Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

Ông Ngoại Của Mình


Ai cũng có một ông ngoại. Hổng có ông ngoại làm sao có mình.

Ông ngoại lấy bà ngoại mình
Ngoại mình đẻ má, má đẻ mình biết chưa?
Đi về phải biết chào thưa.
Ông ngoại mà giận tới trưa chẳng nhìn.

Ông ngoại người ta không biết sao chứ ông ngoại tôi chịu chơi hết biết.

Trước khi tui kể chuyện ông ngoại tôi, tôi kể chuyện ông ngoại thằng bạn chung trường. Năm đó má nó nói:
- Hè này má dẫn con về ngoại.
- Ngoại mình ở Việt Nam phải không má
- Ừa! Ở VN cho nên con phải tập nói tiếng Việt để về nói chuyện với ông bà ngoại
Thằng bạn tui dạ dạ nhưng nó không biết cần phải tập gì , bởi má nó nói tiếng Việt, nó vẫn hiểu mà.

Nó nô nức được về thăm quê ngoại, Nó thiếu bóng hình cha từ nhỏ nên bao nhiêu tình thương nó chỉ hướng về mẹ. Mẹ nó hay nói: "Thắng về nội, thối về ngoại." Nó nghĩ bên ngoại, ông bà ngoại phải thương nó lắm.

Nó kể tôi nghe, xuống phi trường Tân Sơn Nhất bà con ra đón hai mẹ con nó như ca sĩ nổi tiếng về nước có fan hâm mộ đón rước. Nó đứng như trời trồng nhìn hết người này tới người kia. Này cậu, mợ, dì, dượng, em họ, chị họ....Gia đình thuê nguyên một chiếc xe van mười mấy chỗ ngồi. Nó giơ tay muốn nói "Hi guy" như ở Mỹ để chào một lượt, nhưng mẹ nó vội vàng hất tay nó xuống và giới thiệu. Nó phải nghiêm trang cúi đầu chào từng người. Có người má nó cũng không biết là ai, bà con như thế nào, họ hàng ra sao. Sau cái màn chào sân Tân Sơn Nhất, nó lên xe để được đưa về nhà ông bà ngoại.

Nhưng chưa, lên xe thì lên, nhưng ai nấy cũng than đói bụng vì họ đi từ sáng tinh mơ rồi ngồi chờ ở phi trường cho tới giờ. Mẹ nó nói
- Vậy nhà mình đi ăn rồi hãy về. Thế là cả xe bàn ăn chỗ nào. Nó không thể nghe và hiểu gì ráo trọi. Mạnh ai nấy nói và cãi nhau om sòm. Cuối cùng mẹ nó nói:
- Thôi! Mình đi ăn buffet đi, ai muốn ăn gì thì tự lấy khỏi cãi nhau.
Thế là cả xe đồng ý, rồi lại cãi nhau về các nhà hàng, chọn chỗ nào ngon nhất vì có Việt Kiều bao. Nó cười, nụ cười rất đểu nó nói:
- Có đi ăn thôi mà cãi nhau hăng thế này. Mẹ tao mà trúng số chắc họ quánh nhau quá.

Rồi nó kể cách ăn của bà con bên ngoại ở nhà hàng buffet. Nó nói dường như họ đói từ đời thuở nào. Mạnh ai nấy lấy, dĩa nào cũng đầy ắp. Món nào ngon là kêu nhau tới lấy cho bằng kịp kẻo hết. Họ cũng không sắp hàng và cũng quên bẵng đi hai mẹ con nó ngồi ở đâu. Nó chặc lưỡi "Dường như họ lên Sài Gòn để được đi ăn chứ không phải đi đón mẹ con tao". Nó bất bình khi thấy thức ăn còn thừa mứa trên bàn. Nó tính lên tiếng nhưng mẹ nó ngăn lại:
- Thôi con! Đừng làm mích lòng bà con.

Kể về ông ngoại, nó nói ông ngoại tao giống như ông vua. Ông chưa già lắm mà ra dáng bệ vệ giống như ông cụ. Tao nghe lời má khoanh tay cúi đầu chào: " Thưa ông ngoại, con mới về". Ông ngồi yên nhìn tao rồi "Ờ " một cái rất hách. Tao cứ tưởng tao về ổng mừng lắm ôm tao hay thân mật hỏi thăm tao học hành ra sao. Mà không mày ơi! Ổng ngồi yên vị trên cái ghế dựa ở chỗ bàn dài lớn để giữa nhà. Trong khi bà ngoại tao lăng xăng mừng cháu, ổng tỉnh bơ. Cái bình nước để giữa bàn, ổng không thèm rót ra uống mà kêu cháu nội ra rót. Thằng nhỏ em họ tao đứng nhón gót mà không với tới cái bình. Má tao vội nói:
-Hùng! Rót nước cho ông ngoại đi con
Tao hỏi má tao:
- Bộ tay ông ngoại đau hả má? Sao ông ngoại không rót.

Ông ngoại nhìn tao như nhìn quái thú, ổng giật mình thiệt đó mày. Tao cứ nghĩ tay ổng đau hay ổng bệnh gì đó. Mà không phải, má tao đánh tao một cái khá đau nói tao đừng hỗn, rót nước mời ông ngoại uống đi con.
Tao rót nước ra ly, má tao bảo phải cầm hai tay mời ông ngoại. Ổng cầm cái ly uống một cái ực rồi trừng mắt nhìn má tao:
- Con với cái, cháu với chắt, hỏng hết rồi.
Ủa! Tao rót nước mời ổng đàng hoàng mà sao ổng không cám ơn mà còn trách cứ má tao.

Sau này má tao mới nói. Ở VN, trong nhà ông ngoại tao là lớn nhất, ổng là người trưởng thượng mọi người phải vâng lời ổng không được trái ý. Đi phải thưa về phải trình, ổng cho phép mới được đi đâu. Vô bữa ăn phải mời ông ngoại trước. Ông ngoại cầm đũa lên mọi người mới được cầm đũa kể cả bà ngoại. Mà ổng sai bà ngoại tao chạy có cờ. Lấy thêm nước mắm, lấy trái ớt, lấy cái muỗng. Ổng làm rớt đũa cũng bắt bà ngoại tao đi lấy cái khác. Thiệt là bất công.

Buổi sáng, bà ngoại nấu bánh canh cho cả nhà. Mời ổng ra ăn, ổng ngồi thừ một đống, bà ngoại tao bưng tô bánh canh có kèm cái muỗng để trên một cái dĩa với chén nước mắm có trái ớt. Ổng ngồi ăn tỉnh bơ còn chê bà ngoại nấu lạt nhách, lần sau nhớ thêm nước mắm. Ủa bà ngoại đã để thêm một chén nước mắm riêng đó mà sao không bỏ thêm vô. Ăn xong ổng đi lên nhà trên, má tao phải rót nước mời tăm ổng dùng.

Bà ngoại tao rét ổng lắm. Mọi việc nhà bà ngoại làm hết còn ổng như một người vô dụng chỉ ăn rồi đi đánh cờ, uống trà, uống rượu với bạn. Lâu lâu ổng mời bạn tới nhậu, bà ngoại tao phải lo nấu nướng và phục dịch hết mấy ông. Nhậu nhẹt say sưa xong là họ về, ông ngoại vào ngủ, bà ngoại tao dọn dẹp như con sen. Tội nghiệp bà ngoại tao.
Má nói, hôm tao về đáng lý ra tao phải rót nước mời ổng uống như một lời chào lễ nghĩa. Tao đâu có biết, còn ổng thì nói lẫy sai thằng cháu nội nhỏ híu rót nước để nhắc nhở má tao.

Ổng ngoại tao chưa già nhưng lễ nghĩa lắm. Hôm má tao về là để làm tiệc mừng thọ ổng. Trời ơi! Ông ngoại mày hơn 70 chưa mừng thọ, ông ngoại tao 65 tuổi tiệc tùng quà cáp tùm lum. Con cháu thiếu điều lạy ổng như người chết. Sao người Việt Nam lể mể quá. Tao bị ổng chiếu tướng hoài, tao sợ quá đòi về Mỹ. Má tao phải mua vé đi du lịch mấy ngày để tao đi chơi né mặt ổng. Nói tới ông ngoại tao là tao sợ. Chưa thấy ông ngoại nào khó như ổng.

Ông ngoại thằng bạn tôi là vậy đó, tôi may mắn có ông ngoại rất chịu chơi. Hồi nhỏ mỗi kỳ hè, má đi làm gửi tôi cho ông ngoại. Ông ngoại đã nghỉ hưu nhưng vẫn yêu công việc, ông chỉ làm những ngày không giữ tôi. Buổi sáng hai ông cháu ra park gần nhà đi bộ, chơi banh và nói bao nhiêu là chuyện trên trời dưới đất. Ông ngoại tôi như một quyển sách cái gì cũng biết, cũng hiểu và cũng trả lời thật tếu để tôi cười. Ông và tôi nằm lăn trên cỏ, ông chỉ tôi những đám mây trôi qua giữa bầu trời và nói hãy ước mơ đi con, thế giới bao la con được quyền theo đuổi sở thích của mình, miễn sở thích đó đem lại lợi lạc cho xã hội. Ông với tôi như hai người bạn. Tôi chạy nhảy, ông rượt theo. Ông nói nhờ tôi nên ông khỏe người ra, bụng xẹp đi dù đôi khi cũng rất mệt. Tôi làm gì cho ông, ông cũng "thank you" với nụ cười hóm hỉnh vui vui.

Khi tôi còn nhỏ đi học, mỗi tuần ông chọn một ngày để đưa tôi đến trường. Ông đậu xe bên lề rồi nắm tay tôi dẫn đi tới lớp. Những bước chân hai ông cháu như những nấc thang đưa tôi vào đời. Mỗi tuần như vậy, tôi chờ ông và chờ món quà nhỏ mà sau khi tan trường về mẹ cho tôi được ăn do chính tay bà ngoại tôi làm.

Ông tôi một thời tuổi trẻ ngang dọc. Thuở ấy nước VN chiến tranh, ông phải bỏ học giữa chừng vào lính. Ông nói các con bên này sung sướng hơn ông ngoại. Tuổi trẻ của ông lớn lên trong chết chóc và nghèo đói. Ông kể những trận giao tranh, những lần về phép và những người bạn đã nằm lại ở quê hương. Ông nói:" Đàn ông phải va chạm với đời. Những gian lao rèn cho mình ý chí và phải gượng đứng dậy. Đàn ông không hèn nhát và không vì cái đói, cái sợ mà bán rẻ bạn bè.
Không như ông ngoại thằng bạn coi bà ngoại nó như Osin. Ông ngoại tôi coi bà ngoại tôi là sự chọn lựa tốt nhất của ông. Mỗi sáng bà ngoại làm điểm tâm thì ông pha trà hoặc cà phê rồi hai ông bà ngồi ăn chung. Mỗi khi bà vào bếp nấu ăn thì ông dọn bàn hay lấy bát đũa. Bữa cơm thanh đạm nhưng ấm cúng với hai nụ cười hạnh phúc.
Ông kể khi ông đi tù Cộng Sản, bà ngoại cực lắm phải đi làm vất vả để nuôi con và tiếp tế cho ông. Ông nói người đàn ông thành công hay không một phần lớn do người vợ của mình. Người vợ là thủ quỹ giữ tiền, là ánh sáng của hạnh phúc gia đình, là sức khỏe của cả nhà. Cho nên muốn có hạnh phúc, con hãy chọn cho mình người vợ tốt, nhân hậu và biết yêu thương. Còn đẹp hay xấu thì đã có thẩm mỹ viện giúp đỡ.

Ông ngoại tôi rất chịu chơi. Ông hay chọc cho bà ngoại nguýt xéo rồi cười hạnh phúc. Ông nói tếu một cây, chỗ nào có ông là rậm đám, cười hết ga, cười mỏi miệng quên thôi. Bởi ông có duyên nên bạn bè thật đông và ai cũng mến. Mỗi lần có tổ chức họp mặt Reunion, đi xa là ông hát, ông kể chuyện tiếu lâm, đàn bà đỏ mặt, đàn ông vỗ tay cười khoái chí. Lần nào bà ngoại cũng mắng yêu ông là "Đồ già dịch" rồi bà cười vì ông yêu đời nên ông trẻ ra ít bệnh vặt.
Ông thích khiêu vũ, bước chân của ông cũng lả lướt điêu luyện lắm. Nhưng từ ngày hai đầu gối bà ngoại đau ông chỉ ngồi với vợ để xem chứ không chịu ra nhảy với người khác.
Nhậu thì ông một cây, nhưng thưởng thức rượu nhiều hơn uống say. Có một lần ông uống say không biết trời trăng mây nước. Đó là lần người bạn chiến đấu của ông mất tại VN. Ông nói, người bạn đó đã cứu ông, đẩy ông nằm xuống để nhận một tràng đạn gãy cả hai chân. Mỗi năm ông đều gửi tiền về tiếp tế. Giờ bạn mất ông nợ bạn món nợ tình nghĩa huynh đệ chi binh.

Ông ngoại tôi đối xử mấy đứa bạn tôi giống như tôi, gần gũi và chân tình. Ông không làm ra vẻ một ông già cần được chăm sóc. Ông hoạt bát, trẻ trung và hòa đồng. Đời sống ông phong phú, tuổi già ông hạnh phúc. Tôi hưởng lây cái tính hào phóng và tự tin của ông để sống thoải mái, nhẹ nhàng vượt qua những khó khăn trong việc học hay đi làm.

Năm nay ông ngoại tôi đã gần tám mươi. Tuổi già không đợi một ai. Ông cũng bắt đầu yếu rồi. Mỗi sáng ông đi bộ quanh park mấy vòng. Chỉ tiêu của ông là 4.000 bước mỗi ngày. Ông không thường đi chơi hay tụ tập bạn bè nhiều nữa. Ông chăm lo vườn sau với những cây cảnh, và vài cây ăn trái. Năm nay ông trồng thêm 4 cây mãng cầu loại đặc biệt thật ngon mà tôi rất thích ăn. Ông mua dù về che cho từng cây, ông thụ phấn cho hoa như một người làm vườn chuyên nghiệp. Bà ngoại tôi cũng yếu, hai người già như hai cái bóng quấn quít lấy nhau, che chở và nương tựa vào nhau để tiếp nối chuyện tình từ hơn 50 năm qua.

Chiều nay tôi về thăm ngoại. Bà ngoại vào bếp làm cho tôi món gỏi cuốn mà tôi yêu thích. Ông ngồi nghe tôi kể chuyện mình. Đôi mắt ông nhìn tôi yêu thương như soi rọi bóng hình ông ngày còn trẻ. Ông nắm tay tôi xoa nhẹ lên mu bàn tay và nói: "Cố gắng lên con, ngoại tin con sẽ thành công!"
Tôi nhìn ông tôi yêu thương và không muốn mất mát. Xin ơn trên đừng cướp đi ông bà ngoại yêu quý của tôi. Hãy để tôi còn có thời gian trả chút nghĩa tình ông bà trao cho tôi từ lúc tôi mới lọt lòng.

Ông bà ngoại đẻ má mình
Nâng niu bồng ẵm nghĩa tình bao la
Đến khi má đẻ mình ra
Đây là cháu ngoại ruột rà chắt chiu
Nâng niu, chăm sóc sớm chiều
"Thương dại thương dột" ngoại yêu nhất nhà
Bây giờ ngoại đến tuổi già
Con không có mặt vô ra hai người
Bóng già nương tựa làm vui
Cháu còn ăn học, say vùi công danh
Hắt hiu mỗi bữa cơm canh
Căn nhà vắng lặng nhìn quanh buồn lòng.
Ngoại già tuổi đã chất chồng
Làm sao kéo được hai vòng tử sinh.
Chiều nay bên ngoại của mình.
Rưng rưng tôi khóc. Ngoại mình, mình thương.

Nguyễn thị Thêm

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2023

Bến Giang Đầu - Nhạc và Lời: Lê Trọng Nguyễn - Tiếng Hát Phương Thảo

Cô Gái Miền Nam


Em là cô gái miền Nam
Trai Sài thành dập dìu sang kiếm tìm
Tìm cho được mối lương duyên
Cùng người thiếu nữ dịu hiền dễ thương
Vườn em cây trái quê hương
Có chua có ngọt mến thương đậm đà
Này anh nếu có ghé qua
Phải lòng cô gái thật thà miền Nam
Có yêu xin giữ lòng vàng
Cao sang phú quý chẳng màng nơi đây
Chỉ cần tình nghĩa vui vầy
Xây nên hạnh phúc , tình đầy sắt son
Yêu nhau xin giữ vuông tròn
Đừng mơ trăng gió để buồn cho nhau
Từ Long An đến Cà Mau
Vẫn mang tính chất ngọt ngào miền Nam
Sao dời vật đổi cũng cam
Chân thành hồn hậu đến ngàn đời sau
Chúc cho những đấng anh hào
Trai tài gái sắc tình trao vững bền.

11 / 22 /2022
Hoàng Phượng

Tình Cờ

 

Có những tình cờ sao vấn vương
Như thể đã từng yêu với thương
Như thể hẹn hò ngày thơ dại
Để nghe trăn trở những đêm trường

Có những tình cờ sao nhớ nhung
Như thể bao lần sánh bước chung
Như thể đón đưa từ lâu lắm
Tình gởi duyên trao ước nguyện cùng

Dẫu sao tôi vẫn muốn một lần
Tình cờ tao ngộ lại cố nhân
Nhưng giữa đất trời mênh mông quá
Duyên kiếp đôi ta có định phần..!??

Kim Phượng(Canada)

Tách Cà Phê Đầu Ngày

   

Sáng nay bên tách cà phê
Thấy hình bóng cũ thoáng về quanh đây
Nửa môi đắng vị những ngày
Nửa môi ngọt vị thắm đầy nhớ thương

Hương xưa tỏa những con đường
Bên lề phố cạn phủ hàng me bay
Gió nghiêng hôn sợi tóc dài
Tay nghiêng trĩu nặng bờ vai nghìn trùng

Chạnh lòng mắt bỗng rưng rưng
Thương cây trụi lá thương rừng bơ vơ
Thương con chim nhỏ tình cờ
Về đây hát khúc ầu ơ... rất buồn!

Ngụm cà phê chút dư hương
Có người chắc cũng môi thường nhắc tên?
Hay là năm tháng đã quên
Có gì để nhớ những phiền muộn xa?

Xuân rồi mùa cũng đi qua
Nhìn nghiêng đáy tách chỉ là bóng nhau
Nhớ người uống cạn niềm đau
Thấy trong hư ảo một màu trăm năm...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long

Tháng Ba Rừng Khóc

 

(Phóng tác từ Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh)

Tháng ba,
gãy súng
lính VNCH tan hàng
Chồng chị,
Biệt Động Quân
chị tìm vài lần
không gặp
Chị và con vượt biển
đến bờ Tự Do :Thụy Sĩ
Hai mươi năm sau
chị và con về Việt Nam
Chị đến Pleiku nhằm ngày Chợ Phiên
thấy chàng thanh niên bán gà
trên tay có sẹo nhỏ
chị nhận ra con mình
chị đến ôm chàng ấy ,nói;
Con của mẹ:Lê Cao Nguyên
Chàng thanh niên đẩy chị ra ,la lớn
tao không phải Lê Cao Nguyên
tên tao là K'Lan
Chị đau lòng lắm
Chị tìm manh mối
đến gặp người cha nuôi
Ông già kể rằng
ngày ấy
có người mặc quần áo rằn ri
đã chết
trên vai có thằng bé chừng hai tuổi
thằng đó là thằng K'Lan ngày nay
còn ông
tôi chôn đằng kia
Chị thăm mộ chồng
Ôi! nấm mồ hiu quạnh
được phủ vài nhánh cây khô
có vết cào xới của thú rừng
Chị gục đầu trên mộ
khóc than !!
Chị nói với ông già:
hãy về Nha Trang sinh sống
ông già bảo rằng người Thượng chỉ ở chốn núi rừng
Chị muốn dời mộ chồng
nhưng không
hãy để anh ở lại với núi rừng
với chiến hữu anh
Chị xây mộ chồng
chị cho ông già một số tiền
rồi chị trở về Thụy Sĩ
Hằng năm
mỗi mùa Xuân đến
người người hân hoan chào đón
còn chị
Vào giữa rưng sâu
ngồi khóc
Chị khóc thương chồng
thương mình
thương đời
hay
Khóc Thương Ai!!??

Hoàng Long
15 tháng 3/2021

Giọt


GIỌT CHÂU lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm GIỌT TƯƠNG.

Hai câu thơ trong Truyện Kiều trên, ta có đến hai thứ GIỌT: GIỌT CHÂU và GIỌT TƯƠNG. Khi ngỡ Thúy Kiều đã chết thiêu trong thư phòng, sau một năm buồn bã, Thúc Sinh mới "Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê" và khi vợ chồng đang "chén tạc chén thù" thì Hoạn Thư mới cho Thúy Kiều ra hầu rượu và bắt nàng phải "nhìn tận mặt, mời tận tay", rồi còn phải dạo đàn cho vợ chồng giải khuây với tiếng đàn đoạn trường của Thúy Kiều:

Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trong tiệc cũng tan nát lòng...

... và cũng khiến cho Chàng Thúc phải:

GIỌT CHÂU lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm GIỌT TƯƠNG.

GIỌT CHÂU : Theo sách Bác Vật Chí của Trương Huê đời Tấn 晋张华《博物志》: Trong biển Nam Hải có giao nhân 鲛人 sống dưới nước như cá. Khi lên bờ ở cùng người để học nghề canh cửi, lúc từ giả gia chủ, cảm động rơi nước mắt rớt xuống thành những hạt châu. Chủ gia phải lấy chậu hứng để làm của báu. Sau dùng rộng ra, gọi những giọt nước mắt là GIỌT CHÂU. Ngoài hai câu trên, trong Truyện Kiều tả lúc cả nhà theo chân sư Giác Duyên đến thảo am để tìm gặp lại Thúy Kiều. Khi gặp lại đầy đủ cả nhà Thúy Kiều đã cảm động đến nỗi:

GIỌT CHÂU thánh thót quẽn bào,
Mừng mừng tủi tủi biết bao là tình.

GIỌT TƯƠNG : là Giọt nước mắt của Tương Phi 湘妃. Tương Phi là chỉ hai bà phi vợ của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh. Khi vua Thuấn mất ở cánh đồng Thương Ngô bên bờ sông Tương, hai bà phi đã khóc đến nước mắt chảy máu vẫy đầy lên những cây trúc xanh ở nơi đó thành các đóm đỏ sậm màu. Loại trúc có đốm nầy rất đẹp và qúy, gọi là Tương Phi Trúc. Nên GIỌT TƯƠNG thường dùng để chỉ giọt nước mắt của vợ khóc chồng. Sau dùng rộng ra để chỉ chung những giọt nước mắt xót thương. Nên...

GIỌT CHÂU là chỉ chung những Giọt Nước Mắt, còn GIỌT TƯƠNG là những Giọt Nước Mắt Xót Thương sầu thảm như hai câu mở đầu bài nầy.

Cũng đều là nước mắt, không gọi là Giọt Châu thì gọi là GIỌT NGỌC. Như khi bị Hoạn Bà đánh cho một trận rồi bắt đổi tên là Hoa Nô, lại nghe lời khuyên của bà quản gia :"...Kẻo khi sóng gió bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan !". Nên Thúy Kiều mới lại :

Nàng càng GIỌT NGỌC chứa chan,
Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây.

Khi Kim Trọng trở lại vườn thúy để tìm Kiều, biết nàng đã bán mình chuộc tội cho cha, còn Thúy Vân và Vương Quan thì "May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi". Ông bà viên ngoại cũng đã "Khóc than kể nỗi niềm tây" đến nỗi chàng Kim phải :

Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề GIỌT NGỌC thẫn thờ hồn mai!

Còn trong truyện thơ Nôm Phan Trần tả lúc Phan Sinh và Trần Kiều Liên gặp lại nhau thì :

Thấy nhau GIỌT NGỌC không cầm,
Ơn nàng trinh tiết ba đông vẹn toàn.

Còn khóc đến đổi nước mắt đỏ thành máu như nàng Tiết Linh Vân 薛灵芸 trong Thập Di Ký 拾遗记 của Vương Gia 王嘉 đời Ngụy Văn Đế (Tào Phi) khi được lệnh phải về kinh để nhập cung, vì nàng có tài thêu thùa rất giỏi, nổi tiếng là Châm Thần 針神 (mũi kim thần kỳ) lúc bấy giờ. Thương cảm đến nỗi nước mắt chảy ra màu đỏ như máu thì gọi là GIỌT HỒNG. Như khi Thúy Kiều từ biệt Vương Bà ở "Bề ngoài mười dặm tràng đình" để đi theo Mã Giám Sinh :

Nhìn càng lã chã GIỌT HỒNG,
Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao.

Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì gọi những giọt nước mắt màu đỏ là GIỌT HỒNG BĂNG :

Ngọn tâm hỏa đốt dào nét liễu,
GIỌT HỒNG BĂNG thấm ráo lòng son.

Trong "Hoa Tiên Ký" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì gọi một cách nhẹ nhàng và thi vị hơn : GIỌT THẮM:

Thấy lời oanh yến xôn xao,
Càng chan GIỌT THẰM càng bào lòng son.

Khi đã tốn "Biết bao công mượn của thuê" mà vẫn không tìm gặp được nàng Kiều, khiến cho Kim Trọng đau buồn đến nỗi:

Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.

Sau những giọt nước mắt như Giọt Châu, Giọt Ngọc, Giọt Tương, Giọt Thắm, Giọt Hồng, Giọt Hồng Băng... Bây giờ ta nói đến GIỌT ĐỒNG HỒ.

ĐỒNG HỒ 銅壺 : là cái Bình bằng Đồng rất lớn có hình tượng của con rồng phun nước, dùng đựng nước để đếm thời gian ngày xưa. Cứ đổ đầy nước vào cái Đồng Hồ nầy rồi cho miệng rồng nhễu ra (chữ Nho gọi là LẬU) từng giọt từng giọt một để tính thời gian theo dấu khắc trên Đồng Hồ. Ban ngày thì không nghe tiếng, nhưng ban đêm yên tịnh thì tiếng nước nhỏ giọt nghe rất rõ ràng, nên ta mới có các từ như Giọt Rồng, Tiếng Thời Gian, Khắc Lậu Canh Tàn... Như khi Thúy Kiều nhẹ dạ nghe theo lời của Sở Khanh dụ dỗ nửa đêm lẻn bước xuống lầu Ngưng Bích trốn đi trong cảnh :

Đêm thu Khắc Lậu Canh Tàn,
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

Trong truyên Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng, tả lúc nửa đêm Phương Hoa hẹn gặp Cảnh Yên ở góc vườn để trao áo quần và tiền bạc :

GIỌT ĐỒNG HỒ điểm canh ba,
Bấy giờ liền dậy bước ra một mình.

Đồng hồ đầu rồng Đồng hồ đời nhà Nguyên

Nàng cung nữ bị thất sủng trong Cung Oán Ngâm Khúc chờ đợi và oán trách nhà vua cho đến lúc ĐỒNG HỒ cạn hết nước vẫn không chợp mắt được :

Mắt chưa nhắp ĐỒNG HỒ đã cạn,
Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao.

Còn trong Truyện Kiều, khi đã hành hạ Thúc Sinh và Thúy Kiều đến nửa đêm cho thỏa mãn rồi Hoạn Thư mới chịu tha :

GIỌT RỒNG canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.

Trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiên thì lại đọc trại GIỌT LẬU thành GIỌT LẦU cho ăn với bằng trắc của thơ Lục Bát như sau:

Người về khuất, kẻ trông theo,
Xa mù lần khóa vắng teo GIỌT LẦU.

GIỌT VŨ LỘ : VŨ 雨 là mưa, LỘ 露 là hạt móc, hạt sương. VŨ LỘ 雨露 là Mưa Móc. Có Mưa có Móc thì cỏ cây hoa lá mới tốt tươi, nên GIỌT VŨ LỘ dùng để ví với ơn vua ban cho khắp cả thần dân, gọi là Ơn Mưa Móc. Trong "Tụng Tây Hồ Phú" của Nguyễn Huy Lượng có câu :

Trên dưới đều rồng mây cá nước phải duyên, GIỌT VŨ LỘ tưới đôi hàng uyên lộ,
Gần xa cũng cõi bờ non sông một mối, tấm đan thành dung khắp lũ nghiêu sò.

Cuối cùng ta có GIỌT NƯỚC CÀNH DƯƠNG : là Giọt nước được rải ra từ cành dương liễu trong tịnh bình của Quan Thế Âm Bồ Tát để cải tử hồi sinh, cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sinh còn đang chìm đắm trong bễ trầm luân. Như khi Thúy Kiều vào tu ở Quan Âm Các :

Nàng từ lánh gót vườn hoa,
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
Cho hay GIỌT NƯỚC CÀNH DƯƠNG,
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên!

Xin được kết thúc các GIỌT ở đây với Giọt Nước Cành Dương của Mẹ hiền cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tác.

Đỗ Chiêu Đức

Đoạn Trường Tân Thanh: Tác Phẩm Tư Tưởng Của Việt Nam Và Của Nhân Loại.

                    

          Giá trị ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ trước nay đã được nói nhiều về mọi lãnh vực : nghệ thuật, đạo đức, nhân đạo, triết lý, tâm lý, lịch sử, xã hội, chính trị,…Nhưng, theo người viết, tất cả những giá trị đó mới chỉ là những phần ‘ngoại diện’ hay chỉ là những cái đến sau, mặc nhiên đến, những cái cục bộ, từng phần tất yếu nằm sẵn trong cái ‘chung cùng’ bao quát toàn diện, toàn trình’ mà Nguyễn Du muốn phổ vào tác phẩm. Cái ‘chung cùng, bao quát, toàn diễn, toàn trình’ đó là cái gì ? Xin thưa, đấy là tư tưởng Nguyễn Du được gởi vào tác phẩm và vì thế, nên, theo người viết,  ‘Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm tư tưởng’. Và vì là tác phẩm tư tưởng nên Đoạn Trường Tân Thanh không chỉ là tác phẩm của riêng dân tộc Việt Nam mà còn là của chung nhân loại vì đề cập đến mọi thắc mắc của chung nhân loại xưa nay cùng nói lên hướng giải quyết những thắc mắc đó. 

          Câu hỏi đặt ra : Do đâu có thể bảo ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ là tác phẩm tư tưởng’ ? Xin được trả lời qua những phần sau đây (nơi đây chỉ xin nói tổng quát một số điều; tư tưởng ND trong ĐTTT còn nằm nơi một số từ ngữ và lời thơ không chỉ đẹp về lời mà còn mang chở bao ý nội hàm sâu sắc, xin không trưng dẫn để tránh dài dòng).


          A.- Trước tiên do nhan đề tác phẩm : từ Cựu Thanh sang Tân Thanh.


                * Tại sao Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm là ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ ?

          Từ ngày tác phẩm được ra đời, dân gian thường gọi là Truyện Kiều chứ không mấy gọi là ‘Đoạn Trường Tân Thanh’. Nhiều bản in ấn do các học giả hoặc do cả các cơ quan Văn hóa, Giáo dục của Chính Phủ hay Nhà Nước đôi khi cũng lấy tên là ‘Truyện Kiều’ và  dù có dùng đúng nhan đề tác giả đã đặt, nhưng cũng không mấy để ý lý do nào Nguyễn Du đã đặt tên cho tác phẩm phóng tác của mình là ‘Đoạn Trường Tân Thanh’. ‘          

Cả bốn từ ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ có thể hiểu theo hai cách. Trước tiên là Tiếng kêu mới (làm) đứt ruột’, hiểu như thế nầy  thì chỉ giới hạn nơi câu truyện, nơi cuộc đời Kiều thôi và chắc không đúng với nội dung tư tưởng nơi tác phẩm vì đoạn trường mà Kiều trải chịu chưa hẳn là những đoạn trường cùng cực nơi cõi tại thế, hơn nữa, cuộc sống Kiều có phải chỉ toàn là đoạn trường đâu vì nàng đã trải qua bao lúc sung túc, vinh quang, thêm nữa cũng không nêu rõ tại sao lại là ‘tiếng kêu mới’. Cách hiểu thứ hai : từ ‘Đoạn trường ‘ nơi đây làm định ngữ , ta sẽ bảo : ‘Tiếng kêu mới về đau khổ’ hay ‘Tiếng kêu mới của đau khổ’. Dĩ nhiên, đau khổ không tự nó lên tiếng kêu, vậy ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ là ‘Tiếng kêu mới của con người về đau khổ’. 

          

          Tân Thanh là ‘tiếng mới’ mà ‘tiếng’ là ‘âm thanh’ dù là tiếng gì. Từ ‘âm thanh’, con người tạo nên ‘ngôn ngữ nói’ rồi ‘ngôn ngữ viết’. 

          Ngôn ngữ, theo nghĩa phổ thông là ‘’hệ thống dấu hiệu dùng làm phương tiện truyền đạt, thông giao’’ (1). Theo Martinet: ‘’ Ngôn ngữ là quan năng của con người thông giao với nhau bằng âm hiệu’’(2). Định nghĩa theo hai cách trên là căn cứ trên cái ‘Dụng’ thông thường của ngôn ngữ. Hiểu ở bình diện cao hơn, theo thể điệu M. Heidegger : ‘’Ngôn ngữ là ngôi nhà của Đạo Thể. Trong ngôi nhà đó, con người cư ngụ. Những nhà  tư tưởng và thi sĩ là những người canh giữ chỗ cư ngụ đó. Sự canh giữ của họ là công trình viên đạt mối hiển lộ của Đạo Thể; qua thể điệu và cách nói của họ, họ mang chở mối hiển lộ đó vào ngôn ngữ và bảo lưu nó trong ngôn ngữ’’ (3). Hiểu như thế, thì chính ngôn ngữ làm hiển lộ Đạo Thể (hay Tính thể) nơi hiện thể. Đạo Thể được hiểu là ‘’uyên nguyên sinh thành vạn hữu và cư ngụ nơi mỗi thứ hiện hữu (mỗi hiện thể, mỗi pháp) để đưa vạn hữu trở lại với mình’’. Đạo học Đông Phương đã bảo : ‘’Vạn vật đồng nhất thể, Vạn hữu bản lai đồng’’ và ‘’Tất cả khởi đi từ Một để trở về trong Một’’. Kinh sách Phật giáo, Ki-Tô giáo cũng nói như thế (xin không dẫn chứng để tránh dài dòng). Theo M. Heidegger, chỉ riêng nhà tư tưởng và thi sĩ mới nghe ra và viên thành sự hiển lộ của Đạo Thể qua ngôn ngữ.

          Nhưng ngôn ngữ không chỉ Tiếng và Từ, Lời và Câu, Vần và Điệu mà là Cách Nói (le Dire) của họ. Cách nói của nhà Tư tưởng  và thi sĩ thể hiện cách nói của Tư tưởng (le dire de la pensée) nghĩa là cách thể hiện của tư tưởng vào hoạt sinh, vào cõi tại thế. Theo Parménide, ‘’tư tưởng và Đạo thể là một’’ (4). Theo Đạo học, Đạo Thể là cái Nguồn gốc sinh thành vũ trụ. Cái nguồn gốc đó thể hiện nơi cõi thế gian qua tư tưởng và tư tưởng được giải bày qua ngôn ngữ tức cách nói của nhà tư tưởng và thi sĩ.

          Cách nói của Nguyễn Du qua ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ chính là ngôn ngữ Nguyễn Du và ngôn ngữ Nguyễn Du qua tác phẩm nầy, diễn đạt ‘’tiếng kêu mới về đoạn trường’’ tức ‘’cái nhìn mới’’, cái ‘’Ý nghĩa mới của đau khổ’’ về cuộc đời, về hiện hữu tại thế, có khác với cái nhìn cũ, cái ‘nhìn cựu thanh’ xưa nay . Do đó mà ông đặt tên cho tác phẩm là ‘Tân Thanh’.

          ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ là ‘tiếng kêu mới về đoạn trường’. Tiếng đoạn trường mới không là tiếng than khóc mới mẻ hay một đoạn trường mới nào khác tiếp theo cái đoạn trường đã có mà là cái ‘nhìn mới’ về đoạn trường. Cũng là cuộc sống bi đát của Kiều, cũng là tấm thân trôi nổi, bèo bọt của Kiều -của kiếp người nói chung- nhưng Thanh Tâm tài nhân cũng như mọi người xưa nay đã nhìn theo cái ‘đoạn trường cũ’, cái ‘đoạn trường cựu thanh’ ; Nguyễn Du đã nhìn ra cái ‘tiếng mới’ trong cái cũ đó. Từ cái nhìn ‘cựu thanh’ về đau khổ, Nguyễn Du đã nhìn ra cái ‘tân thanh’ của đau khổ để phóng tác ‘Kim-Vân-Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân thành ‘Đoạn Trường Tân Thanh’.


          Cuộc sống vốn khổ, cuộc đời vốn khổ, nhà Phật đã bảo thế, triết lý Đông Tây cũng  bảo thế, hiện thực cuộc sống, cuộc đời từng người, từng dân tộc, quốc gia và chung cho cả nhân loại đã minh chứng điều đó. Cái khổ, cái đoạn trường muôn đời xưa nay vẫn thế : bịnh tật, nghèo nàn, nợ nần, thất nghiệp, thất tình, thất chí, bị coi thường, dèm pha, phỉ báng, đó kỵ, khinh khi, bị bóc lột, bị chà đạp oan ức, bị hạ nhục, bị tù tội, bị hành thân hoại thể, bị bắt làm tôi đòi, nô lệ, không nguồn cảm thông, không nơi nương tựa, sống vô gia cư, chết vô địa táng, bị bắt buộc phải làm trái ý mình, bị đẩy vào đường cùng thế bí, con gái phải kiếp giang hồ, con trai phải vòng lao lý,…, nghĩa là mãi mãi lo lắng, hãi hùng, buồn đau, bi lụy, thấp thỏm, bồn chồn cho cuộc sống bây giờ và ngày tới.

          Cuộc sống nào rồi cũng lẩn quẩn mãi trong một tiết điệu hao mòn, tê tái : sinh ra, lớn lên, làm việc, học hành, đấu tranh, cưới vợ, gả chồng, sinh con đẻ cái, hoạt động mưu sinh, hiến mình cho lý tưởng, buông tuồng theo khoái lạc, ví đuổi phương tiện, thời trang, mưu giàu, mưu lợi, mưu sự nghiệp, công danh, tiếng tăm, hạnh phúc,…; vui phút chốc, buồn triền miên, thành công ngắn ngủi, thất bại não nề, sướng khổ, buồn đau liên tục,..rồi già nua, chết chóc, từ thời ông tằng, ông tổ đến đòi cha, đời mẹ, đời con, cháu, chắt, chít…, bao giờ cũng thế, cũng thế! 

          Ngay cả những kẻ đã thành công một thời, uy thế, tiếng tăm lẫy lừng một thuở, lúc tuổi đời bóng xế có sống thong thả yên vui, có được mọi người nhắc đến, hâm mộ kỳ công, thành tích ; lúc chết có được bao khách thập phương đưa đón, điếu tang với nhiều vòng hoa tưởng niệm, thì, thật ra, lúc bóng ngả tà huy, không khỏi lạnh buồn, u uẩn trong hoài cảm ngày qua và trong nhạt nhòa hiện tại. Nhất là lúc nhìn thành tích mình đã bị vượt qua, lúc kỳ công của mình ít nhiều bị phủ nhận, lúc thời thế đổi thay, trào lưu chuyển khác rồi đếm tuổi cuộc đời không khỏi tư lự, buồn đau, u hoài lênh đênh phơ phất trong ‘nỗi buồn tại thế’ không nguôi, nhất là kiểm điểm lại bao lỗi lầm đã gây ra cho cha mẹ, vợ con, đồng bào, đất nước, quê hương, luân thường, đạo lý…,rồi ân hận, dày vò. Chính vì thế mà người ta thường quan niệm cuộc sống, cuộc đời là bể khổ, là hí trường phù du, tạm bợ, giả hoặc, vô thường, là giấc mộng, cơn mơ, mối nợ, sống là gởi, thác là về,…

          Vâng, cuộc sống, cuộc đời là những thể hiện đó, không sai, nhưng ‘do đâu, tại sao, để làm gì, dẫn về đâu’ thì chưa có lời giải đáp. Nguyễn Du đã giải đáp những thắc mắc đó.

‘Tân Thanh’ nơi Nguyễn Du là ‘ngôn ngữ mới’, và ‘ngôn ngữ mới’ nơi đây là ‘cái nhìn mới’, cái ‘ý nghĩa mới’ của đau khổ. Cũng những đau khổ đó nhưng trước nay người ta nhìn theo cái ‘nhìn cũ’, cái ‘đoạn trường cựu thanh’, cho đấy là những cái dĩ nhiên, những cái tất định, không thể nào thoát ra được vì không đau khổ nầy thì đau khổ khác, có thay đổi bộ mặt, thay đổi mức độ, tính chất nhưng chung quy vẫn là đau khổ. Mượn tất cả những ‘đoạn trường cựu thanh’ của Kiều, của Hoạn, của Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh, của Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh (ngoại trừ Vãi Giác Duyên và Sư Tam Hợp), Nguyễn Du muốn đưa dẫn chúng ta về một cái ‘nhìn mới’ về đau khổ nên đặt tên tập truyện là Đoạn Trường Tân Thanh. Cái nhìn mới đó, nói theo nhà Phật là  ‘’Phiền não là Bồ đề, Khổ đau là Giải thoát’’. Cái nhìn mới về đau khổ đó cũng được Jésus nói đến qua bài giảng trên núi về Tám Mối Phúc, miễn là biết ‘’Trăm năm để một tấm lòng từ đây’’ như Kiều. 


          * Lý do Nguyễn Du phóng tác ‘Kim Vân Kiều truyện’ của Thanh Tâm tài nhân : Cuộc tình từ ‘Có thành Không’ chuyển sang ‘Không trong Có’ :

          Thúy Kiều, Kim Trọng từ lúc ‘’Tiên thề cùng thảo một chương,…trăm năm tạc một chữ đồng đến xương’’thì  cuộc tình hai người xem như hoàn hảo, tốt đẹp vô cùng. Hai người, trong tâm thức, đã là ‘một thịt’, hai người đã ‘cùng có trong nhau’ hoàn toàn ‘’chưa chăn gối cũng vợ chồng’’. Nhưng rồi, cuộc đời oái oăm bẻ gãy tình duyên đôi lứa. Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú ; Kiều phải bán mình chuộc cha. Mười lăm năm không gặp lại, mười lăm năm cả hai sống trong tưởng nhớ, ngậm ngùi. Cuộc tình thế là ‘từ Có thành Không’.

          Mười lăm năm sau, tái hợp, ‘’mười lăm năm mới bây giờ là đây’’và ‘’động phòng dìu dặt chén mồi’’ nhưng ‘’Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm’’. Cả hai cùng có bên nhau, ‘cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan’’, cùng ăn chung nằm chạ, thế mà không là vợ chồng (khác với trước : ‘chưa chăn gối cũng vợ chồng’). Cái gì lạ ? Một màn hài kịch ? Cuộc tình đã chuyển từ ‘Có trong Không’ sang thành ‘Không trong Có’. 

          Chúng ta muốn thế nào ? Chúng ta muốn ‘Có trong Không’ hay muốn ‘Không trong Có’ ? Sở hữu mà không sở hữu, không sở hữu mà sở hữu ? Qui luật kinh tế nào giải thích được chăng ? Cuộc đời đã đưa cuộc tình hai người từ ‘Hữu vào Không’, buộc hai người phải sống cái ‘Hữu trong Không’ để kết cục dẫn về  cái ‘Không trong Hữu’. Liệu có thể bảo theo lời Kinh Duy Ma : ‘bất trụ vô vi, bất tận hữu vi’ ?

          Một điều nữa, kết thúc câu truyện khiến ta liên tưởng đến lời Chúa Jésus : ‘’Vì đến khi sống lại, người ta không lấy vợ cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy’’ (Ma: 22-30). Thiên sứ là trạng thái sống ‘hữu trong không’ và ‘không trong hữu’ cùng lúc. Kiều đã ‘sống lại’ (cái chết của nàng là cái chết hụt, cái chết của nàng không là cái chết đoạn kiếp, đổi kiếp, hóa kiếp để đầu thai sang một kiếp khác), nàng ‘sống lại trong cuộc đời nầy với mối tình ngày trước nhưng trong một trạng thái khác trước, trạng thái ‘Không trong Có’.


          Chính cái kết cục lạ lùng của câu truyện đã khiến Nguyễn Du chú ý vì hợp với tư tưởng lâu nay của ông, tư tưởng của con người ‘’Thiên tuế trường ưu vị tử tiền’’(câu thơ chữ Hán của ND : ‘Trước khi chết vẫn lo nghĩ, ưu tư chuyện nghìn sau’). Chính cái kết cục kỳ lạ nầy đã khiến Nguyễn Du phóng tác ‘Kim Vân Kiều truyện’ của Thanh Tâm tài nhân mà không phóng tác một tác phẩm nào khác trong vườn Văn học Trung Hoa cũng như không sáng tác một truyện nào tương tự dù ông biết cuộc sống truân chuyên, chìm nổi của bao hồng nhan bạc phận vì tất cả những cuộc sống đó, ngay cả của chính ông, của cô Kiều hay của bất kỳ ai đều chỉ là ‘Đoạn trường cựu thanh’ mà thôi. (Xin đừng ỡm ờ nghĩ rằng biết đâu chẳng đã có một ‘xao động lượng tử’ (flux quantique, xin mượn một từ của Khoa học) đã khiến xảy ra cuộc làm tình giữa hai người dù Kiều không muốn thì Kim Trọng cũng đã hẳn ép liễu nài hoa ? Xin đừng đánh giá Nguyễn Du quá thấp như vậy để khỏi mang tội hạ nhục tác giả và tác phẩm). Xin không đi xa hơn để nói đến cảnh giới sống của xã hội nhân loại mai nầy với một thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa,….khác với hiện nay.


          Chỉ riêng với hai điều kể trên  -cái nhìn mới về đoạn trường và kết thúc lạ lùng của câu truyện-  Nguyễn Du đã phổ vào cho Truyện Kiều hai tư tưởng sau đây :

          1) Sống là đau khổ nhưng chính cái đau khổ của cuộc sống, cuộc đời sẽ giải thoát ta khỏi đau khổ. Diễn tiến nhân sinh sẽ đến thời điểm chấm dứt đoạn trường và bao nhiêu lý do, điều kiện, sự vụ con người tạo đau khổ tội lỗi cho nhau sẽ chấm dứt để mở ra một cảnh giới hay một trạng thái sống mới không còn đau khổ nữa. Điều nầy, Nguyễn Du đã nói qua Đạm Tiên –hình ảnh cuộc đời đau khổ- lúc nàng bảo với Kiều vừa được vãi Giác Duyên vớt lên từ sông Tiền Đường :  ‘’Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đem mà trả nhau’’ để từ nay cuộc sống, cuộc đời hoàn toàn sung sướng với ‘’Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào’’.

          2) Tài và Mệnh không còn đố kỵ, tương khắc, tương xung mà hài hòa, hảo hợp nhau. ‘Tài’ là tài sức, khả năng từng người để lo cho cuộc sống riêng của mình ; ‘Mệnh’ là cuộc đời tức cuộc sống chung của tất cả mọi người trong xã hội, nói rõ hơn là ‘môi trường xã hội, môi trường đồng loại’, là ‘cõi người ta’ (trăm năm trong cõi người ta - Kiều - Không nên hiểu ‘Mệnh’ là số mệnh, định mệnh). Con người vì cần thiết của Sự Sống, kết hợp nhau, tạo nên xã hội để vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau. Cạnh tranh xã hội là điều tất yếu và là động lực cho xã hội tiến bộ văn minh nhưng lại luôn luôn tạo nên thế tranh chấp thường trực giữa cuộc sống, cuộc đời tức giữa cá nhân với xã hội dù trong từng đơn vị  nhỏ nhất như gia đình, đoàn thể rồi đến quốc gia, dân tộc, rộng hơn nữa là cộng đồng nhân loại. Do thế tranh chấp đó mà con người cùng xã hội luôn luôn bất an, đau khổ. Những đau khổ của  cuộc sống cuộc đời trở thành đa dạng, lớn dần lên theo đà văn minh. Sự tranh chấp, tương xung giữa tài và mệnh, giữa cuộc sống, cuộc đời, giữa cá nhân và xã hội sẽ đến thời điểm chấm dứt do diễn tiến tiến hóa của nhân sinh. Nguyễn Du đã tiên đoán, hay đúng hơn, đã nhìn ra điều đó. Mở đầu tác phẩm bằng hai câu thơ nói lên tính cách ‘đố kỵ’ giữa tài và mệnh : ‘’Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau’’, Nguyễn Du đã kết thúc tác phẩm bằng câu ‘’Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai’’ (câu 3246) tuy có mượn ý nhà Phật để lý giải về chữ Tâm. 

          (Còn tiếp)


          Phụ lục : Thi hào Pháp Victor Hugo, theo người viết, có lẽ cũng trong những cảm nhận như Nguyễn Du, đã báo biểu giờ chấm dứt mọi đoạn trường để nhân sinh được sinh thành trở lại (sống lại) trong một kỷ nguyên mới, trong một cảnh giới mới tức vào thời điểm ‘muôn vật đổi mới’ theo Thánh Kinh Ki-Tô giáo. Trong đoạn cuối bài trường thiên ‘Bên bờ Vô hạn’ (au bord de l’infini), thi hào đã viết:

                                          
Tout sera dit. Le mal expirera, les larmes
Tariront; plus de fers, plus de deuils, plus d’alarmes ;
L’affreux gouffre inclément
Cessera d’être sourd, et bégaiera : qu’entends-je ?
Les douleurs finiront dans toute l’ombre ; un ange
Criera: Commencement !
(Les Contemplations, nrf Poésie, Gall. Paris 2002, trang 407)

Mọi điều sẽ được nói (5). Điều xấu cáo chung, lệ buồn
Chấm dứt; không còn xiềng xích, tù gông, tang ma, lo lắng
Hố thẳm khắt khe không còn câm nín (mà) bập bẹ ‘tôi nghe gì ?
Đau khổ nhân sinh tan đi trong mọi vùng bóng tối
Thiên sứ từ cao reo tiếng gọi mời:
Khởi nguyên!


Nguyễn Thùy

__________

Chú thích :

1) Tout système de signes pouvant servir de moyen de communication – André Lalande : Vocabulaire technique et critique de la philosophie.

2) Le langage est la faculté qu’ont les hommes de s’entendre au moyen de signes vocaux – Xem André Vergez và Denise Huissaman: Petie dictionnaire de la Philosophie, les abc du Bac.

3) Le langage est la maison de l’Être. Dans son abri, habite l’homme. Les penseurs et les poètes sont ceux qui veillent sur cet abri. Leur veille est l’accomplissement de la révéabilité de l’Être; en tant que par leur dire, ils portent au langage cette révéabilité et la conservent dans le langage – M. Heidegger : Lettre sur l’humanisme trong Questions III, Gall. Paris 1973, trang 74.

4) C’est la même chose que penser et être – Xem La pensée grecque của Léon Robin, édt. Albin Michel, Paris 1973, trang 110.

5) ‘sẽ được nói’ (sera dit) có nghĩa là ‘sẽ được giải bày, sẽ được trở thành hiện thực’.


Xin xem Links:


1/ Đoạn Trường Tân Thanh: Tác Phẩm Tư Tưởng Của Việt Nam Và Của Nhân Loại.


2/ Đoạn Trường Tân Thanh: Tác Phẩm Tư Tưởng (Tiếp Theo)


                                          

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2023

Mừng Sinh Nhật Anh Trần Công

 
( Chị Ba Minh Nguyệt, Anh Hai Trần Công, Chị Tư Ngọc Hạnh)
 
Sinh Nhật anh Hai qua bách niên
Cầu mong huynh trưởng luôn bình yên
Dôi dào sức khỏe tâm an lạc
Con ngoan cháu thảo thật thần tiên

Đại thọ mừng anh lắm bạn hiền
Bạn thơ, vi hữu cứ liên miên
Gia đinh, em cháu đều thương mến
Chúc anh trường thọ, phước vô biên

VA ngày 10/3/2023
Ngọc Hạnh



Mừng Sinh Nhật Tiền Bối Lão Mã Sơn


Chúc mừng sinh nhật bách niên
Hoa thơm cỏ lạ ngả nghiêng vẫy chào
Lão Mã Sơn tình vẫn dạt dào
Trăm năm thơ phú ngọt ngào vị hương.

Hồn thơ một đóa nghê thường
Chúc mừng tuổi hạc còn vương vấn lòng
Nâng ly một chút men nồng
Đời thêm một đoá hoa hồng trời ban.


Lê Tuấn
Chúc mừng sinh nhật đại thọ
101 năm tri thiên mệnh

 

Chúc Mừng Đại Lão Thi Sĩ Trần Công - Lão Mã Sơn

 

Sinh Nhật, Đại Thọ 101 Tuổi
Ngày 10 Tháng 3 Năm 2023

Sinh nhật Huynh, trăm lẻ một niên!
Chúc mừng đại phúc, tự Cao Thiên.
Bút nghiên tô điểm nền văn hóa,
Cung kiếm oai phong nghiệp võ biền!
Cuộc thế thăng trầm, luôn tự tại,
Sự đời thành bại vẫn an nhiên.
Thân như cổ thụ, Tâm như Phật!
Thơ vẫn tuyệt vời hạ bút tiên.


Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia


Chúc Mừng Đại Thọ Cụ Ông Trần Văn Công


Kính mừng đại lão Trần Công
Bách niên giai lão khó ai hơn ngài.

Cây to bóng mát vững vàng ,
Thơ hay, tiếng tốt dẫn đầu Làng Văn.

Tuổi cao chất ngất Trời xanh,
Giọng cười tươi mát, hiền lành biết bao!

Cầu xin Chư Phật độ trì,
Cho Anh sống khỏe, sống vui lâu dài.

3/10/2023
Lê Mộng Hoàng


Mừng Sinh Nhật Anh Hai " Lão Mã Sơn"


Nếu ai biết tuổi anh Hai có!
Sẽ ngỡ là không phải chuyện thường
Một đời chiến binh ngoài sương gió
Tình nhà nợ nước giữ quê hương...

Sau Tháng Tư Đen... sầu chất ngất
Gia đình chạy loạn lạt xứ người
Con còn bé dại... ngày chị mất!
Thương đau, vất vả một kiếp đời!

Nuôi con làm cha vừa làm mẹ...
Đến chúng lớn khôn được thành nhân
Anh sống đơn thân trong quạnh quẻ
Con đứa ở xa, đứa chẳng gần...

Nếu hỏi anh Hai bao nhiêu tuổi?
Anh luôn cười bảo: “... Tuổi thanh xuân...”
Bởi gẫm đường đời mình dong ruỗi
Mỉm miệng an nhiên: “Kiếp nợ trần!”

Anh Hai chúng em còn khỏe lắm
Nấu ăn, giặt giũi, tự lo mình...
Sáng đánh bóng vợt trời nắng ấm
Gió trải ngàn hoa thắm lung linh

Những đêm không trăng tóc mây xỏa
Lấp loáng lung linh rặng núi mờ
Cắn bút nhìn sao trời sáng tỏa
Cảm khái trào lòng anh làm thơ...

Đời Lão Mã Sơn giờ trọn vẹn
Không thù, không hận... chỉ có thương
Bóng nhạn ảo mờ rèm nguyệt thẹn
Ngàn hoa thắm nở gió đưa hương

Chúng em thăm thăm anh chiều nắng nhạt
Cùng bạn bè... tình nghĩa thân thương
Vẳng giọng buồn buồn ca sĩ hát...
Ngậm ngùi... viễn khách nhớ quê hương

Bàn tròn chúng ta ngồi tâm sự
Ai có ngờ đâu anh Hai mình
Hơn trăm tuổi đời... còn xa xứ
Tài trí vẹn toàn, tâm mẫn minh...

Nguyện cầu anh Hai luôn mạnh khỏe
Vui, sống lâu như Lão Ngoan Đồng
Tráng kiện, tâm hồn luôn son trẻ
Đẹp tình người... Xuân, Hạ, Thu, Đông

Dư Thị Diễm Buồn