Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017

Thơ Tranh: Khổ Lũ


Thơ: Hương Thềm Mây
Thơ Tranh: Kim Oanh

Chạnh Lòng


Hạt sương mỏng òa trên màu lá biếc
Hơi thu chùng giăng kín sáng Ca-li
Con sóc nhỏ chuyền qua cành nhãn chín
Lũ kiến đen quờ quạng vẽ đường đi

Ánh mặt trời xuyên qua vùng mây rách
Như tự trời thả xuống những tràng phan
Cánh đồng lớn bôi lên màu nham nhở
Làm thảo nguyên như manh áo vá quàng

Bên kia xóm mùa thu về hối hả
Bìa rừng phong tô đậm sắc da cam
Đôi tiếng gọi trên bầu trời hối hả
Cánh thiên di giục giã réo trên ngàn

Nhìn cảnh vật chao ôi buồn chi lạ
Nhớ quê hương từ luống mạ giồng khoai
Con đường nhỏ chạy vòng quanh lối xóm
Rõ dấu bàn chân, ít dấu dép giày

Thu lãnh đạm nên làng tôi chẳng thấy
Lá vẫn hoài xanh hoa trái vẫn tươi
Thoáng một cái đông thình lình ập đến
Mưa tận đầu nguồn lũ lụt chơi vơi

Có những mùa đông dài như vô tận
Mặt trời chôn dày cộm lớp mây đen
Trời hạ thấp như chờm tay vói tới
Giông gió tơi bời mưa trút cuồng điên

Đấy làng tôi với ngàn cơn mê lộ
Thiên tai hoành hành mỗi độ vào đông
Vậy cho nên cái nghèo đeo đẳng mãi
Thương quê hương nhưng nước mắt cạn dòng

Tôi ao ước trần gian nầy hạnh phúc
Tang thương vơi, người tử tế với nhau
Hận thù làm chi oan khiên chồng chất
Chỉ tội cho đời - nỗi khổ niềm đau.

Thủy Lâm Synh
Nov. 09, 2017

Đấng Sinh Thành



Đấng Sinh Thành

Khói hương nhẹ tỏa sợi mong manh
Ngỡ dáng xuân huyên hiện trước mành
Non Thái cao vời ơn dưỡng dục
Nước nguồn vô tận nghĩa sinh thành
Mưa sa bảo táp ba oằn gánh
Trái gió trở trời má vỗ canh
Khốn khó chẳng bao giờ quản ngại
Chỉ mong con trẻ được an lành.

Quên Đi
***
Nhớ Mẹ


Nhớ Mẹ năm xưa dáng mỏng manh
Ngồi phơi thóc giống trước hiên mành
Nắng lung linh rọi trên sân đất
Mây lững lờ trôi phía cổ thành
Ngoài rẫy, mùa màng tươi sắn bắp
Trong nhà, bếp núc ngọt cơm canh
Chờ chồng về nghỉ sau công cấy
Trao chén trà thơm thật mát lành

Phương Hà
***
Ơn Nghĩa Sinh Thành

Nhang khói bềnh bồng cuộn mỏng manh
Trên bàn thờ Tổ cạnh bên mành
Nhớ Cha nuôi dưỡng cao vời vợi
Nghĩa Mẹ công sinh đã tạo thành
Lúc ốm bố lo đâu quản ngại
Khi đau mạ thức suốt năm canh
Suối nguồn non Thái sao bì được
Mong muốn các con mãi mạnh lành

Song Quang
***
Ơn Nghĩa Sinh Thành


Hương khói trầm trầm sợi mỏng manh
Song thân bóng dáng ngỡ bên mành
Tấm lòng trời biển công nuôi nấng
Chín chữ cù lao đấng tạo thành
Mưa nắng dãi dầu trên mọi nẻo
Sớm hôm tần tảo đến tàn canh
Dẫu cho khôn lớn tròn gia thất
Vẫn mãi mong con vạn sự lành

Kim Phượng
***
Quán Núi


Mặt hồ tuyết trắng rã từng manh,
Gió bấc hoàng hôn lộng bức mành.
Lặng lẽ lầu cao người ngắm cảnh,
Xa xa núi biếc khói xây thành.
Vượn rừng thảm thiết kêu đàn tối,
Phố sá im lìm vẳng trống canh.
Giường lạ chăn mền trằn trọc khách,
Lan can lãng đãng mảnh trăng lành.

Mailoc
11-9-17
( Hoài niệm một đêm khách sạn ở Tây An
Trung Quốc năm 2008 )

Ngoại Thư


Các cụ thời xưa chỉ đọc Kinh, Sử, Tử,Tập! Còn các sách khác thì các cụ gọi là Ngoại Thư!!! Nhưng các tác giả nổi tiếng, được độc giả mến mộ lại là những người đọc rất nhiều Ngoại Thư! Nguyển Du viết truyện Kiều là dựa theo cốt truyện của một ngoại thư hạng bét!!! Ngu Sơ Tân Chí là truyện hạng bét !!! Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân , nói của đáng tội , cũng chỉ là ngoại thư hạng gần bét!!!

Nguyễn Du, một con người nhìn suốt sáu cõi! Một Đại Thi Hào của dân tộc! Nhưng dưới mắt của các nhà nho Hương Nguyện thì truyện Kiều chỉ là một Ngoại Thư! Các cụ đặt thơ chê bai:
Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều
… và người bình thường đã ngâm đọc câu này như là ca dao(?)

Một tiến sĩ cuối mùa như cụ Ngô Đức Kế, có cả tân học của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, đã hết lời chê bai, mạt sát Nguyễn Du và truyện Kiều: Một đôi nam nữ hẹn hò đêm thanh cảnh vắng … trèo tường trổ ngõ … đáng làm gương cho ai(?)
Ôi ! "Ngoại Thư Truyện Kiều" đã vượt thời gian và không gian, lừng lững, sáng chói!!!
Không đọc ngoại thư thì lấy gì để viết! Viết về Kinh Sử thì đã có Chu Hy, Trình Hiệu rồi! Còn gì để viết nữa!!
Ngày nay, tìm lại ngôn từ xưa, tôi tha thiết mong độc giả nghĩ đến ngoại thư. Chúng ta có nhiều học giả đầy bụng ngoại thư! Đáng hãnh diện lắm chứ!!!

Ôi ! Mời qui vị đọc Trinh Thử, Trê Cóc, và thú vị hơn: Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Tân Phả của Đoàn Thị Điểm, Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ, Các tác phẩm của Lê Quí Đôn , Cao Bá Quát , Nguyễn văn Siêu, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Thông … 
Ôi! Cả một gia tài đồ sộ về Ngoại Thư! (và cả tới ngày nay thì thiếu gì … chuyện Tang Thương Ngẫu Lục …)
Ôi! Những chuyện tầm thường về những con người tầm thường của một xã hội tầm thường ở nông thôn hay thành thị… không đáng để chúng ta Suy Gẫm hay sao? Đâu cần những gương sáng của những người Hiền để chúng ta Noi Theo.

Vậy xin đừng coi những đề tài tầm thường là Ngoại Thư… Nói về những con người tầm thường là Ngoại Thư … ! Nói về những chuyện Tham Nhũng, Bạc Ác… chuyện Hỗn Loạn, chuyện Đảo Diên … là Ngoại Thư !!! Nó thâm nhập vàm tim ta , đánh động lương tâm ta… làm cho ta suy nghĩ, căm hận, chán ghét, muốn đập bàn, hét lên, chửi cho… đã! …thì nó là nội chứ sao lại là ngoại!!! Nó là chuyện Nội của Việt Nam!

Vậy tôi xin phép gọi nó là Chính Thư chứ không phải Ngoại Thư !!!






Chân Diện Mục

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Thơ Tranh: Có Chi Màng


Thơ: Hương Thềm Mây
Thơ Tranh: Kim Oanh

Suối Tóc Em



Có phải khi em hất mái tóc về sau
Mùa hè oi bức tan rất mau
Mùa thu mơ màng ươm đôi mắt
Và xuân hồng ôm bộ ngực au au

Khi em điệu đà hất mái tóc về sau
Rèm mi dài chớp chớp thật mau
Thoáng nhìn vành môi đầy quyến rũ
Không biết hồn anh lạc mất nơi đâu

Em cong ngón tay lùa mái tóc về sau
Làn mây trời theo gió tan mau
Thoảng chút hương mùi thơm rất lạ
Rất đa tình, bùa ngãi hớp hồn nhau

Mơ màng bên em, đắm chìm vào suối tóc
Bồng bềnh muôn sóng nước dạt dào
Cả mùa đông bỗng dưng ấm áp
Nghe lòng mình thấy rạo rực xôn xao.

Trần Quốc Bảo
Richmond, VA.

Thành Kính Phân Ưu Gia Đình GS Phêro Lê Hữu Mục


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Vô cùng xúc động nhận được tin buồn bào huynh của chị Hồng vũ Lan Nhi
GS Phêro Lê Hữu Mục 
Nguyên giảng sư Đại Học Sư Phạm Saigon, và các Đại Học Huế , Đà lạt , Cần Thơ 

Đã được Chúa gọi về vào lúc 10:57pm, ngày 08 tháng 11 năm 2017 
Tại Montreal CANADA 
Hưởng Thượng Thọ 93 Tuổi 

Xin Thành Kính Phân Ưu cùng tang quyến 
Và thành thực chia buồn cùng chị Hồng Vũ Lan Nhi. 
Nguyện xin Chúa nhân từ đón linh hồn GS Phero Lê Hữu Mục 
được về nghỉ ngơi an lành nơi nước Chúa 

Hiệp Nguyện 

Gia Đình: 
Nguyễn Ngọc Tuấn  Cao Thiện Lynh, Bùi Quý Viêm, 
 Bùi Quý Chiển, Nguyễn Tiến Thịnh,  Nhược Thu 
Phạm Thu Liễu, Tiểu Vũ Vi, Sơn Ca, Phương Vy, Lê Thị Kim Oanh,  Băng Tâm,   
Lưu Quỳnh Hương Trần Chương Lương,  Dương Viết Điền, Lê Đình Hải 
  Khiếu Long,Tiểu Yến, Yên Sơn

Ngõ Vắng Trưa Lơi



Bài Xướng: Ngõ Vắng Trưa Lơi

Nắng hong ngõ vắng buổi trưa lơi
Nhẹ ngọt lời ru ,mẹ hớ ời
Bông giấy hồng phơi nồng sắc gọi
Hoa giun thơm tỏa thoảng hương mời
Tơ trời lãng đãng gầy cơn ngủ
Giọng yến buồn buồn vỗ giấc ngơi
Tiếng gót chân ai hòa nhịp võng
Thanh trong xóm nhỏ, ấm hồn người.

Cao Bồi Già
***

Các Bài Họa:
Vui Mùa


Êm đềm tóc liễu gió buông lơi
Tiếng hát mùa đưa nhịp ạ ời
Óng ả em cười thơm lúa gặt
Long lanh nắng tỏa ngát xuân mời
Mồ hôi thấm ruộng cho nghèo bớt
Nước mắt chan đồng để khổ ngơi
Hết thuở con trâu đầu sản nghiệp
Giờ bao sức máy đã thay người

Lý Đức Quỳnh
***
Ru Con 


Mẹ hong tóc xõa chảy buông lơi
Nhịp võng hòa trong điệu hát ời
Tiếng gió miên man lời biển gọi
Làn ru trầm bổng giọng quê mời
Cánh cò chao lượn đồng yên ả
Giấc mộng phiêu bồng buổi nghỉ ngơi
Con ngủ cho ngoan ngày trẻ dại
Lớn khôn, đi nốt kiếp con người.

Sông Thu
***
Hoài Cảm Trưa Hè

Gió giỡn hàng tre, ngọn lả lơi
Lời ru trầm lắng vọng “a… ời”
Bầy chim ríu rít như chào gọi
Chùm ổi đung đưa tựa vẫy mời
Vang rộn tiếng gà… khua giấc tĩnh
Nung nồng tiết hạ… quấy lòng ngơi
Tâm tư man mác khôn bày tỏ
Hoài niệm hồn quê quyện chắc người.

061117.
Đoàn Đình Sáng.
***
Nhớ Mẹ

Kẽo kẹt bên thềm võng lả lơi
Còn nghe tiếng mẹ nựng a ời...
Ngùi manh chiếu lạnh lòng trông ngóng
Chạnh miếng trầu thơm cháu gọi mời
Cõi tục tình ai còn lắng đọng
Tuyền đài bóng hạc đã yên ngơi
Nhìn di ảnh dạ càng tê buốt
Mỗi độ đông sang lại nhớ Người!

Nguyễn Gia Khanh
***
Trưa Về Ngõ Vắng

Tre già muốn lặng gió không lơi
Leo lũy hoa rung tựa vẫy mời.
Thi thoảng chim vườn reo lích chích
Êm đềm lời võng hát à ơi.
Giữa đường bướm nguyệt ngon vòng múa
Bên cổng cầy vằn ngọt phút ngơi.
Ngõ vắng trưa trưa thường tĩnh lặng
Say sưa hồi sức dưỡng bao người 

Trần Như Tùng
***
 Khuya D
ồn Trống Hội

 Quên cả trưa về luyện lý lơi 
Võng đưa kẽo kẹt giọng ru ời... 
Đồng quê lúa mẩy tràn hương rủ 
Thôn mạc loa vang dậy tiếng mời 
Thơ họa bạn bầu xin tạm nghỉ 
Nghĩa tình làng xóm chẳng hề ngơi 
Khuya dồn trống hội mừng cơm mới 
Sương xuống trăng ngân rộn bóng người.

Phan Tự Trí
***
Nắng Hè

Bụi trúc thì thào giọng lả lơi
Mẹ ru con ngủ á.. à. ời
Buổi trưa oi ả như ngừng thở
Giấc ngủ thiu thiu khẽ dụ mời
Cơn gió thoảng qua ôi mát rượi
Quạt trầm phe phẩy chẳng buồn ngơi
Câu hò của mẹ buồn da diết
Nức nở trăm năm một kiếp người !

Thiên Hậu 
***
Xót Tình

Tiếng đàn não nuột khẽ buông lơi
Gảy điệu "tình xa" tích tịch ời
Tâm sự phơi bày, say chén cạn
Rượu đào cạn rót, khướt môi mời
Hồn mềm mãi choáng, hình di động
Dạ tỉnh còn nồng , phút nghỉ ngơi
Xót lắm tình ơi vì lỗi hẹn
Tương tư quấn lấy mãi bên người !

Hồng Phượng
***
L
ạc Vô Dư

Cành trúc la đà gió lả lơi,
Vườn xanh tiếng mẹ vẳng âu ời!
Hoa thơm đưa sắc bừng chào đón
Trái chín dâng hương ngát gọi mời!
Tất bật cuốc cầy khi bận rộn,
Tiêu tao thi họa lúc nhàn ngơi.
Gà trưa lanh lảnh sau bờ lũy
Xóm mạc bình yên sáng bóng ngươi!

11-2017
Nguyễn Huy Khôi

Về Miền Tây - Phần 14



Về phía Tây Bắc của An Giang là tỉnh Châu Đốc. Trước kia là Đạo Châu Đốc thuộc Dinh Long Hồ (Vĩnh Long bây giờ). Vùng Châu Đốc Đạo có sông Châu Đốc, sông Vĩnh Tế, sông Vàm Nao, sông Đàm Giang, sông Cần Đăng, sông Thụy Hà. Về phía Đông sông Hậu giang khúc chảy ngang Sa Đéc có sông sông Trường Tiền và rạch Cường Thành hay rạch Lấp Vò. Rạch Cường Oai, còn gọi là rạch Lai Lễ, ở bờ phía Đông sông Hậu, chảy đến Sa Đéc, rồi đổ ra sông Tiền. Ở vùng Cần Thơ có sông Bào Hốt, sông Cần Thơ và sông Bồn. Vùng Sóc Trăng có sông Ba Xuyên và rạch Vu Lai. 

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì An Giang xưa có những đồn cũ như đồn Hồi Oa, nay thuộc xã Long Hưng tỉnh Sa Đéc, đồn Châu Đốc, đồn Châu Giang. Trước khi Châu Đốc được tách ra làm tỉnh thì ở miền Nam An Giang là tỉnh duy nhất, trên có dãy Thất Sơn (Bảy Núi), dưới thì có dòng Hậu Giang uốn khúc. Vùng núi Thất Sơn, tuy không lớn lắm, nhưng cũng dài đến 30 cây số và rộng đến gần 20 cây số. Vùng này gồm rất nhiều núi nhỏ chứ không riêng bảy núi. nhưng mỗi khi nói đến vùng này là người ta liên tưởng đến bảy ngọn. Rặng Thất Sơn dài trên 30 cây số và rộng 13 cây số bao gồm trong các quận Tịnh Biên và Tri Tôn. Những núi lớn là núi Kéc (Anh Vũ Sơn), Núi Dài (Ngũ Hồ Sơn), Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), Núi Nước (Thủy Đài Sơn), Núi Dài (Ngọa Long Sơn), và Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn). Trong thời các chúa Nguyễn thì An Giang chính là tuyến đầu ngăn chặn sự xâm nhập quấy rối của người Xiêm La. 

Về vị trí, Bắc và Tây Bắc giáp Cao Miên, Nam giáp Long Xuyên và Rạch Giá, Tây giáp Rạch Giá và Hà Tiên, Đông giáp Kiến Phong và Sa Đéc. Tỉnh lỵ đặc tại thị xã Châu Đốc, đây là một thành phố có lối kiến trúc cổ theo kiểu Pháp, nằm bên bờ sông Hậu. Sau khi vua Minh Mạng tách dinh Long Hồ ra để thành lập tỉnh An Giang thì Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang. Đến thời Pháp thuộc, họ cắt 4 quận của tỉnh An Giang là Tân Châu, Châu Phú, Tịnh Biên và Tri Tôn để thành lập tỉnh Châu Đốc cho dễ bề kiểm soát và cai trị. Cũng như các tỉnh khác ở miền Tây, Châu Đốc là một vùng đồng ruộng bao la bạt ngàn, đất đai mầu mỡ với phù sa bồi đắp từ sông Cửu Long. Ruộng lúa Châu Đốc có phần thu hoạch cao hơn những nơi khác, có chỗ mỗi công ruộng người ta thu hoạch đến ba chục (30) hay bốn chục (40) giạ lúa. Tuy nhiên, Châu Đốc là tỉnh duy nhất ở miền Tây có dãy Thất Sơn (bảy núi) trồi lên ngay giữa một vùng đồng ruộng bao la. Riêng khu Thất Sơn đã chiếm hết 276.000 mẫu Tây đất đai (cách thị xã Châu Đốc khoảng 40 cây số). Tại đây có núi Cấm cao nhất (khoảng 880 mét). 

Về mùa nước nổi, cá tôm từ biển hồ tràn về Châu Đốc đủ loại từ cá tra, cá lóc, cá trê... đến tôm càng, tép bạc... Đặc biệt là loại cá linh, cá chốt thì thôi hằng hà sa số. Châu Đốc được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi chẳng những về nông sản mà còn về thủy sản nữa. Sau mỗi mùa nước, dân Châu Đốc bắt cá tôm quá nhiều, nên chỉ còn biết làm khô, làm mắm, chứ không cách chi tiêu thụ tươi cho hết được. Chính vì vậy mà Châu Đốc rất nổi tiếng về các loại khô và mắm. Dân cư Châu Đốc tương đối phức tạp hơn các nơi khác nhiều, vì đây là vùng biên giới nên người Việt gốc Miên chiếm một tỷ lệ gần 30%, người Kinh khoảng 50%. Ngoài ra, còn có người Chàm (Chăm) khoảng 10%, số còn lại là người Hoa, Mã Lai, Lào... Cộng đồng người Chàm ở Châu Đốc là cộng đồng người Chàm lớn thứ nhì sau Phan Rang. Sau khi đất nước Chàm bị diệt vong thì họ di tản về xứ Thủy Chân Lạp, vì dân Chân Lạp cũng có nền văn hóa gần gũi với họ hơn là người Việt. Tuy nhiên, đến khi Thủy Chân Lạp bị mất vào tay các Chúa Nguyễn thì họ quyết định tiếp tục ở lại Châu Đốc, chứ không chạy nữa. 

Tại đây họ sống co cụm tại các xã Phú Tân, Châu Phong và Châu Giang. Tại Phú Tân có khoảng 12.000 người Chàm, chuyên sống bằng nghề dệt vải. Tại đây họ có Thánh đường Hồi giáo Mosque Mubarak rất lớn, cách Châu Đốc khoảng 2 cây số. Tại Châu Phong, người Chàm chuyên nghề dệt vải Thổ Cẩm Chăm (vải đầy màu sắc rực rỡ), và thêu may khăn choàng để xuất khẩu sang Mã Lai. Thánh đường Hồi giáo Châu Phong cũng lớn như Mosque Mubarak ở Phú Tân. Tại Châu Giang, người Chàm rất nổi tiếng về nghề dệt xà rông và các loại vải may quần phụ nữ. Riêng tại Tân Châu, người Chàm dệt cả ba loại là lãnh, lụa, và lược (lãnh là loại dầy, lụa là loại vừa vừa, còn lược là loại vải mỏng nhất). Điểm đặc biệt, có lẽ Châu Đốc là tỉnh duy nhất ở miền Nam có nhiều cây thốt nốt nhất (thốt nốt là một loại cây tương cận với cây dừa, nhưng trái nhỏ hơn và nước ngọt hơn, nên đường thốt nốt rất thơm và ngọt thanh hơn đường mía). 
Người ta nói đường thốt nốt của Châu Đốc ngon hơn đường thốt nốt của Nam Vang nhiều. Cây thốt nốt, dù thuộc họ dừa, nhưng có lá giống lá cây kè (palm), xòe đều quanh ngọn, chứ không rũ xuống như những tàu dừa. Ở Châu Đốc, thốt nốt mọc từng cụm rải rác trong ruộng như những ốc đảo, trông rất lạ mắt. Châu Đốc còn có một thắng cảnh nổi tiếng mà hằng năm số người đến thăm viếng lên đến hằng triệu người. Đó là Miễu “Bà Chúa Xứ” ở núi Sam. Hầu như ngày nào xe cộ từ Châu Đốc đi núi Sam cũng tấp nập người đi kẻ đến. Người ta ước lượng hàng năm có trên một triệu người từ khắp các tỉnh miền Nam và ngay cả những vùng khác trong nước đến hành hương Miễu Bà Chúa Xứ Châu Đốc. Hai bên đường là kinh rạch, xa xa có một xóm nhà. Tuy nhiên, dân chúng sống tập trung dọc theo hai bên bờ kinh Vĩnh Tế, đa phần là nhà sàn gỗ lợp lá, chỉ có một ít nhà lợp tôle hay ngói. 
Vào trong đền khói hương không còn nghi ngút nữa mà người ta đốt quá nhiều đến độ khói bay cuồn cuộn lên trần, tạo ra một bầu không khí vô cùng ngột ngạt. Về phía Tây của Miễu Bà Chúa Xứ là vùng Ba Chúc, nghe nói lúc Khmer Rouge (Khờ Me Đỏ) tràn qua đã giết tập thể rất nhiều người vô tội, hiện ngôi mồ chôn tập thể ấy vẫn còn với hàng ngàn chiếc sọ được xếp thành hàng trong một nhà mồ bằng kiếng. Ba Chúc là một xã nằm sát biên giới Việt Miên, dân chúng vùng này trông cằn cỗi, cằn cỗi như chững cụm đất khô cằn nơi họ đang sinh sống. Ngoài ra, Châu Đốc còn có một nhà thờ chánh tòa đã được xây dựng từ năm 1859 (nghĩa là ngay từ những năm Pháp mới khời sự chiếm Nam Kỳ). Châu Đốc còn là quê hương của trên 12.000 người Chàm (họ là người Chàm chạy lánh nạn khi nước Chàm bị nước ta lấn chiếm hồi thế kỷ thứ 16). 

Đa số người Chàm ở đây làm nghề nuôi tằm dệt tơ, họ theo đạo Hồi và sống co cụm tại những vùng Phú Tân và Châu Giang. Tân Châu của Châu Đốc cũng rất nổi tiếng về ngành dệt tơ lụa, nhứt là lãnh đen được nhuộm bằng mủ cây mạt nưa. Đi qua vùng Tân Châu chúng ta thường nghe câu hát vè của dân địa phương, họ hãnh diện về sự bảnh bao của những thiếu nữ tại đây “Trai nào tài bằng trai Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Tân Châu.” Với hệ thống sông ngòi chằng chịt, Châu Đốc có một lực lượng ghe thuyền rất lớn có thể vận chuyển hàng hóa từ những con rạch nhỏ ra sông lớn. Nhờ vậy mà hàng hóa Châu Đốc không bị ứ đọng vào mùa nước nổi khi mà đa số đường sá đều bị ngập lụt. Tuy có một hệ thống kinh rạch và sông ngòi chằng chịt, nên việc giao thông đường thủy chiếm ưu thế, tuy nhiên, Châu Đốc cũng có một hệ thống đường bộ đáng kể. Ngay từ thời Pháp mới chiếm Nam Kỳ, họ đã xây dựng tỉnh lộ Long Xuyên-Châu Đốc và Châu Đốc-Hà Tiên (127 cây số). Ngoài ra, Châu Đốc cũng có đường bộ đi đến tận Nam Vang (177 cây số). Từ xưa đến giờ, Châu Đốc là điểm tiếp nhận hàng hóa từ cao Miên và phân phối hàng hóa Việt Nam lên Nam Vang. Ngoài lúa gạo, Châu Đốc còn nổi tiếng về cá khô, tôm khô và mắm, nhất là loại cá cháy và cá ba-sa (loại cá tra đổ xuống từ Biển Hồ). Ngày nay, ngành nuôi cá bè của Châu Đốc phát triển rất mạnh, dọc theo bờ sông Hậu Giang có rất nhiều “nhà bè”, họ nuôi đủ loa i cá, từ cá lóc, cá trê, cá rô, cá tra, vân vân. Đây là những căn nhà được xây cất trên những chiếc bè lớn, bên trên để ở và nấu thực phẩm cho cá, còn bên dưới là một hồ cá thật lớn mà đáy được làm bằng lưới, nên thông thương với lượng nước bên ngoài.


Sau năm 1975, chính quyền CSVN sáp nhập tỉnh Châu Đốc vào Long Xuyên và cho lấy lại tên cũ đã từng được ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí là “An Giang”. Hiện tại thì địa giới tỉnh An Giang rộng lớn với diện tích 3.424 cây số vuông, gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và các quận Thoại Sơn, Châu Thành, Chợ Mới, Tịnh Biên, An Phú, Phú Tân và Tân Châu, Châu Phú. Về vị trí, Đông và Đông Bắc giáp Đồng Tháp, Nam giáp và Tây Nam giáp Kiên Giang, Đông Nam giáp Cần Thơ, và Tây giáp Cao Miên. Dân số tỉnh An Giang, theo thống kê năm 2.000 có trên 2.128.800 người. An Giang có thành phố lớn là Long Xuyên, nằm trên hữu ngạn sông Hậu giang, cách Sài Gòn 189 cây số. Sau khi sáp nhập tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên vào nhau để thành lập tỉnh An Giang (theo tên cũ của Đại Nam Nhất Thống Chí) thì An Giang trở thành tỉnh đứng đầu về sản xuất lúa gạo trên toàn quốc. An Giang còn sản xuất một số lượng đáng kể về bắp và các thứ đậu. Vùng sông nước bao la chạy dài từ Tân Phú, xuống Tân Châu và Long Xuyên... khiến An Giang trở thành tỉnh đứng đầu về số lượng cá tôm nước ngọt. Vì số lượng các nước ngọt quá nhiều, không kịp bán tươi về Sài Gòn nên gần phân nửa số cá tại Châu Đốc được người ta làm mắm và măm Châu Đốc rất nổi tiếng trên toàn quốc. Phần lớn cộng đồng người Chàm ở Châu Đốc đều sinh sống bằng nghề dệt vải và thêu may, xuất cảng hàng sang Mã Lai. Ngoài ra, An Giang còn nổi tiếng về khô bò, bánh phồng tôm, đường thốt nốt, lạp xưởng thịt bò. Trên đây là một số hình chụp tại tỉnh Châu Đốc của một số nhiếp ảnh gia người Pháp từ năm 1925 đến năm 1945 sưu tập được từ các Công Báo Hành Chánh Nam Kỳ từ năm 1862 đến năm 1945 (Bulletin Administratif de la Cochinchine 1862-1945). Dầu hình ảnh không được rõ ràng, nhưng người viết bài này vẫn mong rằng đây là những hình ảnh kỷ niệm những sinh hoạt của một thời còn dưới sự cai trị của người Pháp:
Người Long Hồ

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

Thơ Tranh: Tình Mùa Xuân Thu


Thơ: Song Quang
Thơ Tranh: Kim Oanh

Góp Vui - Một Chùm Mai



Góp Vui

Mũ “phớt” khứa hơn hẳn Lộc Mai?
Đang ngồi tâm sự với Xuân Mai
Ra điều đắc ý trò Thơ Thẩn
Cũng rất quan tâm chuyện mốt mai
Quà đã nhận xong chờ dịp khác...
Lời còn chưa hết hẹn ngày mai
“San” thành hội ngộ vui-thi hữu
Mai-Lộc đơm chồi Xuân có Mai.

Thái Huy
11/4/17


Một Chùm Mai

Cám ơn anh viết một chùm Mai 
Thú vị biết bao với chữ Mai 
Huynh đệ lâu ngày thơ tứ tuyệt 
Anh em năm tháng bạn bè Mai 
Món quà chữ viết tình thân hữu 
Đại Hội Đặc san nghĩa mến Mai 
Nhận đủ đây rồi xin cảm tạ 
Phu nhân Mailoc cũng Thanh Mai

Mai Xuân Thanh
Ngày 04 tháng 11 năm 2017

Cơn Hồng Thủy


Em một cơn hồng thủy
Cuốn tuột cả đời tôi
Nên biến thành ma quỷ
Trong bản tính con người
Bây giờ chỉ có em
Sóng vồ vập đầy thêm
Tôi một tên chết đuối
Bám víu bọt bèo mềm
Bèo bọt dù, mặc ai
Có vỡ cả hình hài
Tôi bấu và cứ bấu
Ðể được em ở đây
Trong lũ cuồng tôi say
Tình là một thiên tai
Nổi trôi trái hay phải
Ðể gọi là ngất ngây
Cơn hồng thủy và tôi
Một ngày cuối cuộc đời
Xác hồn chìm mất hút
Vẫn tưởng tình lên ngôi


Tịnh

Chợ Trời Du Ký!...



“Chợ trời thực dã đâu chân lý?
Hàng hóa lương tâm vốn thiếu thừa”*
Tìm đâu ra được điều chân lý?
Ai bán, ai mua chuyện thiếu thừa?

Thiếu thừa hai mặt chuyện bán mua
Chợ trời giá cả được hơn thua
Thuận mua vừa bán đời là thế
Đạo nghĩa nhân gian, thuận lý đùa!

Lương tâm ai bán, vả ai mua?
Làm sao đo đếm chuyện thiếu thừa
Đạo lý nào đây! Ai nẩy mực?
Thôi đành chấp nhận chuyện hơn thua!

Lương tâm ai bán, dẫu ai mua!
Cũng vậy mà thôi chẳng thiếu thừa
Kẻ bán, người mua đều võ đoán
Tin rằng nắm chắc được không thua

Chợ trời náo nhiệt chuyện bán mua
Người mua, kẻ bán cứ cò cưa
Bớt một thêm hai cho vừa ý!
Hả hê đôi ngả thỏa lòng ưa!

Vốn chẳng thiếu thừa!...

Nguyên Khang
*- Hai câu thơ mượn của tác giả T.H

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2017

Cạn Nguồn Thơ



Đã lâu quá không làm thơ, soạn nhạc
Muốn viết văn mà chẳng biết viết gì!
Muốn on-line nhưng chẳng thấy ích chi
Bạn bè chắc không có ai còn thức!

Ta ngồi đó ngẫm chuyện đời hư thực
Có lúc buồn mà cũng có lúc vui
Nếu làm thơ chắc thơ sẽ ngậm ngùi
Nếu viết nhạc, nhạc sẽ buồn sẽ tủi!

Đêm dần xuống cầm bút ngồi cả buổi
Nhớ ngày xưa văn, thơ, nhạc ngập tràn
Kỷ niệm nhiều, tình nghệ sĩ chứa chan
Giờ lạ quá, sao nguồn thơ đã cạn!

Thơ khó viết hay tâm hồn nổi loạn?
Sắp vài câu, ghép vài chữ cho vần
Chỉ thế thôi mà lòng lại bâng khuâng
Ngồi cắn bút không tìm ra một chữ!

Tự an ủi, thơ chỉ là ngôn ngữ
Mà ngữ ngôn đâu cần viết thành lời
Còn nụ cười, còn tiếng nói đầy vơi
Còn kỷ niệm và tấm lòng... cũng đủ!

Không có thơ, chắc mơ nhiều trong giấc ngủ!

Hà Nguyễn

Không Em



Bài Xướng: Không Em

Nửa khuya lóng ngóng hiên nhà
Mưa vầy gió dập, biết là không em
Mơ còn dáo dác vô biên
Hai bờ hư thực chảy biền biệt xa

Hồn trơ vơ nhánh,tàn hoa
Cỗi cằn đá sỏi,mặn mà với ai
Sao hôm côi cút đợi mai
Ngày không đón thắm,rộng dài hoang vu

Chiều lồng lộng gió,sương mù
Tường rêu quạnh lá vàng thu lay cành
Sầu ơi,em biệt xa anh
Lũng tình lặng thẳm im thành vô ngôn

Xuân xưa diễm tuyệt, không còn
Hàn liêu thu úa,ngất buồn không em

Lý Đức Quỳnh
***
Các Bài Họa:

Mùa Xưa

Mưa xao ngọn trúc bên nhà
Tưởng thu quạnh quẽ lơ là dáng em!
Chân trời mờ nhạt đường biên
Nhớ thời lãng tử bưng biền nào xa

Lỡ thương trọn kiếp hồng hoa
Chao ôi , sóng mắt mượt mà tim ai?
Tóc thề hong nắng buổi mai
Vòng tay ôm gọn cơn dài mộng du


Đầu hôm chiều xuống sa mù
Lá ngoan uống giọt mưa thu mát cành
Đêm nào hoen lệ tiễn anh
Gã yêu đầu biến đời thành ngụ ngôn


Tình xưa ấp ủ mãi còn
Người sầu , kỷ niệm ru buồn đó em!


Hoành Châu
26.10.2017

***
Đêm Nhớ


Trăng khuya tỏa lộng sân nhà
Ba chìm bảy nổi thật là thiếu em
Nghe đêm dạ nhớ không biên
Nửa hư nửa thực trôi miền bến xa

Cô sầu sương thấm ngàn hoa
Bao thu lá rụng thương hoài bóng ai
Đêm nghe thấm lạnh bờ vai
Ngàn dâu lặng lẽ gió dài vi vu

Ngồi nhìn gió thả mây mù
Mưa rơi giọt nặng hoang vu lá cành
Thôi chừ còn đó riêng anh
Dặm chim tăm cá người đành biệt ngôn

Ân tình nghĩa thắm đâu còn
Lòng riêng úa mộng mỏi mòn vắng em


Hương Thềm Mây
(GM.Nguyễn Đình Diệm)

***

Vắng Em

Vào ra lặng lẽ quanh nhà
Buồn hiu lạnh lẽo biết là vắng em
Thênh thang trống trải nội biên
Mơ màng hiu quạnh lạc biền cõi xa

Nỗi buồn trải xuống ngàn hoa
Nhớ ơi là nhớ sao mà nhớ ai!!
Thiếu em quạnh vắng hôm mai
Đời thêm tẻ nhạt kiếp dài nỗi vu.

Những chiều lạnh lẽo mây mù
Vắng em đời tựa lá thu lìa cành
Vắng em vô nghĩa đời anh
Vắng em anh sẽ biến thành độc ngôn

Vắng em hạnh phúc không còn
Vắng em đời sẽ ủ buồn, đó em...


Tha Nhân
Oct 26, 2017
***
Em Đi

Trăng rơi ngọn Trúc sân nhà
Thờ ơ chẳng ngắm vì là thiếu em
Đêm dài tưởng nhớ không biên
Tìm đâu dáng lụa nét hiền mơ xa

Nhìn theo mấy cánh đài hoa
Sắc hương còn thắm mặn mà như ai
Trông chờ nắng ấm ngày mai
Tìm bao hy vọng mộng dài êm ru

Đời như trải lối mây mù
Lá vàng đành hẹn tình thu lìa cành
Em đi chẳng luyến gì anh
Bóng chim tăm cá đã thành lặng ngôn


Dấu xưa hạnh phúc vẫn còn
Anh ngồi nếm đắng điệu buồn đó em


Minh Thuý
Tháng 10_2017

***
Không Anh

Đêm thâu quạnh quẽ vườn nhà
Soi trăng tìm bóng dẫu là mình em
Thương  người dầm dãi ngoài biên
Dặm trường cách trở tận biền rừng xa

Thời loạn phủ lấy đời hoa
Còn đâu dáng ngọc mượt  mà như ai
Hết thời xanh mướt tóc mai
Canh tàn gối chiếc đêm dài mộng du

Ai đi vào chốt mịt mù
Người ở như lá úa thu viú cành
Trần gian vô nghĩa không anh
Thơ lòng huyết lệ tuôn thành bất tngôn

Anh người lính chiến mãi còn
Là vì Sao Sáng xóa buồn đời em!

Kim Oanh
***
Bài cảm tác:
Cây Mùa Đông

Sương đon đả xuống sân nhà
Mùa hắt hiu bủa chắc là đó em
TÙNG sừng sững tọa ngoài biên
Khói bươn quạnh quẽ ôm biền bãi xa

Gió hôn sàm sỡ đài hoa
Bởi đông bắc phất nhạt nhòa trần ai
Hạo phong cốt cách hoàng MAI
Ươm tinh anh giấu những ngày tiễn thu

Tiêu dao giữa cõi sa mù
Tinh thần lẫm liệt giỡn bờ tử sanh
Bên TRÚC đằm thắm vô tranh
Lạnh lùng khoác áo mặc cành lộng ngôn

Nụ ươm chờ ngọn đông phong
Trồng bình an xuống cội nguồn là em


Như Thị
***
Không Anh

Mưa đêm hiu hắt hiên nhà
Gió lùa qua cửa xót xa nhớ người
Mộng đời theo áng mây trôi
Phương trời vô định lẻ loi phận nầy.

Giọt rơi tí tách buồn lây
Cỏ cây héo úa lạnh đầy tuyết sương
Bóng sầu đối bóng canh trường
Không anh trơ trọi thê lương tháng ngày

Buồn lên ngọn cỏ chân mây
Thu tàn hiu quạnh lắt lay lá vàng
Rơi từ phương ấy bay sang
Cho em nhặt lá đếm ngàn nhớ nhung.

Cho em quay quắt khôn cùng
Phía không anh với muôn trùng tiếc thương
Chờ người chờ đến cuối đường
Bến mơ hạnh phúc, vô thường hỡi anh!


Ngọc Quyên
***
Vắng Anh, Ai Buồn Hơn Ai?


Đêm khuya trăng sáng quanh nhà
Nhìn kia chiếc bóng...chỉ là bóng em !
Ánh trăng dằn dặt bên thềm
Mà anh giờ đã ở miền xứ xa

Vì sao tan tác đời hoa ??
Giờ đây khô héo,ai mà buồn ai ???
Xuân nầy cằn cỗi cội MAI
Thời gian làm nhạt tháng ngày phiêu du

Ngày xum hợp thấy mịt mù
Nhụy MAI giờ đã mấy Thu xa cành ?
Buồn ơi ! anh biết không anh
Nỗi sầu hằn vết đã thành vô ngôn

Niềm vui thuở trước đâu còn
Cô đơn gối lạnh héo mòn thân em !
Một mình tựa cửa bên rèm
Nhớ về phương ấy,chợt thèm môi hôn!


Song MAI Lý Lệ
27//10/2017