Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Du. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Du. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Góc Việt Thi: Trệ Khách 滯客 - Nguyễn Du


Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học. Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú tài). Ông lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn và là con gái quan ngự sử Đoàn Nguyễn Thục. Ông cũng được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.

Đến năm 1786, khi Tây Sơn Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất dẹp chúa Trịnh, hai anh lớn là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều bị bệnh chết, Nguyễn Du về Quỳnh Côi lánh nạn, ở đó suốt mười năm, thời gian này được gọi là thời kỳ "Mười năm gió bụi (1786-1796)". Năm 1791, một đại hoạ xảy ra: Nguyễn Quýnh, anh cùng cha khác mẹ của ông, người đồng chí rất thân yêu, nổi lên chống nhà Tây Sơn, đã bị bắt, bị giết, và làng Tiên Điền bị tàn phá, dinh thự nhà họ Nguyễn bị đốt hết. Năm 1795, vợ ông sinh được Nguyễn Tứ con thứ tư, người con duy nhất sống sót, thì bà qua đời. Nguyễn Du quá đau khổ vì vợ mất, lại ôm trên tay một đứa con mất mẹ còn rất nhỏ. 

Ông thực sự đã đến bước đường cùng  Ở lại, nương nhờ anh vợ thì không còn lý do, về quê mình thì dù anh Nguyễn Đề cũng làm quan cho Tây Sơn, nhưng đang đi sứ Trung Quốc chưa biết bao giờ về (đi sứ lần thứ 2, 1795). Nguyễn Du nấn ná ở lại Quỳnh Côi chưa đi ngay vì đợi cho con cứng cáp hơn, và có ý chờ Nguyễn Đề về để có chỗ dựa, trong tình thế quân Tây Sơn săn đuổi rất ráo riết những người chống đối (Vào năm 1796, Nguyễn Du dự định đi Nam, bị quận công Nguyễn Thận bắt giam ở Nghệ An, chính Nguyễn Đề đi sứ về kịp, đã cứu được em). Khi sắp rời hẳn Quỳnh Côi, trong khung cảnh êm ả của đồng bằng sông Hồng, nhưng cõi lòng tràn đầy bão tố, Nguyễn Du viết bài thơ TRỆ KHÁCH 滯客, bài thơ cuối cùng của thời kỳ Mười năm gió bụi. (Theo: Thi Viên được gởi bởi PH@ vào 10/06/2017).


滯客                         TRỆ KHÁCH

滯客淹留南海中, Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung,
寂寥良夜與誰同。 Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng ?
歸鴻悲動天河水, Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,
戍鼓寒侵夏夜風。 Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.
人到窮途無好夢, Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
天回苦海促浮蹤。 Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
風塵隊裡留皮骨, Phong trần đội lý lưu bì cốt,
客枕蕭蕭兩鬢蓬。 Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.

* Chú thích:

- TRỆ KHÁCH 滯客 : Người khách còn trì trệ, nấn ná chưa chịu rời đi; Nguyễn Du tự ví mình khi vợ mất mà còn nấn ná ở lại nhà bên vợ.
- YÊM LƯU 淹留 : YÊM 淹 là Ngâm, là Ngập chìm trong nước. Nên YÊM LƯU 淹留 là "Cố lưu lại thêm một thời gian nữa".
- TỊCH LIÊU 寂寥 : là Tịch Mịch 寂寞 và Cô Liêu 孤寥; Có nghĩa : Yên lặng vắng vẻ và Cô đơn chỉ có một mình.
- THIÊN HÀ 天河 : là Dòng sông trên trời, chỉ dãy Ngân Hà.
- THÚ CỔ 戍鼓 : Tiếng trống điểm sang canh của những người lính thú.
- CÙNG ĐỒ 窮途 : là Con đường cùng, là Bước đường cùng.
- XÚC PHÙ TUNG 促浮蹤 : XÚC là Thôi thúc; PHÙ là Trôi nổi; TUNG là Tung tích, là dấu chân; Nên XÚC PHÙ TUNG là "Thôi thúc những bước chân phiêu bồng trôi nổi còn chưa biết phải đi về đâu!".
- PHONG TRẦN ĐỘI LÝ 風塵隊裡 : là Trong hàng ngũ (trong đám) của những người phong trần chìm nổi trong gió bụi cuộc đời.
- TIÊU TIÊU 蕭蕭 : Ở đây chỉ (hai bên tóc mai) đã hoa râm, lốm đốm bạc.

* Nghĩa bài thơ:

NGƯỜI KHÁCH CÒN NẤN NÁ CHƯA RỜI

Người khách trì trệ vẫn còn nấn ná mãi ở vùng đất Nam hải nầy; Trong đêm thanh cô đơn vắng vẻ chỉ một thân một mình không người cùng bầu bạn. Tiếng con chim nhạn bi thương bay về làm kinh động cả nước trên sông Ngân hà. Tiếng trống điểm canh của những người lính thú như thấm đậm thêm cái gió lạnh của đêm hè. Con người đã đến bước đường cùng thì không còn gì là mộng đẹp nữa; Trời đã xoay bể khổ trở lại nên lại thôi thúc bước chân trôi nổi của kẻ phiêu bồng. Trong đám của những kẻ lăn lóc phong trần gió bụi chỉ còn lại có da bọc xương và lòa xòa bên gối khách là hai làn tóc mai đà lốm đốm bạc mà thôi!

* Diễn Nôm:

TRỆ KHÁCH

Một khách biển Nam trì trệ mãi,
Đêm thanh vắng lặng biết ai cùng ?
Nhạn về khuấy động sông Ngân chảy,
Trống giục lao xao gió lạnh lồng.
Người đến đường cùng không mộng đẹp,
Trời xoay biển khổ chẳng đường trông.
Phong trần một kẻ xương da bọc,
Bên gối tóc mai đã trắng ngần!

Lục bát:

Biển Nam trì trệ khách xa,
Đêm thanh vắng lặng ai là cảm thông?
Nhạn về lay động sông Ngân,
Trống canh đêm hạ gió lành lạnh đưa.
Người cùng mộng đẹp dần thưa,
Trời xoay biển khổ chân đưa phiêu bồng.
Xương da trong bước phong trần,
Lơ thơ bên gối trắng ngần tóc ma!
(Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm)

Qủa là tâm sự buồn thương yếm thế của một kẻ sĩ trong bước phong trần khi còn nổi chìm chưa đắc chí ở chốn quê người đất khách. Tâm tình của Nguyễn Du đã lắng đọng đến mức thấp nhất trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi" nầy. Nhưng rồi, sau cơn mưa trời lại sáng, bước đường tương lai sau nầy sẽ rộng mở hơn!...

Hẹn bài dịch tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

Tiên Điền Nguyễn Du Và Thơ Hoàng Hạc Lâu Khi Đi Sứ TQ

I- Lược sử:

Tiên sinh Nguyễn Du (1766 - 1820). 

Người làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Con Ô. Bà Nguyễn Nghiễm - Trần thị Tần. Ông là con giòng thứ .
Nguyễn Nghiễm làm Tham Tụng, Quận Công dưới triều Lê Trung Hưng.
Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên Ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản. Sau đó, Nguyễn Khản bị bãi chức.

Nguyễn Du được một người thân của cha đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học, thi đậu Tam trường.
Nguyễn Du có vợ là bà Đoàn Thị Huệ.
Năm (1802), Gia Long lên ngôi, Nguyễn Du được bổ làm Tri huyện Phù Dung, trấn Sơn Nam; tháng 11 thăng làm Tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam, Hà Tây.
Năm (1813) được thăng hàm Cần Chánh điện học sĩ, cử đi sứ Trung Quốc, làm Chánh sứ.
Khi đi sứ sang nhà Thanh, ngang qua Hoàng Hạc Lâu, nhân dịp Cụ Nguyễn Du đã viếng ngôi lầu nổi tiếng ấy. Nhờ thế mà ta được đọc thêm một bài thơ Hoàng Hạc Lâu bất hủ của Cụ.

Năm (1814) Cụ trở về nước, có tập thơ “Bắc Hành tạp lục” và được vua Gia Long thăng chức Hữu Tham tri bộ Lễ.
Ông mất ngày ( 6 - 9 - 1820), tại kinh thành Huế, lúc 55 tuổi, đời vua Minh Mạng.
II - Sự Tích HHLvà Bài Thơ HHL Của Thôi Hiệu
Hoàng Hạc Lâu ngôi tháp lịch sử, cất trên vực đá Hoàng Hạc của núi Xà Sơn (Đồi rắn) bên bờ sông Dương Tử, thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc, xây từ đời Tam Quốc 223 TL.
Tên gọi " Lầu Hoàng Hạc " do truyền thuyết Ô. Phí Văn Vi, tu sĩ đắc đạo thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thủy.
Một hôm, Tiên Ông bay ngang Vũ Hán và dừng hạc lại trên "Đồi Rắn" để ngắm cảnh đẹp. Bên là cảnh đẹp hùng vĩ của Dương Tử giang và bên kia là Ngũ Hồ chìm trong sương lam diễm ảo.
Người đời sau bèn xây lên một tháp lầu đặt tên là Hoàng Hạc Lâu tại nơi Tiên Ông cưỡi hạc đã đáp và bay đi...
Đến nay suốt 1762 năm đã có 12 lần bị thiêu hủy, 12 lần xây cất lại, mỗi lần lại cao hơn và có nhiều tầng hơn.

Năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết, năm 1985 khánh thành. Tháp được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy.
Hoàng Hạc Lâu bây giờ nằm trong Công Viên Hoàng Hạc, và cách vị trí cũ 1 km, thu hút du khách trong và ngoài nước.

II. Thôi Hiệu (704 – 754) 


Ở Biện Châu, đỗ tiến sĩ năm (723)
Bài thơ HHL được viết khi tác giả đến thăm Lầu Hoàng Hạc và dán trên vách.
Sau đây: Hoàng Hạc Lâu là bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu, thi sĩ đời Đường ngang thời với Lý Bạch...

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
T.H.

Lầu Hoàng Hạc

Cưỡi hạc người xưa bóng mờ mịt / mịt mờ
Để lầu Hoàng - Hạc đứng trơ vơ
Hạc vàng một thoáng mù tăm tích
Mây trắng ngàn năm mãi lửng lơ
Sông biếc Hán - Dương cây diễm ảnh
Bãi xanh Anh - Vũ cỏ ươm mơ
Chiều rồi quê cũ phương nào nhỉ?
Khói sóng ơ hờ... dạ ngẩn ngơ!!
(Nguyễn Minh Thanhcẩn dịch)

III - Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của cụ Nguyễn Du: Trong Bắc Hành Tạp Lục có rất nhiều bài thơ...
Dưới đây là thơ HHL:

黃鶴樓
何處神仙經幾時,
猶留仙跡此江湄?
今來古往廬生夢,
鶴去樓空崔顥詩。
檻外煙波終渺渺,
眼中草樹尚依依。
衷情無限憑誰訴,
明月清風也不知。

Hoàng Hạc Lâu

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì?
Do lưu tiên tích thử giang mi?
Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng,
Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi.
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y.
Trung tình vô hạn bằng thùy tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
(Nguyễn Du)

Dịch nghĩa:
Lầu Hoàng Hạc

Thần tiên đi đến chốn nào và đã trải qua bao nhiêu đời,
Dấu tiên còn để mãi trên bến sông này.
Nay lại xưa qua (đều chẳng khác) mộng Lư Sinh,
Hạc đi mất lầu trống không (chỉ còn) thơ của Thôi Hạo.
Ngoài lan can khói sóng đều mờ mờ thăm thẳm,
Trong tròng mắt cây cỏ vẫn xanh mướt như xưa.
Mối tình ấp ủ trong lòng thật chứa chan mà không biết bày tỏ cùng ai,
Trăng sáng gió trong cũng không hiểu thấu.

Dịch thơ:
Lầu Hoàng Hạc

Tiên đi đi mãi tự bao giờ?
Dấu cũ còn lưu bến đứng trơ!
Mộng tỉnh Lư Sinh đời thấm thoát
Thơ đề Thôi Hạo hạc mờ mờ
Nước mây trắng xóa trông vời vợi
Cây cỏ xanh um vẫn phất phơ
Chan chứa lòng thành ai tỏ với
Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ
Nguyễn Minh Thanh phụng dịch

IV - Vài suy nghĩ về Truyện Kiều: Ưu - Khuyết

A - Ưu Điểm:

Truyện Kiều của Cụ 3254 câu, có nhiểu câu đi vào dân gian thành: tục ngữ, thành ngữ, ca dao. Như là:

- Cho hay muôn sự tại trời
- Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn
- Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai
- Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
- " Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài "
- " Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về "
...................................................
....................................................
Có quá nhiều người khen Truyện Kiều, nói thêm bằng thừa...

B - Khuyết Điểm:

Sau đây xin có thiển ý về khuyết điểm của Truyện Kiều như vầy:
Kể từ câu: 2776 - 2792...
Khúc thơ nầy Cụ nhiều lần dùng chữ: " Chàng ", thấy không thuận vai vế trong gia đình . Như:
- " Khóc than kể hết niềm tây
Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa ?"
- " Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng !"
- "Phận sao bạc bấy Kiều nhi !
Chàng Kim về đó con thì đi đâu ? "
........................................................
Phương diện là nhạc phụ, nhạc mẫu mà gọi chàng rể là " Chàng", thấy không ổn chút nào. Thay vì,
- " "Cháu, ( Con )" ôi biết nỗi nước này cho chưa ?"
- "Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
- "Chàng Kim về đó con thì đi đâu? "

Thay vì:
- "Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
- "Kim " Nhi " về đó con thì đi đâu? "

V - Tâm sự cụ Nguyễn Du:

Có câu: " Văn tức là người ", ta thử đem ứng dụng vào cụ Nguyền Du xem sao.
Trong Kiều, đoạn Kiều khuyên Từ Hải ra hàng, Từ rằng:

" Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu "

Ở đây chữ " hàng thần lơ láo " mô tả rất đúng cái cung cách của một hàng thần: lơ láo lạc lõng. Có người cho rằng đây cũng là tâm sự của Cụ. Vì rằng:
" Tuy chỉ là một võ quan nhỏ tập ấm với người cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên sau khi đỗ tú tài, Nguyễn Du vẫn nghiễm nhiên là cựu thần nhà Lê. Ông cũng đã từng trốn ra Bắc theo Lê Chiêu Thống sang Tàu phục quốc, nhưng không thành "
Ngoài ra, có lần, Cụ bị vua Minh Mạng quở rằng: “Nhà nước dùng người cốt chọn người tài giỏi. Ngươi cùng Ngô Vỵ đã được cân nhắc lên hàng á khanh, biết thì thưa thốt, sao lại khoanh tay chỉ biết dạ dạ vâng vâng”.
Có thể niềm u uất này dính theo Cụ mãi cho đến chết?
Trong bài thơ " Độc Tiểu Thanh Ký ", hai câu kết phải chăng là tiếng than trầm cảm thống thiết của Cụ?!:

"Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
( Không biết hơn ba trăm năm sau,
Thiên hạ ai người khóc Tố Như? )

Có điều thú vị, ai cũng biết Nguyễn Du là đại thi hào, không thể nào sáng tác bài " Độc Tiểu Thanh Ký " lại sai " niêm luật ". Hai câu kết của ĐTTK hoàn toàn sai niêm luật.
Có phải Cụ cố ý để hậu sinh chú ý và suy nghĩ những u khuất của Cụ, rồi cảm thông nỗi niềm cho Cụ?
Dưới đây là bài ĐTTK và bài dịch:

Độc Tiểu Thanh Ký ( sai niêm luật 2 câu chót )

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Nguyễn Du)

Dịch thơ:

Độc Tiểu Thanh Ký

Hoa kiểng hồ Tây hoá bãi hoang
Bên song bi cảm đọc thư tàn
Hữu thần son phấn chôn còn hận
Vô mệnh văn chương đốt chẳng tan
Kim cổ oán hờn trời khó hỏi
Phong lưu oan khuất tớ ngùi mang
Ba trăm năm nữa... làm sao biết
Ai khóc cho " Ta " nỗi khuất oan?!
(Nguyễn Minh Thanh phụng dịch)

VI - Phần kết:

Cụ Nguyễn Du đã để lại di sản văn chương đồ sộ:

Thơ chữ Hán có 3 tập thơ:
- Thanh Hiên thi tập.
- Nam Trung tạp ngâm
- Bắc Hành tạp lục
Thơ chữ Nôm:
- Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh)
- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh ...

Nguyễn Du là thi nhân lỗi lạc, là đaị thi hào cuả dân tộc với nhiều thể loại sáng tác.
Với người viết, sự nghiệp cụ Nguyễn Du, bấy giờ quả là hiển hách, rạng rỡ. Tuy nhiên, trong những tác phẩm của Cụ thường có những câu u uất:

- Trung tình vô hạn bằng thùy tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.( HHL )
- Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấpTố Như. ( ĐTT K )
- Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu
.......................................
Làm cho hậu sinh ưu tư...mãi......

Thưa cụ Nguyễn Du, bây giờ là hơn 200 năm sau, năm mất của Cụ ( 1820 ), chưa tới 300 năm, có Hậu bối đang đêm thao thức về Cụ, nghĩ ngợi ngậm ngùi nỗi u uất của Cụ.
Với Cụ, có những khuất chí riêng tây. Nhưng phương danh Đại Thi Hào Nguyễn Du trường tồn vĩnh cửu với núi xinh sông gấm Hồng Lĩnh, Lam Giang, nơi quê hương của Cụ. Cũng như với non nước Lạc Hồng.
Cho đến nay hơn 200 năm sau, chưa có một hậu sinh nào chạm được gót chân ngà của Cụ.
Sau đây, hậu sinh có bài thơ thành kính tưởng niệm Cụ Nguyễn Du:

Tiên Điền Nguyễn Du

Con nhà thế phiệt giống trâm anh
Côi cúc lao đao chuyện học hành
Nương tựa thân bằng lo sự nghiệp
Dồi mài kinh sử lập khoa danh
Tú Tài đổ đạt niềm vinh hạnh
Tri Phủ vẻ vang chí cánh thành
Đi Sứ bao phen tròn trọng nhiệm
Thi văn diễm tuyệt nét đan thanh
(Nguyễn Minh Thanh cẩn bút)

Riêng, hậu sinh cũng có nỗi niềm Núi Sông... muốn tỏ rõ cùng Cụ Tiên Điền Nguyễn Du qua bài thơ:
Chạnh Lòng
Bèo giạt trời Tây mãi chạnh lòng
Ngoảnh nhìn Sông Núi ngập mưa giông
Sâu dân đất hỡi: - bầy nhiều quá
Mọt nước trời ơi: - lũ rất đông
Cỡi cổ thứ dân thu miếng ruộng
Đè đầu lao động bớt tiền công
Tàu Man tàm thực không nghơi nghỉ
Tổ Quốc đang bờ họa diệt vong...!!
(Nguyễn Minh Thanh)

Sau hết, hậu sinh kính viếng Cụ Tiên Điền, bậc tiền bối đức trọng tài cao, văn chương tót chúng qua Câu Đối:
- Hồng Lĩnh non xanh hảo sinh trang nhân kiệt.
- Lam Giang nước biếc hàm dưỡng xứ địa linh.

Nguyễn Minh Thanh biên soạn
(GA, 2023 - 7 - 19)

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2024

記夢 Ký Mộng - Nguyễn Du


Đây là bài thơ cụ Nguyễn Du làm trong khoảng thời gian "Mười năm gió bụi (1786-1795)". Theo gia phả thì người vợ đầu của Nguyễn Du là con gái của ông Đoàn Nguyễn Thục, em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn, đã mất ở Quỳnh Hải, Thái Bình. Lúc này Nguyễn Du đang ở Hà Tĩnh chiêm bao thấy vợ. Ông nghĩ lúc sống bà chưa biết đường làm sao tìm được ông trong giấc chiêm bao. Tỉnh ra nhớ đến giấc mộng mà nghĩ thương cho vợ đã không ngại hiễm nguy vất vả lặn lội đến thác mộng cho mình, nên làm bài thơ nầy để bày tỏ nỗi lòng của mình đối với người đầu ấp tay gối của những năm xưa.

記夢                 Ký Mộng

逝水日夜流, Thệ thuỷ nhật dạ lưu,
遊子行未歸。 Du tử hành vị quy.
經年不相見, Kinh niên bất tương kiến,
何以慰相思。 Hà dĩ uỷ tương ti (tư).
夢中分明見, Mộng trung phân minh kiến,
尋我江之湄。 Tầm ngã giang chi mi.
顏色是疇昔, Nhan sắc thị trù tích,
衣飭多參差。 Y sức đa sâm si.
始言苦病患, Thuỷ ngôn khổ bệnh hoạn,
繼言久別離。 Kế ngôn khổ biệt ly.
帶泣不終語, Đới khấp bất chung ngữ,
彷彿如隔帷。 Phảng phất như cách duy.
平生不識路, Bình sinh bất thức lộ,
夢魂還是非。 Mộng hồn hoàn thị phi?
疊山多虎廌, Điệp sơn đa hổ trĩ,
藍水多蛟螭。 Lam thuỷ đa giao ly.
道路險且惡, Đạo lộ hiễm thả ác,
弱質將何依。 Nhược chất tương hà y?
夢來孤燈清, Mộng lai cô đăng thanh,
夢去寒風吹。 Mộng khứ hàn phong xuy.
美人不相見, Mỹ nhân bất tương kiến,
柔情亂如絲。 Nhu tình loạn như ty.
空屋漏斜月, Không ốc lậu tà nguyệt,
照我單裳衣。 Chiếu ngã đơn thường y!

阮攸                 Nguyễn Du
***
* Chú thích:

- 記夢 KÝ MỘNG: KÝ là Nhớ, là ghi. Nên KÝ MỘNG là "Nhớ Lại Giấc Mơ".
- 逝水 Thệ Thủy: THỆ là Chết, là Đi không trở lại, nên THỆ THỦY là Dòng nước chảy đi mất hút không trở lại.
- 經年 Kinh Niên: KINH là Đi qua, nên KINH NIÊN có nghĩa là Suốt cả năm. Đôi khi dùng để chỉ Nhiều năm qua, tương đương như từ Bao Năm.
- 慰 Ủy : Thăm hỏi, như ỦY Lạo; Ở đây có nghĩa là An Ủy, An Ủi.
- 江之湄 Giang Chi My: Bến của con sông; Bến nước.
- 疇昔 Trù Tích : là Như ngày xưa; là Vẫn như ngày nào.
- 衣飭 Y Sức: Y phục và Trang sức, chỉ sự ăn mặc.
- 參差 Sâm Si: là So Le; ở đây chỉ Lôi thôi, xốc xếch.
- 始言 Thủy Ngôn: Lời nói mở đầu; Lời nói trước tiên.
- 繼言 Kế Ngôn: Lời nói kế đó; Lời nói tiếp theo.
- 帶泣不終語 Đới khấp bất chung ngữ : Nghẹn ngào sùi sụt nói chẳng hết lời.
- 虎廌 Hổ Trĩ hay Hổ Trãi : Chỉ các loại thú dữ như cọp như beo...
- 蛟螭 Giao Ly: Thuồng luồng cá sấu, chỉ chung các loại thuỷ quái dưới sông.
- 弱質 Nhược Chất: là Thể chất yếu đuối, thường dùng để chỉ cơ thể của phụ nữ.
- 將何依 Tương Hà Y: Sẽ nương tựa vào cái gì; Biết trông cậy vào ai đây ?
- 漏 Lậu là Dột, là rò rỉ; ở đây chỉ "Ánh trăng tà chiếu LỌT vào trong phòng vắng (Không ốc lậu tà nguyệt 空屋漏斜月).
- 單裳衣 Đơn Thường Y: Chỉ Quần áo mỏng manh khi mặc để ngủ.

* Nghĩa bài thơ:

Nhớ Lại Giấc Mơ

Như dòng nước cứ đêm ngày chảy đi rồi mất hút, cũng như người du tử đi xa mãi vẫn chưa về. Biết bao năm qua không gặp mặt nhau, lấy gì để an ủi cho lòng thương nhớ nhau đây ? Rõ ràng là gặp nhau ở trong mơ, nàng đến tìm ta ở bên bờ sông nước. Nhan sắc thì vẫn như thuở nào, nhưng sao áo quần trông xốc xếch thế kia. Mở lời bằng những lời thở than bệnh hoạn, kế đến là bày tỏ nỗi nhớ thương ly biệt lâu ngày. Sùi sụt trong tiếng nấc nghẹn ngào nên nói không cạn lời, mường tượng như là bị ngăn cách bởi một bức màn thưa. Bình sinh nàng vốn chẳng biết đường đi, nên mộng hồn chẳng rõ là thực hay là hư ? Núi Tam Điệp nhiều hổ báo cọp beo; Sông Lam Giang lại lắm thuồng luồng cá sấu. Đường đi thật hiễm ác vô cùng, với bản chất yếu đuối của phái nữ nàng sẽ nương tựa vào ai đây ?... Ta mơ màng trong ngọn đèn côi thanh vắng, khi tỉnh lại thì gió thổi lạnh lùng. Nào có gặp được người đẹp nào đâu, càng khiến cho mối tình cảm trong lòng rối tợ tơ vò. Nhìn bóng trăng nghiêng nghiêng chiếu lọt vào phòng vắng chiếu cả lên thân áo mỏng manh mà ta đang mặc ngủ...

Tình cảm thật chân thành tha thiết, thê lương buồn thảm của một người chồng nhớ đến người vợ đã khuất bóng của mình; là mơ nhưng như thật "夢中分明見 Mộng trung phân minh kiến" : Thấy thật rõ ràng ở trong mơ; Tưởng thật nhưng lại là mơ "彷彿如隔帷 Phảng phất như cách duy : Chập chờn như là bị ngăn cách bởi một bức rèm the. Thấy lại hết trong mơ cái thể chất yếu đuối yêu kiều của người vợ cũ hay bệnh tật lại đa sầu đa cảm cho nỗi biệt ly, phải lặn lội đường xa xuyên qua núi sông hiễm ác để đến báo mộng cho mình... Những hình ảnh thân thương của người vợ cũ ngày thường trong tâm tưởng đều hiễn hiện lại trong mơ. Nhưng khi giật mình tỉnh giấc thì chỉ thấy ánh trăng tà chiếu xuyên qua phòng vắng trong cơn gió lạnh lẽo đơn côi... Qủa là bi thương thê thiết cho một người thuộc "nòi tình" như là tác giả của Đoạn Trường Tân Thanh vậy!

* Diễn Nôm:

Ký Mộng

Dòng thệ thủy ngày đêm tuôn chảy,
Gót lãng du đi mãi chưa về.
Bao năm chẳng gặp não nề,
Lấy gì an ủi vỗ về tương tư.

Nay trong mộng rõ như gặp mặt,
Nàng tìm ta bến nước ven bờ.
Dung nhan tựa thuở bao giờ,
Áo xiêm xốc xếch ngẩn ngơ hàm tình.

Trước mở lời đinh ninh bệnh hoạn,
Sau hàn huyên khổ nạn biệt ly,
Nghẹn ngào chẳng nói nên chi,
Bên rèm thấp thoáng thấy gì dung nhan.

Bình sinh vốn chẳng am đường xá,
Mộng hồn kia tựa có tựa không.
Hổ lang Tam Điệp trùng trùng,
Lam Giang thủy quái thuồng luồng khắp nơi.

Đường hiễm ác lắm nơi đều vậy,
Thể chất kia biết cậy nhờ ai?
Mơ màng đèn vắng đêm dài,
Tỉnh ra gió lạnh ai hoài một thân!

Người đâu tá tần ngần chẳng thấy,
Tình ngổn ngang lòng rối tựa tơ.
Phòng không lọt ánh trăng mờ,
Áo đơn lạnh lẽo bơ phờ nhớ ai!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Vọng Phu Thạch 望夫石 - Cao Bá Quát Và Nguyễn Du


Góc Việt Thi: Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du & Cao Bá Quát)

Cùng Bạn, 

Lên internet, nhân đọc được bài thơ Vọng Phu Thạch của đại thi hào Nguyễn Du và Cao bá Quát sáng tác, tôi thích quá, cứ đọc đi đọc lại trầm ngâm nghĩ ngợi. Cùng đứng trước cảnh núi non hùng vĩ, trước một tảng đá có hình thù một thiếu phụ ôm con, cả hai đều xúc động bồi hồi, nhưng mỗi người có một cái nhìn riêng biệt. Với Cao bá Quát, với bản chất đa tình lãng mạn, ông thương xót cho người phụ nữ phải phấn nhạt môi phai, thương cho lệ máu chan hòa, thương cho ngàn ngàn năm hiu quạnh tóc tai rũ rượi rong rêu làm bạn cùng trời mây trăng gió. Còn cụ Tiên Điền cũng xót thương cho một người đàn bà xa chồng, quên hết ái ân, ngàn năm trơ trọi giữa rêu phong mưa dầm. Đặc biệt Nguyễn Du ca ngợi tuyết trinh cuả người phụ nữ như một áng văn còn đậm nét trên rong rêu, ông ca ngợi cương thường đạo lý của người đàn bà Á Đông được thắm nhuần gia phong nho giáo... Còn Cao bá Quát ông ca ngợi cái chung tình của người vợ, nó sắt son, nó chung thủy đời đời như Trời và Đất; trời có già, đất có cỗi em vẫn một lòng cùng chàng. 
Tôi xin chuyển đến các bạn một bài ngắn trên internet xem chơi. Tôi xin Thầy Đồ nhà ta, Đỗ chiếu Đức, nhín chút thì giờ qúi báu dịch nghiã giùm hai bài thi trên, tôi cũng xin các thi hữu góp vần thêm như thường lệ để cho góc Việt Thi chúng ta thêm phong phú. Xin đa tạ.
Thân 
Mailoc 

Vọng Phu Thạch 

Độc lập sơn đầu đệ nhất phong
Chu điêu phấn tạ vị thùy dung
Âm thư cữu đoạn nhân hà xứ
Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng
Huyết lệ yên hòa minh nguyệt thấp,
Hương hoàn vân tích lục đài phong.
Thiên hoang địa lão tình do tạc,
Dạ dạ xao tàn bích đổng chung.

Cao Bá Quát
***
Hòn Vọng Phu


Sừng sửng đứng, đầu non hóa đá
Cũng vì ai nhạt má phai son!
Người đi, tin vắng, mõi mòn,
Biển trời thăm thẳm nước non nghìn trùng
Hòa lệ máu, khói lung linh nguyệt ,
Tóc tai dầm rêu biếc mây giăng.
Trời già đất cỗi, tình chung,
Đêm đêm động vắng hồi chuông vang rền. 

Mailoc phỏng dịch
***
Vọng Phu Thạch

Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.
Vạn kiếp điếu vô vân vũ(*) mộng,
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ,
Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
Tứ vọng liên sơn diêu vô tế,
Độc giao nhi nữ thiện nhi luân.
 
Nguyễn Du                                                            
Vọng Phu Thạch: Bài nầy không thấy chép trong Bắc hành Tạp Lục mà chỉ chép trong Thanh Hiên thi Tập. Như vậy là Nguyễn Du tả núi Vọng Phu ở LạngSơn khi đi nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang sắc phong cho Gia Long, mùa đông năm Qúy Hợi (1804)
***
Núi Trông Chồng

Đá hay người là ai chẳng biết,
Đứng một mình mải miết rêu phong.
Mây mưa (*) một thoáng xa xăm,
Tiết trinh một thuở tấm thân trắng ngần.
Lệ không ngớt, mưa dầm thu rét,
Rêu phong còn hằn nét áng thơ.
Bốn phương núi biếc vô bờ,
Cương thường nhi nữ đạo thờ riêng mang.


Mailoc phỏng dịch
(*)Vân vũ: thần nữ ở núi Vu Sơn, làm mây buổi sáng, làm mưa buổi chiều. Về sau người ta duùng điển nầy để chỉ chuyện tình ái
Tại Đông phương, hình ảnh người vợ trông chồng hóa đá, được các dân tộc cụ thể hóa qua hình ảnh Núi Vọng Phu như ở Trung Quốc, Nam Dương, Việt Nam...
Ở Nam Dương, tại đảo Bornéo, có núi Mont Kinabalu (4.095m) là Hòn Vọng Phu nổi tiếng tại vùng Đông Á (Mã Lai- Nam Dương- Brunei)
Ở Việt Nam, có hai địa danh được gọi là Hòn Vọng Phu:
- Một ở tỉnh Lạng Sơn - Nàng Tô Thị (hình trái)
-Một ở tỉnh Bình Định - Núi Bà (hình phải)

 Từ hình ảnh đau thương và cảm động của người chinh phụ chờ chồng hóa đá này, các văn, thi sĩ thể hiện qua nhiều hình thái: Nhạc, Thơ, Tuồng... làm phong phú và đa dạng các bộ môn văn học nghệ thuật nước nhà
1.- Về âm nhạc, nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996-Hình phải), vốn từ miền Bắc vào ở trong miền Nam rất sớm, năm1941. Ông là một trong các nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhac Việt Nam, từ thập kỷ 30 của thế kỷ trước. Theo tài liệu viết của bác sĩ Phạm Anh Dũng thì khoảng năm 1943, tại tỉnh Bến Tre, ông viết bản nhạc Hòn Vọng Phu 1, bằng âm điệu gần gũi âm giai Ngũ cung của dân ca Việt Nam với ảnh hưởng từ Chinh Phụ Ngâm, thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn mà Đoàn Thị Điểm, đã dịch ra chữ Nôm. Sau đó, ông viết tiếp Hòn Vọng Phu 2 (Ai xuôi vạn lý 1946), Hòn Vọng Phu 3 (Người chinh phu về 1947). Đây là những bản nhạc hay nhất của nền âm nhạc Việt Nam.

2.- Về cải lương, có vỡ tuồng tâm lý xã hội Hòn Vọng Phu, do Trung Tâm Làng Văn, sản xuất tháng 6 năm 2006. Đây là một việc làm rất đáng ca ngợi, nhất là nhằm phục vụ giới thưởng ngoạn của thế hệ thứ 2 của cộng đồng người Việt hải ngoại. Mong rằng, Trung Tâm Làng Văn tiếp tục, các vở tương tự, kế tiếp.

3.- Về thơ chữ Hán, có bài hai bài Vọng Phu Thạch của Cao Bá Quát Và Nguyễn Du

Từ sự tích chuyện Trầu Cau, Thiếu Phụ Nam Xương... đến Hòn Vọng Phu, quả thật người Việt ta, rất đáng tự hào về sự thủy chung của các truyện truyền kỳ lịch sử của chính mình vậy.

***


Quên Đi xin phỏng dịch cùng Thầy và Anh Chị hai bài "Vọng Phu Thạch" của Cao Bá Quát và Nguyễn Du: 

望夫石
Vọng Phu Thạch


獨立山頭第一峰,Độc lập sơn đầu đệ nhất phong,
朱凋粉謝為誰容。Chu điêu phấn tạ vị thuỳ dung ?
音書久斷人何處,Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ ?
天海無涯路幾重。Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng ?
血淚煙和明月濕,Huyết lệ yên hoà, minh nguyệt thấp,
香鬟雲跡綠苔封。Hương hoàn vân tích lục đài phong.
天荒地老情猶昨,Thiên hoang địa lão tình do tạc
夜夜敲殘壁古鐘。Dạ dạ xao tàn bích cổ chung.
高伯适                   Cao Bá Quát

Dịch Thơ:

Đá Vọng Phu

Chơ vơ một bóng đỉnh non cao
Son phấn tàn phai bởi lẽ nào
Sông núi người đâu thư chẳng thấy
Biển trời không bến biết phương nao
Khói nhoà máu lệ vầng trăng khóc
Hương tóc đường mây rêu phủ bao
Đất cỗi trời hoang bày thuở trước
Chuông đêm tắt lịm thấy nao nao

Quên Đi
***
望夫石                     Vọng Phu Thạch

石耶人耶彼何人? Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
獨立山頭千百春。 Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
萬劫杳無雲雨夢, Vạn kiếp liểu vô vân vũ mộng,
一貞留得古今身。 Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
淚痕不絕三秋雨, Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ
苔篆長銘一段文。 Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
四望連山渺無際, Tứ vọng liên sơn diểu vô tế,
獨教兒女擅彝倫。 Độc giao nhi nữ thiện di luân
阮攸                          Nguyễn Du

Dịch Thơ:

Đá Vọng Phu 

Là đá hay người đích thực ai
Đầu non một bóng đứng trông hoài
Kiếp phần mờ mịt vu sơn chẳng
Giữ phận sáng ngời trinh tiết thay
Mưa đổ ba thu còn lệ ngấn
Văn xưng một đoạn dấu rêu dày
Mịt mùng bốn phía non liền núi
Gương sáng truyền lưu đến tận nay

Quên Đi
***

 Đỗ Chiêu Đức xin phỏng dịch hai bài "Vọng Phu Thạch" của Cao Bá Quát và Nguyễn Du: 

... Đá Vọng Phu nhớ thương thổn thức,
Tay bồng con non nước vời trông.
Xa xa mặt biển mênh mông,
Đầu non tượng đá tỏ lòng tiết trinh !... 

Đó là một vế Song thất Lục bát trích trong bài " Nước Tôi " của một Thi sĩ Tiền Chiến: Nguyễn Văn Cổn, mà tôi được học thuộc lòng từ nhỏ. Bây giờ đọc lại vẫn còn xúc động, gởi đến quý vị đọc trước khi tìm hiểu nghĩa của 2 bài Vọng Phu Thạch mà Thầy Lộc đã diễn nôm...

Bài 1: Của Cao Bá Quát 

Nghĩa bài thơ:


Đứng lẻ loi trên đầu núi, xứng danh là ngọn núi hạng nhất ở đây. Son đã tàn phấn cũng đã phai rồi còn điểm trang cho ai nữa đây? Âm hao thư tín đã bặt tin lâu rồi, giờ thì chàng ở nơi nao? Trời biển ngút ngàn mênh mông không bờ không bến, Máu lệ hòa theo khói sóng làm nhòa ướt cả vầng trăng. Tóc mây giờ cũng dã dượi vì bị phủ kín bởi rêu xanh. Mãi cho đến lúc trời già đất cỗi tình nầy vẫn tha thiết như ngày hôm qua, Đêm đêm cứ âm ỉ vổ vào vách đá như tiếng chuông tàn trong cổ tự. 

Diễn nôm: 

Đá Vọng Phu

Chơ vơ đầu núi dáng ai đang,
Phấn nhạt son phai chẳng điểm trang.
Vắng bặt tin thơ người mấy kiếp,
Mênh mông trời nước lộ bao đàng.
Lệ hòa khói sóng nhòa trăng ướt,
Tóc rối rêu xanh phủ mặt nàng.
Đất cỗi trời già tình vẫn thắm,
Đêm đêm âm ỉ tiếng chuông vang!
 

Đỗ Chiêu Đức
***
Bài 2 Của Nguyễn Du

Nghĩa bài thơ

Người ư, đá ư, nàng là ai đây? Đứng chơ vơ một mình trên đầu núi đã hàng trăm hàng ngàn Mùa Xuân rồi! Muôn kiếp vẫn không còn mơ gì đến chuyện mây mưa nữa. Một thân trinh trắng vẫn còn giữ được mãi từ xưa đến nay. Ngấn lệ không vơi như mưa thu dai dẵng suốt ba thu, Vết rêu phủ vòng vèo như bản văn trạm trổ trên đá. Quay nhìn bốn phía núi liền núi biển mênh mông không thấy chân trời,
Luân thường lễ giáo sao lại chỉ riêng giới nữ lưu phải gìn giữ mà thôi?! 

Diễn Nôm:

Hòn Vọng Phu

Nàng là ai, là người hay đá?
Chiếc bóng đầu non ngàn năm trường.
Muôn kiếp chẳng mơ niềm ân ái,
Một thân còn giữ trắng như gương.
Lệ hằn chẳng dứt thu mưa gió,
Rêu phủ không thôi nét đoạn trường.
Bát ngát bốn bề non núi thẳm,
Sao riêng nhi nữ chịu luân thường?!


Đỗ Chiêu Đức
***
Núi Vọng Phu


Sừng sửng dáng người tựa bế con
Ngóng trông chinh phụ đứng đầu non
Son tàn,phấn nhạt không trang điểm
Ngước mặt nhìn xa chẳng mỏi mòn
Trời biển bao la đâu bến đợi ?
Tóc mây rũ rượi dấu rêu còn !
Lệ nhoà theo sóng mờ trăng chiếu
Tha thiết tình nàng dạ sắc son.

Song Quang

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2020

Dạ Tọa 夜坐 - Nguyễn Du

 

Dạ Tọa

Tứ bích cùng thanh náo dạ miên
Ải sàng đi hướng khúc lan biên.
Vi phong bất động sương thuỳ địa
Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.
Kim cổ nhàn sầu lai tuý hậu
Thuần lô hương tứ tại thu tiên.
Bạch đầu sở kế duy y thực
Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên!

Nguyễn Du
***
Dịch Thơ:

Ngồi Trong Đêm


Suốt đêm thâu tư bề dế khóc
Quay chỏng tre hướng góc hiên nhà.
Đất mờ gió nhẹ sương sa
Sao trời lấp lánh trăng tà nhạt phai
Men đã nhạt xưa nay sầu lại
Mùi cá rau thu dậy nhớ nhà
Bạc đầu cơm áo xót xa
Còn đâu niên thiếu cuồng ca một thời.

MaiLoc phỏng dịch
***
Bài thơ Dạ Tọa Nguyễn Du:

夜坐                         Dạ Tọa

四壁蛩聲鬧夜眠, Tứ bích cùng thanh náo dạ miên,
矮床移向曲欄邊。 Ải sàng di hướng khúc lan biên.
微風不動霜垂地, Vi phong bất động sương thùy địa,
斜月無光星滿天。 Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.
今古閒愁來醉後, Lim cổ nhàn sầu lai túy hậu,
蓴鱸鄉思在秋先。 Thuần lô hương tứ tại thu tiên.
白頭所計惟衣食, Bạch đầu sở kế duy y thực,
何得狂歌似少年? Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên ?!
阮攸                         Nguyễn Du

***
* Chú Thích:
- Cùng Thanh 蛩聲 : là Tiếng dế kêu.
- Ải Sàng 矮床 : Chiếc giường thấp.
- Khúc lan 曲欄 : Chỗ quanh của hành lang.
- Thuần Lô 蓴鱸 : THUẦN là Rau thuần, như rau nhút, một loại rau của đồng quê; LÔ là cá Chép. Theo sách Tấn Thư. Trương Hàn Truyện 晉書·張翰傳:Hàn nhân kiến thu phong khởi, nãi tư Ngô trung cô thái, Thuần canh, Lô ngư khoái 翰因見秋風起,乃思吳中菰菜、蓴羹、鱸魚膾。Có nghĩa : Trương Hàn nhân thấy gió thu nổi lên thì lại nhớ đến canh cải cô cải THUẦN, và gói cá LÔ. Ý chỉ: Nhớ đến mùi vị của quê hương. Như trong Truyện Kiều, khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư suốt một năm trường đã chán với mùi vị của quê hương rồi, nên cụ Nguyễn Du viết :
Thú quê THUẦN HỨC bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô...
- Sở Kế 所計 : Cái kế sách mà ta phải lo lắng đến, Ở đây chỉ "Cái sinh kế phải quan tâm..."
- Cuồng Ca 狂歌 : Không phải là " Hát khùng hát điên" mà là "Hát một cách phóng khoáng thoải mái".

* Nghĩa Bài Thơ:
Ngồi Trong Đêm

Tiếng dế ri rỉ bốn bên vách suốt đêm không ngủ được, Ta quay chiếc giường nhỏ thấp vào bên khúc quanh của hiên nhà. Gió nhẹ hắt hiu sương rơi đầy cả mặt đất, Bóng trăng chênh chếch mờ ảo nên ta thấy bầu trời đầy cả các vì sao. Nỗi buồn bâng quơ từ kim cổ chợt đến, khi rượu đã ngà ngà say; và nỗi nhớ nhà trước tiên trong mùa thu là thấy được gỏi cá Lô và canh rau Thuần. Tuổi đã già, đầu đã bạc rồi thì cái sinh kế phải quan tâm duy nhất là cơm áo mà thôi; làm sao còn có thể sống phóng khoáng như lúc tuổi còn trẻ được nữa chứ?!

* Diễn Nôm:
Ngồi Trong Đêm


Dế kêu ri rỉ bốn bề,
Giường nằm dời chỗ hướng về phía hiên.
Gió lay sương ướt bên thềm,
Trăng mờ chênh chếch sao thêm rạng ngời.
Mối sầu kim cổ khôn vơi,
Thuần Lô thu đến nhớ mùi quê hương.
Bạc đầu cơm áo lo lường,
Được sao như lúc đường đường thiếu niên?!


Đỗ Chiêu Đức
***
Ngồi Trong Đêm

Mất ngủ suốt đêm nghe dế kêu
Giường tre xoay trở góc hiên nghèo
Hắt hiu gió thoảng sương mù động
Chênh chếch trăng mờ sao sáng khêu
Chén rượu hương nồng vừa nhấm tới
Món mồi quê cũ đã thèm theo 
Bạc đầu vẫn phải lo tìm sống
Giây phút an nhàn chẳng bấy nhiêu.


Phương Hà
***
***
Đêm Đất Khách

Tiếng dế kêu bốn bề khó ngủ
Xoay giường tre ra chỗ hiên nhà
Sương rơi gió hắt thềm qua
Trăng mờ chênh chếch sao sa đầy trời
Quơ nỗi buồn khôn vơi chợt đến
Rượu ngà say nhớ món ăn nhà
Bạc đầu cơm áo lo xa
Một thời niên thiếu cuồng ca trong đời

songquang
20201019
***
Ngồi Lặng Trong Đêm

Bốn vách kêu vang tiếng dế trùng
Dời giường ẩn sát khúc quanh chung
Sương giăng gió đất rì rào chuyển
Nguyệt lặn sao ngôi lấp lánh bùng
Nhấm chén sau soi màn đạo vận
Vào bàn trước nhớ cảnh gia trung
Lòng già bận bịu lo cơm áo
Phóng khoáng đâu dư để thỏa dùng

Mai Thắng 
201031

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020

Những Bài Thơ Xuân

Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Những Bài Thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

1. XUÂN HIỂU - Trần Nhân Tông.

春曉                 Xuân Hiểu 

睡起啟窗扉, Thụy khởi khải song phi, 
不知春已歸。 Bất tri xuân dĩ quy. 
一雙白蝴蝶, Nhất song bạch hồ điệp, 
拍拍趁花飛。 Phách phách sấn hoa phi.

CHÚ THÍCH :

* Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.
* Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).
* Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.
* Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.
* Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

NGHĨA BÀI THƠ :

Sáng Sớm Mùa Xuân
Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM:
Sáng Xuân

Thức giấc mở song ngay,
Xuân đến nào có hay.
Một đôi bươn bướm trắng,
Hướng hoa vổ cánh bay!

Lục bát:

Vừa thức giấc, mở cửa song,
Nào hay xuân đã về trong đất trời.
Một đôi bướm trắng xinh tươi,
Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

Đỗ Chiêu Đức
2. XUÂN ĐÁN          Chu Văn An

春旦                         Xuân Đán
寂寞山家鎮日閒, Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
竹扉斜擁護輕寒。 Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
碧迷草色天如醉, Bích mê thảo sắc thiên như túy
紅濕花梢露未乾。 Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
身與孤雲長戀岫, Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
心同古井不生瀾。 Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
柏薰半冷茶煙歇, Bá huân bán lãnh trà yên yết,
溪鳥一聲春夢殘。 Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

朱文安                    Chu Văn An

* CHÚ THÍCH:
- Xuân Đán 春旦: là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.
- Trấn Nhật 鎮日: la Suốt ngày. 
- Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 
- Tà Ủng 斜擁: TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.
- Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.
- Lộ Vị Can 露未乾: Sương chưa khô
- Tụ 岫: là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.
- Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.
- Trà Yên Yết 茶煙歇: trà Thuốc đều hết.
- Khê Điểu 溪鳥: Những con chim trong khe núi.

* Dịch Nghĩa:
Ngày Xuân

Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

* DIỄN NÔM:
Ngày Xuân

Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
Chim oang oác giật mình tan giấc mộng!

Lục bát:

Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
Thân như mây nổi linh đinh,
Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ!

Đỗ Chiêu Đức.
3. XUÂN DẠ Nguyễn Du: 

Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

春 夜                             Xuân Dạ

黑 夜 韶 光 何 處 尋? Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
小 窗 開 處 柳 陰 陰. Tiểu song khai xứ liễu âm âm
江 湖 病 到 經 時 久, Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
風 雨 春 隨 一 夜 深. Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
羈 旅 多 年 燈 下 淚, Ký lữ đa niên đăng hạ lệ
家 鄉 千 里 月 中 心. Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm
南 臺 村 外 龍 江 水, Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy
一 片 寒 聲 送 古 今. Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

阮攸                           Nguyễn Du

* CHÚ THÍCH:
- Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".
- Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.
- Ký Lữ 羈旅: Gởi thân nơi đất khách.
- Nam Đài 南臺: Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.
- Long Giang 龍江: Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Đêm Xuân

Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

* DIỄN NÔM: 
Đêm Xuân

Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,
Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.
Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,
Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.
Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,
Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.
Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,
Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

Lục bát:

Tìm đâu đêm tối thiều quang?
Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.
Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,
Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.
Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,
Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.
Long Giang dòng nước Nam Đài,
Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

Đỗ Chiêu Đức.
4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM - Trần Quang Khải:

春日有感 一.       Xuân Nhật Hữu Cảm 1

雨白肥梅細若絲,    Vũ bạch phì mai tế nhược ty,
閉門兀兀坐書癡。 Bế môn ngột ngột tọa thư si.
二分春色閒蹉過,    Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,
五十衰翁已自知。 Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
故國心還飛鳥倦, Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,
恩波海濶縱鱗遲。 Ân ba hải khoát túng lân trì.
生平膽氣輪囷在,    Sinh bình đãm khí luân khuân tại,
醉倒東風賦一詩。 Túy đảo đông phong phú nhất thi.

春日有感 二.         Xuân Nhật Hữu Cảm 2

月色微微夜向闌, Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
東風特地起春寒。 Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.
翻空柳絮黏高閣, Phiên không liễu nhự niêm cao các,
攪夢湘筠撲畫欄。 Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.
被物潤從天外雨, Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,
驚心紅褪昔時顏。 Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,
袪愁賴有三杯酒, Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
撫劍悠悠憶故山。 Phủ kiếm du du ức cố san.
陳光啓                     Trần Quang Khải. 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ:
BÀI 1:
Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !
BÀI 2 :
Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

* DIỄN NÔM:
Cảm Xúc Ngày Xuân

Bài 1:
Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,
Thư sinh trong cửa dạ lần khân.
Hai phần xuân đã qua hơn nửa,
Năm chục già đà tự biết thân.
Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,
Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.
Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,
Say khướt gió xuân vẫn họa vần!

Bài 2.
Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,
Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.
Phe phẩy liễu cành vương gác tía,
Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.
Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,
Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.
Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,
Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

Đỗ Chiêu Đức 
5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành:

初春                         Sơ Xuân

臘梅開盡雪飄零, Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,
老大情懷節勿驚。 Lão đại tình hoài tiết vật kinh. 
傍水人家楊柳嫩, Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,
寒天客院半陰晴。 Hàn thiên khách viện bán âm tình . 
遊蜂摘蜜穿花去, Du phong trích mật xuyên hoa khứ, 
野蝶偷香帶粉經。 Dã diệp thâu hương đới phấn khinh. 
檢點名園供勝賞, Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 
春花一樣百般生。 Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.

阮子成                     Nguyễn Tử Thành 

* NGHĨA BÀI THƠ: 
Đầu Xuân

Tháng chạp hoa mai đã nở hết trong khi tuyết vẫn còn bay lả tả,
Tâm tình của người già biết tiết chế, nên không lấy làm lạ.
Nhà ai đó bên mé nước với hàng dương liễu xanh non.
Phòng khách trong mùa lạnh nên nửa nắng nửa râm.
Ong đi lấy mật nên bay xuyên qua cả chòm hoa.
Bướm ngoài đồng trộm hương nhẹ nhàng mang theo cả phấn hoa.
Điểm qua hết các vườn hoa nổi tiếng để mà thưởng ngoạn, thì thấy...
Cũng chỉ là trăm vẻ hoa xuân cùng đẹp như nhau mà thôi !

* DIỄN NÔM:
Đầu Xuân

Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,
Già cả nhìn quen chẳng ngỡ ngàng.
Bến nước nhà ai xanh liễu mới,
Trời đông phòng khách nắng râm vàng.
Ong vui hái mật đùa bay lượn,
Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.
Điểm hết xưa nay bao thắng cảnh,
Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng. 

Đỗ Chiêu Đức 
6. HỮU SỞ CẢM Phạm Đình Hổ:

有所感             Hữu Sở Cảm

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
纖手綰丫鬟。 Tiêm thủ quán a hoàn. 
深閨不知苦, Thâm khuê bất tri khổ; 
猶掃落花看。 Do tảo lạc hoa khan. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
眉黛月雙彎。 Mi đại nguyệt song loan. 
為愛梅花潔, Vị ái mai hoa khiết; 
臨風不覺寒。 Lâm phong bất giác hàn. 

長安小兒女, Trường An tiểu nhi nữ; 
花前獨倚欄。 Hoa tiền độc ỷ lan. 
只怕檀郎聽, Chỉ phạ đàn lang thính; 
橫琴笑不彈。 Hoành cầm tiếu bất đàn.

范廷虎             Phạm Đình Hổ

* CHÚ THÍCH:
- Trường An 長安: Còn đọc là Tràng An. Vốn là từ chỉ kinh đô cuả thời Tây Hán. Sau dùng chung để chỉ kinh thành, nơi vua ở. Trong bài thơ nầy chỉ kinh đô Thăng Long của ta ngày xưa.
- Tiêm Thủ 纖手: Chỉ đôi cánh tay nhỏ nhắn dịu dàng của các cô gái.
- Quán A Hoàn 綰丫鬟 : Búi hai búi tóc hình trái đào ở trên đầu. Đây là kiểu búi tóc của các cô bé mới lớn. Ngày xưa các tiểu thơ hay có các cô bé theo hầu búi tóc như thế, nên từ A HOÀN 丫鬟 (còn đọc là NHA HOÀN) dùng thét rồi trở thành danh từ chung để gọi các cô hầu của nhà quyền qúy.
- Mi Đại 眉黛: Đôi mày đen đẹp.
- Nguyệt Song Loan 月雙彎 : là Cong như hai vành trăng.
- Ỷ Lan 倚欄: Đứng tựa vào lan can.
- Đàn Lang 檀郎 : Từ dùng để gọi bóng dáng người yêu của các bà các cô xưa.

* NGHĨA BÀI THƠ:

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An.
Đôi tay nhỏ xinh xinh bện hai bím tóc đen.
Ở trong khuê phòng thầm kín chẳng biết sầu khổ là gì.
Cô còn đang quét hoa rụng xem chơi.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Đôi mày tô điểm cong cong như hai vành trăng cánh cung.
Vì yêu thích sự trong sạch của hoa mai, nên... 
Cô ra gió ngắm hoa mà không cảm thấy lạnh.

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,
Một mình đứng tựa lan can trước khóm hoa.
chỉnh e người yêu nghe thấy, nên...
Cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gảy.

* DIỄN NÔM:

Có Niềm Cảm Xúc

Trường An cô thiếu nữ,
Tay ngọc búi tóc cao.
Phòng khuê nào biết khổ,
Quét hoa dạ chẳng nao !

Trường An cô thiếu nữ,
Mày trăng mới cong sao !
Thương mai hoa tinh khiết,
Gió bấc chẳng lạnh nào !

Trường An cô thiếu nữ,
Ngắm hoa tựa lan can.
Vì sợ chàng nghe thấy,
Cười e ấp không đàn ! 

Lục bát:

Trường An cô bé xinh xinh,
Tay ngà búi tóc cho mình thêm tươi.
Buồng khuê chỉ biết vui cười,
Quét tàn hoa rụng làm vui xuân về !

Trường An cô bé xinh ghê,
Đôi mi cong tựa trăng thề trên cao.
Yêu mai tinh khiết biết bao,
Mặc cho gió lạnh lao xao chẳng màng.

Trường An cô bé mơ màng,
Trước hoa ngồi tựa lan can e dè.
Chỉnh e đâu đó chàng nghe,
Đặt ngang cầm phím, cười e, không đàn !

Xuân Canh Tý 2020
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Long Thành Cầm Giả Ca

Truyện Kiều theo tài liệu lưu trữ, đã được Nguyễn Du làm trong thời gian đi sứ. Nếu đúng như vậy thì câu chuyện trong bài thơ chữ Hán Long Thành Cầm Giả  Ca này có lẽ là một trong những nguồn hứng để Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều. 




Tiểu Dẫn của Nguyễn Du


龍城琴者。不知姓氏。聞其幼年從學撥阮琴於黎宮花嬪部中。西山兵起。舊樂死散。其人流落市廛。挾技以遨。屬散部。所彈皆御前供奉曲。非外人所聞。遂稱一時絕技。余少時。探兄抵京。旅宿鑑湖店。其傍西山諸臣大集女樂。名姬不下數十。其人獨以阮琴聲擅場。頗能歌。作俳諧語。一坐盡顚倒。數賞以大白。輒盡。纏頭無算。金帛委積滿地。余時匿身暗中。不甚明白。後見之兄處。短身闊臉。額凸面凹。不甚麗。肌白而體豐。善修飾。淡眉濃粉。衣以紅翠綃裳。綽綽然有餘韻。性善飲。喜浪謔。眼矐矐。眶中無一人。在兄家每飲輒盡醉。嘔吐狼藉。臥地上。同輩非之。不恤也。後數載。余從家南歸。不到龍城若十年矣。今春將奉命北使。道經龍城。諸公辱餞于宣撫衙。畢召在城女樂。少姬數十。並不識名面。迭起歌舞。繼聞琴聲清越。迥異時曲。心異之。視其人。顏瘦神枯。面黑。色如鬼。衣服並粗布。敗灰色。多白補。默坐席末。不言亦不笑。其狀殆不堪者。不復知爲誰何。惟於琴聲中似曾相識。側然于心。席散。質之樂人。即其人也。嗟乎。是人何至此耶。俯仰徘徊。不勝今昔之感。人生百年。榮辱哀樂其可量耶。別後。一路上。深有感焉。因歌以托興。

Long Thành Cầm giả, bất tri tính thị. Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung Hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi, cựu nhạc tử tán, kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao, thuộc tản bộ. Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn, toại xưng nhất thời tuyệt kĩ. Dư thiểu thời, thám huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc, danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch, Triếp tận, triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường, xước xước nhiên hữu dư vận. Tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã. Hậu sổ tải, Dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ. Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ, đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ, kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân, nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả, bất phục tri vi thùy hà. Duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán, chất chi nhạc nhân, tức kì nhân dã. Ta hồ! Thị nhân hà chí thử da! Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu, nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên, nhân ca dĩ thác hứng. 

Người gảy đàn đất Long Thành không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ, nàng học đàn "Nguyễn" (đàn nguyệt ca do Nguyễn Hàm, người đời Tấn ở Trung Quốc chế ra) trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ người chết, kẻ bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ ôm đàn hát rong. Những bài nàng gãy đều là những khúc cung phụng gãy cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi tiếng hay nhất một thời. 

Hồi còn trẻ (1792-1793?), tôi đến kinh đô thăm anh tôi (Nguyễn Nễ), ở trọ gần Giám hồ (hồ Gương). Cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có đến vài chục người. Nàng nỗi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo nói khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng từng chén rượu lớn, nàng uống hết ngay, tiền thưởng nhiều vô kể, tiền và lụa chồng đầy mặt đất. Lúc ấy tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm. Sau được gặp ở nhà anh tôi. Nàng người thấp, má bầu, trán giô, mặt gẫy, không đẹp lắm, nhưng nước da trắng trẻo, thân hình đẫy đà, khéo trang điểm, lông mày thanh, má đánh phấn, áo màu hồng, quần lụa cánh chả, có vẻ phong nhã. Nàng hay uống rượu, hay nói pha trò, con mắt long lanh, không coi ai ra gì. Khi ở nhà anh tôi mỗi lần uống rượu thì nàng uống say đến nỗi nôn bừa bãi, nằm lăn ra đất, các bạn có chê trách cũng không lấy làm điều. 

Sau đó vài năm, tôi rời nhà về Nam (Thái Bình), mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa Xuân năm nay (1813) tôi lại phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt biết tên. Chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tiều tụy, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im lặng ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi thì chính là người trước kia đã gặp. 

Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế! Tôi bồi hồi, không yên, ngửng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt trên đường đi, cảm thương vô hạn nên làm bài ca sau, để ghi lại mối cảm hứng.



Người Gẩy Đàn Long Thành
  

Thời ấy đất Long Thành đã có
Nữ cầm nhi không rõ họ tên
Nghe nói thuở nhỏ học đàn
Trong đội cầm nữ nhạc đoàn nhà vua.
Tây-Sơn đánh, Trịnh thua, Lê mạt
Đoàn nhạc công tản mác khắp nơi
Người thì lìa bỏ cuộc đời
Kẻ đi hát dạo ngược xuôi khắp miền.
Sở trường khúc ‘ngự tiền cung phụng’
Gẩy vua nghe, quần chúng chẳng hề 
Tiếng đàn thánh thót đê mê
Được coi đệ nhất tài ba một thời.
Đến kinh thăm anh tôi thời trẻ
Tôi trọ ngay ở kế Giám hồ.
Tây sơn mở yến tiệc to
Nữ nhạc kể đến hai ba mươi người.
Ngón nguyệt cầm một thời nổi tiếng
Giọng hát hay, khéo chuyện khôi hài
Say mê, điên đảo mọi người,
Đua nhau rượu thưởng chén vơi chén đầy.
Ngân nguyên tặng tung bay tràn ngập
Chồng chất đầy mặt đất lụa tiền 
Lúc ấy tôi phận đàn em
Nấp trong tối, chẳng biết tiền bạc chi.
Nhà anh tôi, có khi được gặp
Sắc trung bình, dáng thấp, má bầu
Trán giô, mặt gẫy, tóc dài
Thân tròn, da trắng cũng màu xuân xanh.
Má son phấn, mày thanh khéo họa 
Quần mầu xanh áo lụa phấn (nhạt) hồng
Nét người có vẻ văn phong
Rượu nồng, mắt khéo long lanh, pha trò.
Có hơi men chẳng hề suy nghĩ
Mắt ngáo ngơ có vẻ khinh người
Ngay tại nhà của anh tôi
Rượu say, nôn mửa, đưỡn dài nằm lăn.
Bạn chê trách, chẳng rằng, thây kệ
Chẳng giận hờn kể lể xin van
Vài năm, tôi trở về Nam
Chẳng hề trở lại Long Thành, mười năm.
Xuân này phụng mệnh sang Trung Quốc,
Có dịp may ghé được Long Thành
Mở tiệc ở Tuyên-phủ dinh
Tiễn đưa đông đủ thân tình, quan nha.
Gọi thêm cả xướng ca nữ nhạc,
Dễ đến vài ba chục, một đoàn
Tôi không biết họ biết tên
Chị em nhảy múa sáo đàn liên miên.
Bỗng một khúc đàn lên trong vắt  
Khác hẳn khi đôi lúc thường nghe
Lạ lùng đảo mắt nhìn xa
Tôi thấy người gẩy, gầy gò, nhọ nhem.
Vẻ xấu xí, áo quần thô bạc     
Vá đụp chằng, lệch lạc khó coi
Ủ ê, cuối chiếu yên ngồi
Chẳng rằng, chẳng nói, chẳng cười, buồn thiu.
Tôi chẳng biết là ai chăng tá,
Nghe tiếng đàn dường đã quen quen,
Tự nhiên lòng thấy cảm thương
Tiệc xong, mới hỏi, là nàng trước kia.
Ôi! Người ấy sao ra nông nỗi!
Tôi đứng ngồi bổi hổi, không yên
Trăm năm một kiếp đảo điên
Sướng khổ, vinh nhục, triền miên sao  lường.
Rồi từ biệt lên đường đi sứ,
Vấn vương còn nức nở tâm can
Kiếp người sao lắm gian nan!
Dạt dào cảm hứng tôi làm bài ca.
 Nguyễn Bá Triệu lược dịch, thể thơ 7768

Long Thành Cầm Giả Ca
(Tiểu Dẫn)

Người gảy đàn họ tên không rõ
Nghe phong phanh hồi nhỏ, Long Thành,
Học đàn loại Nguyễn trứ danh
Trong đoàn nữ nhạc kinh thành vua Lê
Tây Sơn ra tứ bề tan tác
Đội nhạc xưa người thác, kẻ ly
Hát rong giữa chợ qua thì
Khúc đàn Cụng Phụng uy nghi tột cùng
Chỉ vua chúa mới mong được hưởng
Loại thứ dân vất vưởng nào hay
Loạn ly mọi việc đổi thay
Tài riêng nàng mới nổi ngay nhất thời!
Đến thăm anh từ hồi trai trẻ
Nơi kinh đô trọ kế Giám hồ
Tây Sơn quan tướng hát hò
Ca nhi dăm chục líu lo, rộn ràng
Nàng  nổi tiếng gảy đàn loại Nguyễn
Giọng hát hay kể chuyện khôi hài
Người người điên đảo mê say
Tranh nhau ban thưởng rượu đầy không ngơi
Tay nâng chén một hơi uống tất
Tiền thưởng nhiều, lụa chất đầy sân
Đứng xa không dám tới gần
Tôi trong bóng tối khôn phân dáng hình
Tại nhà anh vô tình gặp gỡ
Nàng thấp người, mũi nhỏ, má đầy
Trán giô, mặt gẫy, tóc dài
Nước da trắng trẻo, hình hài tốt tươi
Khéo điểm trang, phấn dồi mi nhạt
Áo lụa hồng , xanh ngát quần tơ
Phong lưu rượu uống, pha trò
Long lanh ánh mắt, mập mờ nửa con.
Mỗi lần uống tới luôn say ngất
Mửa tứ tung, nằm đất ngả nghiêng
Bạn bè chê trách chẳng phiền
Cốt sao thỏa chí đảo điên hoang đàng
Tôi sau đó xuôi Nam một nhẽ
Mười năm liền chẳng ghé Long thành
Xuân này phụng mệnh sứ trình
Ghé qua chốn cũ ân tình rủ rê
Dinh Tuyên phủ bạn bè tiệc chúc
Mời phường ca cỡ chục đào nương
Tuổi tên không biết tỏ tường
Luân phiên ca hát một phương tưng bừng
Khúc đàn Nguyễn bỗng dưng chợt nổi
Dạ ngẩn ngơ bối rối dị thường
Ca nhân đen đúa bi thương
Gầy gò áo đụp vải vuông vá chằng
Nơi chiếu cuối võ vàng câm lặng
Chẳng nói năng, hình dạng khó coi
Tôi nào biết đó là ai
Tiếng đàn quen thuộc dâng đầy xót xa
Hỏi ai đó? bạn ta mới kể
Người quen xưa thất thế. Than ôi!
Ngửng lên, cúi xuống bồi hồi
Xưa, nay thương hải nỗi tôi ngậm ngùi
Cuộc trăm năm buồn vui, vinh nhục
Luôn đổi thay tùy lúc khôn lường
Xót xa vô hạn lên đường
Bài ca ghi lại bi thương não lòng!!!
Lộc Bắc
Juin17