Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Bá Quát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Bá Quát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

Du Hội An phùng Vị Thành Ca Giả 遊會安逢渭城歌者 - Cao Bá Quát



遊會安逢渭城歌者


共歎相逢晚,
相逢是客中。
管絃今夜月,
鄉國幾秋風?
淚盡樽仍醁,
心灰燭自紅。
舊遊方落落,
一曲莫辭終。


Du Hội An phùng Vị thành ca giả

Cộng thán tương phùng vãn,
Tương phùng thị khách trung.
Quản huyền kim dạ nguyệt,
Hương quốc kỷ thu phong.
Lệ tận tôn nhưng lục,
Tâm hôi chúc tự hồng,
Cựu du phương lạc lạc,
Nhất khúc mạc từ chung!

Cao Bá Quát
***
Dạo Hội An, Gặp Đào Hát Thành Vị

1-

Cùng than gặp gỡ muộn
Gặp gỡ chốn quê người
Đàn sáo đêm trăng sáng
Mấy thu làng nước trôi

Lệ khô tràn rượu quý
Lòng tắt nến hồng tươi
Bè bạn dần tan tác
Tiếc chi khúc hát đời!

2-

Cùng than thở gặp nhau quá muộn
Gặp gỡ nhau tại chốn quê người
Đàn ca trăng sáng chơi vơi
Quê nhà lưu lạc phương trời bao thu

Rượu quý đầy, lệ khô hiu hắt
Nến hồng tươi, hồn tắt đã lâu
Thưa dần bè bạn còn bao
Tiếc gì khúc hát thương trao ấm nồng!

Lộc Bắc
Aug22


Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2023

Thơ Xuân Cao Bá Quát (1)


1. Bài thơ  An Quán Tảo Xuân (Kỳ 1):

安館早春(其一)        An Quán Tảo Xuân (Kỳ nhất)

三更鐘斷雞咿喔, Tam canh chung đoạn kê y ốc,
落落數家聞爆竹。 Lạc lạc sổ gia văn bộc trúc.
出門倦倚立門看, Xuất môn quyển ỷ lập môn khan,
路少燈行室稀燭。 Lộ thiểu đăng hành thất hi chúc.
高伯适                     Cao Bá Quát

* Chú thích:

- Y Ốc 咿喔: Từ Tượng thanh dùng để diễn tả tiếng gà EO-ÓC gáy.
- Lạc Lạc 落落: là Lác đác, là thưa thớt.
- Sổ 數: Tính từ chỉ số lượng, SỔ là Một vài; Động từ là Đếm; Danh từ đọc là SỐ : là Con số , chữ số.
- Bộc Trúc 爆 : Bộc là nổ, trúc là tre. BỘC TRÚC là tiếng tre nổ, nói đúng hơn là "tiếng mắt tre nổ." Ngày xưa, chưa có pháo, người ta đốt các mắt tre già ở dưới gốc cho nó nổ thành tiếng để xua tan những xui xẻo, buồn lo... của năm cũ cho nó qua đi. Sau nầy, khi chế tạo được pháo rồi, nhưng vì Tập Quán Ngôn Ngữ đã quen, người ta vẫn dùng từ Bộc Trúc để chỉ pháo luôn. Cho nên khi dịch từ Bộc trúc, phải biết đó là PHÁO, chứ không phải tiếng tre nổ nữa!
- Quyển Ỷ 倦倚: Vẻ Mõi mệt mà dựa vào (cái gì đó...)
- Chúc 燭: là ngọn đuốc, ngọn nến hay ngọn đèn... trong nhà.

* Nghĩa bài thơ:

Xuân Sớm Ở An Quán (bài 1)

Tiếng chuông trống canh ba vừa điểm xong thì tiếng gà cũng bắt đầu eo- óc gáy. Lác đác mấy nhà xa xa đã nghe tiếng pháo đì đẹt nổ. Bước ra đứng tựa cửa uể oải lặng ngắm cảnh đêm giao thừa, trên đường đã thưa người chong đèn đi lại mà trong nhà cũng chỉ leo lét có một ngọn nến mà thôi !

* Diễn Nôm:
 An Quán Tảo Xuân  (Kỳ nhất)

Tiếng gà eo-óc trống canh ba,
Lác đác pháo tre vẳng mấy nhà.
Ra cửa mõi mòn trông cảnh trí,
Đèn vắng đường thưa nến lập lòa!

Lục bát:

Tiếng gà eo-óc canh ba,
Pháo tre lác đác mấy nhà vọng sang.
Cảnh đêm tựa cửa bàng hoàng,
Đường thưa người vắng chập choàng nến đêm.
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

2. Bài thơ An Quán Tảo Xuân (Kỳ 2):

安館早春(其二) An Quán Tảo Xuân (Kỳ 2)

客話當初繁盛時, Khách thoại đương sơ phồn thịnh thì,
粉墻朱戶照江湄。 Phấn tường chu hộ chiếu giang my.
即今春早銜泥燕, Tức kim xuân tảo hàm nê yến,
猶倚胡家門裡飛.     Do ỷ Hồ gia môn lý phi.
高伯适                     Cao Bá Quát

* Chú thích:
- Đương Sơ 當初 : là Lúc ban đầu, là Trước đây.
- Phấn Tường Chu Hộ 粉墻朱戶 : là Tường quét vôi trắng như bột phấn, cửa sơn màu chu đỏ như son : Chỉ nhà giàu ngày xưa.
- Giang My 江湄 : là Ven sông, bờ sông , bến sông.
- Tức Kim 即今 : Như hiện nay, Hiện nay đây.
- Hàm Nê 銜泥 : là Ngậm bùn; HÀM NÊ YẾN 銜泥燕 : là Chim Én ngậm bùn để làm tổ, chỉ sự phồn vinh và đầm ấm của một gia đình đang thịnh vượng. Hai câu thơ chót lấy ý của hai câu thơ cuối trong bài Ô Y Hạng 烏衣巷 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 :

舊時王謝堂前燕, Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
飛入尋常百姓家. Phi nhập tầm thường bách tính gia.
Có nghĩa :
Chim én ngày xưa ở hai nhà Vương, Tạ, thì giờ đã bay hết vào nhà của những bá tánh bình thường hết cả rồi !
- Hồ Gia 胡家 : là nhà họ Hồ. HỒ là một họ lớn đứng hàng thứ 13 trong Bách gia tính 百家姓, nên cũng có thể dùng để chỉ chung các dân chúng bình thường sống chung quanh làng xóm.

* Nghĩa bài thơ:
Xuân Sớm Ở An Quán (bài 2)

Khách nói rằng : Trước đây khi nơi nầy còn phồn thịnh, thì cửa son đỏ loét tường phấn trắng tinh phản chiếu lấp lánh bên ven sông. Như hiện nay xuân về sớm và các con én cũng đã ngậm bùn để làm tổ bay vào cửa của các nhà dân bình thường khác cả rồi !
Bài thơ cảm khái trước cảnh tang thương biến đổi, vật đổi sao dời nhưng thiên nhiên thì vẫn vô tình dửng dưng, mùa xuân vẫn cứ đến sớm mặc cho cảnh trí đã đổi thay, lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ của Sầm Tham 岑參 trong bài SƠN PHÒNG XUÂN SỰ 山房春事 là :

庭樹不知人去盡, Đình thọ bất tri nhân khứ tận,
春來還發舊時花。 Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.

Có nghĩa:

Cây vườn chẳng biết người đi hết,
Xuân về vẫn trổ những hoa xưa !

Thiên nhiên qủa vô tình đến dửng dưng trước cuộc thế tang thương biến đỗi !

* Diễn Nôm :
An Quán Tảo Xuân (Kỳ 2)

Khách bảo lúc xưa khi phồn thịnh,
Cửa son tường phấn chiếu ven sông.
Như nay xuân đến bầy chim én...
Ngậm bùn làm tổ cửa nhà dân!

Lục bát:

Khi xưa phồn thịnh nơi đây,
Cửa son tường trắng ánh đầy ven sông.
Nay thì xuân đến vắng không,
Ngậm bùn chim én bay vòng nhà dân !
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

3. Bài thơ uân Dạ Độc Thư:
春夜讀書 Xuân Dạ Độc Thư

今人不見古時春, Kim nhân bất kiến cổ thời xuân
惆悵今春對古人。 Trù trướng kim xuân đối cổ nhân.
世事幾何今不古, Thế sự kỷ hà kim bất cổ,
眼前莫認幻為真。 Nhỡn tiền mạc nhận huyễn vi chân
幾多名利終朝雨, Kỷ đa danh lợi chung triêu vũ,
無數英雄一聚塵。 Vô số anh hùng nhất tụ trần.
自笑俗拘拋未得, Tự tiếu tục câu phao vị đắc,
邇來攜卷太諄諄。 Nhĩ lai huề quyển thái truân truân.
高伯适                    Cao Bá Quát

* Chú Thích :
- Độc Thư 讀書 : là Xem Sách mà cũng có nghĩa là Học Hành nữa, vì ngày xưa Xem Sách tức là đang Học Tập đó.
- Trù Trướng 惆悵 : là Do dự, Ngập ngừng, là Chần chừ Ngơ Ngẩn.
- Huyễn Vi Chân 幻為真 : là Lấy ảo làm thực, lấy huyễn hoặc làm thực tế.
- Triêu Vũ 朝雨 : là Mưa buổi sáng.
- Tụ Trần 聚塵 : là Bụi phủ, Bụi mờ.
- Tục Câu 俗拘 : Tục ở đây có nghĩa là Thói Thường, nên Tục Câu có nghĩa là những câu nệ tầm thường, những thói xấu tầm thường khó bỏ. PHAO VI ĐẮC là Không dứt bỏ được.
- Nhĩ lai 邇來 : là Gần đây, là Dạo nầy.
- Huề Quyển 攜卷 : là Cầm quyển sách lên, ý chỉ Học tập.
- Truân Truân 諄諄 : là Cần mẫn, Chăm chỉ.

* Nghĩa Bài Thơ:
Đọc Sách Đêm Xuân

Người của ngày hôm nay không thấy được mùa xuân của thuở xưa, nên giờ ta đang ngẩn ngơ trước mùa xuân hôm nay mà đối mặt với người xưa trên sách vở. Chuyện đời biết như thế nào mà nói, vì hôm nay chứ không phải ngày xưa nữa, nên đừng có nhận lầm những cái huyễn hoặc trước mắt là thực tế (mà phải phân biệt cho rõ ràng). Biết bao nhiêu danh lợi chỉ đến trong đêm như một giấc mộng, rồi kết thúc bằng một trận mưa sáng trôi đi tất cả, cũng như vô số anh hùng tụ hợp rồi cũng tan biến như lớp bụi mờ. Ta tự cười mình vì cái tật xấu xưa nay không bỏ đi được, nên gần đây hễ cứ cầm quyển sách lên là cứ đọc một cách chăm chỉ như ngày xưa vậy!

Biết được rằng Xưa không phải là Nay nữa, Xuân xưa khác xuân nay và Chuyện xưa cũng khác với Chuyện ngày nay, bằng chứng là biết bao danh lợi chỉ thoáng qua như giấc mộng trong đêm, anh hùng hào kiệt rồi cũng tan biến như bụi trần. Biết thế, mà vẫn cứ thế, hễ cầm được quyển sách lên là lại cứ muốn chăm chỉ mà học tập theo gương của người xưa, để làm gì?! Vì rốt cuộc cũng có được gì đâu ?! Cao Bá Quát vừa cười mình ngớ ngẩn có thói quen xấu khó bỏ, lại vừa đề cao mình là người luôn luôn chăm chỉ học tập mặc dù biết rằng đọc sách chỉ là nhại lại những cái bã của cổ nhân!

* Diễn Nôm:

Xuân Đọc Sách Xưa

Người nay chẳng thấy được xuân xưa,
Ngơ ngẩn xuân nay trước cổ thư.
Bao nả chuyện đời kim khác cổ,
Chớ lầm trước mắt thực làm hư.
Biết bao danh lợi theo mưa sáng,
Vô số hùng anh khuất bụi mờ.
Thói xấu cười mình không bỏ được,
Hễ cầm quyển sách cứ khư khư!

Lục bát:

Người nay không thấy xuân xưa,
Xuân nay ngơ ngác người xưa đâu rồi.
Chuyện đời kim cổ đổi vời,
Chớ lầm hư thực thực rồi hóa hư.
Lợi danh như sáng mưa thu,
Anh hùng bao kẻ mịt mù trần ai.
Cười mình tật cũ khó phai,
Quơ nhằm quyển sách miệt mài thâu canh.

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
***
Xuân Sớm Ở An Quán Kỳ 1

1-
Canh ba chuông dứt gà eo óc
Lác đác dăm nhà nghe pháo trúc
Ra cửa dựa buồn, trong cửa xem
Đèn đường chẳng mấy, nến phòng ít.

2-
Canh ba chuông dứt gà kêu
Vài nhà pháo trúc lèo tèo thinh không
Dựa buồn ngoài cửa, vào trong
Đèn đường hiu hắt, quanh phòng nến thưa!

***
Xuân Sớm Ở An Quán kỳ 2

Khách nói thời xưa lúc thịnh thời
Cửa son, tường trắng mé sông soi
Mà nay xuân sớm mang bùn-én
Làm tổ quẩn quanh Hồ xóm thôi!

***
Đêm Xuân Đọc Sách

Người nay chẳng biết thuở xưa-xuân
Buồn bã xuân nay với cổ nhân
Thế sự ra sao giờ khác trước
Đừng lầm trước mắt giả thành chân
Biết bao danh lợi, tan mưa sáng
Vô số hùng anh, hóa bụi trần
Thói tật, tự cười, không bỏ được
Gần đây nâng sách vẫn chuyên cần!

Lộc Bắc
Dec22

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

Xuân Nhật Tuyệt Cú Thập Thủ(Mười Bài Thơ Tuyệt Cú Ngày Xuân) - Cao Bá Quát

 

4. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 4):

春日絕句(其四)     Xuân Nhật Tuyệt Cú(Kỳ 4)

韋杜佳人繡鳳鞋, Vi Đỗ giai nhân tú phụng hài,
蹅春共趁賣花來。 Đạp xuân cộng sấn mại hoa lai.
西湖寺外醉何處, Tây Hồ tự ngoại túy hà xứ ?
鎮武觀頭遊幾回。 Trấn Võ Quán đầu du kỷ hồi!

高伯适                     Cao Bá Quát
***
* Chú thích:
- Vi Đỗ 韋杜 : Tên một con phố ở đất Tràng An (Tây An) xưa, ở đây mượn để chỉ kinh thành Thăng Long của ta.
- Tú Phụng Hài 繡鳳鞋 : Giày có thêu hình chim phượng.
- Đạp Xuân 蹅春 : là Đi trong mùa xuân, là đi dạo chơi lúc xuân về; tương đương với từ ĐẠP THANH 踏青 là Đi dạo chơi trên thảm cỏ xanh non vậy.
- Sấn 趁 : là Thừa dịp, Sẵn dịp.
- TỰ 寺 : là Chùa của các Hòa thượng tu hành; QUÁN 觀 là ĐẠO QUÁN 道觀 là Chùa của các Đạo sĩ tu tiên.

* Nghĩa bài thơ:

Tuyệt Cú Ngày Xuân (4)

Các giai nhân của phố Vi đỗ trong kinh thành mang những đôi hài có thêu hình chim phượng; Các nàng đi dạo chơi trong mùa xuân rồi sẵn dịp lại ghé mua hoa xuân. Bên ngoài các chùa ở Tây Hồ nơi nào có thể say được đây ? (ý nói nơi nào có quán rượu); Ở đầu đường của Đền Trấn Võ ta đã dạo chơi qua mấy lượt ở đó rồi !(Ý chỉ nơi đó là nơi có quán rượu !).

Cảnh dạo chơi trong mùa xuân của các tài tử giai nhân trong ngày Lễ Tết khi xưa ở kinh thành Thăng Long. Cao Bá Quát cũng là một trong những chàng tài tử đi du xuân để nhìn ngắm các giai nhân mang hài có thêu hình chim phượng!

* Diễn Nôm:
 Xuân Nhật Tuyệt Cú (Kỳ 4)

Hài phụng giai nhân Vi Khúc phố,
Mua hoa mượn dịp để du xuân.
Hồ Tây có thể say đâu nhỉ?
Trấn Võ đền xưa dạo mấy lần!

Lục bát:

Phố Vi hài phượng giai nhân,
Du xuân sẵn dịp xa gần mua hoa
Hồ Tây say khước đâu ta?
Đền ngoài Trấn Võ la cà mấy phen!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

5. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 5):

春日絕句(其五)      Xuân Nhật Tuyệt Cú (Kỳ 5)

綺石欄窗綵縷門, Ỷ thạch lan song thái lũ môn,
少年翁對鬱金樽。 Thiếu niên ông đối uất kim tôn.
三多矮枝佛手架, Tam đa ải chi Phật thủ giá,
五福皺葉水仙盆。 Ngũ phúc trứu diệp thủy tiên bồn.

高伯适                    Cao Bá Quát

* Chú thích:
- Ỷ 綺 : Còn đọc là KHỈ, thuộc bộ MỊCH 糸 là sợi tơ bên trái, nên Ỷ 綺 là dải lụa có hoa văn đẹp đẽ; Trong bài thơ là Ỷ THẠCH 綺石 : chỉ những tảng đá có màu sắc rực rỡ, đẹp đẽ. Ỷ THẠCH ở đây cũng có thể chỉ Hòn Non Bộ giả làm cảnh cho đẹp.
- Lan Song 欄窗 : LAN là Lan Can, nên LAN SONG là Cửa sổ có trấn song.
- Thái Lũ Môn 綵縷門 : là Cửa có treo rèm màn có những sợi tơ màu đẹp đẽ.
- Thiếu Niên Ông 少年翁 : là Ông chủ còn trẻ, chỉ người thành đạt mà còn trẻ tuổi.
- Uất Kim Tôn 鬱金樽 : Chai đựng rượu có màu vàng của hoa Uất Kim Hương.
- Câu 3 : ý nói trái Phât Thủ thường có 3 ngón vươn dài ra (như hình minh họa đính kèm) tượng trưng cho Tam Đa là 3 cái nhiều (là Đa Phúc, Đa Thọ, Đa Nam Tử 多福,多寿,多男子).
- Câu 4 : Ý chỉ hoa của Hoa Thủy Tiên mặc dù 6 cánh nhưng lại trông giống như 5 cánh của hoa Bạch mai tượng trưng cho Ngũ Phúc là 5 điều Phước (là Thọ, Phú, Khang ninh, Du hảo Đức, Khảo chung mệnh 寿,富,康寜,攸好德,考终命. Có nghĩa là : Sống Thọ, Giàu sang, Khoẻ mạnh, có tiếng Đức tốt và Già Chết an lành).

Phật Thủ Thủy Tiên

* Nghĩa bài thơ:
Tuyệt Cú Ngày Xuân (5)

Song cửa sổ có trấn song, trước cửa lại có treo rèm màn với các tua màu sắc đẹp đẽ lại có những tảng đá cảnh đầy màu sắc. Trong nhà thì ông chủ nhà là một thiếu niên trẻ trung bên cạnh các chai rượu màu vàng của uất kim hương rực rỡ. Cái gía thấp để cành nhánh ngắn của quả Phật Thủ vươn dài ra như ba ngón tay tượng trưng cho Tam Đa và Giò Thuỷ Tiên với các lá quăn queo tượng trưng cho Ngũ Phúc.
Cảnh đón xuân trong giàu sang phú qúy của một người trẻ tuổi mà thành đạt, thiếu niên đắc chí, nếu không phải làm giàu trong chốn thương trường thì cũng là một đại khoa tuổi trẻ, quan trường đắc chí; quả là "Mãn môn xuân sắc thị vinh hoa" có khác !


* Diễn Nôm :
Xuân Nhật Tuyệt Cú (Kỳ 5)

Non bộ ngoài song cửa rực màn,
Thiếu niên chủ cả chén ly vàng.
Tam Đa phật thủ bày trên giá,
Ngũ Phúc Thủy Tiên chậu lá quăn.
Lục bát :
Màn che đá cảnh song rèm,
Thiếu niên đắc chí chai vàng uất kim.
Tam Đa phật thủ bày bên,
Ngũ Phúc lá cuốn Thủy Tiên một giò!
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

6. Bài thơ Xuân Nhật Tuyệt Cú (kỳ 6):

春日絕句(其六)    Xuân Nhật Tuyệt Cú(Kỳ 6)

巧偷誰差米家神, Xảo thâu thùy sái Mễ gia thần,
畫取江城一片春。 Họa thủ giang thành nhất phiến xuân.
煙柳如今更顏色, Yên liễu như kim cánh nhan sắc,
等閒迎送上年人。 Đẳng nhàn nghinh tống thượng niên nhân.

高伯适                     Cao Bá Quát
***
* Chú thích:
- Xảo Thâu 巧偷 : THÂU có nghĩa là Trộm mà cũng có nghĩa là Lén nữa; nên XẢO THÂU vừa có nghĩa là Trộm một cách khéo léo, vừa có nghĩa là Len lén mộ cách khéo léo.
- Sái 差 : Còn đọc là SAI. Có nghĩa là Khiến; nên THÙY SÁI 誰差 Có nghĩa là "Ai khiến cho", "Ai đã làm nên... cái gì đó".
- Mễ Gia Thần 米家神 : là "Cái thần của nhà họ Mễ" là Hội Họa, Vì MỄ PHẤT 米芾 là một danh họa đời Tống, ông cũng là người đầu tiên viết về "Lịchh Sử Hội Họa" của Trung Hoa để đời với quyển "HỌA SỬ 畫史" nỗi tiếng đương thời.
- Họa Thủ 畫取 : là Vẽ lấy, vẽ ra, vẽ nên.
- Cánh Nhan Sắc 更顏色 : là Càng có nhan sắc hơn, ý nói "Càng đẹp hơn ra".
- Đẳng nhàn 等閒 : là Tầm thường, bình thường, không quan trọng.
- Thượng Niên Nhân 上年人 : là Người của những năm trước; hoặc là "Người đã có tuổi", Người đã già. Cao Bá Quát không sử dụng từ KHỨ NIÊN NHÂN 去年人 là Người của năm trước, mà dùng từ THƯỢNG NIÊN NHÂN là Người của những năm trước kể cả người đã già.

* Nghĩa bài thơ:

Tuyệt Cú Ngày Xuân (6)

Khen ai khéo lén mượn nét bút thần của nhà Mễ Phất để vẽ nên một vùng cảnh đẹp của xứ giang thành khi đã vào xuân; với sương khói mơ màng của những cành liễu hiện nay như ngày càng đẹp thêm ra, và vẫn như đón đưa du khách bình thường như những năm qua kể cả những người đã cao niên.

Mùa xuân và cảnh đẹp chẳng của riêng ai, không phải nét bút thần của nhà họ Mễ mới vẽ nên được, mà thiên nhiên tạo hóa đã vẽ nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp cho tất cả mọi người không phân biệt già trẻ lớn bé gì cả. Ai biết thưởng ngoạn thì cảnh đẹp của mùa xuân sẽ là của người đó thôi !

* Diễn Nôm:

Xuân Nhật Tuyệt Cú (Kỳ 6)

Khéo lén khen ai mượn bút thần,
Vẽ nên cảnh sắc buổi đầu xuân.
Giang thành tơ liễu càng xinh đẹp,
Đưa đón năm qua khách thưởng xuân.

Lục bát:

Mễ gia ai trộm bút thần,
Vẽ nên một bức tranh xuân Giang thành.
Khói sương tơ liễu buông mành,
Năm năm đưa đón cho đành khách xuân !
Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Vọng Phu Thạch 望夫石 - Cao Bá Quát Và Nguyễn Du


Góc Việt Thi: Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du & Cao Bá Quát)

Cùng Bạn, 

Lên internet, nhân đọc được bài thơ Vọng Phu Thạch của đại thi hào Nguyễn Du và Cao bá Quát sáng tác, tôi thích quá, cứ đọc đi đọc lại trầm ngâm nghĩ ngợi. Cùng đứng trước cảnh núi non hùng vĩ, trước một tảng đá có hình thù một thiếu phụ ôm con, cả hai đều xúc động bồi hồi, nhưng mỗi người có một cái nhìn riêng biệt. Với Cao bá Quát, với bản chất đa tình lãng mạn, ông thương xót cho người phụ nữ phải phấn nhạt môi phai, thương cho lệ máu chan hòa, thương cho ngàn ngàn năm hiu quạnh tóc tai rũ rượi rong rêu làm bạn cùng trời mây trăng gió. Còn cụ Tiên Điền cũng xót thương cho một người đàn bà xa chồng, quên hết ái ân, ngàn năm trơ trọi giữa rêu phong mưa dầm. Đặc biệt Nguyễn Du ca ngợi tuyết trinh cuả người phụ nữ như một áng văn còn đậm nét trên rong rêu, ông ca ngợi cương thường đạo lý của người đàn bà Á Đông được thắm nhuần gia phong nho giáo... Còn Cao bá Quát ông ca ngợi cái chung tình của người vợ, nó sắt son, nó chung thủy đời đời như Trời và Đất; trời có già, đất có cỗi em vẫn một lòng cùng chàng. 
Tôi xin chuyển đến các bạn một bài ngắn trên internet xem chơi. Tôi xin Thầy Đồ nhà ta, Đỗ chiếu Đức, nhín chút thì giờ qúi báu dịch nghiã giùm hai bài thi trên, tôi cũng xin các thi hữu góp vần thêm như thường lệ để cho góc Việt Thi chúng ta thêm phong phú. Xin đa tạ.
Thân 
Mailoc 

Vọng Phu Thạch 

Độc lập sơn đầu đệ nhất phong
Chu điêu phấn tạ vị thùy dung
Âm thư cữu đoạn nhân hà xứ
Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng
Huyết lệ yên hòa minh nguyệt thấp,
Hương hoàn vân tích lục đài phong.
Thiên hoang địa lão tình do tạc,
Dạ dạ xao tàn bích đổng chung.

Cao Bá Quát
***
Hòn Vọng Phu


Sừng sửng đứng, đầu non hóa đá
Cũng vì ai nhạt má phai son!
Người đi, tin vắng, mõi mòn,
Biển trời thăm thẳm nước non nghìn trùng
Hòa lệ máu, khói lung linh nguyệt ,
Tóc tai dầm rêu biếc mây giăng.
Trời già đất cỗi, tình chung,
Đêm đêm động vắng hồi chuông vang rền. 

Mailoc phỏng dịch
***
Vọng Phu Thạch

Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.
Vạn kiếp điếu vô vân vũ(*) mộng,
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ,
Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
Tứ vọng liên sơn diêu vô tế,
Độc giao nhi nữ thiện nhi luân.
 
Nguyễn Du                                                            
Vọng Phu Thạch: Bài nầy không thấy chép trong Bắc hành Tạp Lục mà chỉ chép trong Thanh Hiên thi Tập. Như vậy là Nguyễn Du tả núi Vọng Phu ở LạngSơn khi đi nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang sắc phong cho Gia Long, mùa đông năm Qúy Hợi (1804)
***
Núi Trông Chồng

Đá hay người là ai chẳng biết,
Đứng một mình mải miết rêu phong.
Mây mưa (*) một thoáng xa xăm,
Tiết trinh một thuở tấm thân trắng ngần.
Lệ không ngớt, mưa dầm thu rét,
Rêu phong còn hằn nét áng thơ.
Bốn phương núi biếc vô bờ,
Cương thường nhi nữ đạo thờ riêng mang.


Mailoc phỏng dịch
(*)Vân vũ: thần nữ ở núi Vu Sơn, làm mây buổi sáng, làm mưa buổi chiều. Về sau người ta duùng điển nầy để chỉ chuyện tình ái
Tại Đông phương, hình ảnh người vợ trông chồng hóa đá, được các dân tộc cụ thể hóa qua hình ảnh Núi Vọng Phu như ở Trung Quốc, Nam Dương, Việt Nam...
Ở Nam Dương, tại đảo Bornéo, có núi Mont Kinabalu (4.095m) là Hòn Vọng Phu nổi tiếng tại vùng Đông Á (Mã Lai- Nam Dương- Brunei)
Ở Việt Nam, có hai địa danh được gọi là Hòn Vọng Phu:
- Một ở tỉnh Lạng Sơn - Nàng Tô Thị (hình trái)
-Một ở tỉnh Bình Định - Núi Bà (hình phải)

 Từ hình ảnh đau thương và cảm động của người chinh phụ chờ chồng hóa đá này, các văn, thi sĩ thể hiện qua nhiều hình thái: Nhạc, Thơ, Tuồng... làm phong phú và đa dạng các bộ môn văn học nghệ thuật nước nhà
1.- Về âm nhạc, nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996-Hình phải), vốn từ miền Bắc vào ở trong miền Nam rất sớm, năm1941. Ông là một trong các nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhac Việt Nam, từ thập kỷ 30 của thế kỷ trước. Theo tài liệu viết của bác sĩ Phạm Anh Dũng thì khoảng năm 1943, tại tỉnh Bến Tre, ông viết bản nhạc Hòn Vọng Phu 1, bằng âm điệu gần gũi âm giai Ngũ cung của dân ca Việt Nam với ảnh hưởng từ Chinh Phụ Ngâm, thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn mà Đoàn Thị Điểm, đã dịch ra chữ Nôm. Sau đó, ông viết tiếp Hòn Vọng Phu 2 (Ai xuôi vạn lý 1946), Hòn Vọng Phu 3 (Người chinh phu về 1947). Đây là những bản nhạc hay nhất của nền âm nhạc Việt Nam.

2.- Về cải lương, có vỡ tuồng tâm lý xã hội Hòn Vọng Phu, do Trung Tâm Làng Văn, sản xuất tháng 6 năm 2006. Đây là một việc làm rất đáng ca ngợi, nhất là nhằm phục vụ giới thưởng ngoạn của thế hệ thứ 2 của cộng đồng người Việt hải ngoại. Mong rằng, Trung Tâm Làng Văn tiếp tục, các vở tương tự, kế tiếp.

3.- Về thơ chữ Hán, có bài hai bài Vọng Phu Thạch của Cao Bá Quát Và Nguyễn Du

Từ sự tích chuyện Trầu Cau, Thiếu Phụ Nam Xương... đến Hòn Vọng Phu, quả thật người Việt ta, rất đáng tự hào về sự thủy chung của các truyện truyền kỳ lịch sử của chính mình vậy.

***


Quên Đi xin phỏng dịch cùng Thầy và Anh Chị hai bài "Vọng Phu Thạch" của Cao Bá Quát và Nguyễn Du: 

望夫石
Vọng Phu Thạch


獨立山頭第一峰,Độc lập sơn đầu đệ nhất phong,
朱凋粉謝為誰容。Chu điêu phấn tạ vị thuỳ dung ?
音書久斷人何處,Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ ?
天海無涯路幾重。Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng ?
血淚煙和明月濕,Huyết lệ yên hoà, minh nguyệt thấp,
香鬟雲跡綠苔封。Hương hoàn vân tích lục đài phong.
天荒地老情猶昨,Thiên hoang địa lão tình do tạc
夜夜敲殘壁古鐘。Dạ dạ xao tàn bích cổ chung.
高伯适                   Cao Bá Quát

Dịch Thơ:

Đá Vọng Phu

Chơ vơ một bóng đỉnh non cao
Son phấn tàn phai bởi lẽ nào
Sông núi người đâu thư chẳng thấy
Biển trời không bến biết phương nao
Khói nhoà máu lệ vầng trăng khóc
Hương tóc đường mây rêu phủ bao
Đất cỗi trời hoang bày thuở trước
Chuông đêm tắt lịm thấy nao nao

Quên Đi
***
望夫石                     Vọng Phu Thạch

石耶人耶彼何人? Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
獨立山頭千百春。 Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
萬劫杳無雲雨夢, Vạn kiếp liểu vô vân vũ mộng,
一貞留得古今身。 Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
淚痕不絕三秋雨, Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ
苔篆長銘一段文。 Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
四望連山渺無際, Tứ vọng liên sơn diểu vô tế,
獨教兒女擅彝倫。 Độc giao nhi nữ thiện di luân
阮攸                          Nguyễn Du

Dịch Thơ:

Đá Vọng Phu 

Là đá hay người đích thực ai
Đầu non một bóng đứng trông hoài
Kiếp phần mờ mịt vu sơn chẳng
Giữ phận sáng ngời trinh tiết thay
Mưa đổ ba thu còn lệ ngấn
Văn xưng một đoạn dấu rêu dày
Mịt mùng bốn phía non liền núi
Gương sáng truyền lưu đến tận nay

Quên Đi
***

 Đỗ Chiêu Đức xin phỏng dịch hai bài "Vọng Phu Thạch" của Cao Bá Quát và Nguyễn Du: 

... Đá Vọng Phu nhớ thương thổn thức,
Tay bồng con non nước vời trông.
Xa xa mặt biển mênh mông,
Đầu non tượng đá tỏ lòng tiết trinh !... 

Đó là một vế Song thất Lục bát trích trong bài " Nước Tôi " của một Thi sĩ Tiền Chiến: Nguyễn Văn Cổn, mà tôi được học thuộc lòng từ nhỏ. Bây giờ đọc lại vẫn còn xúc động, gởi đến quý vị đọc trước khi tìm hiểu nghĩa của 2 bài Vọng Phu Thạch mà Thầy Lộc đã diễn nôm...

Bài 1: Của Cao Bá Quát 

Nghĩa bài thơ:


Đứng lẻ loi trên đầu núi, xứng danh là ngọn núi hạng nhất ở đây. Son đã tàn phấn cũng đã phai rồi còn điểm trang cho ai nữa đây? Âm hao thư tín đã bặt tin lâu rồi, giờ thì chàng ở nơi nao? Trời biển ngút ngàn mênh mông không bờ không bến, Máu lệ hòa theo khói sóng làm nhòa ướt cả vầng trăng. Tóc mây giờ cũng dã dượi vì bị phủ kín bởi rêu xanh. Mãi cho đến lúc trời già đất cỗi tình nầy vẫn tha thiết như ngày hôm qua, Đêm đêm cứ âm ỉ vổ vào vách đá như tiếng chuông tàn trong cổ tự. 

Diễn nôm: 

Đá Vọng Phu

Chơ vơ đầu núi dáng ai đang,
Phấn nhạt son phai chẳng điểm trang.
Vắng bặt tin thơ người mấy kiếp,
Mênh mông trời nước lộ bao đàng.
Lệ hòa khói sóng nhòa trăng ướt,
Tóc rối rêu xanh phủ mặt nàng.
Đất cỗi trời già tình vẫn thắm,
Đêm đêm âm ỉ tiếng chuông vang!
 

Đỗ Chiêu Đức
***
Bài 2 Của Nguyễn Du

Nghĩa bài thơ

Người ư, đá ư, nàng là ai đây? Đứng chơ vơ một mình trên đầu núi đã hàng trăm hàng ngàn Mùa Xuân rồi! Muôn kiếp vẫn không còn mơ gì đến chuyện mây mưa nữa. Một thân trinh trắng vẫn còn giữ được mãi từ xưa đến nay. Ngấn lệ không vơi như mưa thu dai dẵng suốt ba thu, Vết rêu phủ vòng vèo như bản văn trạm trổ trên đá. Quay nhìn bốn phía núi liền núi biển mênh mông không thấy chân trời,
Luân thường lễ giáo sao lại chỉ riêng giới nữ lưu phải gìn giữ mà thôi?! 

Diễn Nôm:

Hòn Vọng Phu

Nàng là ai, là người hay đá?
Chiếc bóng đầu non ngàn năm trường.
Muôn kiếp chẳng mơ niềm ân ái,
Một thân còn giữ trắng như gương.
Lệ hằn chẳng dứt thu mưa gió,
Rêu phủ không thôi nét đoạn trường.
Bát ngát bốn bề non núi thẳm,
Sao riêng nhi nữ chịu luân thường?!


Đỗ Chiêu Đức
***
Núi Vọng Phu


Sừng sửng dáng người tựa bế con
Ngóng trông chinh phụ đứng đầu non
Son tàn,phấn nhạt không trang điểm
Ngước mặt nhìn xa chẳng mỏi mòn
Trời biển bao la đâu bến đợi ?
Tóc mây rũ rượi dấu rêu còn !
Lệ nhoà theo sóng mờ trăng chiếu
Tha thiết tình nàng dạ sắc son.

Song Quang

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

Đề Trấn Vũ Miếu 題鎮武廟 - Cao Bá Quát



題鎮武廟             Đề Trấn Vũ Miếu  

惜遊無計復登樓 Tích du vô kế phục đăng lâu, 
 斜倚欗杆望碧流 Tà ỷ lan can vọng bích lưu. .
君亦多情到煙水 Quân diệc đa tình đáo yên thuỷ
我猶遺恨滿汀洲 Ngã do di hận mãn đinh châu
日斜天地雙蓬鬢 Nhật tà thiên địa song bồng mấn
春凈江湖一白鷗 Xuân tĩnh giang hồ nhất bạch âu
遙想當年行樂處 Dao tưởng đương niên hành lạc xứ
殘花猶自故宮頭 Tàn hoa do tự cố cung đầu.

高伯适                Cao Bá Quát
***
Dịch Nghĩa: 

 Miễu Trấn Vũ Đề Thơ

Không thể dạo chơi được thật là tiếc đành quay lên lầu
Nghiêng người dựa vào lan can nhìn dòng nước xanh
Với khách nhiều tình cảm thì đến vùng khói nước
Còn riêng ta mang oán hận phủ đầy doi đất
Giữa đất trời, ánh nắng nghiêng soi hai bên tóc mai phai rối
Trên sông hồ, mùa xuân về yên lặng chỉ có một con chim âu trắng
Giờ này sao lại tưởng đến thú vui nơi chốn xa kia
Bao cánh hoa phải chịu phai tàn cũng bắt nguồn từ cung điện xưa cũ đó.

Dịch Thơ:

Miễu Trấn Vũ Đề Thơ 

Chẳng thể dạo chơi trở lại lầu
Lan can tựa ngắm nước xanh màu
Đa tình mây nước nhiều mơ mộng
Lắm oán bãi doi nặng gánh sầu
Chiều nắng xế nghiêng trơ mái tóc
Hồ xuân lặng lẽ đón chim âu
Nay còn tưởng đến miền vui thú
Điện cũ hoa từng đổ giọt châu. 

Quên Đi
***
Miễu Trấn Vũ Đề Thơ 

Bước lên lầu, dạo xa khó được  
Bên lan can mắt ngước nhìn dòng  
Đa tình khách ngắm khói sông  
Riêng ta sầu chất mênh mông bãi dài 
Đất trời chiều nhuộm phai làn tóc 
Vui xưa hồi tưởng hằng lâu 
Hoa tàn cung cũ nghe đau đớn lòng 

Mailoc  
10 – 16 -14
***
Đề Thơ Ở Trấn Vũ Miếu


Dừng chân dạo bước, trở lên lầu
Đứng tựa lan can ngắm trước sau
Mặc kẻ say sưa nhìn khói sóng
Riêng ta phiền muộn ngó bờ dâu
Đất trời nắng nhuộm phai màu tóc
Sông nước xuân về lẻ bóng âu
Chạnh xót phận người cung nữ cũ
Hoa tàn trong điện ngọc cung lầu. 

Phương Hà
( 17/10/2014 )
***
Miễu Trấn Vũ Đề Thơ 

Tiếc quá làm sao dạo bước chơi
Tựa lan can ngắm nước dòng trôi
Khách đa tình cảm hòa mây khói
Ta nặng lòng sầu ngập bãi doi
Sợi tóc bạc màu bay lạc lỏng
Chim âu lẽ bạn đậu đơn côi
Thú vui nào để vào tâm tưởng
Cung điện pha nhiều máu lệ rơi. 
 
Nguyễn Đắc Thắng 
***
Đề Miếu Trấn Vũ


Tiếc không dạo được lại lên lầu,
Nghiêng tựa lan can ngắm nước sâu.
Bạn kẻ đa tình sông nước khói,
Tôi người ôm hận bãi voi sầu!
Chiều tà tóc rối nghiêng trời đất,
Xuân vắng chim âu trắng nước hồ !
Xa nhớ năm nào nơi lạc thú,
Hoa tàn còn ngỡ cố cung đầu!


Lục bát: 

Lên lầu tiếc chẳng dạo chơi,
Tựa lan can ngắm nước trời biếc xanh.
Đa tình sông nước như anh,
Hận lòng tôi mãi phủ xanh bãi sầu!
Đất trời tóc nắng bạc mầu,
Trắng tinh một cánh chim âu lạc loài!
Gợi niềm xa nhớ vui chơi,
Hoa tàn còn ngỡ tự thời cung xưa!
 

Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

Xuân Dạ Độc Thư 春夜讀書 - Cao Bá Quát (1809 - 1854)

Không dám lạm bàn chuyện xưa nay, cũ mới, thực hư, danh lợi, anh hùng ̣chỉ là muốn được chia xẻ với thân quen, với tấm lòng qúy mến của tôi, chút thú vui ngồi đọc sách xưa trong một đêm trời đất mới vào xuân ̣ PKT 03/29/2018


Xuân Dạ Độc Thư

Kim nhân bất kiến cổ thời xuân
Trù trướng kim xuân đối cố nhân
Thế sự kỷ hà kim bất cổ
Nhãn tiền mạc nhận huyễn vi chân
Kỷ đa danh lợi chung triêu vũ
Vô số anh hùng nhất tụ trần
Tự tiếu tục câu phao vị đắc
Nhĩ lai huề quyển thái chuân chuân 

Cao Bá Quát (1809 - 1854)

***
Đọc Sách Đêm Xuân
Người nay không thấy thời xuân trước /Xuân mới người xưa luống ngậm ngùi /Thế sự bao điều nghĩ là mới mà thực ra là đã cũ /Trước mắt chớ vội nhầm những chuyện hư là chuyện thực / Lòng ham những danh những lợi đã tiêu tan sau cơn mưa sáng tạnh / Vô số anh hùng trước đây đã mai một giờ chỉ còn là một đống cát bụi trong cõi hồng trần / Tự cười mình vẫn còn vướng mắc chút thói tục trần gian chưa buông bỏ được / Gần đây  mỗi khi cầm quyển sách lên đọc là lại suy nghĩ đến mê mẩn miên man  

Người nay không thấy thời xuân cũ 
Xuân mới người xưa luống nghẹn lời 
Mới cũ đổi thay như mộng ảo
Thực hư lẫn lộn giống trò chơi 
Đâu nào danh lợi  cơn mưa sáng 
Bao nả anh hùng đống bụi đời 
Chút thói trần gian còn vướng mắc 
Đêm xuân đọc sách những vui thôi 

Phạm Khắc Trí
***
1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ:

春夜讀書                  Xuân Dạ Độc Thư

今人不見古時春, Kim nhân bất kiến cổ thời xuân 
惆悵今春對古人。 Trù trướng kim xuân đối cổ nhân. 
世事幾何今不古, Thế sự kỷ hà kim bất cổ, 
眼前莫認幻為真。 Nhỡn tiền mạc nhận huyễn vi chân 
幾多名利終朝雨, Kỷ đa danh lợi chung triêu vũ, 
無數英雄一聚塵。 Vô số anh hùng nhất tụ trần. 
自笑俗拘拋未得, Tự tiếu tục câu phao vị đắc, 
邇來攜卷太諄諄。 Nhĩ lai huề quyển thái truân truân.
高伯适                     Cao Bá Quát

2. Chú Thích:

* Độc Thư : là Xem Sách mà cũng có nghĩa là Học Hành nữa, vì ngày xưa Xem Sách tức là đang Học Tập đó.
* Trù Trướng : là Do dự, Ngập ngừng, là Ngơ Ngẩn.
* Huyễn Vi Chân : là Lấy ảo làm thực, lấy huyễn hoặc làm thực tế.
* Triêu Vũ : là Mưa buổi sáng.
* Tụ Trần : làBụi phủ, Bụi mờ.
* Tục Câu : Tục ở đây có nghĩa là Thói Thường, nên Tục Câu có nghĩa là những câu nệ tầm thường, những thói xấu tầm thường khó bỏ. PHAO VI ĐẮC là Không dứt bỏ được. 
* Nhĩ lai : là Gần đây, là Dạo nầy.
* Huề Quyển : là Cầm quyển sách lên, ý chỉ Học tập. 
* Truân Truân : là Cần mẫn, Chăm chỉ.

3. Nghĩa Bài Thơ:
Đọc Sách Đêm Xuân
Người của ngày hôm nay không thấy được mùa xuân của thuở xưa, nên giờ ta đang ngẩn ngơ trước mùa xuân hôm nay mà đối mặt với người xưa trên sách vở. Chuyện đời biết như thế nào mà nói, vì hôm nay chứ không phải ngày xưa nữa, nên đừng có nhận lầm những cái huyễn hoặc trước mắt là thực tế ( mà phải phân biệt cho rõ ràng ). Biết bao nhiêu danh lợi chỉ đến trong đêm như một giấc mộng, rồi kết thúc bằng một trận mưa sáng trôi đi tất cả, cũng như vô số anh hùng tụ hợp rồi cũng tan biến như lớp bụi mờ. Ta tự cười mình vì cái tật xấu xưa nay không bỏ đi được, nên gần đây hễ cứ cầm quyển sách lên là cứ đọc một cách chăm chỉ như ngày xưa vậy !

Biết được rằng Xưa không phải là Nay nữa, Xuân xưa khác xuân nay và Chuyện xưa cũng khác với Chuyện ngày nay, bằng chứng là biết bao danh lợi chỉ thoáng qua như giấc mộng trong đêm, anh hùng hào kiệt rồi cũng tan biến như bụi trần. Biết thế, mà vẫn cứ thế, hễ cầm được quyển sách lên là lại cứ muốn chăm chỉ mà học tập theo gương của người xưa, để làm gì ?! Vì rốt cuộc cũng có được gì đâu ?! Cao Bá Quát vừa cười mình ngớ ngẩn có thói quen xấu khó bỏ, lại vừa đề cao mình là người luôn luôn chăm chỉ học tập mặc dù biết rằng đọc sách chỉ là nhại lại những cái bã của cổ nhân!

4. Diễn Nôm:

Xuân Đọc Sách Xưa

Người nay chẳng thấy được xuân xưa,
Ngơ ngẩn xuân nay trước cổ thư.
Bao nả chuyện đời kim khác cổ,
Chớ lầm trước mắt thực làm hư.
Biết bao danh lợi theo mưa sáng,
Vô số hùng anh khuất bụi mờ.
Thói xấu cười mình không bỏ được,
Hễ cầm quyển sách cứ khư khư!

Đỗ Chiêu Đức