Thứ Tư, 18 tháng 5, 2022

Tình Mong Manh/Fragile Love - Thơ Lê Thị Ý - Nhạc Lê Ngọc Chân - Tiếng Hát Nguyễn Thành Vân


Thơ: Lê Thị Ý
Nhạc: Lê Ngọc Chân 
Tiếng Hát: Nguyễn Thành Vân

Một Chút Này Thôi

  

Một phút thương ôi phút cuối cùng
Tâm tư mấy nỗi bạn tình chung
Xuôi chi gặp gỡ rồi vương vấn
Để trái tim côi bớt lạnh lùng

Kim Phượng

Năm Năm

 

Một chút heo may
Một chút lá vàng
Năm năm mây trắng
Tưởng vắng thu sang

Tóc vướng bông lau
Sương bạc mái đầu
Năm năm mong đợi
Một cuộc tình sâu

Thì đã năm năm
Trôi qua âm thầm
Mối tơ óng chuốt
Vương nỗi buồn câm

Bóng hình nào qua
Đường ngang trước nhà
Khói thời gian nhạt
Năm năm bơ vơ ...

Cao Mỵ Nhân

Tóc Đuôi Gà


Thương Em tóc thả đuôi gà
Áo bà ba trắng đường qua cánh đồng
Tuổi thơ chung một dòng sông
Chung nguồn vui giữa mênh mông lúa vàng.
Thuở còn rộn rã thôn trang
Trống dồn chân bước, trường tan lớp chiều
Hồn nhiên như tiếng sáo diều
Ngây thơ như bước tin yêu vào đời
Nhưng rồi vật đổi sao dời
Em qua xứ khác, tôi rời làng xưa
Đuôi gà biền biệt nắng mưa
Tóc sương của một thời chưa biết buồn
Bây giờ chớp bể mưa nguồn
Sợi treo nhánh bạc, sợi buông ngắn dài
Tôi theo vận nước miệt mài
Em thành sương phụ, tóc cài khói mây
Đuôi gà một dạo thơ ngây
Qua bao dâu bể giờ đây nặng sầu
Từ cơn mưa bão giang đầu
Đời mình cũng lắm cơ cầu nổi trôi
Nhớ quê lòng chợt bồi hồi
Tóc đuôi gà vẫn trong tôi rộn ràng
Bến sông, trường cũ, thôn làng
Là màu kỷ niệm mênh mang trong đời
Đêm nay hồn vượt biển trời
Nhớ người lòng gửi đôi lời vọng xa
Về đâu mái tóc đuôi gà?!
Tình quê xin mãi đậm đà không phai.

Huy Văn

Kết Hôn Trên Thiên Đường



Cụ Tám Tàng suốt đời cô độc.
Tuổi 96, chưa một lần yêu.
Một ngày kia, hồn phách phiêu diêu,
Giã từ đời, đi vào nước Chúa.
Cùng lúc ấy, cụ bà Năm Lụa
Cũng trọn đời ở giá, không chồng.
Vừa chia tay với cõi hồng trần
Bay thẳng lên thiên đường cùng lúc.
Hai cụ gặp nhau, sau vài lượt,
Thấy hai người tính hợp như khuôn,
Thích đọc sách, mê nhạc, thơ, văn,
Và bàn chuyện thượng thiên, hạ địa.
Thế là sau bao năm ở giá
Họ quyết định cùng mở rộng lòng
Đón con sâu tình đang chạy loạn.
Trước Thượng Đế, họ dắt nhau đến
Xin Ngài cho chính thức kết hôn.
Thượng Đế vẻ bối rối, phân vân:
“Chuyện này thật vô cùng hy hữu,
Các ngươi chờ ta ít lâu nữa
Để thì giờ ta sửa soạn nha.”
Và lần lữa, đù bốn năm qua,
Hai cụ cứ nhẩn nha chờ đợi.
Cuối cùng thì ngày vui cũng tới.
Hôn lễ cử hành thật sôi nổi
Cả thiên đường vui tới bến luôn.
Nhưng rồi chỉ sau hai trăm năm
(Trên thiên đường thời gian vô nghĩa)
Hai cụ bỗng hết nhìn một phía,
Cứ mặt mày xưng xỉa nhìn nhau.
Cụ bà đòi ly dị thật mau.
Hai cụ lại đến chầu Thượng Đế,
Yêu cầu Ngài cho được ly dị.
Thượng Đế nổi thịnh nộ, quát to:
“Các ngươi thật ngu quá loài bò.
Phải mất đến bốn năm để ta
Tìm ra một ông cha làm lễ
Thành hôn cho các ngươi, không dễ!
Thử hỏi phải mất bao lâu để
Kiếm cho ra một trự luật sư
Để các ngươi ly dị đây, ha?”

Chẩm Tá Nhân

(phóng tác)
05/13/2022

Getting Married in Heaven

A man spent all his life alone, finding no love. At age 96, he dies and goes to heaven. At the same time, a woman spent all her life alone, finding no love. At age 102, she dies and goes to heaven. As chance has it, they both meet at the heavenly library, discovering they both have a deep love for books, they start talking and amazingly enough, after a lifetime of unhappiness, fall in love. They walk up to God and ask to be married. "Give me some time," Says God, "and I’ll get back to you. This is quite extraordinary." Four years pass, and after the couple waited patiently, God finally tells the man and woman that he can have them married. A few centuries pass and the man and woman fall out of love. They approach God once more and this time they ask, sadly, for a divorce. God responds: “It took me four years to find a priest in this place. How long do you think it’ll take me to find a lawyer?!”

Tình Phụ

 

Tại sao anh nở bỏ em 
Em cô đơn với những đêm lạnh lùng 
Điệu đàn giờ đã ngang cung 
Lệ tràn mi ướt mịt mùng đắng cay 
Em giờ chẳng có ngày mai 
Hận người bội bạc chẳng hoài phu thê 
Anh đi chẳng hẹn ngày về 
Anh đi vì đã đam mê sang giàu 
Cuộc đời anh muốn trèo cao 
Coi chừng té nặng u đầu nghe anh 
Chiều buồn sương khói xây thành 
Giấc hồ phiêu lãng mong manh ước nguyền 
Bao người vui bước chinh yên

Chỉ riêng anh cứ tìm miền phù hoa 
Hết rồi cái thuở ngọc ngà 
Tay trong tay nhạc mặn mà lung linh 
Anh si tiền hơn si tình 
Anh ngồi đếm đô-la nhìn say mê 
Còn đâu lời ước câu thề 
Chừng nào anh mới mò về bên em 
Anh người đổi trắng thay đen 
Anh người bội nghĩa quên đèn tham trăng 
Anh người thấy đó bỏ đăng 
Anh người thừa gió bẻ măng bạc tình.

Toronto 13/5/2022 
Nguyên Trần

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Em Là Thơ -Anh Sẽ Là Âm Nhạc -Thơ Quách Như Nguyệt- Nhạc Nguyễn Thanh Hùng-Ca Sĩ Hà Huệ Mẫn


Thơ Quách Như Nguyệt
Nhạc Nguyễn Thanh Hùng
Ca Sĩ Hà Huệ Mẫn 

Sinh Nhật Mùa Thu

 

Không có gì tặng em ngày sinh nhật
Mấy tháng nay ta thất nghiệp lâu rồi
Túi áo trái chỉ còn toàn nỗi nhớ
Tặng em nha... em không chịu thì thôi

Chiều ở đây mùa thu vàng góc phố
Đi lang thang tìm kỷ niệm hôm nào
Áo ai bay chập chùng chiều lộng gió
Trái tim buồn từng nhịp đập xôn xao

Hai bên đường những chùm hoa tím dại
Nở dịu dàng trên từng bước thu sang
Ta vẫn chờ với tháng ngày hiu quạnh
Em đi qua ....ta lặng đứng bên đàng

Con tim ta chiều nay sao trống vắng
Sinh nhật em... nỗi nhớ gởi đi rồi
Em có nhận hay dù em không nhận
Tình yêu ta ...tât cả chỉ thế thôi

Đời sẽ buồn ...nếu không còn nỗi nhớ
Nếu ghét nhiều thì nhớ trả lại ta
Cho tháng ngày dù buồn thiu tàn tạ
Ta vẫn yêu ....như thưở mới như là

Khiếu Long

Chỗ Ngồi

 

Chỗ Ngồi

Chỉ là cái chỗ thôi mà
Cái chỗ người bỏ, sao ta vẫn ngồi
Chỗ ngồi mà lại nhớ đời
Nhớ hoài, nhớ hủy ... nhớ người bặt tăm!

Mắt Nai


Không là nai, chẳng là chim
Mà sao ánh mắt thật hiền như mơ
Mắt len từng nhánh vào thơ
Thơ không thành chữ, thơ chờ mắt nai

Rù Rì Gọi Em

Gọi người khản tiếng mòn hơi
Người nghe hay vẫn miệng cười mím chi
Nghe hay không, có xá gì
Còn hơi ta cứ rù rì gọi chơi!

Trần Bang Thạch

Nhớ

 

Ta nhớ em như gió nhớ mây 
Như sông nhớ biển nước dâng đầy 
Như chim lẻ bạn buồn quên hót 
Như tiếng đàn ai chợt đứt dây...

Em có nghe gì khi xa nhau?
Ngoài sân thư viện nắng phai màu 
Mắt buồn em nhuộm phai màu nắng 
Hay nắng phai vì ta vắng nhau..?

Ta nhớ em như son nhớ môi 
Như trường nhớ tiếng học sinh cười 
Đường qua thư viện buồn hiu hắt 
Lối cũ ta về bóng lẻ loi...

Ta nhớ em như lá nhớ cây 
Như vòng tay nhớ lấy vòng tay 
Như tim nhớ máu từng giây phút 
Dù phút giây buồn hay đắm say....

Nhược Thu

Dĩ Vãng



Đôi lứa bỗng dưng thành dĩ vãng
Tưởng rằng hạnh phúc sẽ bền lâu
Bao năm tình nghĩa chia cay đắng
Mà cũng chia nhau những ngọt ngào

Sao đành lòng bỏ em ra đi
Em chưa hề nghĩ đến phân ly
Căn bệnh hiểm nghèo trong phút chốc
Mang anh ra khỏi thế gian này!

Nhà cao cửa rộng với kim cương
Tiền tài danh vọng cũng vô thường
Chẳng giữ cho em người dấu ái
Anh xa rồi suốt kiếp đau thương!

Em gào thét đến chín tầng mây
Không ai trả lại mối duyên này
Hồn anh khuất nẻo vầng mây xám
Để em tiếc nuối tình nồng say

Anh ở đâu bên kia thế giới
Tim em đau nhói lúc về đêm
Cảnh vật vẫn còn nguyên vẹn đó
Mà bóng người thương đã khuất chìm !

Không còn ai mỗi sớm tinh sương
Vẽ Vòng Nguyệt khuyết mặt người thương
Ai cài khuy áo cho em nữa
Và biết bao điều. Ôi! Uyên ương!

Dĩ vãng sẽ chìm theo thời gian
Mà lòng thương nhớ chẳng hề tan
Hồn thiêng xin dõi theo người cũ
Cho mộng đêm về đỡ giá băng .

Hoàng Phượng
5 /11 / 22

Lâm Giang Tiên 臨江仙 – Án Kỷ Đạo



臨江仙 - 晏幾道 Lâm Giang Tiên – Án Kỷ Đạo


身外閒愁空滿, Thân ngoại nhàn sầu không mãn,
眼中歡事常稀。 Nhãn trung hoan sự thường hy.
明年應賦送君詩。 Minh niên ưng phú tống quân thi.
細從今夜數, Tế tùng kim dạ sổ,
相會幾多時。 Tương hội kỷ đa thì.

淺酒欲邀誰勸, Thiển tửu dục yêu thùy khuyến,
深情惟有君知。 Thâm tình duy hữu quân tri.
東溪春近好同歸。 Đông khê xuân cận hảo đồng quy.
柳垂江上影, Liễu thùy giang thượng ảnh,
梅謝雪中枝。 Mai tạ tuyết trung chi.

Chú Thích
1- Lâm giang tiên臨江仙: tên từ bài. Tên khác: “Uyên ương mộng鸳鸯梦”, “Tạ tân ân謝新恩”, “Nhạn hậu quy雁後歸”, “Họa bình xuân畫屏春”, “Đình viện thâm thâm庭院深深”. Bài này có 60 chữ, đoạn trước và đoạn sau đều có 5 câu, 3 bình vận. Cách luật:

X T B B X T cú
X B X T B B vận
B B B T T B B vận
T B B T T cú
X T T B B vận

X T X B X T cú
B B X T B B vận
X B B T T B B vận
B B X T T cú
X T T B B vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

2- Thân ngoại身外: ngoài thân mình ra. Thân ngoại nhàn sầu không mãn 身外閒愁空滿: Xung quanh ta đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng vô cớ, bản khác chép “Thân ngoại nhàn sầu không mãn nhãn 身外閒愁空滿眼: những mối sầu bâng khuâng trên đời đầy trước mắt”.
3- Không mãn 空滿 = sung mãn đầy rẫy.
4- Hy 稀: ít, hiếm. Bản khác chép “di 移: dời đổi”.
5- Ưng 應: nên, phải.
6- Phú 賦: ngâm vịnh.
7- Tống quân thi 送君詩: bài thơ tiễn anh ra đi.
8- Tế 細: kỹ lưỡng. Bản khác chép “ thí 試: thử”.
9- Sổ 數: đếm.
10- Tương hội 相會 = tương tụ 相聚: tụ họp, sum vầy.
11- Kỷ đa thì幾多時: có bao nhiêu thời gian.
12- Thiển tửu 淺酒: tiểu ẩm, uống ít rượu (cho vui). Thiển tửu dục yêu thùy khuyến: muốn uống ít rượu mà không có bạn nhậu mời mọc nhau. Bản khác chép “Thiển tửu dục yêu thùy cộng hoan 淺酒欲邀誰共歡: muốn uống rượu mà không có bạn cùng chung vui”.
13- Yêu 邀: mong cầu, cầu được.
14- Khuyến 勸: khuyến tửu 勸酒, mời mọc nhau uống rượu.
15- Đông khê 東溪: suối bên phía đông, phiếm chỉ nơi có cảnh đẹp.
16- Cận 近: gần, bản khác chép “Tận 盡: hết”.
17- Liễu thùy 柳垂: Cành liễu rủ xuống.
18- Mai tạ 梅謝: hoa mai tàn.
19- Tuyết trung ch i雪中枝: cành nằm trong tuyết phủ.

Dịch Nghĩa

(Bài này Án Kỷ Đạo làm để tặng người bạn trong yến hội)

Trên đời đầy rẫy những mối sầu bâng khuâng,
Chuyện vui thường ít thấy.
Sang năm nên ngâm vịnh những bài thơ đưa tiễn anh.
Từ đêm nay sẽ kỹ lưỡng đếm,
Còn sum họp với anh được bao lâu nữa.

Uống rượu không có người bầu bạn mời mọc nhau,
Mối thâm tình chỉ có mình anh biết.
Dòng suối mé đông phong cảnh đẹp, mùa xuân sắp hết, tôi với anh hãy cùng đến chơi,
Xem nước phản ánh cành liễu rủ ven sông,
Xem cành mai tàn ẩn vùi trong tuyết.

Phỏng Dịch

Bạn Tâm Đầu


Thế gian sầu muộn vốn nhiều,
Chuyện vui chẳng thấy bao nhiêu trên đời.
Sang năm đưa tiễn anh rồi,
Từ nay đếm kỹ những ngày bên nhau.

Rượu ngon muốn uống bạn đâu?
Thâm tình chỉ có tâm đầu là anh.
Suối đông xuân hết tàn nhanh,
Cùng nhau xem liễu rủ cành nước trong.
Hoa mai vùi tuyết ven sông.


HHD 
12-2020
***
Bản Dịch:

Lâm Giang Tiên


1-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trong mắt chuyện vui ít có khi
Nên ngâm năm tới, tiễn quân thi
Từ đêm nay đếm kỹ,
Sum họp được bao kỳ

Chẳng ai mời chiêu chút rượu
Thâm tình chỉ có anh hay
Suối xinh xuân đến rủ nhau về
Trên sông bóng liễu rủ
Mai tàn cành tuyết che


2-

Xung quanh đầy rẫy buồn xa vắng
Trước mắt chuyện vui ít có khi
Ngâm nga năm tới tiễn quân thi
Gặp bao kỳ, từ nay đếm kỹ

Muốn chút rượu say, ai mời nhỉ?
Thâm tình riêng chỉ có anh hay
Suối xinh, xuân lại đến xum vầy
Sông in bóng liễu, mai vùi tuyết
 
Lộc Bắc 


Văn/ Thơ/ Ca Từ Nguyễn Đình Toàn, Như Một Lời Tuyên Cáo!

(Nguyễn Đình Toàn)

Dẫn Nhập: Tuần cuối của Tháng 4, 2022 vừa qua vùng Little SG có một sinh hoạt gọi là Ra Mắt Sách trong ngày 24 nơi nhà sách Tự Lực lớn nhất vùng Nam Cali (cũng của toàn hải ngoại), nay biến cải thành cơ sở bán trà và dược phẩm. Buổi Ra Mắt Sách có mặt hai Danh Tính Lớn/Lớn Nhất của nền Văn Học Miền Nam trước 1975 ở Sàigòn và sau 1975 nơi hải ngoại: Nhà Văn Niên Trưởng Doãn Quốc Sỹ, và Nguyễn Đình Toàn. Buổi RMS có sự tham dự của Diễn Viên Điện Ảnh Kiều Chinh và vài nhân sự thuộc giới viết văn, làm báo, hội hoạ trong vùng. Là khách mời tham dự, Cô Nhã Lan, Đài Little Sàigòn có nhận xét..“Khi hỏi chuyện, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ 100 tuổi (sinh 1923) chỉ ngồi cười không nhớ!, và Nhà Văn Nguyễn Đình Toàn (sinh 1936) thì: “Tay run không ký tròn chữ được trong tập "Thơ Và Ca Từ”. Bài viết nầy vì thế được viết nên nhằm nói cho ra lẽ: Hình Tướng -Tính Chất-Tiếng Lời riêng biệt của Nhà Văn-Nhà Thơ-Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Toàn mà buổi (gọi là) RMS kia không một ai nhắc nhở đến. Một tiếng cũng không.

#1- Một: Suốt một thời gian qua hơn nửa thế kỷ cầm viết, bản thân anh luôn (tự) giữ nguyên tắc: Không viết hay nói đến những nhân vật trong giới văn học-nghệ thuật đương thời còn sống.. Cụ thể (nếu) nói, viết về Nguyễn Chí Thiện, Bùi Bảo Trúc, Đào Vũ Anh Hùng.. chỉ sau khi những người bạn nầy đã qua đời. Anh tự giải thích về “nguyên tắc tự biên/tự diễn” nầy như sau: Những nhân sự trong giới văn học-nghệ thuật là thành phần xã hội mà bản thân (là một Người Lính tác chiến) không có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, vật chất hay tinh thần. Không viết/nói về họ cũng để tránh rơi vào khuyết điểm/mà nói thật là một cái bẩy những người cầm bút Miền Nam trước 1975, hoặc sau nầy ở hải ngoại hầu như thường vấp phải: Ấy là quá xưng tụng, tung hộ hoặc mặt đối lập là phê phán, chỉ trích theo quan điểm cá nhân vô cùng chủ quan. Những hiện tượng đấu đá/chia rẻ chính trị lại càng rõ nét, ngay tại hôm nay tại vùng Nam Cali, nơi Little Saigon.
Thế nhưng, hôm nay anh cần nói về Nhà Văn Niên Trưởng Nguyễn vì hai lẻ, khách quan và chủ quan mà thiết nghĩ buổi RMS ngày 24 Tháng 4 vừa qua phải có mục đích và yêu cầu trình bày đủ/chính xác về Sự Lớn Lao của Chữ và Người Nguyễn Đình Toàn – Qua tác phẩm cuối cuộc của một Tác Giả với độ tuổi 90 còn làm việc, sau cơn bão lửa rúng động tận căn cơ mấy chục triệu người Miền Nam/Cũng toàn thể Việt Nam suốt 47 năm sau Ngày 30 Tháng 4/1975. Sự đơn giản tưởng như một phép lạ nầy sao không ai thấy ra? Sao không ai nói ra?

Anh cần phải nói lên cũng vì còn mấy ai hiện nay nơi hải ngoại, ở trong nước biết rõ, đủ về người và việc (thuộc văn, báo giới mà bản thân anh hằng dự phần từ 1960’s) tại những năm 50, 60 nơi Miền Nam, ở Sài Gòn.. Số lượng người nầy càng ngày càng giảm sút nhanh chóng do thời gian, sinh hoạt xã hội mà thoáng rất ngắn những sự kiện, con người mươi năm trước đã hóa nên cũ kỷ, mau chóng lãng quên.. Về mặt khách quan, cho dẫu bản thân là một người lính đơn vị đóng ở Phi Trường Biên Hòa, nhưng mỗi lần về phép Sàigòn thường đến quán La Pagode (Cái Chùa), góc đường Tự Do/Lê Thánh Tôn nơi tụ họp thường xuyên giới làm báo, viết văn Sàigòn để gặp những bạn bè cùng thế hệ (Phần đông gốc người Bắc, hay Trung) chưa phải động viên, nhập ngũ. Tới Quán Chùa, anh thường thấy NĐT, người đàn ông gầy, ngồi lặng lẽ trong chiếc ghế bành màu đỏ với chiếc tẩu thuốc. Cách ngồi trầm tĩnh với ống tẩu tạo cho ông một cách thế riêng biệt rất dễ nhận trông đám đông ồn ào xởi lởi của một quán nước, nơi tập trung của giới người chuyên nghề “nói và viết”. NĐT vốn rất ít nói, có nói cũng chỉ với tiếng nhỏ, ngắn lời.. Tuy nhiên mỗi lời nói ngắn, nhỏ kia chứa đựng sức nặng đáng kể khó ai phản bác, chống đở. Ví dụ nhận xét về một nhân vật đang giữ chức vụ cao trong chính quyền hay có những tuyên bố lớn tiếng, ồn ào, thái độ, đi đứng mạnh mẽ trong khi thể hình không mấy cao lớn.. NĐT đưa nhận xét: Nện gót giầy kêu to, vung tay mạnh mẽ, tuyên bố ồn ào không làm cho người.. cao thêm chút nào cả! Kẻ bị/được nhận xét không (thể) có được một lời, một tiếng phản đối! Đối với một gã trẻ tuổi giảo hoạt trong giới báo chí, sinh hoạt thanh niên sinh viên, đám đông trong quán nước phê phán:”Đấy chỉ là một tay lợi dụng cơ hội.. “. NĐT cười nhạt, cất ông tầu khỏi môi, nói tiếng chậm: “Các ông ông nói thế oan cho nó! Nó chỉ lăm le lợi dụng cơ hội!!” Bàn nước chững lại không một ai biết được sau khuôn mặt bình thản kia có những phản ứng dữ dội ngấm ngầm thế nào? Từ lời nói, việc làm như vừa kể ra, dẫu không phải là người thân cận, anh nhìn thấy NĐT quả thật là một người có bản lãnh, sắc sảo đáng quý trọng. Ông không hề lớn tiếng, khoa trương, lớn lối. Đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật 1973 với giá hiện kim tương đương 40 lượng vàng, được hỏi sao không mua chiếc xe hơi đi cho nhàn hạ. Ông cuời kín đáo: Thì đi Honda cũng sang chán.
Nhận xét khách quan như trên về NĐT thêm được củng cố sau năm 1968 khi gia đình người em gái có chồng là nhân viên hành chánh Ban Mê Thuột đổi về Tỉnh Gia Định. Gia đình em anh trở nên là hàng xóm thân thiết với nhà NĐT qua hai căn nhà đối lưng trong Khu Làng Báo Chí Thủ Đức. Sau năm 1975, bản thân anh, gia đình em, và NĐT đồng lâm cơn đại loạn cùng lần nước mất nhà tan mà sống qua mỗi ngày, mỗi đêm là một lo sợ. Gặp lại ở Mỹ, vùng Nam Cali, anh và NĐT là hai người cầm bút còn (sống) sót của Miền Nam vẫn tiếp tục công việc từ trước 1975 ở Sàigòn: Chiến Đấu/Viết KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI CHẾ ĐỘ CS Ở HÀ NỘI. Sự mến mộ trước 1975 nay thành một Lòng Kính Phục toàn phần cố kết.

#2- Hai: Hiện nay, nước Việt Nam bên kia Thái Bình Dương bị độc trị bởi một chế độ chủ trương tận diệt tất cả di sản của người, và việc VNCH. Chủ trương độc hại nầy được hiện thực với Nghị Quyết 36 nhằm đánh sập Hệ Thống Chính Trị-Kinh Tế-Văn Hóa-Xã Hội” của Người Việt Tỵ Nạn CS nơi hải ngoại. Chiến dịch NQ36 nầy được khỏi động từ 2008 với mục tiêu điễn hình cụ thể, Vùng LittleSàigòn, Nam Cali. Trong cuộc chiến đấu không cân sức quyết liệt nầy – CHỮ/LỜI CỦA NĐT NÓI CHUNG/CỤ THỂ QUA THƠ VÀ CA TỪ CÓ GIÁ TRỊ CÔNG LỰC VÔ CÙNG MẠNH MẼ.

Trước tiên, liên quan đến những cuốn sách viết trong một thời gian dài từ sau thập niên 1950, 60.. đến trước 1975 và sau 1975 ở hải ngoại; không CHỈ tiểu thuyết, truyện ngắn mà bao gồm CẢ THƠ VÀ CA TỪ như cuốn sách giới thiệu hôm cuối tháng 4. Nhằm để trình bày đầy đủ, người viết xử dụng hai tiểu luận: Một của NTVinh, hai của Lưu Na về NĐT. Hai tiểu luận của hai tác giả khác xa thế hệ, viết trước, sau 1975 ở SG, và nay ở hải ngoại. Từ bài viết của NTVinh và Lưu Na với hai nhận định khác hẳn.. Từ đấy, có thể tìm ra Điểm CHUNG NHẤT VỀ NĐT mà chúng ta muốn nêu rõ. Trước tiên nói về Văn.


Nguyễn Đình Toàn sinh năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ Sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Nên từ ngày khởi cuộc ông đã có câu xác nhận với cách tự tin: Tôi qua Sông Hồng, lên Hà Nội một thân không đàn anh, bậc thầy nào nào giúp sức! Di cư vào Nam 1954, ông cộng tác với hầu hết các nhật báo, tuần báo. giai phẩm ở SG (do các bạn gốc người miền Bắc chủ trương, điều hành); biên tập viên Đài Phát Thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề. Tác phẩm đầu tiên, Chị Em Hải do NXB Tự Do,1961. Là tác phẩm đầu tay mang dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm sau nầy qua hơn một thập biên ở Miền Nam. Chị Em Hải, được Phạm Xuân Ninh (Nhà Thơ Hà Thượng Nhân) chuyển tới nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do. Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, văn tài của Nguyễn Đình Toàn từ cuốn sách đầu tiên đơn giản nầy. Hơn một thập niên sau, 1973 Áo Mơ Phai ra đời hiện thực con đường đã được vạch ra từ giòng chữ đầu tiên trong Chị Em Hải nhưng được nâng lên bởi một kỹ thuật/nghệ thuật tinh tế hơn. Trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai: "Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên.. Nhân vật chính trong tác phẩm là thành phố Hà Nội.. Thành phố như giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi NĐT xa Hà Nội mới 17 tuổi.” Ông nói: Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử.. Ôi chính xác và cảm động biết bao, NĐT đã thấy trước Nỗi Đau của lần Mất Sài Gòn từ trước hơn ai hết của Ngày 30/4/1975. Và đây là lãnh vực RIÊNG của Nhạc Nguyễn Đình Toàn –Một Vùng Đất không hề chung đụng, ảnh hưởng, tác động bởi bất cứ ai, so với những nhạc sĩ chuyên nghiệp như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn..

#3-Ba: Điểm đầu tiên cần phải nói tới là Nhạc NĐT đưa đến cho người nghe, người hát những ca từ mà (có thể) họ không (cần) biết là của ai vì đó là LỜI CỦA NGƯỜI-CỦA CUỘC ĐỜI MÀ TÁC GIÀ - Nhà Văn-Nhạc Sĩ Nguyễn Đình Toàn đã viết nên từ rung động tinh tế chân thành với chữ nghĩa giản dị, trong suốt – Chữ thấy ra nơi Chị Em Hải, trong Áo Mơ Phai.. Nhạc/Ca Từ NĐT một lãnh vực độc đáo riêng mà bản thân anh dẫu là một kẻ thô thiển đứng ngoài cuộc của nhạc giới, cũng đã có những rúng động đến đổi lạ với chính mình qua nhiều lần lần tự hỏi .. Có thể những chữ nghĩa đơn giản/ca từ có thể tạo rung động lòng người đến thế sao? Cảm ứng nầy người viết xin mượn từ nhận định của Nhà Văn Nữ thuộc thế hệ thứ hai nơi hải ngoại –Lưu Na đã viết nên một cách chính xác.. “Lời nhạc của ông thường là những lưỡi dao đâm suốt tim .. Khi lớn lên, sau 1975 ở VN chưa bao giờ được nghe tên NĐT.. Giờ đây, ra hải ngoại nghe nhạc NĐT thì hóa ra đã nghe từ lúc nhỏ.. Em Đến Thăm Anh Đêm 30, Tình Khúc Thứ Nhất.. Rồi đến ca khúc thời kỳ sau của NĐT, bài Hãy Thắp Cho Anh Một Ngọn Đèn.. Lời ca hay ở chỗ giản dị, mà đúng một cách đớn đau, những con chữ của cuộc sống đời thường được tóm lại, đưa vào với một nốt nhạc, kêu lên đúng cái âm vang khổ đau, ray rứt của tâm hồn.” Vâng, mỗi Người Việt/Mỗi Người Việt Miền Nam cần thắp sáng cho nhau một ngọn đèn để hy vọng, để vượt sống 47 năm sau lần miền Nam sụp vỡ, Sài Gòn mất tên.. Sài Gòn ơi! Bản thân người viết cũng như bao nhiều người Sàigòn vẫn còn nguyên Mối Đau.. Sàigòn ơi Ta mất Người như người đã mất tên. Như giòng sông nước quẩn quanh buồn. Như người đi cách mặt xa long. Sàigòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên. như mộ bia đá lạnh hương nguyền. Như trời sâu đã bỏ đất sầu. Cám ơn Nguyễn Đình Toàn. Cám ơn Người Viết Ca Từ NĐT.

#4-Bốn: Dẫu viết văn, viết nhạc qua mọi hình thái biểu hiện - NĐT trước tiên, chung nhất vẫn là/luôn là Một THI SĨ tức là Người Viết Văn-Viết Nhạc-Soạn Kịch- Viết Nhạc Chủ Đề.. vv Tất cả chỉ là hóa thân từ một tâm chất Một Thi Sĩ tức là Người Viết/Sống/Với Thơ là Một.

Phần định nghĩa nầy hoạ chăng chỉ riêng một mình NĐT mới (có thể) trả lời chính xác. Tuy nhiên với tư thế, cảm ứng của người trình bày về một tác giả mà bản thân có mối kính trọng riêng thì anh có thể trả lời với kinh nghiệm chủ quan, và hoàn cảnh, điều kiện khách quan như sau: Con người, tất cả con người đều có chung những nhu cầu vật chất, tinh thần tổng quát trong cuộc nhân sinh – Nhưng người Làm Thơ có một nhu cầu riêng: SỐNG/VIẾT THƠ LÀ MỘT - TỨC SỐNG/VIẾT/THƠ LÀ MỘT. Ngày trước, Nguyễn Du phải viết Truyện Kiều; thời đại chúng ta Bùi Giáng; Tô Thùy Yên phải làm Thơ. Tương tự Phạm Duy phải viết Nhạc. Trường hợp của NĐT anh nghĩ cũng không khác. Cụ thể hơn, buổi ra mắt sách (chắc là cuối cuộc) ngày 24 Tháng 4 vừa rổi là một tập Thơ: Thơ và Ca Từ - Những chữ nghĩa của ông đúc kết trong tác phẩm cuối cuộc nầy. Chúng ta hãy đọc lại những lời khốc liệt: Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi. Bằng sức người vô hạn. đầu đội tram tấn bom. Tim mang nghìn dấu đạn. Tôi đã đổ mồ hôi. Đổ máu tươi. Để mong ở lại đây. Dù thế nào. Cũng ở lại đây…Không thế nào có những chữ, lời can đảm, chịu đựng hơn thế nữa. Những chữ, lời đã chuẩn bị thấy ra từ ngày 17 tuổi, 1954 khi xa Hà Nội với.. những đêm khuya, những buổi chiều. Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội.. chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu- Di cư vào Nam. (Áo Mơ Phai). Thơ nay được viết (lại) sau năm 1975 vì những gì (chế độ cộng sản Hà Nội) đốt được thì đã không còn.. Tất cả hình ảnh của ngày phát giải Văn Học Nghệ Thuật 1973 (với Áo Mơ Phai) và tất cả sách Nguyễn Đình Toàn được/bị xếp vào loại “văn hoá đồi truỵ” nên tất cả bị tịch thu và trở thành "Tro Than", như tên một tác phẩm định mệnh trong chiến dịch đốt sách khắp Miền Nam sau 30 Tháng 4, 1975. Nhưng như một phép lạ có thật, chiếc huy chương bằng đồng mạ vàng của giải thưởng năm 1973 đã được một người trẻ tuổi mua lại trên vĩa hè Hà Nội và giao lại cho ông. Và quả thật là một phép lạ, trong vóc dáng gầy guộc thêm mang bịnh lao phổi từ thập niên 60, Người Viết Thơ NĐT đã vượt sống với một tinh thần chiến đấu quyết liệt.. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù mịt mùng xa xăm. Một ngọn đèn trong đêm mờ ám. Hãy thắp cho anh một ngọn đèn. Dù chẳng còn hơi ấm. Và kỳ diệu biết bao.. Cố thắp cho em một ngọn đèn. Để dù trong xa vắng. Em còn được cháy trong lòng anh. Ai trong chúng ta có thể nói những lời yêu thương đơn giản nhưng thắm thiết đến nhường nầy. Cách nói của “Những Người Viết Thơ”: Thế rồi, tôi sẽ đi tìm. Tìm em như thể là Người Đầu Tiên (Bùi Giáng); Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian nầy để gặp em.. TTY. Cám ơn thêm một lần. Cám ơn rất nhiều lần những THI SĨ từ Miền Nam. Của Miền Nam

Hậu Từ: Bài viết có thể kết thúc nơi đây với ý kiến của Nguyễn Đình Toàn khi trả lời phỏng vấn của Hoàng Khởi Phong trên hệ thống RFA năm 2006. Ông có lời tường trình: "Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. Tôi viết cuốn sách đó (Áo Mơ Phai, SG, 1973-Pnn) chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử (Hà Nội-1954-Pnn) cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết". Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn được NTVinh so sánh với diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957. Camus nhận định rằng: Ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử. Và Albert Camus cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử. Qua hai nhận định nầy, anh có thể kết thúc bài viết như sau: Không có thể bảo: Ai khổ hơn Ai? Kẻ làm nên lịch sử hay số đông thường nhân (vô tình/cố ý) phải nhận mối oan nghiệt lịch sử ấy. Và nhà văn hay người dân dã muốn hay không muốn cũng phải nhận lấy. Chỉ riêng NĐT thì nói rõ TÔI ĐÃ CỐ BÁM LẤY ĐẤT NƯỚC TÔI - Rất đông Người Việt cũng đã có quyết tâm ấy. Chỉ khác chúng ta không có điều kiện để nói ra như Nhà Văn-Thi Sĩ Nguyễn Đình Toàn mà thôi.
Nguyễn Đình Toàn lớn lao đến ngần nào.

Phan Nhật Nam
CA, 12/5/2022
Địa Ngục mở ra hằng ngày nơi An Lộc,
Việt Nam, Tháng 4, 5/1972

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Bến Thu


Từ thuyền tách bến xa bờ
Trăng buồn vò võ dõi chờ người hay
Thu tàn đông lạnh gầy vai
Bên dòng sông khát khao say giấc nồng


Thơ& Hình Ảnh: Kim Oanh
Thu Melbourne 2022

Sáng Nay Mới Thực Là Xuân



Sáng nay mới thực là xuân 
Chim đang ca hát từng vần ca dao 
Cuối sông ai giặt yếm đào 
Đầu non ai cửi yếm đào ra phơi
Buồm căng lồng ngực ra khơi 
Thiên thai đâu phải ở nơi cõi nào
Nàng thơ ơi, ta ngỡ chiêm bao 
Tóc mây thơm ngát tựa đầu vai anh 
Liễu xanh khoe sắc khuynh thành 
Đã qua ác mộng chiến tranh lâu rồi 
Đâu đâu cũng nở nụ cười 
Ngắm Trời trẻ lại, nay Trời đang Xuân 


Thư Khanh
Seatle ( Sáng Bình minh tuyệt đẹp )