Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

Gửi Đêm


Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để se sợi nhớ thắt thêm dài

Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải

Để ríu cười buồn thêm mắt ai


Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để líu ríu đêm tiếng thở dài

Để ngân ngấn lệ đêm trống trải

Để nhói đêm dài một dáng ai!


Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023

Đặng Xuân Xuyến


Mảnh Vụn Ký Ức

Thời gian đã bào mòn trong kỷ niệm
Ký ức bị bom thủng lỗ thật to
Làm sao cầm được trái tim rướm máu
Giữa ao đời, chèo thuyền vớt âu lo.

Dựa vào em ta tìm nguồn an ủi
Chạm môi tình mùi vị chát hương nho
Say một chút cho đời thêm hưng phấn
Trên đỉnh phù vân, ngôn ngữ vào thơ.
  

Tế Luân


Bông Hồng Cho Ngoại


(Thành kính tưởng nhớ về Ngoại của con. Th.H)

Có hai người phụ nữ mà tôi tôn thờ yêu thương nhớ nhung nhất, đó là bà ngoại và má của tôi .

Tôn thờ bởi sự hy sinh quên mình, tận tụy vô bờ cho chồng, con, cháu của hai người. Bởi không cần những hoa ngôn mỹ từ sáo rỗng mà chỉ bằng cách đối nhân xử thế, bằng hành động cử chỉ giản đơn thể hiện đức tính hiền lương cao đẹp của ngoại của má đã là cách dạy-làm-người cho chị em tôi từ khi còn nhỏ dại, là tấm gương soi chiếu dẫn dắt chị em tôi trên con đường đời thăng trầm sướng khổ một cách hữu hiệu hơn các bài học luân lý nào.

Yêu thương nhớ nhung, bởi trên cõi tạm nầy chúng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại hai người nữa. Tôi đã có dịp nói về má hồi năm vừa qua, lần này nhân Mother’s Day tôi thành kính dâng chút hương lòng viết về bà ngoại.

Bà ngoại ra đi đã ba mươi năm.

Ba mươi năm, hơn một phần tư thế kỷ, gần mười một ngàn ngày. Vừa quá dài mà cũng vừa quá ngắn. Quá dài là tính theo thước đo thời gian, nhưng quá ngắn bởi hình ảnh ngoại vẫn còn sống động rõ nét trong tôi mà dòng đời xuôi ngược không thể xóa mờ đi được. Tôi vẫn còn“nghe”văng vẳng bên tai giọng nói nhẹ nhàng của ngoại. Tôi vẫn còn“thấy”từng nếp nhăn trên gương mặt ngoại, mắt mũi miệng thế nào. Thấy dáng lưng còng đi đứng liêu xiêu phải dựa vào cây gậy. Thấy mái tóc lơ thơ bạc trắng được má chải mỗi buổi sáng rồi búi thành búi nho nhỏ gọn gàng (lúc ngoại ngã bịnh không còn tự chăm sóc được nữa).

Quay ngược thời gian trở về thời ông bà cố ngoại, những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Chúng tôi thường nghe ngoại và má nhắc về ông bà cố với bao trìu mến thương yêu mà nhiều năm rồi tôi vẫn còn mường tượng ra được khung cảnh thanh bình của thời xưa y như trong cổ tích .

Má kể rằng thời má còn con nít, xóm chỉ có khoảng hai chục gia đình toàn bà con với nhau rất đoàn kết gắn bó. Gần như tất cả sống về nghề nông, mỗi năm chỉ cần làm một mùa đã đủ gạo ăn cho mùa tới. Thời ấy chưa có nhà máy xay nên phải giã gạo bằng cối. Ban ngày ai đi đâu làm gì thì làm, nhưng tối đến là cả xóm tụ tập lại nhà ông bà cố.

Tôi chắc rằng ông bà cố tôi là những người hiền từ nhân đức, hiếu khách cởi mở đối với họ hàng nên mọi người mới chọn nhà ông bà cố làm nơi hội họp vui chơi. Và trong nhà thì thương con cháu hết mực nên ba, bốn thế hệ gom tụ thành đại gia đình đề huề. Cách sống đó được lưu truyền cho đời con cháu chúng tôi đến tận bây giờ.

Những đêm trăng sáng mọi người bắt ghế hoặc trải chiếu ra ngoài sân người thì uống trà đàm đạo, chơi cờ tướng, kẻ lo giã gạo, trẻ con chơi trốn tìm hay nhảy nhót lò cò. Đêm không trăng thì vào nhà đốt đèn bằng mỡ heo xúm nhau nghe má đọc truyện Hai Bà Trưng Bà Triệu, truyện Kiều , Lục Vân Tiên, Tam Quốc Chí..v..v.. Thời ấy cả xóm số người biết chữ đếm không hết một bàn tay, duy má tôi là con gái cưng độc nhất của ông bà ngoại nên được đến trường. Má tuy là con gái mới suýt soát 9,10 tuổi nhưng rất lanh lợi thông minh. Biết chơi cờ tướng, biết dạy chữ cho các người lớn, là thủ lãnh của bầy con nít trai gái mà theo vai vế phải kêu bằng cậu bằng dì nhưng họ bị má tôi mầy tao mi tớ tuốt luốt. Vì là con nít nên không ai la rầy gì, vài năm sau mới chững chạc gọi theo tôn ti trật tự.

Thời ấy người ta sống bằng tình nghĩa chứ không vì vật chất tiền bạc. Mỗi mùa ruộng hay người nào có lợp nhà, cất nhà thì cả xóm xúm lại tiếp xoay vòng. Đến phiên nhà khác cũng vậy,, chỉ thuê mướn một, hai thợ chính. Chỉ khi nào mọi người cùng gieo, cấy, gặt trùng ngày thì mới phải thuê người Cam Bốt ở xóm trên đến phụ .

Ông bà cố có bốn người con gái, bà ngoại tôi là con thứ nhì .

Nghe người cùng thời với ngoại kể rằng lúc còn xuân xanh, ngoại là cô gái xinh xắn siêng năng khoẻ mạnh nhất nhì trong làng kể cả các làng lân cận. Thật vậy. Khi tôi bắt đầu biết nhận thức, tôi thấy về mức độ tham công tiếc việc thì không ai qua nổi ngoại. Xong mùa ruộng thì ngoại xách cần câu đi câu cá dọc theo sông hay hái rau muống đem xuống chợ bỏ mối kiếm thêm tiền quà cho đám cháu. Nếu không lặn lội bên ngoài thì ngoại cặm cụi trong bếp làm bánh trái cho cả nhà thưởng thức. Nhờ theo phụ ngoại mà sau nầy tôi học được vài món bánh cổ truyền. Nhưng tài gói bánh tét hay kho cá thì đố ai qua hơn ngoại. Viết tới đây mà tôi còn“ngửi” được mùi thơm của nồi cá rô, cá lòng tong kho tiêu với tỏi hành tóp mỡ…. (ừm.. tôi đang nuốt nước miếng nè)

Nhớ có lần vào mùa lúa chín, thời ấy chưa có máy tuốt lúa. Gặt xong phải bó thành từng bó lớn vừa sức người để đập cho từng hạt rơi ra trên tấm ván dầy 1 tấc, dài 1,2m một đầu dựng trên hai thanh gỗ, đầu kia nghiêng xuống đất 45 độ. Ngoại thuê vài thanh niên người Cam Bốt ở xóm So Đũa đến phụ.

Tôi cũng tập tành ra đồng. Công việc của tôi chỉ là giũ rơm để gom những hạt lúa còn sót lại trong bó rơm mà các anh ấy quẳng ra. Thời gian nầy do thời cuộc chị em tôi không được tiếp tục học nữa. Không quen lao động chân tay mà cả ngày cứ đứng lên cúi xuống nhiều lần để nhặt rơm giũ rơm quăng rơm chất thành đống khiến hai cánh tay và lưng tôi mỏi mệt đứ đừ mồ hôi tuôn chảy mặt mũi đỏ au vì nắng táp. Một thanh niên đứng đập lúa bên cạnh có lẽ đã quan sát tôi từ sáng sớm đến gần xế cầm lòng không đậu thốt lên :

—Trời ơi cô ơi, tui thấy cô không làm ruộng được đâu, nên về đi học lại hay kiếm việc văn phòng mà làm đi. Cô làm thua xa bà ngoại của cô rồi, không thể sống bằng nghề nầy vì không ai thuê mướn cô đâu, làm chậm quá chả bù với bà ngoại cô lúc trẻ!!

Rồi anh ấy tiếp tục kể lể là gia đình anh làm công cho gia đình tôi đến phiên anh là ba đời rồi nên anh biết rành lắm. Ông của anh khen bà ngoại tôi là giỏi nhất vùng, có thể vác nổi bao lúa 50 ký nhẹ nhàng không thua gì cánh thanh niên. Vừa giỏi vừa duyên dáng nên trai làng mơ ước mà không ai dám ngỏ lời vì sợ bị từ chối. A, nhờ thế nên ông ngoại tôi là người ở xứ xa mới cưới được bà ngoại tôi đây mà .

Nghe anh nhận xét bằng lời lẽ chất phát như thế khiến tôi vừa hãnh diện và thương ông bà ngoại vô biên. Đồng thời cũng vừa buồn cười lẫn chua xót cho số phận chị em chúng tôi quá. Nói thầm: Anh ơi, giá mà chúng tôi được tiếp tục đến giảng đường nhỉ.Tôi chỉ ra đồng có một buổi mà đã mệt

nhoài trong khi ngoại vất vả lam lũ mà không bao giờ nghe than thở kêu ca. Chả lẽ chị em tôi từ đây về sau phải làm nghề nông hết kiếp, ngay cả muốn tìm chân“ở đợ”chắc cũng không ai thuê mướn vì chậm chạp, dở dang quá như lời anh người Cam Bốt ấy nhận xét .

Càng nghĩ càng thương ngoại. Mỗi mùa lúa tôi tiếp ngoại có một, hai ngày mang cơm trưa cho người đến phụ hoặc giũ rơm thế mà đã bở hơi tai trong khi ông bà ngoại quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà chả nghe ngoại than mệt gì.

Vì ai mà ngoại phải làm quần quật nếu không phải vì sáu chị em tôi? Nếu như má không phải là con gái cưng độc nhất của ngoại và vì thương con nên thương yêu cưu mang luôn đàn con của con mình .

Nếu như ba tôi đừng phải là một công chức quá đổi thanh liêm trong sạch thì với vị trí và chức vụ ba đảm nhiệm, đã dư sức bảo bọc cả đại gia đình sống đời dư dả.

Nếu như má tôi là người vợ tham tiền, thích một bước lên xe hai bước kẻ hầu người hạ thì ông bà ngoại cũng thong dong với câu kinh tiếng kệ, nhẩn nha thăm viếng bà con họ hàng chứ đâu đầu tắt mặt tối như vậy.

Nếu lũ con gái chúng tôi đừng nuôi mộng học hành xa nhà tốn kém, chỉ cần có cái bằng tú tài rồi đi làm cô giáo hay tiểu công chức hay “theo chồng về dinh” lúc 17, 18 tuổi thì cuộc sống ngoại đã thảnh thơi an nhàn, sung túc nữa là khác.

Con nhớ ngoại quá ngoại ơi!!

Lúc còn bé những buổi trưa hay tối chúng tôi chơi trốn tìm, thích trốn trong phòng riêng của ngoại nên nhớ rõ chiếc rương bằng da tí hon đựng quần áo mới được đặt trong giường cạnh ngoại. Mặc dù ông bà ngoại chỉ là nông dân nhưng nhờ chịu thương chịu khó tiết kiệm nên nhà ngoại khang trang rộng rãi so với thời ấy khá nhất làng. Chẳng lạ người trong xóm lấy nhà tôi làm tụ điểm vui chơi.

Nhà toàn bằng gỗ tốt dựng sàn nên người ta gọi ông ngoại tôi là Ông Ba Nhà Sàn. Bà ngoại có phòng ngủ riêng thanh lịch, dù bình thường ngoại ăn mặc giản dị, quần áo bà ba đen hoặc trắng đôi khi bạc màu. Trong cái rương nhỏ, ngoại cất giữ vài bộ đồ bằng lãnh Mỹ A láng bóng và hai cái áo dài: một đen một trắng bằng the, cánh tay đăng ten rất đẹp chỉ mặc khi đi xa hay trong dịp đặc biệt. Ngày xưa người phụ nữ miền Nam dù nghèo dù vất vả cỡ nào, nhưng khi lễ hội hay cưới hỏi luôn luôn mặc áo dài. Nhất là những phụ nữ xứ Huế, xứ Quảng…luôn mặc quốc phục trong lúc buôn gánh bán bưng, thật đáng kính nể làm sao .

Người ơi , còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
Người ơi , còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao….
…. Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha …
( Hương Xưa , Cung Tiến )

Có năm nọ đoàn cải lương Dạ Lý Hương về Kiên Giang trình diễn. Hồi nhỏ, cải lương là loại văn nghệ ưa thích của mọi người già trẻ lớn bé.(Chúng tôi cũng không ngoại lệ, chỉ sau này lớn lên thì chúng tôi mới quay sang thích tân nhạc). Má mua vé cho ngoại dắt mấy chị em đón xe lambretta ra rạp Châu Văn xem. Ngoại mặc áo dài the mỏng hai cánh tay bằng ren thêu, chân mang hài, mấy chị em xúng xính đồ bộ mới tinh. Chúng tôi nao nức vì lần đầu tiên được đi xem nghệ sĩ nổi danh trình diễn, hình như là cô Phượng Liên với ai tôi quên rồi. Cô Phượng Liên mặc áo màu trắng kiểu tiên nữ lưng thắt dải lụa tha thướt, đầu trâm cài lược giắt, đeo đôi hoa tai lấp lánh đung đưa mỗi khi cô cử động múa may nhún người. Dưới ánh đèn sân khấu trông cô đẹp như tiên giáng trần khiến tôi ngơ ngẩn rồi mơ ước sau nầy lớn lên mình cũng thướt tha xinh đẹp như hình ảnh người nghệ sĩ ấy !

Khi đi cũng như khi về, ngoại luôn luôn dang hai cánh tay nhỏ nhắn ôm chị em tôi về phía ngoại như sợ có ai đến bắt cóc đàn cháu vậy .

Lại có lần quận Kiên Thành tổ chức văn nghệ ngoài trời, người khắp tỉnh đến tham dự, ngoại cũng dẫn chị em tôi đi xem. Lúc ấy tôi còn là con nít, nhưng chị hai đã thành thiếu nữ, chị ba chớm trổ mã rồi. Mà nơi chốn đông đúc thì có biết bao“cạm bẫy “của các ông lính, các anh học trò, các thanh niên. Tôi và các em mê mẩn xem ca nhạc hay hài kịch duy bà ngoại thì hầu như không xem chút gì, mà cứ đứng dang hai tay ra ôm các chị em không trọn hết vòng, mặt thì nghiêm nghị ngó chừng chung quanh. Hể có bóng nam nhi nào lảng vảng lại gần là ngoại với con mắt hình viên đạn ngó trừng đến khi họ lỉnh mất mới thôi. Mà ngoại đâu có mạnh mẽ gì cho cam, chỉ cần ai đó xô đẩy nhẹ là đủ ngoại té mất rồi.

Hình ảnh đó khiến tôi liên tưởng đến con gà mái mẹ xù lông xù cánh bảo vệ che chở cho đàn gà con mới nở, thật cảm động làm sao .

Trong mắt của ông bà ba mẹ thì các con dù vóc dáng cao lớn thế nào, dù bao nhiêu tuổi vẫn là trẻ con cần được bảo vệ chăm sóc như hồi thơ dại mà thôi. Ngoại tôi thật sự là hình ảnh của :

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng nước mắt nỉ non (ca dao)

Quê hương là bà mẹ (ngoại) già*
Nghèo, quê, xấu, vụng…vẫn là mẹ (ngoại) ta
Trái tim mẹ (ngoại) vẫn bao la
Đẹp hơn tất cả bài ca trên đời
(Bà Mẹ Quê Hương, thơ Hà Huyền Chi)

*Tôi mạn phép tác giả sửa Mẹ thành Ngoại.

Thuở tôi còn nhỏ có thời gian ba vắng nhà, má thay ba gánh vác việc nuôi con. Một lần theo bạn thử đi buôn chuyến, ngoại thay má chăm sóc chị em tôi. Đêm đêm ngoại kể chuyện cổ tích và hát đồng dao cho chúng tôi nghe. Dù chúng tôi đã thuộc làu những truyện cổ tích, những lời ru …nghe đi nghe lại lần thứ một trăm vẫn thấy thích thú như nghe lần đầu. Truyện Nàng út rẫy dưa, Tấm Cám, Bà Âu Cơ và Ông Lạc Long Quân…, rồi các bài hát:

Dưa hấu là cậu bí ngô
Bí ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột cậu ruột dưa gang
Dưa gang họ hàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu bí ngô….

Cứ thế xoay vòng hát hết đêm vẫn chưa chấm dứt bài. Hoặc:

Con mèo mà trèo cây cao
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo

Lần nào cũng vậy, tôi chìm vào giấc ngủ theo tiếng hát của ngoại đến khi ngoại đánh thức thì đã là bình minh hôm sau để sửa soạn đến trường.

Rồi khi ba chị em tôi lên Saigon tiếp tục theo đuổi việc học. Thời ấy điện thoại chưa thông dụng, mỗi tuần chúng tôi mỗi viết thư về thăm nhà. Ngược lại chị hai (lúc ấy ra làm công chức cùng với ba) cũng trả lời ngần ấy thư. Thật xúc động biết bao khi một hôm chúng tôi nhận được thư chị hai có kèm theo thư của bà ngoại. Nét chữ cong quẹo từ bàn tay chai sạn chỉ quen với ruộng đồng bếp núc nhưng chứa đựng bao yêu thương trìu mến, dặn dò chị em tôi giữ gìn sức khoẻ và chăm sóc lẫn nhau. Ngoại không viết nhiều, vì ông bà ngoại biết chữ đủ để đọc truyện mà thôi. Chỉ vài dòng ngắn ngủi nhưng thể hiện sự nhớ nhung, tình yêu của ngoại dành cho đàn cháu khiến chị em tôi nghẹn ngào bật khóc muốn chạy ngay về nhà để ôm ngoại, để được nghe tiếng ngoại hát đồng dao ru chị em tôi như thuở bé thơ.

Ngoại tuy thể chất gầy yếu nhưng tinh thần mạnh mẽ, quật cường. Ngoại không nói những lời văn chương hoa mỹ, lý luận cao siêu vì ngoại chỉ là một người nông dân chân chất. Ngoại không cần nghiên cứu triết lý Phật giáo nhưng khi gia đình gặp hồi nguy biến, ngoại vượt lên trên mọi thử thách, đón nhận tai ương với lòng an nhiên bình thản của một người thấu đạt cái nghĩa vô thường.

Ông ngoại bình thường thì cứng rắn mạnh mẽ, là đầu tàu ngăn gió che mưa cho đại gia đình nhưng khi chúng tôi bị đuổi ra khỏi nhà một cách oan ức trở thành kẻ vô gia cư thì tinh thần ông bị lay động nhiều nhất. Từ căn chòi cất tạm bợ, ông hay ngồi cạnh cửa sổ hàng giờ nhìn nhóm người quen lẫn lạ ngang nhiên hợm hĩnh ra vào tự do tung hoành trong ngôi nhà thân yêu xây dựng lên từ những chắt chiu nâng niu nửa đời son trẻ. Rồi hai dòng nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo khiến lòng con cháu quặn đau vì cảm được sự u uất, tuyệt vọng, bất lực của ông mà không thể làm gì thay đổi được. Khi ta trẻ thì tương lai còn trước mặt, còn cơ hội tạo dựng lại những gì vuột mất, nhưng khi tuổi đã hoàng hôn thì ý chí cũng bị bào mòn.

Lúc đó bà ngoại với má là người đứng ra an ủi vực ông ngoại dậy, chứng tỏ nghị lực phi thường xứng đáng hậu duệ con cháu hai bà Trưng, bà Triệu . Bà can đảm chấp nhận thảm hoạ, không hề tỏ vẻ tiếc nuối tài sản bị cướp trắng trợn, bà hay nói: Mọi sự trên đời đều không trường tồn, của cải vật chất chỉ là phù du, miễn người còn là phúc đức rồi.

Bà ngoại đã ngộ câu kinh Bát Nhã: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” mà không hề đến chùa nghe Sư thuyết giảng bao giờ .

Rồi đến cái ngày bà ngoại ra đi, bỏ ông ngoại ba má chị em tôi lại trần gian. Lúc chuẩn bị làm lễ di quan, ông ngoại bỗng lảo đảo ngã ra suýt ngất .Dù hiểu thấu đáo đời người gói gọn trong bốn chữ: Thành, Trụ, Hoại, Không (hay Sinh, Trụ, Dị , Diệt) nhưng khi có một người thân yêu lìa xa vĩnh viễn ai lại không u buồn sầu não?

Bà ngoại à, nếu kiếp sau có trở lại thành người, con nguyện cầu cho con được đầu thai vào gia đình y hệt như kiếp nầy. Nghĩa là được làm cháu của đúng ông bà ngoại, làm con của đúng ba má, làm chị em của đúng sáu chị em con đó ngoại ơi.

Thanh Hà

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2025

Kính Mừng Đại Lễ Phật Đản

 

Thơ & Trình Bày: Minh Lương



Lễ Phật Đản



Phật Đản muôn nơi lễ tỏ tường
Phật ban ánh sáng chỉ con đường
Phật đem bác ái truyền am hiểu
Phật dạy hiền từ dẫn cảm thương
Phật pháp hành trì luôn tiếp nhận
Phật kinh tụng niệm mãi ghi thường
Phật tâm nguyện ước rèn tu sửa
Phật Đản chào mừng khắp các phương

Minh Thúy Thành Nội

Tháng 5/ 22/2024
(Rằm Tháng Tư )


Phật Tại Tâm

 

Nguyên thủy con người vốn thiện lương 
Nhưng vì trần thế cõi vô thường 
Bao nhiêu ảo ảnh làm mê muội 
Là bấy bịp lừa tạo nhiễu nhương 
Danh vọng, tham sân gieo độc tố 
Tiền tài, nhan sắc rắc mù sương 
Tham thiền nhập định hồn thanh tịnh 
Phật tánh thăng hoa hiện thực trường 


Lâm Hoài Vũ
Dec 19 , 2023

Nhớ Ơn Phật Đản Sanh

 

Sen Vàng bảy đóa rỡ ràng nơi
Nhập thế hoằng dương Đạo rạng ngời
Tham luyến sân si lòng chẳng khởi
Phụng hành tín thọ chí không lơi
Nhân duyên chớ tạo thường yên ổn
Nghiệp quả càng vơi hẳn tuyệt vời
Đức Phật soi đường về Bát Chánh
Luân hồi sáu nẻo khó mà rơi

TâmThanh KimPhú

Trần Gian Là Cõi Tạm

Sao gọi trần gian là cõi tạm
Trần gian nơi rão bước rong chơi
Võng kẹt ù ơ tiếng mẹ ru hời
Nơi tiếng sáo đánh trâu về xóm nhỏ

Nơi tiếng hò cô lái đò bé nhỏ
Lướt mái chèo khoan nhặt nước trong xanh
Nơi ngọn dừa xanh bếp lửa bập bềnh
Làn khói tỏa mái tranh vách lá

Nhớ buỗi trưa hè cắm cua bắt cá
Tuổi thơ ơi nặng trĩu bên lòng
Nhớ làm sao ruộng lúa dòng sông
Hạt lúa bờ ao nuôi ta khôn lớn

Dẫu trần gian có vô vàn hỗn độn
Vẫn là quê hương kỷ niệm êm đềm
Dưới tàu dừa le lói ánh trăng đêm
Thoáng hơi thở mùi hương dạ lý

Ướp cánh hoa tươi vào trang nhật ký
Ôm mộng đời từ đó nở đơm hoa
Quê hương ơi sao thể xóa nhòa...!
Mang ray rức dậm đường cách trở

Cõi trần gian để thương và để nhớ
Hoa thương yêu nở rộ khắp thế gian
Gỡi đến anh đến chị lượng vô vàn
Bằng con tim rộn ràng tình thân ái...!

Ngư Sĩ

Vũ Đức Giang

(Vũ Đức Giang, trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974) 

          Đây là bài viết về chính là về Vũ Đức Giang, một người bạn thân cùng lớp tại trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21, khóa Quân Y Hiện Dịch (QYHD) cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Cũng thêm vào bài là các chi tiết, tạm gọi là bối cảnh sơ lược, đáng nhắc lại, còn ghi nhận được của từng năm học, liên quan đến cả học trình Y Khoa bảy năm 1967-1974. 
          Tôi thi được vào năm Dự Bị Y Khoa (APM), niên khóa 1967-1968. Lúc đó có biến cố Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, ảnh hưởng mạnh đến mọi người và chúng tôi, tất cả sinh viên, phải học quân sự tức là tham dự chương trình Quân Sự Học Đường (QSHĐ) để có kiến thức phải dùng khi hữu sự. Chính quyền VNCH lúc đó chủ trương QSHĐ để hy vọng khi cần đến, sinh viên dân sự cũng có thể cầm súng chiến đấu như các quân lính chuyên nghiệp. 
 
(Hình chụp 1968 khi Lớp Dự Bị Y Khoa (APM) tham dự chương trình Quân Sự Học Đường.
Hàng đứng còn nhận được từ bên trái có Võ Văn Thành, Bùi Trọng Cường, khoảng giữa có Phan Xuân Tuấn, Dương Thanh Trắc, Nguyễn Kỳ Chân; từ phải có Vũ Dũng, Nguyễn Văn Quốc, Đỗ Danh Toàn, Phạm Anh Dũng.
Hàng ngồi đeo kính đen là Nguyễn Đăng Cung, khoảng giữa có Nguyễn Hữu Nhiệm, cạnh người áp chót bên phải là Trần Trung Hòa.)

          Về học hành chính thức, chúng tôi là sinh viên của trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn và tuy học lớp tại Cơ Thể Học Viện cũ của trường Y Khoa ở đường Trần Hoàng Quân, nhưng thực tập lại ở Khoa Học Đại Học Đường Sài Gòn. 
          Chúng tôi học cả năm như vậy và cuối năm thi lên vào lớp Y Khoa năm thứ Nhất. Kỳ thi cuối năm của lớp APM thật khó khăn. Lớp Dự Bị Y Khoa tổng số có khoảng 380 người, mà chỉ có khoảng 250 người đỗ kỳ thi, được lên lớp. Trong số các bạn thi rớt cuối năm, có khoảng 50 người được “ở lại lớp” vì chỉ có thi trượt thực tập, còn số còn lại bị loại hẳn ra khỏi chương trình APM, vì trượt thi viết. Những bạn không may mắn bị "rớt" lại APM, tôi nhớ có một số rồi cũng tốt nghiệp được Y Khoa, nhưng trễ lại 1 năm như Nguyễn Như Thành, Lê Thành Đấu, Trần Hoàng Long, Nguyễn Võ Khanh...          
          Riêng cá nhân tôi, cả năm chỉ đi học thực tập là những giờ bắt buộc và chả mấy khi đi học ghi bài. Thường tôi chỉ đợi “cua” (bài học ghi lại) của ban Đại Diện lớp in, phát ra là đi lãnh về học. Cuối năm cứ thế mà đi thi và cũng thi đỗ được hết, và được vào năm Y Khoa thứ Nhất. Tôi phải thú nhận thật may mắn, đậu hạng 9 hay 10 gì đó, và nên còn được học bổng của Bộ Y Tế khoảng 10 ngàn đồng Việt Nam, tiền lúc đó.
           Lên năm thứ 1 Y Khoa, vào chính thức học ở trường Y Khoa, thay vì Dự Bị Y Khoa APM do các giáo sư trường Đại Học Khoa Học giảng dạy, cách thi cử đổi khác. Cứ một vài tháng lại có kỳ thi, không Cơ Thể Học, cũng Sinh Hóa Học, rồi Mô Học... Quen tật xấu, tôi cũng chẳng đến trường ghi bài. Vì các kỳ thi gần nhau quá, ban Đại Diện lớp đôi khi không đủ thì giờ in bài kịp cho sinh viên học. Kỳ thi đầu tiên của Cơ Thể Học sắp đến, chỉ còn có vài ngày, tôi vẫn chưa có một số tài liệu do Bác Sĩ  Y Khoa Trần Anh, Thạc Sĩ Nhân Chủng Học, giáo sư chính phụ trách môn Cơ Thể Học, giảng dạy. Không đủ bài vở, tôi đến trường hỏi mượn để chép lại học. Đang vớ vẩn trước cái Đại Giảng Đường to lớn, thì vừa đúng lúc nghỉ giải lao, sinh viên cùng lớp kéo nhau ra khỏi cửa. Là năm đầu tiên học ở trường Y Khoa, ít khi đến trường và lớp, tôi cảm thấy  lạc lõng, nhìn ai cũng xa lạ cả. Tần ngần một lúc khá lâu, gặp một sinh viên khác vừa bước ra sau cùng. Tôi trông anh bạn đeo kính cận thị, có vẻ hiền lành, thành đánh bạo lại làm quen. Rất niềm nở và thông cảm, người bạn chưa quen trước và tốt bụng đó cho tôi địa chỉ nhà, hẹn buổi tối lại cho mượn bài. Đó là lần đầu tiên tôi gặp và quen Vũ Đức Giang.

           Nhà của hai đứa cũng gần nhau, đều ở Đa Kao. Tôi ở đường Tự Đức. Nhà của Giang ở trong một ngõ của đường Phạm Đăng Hưng. Đó là một trong những nhà nhỏ, ngay dưới chân cầu Sắt, chiếc cầu nằm trên đường Nguyễn Văn Giai lối qua Gia Định, vẫn được gọi là "cầu Sắt", vì cầu làm bằng sắt và tôi không biết tên thật của cầu là gì. Đi vào ngõ phía trong sâu chút nữa là nhà của Lê Huy Hòe, cũng là bạn cùng lớp. Nhà của Giang đơn sơ, nhưng sạch sẽ. Giang là con trưởng ở với bố mẹ, một em trai và một em gái. Tôi không nhớ nhiều về bố của Giang vì ông mất sớm, nhưng bà mẹ thì  thật hiền dịu, chiều và thương con, một bà mẹ Việt Nam lý tưởng. Cậu em trai, kém Giang và tôi chỉ một vài tuổi nhưng rất kính trọng, lễ phép với anh và bạn của anh. Cô em gái Giang ngọt ngào, giản dị và dễ mến.
           Ngay buổi tối đầu tiên, Giang đã hơi làm lạ khi thấy tôi rủ đi uống cà phê nghe nhạc và tôi cũng hơi ngạc nhiên khi thấy bạn nhận lời ngay. Sau đó hai đứa mới khám phá ra là người bạn mới tuy có nhiều điểm khác mình, nhưng cũng có cùng một sở thích là âm nhạc. Giang học rất chăm và khá đều, còn tôi, thú thật, hơi... làm biếng, chỉ bắt đầu học lúc sắp thi. Là cầu thủ bóng tròn loại khá, lúc nào Giang cũng có mặt trong những lúc tranh giải túc cầu của lớp Y Khoa, trong khi tôi chỉ biết xem đá bóng và biết cổ vũ, hò hét, hoan hô. Tính của Giang trầm lặng, ít nói và tôi, ngày đó, sôi nổi hơn. Giang thích và hay ôm đàn guitar dạo, nhưng cũng như tôi, vì chính yếu chỉ tự học, nên không khá lắm. Giang đập trống thì khá hơn một chút. Về trình diễn âm nhạc, Giang đủ sức tham dự  những buổi văn nghệ tất niên tài tử trong lớp. Giang rất thích nghe nhạc, loại nhạc như nhạc Tiền Chiến, Tình Ca Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên (học cùng thời với Giang, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng, Võ Tá Hân... ở trường Trung Học Nguyễn Trãi)... Vũ Đức Giang kể chuyện "hồi APM" lúc học Quân Sự Học Đường, hay đi hát đàn với hai bạn cùng lớp là Vương Đức Hậu và Nguyễn Minh Huấn. Có khi họ còn "chở ba" trên xe gắn máy và người nào ngồi giữa thì cầm cái đàn guitar. Nghe kể như vậy, tôi thấy người bạn mới của mình tính tình thật là "văn nghệ" rồi! Còn cá nhân tôi, mê đàn hát từ những ngày còn bé. Cả hai đứa vì không có "điều kiện" nên đều chưa bao giờ được học nhạc chính thức, từ thầy hay từ trường lớp, càng làm cho hai đứa hiểu nhau, gần nhau, rồi dần dần thân nhau nhiều. 

          Giang và tôi từ đó rủ nhau, ít nhất một tuần một lần, đi quán để uống cà phê, để hút thuốc lá, nói chuyện và nghe nhạc. Hai quán cà phê chúng tôi thường đến là quán Hân và Ly Tao. Cả hai quán đều có những nhạc thật hay. 
           Quán Hân ở đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, trước cửa là hiệu phở Hoàn Kiếm, ngay gần nhà. Con gái chủ quán, thỉnh thoảng ra quầy thu tiền, là một cô gái xinh xinh, ngày đó, có một thời gian ngắn cũng đã là "cô em nhỏ" của Vũ Quốc Phong, một bạn cùng lớp Y Khoa. Đây là nơi chúng tôi được nghe những băng nhạc hiếm, có Duy Trác đằm thắm ấm áp hát "Thuở Ban Đầu" (Phạm Đình Chương), Anh Ngọc điêu luyện với "Mắt Biếc" (Cung Tiến), Mai Hương thiết tha "Giấc Mơ Hồi Hương" (Vũ Thành), Châu Hà hát "Suối Tóc" (Văn Phụng) êm như mơ... 
          Quán Ly Tao gần nhà tù Chí Hoà. Chủ quán, ca sĩ Ngọc Long, là một người cao lớn. Quán có người hầu bàn cũng là con gái nhỏ nhắn của anh Ngọc Long. Cô bé gọi chúng tôi là chú xưng cháu, làm không khí ấm cúng và tự nhiên. Ở đây, Giang thường yêu cầu một băng nhạc rồi thẫn thờ, mê mẩn nghe bài "Chiều Mơ" của Vũ Đức Sao Biển do Ngọc Long hát:

               "Chiều mơ anh sẽ về từ đèo cao hút gió, có hoa xưa chờ người xưa đó. 
                Chiều mơ anh thấy em buông tóc bên trời, buồn một mình trên tuổi xuân phai. 
               Chiều mơ anh cầm đàn về bờ xưa suối biếc, hát em nghe ngàn lời thương tiếc...". 

           Tôi thấy bạn rất có lý, Ngọc Long ít khi hát, có giọng thật trầm, thật "đầy", và hát bản này quả có một không hai. Vũ Đức Sao Biển nổi tiếng với  bài "Thu Hát Cho Người"  do Anh Ngọc hát thật hay, nhưng theo ý riêng của Giang "Chiều Mơ" tuyệt diệu hơn và lúc đó không được ai khác ngoài Ngọc Long trình bày, tuy sau này có Mai Hương hát ở Hải Ngoại. 
          Đúng như cảm nghĩ ban đầu khi gặp gỡ, Vũ Đức Giang rất tốt với bạn bè. Bản tính rất hiền, và nhiều khi ngây thơ như một cô gái nhỏ. Giang hiền lành, hầu như không biết giận ai, thành hay bị tôi và các bạn thân khác trong cùng lớp Y Khoa như Quách Anh Dương, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Tiến Dũng... "bắt nạt" thường xuyên và Giang thường chỉ phản ứng bằng một nụ cười nhẹ nhàng. Tính Giang rất nhạy cảm, và thỉnh thoảng bị tôi trêu, vì Giang có thể dưng dưng "mau nước mắt" khi có chuyện gì cảm động, ngay cả chỉ lúc nghe những bản nhạc đầy tình cảm mạnh như "Bà Mẹ Gio Linh" (Phạm Duy) do Thái Thanh hát. Giao thiệp với Giang khá lâu tôi mới biết thêm về con người của bạn. Tuy hiền lành, thích chiều bạn, hay nhịn người khác nhưng một khi đã  tin vào chuyện gì thì không có khi nào thay đổi ý kiến, nếu không có những sự kiện vững chắc chứng minh khác đi. 
          Năm thứ 1 Y Khoa của chúng tôi đánh dấu bằng một chuyện đau lòng. Tháng Ba 1969, Giáo Sư Thạc Sĩ Trần Anh, một bác sĩ rất giỏi, đang đảm nhiệm chức Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn ngoài chức Trưởng Khu Cơ Thể Học Viện của Đại Học Y Khoa, bị ám sát, bắn chết bằng súng lục, trong khi sau giờ làm việc, ông đi bộ từ trường Y Khoa về nhà, gần Đại Học Xá Minh Mạng. Vì  ông là giáo sư chính hướng dẫn cho Y Khoa 1, đám tang của thầy, chúng tôi thay nhau "đứng gác" quan tài. Phải nói, tất cả chúng tôi và nhất là Vũ Đức Giang bị xuống tinh thần khá lâu, vì cái chết của người thầy đáng kính trọng. Giang tính tình nhậy cảm buồn đến cả tháng mới nguôi. Mãi sau 1 thời gian giáo sư Bác Sĩ Thạc Sĩ Nguyễn Hữu từ Pháp về, đứng ra lãnh trách nhiệm dẫn dắt sinh viên Y Khoa 1 môn Cơ Thể Học. 
           Sau khi thi đỗ lên năm Y Khoa 2, một buổi tối hơi lành lạnh, khí hậu hiếm thấy ở Sàigòn, hai đứa khi "ngồi" quán Hân  nhìn khói thuốc bay lững lờ, ngắm từng giọt cà phê phin đen chảy và nghe nhạc,  Giang đột nhiên cho tôi biết quyết định nộp đơn thi vào QY (Quân Y) và rủ tôi cùng theo. Giang nói cho tôi nghe về ước muốn trở thành y sĩ nhảy dù. Bình thường, Giang chỉ nhỏ nhẹ, nhưng lúc đó nhìn và nghe Giang, thấy nó thật cương quyết. Tôi đồng ý ngay, không chần chừ, nhưng theo tôi binh chủng nào cũng được. Về sau kéo thêm được Vũ Quốc Phong, Nguyễn Minh Huấn, Đoàn Trung Bửu... cũng thi đỗ và gia nhập Quân Y. Khoảng thời gian đó vừa sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa miền Nam vừa chiến thắng một cách dũng cảm và tinh thần thanh niên đang được kích thích sôi động.

         Cuộc đời Quân Y có những điều thật bất ngờ. Chúng tôi cứ nghĩ  Sĩ Quan Quân Y sẽ gian khổ khi ra trường lúc chiến đấu, còn lúc là Sinh Viên Quân Y thì chỉ tập tành quân sự chút ít mỗi mùa Hè, và trong năm thì giờ dành cho việc học. Một buổi trưa nắng và gió tháng Giêng 1970 sau khi làm thủ tục được phát quần áo, giày "bốt đờ sô"... tôi và Giang chở nhau vào trường Quân Y ở đường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn bằng chiếc xe gắn máy "Honda dame" của tôi để tham dự Tám Tuần Lễ Huấn Nhục. Hai đứa khệ nệ khiêng mỗi đứa một bị to. Ngoài những đồ đạc nhà binh lỉnh kỉnh như "bi đông", xẻng xúc đất, "gào mên"...  còn nặng đầy sách vở, tưởng sẽ vào đó ngồi học bài ngay! Ba ông anh huynh trưởng sinh viên quân y do Sinh Viên Quân Y năm thứ 6 Tô Phạm Liệu chỉ huy đã đợi sẵn ở cổng vào. Không thấy đàn anh nào cười đón mừng cả! "Ông" nào trông cũng nghiêm và khó quá. Mấy chục tân sinh viên Quân Y, mới nhập ngũ, là những sinh viên Y Khoa 2 lớp chúng tôi, lớp Y Khoa 1 như Lê Quang Minh, Phạm Quang Tố, Ngô Hoàng Lâm, Lê Thành Đấu...), sinh viên Dược như Mai Gia Thược (Thược về sau tự tử trong trại Cải Tạo), Phạm Đức Thụy... và sinh viên Nha. Vũ Quốc Phong có giọng nói to, hoạt bát và có dáng điệu chững chạc nhất được cử làm Tân Sinh Viên Đại Đội Trưởng cho Đại Đội Tân Sinh Viên Quân Y. Ngay sau đó, đám tân sinh viên Quân Y chúng tôi được lệnh ôm gói hành trang nặng trĩu chạy chung quanh Vũ Đình Trường của trường Quân Y, theo ba ông đàn anh cho đến khi gần... xỉu. Thật là bất ngờ!

 
(Hình chụp tháng Giêng 1970.  
SVQY Tô Phạm Liệu, người mặc quân phục, đứng đối diện các các Tân SVQY đa số mặc thường phục, đến trình diện nhập ngũ ở Trường Quân Y. 
Từ phải qua trái của hàng đầu tiên, còn nhận ra được là Tân SVQY Châu Văn Còn, Lê Quang Minh, Ngô Hoàng Lâm, Trần Ngọc Thạch. Sau lưng Châu Văn Còn là Lê Thành Đấu.
SVQY Ngô Thế Khanh mặc quân phục, đứng ở bìa trái của hình)

             Rồi cứ như vậy mỗi ngày, các đàn anh sinh viên quân y như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn, Phạm Đặng Long Cơ, Nguyễn Ngọc Ấn, Ngô Thế Khanh... lần lượt thay phiên nhau cho các đàn em mới "nếm mùi" Quân Đội. Khi còn là sinh viên dân sự, tôi đã từng đi học quân sự ở Quang Trung hai lần và Thủ Đức một lần nhưng không thấy chỗ nào có thể gian lao như là tám tuần lễ huấn nhục ở trường Quân Y. Những khóa huấn nhục quân y trong những năm trước chỉ có 6 tuần và khóa của chúng tôi lại kéo dài đến 8 tuần. Theo các đàn anh cho biết thì những năm trước cũng có thời gian huấn nhục nhưng vì "thông cảm" là cùng với quân sự, các đàn em vẫn phải "học chữ" ở các trường Y Nha Dược. Khóa của tôi thì đặc biệt sao đó, có nhiều đàn anh Quân Y có lý tưởng mạnh và nhiệt thành do đó muốn huấn luyện chúng tôi thành những sĩ quan nòng cốt cho ngành Quân Y trong tương lai. Dù muốn hay không, Trường Quân Y cũng là một trong những trường Sĩ Quan Hiện Dịch khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị... Tân Sinh Viên Quân Y  ngoài sự huấn nhục thể xác và tinh thần ở trường Quân Y, chắc chắn không thể so với trường chuyên nghiệp quân sự Võ Bị Đà Lạt nhưng chúng tôi còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự là vẫn phải đi học, học bài rất nhiều của các ngành Y Dược Nha. Và nếu không thi đỗ, thì bị ở lại lớp hay có khi "ra trường sớm" (sortie latérale) tức là bị loại khỏi trường Y Khoa, nếu thi trượt hai lần. Nhất là ngày đó chúng tôi Y Khoa Hai có môn Ký Sinh Trùng Học do Giáo Sư Bác Sĩ Đỗ Thị Nhuận tuy rất tận tâm nhưng cũng nổi tiếng rất nghiêm khắc, trong việc học hành, thi cử của sinh viên và có lúc thẳng tay "đánh rớt" những người không đủ điểm.

          Trong số các đàn anh có ba người khó tính nhất cùng ở một toán huynh trưởng huấn luyện là anh Cảnh, Đức và Ấn (anh Nguyễn Ngọc Ấn khóa 18 Quân Y Hiện Dịch, sau đi Biệt Động Quân, tác giả bài "7 Ngày Ở Quảng Trị" viết về chuyện bị bắt làm tù binh ở trận Hạ Lào, khi bị đưa ra Bắc, và mãi sau mới được hoán chuyển tù binh về lại được miền Nam). Ba ông này huấn nhục chúng tôi theo đúng nghĩa huấn nhục, ngay từ buổi đầu tiên với các hình phạt nặng, vì những lý do đôi khi thật là vô lý. Vì không được chuẩn bị tinh thần nên các đàn em rất ngạc nhiên và có thể nói là bất mãn. Một buổi chiều, như thường lệ, ba ông đàn anh đem cả Đại Đội Tân Sinh Viên ra phạt tới tấp vì một cái lỗi rất là nhỏ, tôi không nhớ rõ và hành xác đàn em khoảng một tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang. Đoán biết có sự bất mãn, anh Cảnh trước khi giải tán đại đôi, tuyên bố sẽ tập họp lại buổi tối và nói rõ ràng nếu có ai không bằng lòng thì lúc đó cho biết để các đàn anh sẽ cho phép "rời khỏi Quân Đội". Giang, vài bạn nữa và tôi có họp lại bàn chuyện này. Mấy ông đàn anh thì cũng dự định "dọa già" các em thôi. Các ông em ngây thơ, tin thật và hẹn nhau nhất định giữ  vững lập trường dù có gì xảy ra. Tối hôm đó, Vũ Đức Giang, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Anh Dũng đã đứng ra khỏi hàng để được "cởi áo nhà binh", như các anh đã  hứa hẹn. Sau đó thì chúng tôi "vỡ mộng"! Những đàn anh ra lệnh cho Vũ Quốc Phong đứng ra phạt chúng tôi. Phong nhận thấy sự vô lý, vì  các  bạn của mình chỉ bày tỏ ý kiến khi được đàn anh hỏi thôi, nên nhất định không tuân lệnh. Ba ông đàn anh nổi giận phạt riêng Phong trước hàng quân và rồi phạt cả đại đội chạy vài vòng Vũ Đình Trường. Riêng ba đứa chúng tôi thì biết thêm hình phạt Dã Chiến là gì, đêm hôm đó. Các ông anh thay nhau phạt 3 đứa tôi cả đêm dài. Đến sáng ra, khi hỏi lại chúng tôi vẫn cương quyết giữ ý kiến đòi "rời khỏi Quân Đội" như đàn anh đã hứa. Riêng Vũ Đức Giang, khi được cho nghỉ vài phút, đã thu dọn cho đồ nhà binh vào bị và mặc sẵn quần áo dân sự từ lúc nào rồi. Lúc này các ông đàn anh cũng hơi lúng túng, không biết xử trí ra sao. Huynh trưởng Tô Phạm Liệu phải đến gọi riêng ba đứa em ra khuyên bảo. Anh Liệu nói nhiều về tình cảm anh em trong gia đình Quân Y và giảng cho các đàn em bướng bỉnh hiểu về mục đích chính của thời gian huấn nhục chỉ làm cho tân sinh viên tập quên đi cá nhân của mình và nghĩ đến tập thể, tương lai, tổ quốc...  Anh nói rất hay, chúng tôi cảm động nhiều và riêng Giang phải long lanh nước mắt.

          Chúng tôi hiểu, không xin "rời khỏi Quân Đội" nữa và rồi theo thời gian, cũng quen đi những huấn luyện về thể xác và tinh thần để sửa soạn thành những Quân Y Sĩ trong tương lai. Thôi thì đủ trò phạt, hít  đất, chạy... Một lần tôi đang ở trong hàng nghe anh Phạm Gia Cổn "thuyết pháp", không hiểu sao, lỡ dại không nhịn được phải phì  cười, và bị anh phạt. Anh cho là tôi "cười nhỏ quá", nhiều người chưa được nghe và bắt thằng em đứng giữa hàng quân cười thật to 10 lần để cả Đại Đội được nghe. Tôi nhớ mãi bị khản giọng, mất tiếng đến cả mấy ngày. Nhưng kể từ ngày đó, 2 anh em chúng tôi lại quen biết thân nhau, thân nhau nhiều, thân nhau mãi cho đến khi anh qua đời năm 2022. Những tuần lễ huấn nhục của Tân Sinh Viên cũng qua đi, trở thành những kỷ niệm thú vị không bao giờ quên. Khi chúng tôi tổ chức Đêm Lễ Gắn Alpha theo sau là buổi văn nghệ mãn khóa, cả Giang và tôi đều vào ban văn nghệ trình diễn. Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm Nguyễn Minh Huấn hôm đó hát "Nguyệt Cầm" của Cung Tiến-Xuân Diệu. 
          Lên năm thứ 3 Y khoa, sinh viên bắt đầu thực tập ở bệnh viện và cũng bắt đầu được chia đi gác đêm. Tôi và Giang có một kỷ niệm không bao giờ quên ở nhà thương Hồng Bàng là nơi chuyên trị những bệnh nhân bị bệnh Lao, nhiều người thật nặng, ngày nào hình như cũng có người chết. Phòng trực cho sinh viên Y Khoa ở chỗ vắng vẻ, cách xa tòa nhà chính, nơi bệnh nhân nằm dưỡng bệnh. Ban đêm vắng mà bị gọi khi bệnh nặng hay khi bệnh chết thì rất ngại, vì phải đi bộ khá xa và "đường xá" thì tối mù mịt. Các đàn anh Y Khoa thường bảo là chỗ đó có... ma! Chuyện ma của nhà thương Hồng Bàng cũng đã có nhắc đến trong quyển "Thế Giới Trường Thuốc" của Đặng Đức tức Bác Sĩ Đặng Đức Nghiêm. Tôi vừa đọc xong quyển sách vài ngày hôm trước và vẫn còn đang bị ám ảnh. Anh bạn cùng lớp, tôi không nhớ rõ tên, được chia trực cùng đêm lại bị ốm, nên tôi "năn nỉ", rủ Giang đi cho đỡ sợ. Đêm khuya hôm đó đang ngủ thì nghe tiếng động lục cục ở ngoài cửa phòng, Giang giật mình thức giấc và lay tôi dậy. Tôi thu hết can đảm dậy bật đèn, lên tiếng hỏi nhưng không thấy ai trả lời. Tiếng động nghe như là chân người mang guốc bước qua lại trên sàn xi măng tiếp tục khá lâu cũng đến khoảng 5-10 phút. Tiếng động đó cũng mất đi nhưng cả hai đứa đều sợ xanh mặt, để đèn sáng và không ngủ được cho đến sáng. May mà đêm đó cũng không bị gọi lên trại bệnh thành cả hai nằm im lặng trong giường cho đến lúc thấy trời sáng tỏ nghe thấy tiếng người thì  mới mò ra ngoài cửa. Chúng tôi cũng không tìm được, thật ra là không dám đi tìm lý do của cái tiếng động kỳ quái giữa đêm khuya vắng. Cũng có thể chỉ là do gió mạnh đập cành cây hay cái gì vào tường hay cửa sổ chăng? 

            Cũng nói qua, vào khoảng 1970, sau Chiến Dịch Campuchia của quân lực Hoa Kỳ và QLVNCH và vì bị "cáp duồn" như các kiều bào Việt khác, các sinh viên học Y Khoa Campuchia như Nguyễn Mạnh Khang, Hà Phi Phụng, Mai Thế Vĩnh, Hồ Hoàng Trang, Nguyễn Thanh Phong... phải chạy thoát về Việt Nam để cuối cùng được nhận vào Y Khoa Sài Gòn, vào lớp Y Khoa Sài Gòn 1967-1974 chúng tôi. 
          1972, năm của những Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại Lộ Kinh Hoàng, Cổ Thành Quảng Trị (Chiến Dịch Lam Sơn 72)... Đây cũng là năm của "Tổng Động Viên" khi chúng tôi đang học Y Khoa 4, năm thứ Tư Y Khoa. Tôi nhớ một số anh em "Dân Y" như Hoàng Lộc (Lộc sau 1975 bị giết chết ở trại Cải Tạo), Nguyễn Mạnh Khang, Lê Minh Đức, Trần Thiện Tư, Trần Chánh Khương, Lại  văn Tiến, Nguyễn Minh Quốc, Đào Văn Kim, Trần Hoàng Hải, Ngô Đăng Tuấn, Lại Hoàng Ân, Lưu Văn Châu , Trương Hoàng Nghiệp... quá tuổi, sinh vào 1947 hay trước nữa, bị "đôn quân", phải nhập ngũ học khóa sĩ quan ở Đồng Đế, "ra" chuẩn úy. Tuy vậy một thời gian sau, đa số về sau cũng được thầy bác sĩ Trần Lữ Y, lúc đó là Tổng Trưởng Y Tế chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thành có thế lực, can thiệp xin cho về học lại Y Khoa, nhưng kết quả ra trường trễ hơn các bạn cùng lớp 1 năm. 

          1972, chiến tranh bùng nổ lớn ở miền Trung. Dân Quảng Trị chạy giặc vào tạm trú hàng chục ngàn người ở những trại tị nạn xung quanh Đà Nẵng. Tình trạng y tế của các trại tị nạn rất nghèo nàn. Không đủ y sĩ để săn sóc dân và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải nhờ đến các sinh viên quân y giúp. Tôi và một số anh em sinh viên khác của lớp Quân Y Y Khoa 4 như Nguyễn Trọng Nghĩa, Đoàn Trung Bửu, Trương Ngọc Hiền... Quân Y Y Khọa 5 như Phạm Hiếu Liêm, Bùi Quang Dũng, Bùi Hữu Phước, Nguyễn Anh Tuấn... Quân Y Y Khoa 3 như Trần Hoàng Long, Trần Đông Giang, Nguyễn Văn Hãn, Lê Thành Đấu, Nguyễn Võ Khanh... Quân Dược như Nguyễn Hiền, Mai Gia Thược (Thược sau tự tử trong Trại Cải Tạo) , Châu Minh, Nguyễn Văn Trực, Nguyễn Quang Toản... được cử ra miền Trung để giúp vào việc lo y tế cho đám dân tị nạn vài tháng. Đối với đời sinh viên Quân Y thì chuyến đi cũng đầy những lo lắng nhưng cũng thật thú vị và hồi hộp. Tôi chỉ có một chuyện duy nhất lo lắng là chị Nga, bà chị ruột của tôi, vừa bị nám phổi nhẹ nhưng phải chích thuốc chống Lao Streptomycin mỗi ngày. Vũ Đức Giang, không phải đi ra miền Trung chuyến này, biết chuyện và nhận giúp ngay. Trong những ngày tháng tôi lưu lạc ở Đà Nẵng, Giang đã đến nhà tôi mỗi ngày để chích thuốc cho chị Nga. Mẹ tôi hiền nhưng bố tôi tính khó, nên ít có bạn thường lại nhà. Giang thì đặc biệt lại nhà tôi thường xuyên. Bố mẹ tôi rất quý tính nết hiền, tốt và lễ phép của Giang. Chị Nga tôi thương mến Giang coi như em ruột trong nhà.

         Sau khi đám Sinh Viên Quân Y ở Đà Nẵng được vài tháng, tại Sàigòn Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân về làm Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y thay Y Sĩ Đại Tá Hải Quân Phạm Vận. Đại Tá Lân, ngày đó, là một người đầy nhiệt huyết và thanh liêm có tiếng. Tính tình ông, nóng nảy, nhưng thẳng thắn và ông rất được kính nể trong ngành Quân Y. Đại Tá ra lệnh cho tất cả sinh viên đang đi quân sự vụ tại miền Trung về lại Sài Gòn, để tiếp tục việc chính là học Y Khoa. Theo quan niệm của ông, vấn đề quan trọng nhất trong việc đào tạo Sĩ Quan Quân Y giỏi là Sĩ Quan Quân Y phải nghĩ đến chuyện học trước hết. Chuyện chữa bệnh cho dân tị nạn để cho người khác, chính phủ lúc này đã  xoay sở lấy được. Về Sài Gòn, một số anh em, trong số đó tôi còn nhớ có Vũ Đức Giang, Phạm Anh Dũng, Lý Văn Quý (Quân Nha)... rủ nhau nộp đơn xin đi học bằng Nhảy Dù, như các khóa đàn anh trước vẫn được phép, nhưng không được ông Lân chấp thuận, chắc cũng vì lý do này. Giang bực mình nhiều về chuyện đó, vì vẫn muốn sẽ gia nhập nhảy dù. Mỗi lần nhìn "đàn anh mũ đỏ" như Tô Phạm Liệu, Phạm Gia Cổn... lúc đó đã ra những đơn vị chiến đấu nhảy dù thỉnh thoảng vẫn về thăm trường với binh phục rằn ri, Giang vẫn tấm tắc khen và... mong ước!

          Vì là "gốc" Nhảy Dù nên Đại Tá Hoàng Cơ Lân hơi có thiên vị cho binh chủng này và tôi nghĩ có lẽ chính ông đã  tuyển lựa nhiều sĩ quan nhảy dù về trường Quân Y, có những Y Sĩ như Trung Tá Vũ Khắc Niệm, Thiếu Tá như Lê Văn Châu, tác giả quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969, Đại Úy như Hoàng Ngọc Giao, Đường Thiện Đồng.... Còn ngành Dược thì có Đại Úy Trần Mạnh Anh...  và đa số giữ những chức vụ huấn luyện cho đám sinh viên quân y. Thật sự đây là điều rất tốt, vì những vị này phần lớn đều khá và xứng đáng được làm gương. Cũng có một số Quân Y Sĩ binh chủng "rằn ri" khác được "gọi về" phục vụ ở Trường Quân Y như Thiếu Tá Trần Xuân Dũng từ Thủy Quân Lục Chiến và Đại Úy Ngô Thế Vinh, tác giả quyển "Vòng Đai Xanh" được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971, từ Biệt Cách Dù. Đại Tá Lân để ý đến sinh viên từ những chuyện tầm thường nhất như đi đứng, y phục, ăn uống... cho đến những chuyện quan trọng thi cử, học hành... Chính ông thường bất thần xuống khu nội trú xem xét đời sống sinh viên hầu như mỗi ngày. Nhiều khi tôi có cảm tưởng ông coi các sinh viên quân y như là những em nhỏ dại dột của chính ông cần được săn sóc cho thành người tốt.

          Đại Tá Hoàng Cơ Lân, lúc đó, có rất nhiều ý kiến mới lạ, áp dụng vào việc huấn luyện sinh viên. Tất cả sinh viên quân y phải nội trú trong trường Quân Y để tập quen với đời lính. Tình cảm giữa các sinh viên quân y đối với nhau trở thành gắn bó hơn. Ông lập võ trường cho sinh viên tập Nhu Đạo, tôi nhớ có hai Y Sĩ Thiếu Tá Lê Trọng Tín và Đỗ Danh Thụy hướng dẫn . Ông còn tổ chức những buổi nói chuyện cho sinh viên mở rộng kiến thức. Nhiều nhân vật nổi tiếng ngoài dân sự như nhà văn Hoàng Hải Thủy diễn thuyết về "Y Sĩ và Văn Nghệ", linh mục Thanh Lãng nói chuyện về "Văn hóa dân tộc và vấn đề Hùng Vương"...  là các vấn đề tổng quát, văn học nghệ thuật. Rồi đến Bác Sĩ Giáo Sư Hoàng Tiến Bảo, Giảng Sư Trần Xuân Ninh, Đinh Hà... nói về chuyên môn Y Khoa. Còn có các diễn giả là đàn anh Quân Y của chúng tôi đã ra trường như Đại Tá Văn Văn Của về nói chuyện để truyền kinh nghiệm đến đàn em. Có một hôm, anh Trần Xuân Dũng, đã từng là Y Sĩ Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến, thuyết trình về chuyện gì đó. Tôi ốm không đi được nhưng Giang đi nghe và khi về kể lại lấy làm thú vị, thích lắm vì anh Dũng dáng dấp thư sinh, nhưng nói chuyện rất hay và có duyên. Từ ngày đó thỉnh thoảng Giang cũng nói với tôi là có thể sẽ  chọn Thủy Quân Lục Chiến khi đến lúc ra trường.

          Công việc học hành, thi cử ở trường Y Khoa song song với chuyện quân sự ở Trường Quân Y rồi cũng qua dần. Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 của Kissinger và Lê Đức Thọ, khi tôi đang học Y Khoa năm thứ 5, thực tế chỉ là một "tờ giấy lộn" và chả hiểu tại sao vì "nó" mà 2 người này họ lại được giải Nobel Hòa Bình! Bộ Đội miền Bắc không tôn trọng những gì đã cam kết, vẫn xâm nhập miền Nam và Nam Bắc vẫn tiếp tục phân tranh. Phải nói tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa bị suy giảm nghiêm trọng, nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate vào tháng 8 năm 1974 và viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa đã dần bị cắt giảm rất nhiều.

           Lúc đó, chúng tôi ít có giờ học ở trường hơn những lớp dưới và được cử đi thực tập nhiều ở các bệnh viện. Một vài tháng đầu tiên của năm thứ 5, Giang và tôi đến phiên học ở Bệnh Viện Nhi Đồng nơi có  trẻ con bị bệnh nặng chết nhiều và chúng tôi được gọi ký giấy tử, có khi 5, 6 lần một đêm gác. Tôi nhớ mãi Giang được cử săn sóc một đứa bé trai độ 5 tuổi bị phù thủng rất nặng, khắp cả người sưng vù (edema) vì một bệnh về thận. Bố mẹ đứa nhỏ  đã định sửa soạn ngày tang ma vì tưởng con không thể qua nổi cơn bệnh. Giang rất tận tâm chịu khó đọc sách, hỏi han những anh nội trú bệnh viện chữa cho thằng bé bằng kích thích tố tuyến thượng thận (corticosteroid) và kết quả rất thành công. Giang khá thật, chỉ một thời gian ngắn thằng bé đã đỡ hẳn. Bác Sĩ  Giáo Sư Trịnh Thị Minh Hà, trưởng khu bệnh là người nổi tiếng giỏi nhưng rất khó tính cũng phải ngạc nhiên và vui lòng. Tôi nhìn thằng bé con vui đùa, tung tăng chạy nhảy lúc được xuất viện mà thầm phục thằng bạn của mình lầm lì, ít nói nhưng có tài. Sinh viên ngoại trú Y Khoa đầu năm thứ 5 mà có thể làm được chuyện như vậy không phải dễ. Giang rất thích trẻ con, sau kỳ học đó lại nộp đơn quay lại Nhi Đồng một lần nữa.
            Chẳng mấy chốc đã đến năm thứ 6 là Y Khoa, năm cuối cùng của học trình 7 năm "dài đăng đẳng". Một số chúng tôi được cử để phụ trách huấn nhục đám đàn em mới vào và "lịch sử lại tái diễn"! Chúng tôi cũng đến lượt trở thành những đàn anh hò hét, huấn nhục đàn em. Lúc đó, chính bản thân tôi lại được cử ra làm sinh viên quân y Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên, y như là anh Tô Phạm Liệu năm 1970, phụ trách việc huấn luyện này. 

             Sau khi thi xong kỳ thi Bệnh Lý ở trường Y Khoa, Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch QYHD, khóa Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm lễ ra trường. Chúng tôi được chính thức đeo lon Y Nha Dược Sĩ Trung Úy.
          Tháng Hai 1975, "cả nước" rúng động vì tỉnh Phước Long đã mất. Ngày 20 tháng Hai 1975 là ngày chọn đơn vị. Đa số bạn bè xôn xao, bàn tán về những binh chủng khác nhau. Tôi vẫn có chủ trương như cũ, đơn vị nào cũng vậy và cuộc đời có lẽ  có sẵn số mệnh cả. Rồi tùy theo theo thứ tự đậu cao chọn trước, đỗ thấp lựa sau. 
          Những người đậu cao chọn chỗ ở Tổng Y Viện Duy Tân có Bạch Thế Thức, Phan Thanh Hải. Về QYV (Quân Y Viện) có Nguyễn Phan Khuê (Thủ Khoa khóa 21 QYHD) QYV Ban Mê Thuột, Trần Trung Hòa QYV Quảng Đức, Nguyễn Dương Mỹ QYV Nguyễn Tri Phương, Trần Ngưu Tử và Nguyễn Chí Vỹ chọn về QYV Pleiku.   
         Có  2 chỗ Hải Quân cũng dành cho những người xứng đáng học khá giỏi và đậu cao là Nguyễn Văn Công và Nguyễn Văn Chiếu.
         Nhảy Dù, binh chủng "rằn ri" mũ đỏ, hết khá sớm vì Châu Hữu Hầu, Trương Văn Như, Nguyễn Xuân Thiều, Nguyễn Văn Liêm, Trần Duy Thanh, Nguyễn Văn Thịnh và Nguyễn Văn Thạnh đã lựa chọn ngay.  
         Về Thủy Quân Lục Chiến, mũ xanh, 9 người, có Vũ Đức Giang, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Ngọc Sĩ, Nguyễn Bá Linh, Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Văn Châu, Bùi Chí Hùng, Huỳnh Đình Đại, và Hồ Đình Dư.  
         Chọn đi các Bộ Binh của tất cả 4 vùng quân sự: Vùng I Chiến Thuật có Chu Kỳ Đức; Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan và Hồ Thanh Tùng chọn Sư Đoàn 1 Bộ Binh; Lê Bình Đẳng và Võ Dũng chọn  Sư Đoàn 2 Bộ Binh; Vũ Quốc Cường và Phạm Anh Dũng chọn Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Vùng II Quân Sự có Phan Ngọc Hà, Lê Vĩnh Thịnh, Thái Văn Châu và Nguyễn Khánh Hỷ về Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Vùng III có Lê Huy Hòe chọn Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Mai Thanh Hồng chọn  Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Lê Văn Cẩm chọn về Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Vùng IV có Nguyễn Văn Quốc chọn  Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Huỳnh Thắng Toàn và Nguyễn Văn Đơ chọn Sư Đoàn 9 Bộ Binh, Nguyễn Minh Huấn và Phạm Văn Hạnh cùng về Sư Đoàn 21 Bộ Binh.

           Biệt Động Quân, binh chủng "rằn ri" mũ nâu, đang dự định đưa Y Sĩ xuống cấp tiểu đoàn theo như Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến và do đó lấy khá nhiều. Đó là Nguyễn Tài Mai (Sinh Viên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Sinh Viên Quân Y, "gốc" Thiếu Sinh Quân), rồi đến Nguyễn Quốc Anh, Ngô Bá Bảo, Đoàn Trung Bửu, Nguyễn Kỳ Chân, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Đổng, Nguyễn Hữu Khoát, Nguyễn Phong Nghi, Hồ Sĩ Nghĩa, Nguyễn Văn Tân, Tề Văn Tiếng, Đỗ Danh Toàn, Vũ Ngọc Tuấn và Nguyễn Tấn Việt.
          Một số chọn những đơn vị lẻ tẻ, nhưng đặc biệt như Huỳnh Minh Châu về Nha Kỹ Thuật Tổng Tham Mưu, Dương Thanh Trắc chọn Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trịnh Ngọc Toản "đi" Tiểu Đoàn 12 Kỵ Binh Thiết Giáp và Phạm Hồng Hải "về" Liên Đoàn 72.

          Sau ngày chọn đơn vị, tôi lại nhà Vũ Đức Giang ngày cuối tiễn Giang ra trình diện đơn vị. Giang mặc quân phục "rằn ri" mới, đeo lon đỏ, đội mũ xanh của Thủy Quân Lục Chiến, trông thật lạ mắt. Giang giới thiệu tôi với hôn thê mới của mình, là một giáo sư trường trung học ở Sài Gòn. Cô vợ chưa cưới của Giang tên là Mai, trông thật ngoan và hiền dịu. Trước khi từ giã, Giang đưa tặng tôi cặp lon Trung Úy và bảng tên màu đen dùng cho những đơn vị tác chiến, dặn dò tôi phải cẩn thận vì chiến cuộc đang gay go. Nhìn tôi khá lâu vào mắt, hơi khác thường, Giang bắt tay từ giã. Cả mấy năm trời thân thương với nhau, chúng tôi chưa hề bắt tay nhau bao giờ. Lần đó là lần đầu tiên và không ngờ, cũng là lần cuối cùng tay chúng tôi bắt tay. Đó là lần cuối cùng hai đứa gặp nhau. Giang ra thay một đàn anh ở Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, tham chiến ngay ở gần Huế. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh rút Sư Đoàn Nhảy Dù về trấn giữ Sài Gòn và để một số Lữ  đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng vài Liên Đoàn Biệt Động Quân thay. Giao chiến khốc liệt đẫm máu xảy ra ở những vùng quanh Huế, Quảng Trị, Đại Lộc... Nguyễn Tiến Dũng thành Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến đóng ở tuyến đầu Quảng Trị. 

          Cuộc đời Y Sĩ Tiền Tuyến chúng tôi thật sự khởi đầu.

           Tôi đến Sư Đoàn 3 Bộ Binh gần Đà Nẵng. Vũ Quốc Cường về cùng đơn vị đã trình diện trước tôi một vài ngày. Ngày Xuân, tháng Ba mà đã nóng như lửa. 11 giờ trưa trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y. Dược Sĩ Trung Úy Lê Văn Khoa rủ ăn trưa với các Y Sĩ Trung Úy của Sư Đoàn 3 như Nguyễn Hữu Mãn, Đào Tư Huyền, Lê Văn Thu...và chỉ dẫn chút ít về doanh trại. Vũ Quốc Cường dẫn tôi đi tắm suối xong 2 giờ chiều cùng ngày tôi được ông Thiếu Tá Y Sĩ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Quân Y gửi đến Trung Đoàn 2 Bộ Binh. Vũ Quốc Cường được giữ  lại Sư Đoàn. Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 3 và Trung Đoàn 1 của Sư Đoàn 1 là hai đơn vị thiện chiến có tiếng trong các đơn vị Bộ Binh của Vùng I Quân Sự. Trung Đoàn 2 đang đóng và chiến đấu ở Quế Sơn. Tôi đến thay cho Y Sĩ Trung Úy Bùi Trần Anh ở trung đoàn này đã được vài năm.
          Đến lúc đó tôi mới thấy cái đời sống thật sự của những Y Sĩ ở mặt trận không còn những lúc văn chương thơ mộng như mình đã  tưởng tượng, như khi đã đọc ở quyển "Y Sĩ Tiền Tuyến" của Trang Châu. Quyển sách của anh Châu, viết có lẽ chỉ khoảng 5,6  năm trước và thời gian đó đã trở thành phải nói có những chỗ không còn "hợp thời" nữa. Chiến tranh sau này phũ phàng và tàn bạo hơn nhiều. Tôi thông cảm và kính phục các vị Quân Y Sĩ đàn anh bao nhiêu năm gian khổ, nguy hiểm nơi tiền tuyến. Cảm giác lạnh lẽo, cô đơn một mình giữa đêm khuya ở bệnh xá Trung Đoàn thật khó quên. Những buổi trưa ấn vội nắm "cơm sấy" vào mồm cho đầy bụng để còn kịp có thì giờ chữa thương bệnh binh. Tôi đã ớn lạnh nghe quả pháo vút qua đầu và rơi cách chỉ hơn trăm thước mà vẫn phải dặn dò y tá bình tĩnh. Lúc cảm thấy bất lực nhìn tủ thuốc trống rỗng với vài viên thuốc chữa cảm cúm vớ vẩn, không còn trụ sinh trong khi bệnh nhân đợi la liệt với những vết thương không cần phải đợi lúc thay băng cũng đã ngửi thấy mùi nhiễm trùng. Còn nỗi bàng hoàng, khi thấy lính phải bỏ tiền túi ra mua đạn. Chuyện khó tin nhưng có thật! Trận chiến như đã được xếp đặt đến lúc tàn. QLVNCH chưa mỏi mệt, nhưng đồng minh Hoa Kỳ đã mỏi mệt, muốn "bỏ rơi" miền Nam. Quân miền Nam không còn đủ súng ống, đạn dược trong khi  Bộ đội miền Bắc lại đầy T54, B41, AK47...vì Nga và Trung Cộng vẫn chưa bỏ cuộc.

           Khóa 21 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch, những ngôi sao sáng, những niềm hy vọng mới của đất nước, của tổ quốc ra trường đúng những ngày tháng sửa soạn cho thất trận. Chiến tranh hình như bùng nổ lớn khắp nơi trên khắp bốn vùng chiến thuật I, II, III và IV. Tháng Ba 1975 các Tân Trung Úy Quân Y Nha Dược Sĩ  chân ướt chân ráo ra chiến trường, tìm đơn vị, là lúc hầu như cả một đạo quân Việt Nam Cộng Hòa một triệu người đang giao tranh, tan rã, bắt đầu di tản ngược lại hướng của mình. Bao nhiêu bạn cùng khóa bị bắt làm tù binh. 8 Quân Y Sĩ mới của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra thay thế đàn anh ở những tiểu đoàn chiến đấu, 5 người bị bắt khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bỏ ngỏ Huế. Còn nhiều người vì hỗn độn chưa kịp tìm thấy đơn vị mới đã chết trận. 

            Ngày 10 tháng Ba 1975 Ban Mê Thuột bị tấn công. 
          Chỉ 3 ngày sau Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Tư Lệnh Vùng II Quân Sự Phạm Văn Phú bỏ Cao Nguyên. Đại Tá Biệt Động Quân Phạm Duy Tất được thăng Chuẩn Tướng chỉ để dẫn quân dân triệt thoái theo Liên Tỉnh Lộ 7, con đường lâu ngày không dùng trở thành "một con đường máu", đúng nghĩa chữ  "máu". Tại "Con Đường Tử Thần" này, Y Sĩ Trung Úy Biệt Động Quân Đoàn Trung Bửu, QYHD khóa 21 của chúng tôi, đã chết khi cố vượt qua một con sông trong chuyến di tản. Cũng trong lúc di tản của Quân Đoàn II, Y Sĩ Trung Úy Bộ Binh Thái Văn Châu, khóa QYHD 21 của chúng tôi, bị bắn chết ở biển Quy Nhơn khi cố bơi từ bãi biển ra tàu Hải Quân.  
          Những đàn anh Quân Y hy sinh trước kia như Đỗ Vinh, Trương Bá Hân, Trần Ngọc Minh, Lê Hữu Sanh, Bửu Trí, Đoàn Mạch Hoạch... đều được vinh danh là anh hùng. Tên của các Quân Y sĩ  là tên những Quân Y Viện trên khắp các vùng chiến thuật. Ai biết đến, ai nhắc đến Đoàn Trung Bửu, Thái Văn Châu... ? Lúc chôn, nếu có tìm được xác chắc cũng không được phủ mảnh cờ vàng ba sọc đỏ.  

 
Đoàn Trung Bửu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)

Thái Văn Châu (trích từ Kỷ Yếu Y Khoa Sài Gòn 1967-1974)

          Ngày 14 tháng Ba 1975, tôi ra đơn vị.
          Ngày 19 tháng Ba 1975, Quảng Trị bị tấn công.
          Ngày 20 tháng Ba 1975 , Quảng Trị bỏ ngỏ.
           Ngày 23 tháng Ba 1975, Tổng Thống Thiệu ra lệnh Trung Tướng Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, Ngô Quang Trưởng, bỏ Huế. Tin đồn lúc đó là sẽ có chia cắt đất nước, nhượng cho miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra.
           Một buổi chiều nắng héo hắt, tôi đến một quán bên đường ở Quốc Lộ 1, gần đèo Hải Vân, ngồi uống bia tình cờ nghe ông chủ quán nói chuyện với vợ là dân và lính chạy từ phía Bắc vượt đèo chạy về hướng Đà Nẵng. Tôi ra khỏi quán, đứng bên đường lặng nhìn lên đèo Hải Vân, những đoàn xe nhà binh chở những quân lính trong đó có lính của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến... từ Huế vượt đèo chạy qua. Tôi nghĩ nhiều đến Nguyễn Tiến Dũng và Vũ Đức Giang, hai bạn thân nhất của tôi vừa ra trình diện hai Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và thầm tự hỏi không biết hai đứa đó có còn sống hay không và đang ở đâu? Chu Kỳ Đức, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Đỗ Quan... ra Sư Đoàn I Bộ Binh không biết đang làm gì? Còn bao nhiêu bạn cùng khóa khác đang hay vừa đến đơn vị, chả biết đường lối gì cả, không biết tình trạng ra sao?... Đứng từ chiều đến lúc xẩm tối, nhìn lên đèo Hải Vân giờ này đã biến thành một chuỗi sáng trên trời cao vì ánh sáng của những ngọn đèn của đoàn xe nối tiếp nhau tưởng như không bao giờ hết. Nhìn đoàn xe tôi chỉ mong ước sao cho các bạn mình Giang, Dũng, Đức, Ngọc, Quan... cũng có ở trên những xe đó.

           Những ngày sau đó Đà Nẵng hỗn độn vì những tin đồn. Dân chúng bắt đầu được di tản bằng máy bay. Những chuyến máy bay ở phi trường làm náo động những người còn lại. Những chuyện người tranh nhau, giành giật để có chỗ thoát, người chết khi bám vào bánh xe khi máy bay đang cất cánh, đều là những chuyện thật.
         Ngày 29 tháng Ba 1975, Đà Nẵng chưa đánh đã di tản! Từ Quế Sơn tôi chạy về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3. Không thấy bóng một ông Sĩ Quan nào nữa. Chỉ còn vài người lính đang nhặt nhạnh vài đồ đạc lẩm cẩm. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi hãy còn lảng vảng và ngơ ngác. Gọi Tổng Y Viện Duy Tân có thì biết mọi người đã di tản từ ngày hôm trước. Tôi cũng không biết làm sao có phương tiện ra Đà Nẵng, không lẽ lại chạy bộ nữa? Chuyện thì dài dòng, nhưng vắn tắt tôi may gặp Lê Văn Thu, bác sĩ QYHD 20, ra trường trên tôi một lớp, lái xe gắn máy Honda chạy ra. Thu chở tôi ngược lại vào trong trại lúc này đã gần như trống không, lấy cái xe Bridgestone, một xe gắn máy cũ khác của anh đưa cho tôi chạy. Vào Đà Nẵng, nhớ đến anh ruột của Nguyễn Tiến Dũng là Nha Sĩ Thiếu Tá Nguyễn Nhật Thăng, tôi ghé phòng mạch Nha Khoa của anh ở dưới phố để rủ anh chạy ra bến tàu, thì anh Thăng đã đi rồi, nhưng thật bất ngờ gặp Nguyễn Tiến Dũng, vừa thoát được đến Đà Nẵng cũng ghé tìm anh ruột. Ôm nhau mừng chảy nước mắt. Hỏi thăm ngay về Vũ Đức Giang. Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến của Giang đã hoán chuyển chỗ với tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến của Tiến Dũng. Nguyễn Tiến Dũng về gần Huế do đó chạy được đến Đà Nẵng. Giang như vậy đã ở Quảng Trị. 
         Đúng là số trời đã định, nếu Dũng và Giang không đổi chỗ thì
 có lẽ lúc đó tôi không gặp Dũng. Không Dũng thì Giang. Không Giang thì  Dũng. Cả hai đều là bạn thân thiết của tôi. Vậy thôi!
         Tôi và Tiến Dũng may mắn không tưởng tượng, như có phép lạ giúp, thoát về được đến Cam Ranh. Nước biển Cam Ranh vẫn trong xanh mát rượi, bãi cát vẫn trắng mịn với những con dã tràng xe cát, nhưng thành phố đã hỗn loạn. Toàn là người với quân phục và xe nhà binh, lác đác tiếng súng. Không được thêm tin tức gì của Giang. Những đơn vị quân đội chạy từ hướng Bắc xuống đang tái phối trí, rồi chỉ để sửa soạn di chuyển sâu thêm về hướng Nam! Các đoàn quân theo nhau rút lui. Màu đỏ của máu lan dần trên bản đồ hình chữ S từ Bắc xuống Nam. Các thành phố Cam Ranh, Nha Trang... rồi cũng tự nhiên bỏ ngỏ để bộ đội miền Bắc dễ dàng vào chiếm đóng. Triệt thoái và di tản nhanh đến nỗi có khi quân miền Bắc vài ngày sau mới đến kịp để tiếp thu. Chính họ cũng phải ngạc nhiên! Thật là kỳ lạ.
          1 tháng Tư: mất Nha Trang và Quy Nhơn.
          Tôi không hiểu gì cả! Chỉ biết chạy, rồi chạy, xong rồi lại chạy..., tuy đầu óc thỉnh thoảng lại nghĩ đến Vũ Đức Giang người bạn thân, hiền lành. Tôi theo Nguyễn Tiến Dũng lên một tàu Hải Quân từ Cam Ranh di tản về Vũng Tàu. Trên chiếc tàu Hải Quân đó, cả Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân, và quân lính chắc chỉ còn non một ngàn người. Nguyễn Bá Linh bạn cùng khóa QYHD 21 cũng vừa ra đơn vị, quần áo nhàu nát cũng ở trên tàu, kể chuyện rằng, trong cuộc triệt thoái hỗn loạn ở Thuận An, phải bơi ra biển đến tàu để tìm đường thoát. Tôi cố tìm Vũ Đức Giang mà không thấy. Khi hỏi thăm thêm mọi người cả người tôi lạnh cứng, khi biết tin Giang bị kẹt và bị bắt ở bãi biển Thuận An. Nắng vàng trong sáng, biển xanh biếc bỗng nhạt nhòa. Chúng tôi thoát khỏi Cam Ranh ngày trước thì ngày sau được tin thành phố di tản:

           3 tháng Tư: mất Cam Ranh.
          Rồi tàu hải quân cũng đưa chúng tôi cũng về đến Vũng Tàu bình yên và tôi tìm lại được tàn quân của Sư Đoàn 3 Bộ Binh đang tái phối trí ở trại Vạn Kiếp được vài ngày. Vào trình diện Tiểu Đoàn 3 Quân Y, tôi không gặp một sĩ quan nào cả. Ám ảnh bởi hình ảnh tù tội, chết chóc của bạn bè, đầu óc trống rỗng, mỏi mệt chán chường và cũng chả biết làm gì ở đó nữa, tôi trở về lại Sài Gòn. Tôi gặp lại Trương Văn Như với quân phục nhảy dù mới, đang sửa soạn theo đơn vị ra trận chiến Khánh Dương. Đến lúc này vẫn nhiều người tin tưởng sẽ có hiệp định chia cắt lãnh thổ từ khoảng giữa miền Trung trở vào thì sẽ được là vùng tự do, không cộng sản.
          Sài Gòn lên cơn sốt, Sài Gòn hoảng hốt, khi một số dân đã bắt đầu được Mỹ di tản bằng máy bay sang đảo Guam. Tin đồn sẽ có đảo chánh tạo niềm hy vọng cuối cùng khi Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đang ra thị sát mặt trận và tuyên bố sẽ ở lại chiến đấu đến cùng.
          Ngày 20 tháng Tư 1975, sau chiến thắng oai hùng ở Xuân Lộc, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Sư Đoàn 18 Bộ Binh phải triệt thoái.
          Ngày 21 tháng Tư 1975  Tổng Thống Thiệu từ chức và khẳng định với quốc dân và chiến hữu trên Truyền Hình Việt Nam là sẽ trở lại với Quân Đội để chiến đấu. Ông trao quyền lại cho Phó Tổng Thống già yếu Trần Văn Hương và đêm 25 tháng Tư, ông Thiệu đã ở Đài Loan! 
          Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ sau cũng bay mất trên trực thăng cùng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng! Ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng nói “Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai”. Leningrad là trận chiến nổi tiếng của Hồng quân Liên Xô trước quân phát xít Đức, kéo dài gần trên dưới 1000 ngày đêm, bắt đầu từ tháng Bảy 1941.

           Các vị Tướng như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ... không có những lời tuyên bố lớn lao như vậy đã ở lại tuẫn tiết. Đó là những Tướng anh hùng liệt quốc, "những Hoàng Diệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa".
            Ngày 28 tháng Tư 1975 Cụ Trần Văn Hương nhượng vị Tổng Thống cho Đại Tướng Dương Văn Minh, tưởng sẽ làm vừa lòng Bắc Quân, nhưng tình thế đã tuyệt vọng hoàn toàn.
           Ngày 30 tháng Tư 1975, Tân Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ bến tàu Bạch Đằng, trong đêm tối, tôi may lên được và theo tàu Hải Quân HQ1, những phút cuối cùng trước khi tàu rời bến. Như ở một giấc mộng hãi hùng, trong cơn hỗn loạn, tôi di tản khỏi Sài Gòn, thành phố thân yêu của tuổi trẻ thế hệ chúng tôi, đang "hấp hối". 
          Những người bạn khác cũng may mắn và sau tôi gặp lại được là Nguyễn Tài Mai, Bạch Thế Thức, Nguyễn Tiến Dũng... Biết bao bạn cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21 chúng tôi không may như vậy phải ở lại cực khổ thể xác và tinh thần trong các trại cải tạo, đó là số phận của Trần Trung Hòa, Trương Văn Như, Chu Kỳ Đức, Nguyễn Phan Khuê,Trương Ngọc Hiền, Nguyễn Đăng Cung, Nguyễn Chí Vỹ, Nguyễn Văn Quốc... Có những người sau đó chết mất xác, ở biển khơi, khi vượt biên như Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Xuân Thiều...

          Qua đến nước Mỹ, khá lâu tôi bặt tin, đến mãi về sau mới " gặp" lại Vũ Đức Giang qua những chi tiết đọc được trong sách báo và một vài lần ở trong giấc mơ.
          Trong quyển "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975" do Phạm Huấn viết, chương 15 là những trang sách về "Những Y Sĩ Tiền Tuyến". Vào những giờ phút cuối cùng khi Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đang triệt thoái một cách tuyệt vọng tại bãi biển Thuận An:
               "... Bác Sĩ Vũ Đức Giang, Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến dù đã lên chiếc LMC đầu tiên, sáng ngày 26-3-1975 cùng với các thương binh, nhưng vì danh dự của một cấp chỉ huy, anh lại trở xuống..." 

          Cao Xuân Huy, trong quyển sách lừng danh "Tháng Ba Gãy Súng". Quyển sách của những khôi hài đen đầy máu, nước mắt, tàn bạo, căm hờn...nói về cuộc triệt thoái của Thủy Quân Lục Chiến. Đây là đoạn tác giả đã bị bắt làm tù binh ở bãi biển Thuận An:
               "...Ngày 26 tháng 3 là ngày cả một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bị khoảng một đại đội du kích Việt Cộng bắt sống. Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra...
                 ...Tôi còn gặp lại cả một thằng bạn cũ, cùng học với nhau hết bậc trung học ở trường Nguyễn Trãi, khi chúng tôi đang bị trói chung bằng một sợi dây điện dài. Vũ Đức Giang. Tôi ngạc nhiên kêu lên:
                       -  Giang, mày làm gì mà cũng bị bắt ở đây?
                       - Ơ Huy, cả chục năm mới gặp lại mày.
                       - Tao hỏi mày làm cái giống gì mà cũng bị bắt ở đây?
                       - Tao Thủy Quân Lục Chiến.
                       - Mẹ kiếp, cậu đếch tin, mày cũng dám giết người à. Mà sao ở Thủy Quân Lục Chiến tao không gặp mày.
                      - Tao mới ra trường về Thủy Quân Lục Chiến khoảng nửa tháng nay.
                      - Mày bác sĩ hở?
                      - Ừ, tao về tiểu đoàn 7..."

         BS TQLC Phạm Vũ Bằng viết trong bài "Thủy Quân Lục Chiến-Binh Chủng Kiêu Hùng":
               "...Theo các Quân Y tá LĐ 147 cho biết thì Bác Sĩ Vũ Đức Giang và vài quân y tá TĐ 7 khiêng thương binh lên tàu sau đó anh điểm danh y tá TĐ 7 rồi tất cả cùng trở xuống để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
                Khi tôi thay BS Rậu làm Đại Đội Trưởng Quân Y LĐ 147 thì một hôm Hạ Sĩ Nhất Quân Y Nguyễn Văn Được - người sống sót từ “Pháp Trường Cát Thuận An”- hỏi tôi:
               -Ông thầy có biết BS Vũ Đức Giang TĐ 7 không?
               -Biết. Mà có chuyện gì?
                -Ổng ngon quá! Ngày 26/3/1975 ổng và mấy đệ tử khiêng thương binh lên tàu. Xong việc ổng điểm danh từng y tá TĐ 7 một rồi tất cả xuống tàu lên bờ về lại TĐ. Em giữ ổng lại nói “BS trở lại thì 100/100 là chết” nhưng ổng trừng mắt la em “chú mày đừng xúi bậy, TĐ đang chiến đấu sẽ có thêm thương bình, anh bỏ đi sao đành” . Xong rồi ổng xuống tàu đi dưới làn mưa đạn thượng liên của VC, em nhìn mà thấy ớn. Em nói thiệt tình đó ông thầy.
               -Thì tao có nói mày không thiệt tình hồi nào đâu! Có điều chú mày bậy thật, Bác Sĩ TQLC không bao giờ đào ngũ trước hàng quân!..."

          Và cũng trong "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975"  của Phạm Huấn, về Vũ Đức Giang:
              "...Cuối năm 1976, lại một lần nữa, muốn bảo vệ danh dự của một Quân Y Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh đã tự tử chết trong trại tù ở phi trường Ái Tử, ngoài Đông Hà, Quảng Trị..."
          Cuối cùng bài "Khóc Bạn" của bác sĩ quân y Hoàng Thế Định, trên Tập San Y Sĩ Việt Nam tại Canada số 112, trang 119, viết về giây phút cuối cùng của Vũ Đức Giang năm 1976 tại trại tù cải tạo Ái Tử:
               "...Buổi cơm chiều, Giang cáo bệnh không ăn. Gần cuối lán, lò mò tối, anh nằm trùm kín, im lặng...anh nằm trùm chăn im lặng. Anh em vẫn nghĩ là Giang bệnh, để yên anh ngủ. Khoảng một giờ sau, mọi người nghe Giang vùng mạnh mấy cái trong chăn rồi "ự, ự" lên mấy tiếng. Dược sĩ Thuận, người vẫn thường nằm cạnh Giang, vụt đứng dậy, chạy lại giật tung chăn trên người bạn... Mọi người xúm lại. Toàn thân Giang rung lên, co quắp tay chân rồi từ từ duỗi ra, bất động...
               ...Nguyễn Đình Ái, Y sĩ trung úy trưng tập, cùng đơn vị với tôi. BS Ái giật chiếc ống nghe trên đầu nằm của Tôn Thất Thắng, Y tá trại 3. Ái vừa nghe tim vừa tìm mạch ở cườm tay bạn. Không còn nhịp tim mạch...
                ...Trong khi chờ đợi y tá Tôn Thất Mừng sửa soạn adrénaline, BS Ái bảo DS Thuận xoa bóp lồng ngực Giang, còn mình thì dùng phương pháp bouche à bouche, thổi hơi cho bạn. BS Ái chích Adrénaline trực tiếp vào cơ tim Giang và cùng DS Thuận tiếp tục làm cấp cứu hồi sinh
               Dù biết rằng nếu có hiệu quả thì trong vài phút, nhưng Ái và Thuận vẫn cố cứu bạn suốt nửa giờ. Vô vọng, hai người quỳ gối bên xác bạn...
               ...Tôi tin tài của BS Ái, biết chẳng còn gì cứu vãn được nữa, nhưng vẫn đến ngồi bên Giang, lật chăn để nhìn bạn lần cuối. Tôi quan sát thấy đồng tử của người bạn xấu số đã hoàn toàn nở rộng.Thật hết rồi! Tôi ghé sát miệng Giang và ngửi mùi hăng hắc đặc biệt ở những người tự tử bằng Chloroquine..."

          Năm 1976, Y Sĩ Trung Úy Hiện Dịch Thủy Quân Lục Chiến Vũ Đức Giang qua đời, "hưởng dương" 28 tuổi.
           Tôi nhớ Vũ Đức Giang. Tôi nghĩ đến hai em của Giang. Tôi nghĩ đến Mai, người vợ chưa cưới của Giang. Tôi nghĩ nhiều đến mẹ của Giang...
          Tôi nhớ nụ cười hiền hòa của Giang. 
          Tiếng hát Ngọc Long từ đâu đó vọng về: 
               "...Chiều mơ anh cầm đàn về Trường Sơn bát ngát, ngắm mây bay miệt mài tiếng hát...". 
          Vũ Đức Giang đã về với rặng Trường Sơn bát ngát, về với Hoàng Liên Sơn hùng vĩ. 
          Vũ Đức Giang đã  ở lại với sông Hồng cuồn cuộn sóng đỏ và ở mãi với dòng Cửu Long xanh mát, mênh mông...

Phạm Anh Dũng 
San Diego, California, USA
(viết xong tháng Ba 2025 để kỷ niệm 50 Năm Quốc Hận, Tháng Tư Đen 1975)