Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

30/4/25!


Với kiến thức hạn hẹp của một người không ‘’đạo’’ (Kitô), tôi chỉ biết Phục sinh là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của người Thiên Chúa Giáo (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống Giáo vv). Đó là ngày (Chúa Nhật) Chúa sống lại sau 3 hôm chịu nạn, chết trên thập tự giá (thứ sáu).

Nếu người Việt gọi ngày Chúa sống lại là ngày Phục Sinh (Hán Việt) thì, với người Pháp, là Pâques, với người Anh, là Easter (gốc gác từ Eostre: nữ thần mùa Xuân). Người Do Thái cũng có lễ Paque (không ‘’s’’) : lễ Vượt Qua, nhưng là để tưởng nhớ việc tổ tiên họ đã được Đức Chúa Trời giải phóng khỏi kiếp nô lệ ở Ai Cập, giúp họ vượt qua biển Đỏ (Pâque = Passage).
Nhưng tại sao lại ‘’ Phục sinh’’, mà không là hồi sinh, tái sinh cũng cùng một nghĩa : ‘’trở về từ cõi chết’’?

-Theo ‘’https://giaophanphucuong.org’’ : ‘’… về mặt từ Hán Việt, phục sinh chỉ có nghĩa là sống lại, tương tự như từ hồi sinh, tái sinh... không diễn tả hết ý nghĩa “anastasis” “egeirein” hay resurrection. Còn chỗi dậy hay trỗi dậy thì đúng nghĩa đen với chữ resurrection, nhưng trong tiếng Việt thì không thể diễn tả được bất kỳ một ý nghĩa gì của việc “vượt qua cõi chết”.

Một trong những nguyên tắc dịch Thánh kinh phải trung thành với nguyên văn, nhưng cũng phải chú ý đến văn hóa của từng địa phương. Nếu chúng ta dịch “anastasis”, resurrection là chỗi dậy , thì chúng ta nên nói mừng Lễ Trỗi Dậy hay là Lễ Phục Sinh?

Kết
Lễ Phục Sinh đã trở nên từ ngữ quốc tế cho cả Việt Nam, Trung Quốc (復活節Phục hoạt tiết), Nhật (Kanji: 復活祭phục hoạt tế) và Hàn Quốc (부활절Phục hoạt tiết), nên chăng chúng ta thống nhất cách dịch?
(Nguồn: Trang Tin Giáo Phận Đà Lạt ..’’)

Trong một thời gian dài, dù biết rằng ngày lễ Phục Sinh thay đổi mỗi năm, nhưng tôi vẫn nghĩ, như Giáng Sinh, Phục Sinh được tính theo dương lịch. Cho đến khi, cách đây vài năm, trong thời gian bị cô lập Covid, lên ‘’mạng ‘’ tìm tòi, tôi mới biết lễ Phục Sinh tính theo âm lịch ! Theo quy ước của Giáo hội Công Giáo La Mã, lễ Phục Sinh là ngày Chủ Nhật thứ nhất sau ngày trăng tròn đầu tiên kể từ ngày xuân phân (21/3). Một cách tổng quát, lễ Phục Sinh là một trong những Chủ Nhật trong khoảng 22/3-25/4 ! Như năm nay, Chủ Nhật Phục Sinh là ngày 20/04/2025.

Chủ Nhật Phục Sinh 20-4, vì vẫn còn yếu sau gần 5 tuần điều trị ở bệnh viện do viêm phổi kép Đức Giáo Hoàng François (bị cắt một lá phổi từ lâu), đã uỷ quyền cho Đức Hồng Y Angelo Comastri chủ sự thánh lễ này và đọc bài giảng mà Ngài đã soạn. Sau đó, từ ban công Vương Cung Thánh Đường Thánh Pierre, Ngài đã ban phép lành Urbi và Orbi, chúc mừng lễ Phục Sinh các tín hữu, và ngồi trên ‘’xe-hơi-Giáo-Hoàng’’ để chào đón và ban ơn các giáo dân có mặt ở công trường Thánh Pierre. Đó cũng là lần xuất hiện cuối cùng trước công chúng của Giáo Hoàng. Thứ hai Phục Sinh, 21/4, lúc 9h45 , đức Hồng y Angelo Comastri báo tin : Giáo Hoàng Francois đã qua đời lúc 7h35 do đột quỵ !

Thứ bảy 26/4 vừa qua, 200 Hồng Y, 700 Giám Mục, 5000 linh mục, 400.000 tín đồ, trên 150 nguyên thủ, lãnh đạo quốc gia , quốc vương các nước, đã tham dự đám tang, tiễn đưa Đức Giáo Hoàng đến Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả (Basilica Papale di Santa Maria Maggiore) ở Rome, là nơi an nghĩ cuối cùng của Ngài : vị Giáo Hoàng đầu tiên đã chọn nơi an nghỉ bên ngoài Vatican ! Mộ của Ngài được làm bằng đá cẩm thạch Liguria, là quê quán tổ tiên Ngài ở Ý, trước khi di cư sang Á căn Đình. Ngôi mộ nằm khiêm cung trong một góc nhỏ ở Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả, với hàng chữ ‘’Franciscus’’ trên bia ! Khi còn tại thế, Ngài được xem như là vị Giáo Hoàng của ‘’di dân’’ và nghèo khó !

Với 2,4 tỷ người theo đạo, Kitô giáo là tôn giáo có số tín đồ cao nhất thế giới, tiếp theo là Hồi giáo (1.8 tỷ ) ; Ấn độ giáo (900 triệu) , Phật giáo ( 500 triệu) vv

Tuy là một quốc gia có số tín đồ Phật Giáo cao, nhưng trong 21 năm VNCH, 2 nhà lãnh đạo quốc gia lâu nhất là Ngô Đình Diệm (54-63) và Nguyễn văn Thiệu (1967-1975) đều là tín đồ Công Giáo, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu (1965) là tín đồ Cao Đài. Sau 75, có lẽ Đức Hồng Y Nguyễn văn Thuận (cháu kêu Tổng Thống Diệm là Cậu) là một trong những chức sắc tôn giáo bị tù cải tạo lâu nhất (13 năm ngoài Bắc) !

2013, khi Ngài FRANCISCUS, S.J. được chọn làm Giáo Hoàng, tôi đã nghĩ ngay đến một vị lãnh đạo tinh thần khác : Đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso của Phật giáo, Nobel Hòa Bình 1989. Bởi tuổi hai người cách nhau chưa đến 1 năm. Đức Giáo Hoàng Francois sinh ngày 17/12/1936, đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso sinh ngày 06/07/1935. Cả hai vị đều là nguyên thủ (chính trị) : Tòa Thánh Vatican và chính phủ lưu vong Tây Tạng.

1979, vượt biên sang đây, sống giữa một xã hội ‘’Kitô ‘’, dù đã trải qua 3 đời Giáo hoàng : IOANNES PAULUS II (1978-2005), BENEDICTUS XVI (2005-2013), và FRANCISCUS, S.J nhưng tôi vẫn chưa biết nhiều về các vị, như với Đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso mặc dầu khi ông ‘’lên ngôi’’ Đạt Lai Lạt Ma (1940) tôi chưa chào đời, khi ông vượt biên tị nạn ( trước tôi 20 năm /1959), tôi còn bi bô tập nói. Có lẽ vì tôi theo đạo Phật, lại ‘’đồng …tị nạn tương lân‘’ với ông , nhất là được xem nhiều phóng sự về ông, về một số buổi nói chuyện, phỏng vấn, cũng như đã đọc một vài tác phẩm của ông

Còn trên 2 tháng nữa là Đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso được 90 tuổi! Cái tuổi ‘’gần đất xa trời’’! Chắc chắn là khi ông ‘’ra đi’’, sẽ không có mấy trăm ngàn người đến đưa tiễn, và (chắc) sẽ không có một vị nguyên thủ, lãnh đạo nào đến nghiêng mình trước linh cửu ông(?) như với Đức Giáo Hoàng Francois. Không chỉ vì Dharamsala , nơi ông sống , là đất Ấn độ, mà, còn vì cái bóng của Tàu Cộng, gầm gừ, bao trùm tất cả ! Nhưng có hề gì. Chết. Là hết ! ‘’Thác là thế phách, còn là tinh anh ‘’ ! Nhưng ‘’còn gì’’ ? ‘’còn ai’’? Cái chính phủ lưu vong Tây Tạng , từ 66 năm nay, vẫn chưa thấy ‘’đường về’’, dù rằng họ chấp nhận ‘’một quốc gia trong quốc gia’’, một Tây Tạng tự trị trong Tàu Cộng!

Đức Giáo Hoàng FRANCISCUS, S.J từ trần ngày 21/4. Bao nhiêu triệu người đã nhỏ lệ khóc Ngài . 50 năm trước, ngày 21/4, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu từ chức, trao quyền cho Phó Tổng Thống Trần văn Hương! Lúc đó, tình hình VNCH vẫn ‘’chưa đến nỗi nào’’. Nhất là với chiến thắng Thủ Thừa của Trung Tá Đặng phương Thành, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 12, sư đoàn 7, được vinh thăng Đại tá sau đó!
 

Hôm nay, ngày 30/4/2025. 50 năm trước, nước VNCH đã bị bức tử, trước những con mắt lơ là của cái gọi là ''thế giới Tự Do'' !
Khi ‘’Tự Do’’ bỏ Tự Do. Thì chỉ có những giọt lệ của người miền Nam nhỏ xuống cho Sài Gòn yêu dấu!

Bao nhiêu triệu người đã khóc cho miền Nam, ngày đó ?

– Không, chúng tôi không cần những giọt nước mắt cá sấu! Không, chúng tôi không cần thương hại. Thương để mà.. hại thì thà không thương! Chúng tôi cần súng đạn, quân lực miền Nam cần súng đạn. 50 năm trước, nếu không có ‘’tháng 3 gãy súng ‘’, làm sao có ‘’tháng 4 tan hàng’’, làm sao có hàng ngàn mộ bia trong những trại tù từ Nam chí Bắc? Làm sao có bao nhiêu là nước mắt tuôn tràn sau tháng 4 đen?!

30/4/2025, xin thắp nén tâm hương tưởng niệm các vị Tướng: Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê nguyên Vỹ (*), Trung tá Cảnh Sát Nguyễn văn Long, Thiếu Tá Hải Quân Lê anh Tuấn và rất nhiều ‘’Trần Bình Trọng tân thời’’, đã chọn cho mình ngày nằm xuống với quê hương ! Đúng 50 năm về trước !

Bao giờ Sài Gòn tôi phục sinh ?!

BP
30/4/2025
(*) : Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát ngày 1/5/1975

Âm Vọng Tháng Tư


Vọng âm từ hận sử

Dội vào vách hồn sầu

Năm mươi năm lìa xứ

Vết thương còn nhói đau

 

Tháng Tư hoài nối nhau

Thấy dài như vô tận

Vẫn triệu người quốc hận

Vẫn triệu người hoan hô

 

Ấy môt bức dư đồ

Xưa Tản Đà than thở

Nay cháu con còn nợ

Biết khi nào trả xong!

 

Vọng âm từ núi non

Đá rền như sấm động

Ngựa chân chồn hí lộng

Hãn mã rồi như không!

 

Đã cháy ngọn cỏ bồng

Trên ngọn đồi biên ải

Chốt đồn xưa hoang tàn

 Hiu hắt màu nắng quái

 

Chỉ còn tù đi qua…

Ngàn lau dâng sóng trắng

Chứa chất lòng cay đắng

Vác còng lưng đọa đày

 

Vọng âm từ biển khơi

Con sóng ngầm không ngơi

Xác em còn trầm tích

Rong rêu ôm phận người

 

Những tiếng rú thất thanh

Giữa một bầy hải tặc

Những nấm mồ lạnh hoang

Ốc đảo miền xa lắc

 

Thân không về tới bến

Cuối chân trời tự do

Nhưng hồn thắp ngọn nến

Sáng trong tim nhân loài

 

Vọng âm nửa trăm năm

Tốc độ bằng ánh sáng

Xuyên qua ngày qua tháng

Xuyên thăng trầm khổ đau

 

Qua bãi biển nương dâu

Dội vào hồn ly xứ

Dội vào khuya khó ngủ

Dội vào chiều sương mê

 

Non nước là quán quê

Xa nửa vòng thế kỷ

Quê hương thành cố lý

Hằng mong- ôi, ngày về…

 

Quang Hà
Apr 2025

Kỷ Niệm Không Mờ Phai

 

Đêm nay cơn ác mộng lại trở về. Thơ giật mình thức giấc, tâm trí hoang mang thảng thốt. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Bên cạnh nàng Tú vẫn ngủ say sưa. Sau biến cố mất nước năm 75, từ khi may mắn thoát khỏi Việt Nam vào phút cuối, lại được định cư ở xứ Canada, nhưng có lẽ bị chấn thương tâm lý khá nặng nên thỉnh thoảng Thơ lại gặp ác mộng trong giấc mơ. Thật sự kinh hoàng, vì lần nào Thơ cũng thấy mình về Sàigòn thăm gia đình và không cách nào tìm được phương tiện trở qua Canada. Nàng tự sỉ vả mình ngu ngốc, đang sống yên ổn với chồng con, khi không trở về Việt Nam làm gì để ra cớ sự! Có lần trong cơn mơ Thơ khóc sướt mướt, tỉnh dậy hai má còn ướt đẫm nước mắt.

Thơ kể cho vài người bạn nghe, không ngờ cũng có người gặp ác mộng y như nàng. Một người bạn thân kể rằng, trong mơ anh thấy mình đi vượt biên và bị bắt lại. Mà người bắt anh lại là tên thủ trưởng nơi anh làm việc. Anh nghĩ chắc mình tiêu đời rồi. Khi giật mình tỉnh dậy, nhận ra mình đang ở Hoa Kỳ, anh thấy trong đời chưa bao giờ hạnh phúc đến thế!
Thấy đồng hồ chỉ 5 giờ, Thơ cố dỗ giấc ngủ lại, nhưng sao đầu óc vẫn tỉnh táo và tâm trí lan man nhớ về những ngày tháng xa xưa. Thủa còn ở Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ quê cha đất tổ, đến một nơi xa lắc xa lơ, mùa đông lạnh thấu xương để sinh sống. Vì đâu và vì ai? Nếu không phải vì những người cùng giòng giống, cùng tổ tiên như nàng, nhưng lại đem cái chủ thuyết chết người của ngoại bang về áp đặt một cách dã man lên đồng bào ruột thịt của mình?! Miền Nam của Thơ trước khi bị cưỡng chiếm xinh đẹp, hiền hòa biết bao. Lúa gạo đầy đồng, tôm cá đầy sông, đi lại tự do. Làm sao tả hết những cái hay, cái đẹp mà người dân miền Nam đã được hưởng cho đến ngày 30-04-1975!
Từ năm 1972 gia đình nhỏ của Tú và Thơ thuyên chuyển từ miền Cao Nguyên về tỉnh lỵ Sa Đéc. Thật tiện lợi vì quê nội Thơ ở Cao Lãnh và quê ngoại ở Vĩnh Long. Và qua Long Xuyên cũng cùng một quãng đường dài. Nàng nhớ những trái soài Hòn mập ú, ngọt như đường mà chỉ có ở Cao Lãnh. Qua Vĩnh Long thưởng thức món xôi chiên phồng ăn với gà rô ti nổi tiếng. Sầu riêng Cái Mơn không đâu ngon bằng. Vú sữa Lò Rèn cũng tuyệt diệu. Có khi theo bạn về quê Cái Bè ăn cam. Cam Cái Bè nổi tiếng ngon ngọt. Thích hơn nữa là đi thuyền qua mấy cái cù lao ăn chôm chôm, nhãn. Sa Đéc cũng là một địa danh nổi tiếng với nhiều loại trái cây và tôm cá, gà vịt. Loại mận da người màu xanh cẩm thạch, ruột đặc không hột và rất ngọt. Vú sữa hột gà màu trắng ửng hồng ngon ngọt vô cùng. Đặc biệt vùng này có loại ốc gạo thịt béo ngậy, ăn một lần là mê tít luôn. Không thể quên loại cá thu nước ngọt, nhỏ hơn cá thu biển, mình óng ánh nhiều màu. Cá này kho với nước dừa tươi là tuyệt cú mèo. Nói đến vịt xiêm Sađéc thì ai cũng biết. Bình thường vịt được nuôi bằng lúa, tép riu đầy sông rạch nên rất mập, thịt mềm, thơm ngọt. Mỗi lần có bạn phương xa đến thăm thế nào họ cũng được Thơ đãi món thịt vịt trứ danh Sa Đéc. Khi cả nhà Thơ về Sài Gòn thăm gia đình Tú, ngoài trái cây đủ loại không bao giờ thiếu cặp vịt xiêm. 
Lúc này Thơ đã có hai tí nhau, một trai hơn 3 tuổi và một gái chưa 2 tuổi. Tú đi làm và Thơ ở nhà trông con. Tưởng rằng giòng đời cứ êm đềm trôi như giòng Cửu Long hiền hòa. Chiến tranh khốc liệt ở đâu xa, chứ tại thị xã thì đời sống vẫn bình thường. Chợ búa vẫn họp đông đúc mỗi ngày. Nơi Tú làm cũng không thấy thay đổi gì cả. Chợt ngày 25 tháng 4, Tú nhận được điện thoại của bà chị trên Sàgòn bảo gia đình Tú phải lên SàiGòn gấp. Chị đã làm thông hành cho đại gia đình đi ngoại quốc. Thế là vợ chồng con cái chất nhau lên xe chạy một lèo lên Sàigòn. Té ra nhờ hai ông anh rể sĩ quan cấp Tá làm việc trong Tổng Tham Mưu nên họ biết người Mỹ đã rút khỏi Việt Nam và một số tướng lãnh cũng như công chức cao cấp đã tìm đường chạy ra ngoại quốc. Ôi chao, lên đây mới thấy cả Sàigòn hỗn loạn. Ngoài đường đông nghẹt người. Tất cả các tiệm vàng chen chân không lọt. Người mua vàng, kẻ đổi đô la. Thơ cũng chen lấn đổi được 80 đô la Mỹ. 

Cả gia đình Thơ cũng được ông anh rể cho vào danh sách xin đi máy bay Mỹ. Cơ quan D.A.O bảo chờ họ sẽ tới rước. Chờ mãi đến hôm 28 Việt cộng pháo kích dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất thì Thơ tuyệt vọng, ôm con khóc mùi mẫn. Sáng sớm 29, sau một đêm thức trắng, cả nhà lên xe chạy vào Cư xá Sĩ quan trong bộ Tổng Tham Mưu, nhà ông anh họ của Tú. Ông này thân cận với 1 ông Tướng vùng, ông Tướng hứa sẽ có máy bay đón. Hy vọng tràn trề, nhưng chờ gần tới trưa vẫn chẳng thấy gì, người nào mặt mày cũng buồn rầu ủ rũ, căng thẳng tột độ. May sao gần 12 giờ, một sĩ quan dưới quyền của ông anh rể báo tin có chiếc tàu Đại Hàn đang đậu ở Tân Cảng sắp nhổ neo. Mừng quýnh mọi người lên xe chạy ra Tân Cảng. Dọc đường rất hỗn loạn vì dân chúng đang hôi của trong mấy cơ sở Mỹ bỏ trống. Kẻ khuân, người vác chạy đầy đường. Thỉnh thoảng có những tràng súng nổ dòn dã và những người lính còn mặc quần áo trận, có người bị thương máu me tùm lum, tay cầm súng chạy dọc theo hai bên đường khiến Thơ kinh hãi ôm cứng hai đứa trẻ. Tụi nhỏ chắc cũng linh cảm thấy sự nguy hiểm nên im lặng không dám hó hé. Sau này nàng mới biết một nhóm lính Việt Nam Cộng Hòa lúc đó vẫn còn cố gắng đánh nhau với Bắc quân trên cầu Xa Cảng. Thương thay những người chiến sĩ miền Nam anh dũng, thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng chứ quyết không đầu hàng quân địch!

Xe quẹo vào bến Tân Cảng. Trên bến tàu nhiều người Mỹ đang đứng chỉ huy cho đoàn người xếp hàng dọc lên tàu. Họ bắt tất cả quân nhân phải cởi quân phục và bỏ súng lại trước khi lên tàu. Tất cả mọi người phải xuống hầm tàu thông qua một cái miệng hầm nhỏ, vừa một người qua lọt. Đây là chiếc tàu của Đại Hàn do Mỹ thuê chở vũ khí sang Việt Nam. Giờ đây Mỹ thuê để chở người tị nạn rời khỏi đất nước. Hầm tàu dùng để chứa hàng hoá, chỉ có một chỗ lên xuống nhỏ xíu nên nóng hầm hập. Gia đình Thơ kể như là những người đến muộn nhất nên mười một người chia nhau một chỗ độ chừng một mét vuông ngay dưới miệng hầm. Nàng đưa mắt nhìn chung quanh thấy người là người, nằm ngồi ngổn ngang. Tháng tư trời nóng, trong hầm như cái hỏa lò nên người nào cũng dùng cái gì đó quạt phành phạch, trông toàn cảnh cứ như những cánh bướm đang bay chấp chới! Riêng hai nhóc tì của Thơ cũng phải cởi áo ở trần mới chịu nổi.
Độ nửa tiếng sau thì tàu tách bến chạy về hướng Vũng Tàu. Thú thật là đến giờ phút đó vợ chồng nàng cũng không biết mình sẽ đi đâu? Thấy người ta chạy thì mình cũng chạy theo, miễn là thoát khỏi Việt Nam đang rơi vào tay Cộng quân. Gia đình Tú vốn người Bắc. Năm 54 ba mẹ anh đã bỏ hết của cải, cơ ngơi ở Hà Nội để chạy vào Miền Nam lánh nạn. Lần đó họ còn biết mình sẽ đi đâu. Nhưng lần này thì quả thật rất mơ hồ, chỉ biết nhảy lên tàu rồi sau đó phó mặc cho ông Trời!

Lúc tàu chạy ngang Rừng Sát, mặt mày người nào cũng nghiêm trọng, không dám thở mạnh. Chỉ sợ một quả đạn gì đó trong rừng bắn ra trúng tàu thì gần một ngàn sinh mạng sẽ đi chầu Hà bá! May quá không sao. Nhưng trọng trách của con tàu này là phải đón cho được một ông cố vấn gộc người Mỹ. Vì thế tàu cứ chạy dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu cho tới Cà Mau suốt 3 ngày liền. Đến ngày thứ tư mới trực chỉ ra khơi từ Vũng Tàu. Lúc này mọi người đã biết tin Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nên ai nấy đều buồn dàu dàu. Tàu ra khỏi Vũng Tàu thì gặp vô số thuyền con từ đất liền chạy ra. Họ vây quanh tàu nên thuyền trưởng bắt buộc phải vớt họ lên. Ôi thôi thì gồng gánh đủ thứ, cả TV, cả xe gắn máy. Tất nhiên thủy thủ Đại Hàn vứt hết mấy thứ này xuống biển để lấy chỗ cho người. Lúc rời Tân Cảng con số chưa tới một ngàn, giờ đây đã lên đến hơn ba ngàn người! Thì ra có vị linh mục dẫn cả làng Phước Tỉnh chạy ra khơi! Đến giờ thì vấn đề vệ sinh thật nan giải. Tất cả mọi người già trẻ bé lớn đều bị đau mắt. Mà làm gì có thuốc cho ngần ấy người? Đành chịu thua! Gia đình Thơ chạy vào phút chót, lại hy vọng đi máy bay nên không chuẩn bị đem theo lương khô, đành chấp nhận ăn những khẩu phần của lính tráng đi hành quân: gạo sấy và cá khô. Cũng có nhiều gia đình có quan hệ với thủy thủ Đại Hàn nên họ đã xuống tàu trước mấy hôm với đầy đủ lương thực, mì gói và bánh trái các loại. Nhưng lúc này hồn ai nấy giữ nên chẳng ai “dại gì” chia cho người không quen biết! Gạo sấy thì đổ nước lạnh cho nở ra, cá khô thì cứ vậy mà ăn. Tội nghiệp hai đứa nhỏ, Thơ phải năn nỉ chúng mới miễn cưỡng ăn chút ít nên suốt tuần lễ dưới tàu hai đứa gầy nhom.

Đến ngày thứ bảy thì tàu ghé Subic Bay Phi Luật Tân lấy thêm nhiên liệu để đi tiếp qua đảo Guam. Chỉ một số người được đặc biệt xuống tàu để sang đảo Guam bằng máy bay. Nhờ hai anh rể sĩ quan cấp Tá nên gia đình nhỏ của Tú-Thơ cũng được hưởng ân huệ này. Số còn lại tiếp tục đi tàu sang Guam. Đặt chân xuống đảo, thấy cảnh trùng phùng của nhiều gia đình, vợ con đi trước bằng máy bay, chồng đi sau bằng tàu, may mắn gặp lại nhau thật vô cùng hạnh phúc. Mỗi gia đình được chia một căn lều, có ghế bố và mền để ngủ, ngoài ra trống trơn. Ngày 3 lần đi sắp hàng lảnh cơm do đầu bếp Mỹ nấu. Chỗ của Thơ thì trường kỳ mỗi người được 1 vá cơm trắng và 1 vá trứng gà bột chiên. Có chai xì dầu hay hủ muối nào nhà bếp bỏ ra cũng bị chôm mất nên mọi người ăn cơm lạt nhách cũng đành chịu. Những người có tiền thì vào căng tin mua thức ăn. Thơ chỉ có 80$ nên…không dám, vì “biết ra sao ngày sau??? Thấy những người lính Mỹ phục vụ dân tị nạn Việt Nam mà thương.
Thơ không nhớ có bao nhiêu người tới đảo, chỉ nhớ là đông lắm. Lều trại nhìn mút mắt. Chỉ khổ ngày thật nóng và đêm thật lạnh. Suốt ngày đi sắp hàng lấy cơm (Mỗi bếp có 3 hàng. Mỗi hàng dài hàng trăm mét) nên ai cũng đen thui như Chà Và! Đến nỗi có người quen gần nhà, gặp Tú còn hỏi “phải anh Tú không?”May mà lúc gia đình Thơ đến đảo thì phái đoàn Canada cũng vừa đến mở văn phòng. Tú-Thơ vội vàng đến xin đi Canada. Ban đầu họ chỉ nhận dân professionel, nhưng sau đó Mỹ phản đối gay gắt nên họ nhận luôn mọi ngành nghề. Nhiều bác sĩ, kỹ sư, giáo sư phải khai gian là thợ sơn, thợ máy mới được nhận. Hai tuần sau thì đại gia đình Tú lên máy bay trực chỉ Québec. Lúc quá cảnh Hawai có người bịnh nặng nên cả gia đình phải xuống để đưa người bệnh vào nhà thương. Rồi sau đó nghe nói họ lập nghiệp luôn ở đây. Cũng may mắn vì khí hậu Hawai quá tuyệt vời.

Dân tị nạn đến Montréal vào tháng năm nên khí hậu đã ôn hòa, dễ chịu. Người dân nơi đây thật hiền hòa, hiếu khách, tuy nhiên họ không biết tí gì về Việt Nam. Vì chỉ nhìn chiến tranh VN qua truyền thông, chỉ thấy cảnh quê nghèo, đồi núi chập chùng, rừng rậm âm u nên trong trí họ VN là một xứ nghèo nàn lạc hậu. Chẳng vậy mà có 1 conseiller người bản xứ đã khuyên các bác sĩ VN nên đi học nghề y tá để kiếm sống. Họ không biết rằng trường Đại học Nha Y Dược Việt Nam là một chi nhánh trực thuộc trường Nha Y Dược của Pháp và sinh viên học bằng tiếng Pháp. Rồi chỉ vài năm sau họ ngạc nhiên xiết bao khi hầu hết các bác sĩ, dược sĩ đã trở lại hành nghề và trong trường trẻ em Việt Nam học hành đều xuất sắc. Hơn thế nữa các em rất lễ độ với thầy cô nên được quý mến vô cùng. Tóm lại, thuở đó dân Việt Nam sống ở Montréal được người bản xứ hết sức kính trọng.

Thơ nhớ lại những tháng ngày vất vả trong cuộc sống mới nơi xứ người. Những ngày đi làm trong bão tuyết lạnh căm, gió thổi muốn bay vì người mình vốn nhỏ bé. Nhưng gian nan nào rồi cũng qua. Cái giá tự do trả thế cũng còn quá nhẹ. Cuộc sống êm đềm vì cả Tú lẫn Thơ đều không nhìn lên, không ganh tị hay so sánh với ai. Thơ vẫn tâm niệm rằng mỗi một con người đều có số mệnh riêng. Và mình biết đủ là đủ. Con cái lớn dần, đã ra riêng để sống cuộc sống của chúng. May mắn sức khỏe hai vợ chồng nàng khá tốt. Thơ luôn cám ơn Trời Phật đã cho gia đình nàng thoát khỏi chế độ bạo tàn và đưa đẩy đến xứ sở Canada, một xứ sở giàu mạnh lại đầy lòng nhân ái, vị tha. Một trong những nơi đáng sống nhất thế giới. Vợ chồng nàng không mong gì hơn. Thỉnh thoảng cơn ác mộng vẫn hiện ra, nhưng hình như càng ngày càng cách xa nhau. Thơ hy vọng trong tương lai “Nó” sẽ không đến quấy rầy nàng nữa. Thơ chỉ cầu mong được sống một cuộc đời bình lặng, thanh thản bên Tú và các con. Mong lắm thay!

TiểuThu

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2025

Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi - Sáng Tác: Phạm Duy - Tiếng Hát: Mã Thị Lợi


Sáng Tác: Phạm Duy 
Tiếng Hát: Mã Thị Lợi

Lời Hẹn Xưa


Văng vẳng...tai nghe tiếng Thu...
Thì thm trong gió...giữa mây mù!

Anh Hi...nhớ chăng thuở y

Chia tay rồi...trời đất âm u!!

Em vn ch anh...ở cui trời...

Bên thềm...đếm tng giọt trăng rơi!

Tê buốt tâm can...hồn su héo

Thm nguyện...xin anh chớ đổi di!

Và c thế...bao Thu rồi Hi anh!

Xót thương chiếc lá ri cành!

Ngonh mặt...nhìn cây trơ trọi!

Cõi đời...ôi Cõi mong manh!

Em vẫn còn đây...mãi đợi chờ...

Thu buồn...tóc xỏa phất phơ!

Tưởng làn gió t xa v đến...

Tim em như nước v b!

Nhưng rồi có thấy anh đâu!

Li hẹn xưa...nước chy qua cu

Dòng sông đời xuôi v bin cả...

Ngẩn ngơ...bìm bịp gi nhau!

Tô Đình Đài

Bếp Hồng

 

Mưa rơi theo gió chiều bay
Nhớ xưa bên bếp vần xoay lửa hồng
Xoay sao cho bếp ấm nồng
Bập bùng lửa đợi mẹ trông cha về
Cơm chiều nhạc lắng say mê
Chị ngồi em kể vai kề nhỏ to
Quây quanh bếp nhỏ vui đùa
Vần thơ tuổi ngọc lát hoa cuộc đời
Đất trời bỗng hụt hẫng rơi
Ngậm ngùi một sớm tấp nơi ngàn trùng
Nơi xa dấn bước dặm trường
Đâu quê hương đã ngát hương một trời
Ngày nào rộn rã tiếng cười
Mà nay bếp đã lạnh cơi tro tàn
Muốn nhen lên nhúm lửa hồng
Nhưng nước mắt ướt ngấm ngầm củi than


Lê Mỹ Hoàn
(Trong thi tập Ngày Vội)

Do Not Stand At My Grave And Weep (Author Unknown) - Mai Anh Chết (Lê Huy Trứ)


This beautiful poem is probably one of the world's best known and best loved, but the identity of the author remains unconfirmed. There are several variations in print, but the version that appears here was published in The Gypsy magazine in 1934 with the by line of Clare Harner of Topeka, Kansas. The poem has also been attributed to Mary Elizabeth Clark Frye, a Baltimore housewife; Stephen Cummins, a British soldier; J.T. Wiggins, an Englishman who migrated to America; and Marianne Reinhardt (no information found). It's also been alleged as a Navajo burial prayer. Sadly, we may never know who gets the credit for these comforting words.

Do Not Stand At My Grave And Weep

Do not stand at my grave and weep,
I am not there, I do not sleep.
I am in a thousand winds that blow,
I am the softly falling snow.
I am the gentle showers of rain,
I am the fields of ripening grain.
I am in the morning hush,
I am in the graceful rush
Of beautiful birds in circling flight,
I am the starshine of the night.
I am in the flowers that bloom,
I am in a quiet room.
I am in the birds that sing,
I am in each lovely thing.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there. I do not die.

(This poem is in the public domain)

Author Unknown
***
Mai Anh Chết

Mai anh chết,
Em yêu ngăn dòng lệ.
Chẳng có anh,
Anh chỉ mộng vô thường.

Anh là gió,
Vờn môi em yêu dấu.
Anh là mưa,
Ướt nhẹ mái tóc huyền.

Anh là sao,
Lấp lánh trong mắt ngọc.
Anh là trăng,
Soi sáng bóng yêu kiều.

Anh là nắng,
Hôn em trong buổi sáng.
Anh là đêm,
Ôm em giấc mơ nồng.

Anh ở đây,
Lắng nghe em tâm sự.
Anh đang nhìn,
Say đắm giáng tiên nga.

Mai anh chết,
Em thương đừng nhỏ lệ.
Chẳng có anh,
Anh chẳng chết bao giờ.

Lê Huy Trứ

June 16, 2022


Lạc Hoa 落花 - Lý Thương Ẩn


Nguyên Tác chữ Hán:

落花


高閣客竟去,
小園花亂飛。
參差連曲陌,
迢遞送斜暉。
腸斷未忍掃,
眼穿仍欲歸。
芳心向春盡,
所得是沾衣。
李商隱

Bản Hán Việt:

Lạc Hoa


Cao các khách cánh khứ,
Tiểu viên hoa loạn phi.
Sâm si liên khúc mạch,
Điều đệ tống tà huy.
Trường đoạn vị nhẫn tảo,
Nhãn xuyên nhưng dục quy.
Phương tâm hướng xuân tận,
Sở đắc thị triêm y.

Lý Thương Ẩn
***
Dịch nghĩa :


Hoa Rơi

Khách ở trên gác cao đã đi rồi
Trong vườn nhỏ hoa bay tơi bời
Lác đác khắp con đường quanh co
Xa xôi đưa tiễn ánh nắng nghiêng nghiêng
Đau lòng chưa nỡ quét (hoa rơi)
Mắt thấy chỉ muốn người trở về
Lòng thơm hướng tới mùa xuân đã hết
Chỉ được nước mắt ướt đẫm áo.
(Theo Thi Viện)
***
Dịch Thơ:

Hoa Rơi

Gác cao người đã đi rồi 
Hoa rơi vườn nhỏ tơi bời lòng ta.
Nhấp nhô đường nhuộm nắng tà,
Nghiêng nghiêng nắng tiễn người xa, xa dần 
Quét hoa lòng luống ngại ngần 
Mắt trông chỉ muốn cố nhân hồi đầu 
Xuân tàn lòng chớm niềm đau 
Lệ buồn ướt áo mạch sầu dâng khơi 


NHT 

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2025

Saigon Xưa Không Còn - Nhạc & Lời Phạm Anh Dũng & Nguyên Bích - Ca Sĩ: Kim Oanh


Nhạc & Lời Phạm Anh Dũng & Nguyên Bích
Ca Sĩ: Kim Oanh

Ngày Tháng Tư


Ngày tháng Tư đầm đầm hoa sắc máu
Vừa một đêm cười ráo lệ chưa nguôi
Mảnh tim khô cằn ứa vết ngậm ngùi
Em tuổi dại nét tươi vừa chợt mất

Đời đưa em xa dần xoay tất bật
Tròng mắt sâu chồng chất nỗi thương đau
Lòng cạn khô khao khát đợi mưa rào
Hồn căm lặng vơi mau qua ngày tháng

Mỗi ngày tháng Tư dâng trời u ám
Mây chuyển vòng cuộn bám lá tàn xanh
Hồn tức tưởi lìa cành hoa phượng vỹ
Khép tình hờ trang thi vị tiếng thơ

Đầu tháng Năm nương nhờ hoa sắc máu
Gom dòng thơ ẩn náu mắt môi cười
Thoát gửi gió mấy mươi vàng tuổi mộng
Mỗi hè về còn đó những lần trông!?

Kim Phượng

Còn Gặp Lại Em Không

  

Anh phải về thôi nơi xa xôi
Có lẽ chiều đi trong tiếc nuối
Hai tiếng tạ từ sao ngần ngại
Hai vòng tay ấm thể bờ môi
Còn những dấu yêu chưa đánh mất
Đôi bàn tay đó trẻ màu son
Anh đi mây khói xây huyền ảo
Giấc mộng ngày xanh vẫn mãi còn!

Thơ& Ảnh: Daniel Bien
Hà Giang 17/2/23

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

Thánh Vịnh 117 Kính Lòng Thương Xót Chúa - Phổ Nhạc: Vũ-Lương-Thiên-Phúc (VTĐD) Ca Sĩ: Minh Khoa&Ban Họp Ca Nữ


Phổ Nhạc: Vũ-Lương-Thiên-Phúc (VTĐD)
Ca Sĩ: Minh Khoa&Ban Họp Ca Nữ

Nắng Hạn Tháng

 

Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư


Lê Mỹ Hoàn

(Trong thi tập Ngày Vội)

 

Chiến Sĩ Bất Tử


Chiến sĩ anh hùng, không bao giờ chết,
Họ không nằm yên trong lòng đất mẹ.
Họ hóa thành tinh tú trên trời cao,
Họ là gió mây, bay giữa lưng trời.

Họ là sấm sét, mưa nắng, cỏ cây,
Họ là tiếng thét hào hùng trên ngàn.
Họ là núi sông, giang sơn xã tắc,
Họ là hồn thiêng bảo quốc, an dân.

Họ là bầy nhạn trắng bay từng đàn,
Sải cánh bay theo đội hình chiến đấu.
Nhạn gọi đàn, vỗ cánh ra Trường Sa,
Như ngày nào cùng nhau bay ra trận.

Nhạn chiến sĩ vẫn bay từ ngàn xưa,
Đàn nhạn bay không bao giờ mỏi cánh.
Trong đội hình kia vẫn còn khoảng trống,
Nơi đồng đội vẫn để dành cho tôi?

Đàn nhạn tưng bừng về trong mưa gió,
Hồn như đám mây lững lơ trên trời.
Giang hồ tiếu ngạo, không bờ không bến,
Hiên ngang, hào sảng, đẹp kiếp anh hào.

Anh hùng hào kiệt, chiến sĩ bất tử,
Họ chỉ nhạt nhòa trong cơn bể dâu.
Anh hùng tử trận, khí thiêng bất tử,
Sinh vi chiến sĩ, tử vi thánh thần.

Lê Huy Trứ

Thông Minh Nhân Tạo Và Vấn Đề Đạo Đức


Lm Paolo Benanti, chũ tịch Hội Đồng thông minh nhân tạo Ý. Credit:Courtesy of Paul VI foundation/Screenshot.

Thời gian gần đây người ta nói đến thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence AI) rất nhiều. Nó khá thông dụng và được ca ngợi vô cùng. Nhưng không vì vậy mà không có những vấn đề cần phải được suy nghĩ lại.

Linh mục Paolo Benanti dòng Phanxico, là chuyên viên về thông minh nhân tạo đã cảnh báo sự nguy hiểm về luân lý đạo dức của thông minh nhân tạo trong một cuộc hội thảo chuyên đề được tổ chức tại cơ sở Paul VI ở Madrid, Ý đã chỉ cho thấy “những người điều khiển loại kỹ thuật này đang kiểm soát thực tế -the people who control this type of technoloy control reality.”

Chúng ta thử suy nghĩ về lời phát biểu này.

Linh mục Paolo Benanti người Ý là chủ tịch Hội đồng Thông Minh Nhân Tạo của chính phủ đã nhấn mạnh là “thực tế mà chúng ta hiện đang phải đối diện khác với thực tế ở 10 và 15 năm về trước và đó là một thực tế vì nó được xác định bởi phần mềm/software của máy điện toán.”

“Khởi điểm này có một tác động ảnh hưởng đến các tiến trình khi chúng ta thực hành ba quyền căn bản liên hệ đến chủ thể của vấn đề là: cách sử dụng, sự lạm dụng và quyền được hưởng hoa lợi,” -cha cắt nghĩa.

Đây thực sự là một hoa lợi, vì “những giá trị mà bạn làm ra được do bạn dùng những thiết bị không phải là của bạn mà là vay mượn ở kho dự trữ mây/cloud phần mềm của máy (software)” -Lm chú thích.

Vậy thì ai là người không có hoa lợi? Là các nô lệ.” -cha cắt nghĩa.

Do đó, cha khuyên nên suy nghĩ tìm cách làm sao để sống được trong một thực tế (reality) được xác định bởi phần mềm (software). Chúng ta phải tìm hiểu “sự liên kết giữa luân lý đạo đức và kỹ thuật” và đặc biệt với những gì có liên hệ đến thông minh nhân tạo, -cha nói- “bởi vì những thứ đó nó uốn nắn thực tế của thế giới chúng ta, và những người điều khiển kỹ thuật này sẽ điều khiển và kiểm soát thực tế.”
“Chúng ta phải nhận thức rõ ràng là chúng ta đang sống trong một thực tế khác biệt. Phần mềm/software không phải là thứ phụ mà là những vấn nại thắc mắc thực tế là gì, tư hữu là gì, những quyền lợi mà chúng ta có là gì?” -cha Paolo cắt nghĩa.

Tập trung và phân quyền

Thứ đến, cha cắt nghĩa làm sao sự phát triển của kỹ thuật máy điện toán sau thế chiến II lại làm ra được những qui trình khác nhau có liên hệ đến vấn đề quyền lực, dân chủ và tư hữu.

Vào thập niên 1970 những tiến trình phân quyền xẩy ra ở Hoa Kỳ và Âu Châu và rồi những năm sau đó đã có những máy vi tính cá nhân “có thể giúp con người đạt được những việc rất đơn giản.”

Vào thập niên 1990, sau khi bức tường Bá Linh xụp đổ, lý tưởng lúc đó là một thị trường được tự do hơn “sẽ dẫn đến và cổ võ một mẫu mực dân chủ tự do và lành mạnh hơn ở những nước có những hình thức tự do khác. Tuy nhiên, chính sách này“đã làm cho nước Tầu giầu hơn mà không dân chủ hơn.”

Vậy thì, giá trị dân chủ Tây Phương đã bị khủng khoảng khi thực tế cho thấy “bạn có thể trở nên giầu có và ngon lành mà không cần phải có dân chủ.”

Vào năm 2011 thời mùa xuân Ả Rập, việc dùng điện thoại di động “đã cho thấy sức mạnh và quyền năng của máy điện toán cá nhân ảnh hưởng lớn lao thế nào.” Nhưng nhanh chóng sau đó, sức mạnh này bắt đầu bị nghi ngờ: “Điện thoại di động không còn là đồng minh của dân chủ nhưng là loại đồng minh tệ hại nhất của tin giả/fake news, phân cực, sự thật chủ quan, và tất cả những gì tương tự như vậy,”-cha Benanti chú thích.

Khi dịch Covid-19 xẩy ra và với chiến dịch phong tỏa, “chúng ta có thể thích ứng với cuộc sống nhờ sức mạnh và quyền năng của máy điện toán cá nhân” bằng cách dùng cách gọi nhau, liên lạc với nhau qua video-zoom hay áp dụng cách trả tiền qua ngân hàng trong số những dụng cụ thông dụng khác để thay thế.

“Chúng ta đã lặng lẽ từ từ nhận ra là từ năm 2012 đến 2020 điện thoại thông minh (smart phone) đã được xếp vào loại hữu dụng và rất thực tế, mà thực tế thì nó đã xẩy ra rồi ngay ở trên điện thoại.”

Nguy hiểm cho nền dân chủ trong thời đại điện toán

Vào thập niên 2 của thế kỷ 21 “chúng ta có thông minh nhân tạo ở trong smart phone” và, theo cha Benanti thì nển dân chủ tự do cổ điển đang đi vào nền dân chủ gọi là “dân chủ máy vi tính.” Trong đó chúng ta dùng thông minh nhân tạo để làm mất đi khả năng của con người và để dùng máy vi tính thay cho con người và đem nó vào “trung tâm dữ liệu -data center” nơi tập trung mọi tin tức. Theo cách đó thì một thách thức mới về luân lý đạo đức lại xẩy ra: “Bấy giờ thì tất cả mọi tiến trình lại được tập trung vào kho dự trữ mây/cloud” trong software của máy vi tính.

Chuyên viên nhấn mạnh là “những clouds hay trung tâm dữ liệu này thuộc về năm công ty” là chủ “tất cả những dữ liệu”. Trung tâm dữ liệu này không chỉ đại diện cho thách thức cá nhân mà còn cho cả “các tiến trình dân chủ.”

Nói về những thách thức này, linh mục Benanti cắt nghĩa cách thức mà thông minh nhân tạo có thể đe dọa tự do của con người qua khả năng của nó là nó có thể đoán trước được cách xử sự, hành vi hay mọi biến động. “Ý tưởng trong đầu bạn có thể bạn rất thích hay chỉ là biết hoặc nghĩ trước là bạn có thể mua, nó cũng tạo ra được những cái mà bạn sẽ mua.”

Sự khả thi này là“một vấn đề có thật” vì loại hệ thống này thực sự có, nó ở trong túi chúng ta, nó “có khả năng bắt buộc và định hướng tự do của những không gian công cộng.”

Những thắc mắc vể cái yếu, cái mạnh, cơ hội và các đe dọa của thông minh nhân tạo đã là lý do tại sao buộc “chúng ta phải hành động để vượt qua những loại cải tiến canh tân này.”

Về tương lai, như vậy thông minh nhân tạo sẽ có ảnh hưởng rất lớn trong ngành thông tin, y khoa và thị trường lao động. Về chuyện này, nếu chúng ta không chỉnh đốn được những ảnh hưởng của nó trên thị trường lao động thì chúng ta có thể phá hủy mất cả xã hội như chúng ta đang thấy hiện nay.”

Fleming Island, Florida
March 3, 2025
Nguyễn Tiến Cảnh