới lúc tôi xuất hiện bên lề đường. Hai mẹ con ôm nhau, nỗi mừng niềm vui hiện rõ trong ánh mắt vì hơn một năm hai mẹ con mới gặp lại nhau. 

Trở về thực tại. Trên đường về lại căn phòng hai đứa thuê đã gần hai năm, chàng huyên thuyên kể những chuyện xẩy ra khi tôi vắng nhà. Quay kính xuống để hít gió biển trong lành, tôi nghe tiếng dế, tiếng ếch coqui dọc hai bên đường. Đây là những tiếng động quen thuộc của vùng nhà quê, xa phố thị mà ở Quận Cam không có. Nhìn ra ngoài, tôi bất chợt thấy mầu trời sao qúa xám. Lòng người xám cũng không thua gì. Tôi nhớ mẹ vô cùng. Tôi nhớ những buổi tối nằm trên chiếc giường nhỏ, chỉ cách giường mẹ một tấm bình phong để nghe mẹ kể lại chuyện ngày xưa. Dù đã nhiều lần nghe mẹ nhắc về những kỷ niệm thời xa xôi, tôi vẫn hân hoan cùng mẹ đi ngược dòng thời gian, trở về Hưng Yên quê mẹ và Hải Dương quê Bố. Lúc mẹ trượt cành ổi, rơi tõm xuống sông quê ngoại, suýt chết đuối; lúc trốn lính Tây, phải bôi nhọ nồi lên mặt lem luốc; lúc Bố theo đuổi mẹ, nhờ đứa cháu “đưa hàng trăm lá thơ”; lúc Bố làm cây sáo bé bằng gang tay, thổi bài “Trương Chi, Mỵ Nương,” từ đầu làng đến cuối làng ai cũng nghe. Mẹ thì nghe “đến thuộc lòng.” Mỉm cười khi nghe mẹ tả cảnh bà ngoại lấy chân dí bẹp cây sáo Bố tặng, chiếc sáo của người con rể tương lai mà bà hết lòng thương yêu.


Tôi tưởng tượng mình như con bướm, bay tung tăng theo Bố mẹ trên đường tới nhà thờ làm đám cưới. Tôi hình dung mẹ là một cô dâu thẹn thùng vì những lời chọc ghẹo của đám trẻ con. Tôi hỏi mẹ mầu áo dài mẹ mặc hôm đó là mầu gì, vì hình trắng đen không tỏ rõ. Mẹ kể đám cưới vội vàng vào mồng ba Tết, ngày cuối cùng trước khi Bố hết phép, cho nên không kịp giờ may áo cưới. Mẹ đã chọn chiếc áo dài nhung mầu vỏ đỗ, may sẵn cho các dịp lễ lớn để diện vào dịp này. Mẹ không quên kể về đôi hài cườm đen lóng lánh. Đôi hài đã bị lấm bụi trần, vì xe đón dâu đã không bao giờ đến. Mẹ kể chuyện đi vào Nam bằng tàu há mồm, khi tôi mới hai tuổi và thằng em mới sanh, còn đỏ hỏn. Những chuyện không đầu, không đuôi, lúc ở Nha Trang, lúc ra lại Hải Phòng, lúc vào Sài Gòn, lúc ra Huế, lúc chạy trốn khỏi móng vuốt cộng sản lần thứ hai …. Nhớ gì tôi hỏi nấy. Tôi nhủ thầm, không biết mẹ còn sống khi lần tới mình về thăm. Biết đâu chừng, đây là lần cuối nằm bên mẹ, nghe mẹ kể chuyện đời xưa. Chưa chắc tôi nhớ hết những chi tiết, những cảm nghĩ mẹ chia sẻ. Tôi chỉ muốn sống những giây phút hạnh phúc nằm gần giường mẹ, nghe mẹ nhắc lại những gì mẹ còn ghi nhớ trong tim, những gì mẹ ôm ấp trong lòng hơn ba phần tư thế kỷ. 

Không biết điềm gì mà lần này tôi khóc nhiều khi chia tay. Ôm các em, ôm mẹ, ôm con, tôi khóc. Khóc không ai dỗ được. Khóc đến mỗi mẹ phải khuyên, “Thôi, con đừng khóc nữa, mắt sưng người ta cười cho.” Rồi có lần mẹ tôi hỏi, “Khi nào mẹ đau nặng con có về không?” Tôi không nhớ mẹ hỏi lúc nào? Khi tôi nằm trong phòng mẹ hay lúc chở mẹ đi nhà Thờ, đi bác sĩ khám mắt, đi châm cứu hay đi massage? Tôi làm tỉnh trả lời, “Con sẽ về chứ.” Rồi thêm, “con không biết Chúa có cho con về kịp để nhìn mẹ lần cuối.” Giận mình ghê gớm vì nói những lời qúa buồn thảm này. Có ích gì đâu! Nói ra rồi, tôi ngậm ngùi và không dằn được lòng, bật khóc thành tiếng. 


Phải chăng vì vài ngày trước khi trở lại Hawaii mẹ đề nghị, “cho mẹ đi với” mà tôi buồn sầu quá đỗi? Năm ngoái, trước khi sửa soạn dọn sang đây chàng và tôi có mời mẹ sang sống với chúng tôi. Mẹ từ chối, lý do là vì mộ Bố chúng tôi ở Quận Cam và bẩy người con khác đang sống quây quần gần mẹ. Sang bên này, chỉ có hai đứa tôi, chắc chắn mẹ sẽ buồn lắm. Hôm đó, mẹ lại ngỏ lời. Tôi trả lời là để tôi về trước, lo giấy tờ cho mẹ rồi mời mẹ sang. Ngay lập tức, mẹ cho biết “Nói thế chứ, làm sao mà mẹ đi được!”

Mẹ tôi là người can đảm. Năm năm trước đã tiễn người chồng hơn 60 mươi năm ra nghĩa trang. Chín tháng sau lại đưa người con trai trưởng ra “làng vĩnh cửu.” Mẹ luôn nâng đỡ tinh thần các con, khi các con đối diện với bệnh tật hay với những thử thách dồn dập của cuộc đời. Mẹ tôi không than thân trách phận, không trách Trời, trách đất, không thắc mắc tại sao, không đổ lỗi cho số phần, không so sánh với người ta. Mẹ tôi chỉ biết khuyên các con vâng theo Thánh Ý Chúa. Mẹ đọc kinh lần hạt, xin Chúa gìn giữ hồn xác các con và cháu chắt. Còn lại tám đứa con. Bốn trai, bốn gái. Mười tám đứa cháu nội ngoại và một chắt. Tháng ba sang năm, mẹ tôi sẽ có thêm một chắt nữa. Gia tài mẹ tôi hiện có thật là vô giá. Ba chục người. Vừa con, vừa cháu, vừa chắt. Từ sau ngày Bố mất, mẹ là cái neo cho chiếc tầu gia đình trên đại dương đời nhiều sóng gió, dù bề ngoài mẹ nhìn bé tí bé ti, bé hơn đứa cháu ngoại nhỏ nhất trong nhà. 

Trời Hilo năm nay sao lạnh? Năm ngoái tôi đâu có phải giở những thùng nhựa lớn nhỏ để tìm áo len và bít tất đem ra mặc, để đầu mình chân tay đỡ cóng như năm nay. Hỏi chàng tại sao Hawaii mà cũng lạnh như bên đất liền? Chàng trả lời, tại vì năm ngoái El Niño hay La Niña gì đó, cho nên thời tiết đâm ra phân vân loạng quạng, không biết rõ là mình đang vào mùa gì. Nên mưa hay nên nắng? Vì thế cho nên, khi tôi đi vắng sáu tuần và sau khi tôi trở lại, trời Hilo vẫn nắng chang chang, nắng như muốn thiêu cháy da người, cái nóng hình như thêm nồng độ, vì lòng tôi bồn chồn như lửa đốt vì nhớ nhà. Năm nay, trời mưa đúng mùa. Mưa từ hôm chàng đưa tôi ra phi trường, mưa khi tôi vắng nhà, mưa hôm chàng đón tôi trở lại và mưa mỗi ngày từ hôm ấy.

Từ hôm về lại Hilo, ngày nào tôi cũng gọi nói chuyện với mẹ cho đỡ nhớ. Nhờ lời khuyên của một ngưòi em tinh thần, tôi không nói những gì buồn khiến mẹ thương nhớ mình hơn. Chỉ kể về những sinh hoạt của chàng và tôi bên Đảo Lớn để mẹ quên đi nỗi nhớ đứa con gái cả, hiện đã xa ngàn dặm. Tôi hỏi mẹ đang làm gì? Có khi mẹ đang dự Thánh Lễ qua TV, có khi mẹ vừa ăn sáng, có lúc mẹ đang ngồi trong phòng mạch, đợi vào khám. Có lúc hai mẹ con đang nói chuyện thì trời mưa lớn, đường giây bị cắt đứt. Tôi phải ngừng. Tôi text mẹ. Cho mẹ biết là trời bên này đang vào mùa mưa cho nên khi nói chuyện có thể bị đứt quãng. Mẹ text trở lại, “OK, con.” 

Mới mấy tuần trước tôi còn ôm mẹ, ôm con. Giờ, hơn hai ngàn dặm cách biệt, tôi trở về với một người, tạm bỏ lại bên kia bờ đại dương 30 người thân yêu. Từ hôm nay, tôi bắt đầu đếm từng ngày để trở về thăm mẹ, các em và các con cháu. Ước gì thân này xẻ làm đôi để tôi được cùng lúc vừa ở bên ấy, vừa ở bên này. Tôi tự an ủi: 365 ngày qua rất mau. Tôi sẽ trở về thăm mẹ, thăm con, thăm em. Tôi mong sao 365 ngày tới mẹ tôi vẫn còn ở trên trần gian này để tôi được ôm tấm thân gầy của mẹ.

Khổng thị Thanh-Hương

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Tự Tình Thu -Thơ Ngọc Quyên - Nhạc Ngô Hữu Hùng


Thơ : Ngọc Quyên
Nhạc : Ngô Hữu Hùng
Hoà âm : Minh Đạo
Trình bày : Thái Hoà
Video : Áo Cà Tím

Chuyện Tình Buồn



Ta mất nhau rồi có phải không?
Nghe như bão tố dậy trong lòng
Nhìn mưa mà nhớ khung trời cũ
Và thấy một đời mong nhớ mong

Ai ngỡ tình ta chỉ thế thôi
Đàn xưa lỗi nhịp tơ chùng rồi
Cầm bằng hoa bướm như sương khói
Hương cũ nhạt nhòa trên nét môi

Ngày xưa anh đã trồng cây si
Trước cửa nhà em chẳng hạn kỳ
Trồng mãi mà cây không bén rễ
Nên anh phải bỏ xứ mà đi

Trải mấy mùa mưa nắng dãi dầu
Cây si còi cọc bởi vì đâu
Quạnh hiu phiêu bạt đời sương gió
Áo kẻ ly hương đã bạc màu

Đoạn cuối tình buồn anh với anh
Bóng đêm hiu hắt thoảng qua mành
Dáng xưa loang loáng màu tan vỡ
Thôi đã hết rồi mộng ước xanh

Từ trăng viễn xứ tỏa ngàn khơi
Soi sáng tình ta lúc cuối đời
Những tưởng thuyền yêu về bến đỗ
Ngờ đâu hai đứa rẽ hai nơi

Nguồn thơ anh viết chẳng thành câu
Cảm xúc mờ phai bạc mái đầu
Gối chiếc lạnh căm cơn gió thoảng
Chắt chiu biết gởi mộng về đâu

Tình đầu dang dở giấc hồng hoang
Tình cuối buồn ơi! cũng lỡ làng
Anh bước trên đường đời nghiệt ngã
Đau thương giá buốt tấm thân tàn.

Toronto Dec 9, 2010
Nguyên Trần

Anh về nhặt lá vàng rơi
Kết thành chiếc áo cuối đời buồn tênh
Năm mươi năm kiếp bồng bềnh
Phù vân một cõi nằm trên phận người




Hoa phượng tím Jacaranda
Làm sao em vá tim tôi vỡ
Và hãy làm ngưng mưa đã rơi
Đừng để mặt trời luôn tỏa sáng
Ai làm trái đất quay muôn đời
Tình trường kẻ bại luôn thua cuộc
Vì người chiến thắng mãi dành rồi 
(The Winners takes it all-ABBA)

Tình Thơ Theo Gió



Gửi cho anh chút hương nồng bên ấy
Để hồn thơ ấm áp giữa trời Đông
Tuyết trong tâm nên lạnh lẽo vô cùng
Chân còn bước nhưng ngập ngừng bóng xế

Đời lăn lóc còn gặp nhiều dâu bể
Áo thơ hoa đã bạc thếch bụi đường
Đôi vai gầy gánh nặng những phong sương
Lòng không bạc vì tình người nghệ sĩ

Vui bao nhiêu vẫn sầu đầy nhân thế
Đêm không cùng tiếng hát vọng từ xa
Mùa đông buồn chân lặng lẽ bước qua
Em bên ấy có khi nào nghĩ tới

Đợi chờ ai đã tháng ngày mòn mỏi
Một ngày mai mây tím phủ hồn thơ
Nốt nhạc em gieo cung bậc mơ hồ
Không thành tiếng chỉ còn lời thương nhỏ

Có nàng thơ tưởng Đông về rực rỡ
Mong tình xa san sẻ chút hương nồng
Cứ mơ hoài trong giấc mộng viển vông
Và viết mãi lời thơ bay theo gió

Tiết đông về ôm nỗi sầu vụn vỡ
Lòng mang mang dấu vết cuộc tình thơ
Gửi về đâu những nốt nhạc cung tơ
Tình nghệ sĩ bồng bềnh như mây lạc

Đợi tình chia từ tim hồng khao khát
Viết tên em cho ấm những cơn mơ
Đời vẫn còn dệt mộng để thành thơ
Cho tròn vẹn bốn mùa tình chiu chắt.

Hoa Văn

Tâm Thức



Bài Xướng:
Tâm Thức
(Lộc lư ngũ bộ )

Một Thoáng Hương Xưa * ghé chốn này
Thời gian đón đợi tính từng giây
Mân mê nét chữ hồn phiêu lãng
Chải chuốt từng câu dạ ngất ngây
Công sức bỏ ra coi sướng mắt
Hồi thu kết quả ngó vui say
Hồn thơ quyện gắn bao hồi ức
Thổn thức một thời lại lắt lay.

Thỏa lòng đón đợi nghẹn lời đây
Một Thoáng Hương Xưa * ghé chốn này
Khúc chiếc tình thâm nhờ nói hộ
Rạch ròi đạo nghĩa mượn thơ thay
Cương trường bản ngã nơi tâm thức
Khắc khoải nhân sinh xứ đọa đày
Thế sự phù vân đời nhạt nhẽo
Tỉnh lòng lặng ngắm hạt mưa bay.

Gom góp phiền ưu suốt tháng ngày
Quăng vài câu chữ để tìm khuây
Tình trần một thuở nương qua gió
Một Thoáng Hương Xưa * ghé chốn này
Hoài bảo năm dài luôn chắc mót
Nhủ lòng tháng rộng cứ dồn vay
Dương trần lắm cảnh tréo ngoe thật
Thiên hạ nhiều trò phỉnh gạt nhây ** .

Cung ngàn rượt gió gọi trùng mây
Phiêu bạt nơi nao ghé xứ nầy
Tâm sự tỉ tê sử tích cũ
Thì thào to nhỏ chuyện thời nay
Rêu phong tường phủ trôi ngõ vắng
Một Thoáng Hương Xưa * ghé chốn này
Cuộc sống kim tiền luôn chấp ngộ
Răn mình điềm tĩnh rước điều may.

Đất mẹ con về cát bụi bay
Chiều nay khoé mắt lệ tuôn dài
Ô Lâu yên ả nằm phơi gió
Văn Quỷ vươn mình tắm nắng mai
Bươn chải dòng đời tìm sự sống
Chùn chân mỏi gối kiếm sinh nhai
Ngày mai xán lạn xuôi đường cũ
Một Thoáng Hương Xưa * ghé chốn này


* Một Thoáng Hương Xưa,tên gọi Tập thơ đứa con tinh thần của chính tác giả.
** Nhây là hoài, mãi còn gọi lầy
Phan Thanh Xuân
Long An 13/10/2018
***
Các Bài Họa:
Chuyện Sàm

Một gánh tình tang dấu ngõ này
Đinh nình giữa dạ phút cùng giây.
Con đường hèm hẹp đi thường vấp
Lũ bướm rập rờn ngắm dễ ngây.
Bên nớ đôi nhà luôn cổng đóng
Bên ni mấy bạn khiến tôi say.
Mỗi năm xuân đến nghe dường muốn
Nhìn phía vườn ai, trí nhẹ lay 

Chuyện sàm kể lại rác tai đây
Một gánh tình tang dấu ngõ này
Cùng mãi học hành lầm lũi đấu
Thảy đều khôn lớn tự hào thay 
Cấy cày cha mẹ càng thêm gắng
No đói trò ta biết chịu đày.
Chữ nghĩa quê nhà dường đã trọn
Phương trời tri thức rủ nhau bay.


Sách vở vùi tâm gắng đợi ngày
Khi ngơi nỗi nhớ khó mà khuây
Hai hè tích tịch về quê đó
Một gánh tình tang dấu ngõ này 
Gái cạnh chân tình giam lại thả
Chàng bên mơ mộng nợ cùng vay
Gan to mật lớn tim thì nhát
Tinh quái sự đời cứ nhéo nhây 

Tâm hồn phơi phới ngắm trời mây
Tình nghĩa quê hương ngấm máu nầy.
Về cội tự rèn quen bước trước
Đem điều đã học áp hôm nay.
Nỗi niềm tích tịch ghi lòng đó
Một gánh tình tang dấu ngõ này 
Đã có chăn nuôi, người ngóng đợi
Chờ ta trồng trọt thật là may.

Làng xóm quê hương chắp cánh bay
Muốn cao đòi hỏi nối chân dài
Vừa làm vừa học lời cha mẹ
Thêm nghĩa thêm tình chuyện trúc mai.
Được phép hai nhà tờ thiệp viết
Cùng bầu cùng bạn miếng trầu nhai.
Đôi hồn tích tịch tìm kho trữ
Một gánh tình tang dấu ngõ này!

Trần Như Tùng
***
Nỗi Lòng

(Lộc lư ngũ bộ)

Buồn xưa em mãi để nơi này
Cánh nhạn xa mù đợi phút giây
Nhung nhớ triền miên dần trí quẫn
Âu sầu bất tuyệt khiến hồn ngây
Đêm dài mượn bút tìm thơ lãng
Tối lạnh nương bầu trọ chén say
Mây đã chân trời lang bạt gió
Ta còn đinh đóng chẳng hề lay!

Rêu mọc xanh rì lối cũ đây
Buồn xưa em mãi để nơi này
Mây trôi phía nhớ,ê chề lạ
Bèo dạt phương sầu,não nuột thay
Bản quán bơ vơ dường khách trọ
Quê hương trần trụi ngỡ ai đày
Người đi biền biệt từ xuân ấy
Bỏ mặc ta đời gãy cánh bay

Tả tơi vá tháng lại khâu ngày
Gió táp cây nào được lúc khuây
Hẹn cũ trăng hoài mơ chốn ấy
Buồn xưa em mãi để nơi này
Trăm năm vẫn đó tình chưa trả
Suốt kiếp như còn lệ khát vay
Hồn phút thăng hoa rồi đọa khổ
Xác đời nửa sống nửa nhằng nhây

Viễn tưởng mơ liền chắp cánh mây
Vỡ tan mộng thắm rụng phương nầy
Đàn không tri ngộ lìm tro cũ
Thơ chẳng tương phùng lạc lối nay
Cổ độ thuyền không về bến nữa
Buồn xưa em mãi để nơi này
Hoài mong góc bể ba đào lặng
Vơi những âm thầm đợi rủi may

Hồng trần lỡ hẹn mộng đời bay
Góp chuyện lòng riêng ngẫm vắn dài
Từ buổi mơ màng ru nắng sớm
Đến ngày lẩn thẩn ngậm sương mai
Dở dang tháng lụn đường thưa bước
Tràng trễ môi lìm miệng vắng nhai
Đếm giọt thời gian màu khói trắng
Buồn xưa em mãi để nơi này

Lý Đức Quỳnh
***
Chút Tình Gửi Lại....

“Lộc lư ngũ bộ”

Chút Tình Gửi Lại  ở phương này
Vẫn nhớ đến người mẫi phút giây
Đã biết thân thương thời cắp sách
Dần quen quyến luyến thuở thơ ngây
Bao năm gắn bó nào phai nhạt
Mấy bận trao quà cứ đắm say
Thời thế đổi dời theo chiến sự
Thế rồi,tình cũng chợt lung lay.

Mấy độ thu tàn lá rụng bay

Chút Tình Gửi Lại  ở phương này
Năm canh nhớ mãi người đầu gió
Sáu khắc thương hoài kẻ cuối mây
Mệt mỏi đêm trường tìm bến mộng
U hoài ngày ngắn gọi mơ dài
Thôi thì đợi phút tương phùng ấy
Sẽ gặp được người...thế cũng hay !

Dòng đời đôi ngã tháng năm dài
Nay vắng xa rồi một dáng mai
Lối mộng tìm về quê chốn cũ

Chút Tình Gửi Lại  ở phương này
Cố vui mưa gió khôn ngừng đỗ
Quên lãng mây trời vẫn cứ bay
Đánh dấu thời gian qua điểm hẹn
Cho lòng nhung nhớ lại vơi đầy

Lòng vấn vương hoài bóng dáng ai
Nhớ từng suối tóc xõa bờ vai
Thẹn thùng che má nghiêng vành nón
Khép nép nâng tay kéo áo dài
Ánh mắt nai nhìn về chốn ấy

Chút Tình Gửi Lại  ở phương này
Trang thơ nhét vội khi dừng bước
Nói hộ lời tôi khó tỏ bày

Cuối cùng,mượn ý viết lên đây !
Trao đến nàng thơ bởi gió mây
Tỏ rõ tấm lòng si thắm thiết
Phơi bày tất dạ nhớ mê say
Kết tràn tâm sự luôn đau dấu
Trút cạn niềm riêng chẳng đổi thay
Vài vận trao người bên chốn ấy

Chút Tình Gửi Lại  ở phương này

Songquang

Vào Đông 10312018

Đất Phương Nam 1 - Từ Đất Phiên Trấn Đến Tỉnh Gia Định (Phần5)


Chánh Sách Khai Khẩn Ruộng Đất Của Các Chúa Nguyễn: 

Chính sách khuyến khích dân chúng khai hoang lập ấp và dễ dãi trong tư hữu vẫn còn được các vua triều Nguyễn áp dụng về sau nầy, như vào năm 1830, vua Minh Mạng ra chỉ dụ qui định tất cả những đất hoang, chưa được khai khẩn, từ rừng núi, gò đống, bờ sông, bờ suối, vân vân, đều có thể được cấp cho làm tư hữu. Đến năm 1831, vua Minh Mạng lại ban tiếp một chỉ dụ dễ dãi hơn trong việc tư hữu ruộng đất: “Quan lại các cấp khắp nơi trong nước đều phải ra sức khiến toàn dân và binh lính, bất kể chính hộ hay khách hộ, hãy làm đơn trình xin khai khẩn cày trồng theo thổ ngơi thích hợp, tất cả những chỗ đất nào còn hoang vu. 

Dù trước đó những chỗ đất nầy là công hay là tư, ai xin lãnh trước thì được. Sau 3 năm tính từ ngày nộp đơn, các quan sở tại kiểm tra thực tình rồi làm tờ trình lên tỉnh. Ba năm tiếp theo nữa, đối với các ruộng đất trồng lúa, bắp, đậu, vừng thì không kể trước đó là công hay tư đều cho người khai khẩn làm của riêng, cho theo hạng ruộng đất từ bắt đầu thu thuế để tỏ lòng khuyến khích.” Tuy nhiên, cũng do nơi chính sách dễ dãi trong tư hữu ruộng đất này mà đến năm 1840, theo lời trình tấu của tỉnh Gia Định, vùng nầy đã có quá nhiều người giàu có chiếm hữu đa số ruộng đất trong tỉnh, điều nầy đã tạo ra hai giai tầng cách biệt: một là giai tầng giàu có, chiếm hữu tất cả ruộng đất; hai là giai tầng nghèo khổ, trong tay không có một mảnh đất cắm dùi: “Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy.”

Kinh Gia Định Dưới Thời Nguyễn Ánh Từ Năm 1788 Đến Năm 1802: 

Kinh Gia Định là nơi lên ngôi chúa của Đông Cung Nguyễn Phúc Dương, cũng là nơi Nguyễn Phúc Thuần lên làm Thái Thượng Vương, và cũng là nơi Nguyễn Ánh được quần thần suy tôn làm Đại Nguyên Soái. Số là vào năm 1775, sau khi bị nghĩa quân Tây Sơn đánh bại tại thành Phú Xuân, Duệ Tông Nguyễn Phúc Thần và quần thần bỏ chạy vào Quảng Nam. Lúc ấy Tả quân Nguyễn hữu Dật khuyên Duệ Tông nên lập hoàng thân Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung để cùng Duệ Tông mưu đồ khôi phục lại vương triều nhà Nguyễn. Duệ Tông bèn lập Hoàng tôn Dương làm Đông Cung(26), cho trấn thủ Quảng Nam, kiêm tổng lý các việc trong ngoài. 

Đến năm 1776, Đông cung Phúc Dương cũng trốn vào Gia Định, nhân lúc quân Hòa Nghĩa của Lý Tài làm phản chống lại quân Đông Sơn của Đỗ thành Nhơn, Đông cung Dương bèn xin với Duệ Tông được đi chiêu dụ Lý Tài(27). Sau khi gặp Đông cung Dương, nhóm Lý Tài bèn kéo quân về Sài Gòn ép buộc Duệ Tông phải nhường ngôi cho Đông cung. Quần thần không còn sự lựa chọn nào khác, bèn lập Đông cung Dương làm Tân Chánh Vương và Duệ Tông làm Thái Thượng Vương. Lý Tài được phong làm ‘Bảo Giá Đại Tướng Quân’(28). Sự việc nầy chẳng những đã gây mâu thuẫn cho triều đình xứ Đàng Trong, mà còn làm cho quân đội của xứ Đàng trong chia rẽ một cách trầm trọng nữa. 

Năm 1777, nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy vào đánh quân Hòa Nghĩa của Tân chánh vương tại vùng Hóc Môn, Nguyễn Phúc Thận từ Cần Giuộc đem quân cứu viện, nhưng quân Hòa Nghĩa lại tưởng là quân Đông Sơn kéo tới, nên tự tan vỡ, sau đó lại bị quân Tây Sơn đánh cho tan tác, Tân Chánh vương được Phúc Thận hộ giá chạy về Rạch Chanh. Trong khi đó, Thái Thượng vương Phúc Thuần cùng Nguyễn Ánh đem 4.000 quân Đông Sơn tới đóng tại Giồng Tài. Phúc Thuần bảo với Phúc Dương, “ta cáng đáng Giồng Tài, mặt Rạch Chanh thì vương tự đảm đang.” Kết quả của sự mâu thuẫn nầy đưa đến việc cả hai đều bị nghĩa quân Tây Sơn bắt giết. 

Trong thời gian Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần và Tân Chánh Vương Nguyễn Phúc Dương bị nghĩa quân Tây Sơn bắt giết, quần thần suy tôn Nguyễn Ánh lên làm ‘Đại Nguyên Soái’. Tuy đây là giai đoạn phong ba bão táp nhất trong cuộc đời bôn tẩu trốn Tây Sơn của Nguyễn Ánh, nhưng đây cũng chính là cơ may rất lớn đối với dòng họ Nguyễn Phúc, vì nếu người bị Tây Sơn bắt là Nguyễn Ánh, thì cục diện miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung đã hoàn toàn khác hẳn. 

Trong khi triều đình xứ Đàng Trong tan rã, kinh tế Gia Định bị tàn phá, quân đội xứ Đàng Trong lúc nầy là một đội quân tạp nhạp, được kết nạp từ nhiều nhóm khác nhau, như nhóm Đông Sơn(29), nhóm Hòa Nghĩa(30), vân vân. Lúc ấy, Nguyễn Ánh lại còn quá nhỏ, không đủ khả năng tổ chức một bộ máy hành chánh vốn dĩ đã thối nát, cũng không đủ khả năng đoàn kết các nhóm tạp nhạp trong quân đội, và lại càng không có khả năng vực dậy nên kinh tế đã suy thoái một cách trầm trọng tại vùng Gia Định vì những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Trong khi đó, dĩ nhiên Tây Sơn cũng có một số chính sách quản lý kinh tế Gia Định, nhưng tất cả đều nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu quân sự của nghĩa quân Tây Sơn, nên dân Gia Định vốn dĩ đã không thích Tây Sơn, lại càng căm ghét Tây Sơn nhiều hơn. Một thí dụ điển hình là thời Đô Đốc Tây Sơn là Nguyễn Trấn đang trấn giữ thành Gia Định, khoảng những năm 1784 đến 1785, vì sợ bị các thế lực chống đối tập kích nên ông đã dời trung tâm Sài Gòn đến vùng Cầu Sơn(31), nhưng vùng nầy chỉ thuận tiện về mặt quân sự chứ không thuận tiện cho việc buôn bán thương mãi, nên dân chúng chỉ vì sợ mà miễn cưỡng phải dời đến đó, chứ trong thâm tâm họ không phục, nên càng ngày họ càng tỏ ra bất mãn và chống đối nhiều hơn. 

Đây chỉ là một trong những thí dụ điển hình về sự can thiệp không hợp lý vào việc phát triển kinh tế của Tây Sơn đã dẫn tới sự bất mãn của nhiều tầng lớp xã hội tại miền Nam. Do đó, lợi dụng lúc Nguyễn Huệ đang bận rộn đối phó với quân Thanh ở phương Bắc, vào năm 1788, Nguyễn Ánh đã kéo quân về đánh chiếm thành Gia Định không mấy khó khăn. Sau khi chiếm xong Gia Định, Nguyễn Ánh nhứt định cho chỉnh đốn Thành Gia Định thành một hậu cứ vững chắc cho công cuộc chiến tranh với Tây Sơn về sau nầy. Từ năm 1788 đến năm 1802, Gia Định trở thành kinh đô của Nguyễn Ánh, và ông đã cho đổi tên ra làm ‘Kinh Gia Định’. Nguyễn Ánh đã thay đổi từ thượng tầng đến hạ tầng cơ sở của Kinh Gia Định. Ông đã cho xây lại hệ thống thành lũy, dinh thự công sở, kho lẫm và trại súng của chính quyền. 

Tháng 3 năm 1790, Nguyễn Ánh đã nhờ 2 người Pháp tên Olivier và Le Brun đứng ra xây thành bảo vệ Kinh Gia Định để thay thế cho thành cũ ở Tân Khai. Thành mới được đắp theo hình ‘Bát Quái’, có tám cửa, ở giữa là cung điện, bên trái dựng nhà Thái miếu, phía sau là kho tàng, bên phải đặt xưởng chế tạo, xung quanh là doanh trại của quân túc vệ. Thành nầy Nguyễn Ánh gọi là ‘Kinh Thành Gia Định’. Chu vi ngoại thành là 794 trượng. Về kiến trúc, thành Gia Định là sự mô phỏng của công sự ‘Vauban’ xuất hiện từ thế kỷ thứ XVII. Bên ngoài là đường phố và chợ búa, hai bên đường đều có trồng cây. Nhưng đến tháng 10 năm 1790, Nguyễn Ánh lại đổi trở lại làm ‘Thành Gia Định’, vì lúc đó 30 ngàn dân phu và binh lính bị sung công vào việc xây ‘Kinh Gia Định’ đã công phẫn nổi dậy tìm giết 2 người Pháp đã bày vẽ cho Nguyễn Ánh xây Kinh thành nầy, nên Nguyễn Ánh đã phải đình chỉ việc xây ‘Kinh Gia Định’. Năm 1791, Nguyễn Ánh cho khởi công xây dựng tiếp trường Hải quan để thu thuế các thuyền buôn ngoại quốc. 
Đồng thời, Nguyễn Ánh cũng cho xây dựng xưởng ‘Chu Sư’ chế tạo vũ khí, cũng đóng và sửa chữa chiến thuyền. Sau đó, Nguyễn Ánh cũng cho thiết lập các trại súng và kho thuốc súng, trại và kho được lợp ngói và đóng vách bằng ván. Phải thành thật mà nói, với lòng căm thù Tây Sơn đến tận xương tủy, đã khiến Nguyễn Ánh dùng đủ mọi thủ đoạn, mọi phương tiện hầu đạt được mục đích giành lại chiếc ngai vàng cho dòng họ Nguyễn. Trong cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, phải nói nhân dân Nam Kỳ đã hy sinh quá nhiều xương máu cho từng kế hoạch của Nguyễn Ánh, mỗi kế hoạch mà Nguyễn Ánh đưa ra đều được thực hiện bằng những ‘núi xương sông máu’ của nhân dân Việt Nam nói chung, nhưng cái ‘họa người’ giáng từ tay Nguyễn Ánh lên đầu lên cổ nhân dân Nam Kỳ là không bút mực nào có thể tả xiết được.

Người Long Hồ
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Mùa Thu Mong Manh - Thơ Quách Như Nguyệt - Nhạc Mai Đằng


Thơ: Quách Như Nguyệt 
Nhạc & Thực Hiện Youtube: Mai Đằng 
Tiếng Hát: Mai Ly



Kiếp Hoa



Góc phố quán khuya thơm tóc rối,
Tuổi hồng lợt lạt nét son môi
Kiếp hoa ngai ngái mùi hương phấn,
Ngày tháng ô mai khép cánh rồi!
Ðêm lắng…tình vơi như suối cạn,
Mệt nhoài, gối chiếc, giấc nồng tan!
Mưa rơi thổn thức đời sương gió
Nhỏ xuống hồn em giọt ngút ngàn. 

Đỗ Bình

Nguyệt Tịch Bộ Tiên Du Sơn Tùng Kính 月夕步仙 遊山松徑 - Chu Văn An


月夕步仙 Nguyệt Tịch Bộ
遊山松徑 Tiên Du Sơn Tùng Kính


緩緩步松堤, Hoãn hoãn bộ tùng đê
孤村淡靄迷。 Cô thôn đạm ái mê
潮回江笛迥, Triều hồi giang địch quýnh
天闊樹雲低。 Thiên khoát thụ vân đê
宿鳥翻清露, Túc điểu phiên thanh lộ
寒魚躍碧溪。 Hàn ngư dược bích khê.
吹笙何處去, Xuy sinh hà xứ khứ,
寂寞故山西。 Tịch mịch cố sơn tê (tây)

朱文安             Chu Văn An
***
Dich Nghĩa:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du 

Lững thững dạo chơi trên đê tùng
Làn mây nhạt che khuất làng hẻo lánh
Triều xuống tiếng địch trên sông nghe xa vắng
Trời rộng, mây là là ngọn cây
Chim về tổ bay qua sương mát
Cá gặp lạnh nhảy dưới khe trong
Người thổi sáo đi đâu vắng?
Để núi tây cũ thêm quạnh hiu.
Ðêm Trăng Trên Núi Tiên Du

(1)


Trên đê tùng, dạo chơi thong thả
Làn khói mờ che cả cô thôn
Triều hồi, địch vẳng bến sông
Trời quang mây lượn ngàn thông la đà
Chim xao động sương ngà đêm mát
Nước lạnh tanh cá quạt khe trong
Tiếng sênh im bặt mênh mông
Núi xưa hiu quạnh hư không một màu

(2)
Lửng thửng trên bờ thông
Sương khói mờ cô thôn
Triều lui tiếng sáo vẳng
Trời tạnh rừng mây lồng
Sương rung chim lũ lượt
Cá lạnh quẫy khe trong
Sênh ai vừa bặt tiếng
Non cũ quạnh trời không

Mailoc

***
Dịch Nghĩa:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du

Lửng thửng dạo bước trên bờ đê dưới bóng tùng. Mây khói mơ hồ như che khuất làng quê hẻo lánh. Nước thủy triều lên trong tiếng sáo xa xa trên sông vắng. Trời cao rộng, nên mây như là là thấp xuống gần ngọn ngọn cây hơn.Chim về tổ bay trong làn sương mát nhẹ. Cá gặp lạnh nhảy dưới khe nước trong biêng biếc. Đâu rồi tiếng tiêu sáo văng vẳng trên sông. Để núi tây cũ thêm quạnh hiu, vắng lặng !

Diễn Nôm:
Ðêm trăng dạo bước dưới rặng thông ở núi Tiên Du


Chầm chậm dưới bóng tùng,
Xóm nhỏ sương mông lung.
Nước về vang tiếng sáo,
Trời cao cây mây chùn.
Chim chiều bay về tổ,
Cá lạnh vượt khe rừng.
Tiêu thiều đà vắng ngắt,
Núi tây lại lạnh lùng.

Lục Bát:

Thẩn thơ đi dưới bóng tùng,
Làng quê sương khói mông lung mơ màng.
Nước về tiếng sáo vẳng sang,
Trên cao mây thấp cây ngang lưng trời.
Chim bay về tổ sương rơi,
Lạnh căm khe nước quẩy đuôi cá về.
Tiêu thiều lặng ngắt tư bề,
Quạnh hiu làng cũ tái tê núi đồi!

Đỗ Chiêu Đức
***
Đêm trăng dạo bước núi Tiên Du

Trên đê tùng,dạo chơi đi lững thững
Làn mây che khuất nẻo cảnh cô thôn
Triều nước xuống,tiếng sáo vẳng bên sông
Trăng trong sáng,mây la đà ngọn bách
Chim về tổ bay qua làn sương mát
Nước khe sâu,cá lạnh nhảy lung tung
Tiếng sáo im,người thổi sếnh đã ngưng
Phía tây núi,cảnh xưa càng hiu quạnh

Songquang


***
Đêm Trăng Dạo Bước Dưới Rặng Tùng Ở Núi Tiên Du

Dưới tùng, lững thững dạo bờ đê
Ẩn khuất thôn làng mây khói che
Sông vắng, triều dâng, tiêu vẳng giọng
Trời cao, mây thấp, lá vươn khoe
Chim bay về tổ sau sương tỏa
Cá nhảy trong khe trốn lạnh về
Tiếng sáo lịm dần trên sóng nước
Non tây lặng lẽ cảnh sầu tê.

Phương Hà

Mưa


Xướng: Mưa

Mưa rơi trút nước rửa sầu
Vì ai ôm mãi tình đầu lỡ duyên
Người đi khuất nẻo triền miên
Người về vương mối truân chuyên một đời
Mưa trong ta mưa nơi người
Nửa đêm hồn lạc ngậm ngùi thương thân
Nửa đời lệ nhỏ phù vân
Nửa đời ngậm đắng đau thầm tương lai
Một mai mai mốt "một mai"
Trùng trùng cách biệt, cho ai đoạn trường !
Mưa nào rửa sạch đau thương ? !

Vhp. Hải Vân
( August 25/2011 )
***
Họa: Mưa Trong Lòng

Gió mưa trôi cuốn mối sầu
Không ai nỡ bẻ nhịp cầu tơ duyên
Gặp em anh đã thôi miên
Niềm riêng vương vấn oan khiên cả đời
Trong lòng nặng hạt ta, người
Cô đơn bất hạnh bùi ngùi chiếc thân
Chàng xa nhẹ bước phong vân
Trách ai gạt lệ nguyện thầm thới lai
Mai kia mốt nọ " tóc mai "
Tình quân tuyẹt vọng quan sai chiến trường
Biển dâu rồi cũng tang thương?!

Mai Xuân Thanh
Ngày 31/07/2018

Những Cách Tập Luyện Giúp Phổi Khỏe Mạnh


Một số bài tập đã được các chuyên gia sức khỏe chứng minh có tác dụng giúp các mô xung quanh phổi, tránh thở hổn hển sau khi tập thể dục.

Làm rỗng phổi
Làm rỗng phổi có thể bảo đảm phổi không bị tắc nghẽn. Để thực hiện bài tập này, hãy đứng thẳng người và thả lỏng đầu gối, hơi cong thắt lưng, tống hết không khí từ phổi ra ngoài giống như khi bạn thở ra lúc thực hiện các bài tập về phổi. Hít vào càng sâu càng tốt trong lúc từ từ trở về tư thế đứng thẳng, cách này giúp tăng năng suất tối đa cho phổi. Giữ yên hơi thở trong 20 giây và duỗi thẳng hai tay lên cao khỏi đầu. Thở ra và thư giãn cánh tay, thả lỏng tay sang hai bên. Thực hiện bốn lần bài tập này.
Tiến sĩ Carol Garber (ĐH Y khoa Mỹ) chia sẻ: Hít vào và thở ra có ảnh hưởng đến phổi. Nếu ít vận động, bạn chỉ sử dụng một phần rất nhỏ năng suất của phổi nên chỉ có một lượng nhỏ không khí vào phổi. Trong khi đó, bài tập làm rỗng phổi giúp tăng lượng khí oxy đến khắp cơ thể.

Giữ tư thế đúng
Bạn có cảm thấy uể oải vào giữa ngày? Nhiều nghiên cứu cho thấy tư thế xấu gây áp lực cho phổi dẫn đến thở nông, làm cạn kiệt lượng oxy cần thiết để cơ thể cảm thấy tràn đầy sinh lực. Khi bạn đứng thẳng người, sẽ dễ dàng giúp phổi làm đầy không khí và tăng năng lượng cho cơ thể. Điều quan trọng là giữ cho năng suất của phổi ở mức tối ưu và điều đó sẽ không xảy ra khi bạn cúi khom người.
Khi ngồi tại bàn làm việc, hãy thực hiện bài tập dành cho phổi bằng cách nhìn thẳng về phía trước, giữ yên hai vai, bàn chân đặt sát mặt sàn và duỗi nhẹ hai chân dưới ghế để đầu gối thấp hơn hông.

Ngâm mình trong hồ bơi
Một số động tác bơi là những bài tập hoàn hảo dành cho phổi, thở vào bằng mũi và thở ra bằng miệng giúp cơ thể bạn có thể xử lý đúng cách chất thải carbon dioxide, tránh mệt mỏi, hỗ trợ sức khỏe phổi và tim. “Bất cứ điều gì hữu ích cho phổi sẽ tốt phổi cũng như tim của bạn”, TS Peeke nói.

Thở bằng bụng
Làm khỏe bụng có thể cải thiện hơi thở của bạn. Đó là nhờ cơ hoành, nằm ở vị trí phía trên bụng, là cơ bắp then chốt liên quan đến cơ thể khi hít vào và thở ra. Hãy nằm ngửa người và duỗi thẳng chân trên mặt sàn, đặt một bàn tay lên bụng và tay còn lại đặt lên ngực. Hít vào thật sâu, từ từ kéo căng bụng. Bạn sẽ cảm thấy bàn tay trên bụng cao hơn bàn tay đặt lên ngực khi hít thở. Thở ra thật sâu bằng miệng và cố gắng giữ hơi thở trong 7 giây.

Đi bộ 20 phút
Các bác sĩ khuyến cáo thường xuyên đi bộ rất tốt đối với những bệnh nhân cần phục hồi chức năng phổi và người mắc bệnh phổi. Theo giáo sư Richard Casaburi (ĐH California), làm khỏe các mô xung quanh phổi giúp chúng hoạt động tốt hơn. Để đi bộ đạt kết quả tối ưu, hãy đi thẳng người và ngẩng cao đầu, giữ thẳng vai và bước dài chân đều đặn. Cách đi bộ này không làm ép khung xương sườn và cho phép phổi giãn nở.

Theo Reader’s Digest/am ST
 Ban Biên Tập sưu tầm