Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

Kỷ Niệm Không Mờ Phai

 

Đêm nay cơn ác mộng lại trở về. Thơ giật mình thức giấc, tâm trí hoang mang thảng thốt. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Bên cạnh nàng Tú vẫn ngủ say sưa. Sau biến cố mất nước năm 75, từ khi may mắn thoát khỏi Việt Nam vào phút cuối, lại được định cư ở xứ Canada, nhưng có lẽ bị chấn thương tâm lý khá nặng nên thỉnh thoảng Thơ lại gặp ác mộng trong giấc mơ. Thật sự kinh hoàng, vì lần nào Thơ cũng thấy mình về Sàigòn thăm gia đình và không cách nào tìm được phương tiện trở qua Canada. Nàng tự sỉ vả mình ngu ngốc, đang sống yên ổn với chồng con, khi không trở về Việt Nam làm gì để ra cớ sự! Có lần trong cơn mơ Thơ khóc sướt mướt, tỉnh dậy hai má còn ướt đẫm nước mắt.

Thơ kể cho vài người bạn nghe, không ngờ cũng có người gặp ác mộng y như nàng. Một người bạn thân kể rằng, trong mơ anh thấy mình đi vượt biên và bị bắt lại. Mà người bắt anh lại là tên thủ trưởng nơi anh làm việc. Anh nghĩ chắc mình tiêu đời rồi. Khi giật mình tỉnh dậy, nhận ra mình đang ở Hoa Kỳ, anh thấy trong đời chưa bao giờ hạnh phúc đến thế!
Thấy đồng hồ chỉ 5 giờ, Thơ cố dỗ giấc ngủ lại, nhưng sao đầu óc vẫn tỉnh táo và tâm trí lan man nhớ về những ngày tháng xa xưa. Thủa còn ở Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ quê cha đất tổ, đến một nơi xa lắc xa lơ, mùa đông lạnh thấu xương để sinh sống. Vì đâu và vì ai? Nếu không phải vì những người cùng giòng giống, cùng tổ tiên như nàng, nhưng lại đem cái chủ thuyết chết người của ngoại bang về áp đặt một cách dã man lên đồng bào ruột thịt của mình?! Miền Nam của Thơ trước khi bị cưỡng chiếm xinh đẹp, hiền hòa biết bao. Lúa gạo đầy đồng, tôm cá đầy sông, đi lại tự do. Làm sao tả hết những cái hay, cái đẹp mà người dân miền Nam đã được hưởng cho đến ngày 30-04-1975!
Từ năm 1972 gia đình nhỏ của Tú và Thơ thuyên chuyển từ miền Cao Nguyên về tỉnh lỵ Sa Đéc. Thật tiện lợi vì quê nội Thơ ở Cao Lãnh và quê ngoại ở Vĩnh Long. Và qua Long Xuyên cũng cùng một quãng đường dài. Nàng nhớ những trái soài Hòn mập ú, ngọt như đường mà chỉ có ở Cao Lãnh. Qua Vĩnh Long thưởng thức món xôi chiên phồng ăn với gà rô ti nổi tiếng. Sầu riêng Cái Mơn không đâu ngon bằng. Vú sữa Lò Rèn cũng tuyệt diệu. Có khi theo bạn về quê Cái Bè ăn cam. Cam Cái Bè nổi tiếng ngon ngọt. Thích hơn nữa là đi thuyền qua mấy cái cù lao ăn chôm chôm, nhãn. Sa Đéc cũng là một địa danh nổi tiếng với nhiều loại trái cây và tôm cá, gà vịt. Loại mận da người màu xanh cẩm thạch, ruột đặc không hột và rất ngọt. Vú sữa hột gà màu trắng ửng hồng ngon ngọt vô cùng. Đặc biệt vùng này có loại ốc gạo thịt béo ngậy, ăn một lần là mê tít luôn. Không thể quên loại cá thu nước ngọt, nhỏ hơn cá thu biển, mình óng ánh nhiều màu. Cá này kho với nước dừa tươi là tuyệt cú mèo. Nói đến vịt xiêm Sađéc thì ai cũng biết. Bình thường vịt được nuôi bằng lúa, tép riu đầy sông rạch nên rất mập, thịt mềm, thơm ngọt. Mỗi lần có bạn phương xa đến thăm thế nào họ cũng được Thơ đãi món thịt vịt trứ danh Sa Đéc. Khi cả nhà Thơ về Sài Gòn thăm gia đình Tú, ngoài trái cây đủ loại không bao giờ thiếu cặp vịt xiêm. 
Lúc này Thơ đã có hai tí nhau, một trai hơn 3 tuổi và một gái chưa 2 tuổi. Tú đi làm và Thơ ở nhà trông con. Tưởng rằng giòng đời cứ êm đềm trôi như giòng Cửu Long hiền hòa. Chiến tranh khốc liệt ở đâu xa, chứ tại thị xã thì đời sống vẫn bình thường. Chợ búa vẫn họp đông đúc mỗi ngày. Nơi Tú làm cũng không thấy thay đổi gì cả. Chợt ngày 25 tháng 4, Tú nhận được điện thoại của bà chị trên Sàgòn bảo gia đình Tú phải lên SàiGòn gấp. Chị đã làm thông hành cho đại gia đình đi ngoại quốc. Thế là vợ chồng con cái chất nhau lên xe chạy một lèo lên Sàigòn. Té ra nhờ hai ông anh rể sĩ quan cấp Tá làm việc trong Tổng Tham Mưu nên họ biết người Mỹ đã rút khỏi Việt Nam và một số tướng lãnh cũng như công chức cao cấp đã tìm đường chạy ra ngoại quốc. Ôi chao, lên đây mới thấy cả Sàigòn hỗn loạn. Ngoài đường đông nghẹt người. Tất cả các tiệm vàng chen chân không lọt. Người mua vàng, kẻ đổi đô la. Thơ cũng chen lấn đổi được 80 đô la Mỹ. 

Cả gia đình Thơ cũng được ông anh rể cho vào danh sách xin đi máy bay Mỹ. Cơ quan D.A.O bảo chờ họ sẽ tới rước. Chờ mãi đến hôm 28 Việt cộng pháo kích dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất thì Thơ tuyệt vọng, ôm con khóc mùi mẫn. Sáng sớm 29, sau một đêm thức trắng, cả nhà lên xe chạy vào Cư xá Sĩ quan trong bộ Tổng Tham Mưu, nhà ông anh họ của Tú. Ông này thân cận với 1 ông Tướng vùng, ông Tướng hứa sẽ có máy bay đón. Hy vọng tràn trề, nhưng chờ gần tới trưa vẫn chẳng thấy gì, người nào mặt mày cũng buồn rầu ủ rũ, căng thẳng tột độ. May sao gần 12 giờ, một sĩ quan dưới quyền của ông anh rể báo tin có chiếc tàu Đại Hàn đang đậu ở Tân Cảng sắp nhổ neo. Mừng quýnh mọi người lên xe chạy ra Tân Cảng. Dọc đường rất hỗn loạn vì dân chúng đang hôi của trong mấy cơ sở Mỹ bỏ trống. Kẻ khuân, người vác chạy đầy đường. Thỉnh thoảng có những tràng súng nổ dòn dã và những người lính còn mặc quần áo trận, có người bị thương máu me tùm lum, tay cầm súng chạy dọc theo hai bên đường khiến Thơ kinh hãi ôm cứng hai đứa trẻ. Tụi nhỏ chắc cũng linh cảm thấy sự nguy hiểm nên im lặng không dám hó hé. Sau này nàng mới biết một nhóm lính Việt Nam Cộng Hòa lúc đó vẫn còn cố gắng đánh nhau với Bắc quân trên cầu Xa Cảng. Thương thay những người chiến sĩ miền Nam anh dũng, thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng chứ quyết không đầu hàng quân địch!

Xe quẹo vào bến Tân Cảng. Trên bến tàu nhiều người Mỹ đang đứng chỉ huy cho đoàn người xếp hàng dọc lên tàu. Họ bắt tất cả quân nhân phải cởi quân phục và bỏ súng lại trước khi lên tàu. Tất cả mọi người phải xuống hầm tàu thông qua một cái miệng hầm nhỏ, vừa một người qua lọt. Đây là chiếc tàu của Đại Hàn do Mỹ thuê chở vũ khí sang Việt Nam. Giờ đây Mỹ thuê để chở người tị nạn rời khỏi đất nước. Hầm tàu dùng để chứa hàng hoá, chỉ có một chỗ lên xuống nhỏ xíu nên nóng hầm hập. Gia đình Thơ kể như là những người đến muộn nhất nên mười một người chia nhau một chỗ độ chừng một mét vuông ngay dưới miệng hầm. Nàng đưa mắt nhìn chung quanh thấy người là người, nằm ngồi ngổn ngang. Tháng tư trời nóng, trong hầm như cái hỏa lò nên người nào cũng dùng cái gì đó quạt phành phạch, trông toàn cảnh cứ như những cánh bướm đang bay chấp chới! Riêng hai nhóc tì của Thơ cũng phải cởi áo ở trần mới chịu nổi.
Độ nửa tiếng sau thì tàu tách bến chạy về hướng Vũng Tàu. Thú thật là đến giờ phút đó vợ chồng nàng cũng không biết mình sẽ đi đâu? Thấy người ta chạy thì mình cũng chạy theo, miễn là thoát khỏi Việt Nam đang rơi vào tay Cộng quân. Gia đình Tú vốn người Bắc. Năm 54 ba mẹ anh đã bỏ hết của cải, cơ ngơi ở Hà Nội để chạy vào Miền Nam lánh nạn. Lần đó họ còn biết mình sẽ đi đâu. Nhưng lần này thì quả thật rất mơ hồ, chỉ biết nhảy lên tàu rồi sau đó phó mặc cho ông Trời!

Lúc tàu chạy ngang Rừng Sát, mặt mày người nào cũng nghiêm trọng, không dám thở mạnh. Chỉ sợ một quả đạn gì đó trong rừng bắn ra trúng tàu thì gần một ngàn sinh mạng sẽ đi chầu Hà bá! May quá không sao. Nhưng trọng trách của con tàu này là phải đón cho được một ông cố vấn gộc người Mỹ. Vì thế tàu cứ chạy dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu cho tới Cà Mau suốt 3 ngày liền. Đến ngày thứ tư mới trực chỉ ra khơi từ Vũng Tàu. Lúc này mọi người đã biết tin Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nên ai nấy đều buồn dàu dàu. Tàu ra khỏi Vũng Tàu thì gặp vô số thuyền con từ đất liền chạy ra. Họ vây quanh tàu nên thuyền trưởng bắt buộc phải vớt họ lên. Ôi thôi thì gồng gánh đủ thứ, cả TV, cả xe gắn máy. Tất nhiên thủy thủ Đại Hàn vứt hết mấy thứ này xuống biển để lấy chỗ cho người. Lúc rời Tân Cảng con số chưa tới một ngàn, giờ đây đã lên đến hơn ba ngàn người! Thì ra có vị linh mục dẫn cả làng Phước Tỉnh chạy ra khơi! Đến giờ thì vấn đề vệ sinh thật nan giải. Tất cả mọi người già trẻ bé lớn đều bị đau mắt. Mà làm gì có thuốc cho ngần ấy người? Đành chịu thua! Gia đình Thơ chạy vào phút chót, lại hy vọng đi máy bay nên không chuẩn bị đem theo lương khô, đành chấp nhận ăn những khẩu phần của lính tráng đi hành quân: gạo sấy và cá khô. Cũng có nhiều gia đình có quan hệ với thủy thủ Đại Hàn nên họ đã xuống tàu trước mấy hôm với đầy đủ lương thực, mì gói và bánh trái các loại. Nhưng lúc này hồn ai nấy giữ nên chẳng ai “dại gì” chia cho người không quen biết! Gạo sấy thì đổ nước lạnh cho nở ra, cá khô thì cứ vậy mà ăn. Tội nghiệp hai đứa nhỏ, Thơ phải năn nỉ chúng mới miễn cưỡng ăn chút ít nên suốt tuần lễ dưới tàu hai đứa gầy nhom.

Đến ngày thứ bảy thì tàu ghé Subic Bay Phi Luật Tân lấy thêm nhiên liệu để đi tiếp qua đảo Guam. Chỉ một số người được đặc biệt xuống tàu để sang đảo Guam bằng máy bay. Nhờ hai anh rể sĩ quan cấp Tá nên gia đình nhỏ của Tú-Thơ cũng được hưởng ân huệ này. Số còn lại tiếp tục đi tàu sang Guam. Đặt chân xuống đảo, thấy cảnh trùng phùng của nhiều gia đình, vợ con đi trước bằng máy bay, chồng đi sau bằng tàu, may mắn gặp lại nhau thật vô cùng hạnh phúc. Mỗi gia đình được chia một căn lều, có ghế bố và mền để ngủ, ngoài ra trống trơn. Ngày 3 lần đi sắp hàng lảnh cơm do đầu bếp Mỹ nấu. Chỗ của Thơ thì trường kỳ mỗi người được 1 vá cơm trắng và 1 vá trứng gà bột chiên. Có chai xì dầu hay hủ muối nào nhà bếp bỏ ra cũng bị chôm mất nên mọi người ăn cơm lạt nhách cũng đành chịu. Những người có tiền thì vào căng tin mua thức ăn. Thơ chỉ có 80$ nên…không dám, vì “biết ra sao ngày sau??? Thấy những người lính Mỹ phục vụ dân tị nạn Việt Nam mà thương.
Thơ không nhớ có bao nhiêu người tới đảo, chỉ nhớ là đông lắm. Lều trại nhìn mút mắt. Chỉ khổ ngày thật nóng và đêm thật lạnh. Suốt ngày đi sắp hàng lấy cơm (Mỗi bếp có 3 hàng. Mỗi hàng dài hàng trăm mét) nên ai cũng đen thui như Chà Và! Đến nỗi có người quen gần nhà, gặp Tú còn hỏi “phải anh Tú không?”May mà lúc gia đình Thơ đến đảo thì phái đoàn Canada cũng vừa đến mở văn phòng. Tú-Thơ vội vàng đến xin đi Canada. Ban đầu họ chỉ nhận dân professionel, nhưng sau đó Mỹ phản đối gay gắt nên họ nhận luôn mọi ngành nghề. Nhiều bác sĩ, kỹ sư, giáo sư phải khai gian là thợ sơn, thợ máy mới được nhận. Hai tuần sau thì đại gia đình Tú lên máy bay trực chỉ Québec. Lúc quá cảnh Hawai có người bịnh nặng nên cả gia đình phải xuống để đưa người bệnh vào nhà thương. Rồi sau đó nghe nói họ lập nghiệp luôn ở đây. Cũng may mắn vì khí hậu Hawai quá tuyệt vời.

Dân tị nạn đến Montréal vào tháng năm nên khí hậu đã ôn hòa, dễ chịu. Người dân nơi đây thật hiền hòa, hiếu khách, tuy nhiên họ không biết tí gì về Việt Nam. Vì chỉ nhìn chiến tranh VN qua truyền thông, chỉ thấy cảnh quê nghèo, đồi núi chập chùng, rừng rậm âm u nên trong trí họ VN là một xứ nghèo nàn lạc hậu. Chẳng vậy mà có 1 conseiller người bản xứ đã khuyên các bác sĩ VN nên đi học nghề y tá để kiếm sống. Họ không biết rằng trường Đại học Nha Y Dược Việt Nam là một chi nhánh trực thuộc trường Nha Y Dược của Pháp và sinh viên học bằng tiếng Pháp. Rồi chỉ vài năm sau họ ngạc nhiên xiết bao khi hầu hết các bác sĩ, dược sĩ đã trở lại hành nghề và trong trường trẻ em Việt Nam học hành đều xuất sắc. Hơn thế nữa các em rất lễ độ với thầy cô nên được quý mến vô cùng. Tóm lại, thuở đó dân Việt Nam sống ở Montréal được người bản xứ hết sức kính trọng.

Thơ nhớ lại những tháng ngày vất vả trong cuộc sống mới nơi xứ người. Những ngày đi làm trong bão tuyết lạnh căm, gió thổi muốn bay vì người mình vốn nhỏ bé. Nhưng gian nan nào rồi cũng qua. Cái giá tự do trả thế cũng còn quá nhẹ. Cuộc sống êm đềm vì cả Tú lẫn Thơ đều không nhìn lên, không ganh tị hay so sánh với ai. Thơ vẫn tâm niệm rằng mỗi một con người đều có số mệnh riêng. Và mình biết đủ là đủ. Con cái lớn dần, đã ra riêng để sống cuộc sống của chúng. May mắn sức khỏe hai vợ chồng nàng khá tốt. Thơ luôn cám ơn Trời Phật đã cho gia đình nàng thoát khỏi chế độ bạo tàn và đưa đẩy đến xứ sở Canada, một xứ sở giàu mạnh lại đầy lòng nhân ái, vị tha. Một trong những nơi đáng sống nhất thế giới. Vợ chồng nàng không mong gì hơn. Thỉnh thoảng cơn ác mộng vẫn hiện ra, nhưng hình như càng ngày càng cách xa nhau. Thơ hy vọng trong tương lai “Nó” sẽ không đến quấy rầy nàng nữa. Thơ chỉ cầu mong được sống một cuộc đời bình lặng, thanh thản bên Tú và các con. Mong lắm thay!

TiểuThu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét