Qua bao chướng ngại trùng trùng, May thay người đã cuối cùng đến nơi.
Cóc cuối tuần.
Dịch nghĩa:
Đến Nơi
Vội vàng muốn đi xem sóng Chiết giang, (1) Sáng tối giày cỏ lướt trên đường như gió thổi. Hè rực rỡ, đông điêu tàn, lòng luôn bền vững, Núi cùng, sông tận, chân vẫn còn mạnh mẽ. Rồng rắn điềm đạm gặp (chim) cánh vàng, (2) Lừa ngựa lặng lẽ qua cầu đá. (3) Đêm đen, ngọn gió thiền thổi tắt ngọn đuốc, Hiểu biết của một đời chợt hoàn toàn tan biến. (4)
Chú thích: (1) Thiền Luận, quyển thượng, bản dịch của Trúc Thiên: ... Thi hào Tô Đông Pha, một quan đại phu đời nhà Tống, diễn lấy bằng mấy vần thơ như sau:
Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều Vị đáo sanh bình hận bất tiêu Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự Lô sơn yên tỏa Chiết giang triều Khói ngút non Lô sóng Chiết giang Khi chưa đến đó luôn mơ màng Đến rồi hóa vẫn không gì khác Khói ngút non Lô sóng Chiết giang
Cũng vậy, sư Thanh Nguyên Duy Tín có lời tự thuật như sau:
“Sãi tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học Thiền, 老 僧 , 三 十 年 前 , 來 參 禪 時 ; thấy núi là núi, thấy nước là nước; 見 山 是 山 , 見 水 是 水 ; “Sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, 及 至 後 來 親 見 知 識,有 箇 入 處 thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước; 見 山 不 是 山 , 水 不 是 水 “Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh, y nhiên, 而 今 得 箇 體 歇 處 ,依 然 , thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước, 見 山 衹 是 山 , 見 水 衹 是 水. ... (2) Bích Nham Lục, tắc 52, Triệu Châu Thạch Kiều
Trích lời Bình của Viên Ngộ: .. Lại có vị tăng hỏi Hoàng Long (*): - Từ lâu nghe danh Hoàng Long (rồng vàng), đến khi tới nơi thì chỉ thấy có con rắn vằn đỏ. Hoàng Long nói: - Ông chỉ thấy con rắn vằn đỏ mà không thấy Hoàng Long. Tăng hỏi: - Thế nào là Hoàng Long? Hoàng Long nói: - Kéo dài trên đất. Tăng nói: - Thế chợt gặp Kim Sí Điểu (**) đến thì như thế nào? Hoàng Long nói: - Tính mệnh khó giữ. Tăng nói: - Như thế là bị chim ăn mất. Hoàng Long nói: - Cám ơn đã cúng dường. ... Chú: (*) Thiền sư Hoàng Long (Huệ Nam) sinh năm 1002 và tịch năm 1069. Dòng Lâm Tế đến đời Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh) thì chia làm 2 nhánh: Dương Kỳ và Hoàng Long. Dòng Hoàng Long sản xuất ra những Thiền sư rất nổi tiếng như Hối Đường Tổ Tâm, Bảo Phong Khắc Văn và Minh Am Vinh Tây (Nhật bản). (**)Theo truyền thuyết, Đại bàng Kim Sí Điểu chuyên bắt rồng để ăn thịt.
(3) Bích Nham Lục, tắc 52, Triệu Châu Thạch Kiều
Cử: Tăng hỏi Triệu Châu (Tùng Thẩm): - Từ lâu nghe tiếng cầu đá Triệu Châu, đến nơi lại chỉ thấy chiếc cầu khỉ sơ sài. Triệu Châu nói: - Ông chỉ thấy cầu khỉ sơ sài, không thấy cầu đá. Tăng nói: - Thế nào là cầu đá? Triệu Châu nói: - Để lừa qua, ngựa qua.
(4) Bích Nham Lục, tắc 4: Đức Sơn Hiệp Phức
Trích lời Bình của Viên Ngộ: ...
Đức Sơn (Tuyên Giám) vốn là giảng sư, ở Tứ xuyên giảng kinh Kim Cương, dạy về Kim Cương Dụ Định, theo đó sau khi đạt được trí huệ thì phải học uy nghi Phật trong một ngàn kiếp, học Phật hạnh trong một vạn kiếp, rồi mới thành Phật.Thế mà đám tà ma ở phương Nam lại nói "Tâm chính là Phật".
Đức Sơn phát phẫn, gánh "sớ sao" (luận giải về kinh do mình soạn) thẳng tới phương Nam để tiêu diệt đám tà ma này. Thấy ông phát phẫn như vậy thì hiểu được ông là một người cương liệt như thế nào.
Mới đến Phong Châu, trên đường gặp một bà lão bán bánh, bèn đặt sớ sao xuống, để mua điểm tâm ăn.
Bà lão hỏi:
- Thầy mang cái gì vậy?
Đức Sơn nói:
- Kim Cương Kinh sớ sao.
Bà lão nói:
- Tôi có một câu hỏi, nếu trả lời được thì xin biếu bánh cho thầy điểm tâm, còn nếu trả lời không được thì xin đi mua chỗ khác.
Đức Sơn nói:
- Bà cứ hỏi.
Bà lão nói:
- Kinh Kim Cương nói: "quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc(***),
thế thì Thượng tọa muốn điểm cái tâm nào?
Đức Sơn không nói gì được. Bà lão bèn chỉ cho đến tham kiến Long Đàm (Sùng Tín).
Vừa qua ngưỡng cửa, Đức Sơn nói:
- Từ lâu nghe tiếng Long Đàm, nhưng khi đến chẳng
thấy đàm (đầm) mà cũng chẳng thấy long (rồng).
Long Đàm hòa thượng từ sau bình phong hiện ra nói:
- Ông quả đã đến Long Đàm.
Đức Sơn bèn lễ bái rồi lui. Đêm đến nhập thất,
đứng hầu mãi đến khuya.
Long Đàm nói:
- Sao thầy chưa lui về.
Đức Sơn chào kính rồi vạch màn bước ra, thấy bên ngoài tối bèn quay vào nói:
- Ngoài cửa tối.
Long Đàm thắp cây đuốc giấy đưa cho Đức Sơn. Đức Sơn vừa tiếp, Long Đàm bèn thổi tắt. Đức Sơn hoát nhiên đại ngộ,
bèn cúi lạy.
Long Đàm nói:
- Ông thấy gì mà lễ bái vậy?
Đức Sơn nói:
- Từ nay trở về sau kẻ này sẽ không còn nghi ngờ những lời nói của các lão hòa thượng trong thiên hạ nữa.
...
Chú:
(***) Nghĩa: "tâm quá khứ không thể có được, tâm hiện tại không thể có được, tâm vị lai không thể có được".
Phỏng dịch thơ:
Đến Nơi
Nôn nao tìm đến sóng triều xa,
Chân lướt sương mai, trượt nắng tà.
Mặc tháng năm nhòa, luôn phấn chấn,
Dù non nước tận, vẫn xông pha.
Rồng sa xuống đất chờ chim bắt,
Cầu bắc ngang sông đón ngựa qua.
Ngọn đuốc vừa trao đà vụt tắt,
Một đời kiến giải thoắt tiêu ma.
Trần Văn Lương
Cali, 9/2021
***
Lời bàn của Phi Dã Thiền Sư:
Nhìn rồng ra rắn, nhìn cầu đá ra cầu khỉ!
Vọng tưởng rập rình, vô minh lấp nẻo!
May thay, ngọn đuốc Long Đàm vụt tắt, con mắt huệ bỗng
mở bừng ra và hành giả đã đến nơi. Và, ô kìa, núi vẫn là núi,
sông vẫn là sông, rồng cứ lại là rồng và cầu đá vẫn hiện
nguyên hình là cầu đá. Cuối cùng rồi thì khói sóng Chiết
giang vẫn là khói sóng Chiết giang, nào có gì lạ đâu!
Dang tay đùm bọc lẫn nhau Đừng gieo thêm những khổ đau hởi người Đừng vì tham vọng ngất trời Để cho nhân tánh thành loài sói lang Hãy nhìn xác nằm ngỗn ngang Bởi tâm tàn bạo tham tàn gây nên Thế giới điên đảo bấp bênh Mai này rồi cũng sẽ đền tội gây Lịch sử còn ghi đủ đầy Bạo chúa thì cũng bỏ thây cuối cùng Bức dân gom trọn vào tay Âm tỷ mai xuống trã ngay nghiệp trần
Đây
là bài số năm trăm tám mươi hai (582) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong
khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo, Portland,
Oregon.
Khi còn học trung
học ở Việt Nam, phu quân người viết và người viết học Anh ngữ qua cuốn
English For Today. Bài viết về thắng
cảnh Taj Mahal ở Ấn Độ và bài viết về Kim Tự Tháp ở Ai
Cập đã ăn sâu vào tâm trí của chúng tôi. Từ đấy, chúng tôi
mơ ước sẽ có “một ngày đẹp trời" nào đó, chúng tôi
sẽ đến thăm viếng hai nơi này để thỏa lòng mong ước.
Thoáng chốc hon
50 năm trôi qua, không ngờ "The dream comes true", chúng
tôi đã được Phật Trời ban phúc lành cho chúng
tôi được đặt chân nơi xứ Ấn Độ và Ai Cập huyền bí để được
thấy tận mắt nét nguy nga, hùng vĩ kỳ ảo của ngôi đền cẩm thạch trắng
Taj Mahal ở Ấn Độ và kim tự tháp vĩ đại của Ai
Cập, được cưỡi lạc đà dưới cái nóng oi bức ở sa mạc vùng Giza xứ
Ai Cập.
Được viếng thăm Ai Cập mới là điều mong ước thực sự của
chúng tôi trong chuyến du lịch lần này. Xin mời quý bạn biết qua một chút về Ai
Cập nhé
Ai Cập tên chính thức là nước Cộng hòa Ả Rập Ai Cập,
là một quốc gia liên lục địa có phần lớn lãnh thổ nằm tại Bắc Phi, cùng với bán đảo Sinai thuộc Tây Á. Ai
Cập giáp Địa Trung Hải, có biên giới với
Dải Gaza và Israel về phía đông bắc,
giáp vịnh Aqaba về phía đông, biển Đỏ về phía đông và
nam, Sudan về phía nam, và
Libya về phía tây.
Ngoài ra, Ai Cập có biên giới hàng hải với Jordan và Ả Rập Xê Út qua vịnh Aqaba và biển Đỏ. Ai Cập có trên
100 triệu dân, là quốc gia đông dân nhất tại Bắc Phi và thế giới Ả Rập, là quốc gia
đông dân thứ ba tại châu Phi và thứ 15 trên thế giới.
Đại đa số cư dân
sống gần bờ sông Nile, trong một
khu vực có diện tích khoảng 40.000 km², là nơi duy nhất có đất canh tác.
Các khu vực rộng lớn thuộc sa mạc Sahara chiếm hầu hết
lãnh thổ Ai Cập, sống có cư dân thưa thớt. Khoảng một nửa cư dân Ai Cập sống tại
khu vực thành thị, các trung tâm dân cư đông đúc là Đại Cairo, Alexandria và các thành phố
lớn khác tại đồng bằng châu thổ sông Nile
(trích trong
vi.wikipedia)
Càng đi
về phía Nam Ai Cập, nhiệt độ càng nóng với cái nắng chói chang .
Mùa Hạ ở Portland, trời nắng nóng 100 độ không nhằm
nhò gì so với cái nóng cháy da của Ai Cập nên bảo sao người Ai Cập phải
dùng khăn che đầu. mặc áo thụng dài thường là màu trắng, da mặt
ngăm đen chứ không trắng đẹp như người dân Âu Mỹ.
Hãy nghe ông Trần Nguyên Thắng, Giám Đốc điều hành kiêm trưởng đoàn
ATNT Tours and Travel nói một
chút về Ai Cập nhé:
“……Từ thủ đô Cairo đi ngược dòng sông về phía Nam, du khách thăm viếng được rất nhiều các di tích lịch sử cổ xưa của các vương triều Ai Cập từ 5,000 năm trước; một số vẫn còn được tồn tại cho đến ngày nay như là những Kim Tự Tháp vĩ đại ở bình nguyên Giza, kinh thành Memphis của vương quốc cổ đại Ai Cập, kim tự tháp bậc thang tại Saqqara, di tích đền đài vĩ đại Karnak, Luxor, Hatshepsut temple tại cố đô cổ Thebes, và khu vực lăng mộ các Pharaoh và hoàng hậu Ai Cập.
Ngoài ra biết bao nhiêu những di tích cổ xưa còn lưu lại mà con người ngày nay vẫn bỡ ngỡ trước những công trình vĩ đại của người xưa, nhất là ngôi đền Abu Simbel của một vị Pharaoh đại đế Ai Cập Ramesses II tại phía Nam sát biên giới Sudan.
Ngược dòng thời gian, người Ai Cập đã có chữ viết khoảng 7,000 năm trước công nguyên, nhưng qua các thế kỷ bị các đế quốc như Ba Tư, Hy Lạp, Byzantine, La Mã và Ả Rập cai trị nên dần dần chữ viết cổ Ai Cập bị thất truyền hơn 2,000 năm nay. Năm 1798, Hoàng đế Napoleon đem quân xâm chiếm Ai Cập và trong lúc quân lính đang xây pháo đài gần hải cảng Rosetta thì đã tìm thấy một phiến đá màu đen có đục khắc 54 dòng chữ Ai Cập, các dòng chữ này đã được dịch ra ngôn ngữ Hy Lạp ở bên dưới. Chính nhờ dựa vào dữ kiện này, nhà khảo cứu cổ ngữ học người Pháp Champollion đã nghiên cứu và sắp đặt lại các mẫu tự Ai Cập. Ông phục hồi lại được ý nghĩa của các văn tự Ai Cập cổ đã thất truyền này. Ngôn ngữ Ai Cập cổ xưa sống lại, nhờ đó mà các nhà khảo cổ đã nghiên cứu và tìm kiếm được những di tích của thời Ai Cập cổ đại. Nhờ đó mà lịch sử, văn hóa, văn minh của nền Ai Cập cổ xưa dần dần được hé mở cho hậu thế chiêm ngưỡng ngày nay.
Thành phố Cairo chính thức ra đời năm 917 và trở thành thủ đô của Ai Cập. Từ thế kỷ 14 Cairo đã là một thành phố lớn và sầm uất trong thế giới Ả Rập. Trong lịch sử cận đại, Ai Cập liên tiếp bị các cường quốc xâm chiếm, mãi cho đến 1922 Ai Cập mới có được độc lập và theo chính thể quân chủ. Năm 1952 một cuộc đảo chính quân sự và nước Cộng Hòa Ai Cập được tuyên bố thành lập vào năm 1953. Năm 1954 Gamal Abdel Nasser, người được xem như là nhân vật chính của phong trào cách mạng 1952 lên làm tổng thống. Chính ông là người đã quyết định quốc hữu hóa kênh đào Suez cho Ai Cập…..” TNT)
Bây giờ chúng tôi đang ở Luxor –Ai cập Buổi sáng, chúng tôi đi viếng Valley of the Kings, Temple of Hatshepsut, Colossi of Memnon.
Trời nắng như thiêu như đốt nên ai cũng phải than thở hít hà, Chương trình dự định đi thăm 4 địa điểm trong Valley of the Kings nhưng vì trời nóng quá nên phải đành ra xe đến bến cảng làm thủ tục đi tàu Nile Cruise ( MS Nile Premium cruise ship) cho rồi.
Trong thời gian ở trên Nile cruise (từ ngày 11 đến hết ngày 14), chúng tôi được đãi ăn 3 buổi sáng, trưa, tối trên tàu Phẻ re.!
Đây là loại cruise đi trên sông Nile nên không lớn bằng những chuyến cruise như Carnival, Allure of the Sea v.. mà chúng tôi đã đi trước đây, nhưng cũng đầy đủ tiện nghi lắm.
Xin mời biết qua một chút về sông Nile theo tài liệu của ATNT nhé.
“Sông Nile là con sông dài nhất thế giới với chiều dài hơn 6,600km chảy suốt từ cao nguyên Ruanda miền Ðông Châu Phi xuyên qua các quốc gia trước khi đến Ai Cập. Trên phần đất Ai Cập, sông Nile chảy từ phía Nam, đổ về phía Bắc. Sông chảy qua vùng đất khô cằn sa mạc Sahara, tạo ra một vùng đất xanh tươi phì nhiêu hai bên bờ và trở thành rộng lớn tại khu vực Aswan tạo thành đập thủy điện Nasser nổi tiếng trên thế giới ngày nay. Sông Nile chảy đến Cairo thì tạo ra một vùng bình nguyên hình cánh quạt, các nhánh sông tuôn đổ ra biển Ðịa Trung Hải. Hai bên bờ là những khu vực đông dân sống dọc theo sông. Phần lớn những đền đài lăng tẩm, obelisk (khối thạch trụ như hình bút tháp), pillar (khối thạch trụ tròn nguyên khối) cũng được xây dựng, đục khắc dọc theo sông Nile. Vì thế mà sông Nile được người dân ở đây xem như là người mẹ của đất nước Ai Cập về cả phương diện tinh thần, văn hóa và vật chất cho họ.- Trần Nguyên Thắng- ATNT
Buổi sáng thức dậy, ăn sáng xong chúng tôi lên đường thăm Luxor Temple, về tàu ăn trưa, đi thăm Karnak Temple vào buổi chiều. Sau khi ăn tối xong chúng tôi đi dạo phố Luxor vào ban
đêm bằng xe ngựa. Tour ban đêm này là tour tự túc ngoài chương trình nên bạn phải đóng tiền thêm nhưng vui lắm.
Viếng Đền Karnak
Quần thể đền Karnak, thường gọi tắt là đền Karnak, là một di tích nổi tiếng nằm ở thành phố Thebes, kinh đô cũ của Ai Cập. Di tích này gồm nhiều tàn tích của những ngôi đền, những bức tượng khổng lồ, những sảnh thờ và những tòa tháp. Trước đây có tên gọi là Ipet-isut (tạm dịch: "Nơi được chọn")[1].
Việc xây dựng khu đền bắt đầu từ triều đại của vua Senusret I (Trung vương quốc). Mãi cho đến khi Ai Cập bị người Hy Lạp xâm lược thì ngôi đền vẫn được trùng tu và được xây dựng thêm. Ngày nay, quần thể đền Karnak nằm tọa lạc tại El-Karnak, thuộc tỉnh Luxor, cách Luxor 2,5 km về phía bắc.
Thành phố cổ Thebes và các di tích khảo cổ tại đó đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1979.
Đền Luxor được xây dựng chủ yếu bằng đá sa thạch được lấy từ Gebel Silsileh, một mỏ đá nằm phía tây nam Luxor. Loại đá này còn được gọi là "sa thạch Nubia". Loại đá này cũng được dùng để tái dựng lại các di tích đền đài ở Thượng Ai Cập.
Ngay trước cổng đền là hai cột tháp obelisk đứng sừng sững giữa trời, một điều đặc biệt là chúng không cùng chiều cao (cột nhỏ hơn hiện đang ở Quảng trường Concorde, Paris, Pháp). Chính vì cách bố trí của ngôi đền nên đa số chúng ta đều tưởng rằng chúng có cùng kích thước với các bức tường thành trong ngôi đền. Đây là một hiệu ứng không gian làm tăng kích thước "ảo" của những bờ tường, kể cả những đường đi
Chúng tôi luôn luôn có “quớí nhân” giúp đỡ trong những lúc cần thiết. Khi đi thăm một hang động "gập ghềnh khó đi'” trong các ngôi mộ của các vị vua ở Ai Cập, phu quân của tôi bị trượt chân té nhào kéo tôi té theo. Cũng may, lúc đó còn có một anh trong đoàn đi phía sau đỡ chúng tôi đứng dậy vì chúng tôi là người đi cuối cùng trong đoàn. Nếu không có “vị quới nhân” này thì không biết ai sẽ cứu chúng tôi trong hang động vắng vẻ này vì chúng tôi là người đi sau cùng trong đoàn. Tạ ơn Trời Phật đã gia hộ, cha mẹ khuất bóng đã phù hộ và đặc biệt cám ơn anh Tiến đã giúp đỡ kịp thời, đúng lúc.
Đây là kinh nghiệm thứ 3 mà người viết muốn chia sẻ với các bạn: Người lớn tuổi phải thận trọng việc đi đứng và phải bám sát hướng dẫn viên trưởng đoàn là thế đấy! Đặc biệt nữa là nếu đoàn có hai hướng dẫn viên thì cần có một hướng dẫn viên đi cuối đoàn để kiểm tra sự an toàn của người trong đoàn vẫn tốt hơn là cả hai hưóng dẫn cùng đi phía trước hết ráo.
Buổi tối đi chơi ở Luxor rất vui. Vợ chồng chúng tôi ngồi trên chiếc xe ngựa được trang hoàng rực rỡ, chạy thong dong đi qua các đường phố chính ở Luxor để ngắm sinh hoạt rộn ràng của "Luxor by Night". Ban đêm phố chính Luxor vẫn hoạt động rần rần:chợ vẫn nhóm, cửa hàng vẫn mở mà đa số người bán là quý ông, còn quý bà thì.....đi chợ.
Có những cửa hàng quần áo, áo cưới trưng bày y chang kiểu cách của Mỹ. Có những cửa hàng bán quần áo kiểu truyền thống Ai Cập. Người dân, phụ nữ, trẻ em Ai Cập ở Luxxor rất hiếu khách, Họ luôn vẫy tay say "Hi" “Hello”, mỗi khi xe ngựa của chúng tôi rảo bước gần họ và dĩ nhiên tôi cũng vẫy tay chào "Hello" đáp lễ. Cả hai phía cùng vui cười chào nhau. Thật là vui và cảm động!
Sau chuyến đi xe ngựa, cả đoàn chúng tôi kéo nhau đi vào một quán trà để uống trà và hút "thuốc lào Á Rập" giống như hút shisha ở Dubai. Ông trưởng đoàn TNT và một vài ông phì phò hút thử cho vui, dĩ nhiên trong đó có phu quân của tôi nữa.
Tối về tàu ngủ đêm, hình như tôi mơ màng nghe tiếng lọc cọc của chiếc xe ngựa chạy trên chạy trên đường phố Luxor về đêm/. Nếu bạn đã đến Luxor thì nên đi viếng "Luxor By Night" một lần cho biết nhé. Tàu khởi hành đi Esna khi chúng tôi đang say giấc điệp.
Ngày thứ 13, của chương trình, chúng tôi đến Asean/ Aswan là một thành phố ở phía nam của Ai Cập, cự ly 680km (425 dặm) về phía nam Cairo, ngay dưới đập nước Aswan và hồ Nasser, với dân số 275.000 người.. Buổi sáng chúng tôi đi thăm đền Edfu trên một cổ xe ngựa . Có 8 chiếc du thuyền đậu ở bến cảng Aswan nên du khách đến viếng thăm đền Edfu rần rần.
Việc đón được một chiếc xe ngựa để đi quanh thành phố Aswan và đền Edfu không phải là chuyện dễ dàng vì đông du khách quá, nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cững đến thăm đền Edfu. Thật ra các đền nào của Ai Cập cũng có những cột to lớn chạm trổ các hình vẽ của Ai Cập xưa,
rất tinh vi, sắc sảo nên chúng tôi không nhớ tên hết những ngôi đền đã đến..
Về nhà xem lại các hình chụp va video mới thấy ngưỡng phục nền văn minh Ai Cập cổ đại, không hiểu họ làm cách nào mà có thể khác những hình vẽ tuyệt đẹp và thực hiện những công trình vĩ đại, tráng lệ như thế ở một nơi sa mạc nắng cháy da cháy thịt.
Chỉ có vài chục trang giấy dành cho Giai Phẩm Xuân, chúng tôi không thể nói lên hết cái đẹp của một Ai cập huyền bí nên đành phải mời bạn hữu xem những youtube do chính tôi thực hiện hoặc do tôi sưu tầm được để chia sẻ với bạn bè, nhìn rõ được hình ảnh những công trình tuyệt mỹ như thế mà không bút mực nào có thể diễn tả được sự vĩ đại và cái hồn linh thiêng của các công trình này.
Buổi sáng chúng tôi viếng đền Edfu xong về lại khách sạn ăn trưa, nghỉ ngơi một chút, buổi chiều viếng đền Kom Ombo cũng rất đẹp
Mời xem 2 youtube về 2 ngôi đền chúng tôi viếng hôm nay
Bạch Cư Dị chủ trương thơ phải giản dị, vừa với tầm hiểu biết của dân chúng. Tình cảm, tư tưởng phải có “nhân dân tính” nói lên được những điều xảy ra hàng ngày trong xã hội và phản ảnh nỗi lòng của người dân trước thế sự.
Thơ ông rất trữ tình. Khi bị đi đày từ Tràng An đến Tây Giang, cách xa bốn ngàn dặm, dọc đường thấy trường học, chùa chiền, quán trọ, sự lam lũ của nhân dân… ông đều có đề thơ, bày tỏ lòng mình.
Thơ của ông gồm nhiều chủ đề khác nhau; bài nào cũng bay bướm, ý ở ngoài lời; khi thì chân thành ca tụng (Quan Ngải Mạch), khi thì mỉa mai kín đáo (Khinh Phì, Lập Bi), khi thì dạy luân lý (Thái Hoàng Gỉa, Thanh Thạch); khi thì hoà đồng vào cảnh ngộ của nhân vật (Dương Liễu Chi Bát Thủ Kỳ 3-7). Bài nào cũng buồn thương vời vợi hoặc đượm vẻ từ bi.
Trong bài 楊柳枝八首其四 Dương Liễu Chi Bát Thủ kỳ 4, Bạch Cư Dị không tả hình dáng yêu kiều của một cây liễu như trong kỳ 3, mà tả một hàng liễu đóng vai những tiếp đãi viên mời khách vào quán rượu thưởng xuân.
Nguyên tác Dịch âm
楊柳枝八首其四 Dương Liễu Chi Bát Thủ kỳ 4
紅板江橋青酒旗 Hồng bản giang kiều thanh tửu kỳ,
館娃宮暖日斜時 Quán Oa cung noãn nhật tà thì.
可憐雨歇東風定 Khả liên vũ yết đông phong định,
萬樹千條各自垂 Vạn thụ thiên điều các tự thùy.
白居易 Bạch Cư Dị (772 - 846)
***
Chú thích:
Quán Oa: tên cung điện, do Ngô Phù Sai xây cho Tây Thi ở khi nàng vừa từ
Việt đến Ngô, di chỉ nay trên núi Linh Nham, phía tây nam huyện Ngô, tỉnh Giang Tô.
Đông phong: Gió thổi từ hướng đông, tức gió mùa xuân ở Trung Hoa.
Điều: cành non thẳng, hình vóc dài mà nhỏ (thon thon), cành rụng, cành cây gẫy.
Dịch nghĩa
Tám Bài Nhành Dương Liễu kỳ 4
Biển quảng cáo màu đỏ, cờ rượu màu xanh bên cây cầu bắc ngang sông Ánh tà dương chiếu vào quán Oa ấm áp Cảm thông với mưa gío mùa xuân Vạn cây ngàn cành uốn rủ xuống
Dịch thơ
Tám Bài Nhành Dương Liễu Kỳ 4
Biển đỏ cầu sông cờ rượu xanh Quán Oa ấm áp nắng ngang mành Cảm thông gió lặng mưa xuân tạnh Vạn gốc muôn cây uốn rủ cành
Ngàn cành [liễu] trên vạn cây đều tự rủ xuống.
Dịch thơ:
Cành Dương Liễu Kỳ 4
Qua sông cầu đỏ quán cờ xanh
Cung ấm Quán Oa ở ngoại thành
Mưa tạnh gió xuân cùng hết thổi
Vạn cây phất phới rũ ngàn cành.
Dịch thơ:
Cành Dương Liễu Kỳ 4
Qua sông cầu đỏ quán cờ xanh Cung ấm Quán Oa ở ngoại thành Mưa tạnh gió xuân cùng hết thổi Vạn cây buồn rũ rụng ngàn cành.
Willow Branch 4 by Bai Ju Yi
The wood bridge spanning the river is red, the tavern flag is blue
The Guanwa Palce is warm in the late afternoon
The rains and the spring winds have stopped
Thousands of new branches hang to the ground
Phí Minh Tâm
***
Dương Liễu Chi Bát Thủ Kỳ 4
Ván đỏ cầu sông, cờ rượu xanh Quán Oa cung ấm, ráng chiều thanh Tiếc thay mưa tạnh đông phong dứt Ngàn nhánh, vạn cây, chất đống thành!
Lộc Bắc
***
Góp ý của Bát Sách:
Nếu đọc 4 chữ Vạn Thụ Thiên Điều, thì ta thấy ngay chữ Điều phải là cành, là một danh từ, không thể là động từ gẫy được.
- Khả liên là khá thương.
- Yết là hết.
- Định là ngừng, yên lặng.
- Các là đều, cùng
- Thùy là rủ xuống.
Vậy, theo Bát Sách, bài thơ này, nếu diễn ra theo văn suôi, thì như sau đây:
Nơi cầu trên sông, có tấm biển đỏ và lá cờ xanh tượng trưng cho quán rượu, có tên là Quán Oa. Lúc chiều tà, trong quán ấm cúng. Thường thì quanh quán có rất nhiều liễu, gió thổi cành liễu đong đưa, rất đẹp và nên thơ, nhưng khá thương là hôm nay, mưa vừa tạnh, và gió xuân lại ngừng, nên bao nhiêu cành liễu, vì bị ướt và thiếu gió nên đều rủ xuống, không đong đưa như mọi khi.
Trong Thi Viện, có nhiều người hiểu câu chót giống như anh Tâm.
Đây là bài dịch của BS theo cách hiểu của mình:
Cầu sông bảng đỏ với cờ xanh,
Quán Oa ấm cúng lúc ngày hanh,
Mưa tạnh gió xuân đà ngưng thổi,
Ngàn vạn cây kia chịu rủ cành.
Bát Sách
***
Góp Ý:
楊柳枝八首其四 Dương Liễu Chi Bát Thủ kỳ 4
馆娃宫 Quán Oa cung là cung điện Ngô Phù Sai xây cho Tây Thi trên núi Linh
Nham ở Tô Châu, Giang Tô.
可憐雨歇東風定 khả liên vũ hiết đông phong định
萬樹千條各自垂 vạn thụ thiên điều các tự thùy
Chữ 條 (Wiktionary)=điều/điêu/thiêu phát âm là /tiáo/ trong pinyin cho tiếng Hán và Quảng Đông, nhưng bây giờ các người Triều Châu. Ngô Tương vẫn phát âm tựa như âm /deu/ thời Trung Cổ.
Nghĩa nguyên thủy của 條 (trong tiểu triện, không tìm thấy trong giáp cốt văn) có nghĩa là cành cây như trong câu 綠絲條弱不勝鶯 của bài kỳ 3; chữ kim văn khắc không rõ ràng và nghĩa cũng không rõ ràng (ý, tư tưởng, suy nghĩ). Qua thời Chiến Quốc trên thẻ tre thì 條 có nghĩa là u buồn, đau thương (trong Nhĩ Nhã). Chữ này cũng được dùng (có lẽ mượn theo lối giả tá) làm lượng từ; 漢語多功能字庫 (Hán ngữ đa công năng tự khố của Hồng
Kông) cho nghĩa lượng từ để chỉ vật nhỏ và dài như cành gãy (stick) giống như trong Thiều Chữu. Không có từ điển nào bảo 條 được dùng như động từ hết.
Bạch Cư Dị là người học rộng và ta nên phân vân ông biết bao nhiêu nghĩa của 條, và chỉ tả cành (liễu) gãy hay đang chơi chữ (như ta thấy trong các bài khác) và muốn người đọc/nghe liên tưởng tới các nghĩa khác?
雨歇東風定=vũ hiết đông phong định (歇 đọc là hiết, không phải yết, theo
Wiktionary)
Cantonese ( Jyutping ): hit 3 , kit 3
Hakka ( Sixian , PFS ): hiet / hiat
Min Bei ( KCR ): hṳĕ
Min Dong ( BUC ): hiók
Min Nan
( Hokkien , POJ ): hiat / hioh / hehⁿ / heh
( Teochew , Peng'im ): hiah 4
Middle Chinese : /hɨɐt̚/
Mưa gió mùa xuân thì làm sao mà xô ngã cây cành? Kinh đô nước Việt đã bị xóa trên bản đồ Hoa Lục từ giữa thế kỷ thứ 5 BCE, tới đời Đường thì di tích của Quán Oa còn lại những gì? Tại sao họ Bạch lại dùng tên Quán Oa nếu không phải muốn dùng 風 雨 (phong vũ trong mùa xuân) để người đọc liên tưởng đến việc mây mưa trên đỉnh Vu Sơn ở cung Quán Oa và để nói đến các thăng trầm lịch sử và sự vô thường của cuộc đời?
Huỳnh Kim Giám
***
Cảm Đề:
Phía bên kia cầu TràngTiền
Có bến đò dạ du tiên trên sông
Tiếng đàn tiếng hát trên không
Thuyền tình tròng trành mênh mông nước lành
Trời xanh đậm, nước long lanh
Liễu nhẹ buông xiêm rượu xanh mời anh
Rồi trong giây phút mong manh
Đào tiên lột vỏ buông mành thiên thai
Đồ Cóc
***
Phóng Tác:
Dương Liễu Buồn
Cầu đỏ ngang sông, cờ quán xanh Quán Oa cung điện ấm ân tình. Gió xuân ngừng thổi, mưa xuân tạnh. Liễu buồn rủ xuống cả ngàn cành.
Sáng nay, khi thức dậy, tôi chợt thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió
thổi qua cửa sổ vào nhà. Dụi mắt, nhìn cái hàn thử biểu thấy 12 độ C,
tôi thầm nghĩ:
– Nàng Thu thực sự đến rồi!
Tôi định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ý
định vừa tập thể dục và vừa để chụp hình lá vàng rồi “ngồi trên ghế gỗ
công viên” mà viết bài.
Tôi
muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để mà
được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật ký dĩ vãng
cuộc đời để tìm kiếm lại những hình ảnh về cha tôi và những cảm xúc đã
từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm qua.
Nhiều người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi
để mà thương, mà nhớ. Riêng tôi, tôi không có cái “may mắn” đó vì anh
chị em chúng tôi đã phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng tôi còn nhỏ
dại.
Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia đình chúng tôi sống
với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh thần Khổng giáo. Nhưng cảnh
“gà trống nuôi con” cũng có những cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng
tôi và ngay cả thân phụ chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm.
Ðiều này, khi chúng tôi còn nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các
anh chị em tôi đã có gia đình, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng tôi
hay:
– Ta sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đã khôn lớn và có gia
đình. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm, thế là
vui rồi!
Ðã nhiều lần, tôi đã định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng
cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết vì tôi đã được
cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để lộ phần tình
cảm. Tôi bàn với anh Ðàm Trung Pháp, anh ruột của tôi là tôi “có nên
viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ý liền:
– Thì Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết còn
thiếu. Hai đứa tụi mình viết dùm cho tất cả các anh chị em mình để tưởng
nhớ về cụ, OK?
Hôm nay, tôi “phá lệ” và viết đại vì biết đâu đấy, ngày mai, vì một
lý lẽ gì đó, tôi không còn có thể viết ra được, thì sao? Và nếu mai này,
tôi không còn khả năng viết lách và nhớ lại những gì mà tôi muốn viết,
tôi sẽ hối hận là tôi chưa có cơ hội viết ra những gì mà các anh chị em
chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau về cụ.
Bạn bè cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau:
– Bọn mình thuộc vào “thế hệ sandwich”!
Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa hai thế hệ cha mẹ và thế
hệ con cái. Thế hệ chúng tôi đã bị đảo lộn giữa hai nền văn hóa Ðông và
Tây. Hai thế hệ này thật là khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với
thế hệ của chúng tôi nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của
“thế hệ sen kẽ” để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau.
Những lúc tĩnh lặng, một mình trong đêm khuya hay khi đi bộ dọc theo
bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ của chúng tôi, tôi chỉ thấy
thương cảm mà thôi. Cha tôi “sinh bất phùng thời” và mẹ tôi đã luôn luôn
phải đầu tắt mặt tối và lo âu. Hoàn cảnh gia đình của ông nội tôi đã
không thể giúp cha tôi được đi học như ý muốn. Theo Nho học thì đã lỗi
thời, theo Tây học và chữ quốc ngữ thì đã “hơi già”. Cụ phải tự học để
trở thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ tự
học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là về văn viết.
Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học trò ai cũng kính phục. Quê
nội tôi tại Bắc Ninh nên cha tôi phải đạp xe đạp đi đi về về, mỗi tuần
ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa.
Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con
còn nhỏ dại.
Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Quốc Ngữ.
Thuở còn bé tí teo, thú vui của tôi là lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ
chơi vì tôi thích lấy ra và bỏ vào những tờ lá khô được ép giữa các
trang sách. Cha tôi chỉ vui vẻ nhìn tôi và không hề la mắng tôi. Tôi
cũng rất thích dở các sách chữ Tây ra để mà xem hình, chữ nghĩa lúc đó
thì chưa biết một tí gì! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đã làm hư hại nhiều
sách của cụ và cụ đã phải tốn nhiều thì giờ để “chữa bệnh” cho từng cuốn
sách.
Cha tôi lập gia đình sớm, và vài năm sau khi có con trai đầu lòng thì
cha tôi góa vợ. Cha tôi “đi bước nữa” khi lấy mẹ tôi, và hai cụ có thêm
bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi được gửi lên Hà Nội để học
trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái
duy nhất của chúng tôi, cũng “được” theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ:
chị không được cha mẹ cho đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để
trông nom các em trai và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em
trai của chị rất thương cảm vì chị sinh vào thời buổi và xã hội với quan
niệm “cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu người
ta, phí của”!
Khi anh em trai chúng tôi còn trẻ, nhiều lần, chị tức khí và la chúng tôi: – Chỉ vì tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học! Tôi “hứng chí” trả lời chị: – Ði học để chị viết thư cho trai ấy à!
Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà chị tóm được thì cũng chỉ
ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ, chúng tôi đã ở tuổi có con, có
cháu, mỗi khi nhắc đên truyện xưa, tích cũ, chúng tôi, nhất là chị chỉ
bò lăn ra mà cười với nhau cho … huề cả làng.
Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được ít lâu, chiến tranh
giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê của gia đình chúng tôi tại
Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái
Nguyên. Mẹ tôi và em út phải ở lại nhà vì sức khỏe không cho phép. Chạy
loạn thì phải chạy ban đêm vì ban ngày, máy bay của Tây trông thấy sẽ
bắn chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi đã
chu chéo lên:
– Con không thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi!
Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cõng tôi mà đi, nếu không cả gia đình
chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên
xưa, tôi thấy thương cha mẹ tôi vô cùng. Những hình ảnh và tình cảm này
vẫn còn được “stored” trong cái “memory card” của đầu óc tôi:
Tôi vẫn trôi theo giòng định mệnh, Hàng triệu người, sao chỉ thấy mình tôi? Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời, Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói! Những đêm tối, theo Cha tôi đi chạy loạn Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ. Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ Hình bóng Mẹ và im lìm tiếng súng.
Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đã viết chữ bằng bút chì và hai anh
em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô) lại bằng bút mực cho đúng nét
chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào
tay!” Ngoài môn toán đố, cụ còn dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt
đọc to và thật rõ từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đình
chúng tôi đã được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc “dictée” cho hai anh
em chúng tôi viết.
Gia đình chúng tôi được thực sự sống quây quần hạnh phúc tại Hà Nội
từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam, cha mẹ tôi hầu như tay trắng vì
tất cả nhà cửa, ruộng vườn đã để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu
của chúng tôi đột ngột qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của
chúng tôi đã có gia đình và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi
phải đi làm tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho cụ. Anh thứ của chúng
tôi được học bổng học Nông-Lâm-Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc phải
trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai út chúng tôi
tại Saigon.
Sau khi thân phụ chúng tôi không còn dậy tại trường Tiểu học Phú
Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại trường Trung học Gia Long vào năm
1957 cũng như dịch sách chữ Hán sang chữ Quốc Ngữ cho Sở Tu Thư thuộc
Bộ Giáo Dục trong những năm kế tiếp. Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất
chỉnh tề mỗi khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm
xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn mà học
và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi. Cụ còn thuê
thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi giải những bài toán
và vẽ hình.
Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các con cháu của cụ biết
trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến chốn, và nhất là phải biết
trọng luân thường, đạo lý.
Mấy
năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi ngày xưa học trường Gia Long
đã cho tôi xem một bức hình chụp chung của các giáo sư dậy trong trường
Gia Long hồi cuối thập niên 50. Trong hình, tôi nhận ra ngay một giáo sư
khăn đóng, áo dài: vị này chính là cố giáo sư Ðàm Duy Tạo, thân phụ của
chúng tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày
xưa” hiện ra trước mắt! Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đã hay đến thăm
ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi của họ và của
tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên tôi thấy tôi trở về
với căn nhà của gia đình chúng tôi tại đường Yên Ðổ với cái bảng đen rất
dài trong phòng ngoài và thân phụ chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay
chữ Nho. Thế rồi anh Pháp và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ còn có cha
tôi sống lủi thủi với chú em út mới vừa lên trung học. Những hình ảnh
này không làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đã 50 tuổi, trong
lúc ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đã ghi lại
những giòng thơ dưới đây:
Con còn nhớ … Năm con mười ba tuổi Một đêm Trung Thu Bất thần Mẹ ra đi vĩnh cửu Bố gánh chịu thân gà trống nuôi con! Mười chín tuổi, con ra đi Máy bay cất cánh Bố ở lại… Bạn đời với văn chương chữ nghĩa, Bần thần thương nhớ con trai. Vì tương lai, sự nghiệp Hay vì con vướng mộng giang hồ?
Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và tôi đã xuất ngoại, Cụ chỉ
ước nguyện còn được sống thêm vài năm để trông nom cho chú em út của
chúng tôi tốt nghiệp đại học, thế là cụ mãn nguyện lắm rồi! Cụ viết
thư đều đặn cho tôi và có một lần, cụ đã viết cho tôi: “Nếu Bố giầu có,
Bố đâu muốn để hai đứa phải đi du học xa nhà vì Bố nhớ hai đứa lắm!” Ðêm
hôm đó, tôi lang thang ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời
vợi nơi nào để nhớ về cha tôi.
Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy bay về thăm gia đình nhưng
chính thân phụ tôi đã gửi điện tín sang khuyên tôi không nên về vì cụ
sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam vì những “coups d’etat” bất tử. Sau biến
cố Mậu Thân 1968, cụ cũng đã khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ
cũng rất muốn gặp lại tôi.
Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại Canada và không còn hy vọng
gì để gặp lại cha già và các anh chị em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên
mệnh” tôi mới thấu hiểu được những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà
trống nuôi con” và những hy sinh gan dạ của cụ chỉ vì cụ thực sự mong
mỏi cho tôi được sống an bình tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ
vẫn mong thư của tôi gửi về:
Cuộc đời ra sao? Con đi vào một thế giới khác Không người thân bên cạnh. Bố ở nhà canh cánh mong con, Đời thiếu vuông tròn!
Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp lại được cha già, anh em
trong lúc mất nước nhà tan vào hồi tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đã gần
80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đã
thật sự khóc, khóc thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho
các con cháu của cụ còn kẹt lại bên Việt Nam .
Sau
khi các anh chị em chúng tôi đã được sống ổn định tại Hoa Kỳ và Canada,
cụ đã mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi trở thành hai nhà giáo theo truyền
thống của gia đình họ nội. Cụ thường hỏi thăm tôi về công việc nhà
trường của tôi. Cụ chẳng đòi hỏi gì, có chăng chỉ là:
– Nếu có thể được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con!
Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển chữ Hán sau khi cụ đã viết
tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng
Kông dùm cho cụ. Một lần tôi thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều hình ảnh
đẹp, tôi hí hửng mua về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đã
“mong mẹ về chợ” để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với
tôi:
– Người Tầu bây giờ họ “lãng mạn“thật! Ai lại trai gái mới quen nhau
mà chưa chi đã nhẩy lên giường liền! Thật chẳng còn có cái lễ nghĩa gì
cả!
Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà phì cười. Chẳng qua chỉ là vì tại
tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay phải một cuốn báo “porno” của dân
Hồng Kông!
Khi cụ đã gần cửu tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên
thăm cụ tại Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo
trong phòng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng giấy đỏ
dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính “lúp” và tay
phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ý nhất. Cụ viết chậm lắm và nét bút
đã run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu đối lấy từ một bài thơ của
Trình Hiệu đời nhà Tống:
Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng
Ý nghĩa rất hiền hòa, nhân ái: hãy bình thản quan sát để mà thấy mọi
vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn mùa hãy tìm hứng thú mà giao
hảo với tha nhân. Ðó cũng chính là lối sống trong suốt cuộc đời của cụ,
một nhà nho can đảm, bình thản đã chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đã
định.
Giờ đây, tuy thân xác của cụ không còn nữa nhưng cụ vẫn còn sống ngay
trên các ngón tay của chúng tôi: những giòng chữ viết của tất cả các
anh chị em chúng tôi đều từa tựa giống như chữ cụ đã viết vì chính cụ đã
đích thân viết bằng bút chì để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em
chúng tôi mới tập viết chữ! Cụ đã không để lại cho chúng tôi tiền bạc
nhưng cái di sản quý báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và
cháu, chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận hòa với nhau, trọng sự
hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng làm sao
sống cho hợp với đạo làm người.
Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những giấc mơ. Cụ trông tuy rất
già nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Khi tôi gặp khó khăn trong những giấc mơ,
cụ luôn luôn tự nhiên xuất hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ
cho tôi qua khỏi những giây phút căng thẳng trong đời sống. Cụ sống
trong tâm tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần
tôi nghĩ tới cụ.
(Mùa Thu Canada)
Mùa Thu năm 2021, để tưởng nhớ đến Cụ, anh chị em chúng tôi xin kính mời Quý Vị vào đọc:
TRUYỆN KIM-VÂN-KIỀU ÐÀM DUY TẠO GIẢO-ÐÍNH VÀ TƯỜNG-GIẢI trong 2 blog dưới đây:
Hầu
như gia đình nào cũng có một vài bí mật muốn giữ riêng cho mình, về
phía vợ hay chồng, trước khi cưới hay là khi đã ăn ở với nhau. Đa số
những bí mật đó không mấy quan trọng, nói ra thì cũng để chọc cười nhau
hay để giúp thêm sự gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên cũng có những bí
mật, một khi bị khám phá ra, có thể đưa đến sự tan vỡ hạnh phúc gia
đình.
Khi
Lisa càng lúc càng nghi chồng nàng có thể đã làm những chuyện đen tối
sau lưng mình, Lisa nhất quyết phải tìm cho ra bằng chứng để chứng minh
sự nghi ngờ của mình. Từ một mảnh giấy vụn Jerry vất vào sọt rác, nàng
tìm thấy mật hiệu để vào máy vi tính của Jerry tìm đọc, xem những thư
từ, hình ảnh chồng mình cất giấu từ bao năm qua. Trước đây nàng không
nghĩ là mình cần phải làm những điều như vậy, nhưng đến nước này thì sự
cần thiết cho một giải thích chính đáng đã khiến nàng vượt qua sự tò mò
thông thường của các bà vợ theo dõi chồng mình. Sau một hồi lục soạn bao
nhiêu danh mục riêng của Jerry, Lisa không tin mắt mình khi nhìn thấy
một tấm hình làm tan nát tim nàng. Quả là nàng đoán không sai, người
chồng mà nàng từng tin tưởng tuyệt đối nay lại có thể làm những điều tệ
hại như thế này sao!
Đó
là một tấm hình gia đình trong đó có Jerry, đứng bên cạnh hai đứa bé
xấp xỉ tuổi của hai con chung của vợ chồng nàng và bên ngoài là một
người đàn bà xa lạ. Thế là sao? Nước mắt không ngừng tuôn, Lisa lặng
người, gục đầu trước máy vi tính.
Để hiểu tâm trạng và phản ứng của Lisa, xin mời bạn đọc theo dõi câu chuyện từ thuở ban đầu khi Lisa và Jerry quen biết nhau.
***
Vào
tuổi 15, Lisa gặp một chàng thiếu niên dáng cao, gầy và xanh xao khi
đến vui chơi với các bạn cùng trường tại một kho chứa đồ, một nơi các
bạn trẻ hay tụ tập đàn hát nhảy nhót với nhau mà không sợ cảnh sát làm
phiền. Sự kiện chàng ta lặng lờ ít nói và hầu như xa lánh đám đông đã
khiến Lisa chú ý. Các công nhân nhà kho cho Lisa biết đó là Jerry,
khoảng 16 tuổi, vừa mới được nhận vào làm việc tại đây trong vòng vài
tuần qua và hiện sinh sống trong một căn phòng nhỏ của nhà kho. Không
một người nào có thể đích xác biết Jerry từ đâu tới, nên chỉ đoán chừng
Jerry trốn nhà và sống cuộc sống tự lập. Những người cùng làm việc với
Jerry, dù không hợp với cá tính thầm lặng của Jerry, nhưng không một ai
muốn làm khó dễ anh ta vì Jerry luôn hoàn tất công việc của mình một
cách rất có trách nhiệm.
Sau
nhiều lần gặp Jerry tại nhà kho mỗi khi đến chơi với chúng bạn, Lisa
càng cảm thấy bị lôi cuốn bởi vẻ khắc khoải và ánh mắt sâu buồn của
Jerry, như ẩn chứa một sự đau khổ nào đó, một bí mật thầm dấu kín. Vài
tháng sau khi Lisa tỏ tình với Jerry, hai bạn trẻ thường rời xa đám
đông, ngồi hàng giờ bên nhau trong im lặng. Một thứ im lặng hạnh phúc mà
chỉ có 2 con tim yêu nhau mới cảm nhận sự rung động.
Chính
những lúc ngồi riêng bên nhau, Jerry có vẻ cởi mở và tâm sự nhiều hơn,
cho biết chàng từ một nơi xa đến đây và không tỏ ý muốn trở về chốn cũ.
Tuy nhiên Jerry vẫn lặng yên không nói tiếp chàng từng sống miền nào,
gia đình ra sao, vì sao lại lưu lạc đến thị xả này…Lisa muốn hỏi thêm
nữa nhưng nàng nghĩ rồi trước sau gì mình cũng sẽ biết thôi.
Theo
thời gian, Lisa và Jerry gắn bó với nhau nhiều hơn, gặp nhau nhiều hơn.
Nhất là với Lisa, nàng nghĩ là mình không thể sống một ngày thiếu vắng
Jerry. Vì vậy, nàng đưa Jerry về nhà giới thiệu với cha mẹ, và mong cha
mẹ mình cũng thương yêu Jerry như mình. Vì Lisa là con một trong gia
đình, nên cha mẹ nàng cũng tỏ vẻ thương mến Jerry khi nhận thấy chàng ta
là con người có trách nhiệm, lễ phép, lịch sự, và tự tin; họ cảm thấy
cần giúp đỡ cho Jerry sau khi nghe chàng ta kể vắn tắt về cuộc đời tự
bươn chải của mình. Không có gì vui hơn cho cả Lisa lẫn Jerry khi cha
mẹ Lisa chấp nhận cho Jerry về ở tại một căn phòng trong nhà và từ đó
cuộc tình của đôi trẻ càng thắm thiết hơn. Cha mẹ của Lisa còn khuyến
khích Jerry học tiếp đậu bằng GED tương đương với bằng Trung Học, rồi
sau đó giúp Jerry làm việc bán thời gian tại một cơ sở quen biết, đồng
thời khuyến khích chàng ghi danh học ngành nhiếp ảnh, một môn mà Jerry
từng mơ ước… Sau 3 năm học Jerry tốt nghiệp chuyên môn về nhiếp ảnh, và
với một bộ máy ảnh đắt giá, tân kỳ và mới cáu cạnh, một món quà vô giá
từ cha mẹ Lisa, Jerry bắt đầu đứng vững trên đôi chân mình bằng nghề
nhiếp ảnh viên tự do, và danh tánh của Jerry từ từ được nhiều người biết
đến.
Với
sự thành công của Jerry, và sau 5 năm là bạn tình của nhau, Lisa và
Jerry chính thức làm đám cưới, vừa khi Lisa đang có thai. Đồng thời họ
cũng ổn định đủ để ra riêng trong một căn nhà nhỏ mới mua. Tuy nhiên,
một mặt Lisa cảm thấy rất hạnh phúc khi lấy Jerry, một mặt khác Lisa vẫn
băn khoăn và hụt hẫng khi không tìm thấy bất cứ một thân thích nào của
Jerry có mặt trong ngày lễ cưới, ngay cả không có lấy một người bạn xưa
từng biết Jerry từ thuở trước khi Jerry di chuyển đến thị xã này. Sau
nhiều lần gặn hỏi Jerry về quá khứ, Jerry luôn tránh né và chỉ trả lời
rằng mình nay không còn gia đình và nếu cứ tiếp tục hỏi mình về gia đình
hay người thân thích sẽ làm Jerry vô cùng buồn khổ. Jerry muốn quên hết
và chỉ biết hiện tại của mình với Lisa. Thế là Lisa cũng đành chắc lưỡi
bỏ qua, thầm nghĩ chắc phải có một chuyện gì đó rất bất thường mới
khiến Jerry có lối suy nghĩ như vậy. Có thể chăng Jerry vốn là một trẻ
mồ côi? Hay bị cha mẹ ghét bỏ đuổi ra khỏi nhà sớm? Hoặc Jerry có làm
một chuyện tầy trời bất hợp pháp nơi chốn cũ nên muốn dấu hoàn toàn tông
tích của mình? Dù sao đi nữa, Jerry luôn là một con người hiền dịu với
nàng và con, là một người chồng thương yêu vợ con, biết ơn cha mẹ nàng,
có trách nhiệm và sáng tạo trong công việc. Và hơn nữa, Jerry là người
mang đến sự ổn định về tài chánh cho gia đình nàng. Còn gì hơn nữa!?
Tiếng
tăm của Jerry ngày càng tăng, chàng từ từ xa lần chụp hình thiên nhiên,
hình cảnh, hình đám cưới mà bắt đầu dấn thân vào công việc chụp chân
dung, chụp hình mẫu và nhất là thường phải bay đi xa vài ba ngày. Một
điều mà Lisa rất e ngại và nghi ngờ, vì không những bây giờ nàng có thêm
một đứa con gái ngoài đứa con trai đầu nên cần nhiều giúp đỡ tại nhà,
mà vì nhiều lần nàng nhìn thấy những hình mẫu chồng nàng chụp cho thấy
các người mẫu rất đẹp, rất khiêu gợi trong dáng ngồi nằm đứng hở hang
nếu không muốn nói là lõa thể. Đôi khi nàng cũng phừng mặt lên vì không
tránh khỏi ghen tức. Nhưng biết làm sao vì Jerry từng giải thích chàng
chỉ là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp được trả tiền rất cao cho những
loại chụp hình mẫu như vậy. Thôi thì cũng phải tin chồng của mình không
bị cám dỗ và trung thành với vợ con. Nàng cần phải đánh đu vào sự tin
tưởng nơi chồng để không mấy nặng lòng.
Cho
đến một ngày cuối tuần, Lisa đi chợ mua thực phẩm cho gia đình, khi ra
tính tiền nàng không thể xử dụng thẻ tín dụng như thường lệ, vì thẻ
không đủ tiền bảo chứng. Lisa chết lịm, vừa thẹn vừa tức giận. Như vậy
là sao?
Ra
khỏi của hàng, nàng lập tức điện thoại hỏi ngân hàng. Nhân viên cho
biết Jerry rút hết toàn bộ số tiền trong các chương mục ngay sáng hôm
nay, trước khi Jerry lên đường ra phi trường. Lisa bèn điện thoại cho
chồng hỏi cớ sự. Jerry trả lời rất bình tĩnh vì chàng cần 1 số tiền lớn
để đầu tư ngay liền vào một kinh doanh chưa có tên tuổi nhưng lại có
tiềm năng sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho gia đình. Jerry còn nói thêm vì
quá gấp nên chưa kịp thảo luận với Lisa, và xin lỗi vợ mình, đồng thời
hứa sẽ giải thích rõ hơn khi về lại nhà. Khi về lại nhà, Jerry lại một
lần nữa thuyết phục được vợ mình tin vào sự đầu tư và nhất quyết tin
rằng rất chóng gia đình sẽ có nhiều lợi nhuận, như là kiểu cho vay tiền
với phân lời rất cao.
Lisa
rất bối rối, không biết phải tin như thế nào!? Vì trước đây ở với Jerry
trên cả 6-7 năm, nàng chưa bao giờ nghe chồng mình nói về chuyện đầu tư
và cũng không nghĩ là Jerry hiểu biết nhiều về đầu tư. Quá lạ! Rất đáng
nghi ngờ. Tuy nhiên Nàng vẫn tin vào lời giải thích của chồng sau khi
Jerry hứa hẹn là sẽ có tiền bỏ vào chương mục trong vài ngày tới. Và
đúng như vậy, giữa tuần thì Jerry báo cho vợ mình biết là trong chương
mục đã có tiền lại rồi, tuy chưa nhiều lắm.
Vẫn
còn nghi ngờ chồng mình, mấy tháng sau, Lisa đem chuyện ấy tâm sự với
các bạn gái thân quen của mình, nhất là trong năm vừa qua, chồng nàng
rất thường xuyên bay đi làm việc cuối tuần, cuộc sống vợ chồng giảm bớt
tính chất lãng mạn và ít thời gian ngồi tâm sự bên nhau, khiến nàng cảm
thấy càng bất ổn. Nhưng rồi Lisa tự biện hộ cho rằng tình yêu kém đậm đà
vì không những cuộc tình không còn sôi động như những năm đầu tiên, mà
ngay chính bản thân mình cũng mệt mỏi vì bận rộn với 2 đứa con, vả lại
công việc của Jerry có phần nặng hơn trước với nhiều thời gian xa nhà
hơn xưa. Bạn nào cũng ý kiến không tốt và khuyên nàng cần phải để ý
nhiều hơn đến tiền bạc của gia đình, lục soạn các túi áo quần, điện
thoại của chồng, tìm hiểu nhiều hơn về công việc của Jerry, về các thành
phố Jerry bay đến, nhất là vào những cuối tuần, mà trước đây nàng không
hề vướng bận suy nghĩ. Nhưng nay chắc phải khác.
Hơn
một năm trước và trong một dịp hiếm xẩy ra, Lisa nhìn thấy chồng mình
vò một mảnh giấy và quăng vào thùng rác. Lisa lượm và dấu riêng cho
mình. Đó là mật mã vào máy vi tính của Jerry mà chưa một lần nào nàng
muốn tự mở ra tìm hiểu, ngoại trừ có đôi khi chồng nàng tự ý mở cho vợ
mình xem những tấm ảnh chụp sau chuyến làm việc. Bấy giờ Lisa chỉ cất
mảnh giấy đó vào hộc áo quần của mình.
Bây
giờ thì khác. Nhất định Lisa phải tìm cho ra những manh mối, hay những
bí mật mà chồng nàng đã từng dấu diếm và nay có thể đang làm sau lưng
nàng. Dù Lisa vẫn kính trọng chồng mình, nhưng có quá nhiều dấu hiệu
đáng nghi xuất hiện trong thời gian gần đây. Sau khi Jerry lại rời nhà
vào cuối tuần, Lisa tìm lại mật mã đó, ngồi vào bàn và mở máy vi tính.
Nàng nhớ lại thỉnh thoảng Jerry có ấp úng khi nàng hỏi tên phi trường
chàng đến, và nàng cũng từng nghe chồng mình nói đến rất nhiều thành
phố, bay đến nhiều phi trường khác nhau và hiếm khi phải trở lại một phi
trường nhiều lần. Sau một hồi lục soạn các danh mục riêng biệt, Lisa
vào được danh mục các phi trường chồng nàng đã bay đến và bay đi. Nàng
lạnh và khựng cả người khi nhìn thấy chứng cớ Jerry đã thường bay đến
một phi trường rất nhiều lần. Không những như vậy, mà lại cũng phi
trường đó cùng một ngày mà mấy tháng trước đây chương mục trong ngân
hàng bị khóa vì Jerry bất thình lình rút hết cả tiền.
Lisa
bỗng nhớ lại trong một chiều cuối tuần gần đây, khi Jerry không có nhà,
chuông điện thoại nhà reo vang. Nàng vội chụp máy và xưng tên mình,
đường giây bên kia yên lặng rồi đột ngột cắt ngang. Lisa ráng kêu lại ba
bốn lần liên tục nhưng không ai trả lời. Lúc đó, tuy lòng rung động và
hoang mang, Lisa nhanh chóng ghi nhận mã số vùng của cuộc gọi vừa qua và
ghi vào cuốn sổ riêng.
Giờ
đây nàng như tê dại nhận ra mã số đó thuộc thuộc về vùng phi trường và
thị xã mà Jerry từng đi lại. Làm gì bây giờ? Lisa tự hỏi. Nàng gượng
ngồi vào lại máy vi tính tiếp tục lục soạn. Sau khi mở rất nhiều folders
với hàng ngàn hình ảnh Jerry đã chụp trong thời gian mấy năm qua, Lisa
ngưng tầm mắt trên một tấm ảnh khiến nàng mất bình tĩnh, choáng váng và
rụng rời tay chân. Đây là sự thật chăng??!! Một bất ngờ quá đau đớn và
vượt quá sự chờ đợi của nàng. Mắt nhòa vì không ngừng thổn thức, Lisa
nhìn thấy rõ Jerry, chồng nàng, đứng giữa một bé trai và một bé gái, có
lẽ xấp xỉ tuổi các con chung của vợ chồng Nàng, và bên ngoài là một
người đàn bà – Không phải là nàng - Rõ ràng đây là một bức ảnh gia đình
với mọi người cười rất hạnh phúc. Không thể nào như vậy được! Trời ơi,
Jerry của nàng có riêng một gia đình, dấu kín ở một nơi khác!? Tạo sao
chuyện động trời như vậy lại có thể xẩy ra? Bắt đầu khi nào? Tại sao
nàng lại là người thua thiệt? Gia đình này có biết về nàng, có biết
Jerry cũng đang ở với Lisa và 2 con không? Lisa chưa từng biết, chưa
từng gặp những người trong hình, ngoại trừ Jerry.
Tất
cả những gì Lisa muốn làm ngay bây giờ là bốc điện thoại lên mắng
chưởi, la hét, cho Jerry biết nàng vừa tìm thấy điều bí mật Jerry dấu
kín trong máy vi tính, và kể cho Jerry tất cả những gì nàng từng nghĩ về
Jerry. Nhưng nàng kịp dừng lại, vì muốn tự mình đối chất thẳng mặt với
Jerry khi chàng ta về lại nhà ngày mai.
Cả
đêm hôm đó, Lisa chẳng thể nào ngủ được. Người bạn đời mà nàng từng yêu
thương gần cả mươi năm, từng cùng nhau xây dựng tương lai từ bàn tay
trắng, hiện đang sống hai cuộc đời. Thật là đớn đau, chua xót! Phụ bạc
đến như thế, chẳng có tình nghĩa gì! Lisa chỉ biết nàng phải xa Jerry
ngay và muốn ly dị chồng mình sớm.
Xế
ngày hôm sau, khi Jerry bước chân vào nhà, Lisa đã sẵn sằng; hai đứa
con đã được chở qua nhà Ngoại, nàng đã gói ghém áo quần mình trong va li
từ sáng sớm. Jerry thảng thốt, lặng người khi Lisa nổi cơn thịnh nộ,
nói không kịp thở. Mấy lần Jerry muốn chận Lisa lại và nhỏ nhẹ lấp bắp
giải thích, tuy nhiên Lisa đang bùng nổ trong uất nghẹn và chẳng muốn
nghe một lời giải thích nào của Jerry. Sau khi ném tấm hình gia đình kia
vào mặt chồng, Lisa bước ra khỏi nhà.
Gần
đến cửa, Lisa nghe tiếng la thất thanh của Jerry, nàng cũng chẳng hiểu
rõ vì tai lùng bùng. Vài giây sau, nàng nghe được tiếng còn tiếng mất
cho đến khi Jerry tiếp tục hét to hơn và bước nhanh đến gần vợ, chỉ vào
tấm hình, nói: “Tôi có người anh em sinh đôi”. Lại nói láo gì nữa đây?
Vẫn còn muốn gạt gẫm mình thêm sao?! Lisa thầm nghĩ trong bụng, tức giận
thêm nữa. Nhưng cùng lúc, vừa nói chàng có thể chứng minh sự thật, cùng
lúc Jerry rút điện thoại cầm tay và đưa cho Lisa xem tấm hình ấy, đồng
thời chỉ vào bàn tay của người đàn ông.
Rõ
ràng người đàn ông trong tấm hình cụt mất ngón tay, một chi tiết quá
nhỏ Lisa đã không thể nhìn thấy ngay trong lần đầu tiên khi tìm ra tấm
hình. Có thể nào Jerry nói sự thật? Cả hai người bỗng cùng cảm thấy bình
tĩnh lại để ngồi lại vào bàn cho Jerry tiếp tục giải thích.
Quả
thật là Jerry có người anh song sinh, giống nhau như đúc, tên là
Jeffrey, bị mất ngón tay khi còn nhỏ trong một tai nạn máy cắt cỏ. Jerry
không hề nói cho Lisa biết chuyện này, vì có nhiều lý do chính đáng…
Ngay từ nhỏ, không những Jeffrey sống một cuộc đời du thủ du thực, bỏ
học, trộm cướp, ra tù vào khám nhiều lần, mà tính khí giữa hai anh em
sinh đôi hoàn toàn khác nhau khiến anh em thường hay bất hòa, choảng
nhau, và ngay cả cha mẹ cũng có một nếp sống không mấy sạch, luôn bênh
vực Jeffrey và cũng thường xuyên đụng chạm với luật pháp khiến không khí
gia đình thường nặng nề và nghẹt thở. Cũng vì những lý do đó Jerry
quyết định bỏ nhà lúc 16 tuổi, ra đi tìm cuộc đời mới cho mình, với chỉ
một balô trên vai. Trong những năm sau khi Jerry hoàn toàn cắt liên lạc
với gia đình, tình trạng tội phạm của Jeffrey càng lúc càng trở nên
nghiêm trọng. Jeffrey tự nhìn lại mình một cách sâu đậm và quyết định
muốn làm lại cuộc đời, bèn nghĩ đến chỉ có Jerry có thể giúp được mình.
Jerry đồng ý giúp đỡ Jeffrey. Jerry tạm sử dụng tiền chung của gia đình
mình một phần để giúp Jeffrey được tại ngoại hầu tra, phần còn lại giúp
cho Jeffrey đứng vững trên đôi chân trong thời gian chuyển tiếp. Chuyện
bậy là ở chỗ Jerry không dám tiết lộ chi tiết cho vợ mình biết vì e ngại
nàng sẽ liên lạc với gia đình Jerry, một điều Jerry không muốn, ít nhất
là trong thời gian đó.
Sau
khi Jeffrey được tại ngoại hầu tra, Jerry bay qua thăm người anh song
sinh của mình khá nhiều lần, để xem Jeffrey sống như thế nào, đồng thời
ủng hộ tinh thần cho Jeffrey. Có thể nói là những giúp đỡ thiết thực từ
Jerry đã có kết quả tốt đẹp trên cả mong ước. Jeffrey tìm được công việc
làm ở sở vệ sinh thành phố. Không những vậy, Jeffrey còn tìm thấy được
tình yêu và hạnh phúc với một phụ nữ ly dị có 2 con. Và đó là tấm hình
gia đình mà Lisa tìm thấy. Cú điện thoại bí mật nào đó đúng là từ
Jeffrey, trong một lần uống rượu hơi quá đà vì vui mừng sau khi Jerry
cho biết vào ngày mai Jerry sẽ ghé qua nhà Jeffrey chụp hình kỷ niệm cho
gia đình Jeffrey. Jeffrey biết mình lỡ quên lời dặn của Jerry là không
được gọi đến nhà Jerry, nên khi Lisa kêu lại mấy lần, Jeffrey tránh bắt
máy.
Quá
bối rối vì quá nhiều tin tức từ Jerry, Lisa khó thâu nhận hết để hoàn
toàn tin tưởng lại chồng mình. Một điều duy nhất giúp nàng bỏ hết tất cả
mọi nghi ngờ là phải làm một cuộc gặp gỡ giữa nàng và Jeffrey. Chỉ có
vậy thôi! Đó cũng là ngày Lisa cảm thấy thật hạnh phúc, hạnh phúc còn
hơn cả ngày đám cưới của mình, khi cặp song sinh Jeffrey và Jerry tề tựu
ăn mừng sum họp, nói lên những lời xin lỗi, những lời cám ơn nàng và
cầu mong sự cảm thông của nàng. Tuy vẫn còn thoáng chút giận hờn, nhưng
Lisa cảm thấy vô cùng an toàn. Lisa không quên cám ơn Thượng Đế. Hồi
tưởng lại, nàng cho rằng Jerry có thể đúng khi không nói ra bí mật gia
đình chàng, chuyện tù tội của Jeffrey và tiền giúp tại ngoại hầu tra, vì
có thể nếu nàng nhúng tay tìm hiểu tình cảnh, sự việc có thể không tốt
đẹp như hiện tại.
Vì
vậy Lisa bắt chồng mình thề nguyền từ nay trở về sau sẽ không dấu diếm
vợ mình bất cứ chuyện gì, dù lớn hay nhỏ, rằng 2 gia đình Jeffrey và
Jerry nên thường xuyên gặp nhau. Cuối cùng cả hai cũng đồng ý tấm hình
xém làm tan vỡ gia đình phải được trân trọng treo trong phòng khách của
gia đình Jeffrey.
Ước
gì bao bão tố đe dọa gia đình, bao sóng ngầm tàn phá hạnh phúc, nghi kỵ
giữa đôi lứa, đều được giải quyết trong cảm thông và lắng nghe, tìm
hiểu để tránh đi đến ngộ nhận đau thương.
Vĩnh Chánh phóng tác
July 9, 2021
**
tên những nhân vật và những hình xử dụng trong bài viết này hoàn toàn
được lấy từ trong internet và không phản ảnh đúng người thật.