Thứ Tư, 6 tháng 6, 2018

Ngồi Bên Biển Nhớ


Mênh mang chiều xuống mênh mang
Hải âu vỗ cánh nhẹ nhàng trời cao
Vỗ lời hẹn ước trăng sao
Cho ngàn con sóng dạt dào vỗ thương

Đôi bờ xa cách trùng dương
Em ngồi xõa mái tóc buồn về đâu
Vầng trăng thao thức đêm thâu
Ánh trăng vàng vọt bên lầu nhớ ai

Tóc bay ngàn cánh hương bay
Có bay trở ngược vào ngày bên nhau
Cơn mưa làn nắng nhiệm màu
Vẽ mùa xuân đến trên đầu tình yêu

Nắng tha thiết giọt mưa reo
Con đường ngơ ngẩn bao chiều nhớ nhung
Chiếc dù ngày ấy che chung
Giờ che sương lạnh mịt mùng tình xa
Biển chiều sóng gọi thiết tha
Bãi bờ hò hẹn chưa nhòa dấu chân
Hàng cây nghiêng bóng tình nhân
Gió bay ngang cũng dự phần yêu thương
Ngồi nghe tiếng sóng dỗi hờn
Nghe trong lòng đổ từng cơn mưa sầu
Tình xa vết cắt còn đau
Tay thời gian mãi vá khâu chưa lành
Mong manh chiều xuống mong manh
Lỡ em buồn biết dỗ dành ra sao?

Trầm Vân

Ngày Hoa Tuyết Rụng


Anh đang ngồi ngắm tuyết hoa rơi
Đường vắng xe qua lại vắng người
Chút lạnh lùng về trời thiếu gió
Nên thèm nắng lửa nẻo xa xôi

Mùa này hoa tuyết rụng hơi nhiều
Buồn nhớ gì đâu lòng hắt hiu
Mùa trước tuyết về hờ hững lắm
Sớm tàn nên nhớ chẳng bao nhiêu

Đã cuối mùa rồi rụng mãi chi
Đẹp thì có đẹp đến đam mê
Hỡi em bên ấy không mùa tuyết
Anh gửi về em nhận tuyết đi

Tuyết trắng nằm trên lá trắng hoa
Như anh đầu bạc đội phong ba
Từng phen lưu lạc từng phen nhớ
Mấy cuộc phong trần mấy xót xa

Hôm nay bên ấy thế nào em?
Có nhớ gì không hỏi trái tim
Vẫn cứ ngập ngừng không muốn nói
Trái tim thánh thiện ước mơ tìm

Anh ở bên này mơ ước thôi
Mấy mùa hoa tuyết đã mòn hơi
Tay còn thơ viết bao giờ mỏi
Trang giấy thơm xưa vẫn tuyệt vời

Tuyết đừng rơi nữa tuyết hoa ơi
Cho nắng hồng lên ấm cuộc đời
Để gót chân chiều bền vững bước
Cho tình trong mộng một niềm vui

Hãy gửi cho anh chút nắng tàn
Từ nơi thừa ấm gió đưa sang
Cho lòng anh bớt xôn xao mộng
Tuyết vẫn còn rơi lạnh ngập tràn.

Hoa Văn
3/21/2018 (Richmond ngày tuyết rơi)

Tuổi Thơ Và Cuộc Đời - Kỳ 7

Qua ba tháng hè tôi trở lại trường vào năm đệ lục (niên học 69-70) vẫn học chung với Liên, Diệu và thêm vài đứa bạn mới, vẫn thích ngồi ở xóm nhà lá cho dầu tôi có đến lớp sớm vẫn đi xuống dãy bàn chót hoặc kế chót, nhưng tôi thích ngồi ngoài bìa hơn vì ra vô không phải tránh mấy đứa kia, có gì dễ dong 

Liên, Diệu, Toàn (69-70)

Lúc đầu Việt Văn học với cô LtkTrinh, cô người Huế tóc dài xoã ngang lưng áo dài tím Huế phất phơ mang mắt kính không biết vì cận hay làm duyên cho có vẽ đạo mạo, giọng thì đặc sệt Huế nhẹ nhàng dễ thương (nhưng thật tình mà nói lúc đầu tôi nghe tiếng được tiếng mất)
Nhớ có một lần cô đọc bài cho học sinh viết, mỗi câu cô đọc đi đọc lại hai ba lần tựa bài là: CON THỎ. . .
nhưng xóm nhà lá tui lại nghe khác, đứa này nhìn đứa kia rồi hỏi lại cô vẫn đọc thế giọng Huế nặng chình chịch của cô:
CON THỎ . . .
Xóm nhà lá vừa nghe vừa đoán, thế là CON THỎ chậm chậm xuống hang.
Trời ơi một đoạn văn ngắn mà tôi viết sai gần hai chục lỗi, rất may là sau đó cô kêu một đứa lên bảng viết lại rồi các em coi theo mà sửa cho đúng chính tả 
“MÔ PHẬT” thiện tai thiện tai, tuổi còn nhỏ mà tai nghe đã có vấn đề !!!
Tôi chán nhất là môn anh văn và môn hoá học, anh văn thì ba xí ba tú nào là cong lưỡi lên ngậm môi lại, nào ách sì (S) or (X), động từ ”quá khứ” hiện tại “tương lai”, số nhiều thêm “S”
Ôi thôi đủ thứ những cái đầu bé nhỏ của tụi tui làm sao nhớ cho hết
Rồi còn hoá học đồng thau xoang chảo, ký hiệu với không ký hiệu giống như nước = H2O...
Nên giờ thầy Nguyệt(chồng cô Văn) tôi thường hay nghĩ (cúp cua)có hôm tôi vừa đến cổng trường chuông reo trống vô đóng cổng chính nhưng còn cổng phụ tôi vừa thấy đóng cổng chính là liền quay đầu ra gặp thầy vừa chạy Honda vô cổng phụ, đáng lẽ mình theo vô còn tôi sang số chân dọt ra hàng nước, trốn ngày nào hay ngày nấy môn gì chán phèo, pha màu này với màu kia để làm chi? có khi vừa đổ vào ống thí nghiệm còn tỏa ra một làn khói trắng...

Còn môn Việt văn thì giảng gì những bài thơ đường luật từ ngàn năm trăm hồi đó, Khổng Tử, Mạnh Tử, tôi đâu biết mấy ổng là ai? 
Gì mà : bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng
Thơ: lục bát ( 6,8).chữ cuối câu 6 vần với chữ thứ 6 của câu 8
Thơ: thất ngôn (7,7 )
Thơ: tứ tuyệt ( mỗi câu bốn chữ )
Nào bình luận bài: Tôn Phu Nhân Qui Thục 
Bả có chồng thì theo chồng mắc mớ gì bắt lại (không phải nữ sanh ngoại tộc hay sao?) chuyện bên tàu liên quan gì đến văn học Việt Nam
Nguyễn Du hay Nguyễn Đình Chiểu còn gần gần chút chút 

Đầu lòng hai ả tố nga 
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân (Kiều)

Hay:
Trước đèn xem truyện Tây minh (Lục vân Tiên)
Ngẫm cười hai chữ nhân tình éo le

Riêng tôi, tôi thích thơ bà Huyện Thanh Quan

Bước tới đèo ngang bóng xế tà 
Cỏ cây chen đá lá chen hoa 
Lom khom dưới núi tiều vài chú 
Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Đúng rồi thấy sao tả vậy, không trừu tượng chút nào, buồn vui thả hồn vào thơ
cho đời thêm thi vị, làm thơ là để bài tỏ nỗi niềm chớ viết câu văn trau chuốt lời thơ bóng bẩy để người đọc phải đoán già đoán non kiểu xóm nhà lá tụi tui chữ nghĩa không đầy lá mít thì sao hiểu được cao xa. 

Rồi giữa niên học năm 70 có ông thầy mới về trường dạy môn Việt Văn lớp tôi 
(Cao bồi thì không phải cao bồi,đạo mạo thì hỏng ra đạo mạo, ốm nhom ốm nhách, áo thì luôn mặc màu nổi, đi từ xa đã thấy, mang mắt kiếng đen giống điệp viên 00thấy). Các bạn tôi ơi ... có biết ai chưa?
Xin thưa thầy Võ Trung Hiền đấy ạ...
Tôi nhớ có một hôm kêu chính tả, thầy đọc một đoạn văn cho các học sinh viết theo, rồi nộp bài lên cho thầy chấm điểm.... thầy hỏi cả lớp ai có thước cho thầy mượn, tôi hí ha hí hững vơi tay:
- Thưa thầy em có thước dài (có 2 loại thước hai tấc và ba tấc)
Thằng nhà tôi hãnh diện vì được thầy mượn thước, ai ngờ khi thầy chấm điểm đến bài tôi, mới nửa bài đã hơn mười mấy lỗi, thầy kêu lên hỏi: 
- Toàn, sao em không sửa lỗi cho hết bài mà sửa có một đoạn ?
- Tôi muốn em sửa hết bài để biết chữ nào sai
- Nhưng mà cả chục lỗi rồi, một cái hột vịt đủ rồi thầy
Không được xoè tay ra thầy khẻ (đánh), lúc thầy vừa hạ cây thước xuống tôi dựt tay lại thế là thầy đánh hụt, đánh hụt một hai lần nên lần sau tôi vừa xoè tay thầy khỏ xuống liền tôi dảnh mấy ngón ra nên trúng vào cục xương ở giữa  đánh một hai cây thước ăn nhầm gì tôi, thế mà tôi lại khóc, không phải vì đau mà vì tức, mượn thước mình mà đánh lại mình, tôi vừa đi xuống vài ba bước quay đầu trở lên lấy luôn cây thước về (đúng là con nít)
Bị ăn khẻ vậy mà tôi không ghét thầy, vì tôi biết thầy muốn cho đám học trò nhỏ của thầy hiểu bài hiểu lỗi, viết cho đúng văn phạm.

Rồi thời gian cũng dần trôi chúng tôi cũng lớn như một đàn nhộng con, từ từ chui ra khỏi cái kén để biến thành những thanh niên thiếu nữ tuổi đời mười lăm mười sáu, bẵng đi một hai năm không gặp thầy, khi thầy trở lại trường thì chúng tôi đã lớn không còn là cô cậu học trò nhỏ nữa mà cao lớn dẫu mặt còn búng ra sữa, thầy còn dạy lớp tôi thêm một năm (chắc đệ tứ) 
.....À quên nói năm 71, 72 chế ba tôi thi rớt đệ nhị cấp nên buồn tình đi học may, nên sau này tôi là người mẫu bất đắc dĩ của chế (vì vải dư của khách màu này một chút, bông kia một chút chế nối lại tạo mẫu thành áo mới cho tôi) 

Hình Toàn: Để tóc dài cột đuôi gà

Rồi tôi lớn để tóc dài cột đuôi gà bằng vải tiệp màu áo, khi thì một đuôi khi thì hai đuôi, thấy cũng dễ thương, người ta thấy đẹp nên đặt may nhiều, nhờ thế nên tôi có nhiều áo đẹp.
Còn chế hai thì đi học làm cô giáo tiểu học, lúc mới ra trường thì đi dạy dưới Xẻo Rô, tôi được thừa hưởng chiếc xe đạp của chế hai nên không còn phải đi bộ nữa, giờ tôi Liên, Diệu là những thiếu nữ mười sáu rồi.
Không có chế hai ở nhà, giờ tôi cũng đã lớn nên phải phụ việc nhà với chế ba, giặt đồ nấu cơm quét nhà đi chợ (má tôi mua sẵn tôi chỉ đạp xe ra nơi ba má bán đem về cho chế ba nấu, tôi chỉ phụ lặt rau rửa chén, không biết nấu ăn)
Lúc sau này đã xây nhà gạch, có điện có nước phông tên, nên đỡ vất vã.

Nhà tôi thường cúng gà mùng hai mười sáu mỗi tháng, nhớ có lần chế ba không có ở nhà, dặn tôi làm gà luộc sẵn lên, chiều đầu bếp cha về nấu, tôi bắt con gà nhổ lông cổ, lấy chén để dưới hứng máu, nhưng than ôi...
Khi tôi nhổ lông thì nó run bay bảy, tôi đưa dao vào đôi mắt nó nhìn tôi ứa lệ như van xin, như năn nỉ... Lòng tôi không nở !!! Thôi cũng đành nghe chửi 
Chiều ba má về con gà còn sống nhăn, hỏi tôi tại sao không làm gà:
- Tui thấy con gà nó khóc, nó năn nỉ
- Con gà nó biết nói chuyện à?
- Không phải tui nhìn thấy nó khóc !
Sao mày tưởng tượng quá vậy, lát nữa mày đừng có ăn nha...
ÔI !!! Tâm hồn tôi sao yếu đuối, và tưởng tượng quá đáng ...

Gia đình Liên ở rạch sỏi, nên học Nguyễn Trung Trực, vô rạch giá Liên ở nhà người bác gần trường  Nguyễn Trung Trực, mỗi tuần hoặc hai tuần về rạch sỏi một lần, tôi thường đạp xe đưa Liên về (rạch giá-rạch sỏi) 8 cây số đạp mệt xỉu chỉ mình ên tôi Liên không biết chạy, nên những lần sau hai đứa ghé nhà thầy Hiền ở trọ gần cổng Tam Quan để mượn xe Honda của thầy, mà thầy cũng dễ tánh, chịu cho học trò mượn xe
- Thầy đã đổ xăng chưa?
- Rồi, ai chạy? Liên nói:
- Toàn chạy, em đạp máy 
- Tại sao? 
- Vì Toàn nó biết chạy, mà nó hỏng biết đạp máy
Thật ra tôi đạp máy và lên tay ga không ăn khớp, nên máy không nổ
Rồi còn tử tế nói thầy có đi đâu lấy xe đạp em mà chạy. Trời ..đem xe đạp đổi xe Honda thế mà thầy cũng cho mượn .....
Ôi cái tình thầy trò... sao mà quí quá 
Những lần cuối tuần cả đám chúng tôi đi vườn xoài vườn ổi, về ngang cũng ghé biếu thầy. Tuy không cao lương mỹ vị gì, những đó là những tấm lòng tôn sư trọng đạo, dẫu đứa nào cũng phá như quỉ ...

Chúng tôi tôi như một bầy chim non chập chững bước vào đời bằng những bước chân ngập ngừng bỡ ngỡ, rồi mùa hè đỏ lửa (72) chiến tranh lan tràn Campuchia lộn xộn, bà ngoại dì và các cậu chạy sang vn lánh nạn (có một người cậu làm sở mỹ ở Campuchia nên được di cư cả gia đình sang Mỹ)
Vài tháng sau tạm yên dì tôi quay trở về Campuchia để xem nhà cửa ruộng nương bên đó, rồi Pol pot nổi lên, không còn nghe tin tức của dì 
Rất may là bà ngoại và hai người cậu không về ở lại vn
Có bà ngoại tôi lại mang thêm một chứng bịnh khác, số là ngoại buồn, nhà bà năm bánh tầm mà tôi kể lúc nhỏ, ông năm nhà cho mướn tiểu thuyết nên tôi mướn truyện tam quốc chí, Tây du ký, bình tây đại nguyên soái... về đọc ngoại nghe, đọc lâu rồi đầm ghiền riết rồi sách nhà ông 5 tôi đọc không còn một cuốn.

(Chào các bạn hẹn kỳ 8 sẽ kể về căn bịnh thời đại này)

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2018

Chiều về trên sông Ô Môn - Sáng Tác Triều Dâng - Ca Sĩ Ngọc Ánh

Sông Ô Môn là một nhánh rẽ của sông Hậu (hệ thống sông Cửu Long) thuộc Tỉnh Cần thơ Hậu Giang,buổi chiều trên sông Ô Môn cũng giống như buồi chiều các dòng sông miền Tây Nam bộ,nắng vàng, cánh cò tiếng hò thôn nữ vọng xa xa . . .vẻ nên một bức tranh đẹp của vùng nông thôn miền Nam Việt nam


Sáng Tác: Nhạc Sĩ Triều Dâng
Ca Sĩ: Ngọc Ánh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


Tát Đìa


Xướng: Tát Đìa

Trở lại làm nông cá quậy đìa
Mùa khô nắng hạn thấy lia thia
Đem gàu tát nước vơi ra cạn
Lấy rỗ lùa tay lộ rõ chìa
Chính giữa vũng lầy phơi cá lóc
Quanh bờ cỏ rậm lộ đầu trê
Buổi xưa bà xã là cô giáo
Vang bóng một thời, tội nghiệp ghê !

Mai Xuân Thanh

Ngày 14 tháng 04 năm 2018
***
Họa Y Đề:

Khai thông mớ cỏ dưới trôn đìa
Bắt cả vào bình mấy cậu thia
Thẩy giật gàu dai dần cạn nước
Lôi lên nhánh gáo lộ trơ chìa
Nhanh tay tóm gọn anh kền lóc
Bén ngạch rủa liền chú trắng trê
Những gái theo sau hôi cá sót
Sình văng tận mặt thấy mà ghê!

Cao Linh Tử

15/4/2018

Đêm Buồn



Xướng:
Đêm Buồn

Mưa đêm buồn viễn xứ,
Cho ai mãi u hoài.
Thương cho đời lữ thứ,
Lạc loài cánh vạc bay!

Mưa đêm sầu trên mái,
Êm êm gió thở dài.
Ngoài hiên dế ngân mãi,
Hoa lá buồn sương rây.

Sương đêm mờ mịt lối,
Trăng khuya gãy đôi bờ.
Ngổn ngang sầu trăm mối,
Bên gối hồn bơ vơ.

Đât khách bao mùa trăng,
Năm tháng cứ qua dần.
Sắt se đầu bạc trắng,
Tri kỷ ánh sao băng!

Nhớ quê nhà đêm nay,
Cánh hạc đã mệt nhoài.
Kêu thương vạn nhung nhớ,
Trong gió lùa mây bay.

Mailoc
Những đêm mưa Cali 
3-27-18
***
Họa 
Sầu Viễn Xứ

Thương ai đời viễn xứ
Quê hương mãi xa hoài
Trằn trọc đêm không ngủ
Nghe gió thoảng mưa bay.

Mưa lăn theo dốc mái
Rả rích trong đêm dài
Giọt đều đều rơi mãi
Kết sợi buồn rắc rây.

Đường về quê mờ lối
Đại dương cách đôi bờ
Lòng ngổn ngang trăm mối
Trong nỗi buồn vu vơ.

Quặn thắt mỗi đêm trăng
Nỗi nhớ cứ tăng dần
Người xưa thời áo trắng
Tâm còn vẹn tuyết băng ?

Đằng đẵng bao năm nay
Hy vọng đã mỏi nhoài
Ngày về xa mờ mịt
Chim mỏi cánh đường bay

Phương Hà
( 28/03/2018 )

Qua Saigon Nhớ Ông Tây


Ôi ! Bây giờ người ta tranh luận: Thực Dân Pháp tốt hay xấu?
Đã gọi là Thực Dân thì đương nhiên xấu rồi!!!
Tôi không muốn nói là người ta làm chuyện thừa! … chuyện vô bổ! Nhưng người ta không đi tìm cái tổ con chuồn chuồn! Mặc dù con chuồn chuồn nó báo mưa khá chính xác:

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm

Tôi không muốn ngạo rằng:

Chuồn chuồn bay thấp thì cao
Bay cao thì thấp bay vừa thì bay

Nhưng quả thực con chuồn chuồn vô tích sự!
Cái thằng Thực Dân thì muôn đời nó đi chiếm đất để…khai thác… thủ lợi… chứ đâu có vì người, đâu có tình nghĩa gì! Nhưng vô tình thì ta có hưởng lợi chút xíu chứ!!!

Thằng Tây làm đường sắt Bắc Nam, làm cầu Doumer, khai thác than Hòn Gai, đào kinh ở miền Hậu Giang, ta hưởng lợi nhiều lắm chứ!?
Nó vì nó thôi! Thằng Yersin lập đồn điền trồng kí ninh để tính kinh doanh bán thuốc cho Việt Nam và Đông Nam Á, các nước nhiệt đới mưa trên thế giới! Mãi dăm chục năm sau ta mới xài cái thuốc kí ninh.

Nó lập đồn điền cao su cũng thế thôi! Người ta đâu thèm biết đến cái chất mủ kỳ quái đó .
Mắc cười nhất là con đường Thiên Lý! Trước khi Pháp tới thì làm gì có con đường Bắc Nam!!! Cái Thiên Lý Cù của các cụ nó chỉ rộng 2 m thôi (5 thước t ) qua miền Trung còn rừng rậm và hoang vu… thì sau một mùa mưa, con đường đó sẽ biến mất trên thế gian!!! Quan lớn có đi thì phải sai lính phát cây, dọn đường(?). Người dân thì không đi xa đâu, Quan lớn thì đi võng là chính (tôi nhấn mạnh: Võng), và rất ít ngựa (tôi nhấn mạnh: ít ngựa)

(Đường Thiên Lý)

Cái vĩ đại nhất của người Pháp là đào kinh lớn ở Tây Nam Bộ! Cái này nhiều người khoái lắm.

Cái Răng, Vàm Láng, Kinh Xáng, Phong Điền
Anh thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng làm thố lộ láng giềng cười em

Rất nhiều người “mang ơn Pháp “ và ca tụng Pháp dài… dài… cho tới mãi thời ông Diệm! Các vị này nói: các thời sau không bằng thời "Pháp Thuộc"
Trên đây là tôi nói về Kinh Tế! Người Pháp kinh doanh lợi mười thì người Việt lượm hạt rơi hạt rụng cũng được một(!)

Ngân Sách Đông Dương đã gửi về giúp Mẫu Quốc một số tiền rất lớn để đánh Đức trong thế chiến I

Nhưng nói về Văn Học Nghệ Thuật thì tôi không ngượng miệng, không mắc cỡ, không cho là hèn khi nói rằng ta phải học người Pháp ta còn nên học rất nhiều, học dài dài cho tới nay (2018 ) ta còn nên học !!!???

(Cầu Long Biên - Hà Nội)

- Những tác phẩm kiến trúc: Cầu Long Biên, Dinh Toàn Quyền, Dinh Thống Sứ, Nhà Hát Tây … ta không học sao?
- Những khu nghỉ mát Sapa , Bạch Mã , Pù Nà ta nên học chứ ?
- Những Công Viên, Lâm Viên, vườn Bách Thảo, Sở Thú… ta lại càng nên học!

Tôi không cần biết những công trình này lấy tiền công quỹ, hay cá nhân một vài ông Pháp làm… chơi! Nhưng quả là có những bậc thầy về nghệ thuật làm để hoằng dương văn hóa nghệ thuật chứ không vì kinh doanh lợi nhuận!

Pháp vừa chân ướt chân ráo tới … đã lập Sở Thú, vườn Bờ Rô!

(Vườn Bờ Rô(Vườn Tao Đàn)

Có một cái cây cho bông rất đẹp, ta gọi là bông giấy (ngày nay trồng khắp Trung Nam, hình như ra tận ngoài Bắc). Lúc đầu nó có tên là cây “ Biện Lý “ do một ông Biện Lý tên là Bougainville mang từ Bresil về trồng! Hãi chưa!

- Xin đừng cho rằng những gì thưc dân Pháp làm đều xấu!
- Xin đừng phá hoại rừng thông Đà Lạt
- Xin đừng phá hoại biệt thự Pháp để trồng cây lương thực: Khoai lang, khoai mì, bắp, bo bo …
- Xin đừng phá, đập những tượng đài do Pháp lập(kể cả những tên tướng tá hiếu chiến , giết người … nếu đó là một pho tượng Đẹp!)

Thị phi tận thuộc thiên niên sự
Tiếu mạ hà phương nhất giả thân

(Thảo Cầm Viên - Sàigòn)

Chân Diện Mục
3-6-2018

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

Thơ Tranh: Điểm Tâm


Thơ: Đỗ Chiêu Đức
Thơ Tranh: Kim Oanh



Một Chiều



Rừng chiều đọng bóng tà dương
Mây chiều nghiêng xuống tìm hương cuộc đời
Trời chiều một thoáng Ta-Người (*)
Tự tình hoa cỏ, nụ cười bình an

Cánh chim bạt gió lên ngàn
Trăm năm còn một cung đàn thanh âm.
Người về từ miền xa xăm
Người đi từ bước thăng trầm cuộc chơi.

Đã đành vậy, vẫn đành thôi !
Tim chưa ráo lệ giấc đời còn say
Úp bàn tay, mở bàn tay
Mây giăng bóng núi mới hay sương chiều.

Ta về chạm hương tịch liêu
Bên thềm hoa cỏ diễm kiều sắc hương
Người cùng gieo hạt yêu thương
Cho trăm cánh mộng về phương trời hồng.

Đời mênh mông, Xuân mênh mông
Tiếng chuông cổ độ rót dòng thời gian
Nghiêng vai áo luỵ sương ngàn
Trút hồn dâu bể, hoa vàng đong đưa.

Mái chùa trầm mặc sớm trưa
Tiếng chim thức giữa bốn mùa nước mây
Tịnh Tâm, rằng: ở nơi nầy
Cho phương hồng cỏ về đây một chiều.

Jacksonville, FL, tháng 4.2018.
Mặc Phương Tử
(*) Tặng : Toàn, Dũng, và quí PT chùa Tịnh Tâm.

Kiếp Nạn Cuối Cùng



Bài Xướng:
Kiếp Nạn Cuối Cùng

Tám mươi kiếp nạn tưởng qua rồi
Vui vẻ khải hoàn nhưng ... hỡi ôi
Kinh giả ướt mèm ... không rõ nữa
Tâm chân khô khén ... cũng mờ thôi
Hân hoan chấp nhận mặc mưa dội
Oán hận thời buông kệ sóng dồi
Khảo nghiệm cuối cùng giờ đã ổn
Công thành viên mãn thắm dòng trôi.

Phan Tự Trí

(thầy trò Đường Tăng qua 80 kiếp nạn trên đường sang Tây Thiên bái Phật cầu kinh, tưởng đã yên rồi, không ngờ trên đường trở về ... vẫn còn thêm nạn 81...)
***
Các Bài Họa:

Chuyện Thỉnh Kinh

Cứ ngỡ thỉnh kinh chuyện đã rồi
Quay về nạn tiếp khổ . . than ôi !
Trải bao thử thách đành là vậy
Vượt mấy gian truân cũng thế thôi
Chính thiện mặc dầu ma quỷ ghẹo
Chân tâm cứ kệ hỏa sơn dồi
Mong thành chính quả tuy không dễ
Quyết chí mỉm cười mặc nước trôi

Phạm Kim Lợi
 ***
Du Hành Muôn Dặm

Muôn dặm đường xa cũng thoát rồi !
Du hành khổ nạn ngẫm buồn ôi !
Yêu ma, quỷ quái, thường lôi kéo
Danh lợi, ân tình, cũng dứt thôi
Mảnh đất Tây Thiên người mạo hiểm
Kinh thư Phật Giáo hạnh trau dồi
Quá trình tu luyện dường sinh tử
Mười bốn năm dài ngỡ khó trôi...

Như Thu
 ***
Niềm Vui Đón Đường Tăng


Vượt khó tây thiên đã tới rồi.
Dạ mừng công quả vẹn toàn thôi.
Nào ngờ cửa phật còn tham nhũng.
Ham muốn bát vàng chuyện ỉ ôi.
Gánh nặng chân kinh lòng nhẹ thỏa
Gặp thêm kiếp nạn nước dòng trôi.
Tám mươi mốt nạn đà xuôn sẻ.
Vua đón Dân reo tưởng sóng dồi.

Trần Lệ Khánh 
24-3-2018
***
Thanh Thản

"Bát Âm"

Tứ đại là thân giả tạm rồi
Còn choàng ngũ uẩn mới than ôi!
Nếu cầm tam độc không thay đổi
Thì chạm lục trần khỏi cuốn trôi
Lặng lẽ nuôi tâm dù bão thổi
Trầm tư dưỡng tánh mặc mưa dồi
Bình thường* vô trụ là giềng mối
Nên kiếp nạn còn vẫn ổn thôi

Như Thị
*Tâm bình thường là Đạo
Thiền Sư Nam Tuyền (748-835)

Ung Dung Tự Tại

Trên thất thập niên cũng thọ rồi
Buồn chi mà lại thốt than ôi ?
Da mồi tóc bạc đâu gì lạ
Khớp lỏng lưng còng phải thế thôi !
Hạnh phúc, thành công bao lúc hưởng
Khổ dau, thất bại lắm phen dồi
An tâm thoải mái mà vui sống
Thả mọi u sầu theo nước trôi.

Sông Thu
***
Nhớ Chuyện Đường Tăng
 
Công đức Đường Tăng đã biết rồi
Nhiều năm gian khổ chẳng buông trôi
Đường xa Ấn Độ...tâm luôn vững
Gió lạnh Tây Thiên ...đạo vẫn dồi
Dịch sách... cho người nâng trí mãi
Xây chùa...tạo phước giúp đời thôi
Ngày nay bao kẻ nương nhà Phật
Không học theo ngài...thật chán ôi !

Thy Lệ Trang
***
Ngậm Chuyện Tây Du

Cái chuyện Tây Du cũ kỹ rồi
Xem chừng giá trị chẳng hề ôi.
Thầy trò Tam Tạng gian nan quá
Kinh sách Đại Thừa quý hóa thôi.
Chính quả đã thành nhờ gắng cố
Tài năng muốn đạt phải trau dồi
Lịch trình dang dở thì muôn hận
Công sức ngàn vàng thả nước trôi 

Trần Như Tùng 
***
Sông Có Khúc…

Sóng lướt thuyền êm ngỡ đến rồi
Vô thường tiệm tiến,bỗng…than ôi
Đường xa khổ ải dày công,đã…
Phút cuối vui bờ mỏng phận,thôi…
Mãi trách ông trời cơn biến dập
Thà nương cảnh huống gió đang dồi
Gieo nhân gặt quả theo dòng nghiệp
Sông vẫn không ngừng nước chảy trôi

Lý Đức Quỳnh
***
Thỏa Dạ Thành Công

Vượt cả tám mươi* ngỡ hết rồi
Không ngờ tiếp diễn…quỷ thần ôi !
Cuồng phong vận hạn đà bay tới
Sóng cả chân kinh đã ướt thôi
Vững dạ kiên cường dù biển động
Bền gan dũng cảm dẫu thuyền dồi
Thầy trò Tam Tạng qua gian khổ
Thỏa dạ thành công… dẫu nổi trôi…

Đức Hạnh 
27 03 2018
*80 kiếp nạn trên đường đi thỉnh kinh
10
An Phận

Cuộc sống ngày qua cũng đủ rồi
Cơm đều, dưa muối chẳng than ôi
Vui rời ...an dạ câu kinh vậy
Khổ đến ..bình thân thuyết Phật thôi
Tạo quả đền vay tăng nghiệp vật
Gieo nhân bồi đắp bớt căn dồi
Tĩnh tâm quán niệm sâu lời pháp
Bát Nhã buông chèo tuệ định thôi

Minh Thuý 
Tháng 3 _ 2018
***
Lòng Kiên Nhẫn
 
Chỉ số đưa làm thuyết hoạ thôi
Hằng mươi khó bảo đã qua rồi
Đường đi trải lắm mùi tân khổ
Cảnh mộng thêm nhiều quả tắc ôi
Há nghĩ tầng mây vầng sáng rọi
Mà trông cõi thế sóng êm dồi
Kinh bày giá trị lòng kiên nhẫn
Dưới bóng gian trần thiện ác trôi.

Mai Thắng 
180328

Đất Phương Nam I - Từ Vùng Đất Biên Đến Tỉnh Biên Hòa-Đồng Nai (Phần 2)


Từ Dinh Biên Trấn Đến Trấn Biên Hòa:

Dinh Biên Trấn là một trong hai vùng đất đầu tiên(15) mà cha anh chúng ta đã đặt chân đến khi tìm đường mở cõi về phương Nam. Biên Hòa là vùng địa đầu của Nam Kỳ Lục Tỉnh, trước thời Nam Kỳ Lục Tỉnh Biên Hòa có tên là Trấn Biên. Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Trấn Biên dựa lưng vào núi, mặt ngó ra sông. Theo ranh giới cũ thì phía đông bắc giáp trấn Bình Thuận, lấy sông Ma Ly làm ranh giới. Phía Nam giáp trấn Phiên An (Gia Định), từ suối Thủy Vọt bên phía Tây Ninh, qua sông Thủ Đức, đến Nhà Bè và chạy dài ra đến tận biển Đông. Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, thì ông chỉ khai sanh hai phủ Phước Long (Đồng Nai) và Tân Bình (Sài Gòn). Buổi đầu các chúa đặt là Dinh Trấn Biên, gồm 1 huyện, 4 tổng, lỵ sở đặt tại thôn Phước Lư, thuộc huyện Phước Long.

Năm Cảnh Thịnh thứ 8, tức năm Canh Thân 1800, nhà vua cho đổi phủ Gia Định ra làm Trấn Gia Định gồm 5 dinh: Phiên Trấn dinh, Trấn Biên dinh, Trấn Định dinh, Vĩnh Trấn dinh và Hà Tiên. Tuy nhiên, trên thực tế, sau khi vua Quang Trung băng hà, coi như vùng Gia Định thuộc toàn quyền của Nguyễn Ánh. Hơn nữa, vào năm đó, lực lượng của Nguyễn Ánh đã quá mạnh ở vùng Gia Định nên vua Cảnh Thịnh không đặt được quan lại cai trị trên những vùng đất nầy.

Đến năm Mậu Thìn 1808, vua Gia Long cho đổi Trấn Gia Định ra làm Thành Gia Định với 5 trấn: trấn Biên Hòa, trấn Phiên An, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Long và trấn Hà Tiên. Hồi nầy huyện Phước Long được nâng lên làm phủ Phước Long gồm 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An. Nghĩa là dinh Trấn Biên được đổi ra làm trấn Biên Hòa, nâng huyện lên làm phủ, nâng tổng lên làm huyện. Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, thì huyện Phước Chánh, trước đây là tổng Tân Chánh, được đổi làm huyện, trước đây người địa phương lấy từ bãi Tân Chánh trở lên phía Bắc làm tổng Tân Chánh, trực thuộc huyện Tân Bình, dinh
Phiên Trấn, đến khi Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập bản đồ thì cho nhập vào dinh Trấn Biên, và hầu như các thôn trong huyện đều lấy chữ “Tân” làm đầu mà đặt tên cho dễ phân biệt.

Huyện Phước Chánh, trước đây là tổng Tân Chánh, được đổi làm huyện, trước đây trực thuộc Dinh Phiên Trấn, đến khi Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào lập bản đồ thì cho nhập vào dinh Trấn Biên. Huyện Phước Chánh gồm 2 tổng Phước Vinh và Chánh Mỹ, với 85 xã, phía đông giáp bến đò Thị Nghĩa thuộc thôn Bình Dương (Dinh Phiên Trấn). Tổng Phước Vinh gồm 46 thôn phường(16). Phía đông giáp bến đò Thị Nghĩa, thôn Bình Dương, tổng Long Vĩnh, huyện Long Thành; phía tây kéo dài đến đầu nguồn Ba Can và Thủ Sở Táo Mộc; nam giáp sông Đồng Nai (Phước Giang); và bắc giáp với những khu rừng già thuộc đất Cao Miên. Tổng Chánh Mỹ gồm 39 thôn xã(17). Phía đông giáp sông Thị Lộ thuộc tổng Thành Tuy, huyện Long Thành; phía tây giáp nguồn đầu của con Đường Sứ (từ Cao Miên qua); phía nam giáp huyện Bình An, từ núi Châu Thới chạy dài đến sông Thị Kiên ở Ba Đốc; phía bắc giáp sông Đồng Nai.

Huyện Bình An, nằm về phía Nam huyện Phước Chánh, gồm 2 tổng Bình Chánh(18) và An Thủy(19), với 119 xã, phía đông giáp huyện Long Thành, từ sông Thị Lộ chạy đến Giồng Ông Tố, tây giáp sông Thủy Vọt, nam giáp sông Sài Gòn (thuộc trấn Phiên An), bắc giáp núi Châu Thới (thuộc huyện Phước Chánh).
Huyện Long Thành, gồm 2 tổng Long Vĩnh(20) và Thành Tuy(21), với 63 xã, phía đông giáp tổng An Phú (huyện Phước An), phía tây giáp núi Vải Lượng thuộc huyện Bình An, phía nam giáp sông Nhà Bè, bắc giáp xứ Ao Cá thuộc huyện Phước Chánh. Huyện Phước An, gồm 2 tổng An Phú(22)và Phước Hưng(23), với 43 xã, đông giáp biển Đông, tây giáp núi Thị Vải, nam giáp sông Bình Phước (trấn Phiên An) và dọc theo bờ bắc của sông Cần Giờ, bắc giáp đường cái quan tổng Phước Hưng.

Từ Trấn Biên Hòa Đến Tỉnh Biên Hòa:

Phải nói ngay từ thời các chúa Nguyễn, thành Biên Hòa trên quy mô lớn đã được xây dựng trong địa hạt thôn Phước Chính, về sau dời về thôn Phước Lư. Năm Gia Long 15, nhà vua đã cho dời lỵ sở của trấn Biên Hòa về thôn Tân Lân thuộc huyện Phước Chánh. Năm Minh Mạng thứ 15, nhà vua cho đắp thêm đất trên bờ thành, đến năm Minh Mạng thứ 18 thì nhà vua cho xây thành bằng đá ong. Trước đây vùng này mang tên Cù Lao Phố, là một phố cảng phồn thịnh nhất của Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, với những phố sá, mái ngói, tường vôi, đường sá lót gạch đỏ... Sau cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì cù lao Phố bị tàn phá. Sau năm Minh Mạng thứ 13, 1832, nhà vua bãi bỏ Gia Định Thành và chia Nam Kỳ ra làm 6 tỉnh, từ đó về sau mới có tên Nam Kỳ Lục Tỉnh(24). Nhà vua bổ nhiệm quan tuần phủ làm chủ tỉnh dưới quyền tổng đốc An-Biên. Năm Minh Mạng thứ 14, Biên Hòa rơi vào tay của Lê văn Khôi, đến năm Minh Mạng thứ 18, nhà Nguyễn tái chiếm Biên Hòa, cho đặt thêm phủ Phước Tuy và 2 huyện Nghĩa An và Long Khánh. Năm Minh Mạng thứ 19, nhà vua cho đặt thêm huyện Phước Bình. Năm Minh Mạng thứ 21, nhà vua đặt thêm 4 phủ Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận. Bắt đầu từ thời nầy, quan cai trị trong tỉnh là quan văn chứ không còn là quan võ như trước đây nữa. Năm 1836, vua Minh Mạng cho thực hiện công cuộc đo đạc đất đai trên toàn cõi Việt Nam để thành lập sổ địa bạ. Năm 1837, tỉnh Biên Hòa được đặt thêm phủ Phước Tuy với 2 huyện Ngãi An và Long Khánh. Đến năm 1838, đặt thêm huyện Phước Bình. Hồi nầy theo Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Biên Hòa(25) rất rộng, về phía bắc giáp với tỉnh Bình Thuận, về phía tây và tây nam giáp với tỉnh Gia Định, về phía đông giáp với Biển Đông. Đến thời Pháp thuộc, sau khi xâm chiếm toàn bộ Nam Kỳ, chúng chia vùng này ra làm 20 tỉnh để dễ bề kiểm soát. Pháp chia Biên Hòa ra làm ba (03) tỉnh gồm các tỉnh Biên Hòa(26), Bà Rịa (thuộc phủ Phước Tuy cũ), và Thủ Dầu Một(27).

Tiến Trình Di Dân Trên Vùng Đất Biên Hòa:

Vào thế kỷ thứ XVI, Biên Hòa-Đồng Nai hãy còn là một vùng đất hoang vu, chỉ có một số rất ít dân bản địa cùng sống du canh với những người Khmer phiêu lưu. Có lẽ đây là những bộ tộc đã từng cộng sinh với dân tộc Phù Nam trong vùng nầy ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch. Họ gồm những bộ tộc Mạ, Stiêng, Chơ Ro, Cơ Ho, Mnông, vân vân. Đến cuối thế kỷ thứ XVI, đầu thế kỷ thứ XVII, sau cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn và Miên vương Chei Chetta II, thì vùng đất nầy ngày càng trở nên sôi động hơn, nhất là sau lời kêu gọi khẩn hoang lập ấp của công nữ Ngọc Vạn, rất nhiều lưu dân người Việt từ các vùng Thuận Quảng đến đây khai khẩn đất hoang. Theo Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, có lẽ lưu dân Việt Nam đã đến đây trước khi công nữ Ngọc Vạn theo chồng về Oudong, nhưng trước năm 1698, con số là bao nhiêu thì chưa bao giờ được xứ Đàng Trong thống kê. Sau khi quan Chưởng Cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược theo lệnh của chúa Nguyễn, thì cư dân nghèo khổ miền Trung, nhất là vùng Thuận Quảng lại ồ ạt kéo vào đây lập nghiệp.

Một sự kiện vô cùng quan trọng đã chẳng những góp phần làm nhanh hơn tiến trình Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, mà còn giúp cho dân số vùng Biên Hòa tăng lên một cách đáng kể. Đó là vào khoảng năm 1679, những cựu thần nhà Minh không thần phục Thanh Triều, nên họ đã đem hết quan quân dưới trướng và toàn bộ gia quyến dong buồm xuôi Nam xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn đã cho phép đạo quân thủy lục ở Long Môn, dưới sự chỉ huy của Tướng Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến đi vào vùng Meso; trong khi quan quân của Tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình, trên 3.000 người, lên khai phá vùng Đồng Nai. Đoàn quân của tướng Trần Thượng Xuyên đã đồn trú lại tại vùng Bàn Lân, trên một cù lao lớn giữa sông Đồng Nai. Chỉ sau một thời gian rất ngắn, những người Minh Hương nầy đã biến vùng đất hoang vu Nông Nại thành ra Nông Nại Đại Phố. Họ đã khai hoang lập ấp, canh tác ruộng rẫy, lập phố chợ và giao thương với người Hoa, người Nhật, cũng như người Pháp và người Bồ Đào Nha, vân vân. Vào cuối thế kỷ thứ XVII, thì thương cảng Cù Lao Phố đã nghiễm nhiên trở thành một trung tâm giao dịch lớn nhất của xứ Đàng Trong. Và hồi nầy, tổng số dân trong vùng Biên Trấn kể cả vùng Cù Lao Phố đã lên đến hơn 30 ngàn. Chính nhờ Cù Lao Phố mà từ năm 1738 đến năm 1775, nền kinh tế xứ Đàng Trong đã phát triển nhanh chóng. Nhờ đó mà khi chúa Nguyễn lưu vong vào Gia Định, chúa đã được sự trợ giúp vô cùng đắc lực của những người Minh Hương vùng Cù Lao Phố. 

Tuy nhiên, từ năm 1775 đến năm 1779, hai bên Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã có những cuộc giao tranh ác liệt tại vùng Cù Lao Phố nên phố thị đổ nát, đường sá bị đào xới... có trên một vạn người Minh Hương còn sống sót tại đây đã bỏ Cù Lao Phố mà chạy về vùng Prei Nokor để tái lập cuộc sống mới, nên lúc nầy toàn trấn Biên Hòa chỉ còn khoảng trên 10.000 dân mà thôi. Về sau nầy, vùng vùng Prei Nokor trở nên phồn thịnh và phát triển thành thành phố Chợ Lớn ngày nay. Đến thời Minh Mạng, nhà vua đã cho mở trường học ngay tại Biên Hòa cũng như ở các phủ Phước Long và Phước Tuy. Chính nhờ vậy mà cư dân ở các vùng giáp ranh với Bình Thuận và phía Nam cao nguyên Trung Phần đổ xô về Biên Hòa nhiều hơn. Trong thời còn Nam Kỳ Lục Tỉnh dưới thời Minh Mạng, người kinh và người Miên còn sống lẫn lộn với nhau. Người kinh còn chủ trương ăn học, chứ đa phần người Miên chỉ quanh quẩn với ruộng rẫy mà thôi. Thường thì họ ở nhà sàn, đốt rừng làm rẫy, đến ngày thu hoạch thì họ tụ họp nhau nhậu nhẹt, ăn uống, nhảy múa theo điệu chiêng trống một cách vui vẻ tự nhiên. Về sau này vì sự dị biệt về phong tục tập quán nên người Miên rút dần về các vùng biên giới phía bắc Tây Ninh, hay di chuyển về các vùng ở đồng bằng sông Cửu Long như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Hồi còn Nam Kỳ Lục Tỉnh thì Biên Hòa có những chợ rất sầm uất như chợ Phước Chính, chợ Bình An, chợ Nghĩa An và chợ Long Thành.

Như vậy chỉ riêng với người Việt, tiến trình di dân trên vùng đất phương Nam nói chung và vùng Biên Hòa nói riêng, có cả thảy bốn đợt di dân đáng kể: đợt đầu kể từ thời các chúa Nguyễn, là cuộc di dân của những người nghèo ở vùng Ngũ Quảng cũng như những tội phạm được ân xá để đi lập nghiệp. Đợt thứ nhì là đợt di dân của những phu đồn điền dưới thời Pháp thuộc. Theo La Cochinchine được chính quyền thuộc địa biên soạn năm 1890, dân số Biên Hòa là 132.000, đa số là người Việt, kế đến là người Hoa và người Khmer. Đợt thứ ba là dân di cư từ ngoài Bắc vào vào khoảng năm 1954, được chánh quyền Đệ Nhất Cộng Hòa đưa lên làm dinh điền. Theo thống kê của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1965, toàn tỉnh Biên Hòa đã có khoảng trên 1.000.000 dân. Đợt mới đây nhất là cũng là đợt thứ tư, chánh quyền mới sau năm 1975 đã đưa dân từ các vùng thành thị đi kinh tế mới trên vùng Đồng Nai-Biên Hòa. Theo Tập Bản Đồ Hành Chánh Việt Nam, thống kê mới nhất của chánh quyền Cộng Sản vào năm 2009, vùng Đồng Nai-Biên Hòa có 2.192.000 dân. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên lưu ý là phạm vi lãnh thổ của vùng Biên Hòa từ thời Pháp thuộc, VNCH và ngày nay khác nhau rất xa.

Người Long Hồ 
Anaheim ngày 3 tháng 8 năm 2011 
Copyright © 2012 by Ngoc Tran. All rights reserved.

Nhấp vào Links:

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2018

Thơ Tranh: Tâm Điểm


Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh


Ký Ức Ngày Hè



Mỗi độ hè về lại nhớ nhau
Người ơi giờ đã lạc phương nào
Lối xưa áo lộng lòng lưu luyến
Phượng đỏ ve sầu tim xuyến xao
Trời cũ vấn vương nên sốt nắng
Tình buồn như vội gọi mưa mau
Ngày xanh còn đọng trang lưu bút
Mở cả lòng theo chữ vẹn màu..

Bằng Bùi Nguyên

Lâm Giang Tống Hạ Chiêm 臨江送夏瞻 - Bạch Cư Dị


臨江送夏瞻             Lâm Giang Tống Hạ Chiêm

悲君老別我沾巾, Bi quân lão biệt ngã triêm cân,
七十無家萬里身。 Thất thập vô gia vạn lý thân.
愁見舟行風又起, Sầu kiến chu hành phong hựu khởi,
白頭浪裏白頭人。 Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân. 

白居易                    Bạch Cư Dị

***
CHÚ THÍCH:

* Lâm Giang 臨江: là Đến bên bờ song.
* Hạ Chiêm 夏瞻: Một người bạn già của Bạch Cư Dị đã trên bảy mươi tuổi còn sống trôi nổi không nhà.
* Bi Quân 悲君: là Buồn thương cho bạn.
* Triêm Cân 沾巾 : là Thấm ướt khan.
* Bạch Đầu Lãng 白頭浪 : là Sóng bạc đầu.
* Bạch Đầu Nhân 白頭人 : là Người Đầu bạc.

NGHĨA BÀI THƠ:
Đến bờ sông tiễn Hạ Chiêm

Thương cho anh đã già nua còn phải chịu cảnh biệt ly mà lệ của ta đẫm ướt cả khăn. Bảy mươi tuổi rồi mà không có được một mái nhà, tấm thân phải phiêu bạc xa xôi ngàn dặm. Buồn trông theo cảnh thuyền của anh đi trong khi gió đang nổi lên, ta chỉ thấy trong những đợt sóng bạc đầu đang lẩn khuất hình bóng của người đầu bạc!

Bài thơ nầy còn có một dị bản như sau:

Câu 1:
悲君老別淚沾巾 Bi quân lão biệt LỆ triêm cân, 
là : Thương cho bạn già nua còn phải biệt ly nên LỆ thấm ướt cả khăn.
LỆ 淚 ở đây là Phiếm chỉ, không biết là LỆ của Bạn hay là LỆ của ta !?
Câu 4:
白頭浪裏白頭翁. Bạch đầu lãng lý bạch đầu ÔNG.
là : Trong sóng bạc đầu có Ông Già đầu bạc.
BẠCH ĐẦU ÔNG 白頭翁 : là Ông già đầu bạc, còn...
BẠCH ĐẦU NHÂN 白頭人 : là Người đầu bạc.

Dị bản nhưng nghĩa cũng như nhau, chỉ nêu lên để tham khảo mà thôi! 

Diễn Nôm:

Ra Bờ Sông tiễn bạn Hạ Chiêm
Thương người giả biệt lệ đầm khăn,
Bảy chục không nhà chỉ một thân.
Gió nổi thuyền đi trong sóng bạc,
Bạc đầu sóng vổ bạc đầu ông.

Lục Bát:

Giã từ bạn, lệ ướt khăn,
Bảy mươi muôn dặm lang thang không nhà.
Buồn trông gió cuốn thuyền xa,
Bạc đầu người lẩn sóng xa bạc đầu!

Đỗ Chiêu Đức

Bên Sông Tiễn Bạn Hạ Chiêm

Thương cho bạn, khăn ta lệ đẫm
Hơn bày mươi lận đận không nhà
Lên thuyền giữa cảnh phong ba
Trắng phơ sóng bạc che nhòa tóc ai.

Phương Hà
***
Bến Sông Tiễn Hạ Chiêm

Tiễn bạn già lệ thương khăn đẫm,
Thân bảy mươi vạn dặm không nhà.
Buồn theo gió nổi thuyền xa,
Nhấp nhô sóng bạc xoá nhoà đầu sương!

Mailoc 

1)Tiễn Hạ Chiêm Bên Sông

Ướt đẫm khăn tay tiễn bạn già
Cao niên bảy chục vẫn không nhà
Đơn thân phiêu lãng xa ngàn dặm
Tóc trắng dong thuyền sóng bạc qua

2)Bờ Sông Tiễn Bạn

Sông sâu tiễn bạn thấm sầu
Bảy mươi, ngàn dặm đi đâu không nhà
Tấm thân vô định thuyền ra
Nhấp nhô trắng xoá sóng xa bạc đầu

Mai Xuân Thanh
Ngày 21 tháng 12 năm 2017
***
Bến Sông Tiễn Tống Hạ Chiêm 

Đưa tiễn bạn thân khăn đẫm lệ 
Bảy mươi muôn dậm khổ không nhà
Buồn theo gió nổi thuyền xa bến
Sóng bạc vươn che mái tóc già

Quên Đi


Đám Cưới Nhà Quê


Các bạn chắc đã được mời đi dự nhiều đám cưới rồi, từ thành thị cho tới thôn quê vậy thì có gì mới lạ đâu mà theo dõi bài viết của tôi. 
Hổng phải vậy đâu nghen. Chuyện tôi kể chắc chắn khác hoàn toàn những việc mà bạn từng chứng kiến.
Ở tuổi "người lớn" bạn được mời đi dự tiệc cưới của con cháu trong gia đình hay bạn bè. Bạn được đón tiếp long trọng, ngồi bàn giữa, có người dâng rượu, bánh nước, đồ ăn tới tận bàn. Bạn chỉ ngồi đó tán dóc, làm khách thôi; chuyện như vậy thì có gì lạ mà kể.

Hay là bạn được mời tới nhà hàng, ban tiếp tân chỉ bạn vô một bàn nào đó, ngồi xem mấy bà khoe quần áo nữ trang hột xoàn, chờ tới giờ MC lên giới thiệu 2 họ, xong rồi là bắt đầu ăn. Trong khi ăn thì các ca sĩ hát nhạc sống, mà thường thì khách đi dự chỉ lo ăn uống rồi về để sáng còn xem đấu bóng cà na hay bóng rổ tùy mùa, ít có ai chịu thưởng thức văn nghệ văn gừng. Mà thưởng thức làm sao được? Ngồi chăm chú nghe để thiên hạ xực hết còn gì? Họa hoằng lắm sau khi ăn xong bọn trẻ còn ráng ở lại tham gia ca hát, nhảy đầm với nhau, còn người xồn xồn có khi chưa cắt bánh cưới là đã rục rịch ra về mất rồi.
Chuyện như vậy chán phèo, lạt nhách, ở đâu cũng thế, kể làm chi phải hông?
Chuyện tôi kể là chuyện bị mời đi đám cưới, chứ không phải được mời. Lạ chưa?


Vậy để tôi nói sự khác nhau giữa được mời và bị mời cho các bạn khỏi thắc mắc. Thông thường đám cưới ở quê có 2 cách mời khách, mời miệng và mời thiệp.
Khi viết thiệp mời, gia chủ viết trong thiệp: “Kính mời anh chị và mấy cháu” đến dự tiệc cưới của con chúng tôi là... Trước chung vui cùng chúng tôi, sau chúc mừng cho đôi trẻ trăm năm hạnh phúc...”

Đại khái là như vậy. Cái khổ ở miền quê nằm trong hai chữ “mấy cháu”. Một nhà có 4 đứa con, cái thiệp gởi đi đó, có thể là 6 người đi dự cũng có thể là chỉ có một người thôi. Không có màng gởi lại thiệp hồi báo để gia chủ biết đường mà mò, vì thế có khi nhà nghèo lo đám cưới cho con mình xong thì bị vở nợ. Chủ nhà thì lo đồ ăn thiếu, nên cố mua cho đủ để bà con lối xóm không khi mình nghèo, còn bà con chòm xóm thì sợ gia chủ tốn tiền nên hạn chế người đi dự tối đa... Rốt cuộc đồ ăn dư một đống mà tiền mừng cưới thì xẹp lép...

Cách thứ hai là mời miệng, phong tục nầy rất ư là đặc biệt. Thường thường cha mẹ cô dâu hay chú rể phải trực tiếp tới tận nhà để mời những người có vai vế lớn, bà con trong thân tộc như: Ông, bà, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ... Những người mời thiệp có thể không đi dự nhưng những người được mời miệng thì coi như bắt buộc phải đi... Đó là luật bất thành văn mà.
Ở quê còn có những vị khách đặc biệt mà cô dâu hay chú rể phải đích thân đi mời từng người một, những người nầy thì tôi gọi là bị mời...

Thật ra những người được mời thiệp hay mời miệng đều đến dự tiệc cưới để ăn uống, chung vui với gia đình cô dâu hay chú rể. Còn những người mà tôi gọi là bị mời đó, họ đến để phụ giúp tổ chức tiệc cưới. Thanh niên, thanh nữ trong xóm được mời hay bị mời đều đến phụ giúp gia chủ để phục vụ cho đám cưới. Người được mời có thể là không quen biết sâu đậm nên đến ngày đám cưới mới tới phụ chạy bàn, bưng mâm, dọn dẹp... Còn người bị mời thường là bạn bè lâu năm thân thiết, chòm xóm gắng bó nhiều năm hay là bà con ruột thịt cùng trang lứa với nhau... Họ đến trước một hoặc hai ngày, đám cưới xong còn phải ở lại thanh toán dọn dẹp đám xà bần cho gia chủ...
Tôi ở quê mỗi năm tới mùa cưới hên lắm thì bị mời một đám, có khi xui xẻo bị mời hai ba lần... Mùa cưới là lúc gần tết Nguyên Đán hoặc sau Tết ít ngày những tháng khác trong năm ít ai tổ chức đám cưới.

Đám cưới miền quê thì đám nào cũng như đám nấy, nhưng có một đám mà tôi nhớ nhất, đó là đám cưới của Tư Lệ người mà thằng Tài kế nhà tôi cố công theo đuổi, để rồi khi em đi lấy chồng nó ôm mối hận lòng cho tới ngày giã từ dương thế...

Năm ấy tôi về nhà ăn Tết trước mùng một cả tuần. Vừa bước xuống đầu cầu bên sông, chưa kịp kêu mấy đứa em đem xuồng qua rước, thằng Tài hình như là nó biết tôi sắp về nên thả qua thả lại trước cửa sân chờ tôi, thấy bóng dáng tôi vừa ló ra là nó ba chân bốn cẳng nhảy tót xuống xuồng bơi một mạch qua sông. Xuồng chưa cặp bến là nó bô bô cái miệng:
- Mầy về một mình hả?
- Vậy chớ mầy tưởng tao về với ai nữa? Tôi trả lời.
- Vậy mà tao tưởng mầy dắt mấy anh bạn về ăn tết nữa chứ.
Tôi thấy tội nghiệp cho tánh thật thà của nó nên không chọc ghẹo mà chỉ trả lời:
- Hồi còn đi học thì rổi rảnh, ai cũng muốn đi chơi, bây giờ đi làm có ngày nghỉ ai người ta cũng muốn về thăm nhà, quởn đâu mà đi lang bang. Còn mầy bộ hổng có chuyện làm sao mà đứng rình chờ tao về vậy?
Nghe tôi hỏi mặt nó đang hớn hở vui cười bổng nhiên xụ xuống một đống.
- Tư Lệ ngày mốt đám cưới rồi, tao còn tâm trí đâu mà mần ăn được nữa mà mầy hỏi.
Tôi định chọc nó vài câu, nhưng nhìn mặt nó như cái bánh bao chiều, sắp thiu nên không nở, đành lặng thinh mà chia xẻ bớt nổi buồn của nó...

Vừa bước vào nhà chưa nóng chân thì bác Chín gái má Tư Lệ tới nói:
- Mèn ơi! Hên quá, tưởng con mấy bửa nữa mới dìa, bác hổng biết nhờ ai đi mượn bàn, mượn ghế, chén dĩa cho đám cưới con Lệ, đang rầu thúi ruột thì con dìa tới…
Tôi vọt miệng trả lời:
- Thằng Tài nó theo con mượn đồ biết mấy đám rồi, nhà nào có thứ gì nó đều biết hết, sao bác không nhờ nó?
Bác Chín lặng thinh không nói tiếng nào. Tôi chợt nhận ra mình thật vô duyên, chuyện thằng Tài theo cô Tư, người lớn con nít xóm tôi ai mà không biết vậy mà tôi dám hỏi một câu đáng đánh đòn. Giá mà vài năm trước tôi hỏi vậy có thể bị nghe chưởi đầy cả 2 cái lổ tai. Biết mình nói hớ tôi vội chạy tội:
- Chừng nào nhóm họ vậy bác?
- Ngày mai nhóm họ rồi, mà giờ nầy chưa thấy ai tới giúp. Con làm ơn, làm phước qua giúp dùm bác một tay đi...
Tôi còn chưa biết ất giáp gì, chuyện nhà cửa mấy tháng nay ra sao, ba má tôi không biết có cần tôi giúp gì không nên chưa dám hứa:
- Dạ, để con coi, giải quyết chuyện nhà xong thì qua bên bác liền.
Ở quê không trả lời rỏ ràng mà chỉ nói ổm ờ như vậy là xem như từ chối khéo. Bác Chín tiêu nghiễu ra về thằng Tài núp trong buồn nhà tôi bước ra nói:
- Tao cũng tính không đi, nhưng hổng biết ăn nói sao cho phải. Mầy không đi thì tao sẽ diện cớ đó mà ở nhà theo.
Tôi chưa kịp nói gì với nó thì Tư Lệ hổn hển chạy vô:
- Anh Hai, anh Tài làm ơn qua phụ em đi...
Thằng Tài quay mặt vô buồn không trả lời trả vốn gì ráo trọi. Nhìn đôi mắt rưng rưng muốn khóc của cô Tư tôi hỏi:
- Làm sao mà hai người ra nông nổi nầy vậy?
Tư Lệ lặng thinh hồi lâu rồi mới thổn thức trả lời:
- Anh Tài hứa cưới em hồi Tết năm trước, nhưng năm đó nước lớn quá lúa bị ngập chết sạch hết, phải chờ năm sau, hôm bà mai dẫn người ta đến coi mắt, em có hỏi ảnh tính sao, ảnh nói:
- Thiếu nợ người ta còn trả chưa xong, có tiền, có bạc gì đâu mà tính, chắc là phải chờ năm tới nữa. Em nói lại cho ba má nghe, nhưng má em không cho chờ. 
Bả nói: “Năm tới nước lớn nữa thì sao? Hổng lẻ chờ tới già, mà mầy hơn hai mươi rồi, chờ tới 25 thành gái già có muốn gã cho người khác cũng không có ai cưới”...

Tôi với thằng Tài qua tới nhà Tư Lệ, chưa có một móng nào tới cả. Hai ông bà thấy mặt tụi tôi thì mừng như trúng số. Tôi kéo năm Tú lại hỏi:
- Bà còn, bà kía, bạn bè ở đâu mà giờ nầy chưa có ai tới phụ hết vậy? Bộ chị tư em không có đi mời người ta, nhờ người ta tới giúp sao?
Tư Lệ chạy ra nói:
- Em có mời rồi mà không có ai hứa chắc, hổng biết tại sao nữa. Hổng chừng tại em phụ anh Tài nên bạn bè giận mà không tới.
Thằng Tài bị tôi thuyết phục từ nảy giờ nên trả lời yếu xìu:
- Không phải tại em đâu, bị vì anh nghèo thôi...
Không muốn cho không khí ảm đạm thêm tôi hăng hái nói:
- Ý Trời đã định rồi, thôi để tụi tui lo cho. Nhà cô có cái gì để che rạp không? Mời bao nhiêu người, giờ giấc ra sao nói luôn để xem thử mượn bao nhiêu cái bàn...

Thằng Tài tánh tình rất tốt, không làm thì thôi, bắt đầu vô làm là nó làm hết mình, nó rủ tôi tới nhà Tư Phụng mượn cây tràm dựng rạp. Tư Phụng lấy vợ năm rồi sắp cất nhà ra riêng nên mua nhiều tràm để sẵn chờ ra giêng thì dựng nhà. Nghe hỏi mượn cây dựng rạp nó trả lời nửa đùa nửa thiệt:
- Mượn cây che rạp đám cưới của nó với mầy thì được, lấy thằng khác thì không.
Thằng Tài buồn, buồn phân trần:
- Thôi mà mậy, khó dể với nó làm chi. Lỗi tại bà Thủy hại tụi tao, chứ có phải nó phụ tao đâu mà mầy làm khó dể...
Tư Phụng cười lớn:
- Chọc mầy chơi cho đở buồn, mầy không giận nó thì thôi, chứ mắc mớ gì tao mà tao lại giận. Đống cây ngoài sân đó lấy bao nhiêu thì kéo đi, miễn trả lại đủ thì thôi.
Thấy tình hình có chút khả quan tôi cũng lên tiếng:
- Bộ mầy lên chức rồi hả?
Tư Phụng ngạc nhiên hỏi lại:
- Ai nói lại mầy mà trật lất vậy? Vợ tao chưa có tâm hơi gì ráo trọi, biết chừng nào mới lên chức?
- Mầy chưa lên chức “cha” sao mà không chịu ra phụ còn đứng đó mà chỉ tay năm ngón hả thằng quỉ.

Ba thằng tôi hăng hái kéo đống cây tới nhà Tư Lệ, khi đi ngang qua nhà hai anh em Hải, Hà Tư Phụng réo:
- Hai thằng mầy làm gì trong đó? Đợi tụi tao mần xong rồi tới nhậu hả?
Vậy là thanh niên trong xóm bị lôi kéo hết về nhà Tư Lệ. Đứa đào lổ dựng cột đứa thả cây làm trần, đứa đốn chuối cây lấy bẹ ốp làm cột, đứa đốn tàu dừa, lá đủng đỉnh trang trí cổng vào... Vừa làm vừa nhắc chuyện xưa tích cũ cười nói rân trời đất, vui nhộn vô cùng, mấy tiếng đồng hồ sau là rạp cưới được che xong. Tôi lấy cuốn sổ ghi bàn ghế trong xóm ra rồi bắt đầu đi mượn đem về...
Cánh con gái thấy tụi con trai tới đông đủ không thiếu mạng nào cũng từ, từ tề tựu lại, rồi cùng nhau đi mượn ly, chén đủa, nồi niêu soong chảo... Tới gần chiều tối thì bà con ở xa của Tư Lệ mới tới...
Buổi tối bà thợ nấu phân công cho đám thanh niên làm gà, làm vịt, đàn ông xồn xồn thì làm heo, con gái chuẩn bị rau cải đồ nấu...
Con heo cả trăm ký vừa làm xong, bộ đồ lòng để nấu cháo ăn tối, thịt heo gà vịt được bà thợ nấu phân công cho đám con gái, thứ nào làm liền thì để riêng ra, thứ nào để dành sáng thì cho ướp nước đá để khỏi hư...


Công việc xong xuôi chắc cũng khảng 10 giờ tối. Các tay đờn, ca sĩ nghiệp dư bắt đầu trổ tài, dân cờ tướng rinh bàn cờ ra đấu với nhau, dân đánh bài “lơ khơ” thì đem bài ra mà chơi uống nước... Mấy người lớn tuổi thì đấu láo chuyện thời sự, chiến tranh...
Đám cưới ở quê là một bức tranh với những nét chấm phá đặc thù mà chỉ ở miền quê mới có, thành thị chắc không thể nào nhìn đầy đủ nét độc đáo của nó...
Đám cưới miền quê dù giàu hay nghèo gia chủ cũng cung cấp đầy đủ rượu đế cho ngày nhóm họ, sòng đờn ca, cờ tướng hay sòng bài đều có chai rượu đế, dĩa lòng heo hay lòng gà, vịt để khách khứa vừa lai rai vừa trổ hết tài nghệ của mình...
Xôm tụ nhất vẫn là nơi ca hát, thằng Tài, thằng Tỏ có giọng ca mùi mẫn như Út Trà Ôn nhưng hôm nay nó chỉ hát bài “Dây khổ Qua” rồi ngồi uống rượu hoài mà không hát hò gì thêm nữa, đám con gái rảnh việc cũng ra tham gia cho thêm hào hứng, Út Hường và nhỏ em tôi nhập cuộc thì bọn con trai bu lại, bài nầy chưa dứt thì đứa khác đã dành cho phiên mình.

Càng về khuya tiếng ồn ào bớt dần, giọng hát càng lảnh lót, thằng Tài càng uống rượu nhiều hơn. Tư Lệ cầm lòng không nổi đến bên tôi nói nhỏ:
- Anh Hai kêu anh Tài đừng uống nữa em muốn nói chuyện lần cuối với ảnh...
Tôi thấy lòng mình nặng nề như ai lấy cục đá đè lên trái tim mình, thương cho hoàn cảnh trái ngang của tụi nó:
- Cô qua phòng học của tôi đi, coi chừng má tôi thấy bả chửi tôi tắt bếp, để tôi thông báo cho thằng Tài qua gặp...
Tư Lệ đi rồi tôi tới thông báo cho nhóm thanh niên phụ trách đãi tiệc ngày mai, nhờ họ đi ngủ sớm, không được thức trắng đêm mà làm hư chuyện đại sự của cô dâu. Người nào nhận trách nhiệm giúp vào ngày mai đều từ giả cuộc vui mà tìm chỗ ngủ... Tôi kề tai thằng Tài nói nhỏ:
- Tư Lệ muốn gặp mầy, cô ta đang chờ trong phòng học của tao...

Cuộc vui vẫn còn đang tiếp tục nhưng số người tham dự ít hơn. Thằng Tỏ nhận trách nhiệm coi nấu nước châm trà nhưng máu văn nghệ của nó còn sôi sục chưa chịu đi ngủ thấy tôi tới nó phân trần:
- Em chơi hai bài nửa thôi, bảo đảm sáng mai không ngủ gục đâu mà anh lo.
Thật ra đám cưới ở vùng quê đều na ná giống nhau, người đi dự chỉ so sánh phê bình hai vấn đề. Món ăn và cách tổ chức đãi khách mà thôi. Món ăn ngon dở là do tài của bà thợ nấu và cánh con gái. Đãi khách là do những người tình nguyện phụ đám cưới giúp đở. Đám nào có người đứng ra chỉ huy phân công đâu vào đó thì suông sẻ, không bị lụp chụp khi khách tới đông, không có người chỉ dẫn dắt dìu, thì y như một đống cát rời, lu bu, lộn xộn không làm nên cơm cháo gì cả...

Thằng Tài đi được một lúc thì tôi cũng rút dù về để canh cửa cho nó, gia đình cô Tư mà biết được thì tôi có nước cuốn gói về Xẽo Rô trước tết, chứ ở nhà thì hai lổ tai bị bể là cái chắc .
Chuyện cô dâu bỏ theo người yêu trong ngày cưới xảy ra không phải là ít, cho nên gia đình cô ta canh me dử lắm. Thấy thằng Tài biến mất là gia đình chạy đi tìm Tư Lệ. Không thấy cô ta đâu, má nàng chạy qua nhà tôi tìm, nhằm lúc tôi đang ngồi hút thuốc trước sân để canh cho tụi nó. Tôi hỏi lớn để cho tụi nó nghe mà tìm cách đối phó:
- Bác tìm con có chuyện gì không vậy? Mọi chuyện sắp xếp xong hết rồi bác khỏi phải lo...
Má Tư Lệ giọng run run hỏi:
- Con có thấy thằng Tài đâu không? Bác có chuyện nhờ nó.
Câu trả lời tôi thủ sẵn từ khuya nên không do dự phút nào:
- Nó say hoắt cần câu con vừa đưa nó vô mùng ngủ thất thì.
Bác Chín thở phào nhẹ nhỏm, nhưng cũng chưa tin mấy bà trở về đi tìm con gái mình cho chắc ăn:
- Vậy thôi, để bác về tìm đứa khác cũng được...
Bà ta vừa đi khỏi, tôi lên tiếng nho nhỏ:
- Bể ổ rồi, mầy về nhà bằng ngã sau đi, còn cô Tư rủ con Vân qua bên cô chơi, có ai hỏi thì nói "đang mời nó đi đưa dâu", lẹ lẹ lên dùm, bả mà trở lại thì cả đám bị chửi thúi đầu...

Đám cưới Tư Lệ rồi cũng xảy ra bình thường như bao đám khác, cũng đãi khách, cũng lạy xuất giá, cũng đưa dâu về chợ, có điều đám dân ruộng chúng tôi không có đứa nào đồng ý đi đưa dâu, mặc dù đưa dâu chỉ là đi làm khách ăn uống nhậu nhẹt rồi về, tụi tôi sau khi thanh toán đám xà bần, hạ rạp trả lại bàn ghế, cây cối, đồ đạc đã mượn của lối xóm...
Xong rồi thì bày một tiệc nhỏ sau vườn nhà, đồ nhắm và rượu còn dư Năm Tú đem ra hết, cả đám uống cho đến say mèm, như để xẻ chia nổi đau của thằng Tài...

Sau đám cưới đó, tôi không còn bị mời nữa, những năm về sau có đi dự tiệc cưới đều là được mời làm khách, làm kiểng, tán dóc, nói chuyện trên trời dưới đất. Đôi lúc tôi cũng tới sớm nhưng mấy đứa nhóc không dám cho tôi phụ chúng, tôi như bị lẻ loi, lẻ loi như thằng Tài sống mãi trong thương nhớ, vô vọng nó thường hỏi tôi:
- Tại sao ông trời bắt mình nghèo?
Câu hỏi đó tôi luôn luôn suy nghỉ rồi có nhiều câu trả lời khác nhau, nhưng chẳng có câu nào tôi thấy đúng.
Có phải vì dân quê lười biếng không? Chắc là không rồi. Xóm tôi người ta làm lụng quanh năm vất vả, ngày xưa làm một vụ lúa thời gian dư thừa có nhiều người dân làm thêm chuyện khác mùa khô bắt chuột bán, mùa nước cắm câu giăng lưới đặt lờ, đặt trúm lấy cá, lấy lươn bán... Bây giờ làm 3 vụ lúa mổi năm, đâu có thì giờ rảnh vậy sao vẩn còn nghèo???
Có phải vì dân quê không có kiến thức? Cũng không phải. Người nông dân xóm tôi bây giờ hiểu biết về khoa nông nghiệp gấp nhiều lần hồi xưa, từ cách xạ lúa, bón phân, bảo vệ, ngăn ngừa sâu rầy... Còn cậu Tú, cậu Cử hay cả ông Tiến thì nhiều vô số kể, cở giáo quèn như tôi ngày xưa chắc là ở giá mà thôi...

Câu trả lời cho thằng Tài chắc tôi phải chờ tới ngày xuống âm phủ hỏi thử Diêm Vương xem sao...

Lanh Nguyễn